Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Năm, 12 tháng 3, 2015

Trần Lê Văn với Xuân Diệu trên Trăm Hoa

Xem trong lịch sử văn học, thỉnh thoảng (thật ra là thường xuyên) ta gặp những khoảng trống, có những khoảng trống rất bất ngờ.


Các nhà nghiên cứu từng đi sâu vào vụ Nhân văn-Giai phẩm đều biết đến tờ Trăm Hoa, thế nhưng tờ Trăm Hoa tồn tại như thế nào thật ra ta không rõ mấy. Bộ từ điển đầy đủ nhất về báo chí Việt Nam ghi nhận thiếu hẳn một giai đoạn của Trăm Hoa: chỉ nói đến hơn chục số Trăm Hoa (Nguyễn Bính) ở quãng cuối 1956 đầu 1957; nhưng tờ Trăm Hoa còn một giai đoạn đầu tiên nữa: 31 số ở dạng tuần báo cuối 1955 đầu 1956. Ở giai đoạn đầu này, 10 số đầu chỉ ghi tên "chủ nhiệm" là Nguyễn Mạnh Phác (tức Trúc Đường, anh trai của Nguyễn Bính), từ số 11 trở đi ghi "chủ nhiệm" Nguyễn Mạnh Phác và "chủ bút" Nguyễn Bính. Có một số Tết/Xuân gộp 3 số, và từ số 24 đổi khổ.

Các nhà nghiên cứu biết (qua lời kể của một số người, trong đó có bản thân Nguyễn Bính) là trên Trăm Hoa giai đoạn đầu có những bài phê phán thơ Xuân Diệu, nhưng dường như chưa ai thực sự nhìn thấy những bài viết liên quan chặt chẽ đến Nhân văn-Giai phẩm của tờ Trăm Hoa ấy.

Dưới đây là bài viết quan trọng nhất trong "chiến dịch" phê phán tập thơNgôi sao (Xuân Diệu) trên Trăm Hoa: bài của Trần Lê Văn đăng trên tr.5-6 rồi tiếp tục ở tr.12, Trăm Hoa số 28 ra ngày thứ Bảy 21/4/1956. Bài viết này nằm trong khuôn khổ cuộc bình luận của báo chí văn nghệ Hà Nội xung quanh giải thưởng của Hội Văn nghệ Việt Nam 54-55. (NB. ChínhTrăm Hoa, trên một số trước đó, đã đăng bài ca ngợi Đất nước đứng lên của Nguyên Ngọc, tác phẩm giành giải rất cao cũng trong kỳ trao giải thưởng đầy tai tiếng này.)

Đọc Ngôi sao thơ Xuân Diệu

Phê bình của Trần Lê Văn



Tập thơ “Ngôi sao” chia làm hai phần: phần thứ nhất gồm những bài sáng tác vào khoảng 1945-1949, phần thứ hai gồm những bài sáng tác vào khoảng 1951-1955. Tất cả những sự việc lớn của dân tộc từ Cách mạng tháng tám cho tới nay đều được Xuân Diệu lấy làm đề tài: lòng yêu nước, chí căm thù, thiếu nhi anh dũng, gương anh hùng bất khuất, tình hữu nghị, phát động quần chúng, yêu hòa bình đấu tranh cho thống nhất… Thật là đầy đủ. Chúng ta chờ đón những rung cảm nồng nàn mãnh liệt của một nhà thơ trước kia đã có một thời “yêu tha thiết, thế vẫn còn chưa đủ”.

Xuân Diệu quan niệm rất đúng về vai trò của thi sĩ là có

Nhiệm vụ vẻ vang
Vần thơ tiếng mẹ võ trang tinh thần
(tặng nhà thơ Pa-thét Lào)

Chúng ta chờ đợi những vần thơ mới của Xuân Diệu viết bằng tiếng mẹ đẻ, có tác dụng “võ trang tinh thần”, góp phần bồi dưỡng tình cảm cho hàng triệu quần chúng nhân dân trong công cuộc đấu tranh và xây dựng gian khổ nhưng vinh quang này.

Tác dụng của thơ là vấn đề cảm xúc và thể hiện cảm xúc. Muốn phục vụ quần chúng thật đắc lực, thi sĩ dùng ngôn ngữ văn tự của dân tộc sáng tạo những hình ảnh, âm thanh thể hiện cảm xúc của tâm tư mình, kết tinh cảm xúc của hàng triệu tâm tư quần chúng nhân dân. Cảm xúc sâu sắc và nồng nhiệt ấy làm cho người ta yêu ghét đúng hơn, mạnh hơn, đẩy xã hội tiến mau hơn. Với cách đặt vấn đề như vậy tôi hân hoan bước vào thế giới tình cảm của tập “Ngôi sao”.

Từng câu lại từng câu, từng bài lại từng bài… thế mà giấy trắng mực đen vì sao vẫn chưa làm vang dội âm hưởng gì trong lòng tôi chỉ chờ rung động? Thi sĩ đã nói với tôi bằng rất nhiều lý trí. Lý trí ấy được phô diễn bằng những tiếng, những lời, những hình ảnh mà quần chúng khó cảm thông, nhiều khi có tác dụng bất ngờ làm nẩy những nụ cười khôi hài không đúng lúc.

Trong nhiều bài, nhất là ở phần đầu, Xuân Diệu đã vận dụng trí tuệ tạo nên những hình ảnh không thật, có khi rất ngây ngô.

Còn gì tha thiết bằng tình yêu đất nước. Thế mà Xuân Diệu (trong bài “Việt muôn đời”), cho ta biết, trước cảnh núi sông tươi đẹp, anh thấy:

Răng thánh tha như hai lượt phím đàn.

Tình cảm ấy có thật hay không, hình ảnh ấy có đúng hay không, tôi thiết tưởng chúng ta dễ tìm thấy câu trả lời. Nói đến miền Nam yêu dấu, tác giả tìm thấy một hình ảnh khá… lạ lùng:

Dáng em Nam mềm mại chiếc chân giò

Giả sử ta yêu thật thắm thiết một người nào, khi tả người yêu đó, ta không thể làm cho người khác buồn cười. “Chiếc chân giò” gợi cho người đọc một ý nghĩ gì? một tình cảm gì? một hình ảnh gì? Hay chỉ để người đọc thấy miền Nam yêu quý của chúng ta là một cái chân giò?

Để nói nước trời hòa hợp với nhau, Xuân Diệu tả:

Nước bông bống họa với trời se sẻ

Và chú thích: bông bống là cá bống, se sẻ là chim sẻ.

Thật là bí hiểm thay! Tứ thơ ấy, lời thơ ấy, không phải ở một vài bài đặc biệt: Lượm lặt khắp tập thơ, chúng ta thấy khá nhiều những tình ý kiểu cách giả tạo như thế. Đây là tả cảnh chiến sĩ đổ máu để tô thắm mùa xuân vĩnh viễn của dân tộc:

Ngừng tay lại, thấy sắc xuân còn nhạt
Rót máu thêm, cho đến lúc toàn hồng
(Xuân Việt Nam)

Đây là ca ngợi thiếu nhi anh dũng:

Thân bé cũng đăng hàng cứu quốc,
Các em để thẹn lắm đàn ông!
(Đàn chim dân tộc)

Người Việt Nam muốn hiểu câu này - mới nói là hiểu, chưa nói rung cảm vội - có lẽ phải dịch qua một thứ ngoại ngữ (tiếng Pháp chẳng hạn) may ra mới hiểu được rằng: các em anh dũng lắm, người lớn cũng phải thẹn vì thua kém các em. Tôi hiểu thế chưa chắc đã đúng. Vì người lớn thì gồm cả đàn ông và đàn bà. Thơ làm ra là để ai đọc? Có phải chỉ để cho một số người Việt hiểu tiếng Pháp đọc đâu. Lối nói ấy cũng không phải biểu hiện tinh thần quốc tế. Tấm lòng yêu dân tộc gắn liền với tinh thần quốc tế. Tiếng nói của dân tộc là một phương tiện truyền cảm rất mầu nhiệm đối với quảng đại quần chúng. “Chỉ có bằng hình thức dân tộc mới có thể phát triển văn hóa xã hội chủ nghĩa. Đời sống tương lai là đời sống nẩy nở phồn thịnh các dân tộc, các ngôn ngữ và mọi nền văn hóa dân tộc” (thơ ca Liên Xô, báo cáo của Vuốc-gun ở Đại hội lần thứ II các nhà văn Liên Xô).

