Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Tư, 11 tháng 3, 2015

Nói thẳng ra là Trang Hạ đã bị từ chối!

Tâm thư của một “con lợn” gửi nhà văn Trang Hạ

apamily 19-01-201311:25:09

Ngay sau bài viết “Đàn ông lên tiếng vụ “Đàn ông và con lợn” của Trang Hạ - Lê Hoàng”, nhà thơ trẻ Trương Xuân Thiên đã tự nhận mình là một con lợn và viết thư gửi đến nhà văn Trang Hạ.

Thưa cô Trang Hạ!

Trước hết tôi xin tự giới thiệu tôi là một thằng đàn ông mà sau khi đọc bài viết của cô tự thấy mình là một con lợn đực. Một con lợn đích thực. Một con lợn giống như bao con lợn khác ở đất nước này từ cổ chí kim đa phần mỗi khi về đến nhà chỉ biết ăn ngủ và… tắm. 

Về phần này, đôi lúc tôi còn là con lợn tệ nạn, hay thậm chí không được bằng con lợn vì nhiều hôm còn không thèm tắm. Ví như hôm nay chẳng hạn. Trời lạnh quá lợn có quyền không tắm cô nhỉ? Có đôi khi con lợn tôi không ăn mà chỉ ngủ, bởi trước khi vác xác về nhà đã nhậu lu bu say bí tỉ với bạn bè. Tất nhiên con lợn tôi nhiều lúc cũng cố gắng chia sẻ việc này việc kia trong bếp, cũng bóc hành đuổi ruồi giúp vợ nấu cơm, cũng tíu tít nói cười vui vẻ khi vợ đang rửa bát, hay cũng pha cho vợ ly lipton trong lúc nàng đang phơi phóng quần áo. Hẳn như thế tôi cũng chưa hẳn là con lợn bỏ đi hoàn toàn, trong sâu thẳm con lợn ấy vẫn còn chút… “heo cách” phải không cô? 

Chắc cô cũng biết lợn cũng có năm bảy loại lợn. Và chẳng có con lợn nào ngay khi sinh ra chỉ muốn sau này đời mình chỉ quẩn quanh ăn, tắm và ngủ. Tổ tiên chúng tôi cũng sục sạo khắp nơi, cũng đào bờ đào bụi, cũng sẵn sàng nhe năng chiến đấu với kẻ thù rình rập để bảo vệ bầy đàn, cũng tung tăng trên bờ dưới bãi, và cũng… yêu nữa đúng không cô?

Tâm thư của một “con lợn” gửi nhà văn Trang Hạ 1
Nhà thơ trẻ Trương Xuân Thiên: "Chưa làm lợn nên hẳn cô không biết đó thôi, làm lợn cũng chẳng sung sướng gì đâu cô ơi".
Nhưng số phận đã sắp đặt loài lợn ngày nay phải ăn - ngủ - tắm để phù hợp với tiêu chí tăng trọng nhanh và… siêu nạc nữa. Dần dần, loài lợn chúng tôi trở nên thụ động và chỉ còn biết ăn, ngủ cô ạ. Chúng tôi đâu muốn thế, là nhà văn hẳn cô hiểu điều tôi muốn nói. Bản chất chúng tôi không hẳn như thế nhưng xã hội này với nền văn hóa lúa nước mang nặng tính nông nghiệp này nó đã như thế rồi. Chỉ ăn, ngủ, tắm cũng không hẳn là không biết thương vợ, thương con đâu cô ạ.

Chưa làm lợn nên hẳn cô không biết đó thôi, làm lợn cũng chẳng sung sướng gì đâu cô ơi. Một ngày phải ở cơ quan ít nhất 10 tiếng, rồi phải lo toan tính toán đủ thứ. Lúc nào cũng có cả một gánh nặng tài chính, gánh nặng công việc trên vai. Nhiều lúc cũng muốn… xõa, muốn đổi cho vợ, mình làm vợ, vợ làm lợn nhưng vợ nhất quyết không chịu đổi. Suy cho cùng vợ làm lợn không thể bằng chồng, mà lợn làm vợ không thể bằng vợ xịn được. Xã hội tự nó đã phân công như thế. Tự nhiên đã ban cho mỗi phái những đặc điểm như thế. Sinh ra và lớn lên đã được giáo dục như thế. Trách nhiệm với gia đình và xã hội quy định mình phải như thế. Lối sống đã ăn sâu vào máu như thế rồi cô ạ. Bởi vợ ai không biết chứ vợ tôi thích tôi làm lợn mới khổ chứ. 

Tâm thư của một “con lợn” gửi nhà văn Trang Hạ 2
"Vợ ai không biết chứ vợ tôi thích tôi làm lợn mới khổ chứ".
Thưa cô Trang Hạ, chẳng biết hoàn cảnh hay nền văn minh cô đang sống thế nào chứ cứ như gia đình tôi, vợ tôi nhất quyết không cho tôi từ bỏ quyền làm lợn cô à. Nói đúng hơn vợ tôi thích tôi làm lợn. Cô ấy tranh thủ đi học lớp nữ công gia chánh và mỗi khi có dịp là trổ tài nấu nướng, cắm hoa, thuê thùa, may vá. Trong lúc cô ấy nấu nướng thì tôi giúp cô ấy cắm nồi cơm điện. Khi hai vợ chồng đi siêu thị thì tôi chỉ có nhiệm vụ đẩy xe hay xách giỏ hàng. 

Tôi chọn cách chia sẻ với vợ bằng cách giúp cô ấy những thứ lặt vặt và trò chuyện. Và mỗi khi tôi rửa bát thì cô ấy lại giành lấy cho mình. Trước khi lấy vợ tôi vẫn tự tay làm tất cả những việc ấy. Mỗi khi vợ đi vắng hay đau ốm tôi vẫn làm tốt những công việc nhà một cách bình thường. Nhưng đa số cánh đàn ông chúng tôi bắt đầu đổ đốn ra như thế từ khi lấy vợ. Bụng to ra, lười đi. Có lẽ chồng biến thành lợn là do phụ nữ trong gia đình đa số đều mong muốn khi thế. Hẳn cô sẽ cho là ngụy biện. Có thể cô đúng.

Tâm thư của một “con lợn” gửi nhà văn Trang Hạ 3

Bởi suy cho cùng có thể cô cũng tặc lưỡi: “Xin lỗi, cũng chỉ là con lợn”
Tôi biết vợ vui khi tôi đổi xe cho vợ từ Attila sang LX, khi tôi thay máy giặt cũ sang máy giặt có chức năng sấy. Cô ấy hãnh diện khi tôi có thể kiếm đủ tiền để đóng học phí cho con học trường chuẩn quốc tế. Cũng đôi lần chúng tôi nghĩ đến phương án thuê người giúp việc nhưng thời buổi này tìm người giúp việc như ý mình quá khó. Vả lại làm thế tôi sợ cô lại ví von vợ tôi là… lợn nái thì oan cho cô ấy quá. 

Một mình tôi làm lợn là quá đủ rồi cô nhỉ. Vợ tôi bảo cô ấy vui nhất là khi cô ấy nấu nướng xong thì cả nhà ăn bằng hết và khen ngon. Có thể cô nghĩ gia đình tôi lạc hậu, nhưng chúng tôi đang cảm thấy phù hợp và tạm hài lòng với những gì đang diễn ra.

Thưa cô Trang Hạ, một vài lời mạo muội gửi đến cô mong cô thông cảm cho tôi. Bởi suy cho cùng có thể cô cũng tặc lưỡi: “Xin lỗi, cũng chỉ là con lợn”. Nhưng ngay cả khi là con lợn tôi cũng không có diễm phúc và không bao giờ chấp nhận làm con lợn của cô.

Chúc cô bình an và nhiều niềm vui trong cuộc sống!

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Cụ này viết bạo quá. Nhà em chẳng dám đâu:



Trong lúc đi bộ thể dục trong Công viên Võ Thị Sáu gần nhà, tôi luôn bắt gặp những cuộc trò chuyện hấp dẫn của mấy ông già. Và khi thấy đề tài được đề cập có vẻ lý thú, sẵn máy ghi âm, tôi bấm ghi luôn. Về nhà nghe lại và nếu thấy hay thì lưu lại, thậm chí có thể công bố cho bè bạn cùng nghe. Tôi gọi đấy là những cuộc “nghe lỏm”. Sau đây là một trong những cuộc “nghe lỏm” ấy mà tôi “lén” ghi lại được gần đây.
NGHE LÉN ĐƯỢC TRONG CÔNG VIÊN
Số 1
- Chào Cụ ! Hình như Cụ vừa có gì vui ?
- Có đấy. Chúng ta sắp “thoát” rồi !
- Thoát gì ? Thoát “Trung” ý à ? Còn lâu !
- Không phải thoát Trung mà là thoát Mác ! Cái quan trọng là “Mác-Lê” chứ không phải “Trung”. Bởi cái thỏa thuận Thành Đô họ giấu như mèo giấu cứt, có công bố gì đâu nên tôi mù tịt, mà hình như Cụ cũng mù tịt, đúng không ? Cho nên nói “thoát Trung” là rất mơ hồ. Vả lại tương lai của Trung Quốc ra sao, mỗi người nhận định một cách, kể cả nhiều nhà bình luận nổi tiếng thế giới cũng mỗi người một ý. Người thì bảo sắp sụp đổ, người thì bảo sẽ đứng đầu thế giới, thay Mỹ. Tôi đọc mà cứ thấy đầu óc rối tung cả lên. Vả như tôi vừa nói đấy. Tai họa của dân ta hôm nay chủ yếu là do cái “đạo” Mác – Lê chết tiệt kia. Cái đạo tàn hại bao nhiêu nước. Thằng cha Allende chỉ do nghe Đảng Mác – Lê xui dại mà đất nước Chi Lê tan hoang, dân không có gì cho vào nồi, các bà các chị phải kéo nhau đi biểu tình “xoong nồi”, gõ xoong gõ nồi ầm ĩ trên các đường phố phản đối. Nhân đây cũng xin kể với Cụ một kỷ niệm riêng. Hồi trước tôi có dịch một cuốn tên là NGƯỢC DÒNG của một nhà văn Chi Lê lưu vong viết ra sau vụ đảo chính quân sự…
- Cái vụ khiến Tổng thống Allende phải tự sát, đúng không ?
- Đúng thế. Tac giả cuốn NGƯỢC DÒNG ấy, sau mấy năm sống lưu vong đã suy ngẫm về nguyên nhân tình trạng rối ren của đất nước, và viết ra. Tôi nhớ sau khi xuất bản, nhà văn Nguyễn Khải, lúc ấy còn sống và là một trong số bạn tôi, gặp tôi giữa đường đã bắt tay tôi, nói : “Cuốn ông vừa dịch quá hay. Không phải mình khen ông dịch đâu mà khen ông chọn sách rất chính xác, rất đúng lúc…” Tai họa của đất nước Chi Lê chính là do lão Tổng thống Allende, vốn nhân hậu nhưng chất phác bị mấy thằng cha Mác-xít ở đấy xui dại, chủ trương đưa đất nước lên cái CHỦ NGHĨA XÃ HỘI “viển vông”, đang giầu đẹp như thế thành nghèo đói, thảm hại… Sau đấy Khải có gửi tặng tôi số báo VĂN NGHỆ đăng bài điểm cuốn sách ấy của anh, nội dung là đánh giá cao tác phẩm ấy của nhà văn Chi Lê lưu vong kia.
- Và đánh giá cao Cụ ?
- Đúng, nhưng không phải khen tôi dịch mà là khen tôi chọn sách chính xác. May mà lúc ấy tôi đã lờ mờ hiểu ra, sau khi chứng kiến xã hội Liên Xô bị thằng cha Brejnev và Đảng Cộng Sản của hắn đưa xuống vực thẳm như thế nào. Tôi kể Cụ nghe nhé. Hồi ấy hầu như năm nào tôi cũng được sang Moskva dự một hội nghị nào đấy, và thấy rõ Liên Xô cứ mỗi năm một nghèo đi trông thấy. Rõ nhất là Cửa hàng Bách hóa Tổng hợp G.U.M. bên cạnh Quảng trường Đỏ, từ chỗ đầy ắp hàng hóa vào thời kỳ gọi là “băng tan” đầu thập niên 1960, cừ mỗi năm một vơi dần và cái lần cuối cùng tôi sang Liên Xô năm 1960 ấy…
- Năm sau thì sụp đổ thì phải ?
- Đúng thế. Mùa Đông năm ấy, tôi đã nghỉ hưu rồi, nhưng ông Vũ Tú Nam, Tổng Thư ký Hội vẫn đề nghị tôi dẫn đầu Đoàn Đại biểu Hội Nhà Văn ta sang đấy “thăm hữu nghị” theo thỏa thuận giữa hai Hội của ta và của Liên Xô, cái thỏa thuận đã ký kết từ nhiều năm trước. Sang đến nơi, tôi thấy các tủ bầy hàng ở G.U.M xơ xác, lèo tèo toàn những thứ bầy làm mẫu không bán, mà có bán cũng chẳng ai mua vì chất lượng quá kém… Tôi đi đi lại lại mấy vòng, không biết nên mua thứ gì về làm quà cho vợ con ở nhà, đành chọn một pho tượng người cá bằng đất nung lòe loẹt và thô kệch, xem nhãn thì thấy đề của một tổ nghệ nhân thủ công nào đấy, ở tận Si-bia làm…
- Chà ! Nghe Cụ nói tôi cũng lờ mờ nhận ra. Nhưng thôi, sao Cụ dám bảo đất nước chúng ta sắp “thoát Mác-Lê” ?
- Có một loạt biểu hiện. Lúc nào rảnh tôi sẽ kê ra cho Cụ nghe. Vả lại cũng phải chờ thêm ít lâu nữa. Nhưng một điều hẳn Cụ đã bắt đầu thấy là các Doanh nghiệp Nhà Nước đang “teo” đi rất nhanh. Mà chúng teo là phúc cho dân. Hôm qua đọc báo thấy Phạm Nhật Vượng đề nghị mua 80 phần trăm cổ phần của cả Cảng Hải Phòng lẫn Cảng Sài Gòn. Mà mấy cái Doanh nghiệp Nhà nước ấy trong tay toàn những đứa vừa ngu vừa dốt, lại vừa tham. Chúng lấy tiền của Nhà Nước vô tội vạ rồi chia chát nhau… một cách “hợp pháp”… Mà tiền Nhà nước là tiền dân đóng thuế, đúng không Cụ ?
- Nhưng tôi thấy khó đấy. Hôm nọ có ông bảo tôi, nói gì thì nói chứ Đảng vẫn cứ đang mạnh lên… Mà không khéo xảy ra nội chiến thì khốn nạn…
- Tôi nghĩ đám nghĩ mới này đủ thông minh để không “thoát” công khai mà từ từ, lúc đầu thoát cái lõi đã, dần dần sẽ thoát cái vỏ. Danh nghĩa vẫn là Đảng Cộng Sản nhưng ruột thì không còn cộng với sản gì hết. Giống như Đảng Cộng Sản Pháp bỏ hình búa liềm ấy. Vẫn là đại hội Đảng Cộng sản nhưng không có búa cũng không có liềm… Nhưng thôi, trao đổi sơ sơ thế thôi. Cụ với tôi ra đây để vận động thân thể, đâu để bàn chuyện đâu đâu. Đúng không Cụ ? Cụ đi bộ được vòng nào chưa ? Đi nhiều rồi thì ngồi mà nghỉ, tôi chưa đi được mấy, xin phép đi tiếp… kẻo cũng muộn rồi…
*
Câu chuyện tôi lén ghi được hôm qua, về mở máy nghe lại, thấy lý thú, bèn đưa lên facebook để các bạn tôi cùng đọc chơi. Vì nếu đúng như thế, tức là nước ta sắp “thoát Mác-Lê” được thì đám “gần kề miệng lỗ” chúng tôi cũng đỡ phải lo cho tương lại của đám cháu chắt, chứ hôm nay thấy cái tương lai của chúng nó mù mịt quá, phải không, các bạn thân mến của tôi chắc hiểu tâm trạng của đám “khọm” này chứ ?