Tất nhiên ngôn ngữ của dân tộc không phải là một cái gì đời đời cố định.

Nhà thơ, nhà văn nói tiếng nói của dân tộc đồng thời làm cho ngôn ngữ dân tộc phong phú thêm lên nhưng không làm lệch lạc cái bản sắc của ngôn ngữ dân tộc. Những thi hào cổ điển của dân tộc đã cho chúng ta một kinh nghiệm. Nguyễn Du, Hồ xuân Hương học chữ Hán rất sâu mà đã viết những tác phẩm bằng tiếng mẹ đẻ - thật là tiếng mẹ đẻ - làm cho quần chúng ham thích hàng trăm năm nay. Tất nhiên người ta yêu, nhớ thơ Nguyễn Du, Hồ xuân Hương không phải chỉ vì vấn đề ngôn ngữ.

Còn chuyện hình ảnh tất nhiên là một phần quan trọng trong hình thức biểu hiện của nhà thơ. Mà hình thức gắn liền với nội dung, “gắn liền với nhân sinh quan của nghệ sĩ. Nếu ý tưởng không sáng sủa, hình thức không thể sáng sủa” (Vuốc-Gun - tài liệu trên). Nhà thơ luôn luôn sáng tạo, tìm tòi, không thể nào bằng lòng với một số hình ảnh công thức, nhưng chỉ có cảm xúc thật mới làm ra những hình ảnh rung động được lòng người. Người con gái thời xưa khi yêu đến cao độ thì:

Ước gì sông ngắn một gang
Bắc cầu giải yếm cho chàng sang chơi

Người con gái thời nay không mặc yếm nữa, có thể tìm thấy một hình ảnh khác rất hay mà rất dân tộc, nếu người ấy thật sự yêu. Những hình ảnh lý thú còn có tác dụng giáo dục mỹ cảm cho mọi người. Nói tóm lại, ngôn ngữ, hình ảnh nghĩa là hình thức biểu hiện chỉ đạt khi nào nội dung đạt.

Thời gian qua, Xuân Diệu đã cố gắng rất nhiều. Phần thứ hai của tập thơ chứng tỏ rằng: trong thực tế công tác, anh đã gần gũi quần chúng nhiều, bỏ lối nói kiểu cách, học tập tiếng nói quần chúng, ý thức phục vụ thật rõ ràng.

Lập trường tư tưởng nếu thấm sâu vào con người thi sĩ, ắt phải biến thành tình cảm; khi phô diễn thành vần điệu, không giữ nguyên hình thức lý luận. Tình cảm đó sẽ đi sâu vào lòng người và có tác dụng mạnh mẽ biết bao!

Song le có một điều đáng tiếc là thơ của anh vẫn còn quá nặng về lý trí.

Ta thử đọc:

Hăm ba tuổi trẻ sáng trong
Chị Cúc
“Người con gái quang vinh nước Việt”
Máu của chị chúng tôi mang bất diệt
Giết quân thù cho đến lúc thành công
(Chị Cúc)

Kháng chiến còn gian khổ
Nhưng mở đường thắng lợi bao la
(Ta chào Vôn-ga Đông)

Càng đấu tranh thảo luận
Tình thân mến càng sâu
Không hiểu sao lúc trước
Chúng mình thành kiến nhau

Ấy vì tư tưởng cũ
Đem hồn ta trát bùn
Chui mình trong vỏ cứng
Ta tự phụ rằng khôn
(Tặng đồng chí tâm giao)

Những mong Người hơn trăm tuổi dài lâu,
Bền như núi, lãnh đạo toàn thế giới
(Thương tiếc Sta-lin)

Máy bay đưa tận ngang trời
Đường xe lửa phóng liên hồi ngày đêm
(Đi tới Mạc-tư-Khoa)

Thông ngâm, sông cũng long lanh
Nước non rất đỗi an lành
Một buổi trưa của Mẹ
Hoa giam ríu rít trong mành thời gian.

… Sương uống mãi chẳng bao giờ hết sáng
Của trời cao chói lói mỗi triều ngày
(Việt muôn đời)

Họ đứng lên giật lấy núi ngàn xuân
Sông vĩnh viễn, họ ùa vào cướp được

Xuân trời đất xây bằng hoa bằng lá
Người Việt-nam xây bằng súng bằng gươm
(Xuân Việt Nam)

“Đây là Tiếng Nói Việt-nam…”
Sáng tinh sương đã dậy làm triêu dương

“Đây là tiếng nói Việt-Nam…”
Nước non chưa đủ, còn tham biển trời
(Tiếng nói Việt-Nam)

Cụ Hồ, ấy Việt Nam sinh đẻ
Nên nghìn xưa còn lại vẻ nhà nho.

Còn nhiều nữa. Đọc thơ như vậy, tôi có cảm tưởng đọc xã luận diễn ca. Xuân Diệu khuyên ta, dạy ta, khái luận về cái này cái khác, bằng cách giảng thuyết khô khan bí hiểm. Không hiểu sao viết đến đây, tôi chợt nhớ tới những bài thơ của cụ trạng Nguyễn bỉnh Khiêm. Nhất là đọc hai câu sau đây trong bài “Chiếc gối”:

Kháng chiến có ai dùng đến gối
Miễn sao sinh hoạt gọn và nhanh

Thơ làm như vậy thì chắc cũng “gọn và nhanh” lắm.

Qua những câu thơ trích dẫn trên đây, ta thấy lề lối biểu hiện khi thì cầu kỳ kiểu cách, khi thì nhạt nhẽo khô khan. Hai trạng thái đó bề ngoài tuy có vẻ khác nhau nhưng chỉ là kết quả của một nguyên nhân chung: thiếu cảm xúc. Chỉ khi nào người thi sĩ yêu thương tha thiết mới có giọng nói tha thiết làm chúng ta rung cảm nhất. Tôi yêu mến xiết bao bài thơ: “Tặng làng Còng”

… Hạt cơm ăn của bà con
Là tình, là nghĩa, là ơn thấm nhuần.
Tay anh tôi nắm, tôi cầm,
Khổ xưa gạn kể, đau ngầm phanh phơi;
Khóc chung nước mắt ngẹn lời,
Cười chung sung sướng với người nông dân
Thuộc đường, thuộc ngõ, quen chân
Ớt cay, mắm mặn là dân làng rồi.
Mẹ nhìn con bước xa xôi,
Con nhìn mẹ khuất trên đồi lá xanh.
Sớm nay xa cách lều tranh
Tưởng như khúc ruột còn quanh làng Còng.

Người nông dân nào đọc những câu đó chẳng cảm thấy thấm thía rằng Xuân Diệu yêu mình, chia sẻ nỗi vui buồn với mình. Đó mới thật là thơ của đại chúng và dân tộc. Nhưng tiếc rằng những bài như thế lại ít có trong tập Ngôi sao.


Thơ của cá nhân thi sĩ làm ra, khi đã ra đời là của chung của quần chúng, quần chúng có quyền phê phán, phê phán xây dựng để kiện toàn cái của báu của mình. Để kết luận bài nhận xét nhỏ này, tôi lại xin mượn lời của Vuốc-gun:

“Tác phẩm do thi nhân sản sinh ra, nhưng nó bắt đầu sống trong ký ức của nhân dân. Một tác phẩm không được nhân dân ưa chuộng không thể sống lâu. Thế mà các nhà thi sĩ của chúng ta thường quên cái sự thật lớn lao và cao quý đó.”

Hà-nội ngày 15-4-56


L.T.S. Giải thưởng văn học Hội Văn nghệ Việt Nam 1954-55 đã lựa chọn được nhiều tác phẩm có giá trị. Tuy nhiên một vài tác phẩm còn gây nên những thắc mắc nhất là tập thơ “Ngôi sao” của Xuân Diệu. Bản báo nhận được nhiều bài của bạn đọc gửi tới phê bình tập thơ đó. Trên đây là ý kiến của bạn Trần lê Văn. Chúng tôi đăng lên để phản ảnh một trong những ý kiến phê bình xây dựng của quần chúng đối với tập “Ngôi Sao”.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

LÁ THƯ KHÔNG NGƯỜI NHẬN CỦA CON GÁI LIỆT SĨ GẠC MA



Lá thư không người nhận của con gái liệt sĩ Gạc Ma

VNExpress
Thứ sáu, 13/3/2015 | 09:49 GMT+7 


7 ngày sau sự kiện Gạc Ma năm 1988, con gái liệt sĩ Trần Đức Thông chưa biết tin bố hy sinh nên vẫn viết thư cho ông. Lá thư vĩnh viễn không có người nhận.
 

Từ bỏ giảng đường làm chiến sĩ giữ Trường Sa / 'Xây đền tưởng niệm Gạc Ma là nguyện vọng toàn dân'

Lá thư mực xanh viết trên nền giấy đã ố vàng được chị Trần Thị Thu Hà, con gái liệt sĩ Trần Đức Thông gửi cho bố ngày 20/3/1988, tức 7 ngày sau khi lính Trung Quốc xả súng sát hại 64 chiến sĩ hải quân Việt Nam, cưỡng chiếm đảo Gạc Ma. 


"Con ngồi vào bàn mà không sao học được vì lúc đó là buổi ca nhạc 7h30-8h toàn hát những bài về Trường Sa. Lúc này, con nhớ bố vô hạn", linh cảm khiến chị Thu Hà đặt bút viết. Cô con gái thông báo với bố đã nhận được 50 kg gạo và 140.000 đồng ông gửi theo đoàn công tác của Lữ đoàn 147 cho ba mẹ con ở nhà.

Chị Hà kể lại, tối hôm đó đang học bài thì thấy nóng ruột nên viết thư cho bố và ba ngày sau chị mang đi gửi. Hòm thư của Bưu điện Cam Ranh nhận ngày 28/3/1988. Cô con gái không ngờ đó là lá thư cuối cùng viết cho bố, nhưng ông không nhận được vì vĩnh viễn nằm lại giữa biển khơi vào sáng 14/3/1988 khi xảy ra trận hải chiến.

"Cả nhà không biết và cũng không ai tin ông hy sinh. Bởi vì sau ngày 14/3, cứ cách vài ba ngày, mẹ con tôi lại nhận được những lá thư ông viết, hỏi thăm tình hình ở nhà, bảo đừng lo lắng khi ông đi làm nhiệm vụ. Kể cả khi nhà biết tin rồi mà vẫn nhận được thư", chị Hà cho hay. Mãi sau này khi gặp người lính liên lạc của ông, chị mới biết trước khi xuống tàu đi đảo, trung tá Thông đã viết rất nhiều thư rồi dặn dò người lính ấy cách vài ngày mới chuyển cho vợ con đang sống ngoài Bắc.

Tối 26/3/1988, chị Hà cùng em trai Trần Hoài Nam học bài mệt quá bèn bật chiếc đài nhỏ lên nghe chương trình ca nhạc. Chị loáng loáng nghe được "trung tá Trần Đức Thông bị thương nặng vào đầu vẫn đứng ở mũi tàu chỉ huy cho đến lúc hy sinh". Hai chị em ngờ ngợ vì đơn vị bố có hai người tên Thông. Chị vẫn hy vọng bố mình chỉ bị thương chứ không ngờ ông đã hy sinh và con tàu HQ-604 mãi mãi nằm dưới đáy biển.

"Chị em tôi tìm cách giấu chiếc đài cassette đi, nhưng chẳng ngờ tối hôm đó mẹ từ bệnh viện về, cứ nằng nặc đòi tìm chiếc đài để nghe tin tức. Thế rồi bản tin lúc nửa đêm phát lại một lần nữa. Mẹ nghe tin bố hy sinh mà ngất lịm", chị Hà nhớ lại.

Những ngày sau đó, bà Nguyễn Thị Seo nằm một chỗ vì suy sụp tinh thần, từ 45 kg sụt xuống chỉ còn hơn 30 kg. Trong thâm tâm bà vẫn hy vọng chồng mình nằm trong số người lính bị Trung Quốc bắt. Mãi sau này, khi các chiến sĩ được trao trả không có tên ông, bà mới tắt hẳn hy vọng. Nhận lại quân tư trang của ông từ đơn vị, bà nâng niu từng bộ quần áo, chiếc chăn cũ hay chiếc võng dù. Nhiều năm sau này, chiếc chăn của ông luôn được bà Seo gấp ngay ngắn ở đầu giường để như có hơi ấm của chồng kề bên.


Kết hôn năm 1971, cuối năm ấy bà Seo sinh con gái thì ông Thông lên đường ra mặt trận. Cả cuộc đời làm vợ, bà chỉ được ở bên chồng vỏn vẹn một năm cộng dồn những ngày ông về phép. Năm 2005, bà Seo ra đi sau một cơn tai biến. "Bố nằm lại giữa biển khơi không ai được nhìn mặt lần cuối, mẹ ra đi đột ngột cũng không kịp trăng trối với chị em tôi điều gì", chị Hà đau xót.

Chị nhớ lại lần cuối cùng được gặp cha là dịp Tết năm 1988. Đóng quân ở đảo 18 tháng ông mới được về nghỉ phép. Mỗi lần ông về đều rất gầy và đen, từng bị sốt rét trong những ngày chống Mỹ nên ông không bao giờ béo được. Lần về phép ấy như có linh tính báo trước, ông lên trường xin cho con gái nghỉ tập quân sự rồi hai bố con đạp xe từ nhà ở Phủ Lý (Hà Nam) về Hưng Hà (Thái Bình) thăm họ hàng, giới thiệu với từng người bạn đồng ngũ "đây là con gái của tôi".

Khi còn gần một tháng nghỉ phép thì ông nhận được điện của đơn vị vào đi làm nhiệm vụ gấp. Trước ngày đi, ông còn bảo "mai đi rồi, tôi gánh tặng cho con gái rượu của tôi một bể nước kỷ niệm". Ông ra sông gánh từ chiều đến tối được một bể nước đầy. Sáng hôm sau, ông xuống tàu ở Nam Định xuôi vào Nha Trang (Khánh Hòa) rồi từ đó không trở về nữa.

Khi bố hy sinh, Thu Hà 17 tuổi, còn em trai Trần Hoài Nam 14 tuổi. Trong ký ức của cô con gái lớn, người cha rất giản dị và gần gũi. Mỗi lần về phép, ông thường mang thịt hộp về làm quà, có khi là bộ quân trang được cấp theo tiêu chuẩn. Chị Hà thích nhất chiếc quần hải quân màu xanh, liền sửa thành quần nữ sinh rồi mặc suốt mấy năm phổ thông, đến tận lúc rách rồi còn không nỡ vứt đi.
 
Ông dạy các con cách gấp quần áo, chăn màn gọn gàng như trong quân ngũ. Sống ở Trường Sa thiếu nước ngọt, ông dạy con phải tiết kiệm nước. Ông không bao giờ nói đến hiểm nguy của người lính, nhưng góp nhặt những câu chuyện ông kể, chị Hà biết thế nào là "tắm búng" của lính đảo Trường Sa. Sau mỗi lần luyện tập mồ hôi ướt đẫm người, họ ngồi cọ ghét rồi vê lại thành viên nhỏ búng đi, sau đó nhúng ướt khăn lau người cho sạch sẽ. Tiêu chuẩn chỉ huy cũng chỉ được 3 lít nước ngọt để đánh răng, rửa mặt và tắm mỗi ngày. Dùng xong rồi lại phải để nước đó tưới rau.

Chị Hà kể: "Ở đảo thiếu rau xanh nên mỗi lần về là ông rất thèm rau, nhất là rau muống, rau lang, su hào, bắp cải. Tranh thủ thời gian ít ỏi ở nhà, ông luôn chăm chút vườn rau cho mấy mẹ con trước khi về đơn vị".

Năm 1978, sau chuyến thăm Trường Sa cùng lãnh đạo Bộ Quốc phòng, đang công tác ở đơn vị pháo binh ông liền xin chuyển sang hải quân rồi đi xây dựng đảo. Hơn 10 năm gắn bó với Trường Sa, ông đưa đảo Sơn Ca từ trung bình lên khá nhất trong quần đảo; tổ chức tiếp nhận hàng nghìn tấn vật liệu và chỉ huy xây dựng các đảo Nam Yết, Thuyền Chài.

Năm 2013, chị Hà được ra Trường Sa, thăm nơi cha mình từng gắn bó và ngã xuống khi làm nhiệm vụ. Nhìn ngắm những Sơn Ca, Sinh Tồn, Nam Yết hôm nay, chị tự hào vì biết trong đó có sự đóng góp của cha.

27 năm trôi qua, chị Hà vẫn sống ở ngôi nhà cũ ở Phủ Lý (Hà Nam) để chăm lo hương khói cho bố mẹ. Ngôi nhà ở Thái Bình hiện đã trở thành nhà tưởng niệm, là nơi gặp gỡ của gia đình, đồng đội mỗi ngày giỗ ông. Theo phong tục truyền thống của người Việt, ngày giỗ được tính theo âm lịch nên nhiều năm nay, gia đình đều làm giỗ vào 27 tháng Giêng - ngày 64 liệt sĩ ngã xuống năm Mậu Thìn 1988.

"27 năm qua, ngày ấy đã trở thành ngày giỗ chung của 64 gia đình trên đất nước này. Nỗi đau nào qua thời gian rồi cũng nguôi ngoai, nhưng nỗi đau này thì âm ỉ mãi. Tôi không còn hy vọng có thể tìm thấy hài cốt của cha nữa, chỉ có thể sống tốt, kể cho các con nghe câu chuyện về ông ngoại chúng và rất nhiều người lính đã ngã xuống giữa Gạc Ma để bảo vệ chủ quyền của đất nước", chị nói.

*Lá thư của chị Thu Hà gửi bố Trần Đức Thông



Năm 2001, người dân thôn Cộng hòa, xã Minh Hòa (Hưng Hà, Thái Bình) đã góp tiền xây dựng đài tưởng niệm mang tên anh hùng liệt sĩ Trần Đức Thông. Năm 2009, Bộ tư lệnh quân chủng Hải quân xây dựng nhà tưởng niệm ông. Năm 2010, UBND huyện Hưng Hà quyết định lấy tên anh hùng liệt sĩ Trần Đức Thông đặt tên cho trường mầm non, trường tiểu học, trường THCS ở xã Minh Hòa như lời tri ân dành cho người con anh hùng của quê hương.
Ngày 13/3/2015, Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam cùng UBND tỉnh Khánh Hòa đặt viên đá đầu tiên xây dựng Khu tưởng niệm chiến sĩ Gạc Ma hy sinh trong cuộc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của tổ quốc. Khu tưởng niệm rộng 2,5 ha nhìn ra biển Đông và hướng về đảo Gạc Ma, thuộc xã Cam Hải Đông (Cam Lâm, Khánh Hòa).
"Khu tưởng niệm giúp gia đình liệt sĩ Gạc Ma có nơi thắp hương vào dịp 14/3. Đây cũng là nơi giáo dục truyền thống yêu nước, bảo vệ tổ quốc cho thế hệ sau. Những người ngã xuống ở Hoàng Sa hay Gạc Ma đều là tấm gương hy sinh vì dân tộc. Họ đáng được trân trọng", ông Đặng Ngọc Tùng, Chủ tịch Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam chia sẻ.

Hoàng Phương

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Có ai nghe thấy tiếng thất thanh này không?


CHỈ CÓ THỂ NÓI LÀ ĐIÊN
dongngan
Làm đường xe điện trên cao, chặt phá đại thụ chưa đã, lại thêm cái sáng kiến chết tiệt “ xã hội hóa” gì đó chặt cây trốc gốc trên đường Nguyễn Chí Thanh và một số đường khác để trồng cây mới, một loại cây “ vàng tâm” thôi! Năm nay nhiều tuyến phố sẽ nhẵn nhụi. và mùa hè này Hà Nội sẽ thành chảo lửa.
Phải đem thằng đưa sáng kiến này ra chặt đầu nó đi. Ác quá
Ông Nghị ông Thảo ơi, Hà Nội đang lên cơn điên dại chặt cây cối. Hai ông có biết không. Điên nặng lắm rồi đấy. 13/3/2015
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Cười mắc chết!

Của khỉ - Của nợ - Truyện ngắn của Lưu Quốc Hòa 



Thú thật là mấy hôm nay tôi co cụm trong chăn vì ốm, vì rét…vì đủ thứ.
Ngoài đường xe chạy ghê quá, cứ ré lên mà chạy, chắc trên xe lèn cứng người về ăn tết.
Cũng khổ hại thật. Sinh ra cái tết làm cho người ta cứ bấn lên, loạn xị ngậu lên mà suy cho cùng chả đâu vào đâu cả.
Thấy tôi co tôm trong chăn, mụ vợ dẩu mỏ nói chĩa vào cái âm thanh chua như mẻ ngấu: Đi lắm vào để nằm mà rên! Sao không dạy mà nhuộm tóc, cạo dâu rồi com lê cà vạt mà chạy như chó dái như hôm nọ! Trông đẹp chửa? tóc thì nhôm nhôm như tàn nhang cháy rở, râu thì như bàn trải giặt…Chưa nhìn đã …ghét.
Tốt nhất là không đối điều với mụ. Mụ ta còn đang cuống lên. Mồ mả chưa quét dọn sửa sang, cháu lớn cháu bé chạy nhảy nô như quỷ. Chuối năm nay đắt như bạc giả, vừa kén được một nải 60 ngàn về ngâm vào chậu để rửa bụi rồi bày mâm ngũ quả cúng ông bà ông vải, lơ mắt thằng cháu nội lấy dao cau cắt lìa từng quả, nó cứ tưởng như mọi lần mua chuối về nấu ốc nhồi, quả bưởi 40 ngàn đã cất kỹ vào tủ lạnh chờ xếp mâm ngũ quả, bà đi vắng, con cháu ngoại gọi trẻ hàng xóm đến liên hoan sạch. Đài thôn thì oai oái gọi đến lịch ngâm mạ chiêm! Bố khỉ, rét thế này người còn chết huống chi mạ mà cứ réo lên như mất gà…Ngó quanh ngó quất mấy đứa con lớn con bé đi đâu mất tiêu. Loáng cái về nhà vợ chồng vặc nhau một chặp vì công nợ lỗ lãi cuối năm rồi biến mất…Khổ thế! Sao tôi lại ốm lúc này cơ chứ…
Mà ốm cũng phải. Cuối năm công việc lút đầu, chỗ này mời, chỗ kia kéo toàn liên hoan tổng kết bia rượu đổ lên miệng nhau như nước chui hang chuột. Mấy bộ cánh mặc vào lại cởi ra, rồi lại mặc vào, không kịp giặt, người chua như mẻ ngấu. Suốt ngày đi, bắt tay, ôm hôn rồi cuối cùng cũng chả nhớ …hôn vì cái nỗi gì.
Cái không khí nhuốm màu "lửa tắt cơm sôi" mấy ngày trước tết làm mụ vợ tôi hoá điên. Mụ dậm chân bành bạch mà quát cháu, cái roi tre thỉnh thoảng lại hươ lên hạ xuống. Trẻ con cũng là lũ không biết điều, cứ tưởng sau mỗi cái roi quoắn đít là chúng cạch đến…tết sang năm, thế mà vắng người lớn lại chứng nào tật ấy. Chúng tranh nhau mũ Táo Quân đội chạy rình rịch ngoài vườn, bị thu hồi đưa lên ban thờ thì chúng nghênh mặt đứng trực. Hạ xuống đốt nó lăn ra khóc giãy đành đạch bắt đền, nó cứ tưởng nó oai hơn ông Công ông Táo.
Tôi có thằng bạn làm nghề cửu vạn bến xe khách Phủ Lý. Tối nay nó thuê xích lô chở về một cây quất thế rõ to, nó cười rạng rỡ phô mấy cái răng bàn cuốc khủng khiểng mà hét vợ con bê vào nhà. Tay nó cầm can rượu và một tảng thịt bò đỏ hỏn. Con vợ nhà quê khụt khịt phục tòng chồng như trẻ mẫu giáo. Mụ le te chạy như con cung quăng trước sự sai phái quá đáng của thằng chồng rất tinh tướng. Nó quát, nó đe, nó chửi nhưng con vợ vẫn nhăn nhở cười, cái mông vại, cặp vú nở nang đồ sộ cũng hưởng ứng nhịp đi te tái của nó.
Thằng chồng phởn lên lại tuyên bố:
- Mau làm đồ nhắm cho tao uống rượu! Ngoan thì mai tao mua cho cái váy đầm mà diện tết.
Khốn nạn cái thân con vợ, đã lùn lại béo, nhìn trước thấy vú ngần ngật, nhìn sau thấy mông lồng bàn, mặc váy đầm chắc nó thành con Dơi vừa ướt cánh bò lê trên đất.
Cả nhà chúng nó cười, tiếng cười vô tư trong sáng theo gió bấc rét cắt thịt bay sang nhà tôi. Sao tiếng cười ấm lòng đến vậy.
Chốn nhà quê là thế, ỏm nhả, tục tằn, có khi nằm trên bụng nhau vẫn cãi nhau nhưng không thâm thù phản trắc nhau, vẫn mơn mởn tồn tại và mơn mởn hạnh phúc.
Cũng cách nhà tôi mấy hàng rậu có một thằng làm quan. Tóc nó trải mượt ruồi không dám đỗ, giầy nó bóng như phết mỡ. Vợ nó son phấn rộn ràng. Sau cánh cửa sắt khoá im ỉm cả ngày không ai nghe bất kỳ âm thanh nào phát ra. Vợ chồng nó anh em ngọt sớt nhưng chồng thì bồ nhí bám như đỉa vì nó làm quan lắm màu mè. Trong cái sang trọng hào hoa ấy nó đang tính toán nát đầu vì bao cái lễ bề trên. Tôi thấy nó ôm bọc ôm đùm loáng cái đi, loáng cái về. Nó về để nhận quà thiên hạ đút lót và lại dùng quà ấy đi cúng tiến quan trên. Cái vòng luân hồi luẩn quẩn ấy là bức tranh tết đang âm thầm diễn ra, cứ đâu chốn phồn hoa đô hội mà nơi thôn cùng xóm vắng này cũng không ít.
Hạnh phúc là cái gì đó khó nắm bắt, nó là lẽ sống người này nhưng không phải người kia. Thế mới biết niềm vui đích thực là một phạm trù mở đối với con người trên cõi thế.
Trong chăn tôi lặng thầm nghĩ ngợi. Tôi cũng chả biết mình là loại gì…Không ra ông mà cũng chẳng ra thằng. Thôi thì là cái gì cũng phải cố mà sống…Nghĩ vậy nên tung chăn dậy để nghênh mặt như trâu dái, vừa nghĩ vừa viết. Mụ vợ đi qua ấn vào tay cốc nước cam, lại lườm lại dẩu mỏ: Kiếp sau tôi chỉ lấy thằng xích lô cho sướng, nó nhảy lên là đạp chứ không đà đận ẫm ờ …Nhà văn nhà thơ các ông đúng là cái của khỉ của nợ.
Tự nhiên tôi cũng lắp bắp nhắc lại câu nói của mụ: Đúng là của khỉ của nợ …
Lưu Quốc Hòa
 
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Sao lại quá lời như này pác Nhàn ơi?:

12-03-2015
vương tri Nhàn

Văn học Việt Nam tìm kiếm bạn đọc trong nước không xong, lại tính chuyện chinh phục thế giới

Trong khi tụt xuống mức thấp nhất của chất lượng thì chúng ta lại mơ tưởng hão huyền tới những đỉnh cao vinh quang nhất  - đấy là ý nghĩ của tôi, khi nhận ra một hướng vận động của văn học hiện thời.
Để chứng minh cho tình trạng tồi tệ của đời sống sáng tác, trong phần phụ lục dưới đây, tôi sẽ giới thiệu lại một bài báo được viết từ hai năm trước trên báo TT & VH mà có lẽ ít ai để ý.
 Bài viết có cái giọng riêng của mình. Cái giọng ấy có thể người này thích người kia không chấp nhận, cái đó không sao. Cái chính là bài viết đã nêu gợi ý rằng thơ ca của chúng ta văn học của chúng ta chỉ đang ở dạng văn hóa dân gian trong một thời điểm suy đồi, tức là một thứ thang bậc thấp của các nền văn học hiện đại. Và mọi cố gắng tô son điểm phấn cho mình chỉ khiến chúng ta thêm phần nhếch nhác. Sự bế tắc càng thấy rõ hơn ở ngay cái chỗ ta tưởng ta tìm ra lối thoát.
Đáng lẽ phải hiểu ra tình trạng thực tế của mình, thì hơn bao giờ hết chúng ta lại “mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây", nằm suông tán phét, mơ màng những chuyện xa vời mà có mọc cánh ta cũng không làm nổi.
Tôi nhớ những cây bút trong thế hệ của tôi. Năm tháng chiến tranh đã nuôi dưỡng mọi mơ ước của họ. Trở về, họ muốn làm lại tất cả. Trong cuộc sống riêng, họ sẽ có gia đình có hạnh phúc. Về chuyên môn, họ sẽ trở thành nhà văn lớn, tác phẩm của họ sẽ trở nên sánh ngang vai với các bậc thầy trong quá khứ và nhất là được dịch ra tiếng nước ngoài…
Lịch sử văn học bốn mươi năm qua diễn tiến theo một mũi tên đi xuống. Chúng ta không thể làm lại đời mình, khi thiếu những phẩm chất cơ bản của nghề nghiệp.
Chỉ có mơ ước ở mỗi con người là không chịu chấm dứt và trong khi hiểu rằng nó ngày càng xa vời thì chúng ta, giống như người nông dân tính chuyện ăn đất của Ngô Tất Tố, lại cố tạo ra những gía trị giả để tạm yên lòng.
Tôi muốn nói tới những công việc được gọi là đưa văn học VN ra thế giới được nhiều người lo tính gần đây.
 Trong các cuộc hòa đàm giữa các bên tham gia, nhiều khi người ta nghe bên A. tố bên B là muốn dùng hội nghị để giành những chiến thắng không đạt được trên chiến trường.
Nay với các nhà văn cũng vậy.
Tất cả các số liệu thống kê đều chỉ ra rằng, nay là lúc nhà văn VN đương thời đang thất bại trong việc tìm kiếm bạn đọc trong nước.
Vậy mà với những thứ ấy, người ta lại tính chuyện xuất ra thế giới.
Có thể có người sẽ đặt câu hỏi:
-- Nhỡ tác phẩm của tôi quá cao, trong nước không có ai hiểu nổi, tôi sẽ ra với thế giới trước rồi quay về tìm kiếm bạn đọc nội địa sau thì sao?
Tôi biết nhiều người nói câu này chỉ là trong cơn hăng máu nói bừa và bảo rằng thử cãi cho vui thôi. 
Nhưng tôi cũng xin trả lời một cách nghiêm chỉnh rằng trình độ văn chương một nước không bao giờ vượt quá trình độ mọi hoạt động chính trị kinh tế của nước đó.

Cũng có thể bác bỏ các ảo tưởng nói trên bằng cách nhìn sang các ngành nghệ thuật khác.

Từ Paris, hoạ sĩ Trần Trọng Vũ có một nhận xét khái quát về tình trạng của hội hoạ VN . Những nhận xét ấy được hoạ sĩ Trịnh Cung hưởng ứng. Ông cắt nghĩa tại sao mình lai đồng tình với Trần Trọng Vũ qua bài trả lời phỏng vấn ngắn in trênTT&VH số ra 16-5-2003.
 Theo Trần Trọng Vũ và Trịnh Cung, chưa bao giờ tranh VN có mặt trong hệ thống các gallery chuyên nghiệp; và người mua tranh VN thường chỉ là khách du lịch.
 Nói gần nói xa chẳng qua nói thật, cái nhận xét trên chỉ có một nghĩa đơn giản: chúng ta đang có một nền hội hoạ thuộc loại chầu rìa.
Đại khái cũng giống như trong bóng đá, chỉ khác là trong bóng đá người ta có hệ thống xếp loại rõ ràng còn trong nghệ thuật thì chưa.

Trên đây là một đoạn trích trong một bài báo đã cũ của tôi mang tên
Trông người lại nghĩ đến ta http://vuongtrinhan.blogspot.com/2009/07/trong-nguoi-lai-nghi-en-ta.html
Nhắc lại nó ở đây, người viết chỉ lưu ý thêm: sở dĩ các ngành như hội họa và một môn thể thao như bóng đá có thể chấp nhận tình trạng lạc hậu của mình so với thế giới vì người hoạt động trong các ngành đó có sự cọ xát thường xuyên và sòng phẳng với thế giới.
Còn bên văn học, người ta lại hay lòe nhau bằng những cái gọi là tính tư tưởng tính dân tộc nên dễ ảo tưởng.... Sự hiểu biết của phần đông người viết văn trong nước về văn học thế giới thường đơn giản và sai lệch, được mấy ông có ngoại ngữ giới thiệu cho cái gì thì biết cái ấy. Mà các ông gọi là nhà văn biết ngoại ngữ kia, cũng đâu có phải là những trung gian đáng tin cậy.

Tóm lại, đứng ở góc độ khách quan sẽ thấy những người làm văn chương chúng ta hiện nay thường hiện ra như những kẻ chẳng tri kỷ tri bỉ, biết mình biết người gì hết. 
Bị hư danh chi phối, ta dễ dàng tìm mọi cách để lừa nhau, người nọ lừa người kia và mỗi người tự lừa mình.
Tất cả chỉ bắt đầu bằng việc không xác định được trình độ thực của mình và chỉ thích đo mình bằng thước đo riêng chứ không phải bằng thước đo của thế giới.

Trong khi đang mê muội trong cơn tự nhận thức, lẽ tự nhiên là chúng ta  bỏ qua mọi ý kiến nhận xét có vẻ trái tai, mà bài viết dưới đây là một ví dụ.

Phụ lục

Tao Đàn cóc nhái ngày Xuân
Trần Hoàng Nhân

Như mọi năm, Xuân đến là vương quốc Đầm Lầy tổ chức Lễ hội Tao Đàn ở khắp các tỉnh thành. Có một địa phương từ cấp xã đến cấp tỉnh đều có ngày thơ riêng, đỉnh cao là ngày thơ trong đêm trăng tròn tháng Giêng trên một đỉnh núi. Câu lạc bộ thơ các cấp đều hồ hởi phấn khởi trong tháng Giêng này. Một số nhà thơ chạy show đọc thơ mệt nghỉ trong suốt mấy ngày.
Chất lượng thơ của Lễ hội Tao Đàn Đầm Lầy chưa biết hay dở thế nào, nhưng chắc chắn là thơ “chuẩn không cần chỉnh”. 
Ngày trước các cụ thơ rằng: “Con mèo con chuột có lông/Cây tre có mắt nồi đồng có quai”.
 Ngày nay, một số thi sĩ trong Đầm Lầy có thơ tả cảnh quê hương, rằng: “Quê tui có một dòng sông/Mùa hè nước cạn mùa đông nước đầy/Cầm cần câu cá trên tay/Cá bơi dưới nước chim bay trên trời”. Hoặc: “Chị tui lớn tuổi hơn tui/Mẹ tui còn lớn hơn tui rất nhiều/Ngoài đồng có một cánh diều/Diều mà có gió thì diều nó bay”…

Năm nay (cũng như các năm nọ), Tao Đàn Đầm Lầy quyết định ngoài cờ xí trống chiêng còn có các phần trình diễn thơ, múa thơ, đánh quyền thơ và nhảy hip-hop thơ… cho sinh động để khán giả bớt buồn ngủ. Cư dân trong Đầm Lầy đa phần là nòng nọc cụt đuôi nên mọi sự diễn ra ở Lễ hội Tao Đàn đều ngẩn tò te không biết gì. 
Chỉ biết rằng năm nào cũng vậy, bộ phận truyền thông của lễ hội phát trên đài, trên báo rằng: Tao Đàn năm nay nhất định thành công tốt lành, rằng bạn bè thế giới tròn xoe mắt mà kính phục chúng ta, rằng thơ ca đã đu theo các chùm bóng bay lên trời khiến Thượng đế cũng động lòng mà thương cho giống loài cóc nhái của Đầm Lầy nhà mình.

Nhớ năm ngoái, một vị ếch gần già (chứ chưa lẩm cẩm) nằm trong Ban tổ chức Lễ hội Tao Đàn tuyên bố sẽ xây dựng Đầm Lầy thành một cường quốc thơ ca của thế giới! Nghe xong, rất nhiều cư dân nòng nọc của Đầm Lầy sung sướng như mơ. Bởi các vương quốc khác họ trở thành cường quốc nhờ dân họ tiền nhiều, nhờ tên lửa hạt nhân, nhờ thủy quân hiện đại… Đầm Lầy ta không có các phương tiện trên thì ta có thơ thể hiện tâm hồn mơ mộng và tinh thần yêu chuộng hòa bình. Nếu vương quốc nào trên Trái đất này cũng chạy đua thành cường quốc thơ thì chiến tranh không thể nào xảy ra, mà nếu có xảy ra vì chạy đua… thơ thì chắc cũng chẳng có ai bị thương và ngày tận thế càng không có cơ hội.

Ở Đầm Lầy, gần như ai cũng biết làm thơ. Chính vì nhà nhà làm thơ, người người mần thơ với một lực lượng hùng hậu được trang bị “thơ tận răng” như thế, Đầm Lầy xứng đáng là cường quốc thơ chứ còn gì nữa! Một số vị giáo sư cóc, tiến sĩ nhái, nhà phê bình ễnh ương ăn lương của quốc vương còn viện dẫn truyền thống thơ ca qua mấy mùa mưa của Đầm Lầy trong các cuộc hội thảo thơ, hội nghị ca. Dù nước trong đầm lầy lúc đầy lúc cạn nhưng thơ ở vương quốc này chưa bao giờ vơi. Toàn là những lý do chân chính đáng để Đầm Lầy trở thành cường quốc thơ ca thế giới.

Một số khác nhờ có đọc báo Tuổi trẻ Cười, nên ra sức phản đối dự án cường quốc thơ này. Họ phản đối vì mới trước Tết Quý Tỵ đây thôi, tầng lớp thợ thuyền là nòng cốt làm ra sản phẩm phục vụ chúng sinh của Đầm Lầy có nơi chỉ được thưởng Tết bằng cân bột ngọt, đường và tờ lịch treo tường có em gái mặc bikini… dòm cho đỡ tủi. Mới năm ngoái thôi, kẹt xe vẫn còn là vấn đề nan giải của lãnh đạo các thành phố lớn trong Đầm Lầy, là hình ảnh kỳ dị trong mắt người nước ngoài có văn minh và là nỗi khốn khổ cho hàng chục triệu dân đen nòng nọc thành thị. Còn môi trường sống thì ngày càng tệ, ô nhiễm từ cọng rau muống đến nguồn nước mưa… Vậy thì trở thành cường quốc thơ để làm gì? Chưa kể, mấy ông bà thi sĩ ễnh ương kêu to nhất trong Đầm Lầy này xưa nay chỉ có giải “nô-đùa” chứ có cái giải “nô-ben” nào đâu mà dám ngẩng mặt với các vương quốc khác về tài thơ của mình mà đòi làm cường quốc!

Cuộc tranh cãi ở vương quốc Đầm Lầy lọt tai một lão người. Lão người này dựng chòi thơ sinh sống lâu năm trên Đầm Lầy. Lão nhủ thầm trong bụng: “Cái xứ cóc nhái Đầm Lầy chúng mày mà cũng đòi cường quốc Tao Đàn à. Ở xứ loài người bọn ta, đi đâu cũng thấy “thi phú” (tức là… thu phí), vậy mà có dám nhận cường quốc thơ ca đâu?
Để khỏi phải nhức lỗ nhĩ vì bọn cóc nhái cãi nhau, lão người, thay vì quăng một mẻ lưới quét sạch bọn cóc nhái hay mần thơ trong Đầm Lầy, quyết định thay bằng kế hiểm độc hơn: làm ngay một bài thơ tên là Tao Đàn cóc nhái rồi thuê bọn người chuyên in lậu photo hàng vạn bản với giá rẻ hơn tảo độc ném xuống Đầm Lầy. 
Lão cười bí hiểm: Phen này, vương quốc Đầm Lầy cóc nhái chúng mày sẽ bị ô nhiễm thơ của tao mà tuyệt chủng!
Bài thơ của lão người có gì mà đòi tiêu diệt cả một giống loài cóc nhái yêu thơ ca? Bài thơ đó của lão người như thế này, được ghi lại từ một nhà thơ dân gian quá cố tên là Lê Trung Dị – vốn là cư dân nòng nọc cụt đuôi trong Đầm Lầy – sau cuộc tuyệt diệt của lão người, Lê Trung Dị thoát kiếp ễnh ương đầu thai thành giống người, chép lại rằng:
Kỳ quá không mưa cóc vẫn ra
Duyên đâu cóc nhái họp chung nhà
Cóc già chễm chệ ngồi chong mắt
Cóc trẻ lăng xăng đọc diễn ca
Cóc thị, cóc quê bò lếch thếch
Cóc sông, cóc núi đứng khề khà
Cùng nhau xướng họa nghe con cót
Cường quốc thơ mơ dữ vậy ta.


Bài viết này vốn in ở Thể thao & Văn hóa cuối tuần số đầu xuân  2013. Nay tôi chỉ tìm được nó trên mạng qua địa chỉ sauhttp://lethieunhoncom.blogspot.com/2013/02/tao-coc-nhai-ngay-xuan.html


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Ai Nhớ Ngàn Năm Một Ngón Tay

 Du Tử Lê

Hoạ sĩ Nguyên Khai (trái) Du Tử Lê 2/2013

gửi Nam Hải
tháng tư tôi đen rừng chưa khóc
mưa vẫn chờ tôi ở cuối khuya
có môi chưa nói lời gian dối
và mắt chưa buồn như mộ bia 

tháng tư nao nức chiều quên tắt
chim bảo cây, cành hãy lắng nghe
bước chân ai dưới tàng phong úa
mà tiếng giầy rơi như suối reo 

tháng tư khao khát, đêm vô tận
tôi với người riêng một góc trời
làm sao em biết trăng không lạnh
và cánh chim nào không bỏ tôi? 

tháng tư hư ảo người đâu biết
cảnh tượng hồn tôi: một khán đài
với bao chiêng, trống, bao cờ xí
tôi đón em về tự biển khơi 

tháng tư xe ngựa về ngang phố
đôi mắt nào treo mỗi góc đường
đêm ai tóc phủ mềm nhung lụa
tôi với người chung một bến sông 

tháng tư nắng ủ hoa công chúa
riêng đóa hoàng lan trong mắt tôi
làm sao em biết khi xa bạn
tôi cũng như chiều: tôi mồ côi? 

tháng tư chăn, gối nồng son, phấn
đêm với ngày trong một tấm gương
thịt xương đã trộn, như sông núi
tôi với người, ai mang vết thương? 

tháng tư rồi sẽ không ai nhớ
rừng sẽ vì tôi nức nở hoài
mắt ai rồi sẽ như bia mộ
ngựa có về qua cũng thiếu đôi! 

tháng tư người nhắc làm chi nữa
cảnh tượng hồn tôi đã miếu thờ
trống, chiêng, cờ xí như cơn mộng
mưa đã chờ tôi. mưa...đã...mưa 

mai kia sống với vầng trăng ấy
người có còn thương một bóng cây?
góc phố đèn treo đôi mắt bão
ai nhớ ngàn năm một ngón tay?

New Orleans 1-5-84

 

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Làng Việt : một làng Việt vốn là làng Chăm cổ, ở Quảng Bình

Du lãng vùng nông thôn Đà Nẵng hay Huế, vẫn gặp những làng Việt vốn ngày xưa là làng của người Chăm. Tức đất cũ của vương quốc Champa. Người Chăm đã bỏ đi, để lại những di vật nào đó. Lụi tàn, phế tích, hoang hoải. Nhiều khi tần ngần rất lâu bên một mảnh bia khắc chữ Chăm còn lạc trong vườn mía bạt ngàn. Ở đó, mình lại xem cách chế đường độc đáo. Chưa từng thấy ở đâu. Hẳn là kiểu làm đường của người Chăm thời xa xưa.


Thầy Daniel - giáo viên hướng dẫn ngày xưa của mình - là chuyên gia về phương pháp chế đường của người Trung Quốc. Dĩ nhiên là dưới góc nhìn dân tộc học lịch sử. Luận văn học vị của ông viết bằng tiếng Anh, dày cỡ một ngàn trang, là về phương pháp chế đường thời nhà Đường ! Rồi sau này, ông lấy luôn tên Trung Quốc là Đường Lập. Hẹn ông là một lần nào đó sẽ đưa ông tới vùng Đà Nẵng, xem người Chăm cổ sót lại từ thời nhà Đường đang làm đường ở cạnh đường đi như thế nào.

Dân của một số làng hệt như người Chăm xưa. Dĩ nhiên bây giờ là người Việt. Nhưng giọng nói, kiểu tóc, nước da, thì cứ bắt mình nghĩ một liên hệ nào đó giữa Hà Ô Lôi (thằng Lồi đen nào đó) với họ. Có thể xửa xưa họ là Chăm, lâu rồi, thì hóa Kinh.


Ở dưới là về làng Quảng Phương ở Quảng Bình, qua hai mẩu. Một của báo SGGP. Một của Nguyễn Quang Lập.

---

1. Bài của SGGP (từ 2010)

Độc đáo làng văn hóa ở Quảng Phương
Thứ ba, 20/04/2010, 09:34 (GMT+7)
Qua hàng trăm năm dựng làng, giữ đất, người dân xã Quảng Phương, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình đã tạo nên nét đẹp rất riêng của mình. Sống văn hóa là một trong những nét văn minh của làng tại Quảng Phương. Vậy nên, ở đây có 4 làng thì cả 4 làng đều được công nhận làng văn hóa cấp huyện.

Từ một điển hình
Quảng Phương có 4 mảnh làng quần tụ nhau hàng trăm năm có lẻ. Khi có chủ trương, lãnh đạo xã chọn làng Pháp Kệ xây dựng làng văn hóa đầu tiên. Đó là mảnh làng sống trên nền đất của người Chăm cổ. Gần một ngàn năm trở thành làng thuần Việt, những dòng họ ở Pháp Kệ đã hun đúc được gia tài văn hóa nổi trội cả vùng. Cư dân Pháp Kệ sống lề lối. Gia phong lễ tiết, truyền thống dòng tộc, họ hàng làng xóm từ xưa vẫn chảy trong huyết quản từng người nên việc dạy dỗ con cái luôn đem lại đạo đức cho con trẻ.

Di tích quốc gia đình làng Đông Dương hàng trăm năm là điểm tựa để người dân Quảng Phương dựng làng văn hóa.

Ông Nguyễn Quốc Thuận (77 tuổi), người làng Pháp Kệ, hào sảng kể: “Làng tui được chọn đầu tiên. Lúc đầu các xóm dựng làng văn hóa bằng cách làm sạch vườn tược, phát quang lối đi. Cuối mỗi tuần, trưởng xóm cùng trưởng thôn đi từng ngõ làng kiểm tra vệ sinh để chấm điểm. Làng có 4 xóm, xóm nào ít điểm nhất bị “tuyên” lên loa truyền thanh. Lâu dần cả 4 xóm đều sạch đẹp”. Tiêu chí dựng làng văn hóa không có trộm cắp, đánh nhau, người làng Pháp Kệ giữ vững từ những năm bao cấp. Ngày huyện cấp bằng văn hóa, Pháp Kệ mở hội đầu làng, mời các làng bên cùng dự. Chủ tịch UBND xã Hồ Viết Lâm hỏi: “Pháp Kệ làm được, các bậc trưởng thượng của 3 làng còn lại có đốc thúc con cháu dựng làng văn hóa?”. Những bậc bô lão đến dự, hoan hỉ đồng thanh nói to: “Nhất trí”.
Sôi nổi thi đua

Trong hai cuộc kháng chiến, Quảng Phương cống hiến 148 liệt sĩ, 109 thương binh, có 5 bà mẹ VNAH. Xã có đình làng Đông Dương hàng trăm năm được công nhận di tích quốc gia, các điệu hát ca trù cổ của làng Đông Dương là một phần của ca trù Việt Nam được công nhận di sản thế giới.
Mảnh đất này mê đàn hát nên còn lưu giữ được chiếc đàn đáy trăm năm. Đầy ắp nền văn hóa nên mỗi năm, con em Quảng Phương đỗ đạt đại học từ 40-50 em. Nơi đây cũng còn bảo lưu được 5 giếng nước Chăm Pa cổ hàng ngàn năm tuổi cùng rặng trâm bầu ngàn năm độc đáo nhất Việt Nam.

Chủ tịch UBND xã Hồ Viết Lâm nói, về cách dựng làng văn hóa để cả xã trở thành xã văn hóa là một cuộc thi đua sôi nổi. Ông nói: “Làng văn hóa là thương hiệu của thôn quê. Năm 2001 Pháp Kệ được công nhận làng văn hóa. Những làng khác nhìn vào, noi vào đó xem làng mình khiếm khuyết gì mà không được như Pháp Kệ”. Và một cuộc thi đua bền bỉ từ năm này qua năm khác được khởi động. Những trưởng thôn, trưởng xóm họp lại, quây quần cùng nông dân trên bờ xôi ruộng mật phân tích lý lẽ của cuộc sống văn hóa và phải phấn đấu để đạt được làng văn hóa.
Dần dà cuộc thi đua trên cũng đưa đến kết quả tốt nhất. Xã có 4 làng thì cả 4 được công nhận làng văn hóa cấp huyện (Pháp Kệ, Đông Dương, Hướng Phương, Tô Xá). Vui nhất là làng Hướng Phương, một làng có nhiều giáo dân sinh sống.
Hiện tại, xã Quảng Phương có đến 10 đơn vị văn hóa, ngoài 4 làng trù mật được công nhận, còn có 6 đơn vị khác là trường học và UBND xã cũng được công nhận đơn vị văn hóa cấp huyện. Đáng chú ý nhất là đơn vị văn hóa Dòng tu Mến thánh giá nữ Hướng Phương đang nuôi dưỡng hơn 100 cháu bé mồ côi không nơi nương tựa, một đơn vị văn hóa giàu lòng nhân ái.

Đàn đáy trăm năm

Một người theo đạo Công giáo Hướng Phương nói: “Làng tui phấn đấu để cho bằng những làng khác. Ai cũng nghĩ làng tui khó lên, nhưng cả làng đồng tâm, đồng lòng. Chừ văn hóa rồi, làng sống không cãi cọ, chẳng trộm cắp, sống lành mạnh, trong sáng, sức làng như lớn thêm, dân làng như vui hơn”.
Ở Quảng Phương, theo lời Chủ tịch UBND xã Hồ Viết Lâm: “Chưa có hộ giàu” nhưng đã làm được kỳ tích ngoạn mục của 8.000 con dân các làng.
MINH PHONG

http://sggp.org.vn/thongtincanuoc/2010/4/223961/



Người từng gặp 3 
Những năm 1965- 1975 nhà mình sơ tán ở làng Đông Dương, cách Thị Trấn Ba Đồn có chục cây. Một cái làng rất hay, y như một mảnh đất Nam Bộ rơi xuống vậy, có hoa mai vàng, có rặng trâm bầu sau làng, còn tôm cá thì ê hề, vẫn có câu: Cơm Tô Xá, cá Đông Dương.
Chuyện làng Đông Dương thì nhỉều lắm, sau này từ từ sẽ kể.
Bây giờ kể chuyện anh Đ. thôi, vì anh này hay nhất trong kí ức của mình về cái làng này.
Anh Đ. lùn, đen, xấu. Anh Diệu nói cái mặt thằng Đ. chành bành giống cái l. trâu.
Anh Đ. sống với mẹ già, sau mẹ chết anh ở một mình. Nhà nghèo quá, 24, 25 tuổi rồi hỏi cô nào cũng bị chê.
Anh con liệt sĩ, lại con một, khỏi đi bộ đội. Con trai trong làng ai lớn đều đi bộ đội hết, còn lại dăm ba anh tuổi như anh thôi, chỉ có anh là chưa vợ.
Mẹ anh khóc lên khóc xuống , anh vẫn chẳng quan tâm đến chuyện vợ con. Cho đến khi mẹ anh chết anh vẫn độc thân.
Mình hỏi anh sao anh không lấy vợ. Anh nói tao để vậy để đàn bà nó thèm.
Anh nơm cá cực tài, cầm nơm úp nhoay nhoáy, hễ dừng lại mò là y như có một con cá to. Nghe tiếng đóng thành nơm, anh biết chắc cá nhỏ hay to, ngon hay dở để dừng lại bắt hay không. Chẳng bù cho mình, úp úp mò mò, tóm lại chỉ vài con cá diếc, cá rô.
Một lần úp nơm, bao giờ xâu cá của anh cũng dài nhất, đầy những con cá ngon, đắt tiền.
Mình dân Thị Trấn lên, thấy thế thì thích lắm, bám theo anh suốt ngày.
Anh chỉ làm hai việc: đi đập lúa thuê và nơm cá bán lấy tiền.
Cứ mùa lúa là anh đi đập lúa cho các gia đình có chồng con đi bộ đội, một đêm đập lúa được trả vài lon gạo. Thế cũng đủ sống, lại được tiếng giúp đỡ gia đình bộ đội.
Anh không đoàn đội. Hồi này ai không đoàn đội bị coi như thanh niên chậm tiến, con gái vì thế bụng thì chê nghèo nhưng miệng lại có cớ chê anh chậm tiến.
Hồi này ai bị chê chậm tiến thì sốt ruột lắm, phấn đấu như điên, anh tỉnh bơ, không quan tâm.
Hội họp cuộc nào anh cũng đến nhưng chỉ đứng sau nghe. Thanh niên làng tranh nhau lên nói toàn từ sáo rỗng- lý tưởng, hoài bão, tiên tiến, thi đua, quyết tâm, căm thù, phấn đấu.v.v.. Anh cười hậc, é he một tiếng to rồi phủi đít quần ra về.
Hôm sau họp anh lại đến, lại đứng sau, lại nghe lý tưởng, hoài bão, tiên tiến, thi đua, quyết tâm, căm thù, phấn đấu.v.v.. Anh lại cười hậc, é he một tiếng, phủi đít quần ra về.
Luôn luôn như thế.
Anh Cư gặp mình nói Lập ngoan, học giỏi, cháu ngoan Bác Hồ, đừng quan hệ với thanh niên chậm tiến.
Mình dạ dạ nhưng vẫn chơi với anh Đ. như thường.
Đêm nào cũng vậy, con trai lớn chút trong làng đều đi đặt túm bẫy lươn, câu cá cặm. Đặt đầu hôm, bá bốn giờ sáng thì đi thăm.
Một đêm mình đi thăm túm lươn, hôm đó được nhiều, hơn chục con, mừng lắm hí hửng xách oi về thì gặp anh Đ. đi từ nhà chị Th. ra. Mình hỏi anh đi đâu, anh nói không.
Minh thấy anh mặc cái áo bộ đội dài gần đến gối ( anh lùn mà). Nghi nghi, mình kéo vạt áo anh lên, chim cò phơi ra cả, hoá ra anh không mặc quần. Mình ngạc nhiên nói sao vào nhà người ta lại không mặc quần, anh cười phì một tiếng rồi bỏ đi.
Nhà chị Th. một mẹ một con, chồng đi bộ đội, thằng cu con chị mới hơn 4 tuổi. Mình nghi lắm.
Mình lẻn theo anh Đ.
Anh Đ. lại vào nhà chị H. Chị H. có chồng hy sinh, vừa báo tử năm ngoái. Chị vẫn say sưa sinh hoạt đoàn, biến đau thương thành hành động cách mạng, hăng hái phát biểu lý tưởng, hoài bão, tiên tiến, thi đua, quyết tâm, căm thù, phấn đấu.v.v. Bà con làng xóm khen lắm, vẫn nói với con gái con dâu: đó, sang nhà con H. mà coi.
Mình vào sau hồi nhà chị H. Tối quá không thấy gì, chỉ nghe chị kêu hệt như mèo kêu.
Mình chặn anh Đ. ở cổng nhà chị H. nói em biết rồi nha. Anh Đ. túm cổ áo mình nói mày nói tao giết.
Về sau, lần nào đi nơm anh vừa nơm suất của anh, vừa nơm suất của mình. Mạ mình toàn khen thằng Lập dạo này nơm cá giỏi. Hi hi.
Làng Đông Dương có chừng 4-5 trăm nóc nhà, hơn 1 trăm nóc là nhà hoặc là vợ bộ đội hoặc là vợ liệt sĩ. Không biết anh Đ. chui vào bao nhiêu nhà trong số 100 nóc nhà ấy, chỉ biết suốt cuộc chiến tranh 1965-1975, tối nào cứ đến 3-4 giờ sáng anh Đ. lại mặc cái áo bộ đội dài đến đầu gối, không thèm mặc quần, đi hết nhà này đến nhà kia, 5 giờ sáng thì về.
Mình hỏi sao anh không mặc quần. Anh nói mặc mần chi, cởi vô cởi ra mệt.
Hoà bình, anh Đ. hơn ba chục tuôỉ vẫn chưa vợ.
Một hôm làng tổ chức tuyên dương các mẹ các chị là vợ con bộ đội chung thuỷ đảm đang. Các mẹ các chị sắp hàng dài nhận phần thưởng, nhận giấy khen, mặt ai nấy hớn hở.
Anh Đ. cũng đến, đứng sau cùng, nghe chị H. đại diện phát biểu lý tưởng, hoài bão, tiên tiến, thi đua, quyết tâm, căm thù, phấn đấu.v.v Anh Đ. cười hậc, é he một tiếng to rồi phủi đít quần ra về


http://www.tanvien.net/Presentation/nql_2.html

Phần nhận xét hiển thị trên trang