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Có ai biết "Ong Bắp cày" là anh nìu hông? Loạn xà bần, Đông La được xưng tụng khi đả GS Chu và Võ nhà văn!


ÔNG GS CHU HẢO VỚI LÝ LUẬN VỀ "THOÁT TRUNG"


Ong Bắp Cày

Chào các bạn, 

Chúng ta lại quay lại với chủ đề "Thoát Trung về văn hóa" được tổ chức tại hội trường tầng 4 tòa nhà Liên hiệp các Hội KHKT Việt Nam có địa chỉ 53 Nguyễn Du, Hà Nội.

Không bàn đền việc các "nhân sĩ trí thức" vào bậc "ưu tú nhất quả đất" đã chuyển chủ đề "Thoát Trung về văn hóa" thành "Thoát Trung về chính trị" để tấn công vào hệ thống chính trị nước nhà, ngay tại trụ sở của cơ quan trực thuộc UB Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Bỏ qua, lối nói "theo đóm ăn tàn" của nhà văn Thùy Linh khi chị này nâng bi Thực dân Pháp, và biến kẻ xâm lược thành nhà hảo tâm đối với xứ Việt.

Cũng không nhắc đến kẻ "ăn cháo đá bát" Nguyễn Ngọc Lanh với kết luận vô văn hóa rằng, "văn hóa ăn quả nhớ kẻ trồng cây", truyền thống "đền ơn đáp nghĩa là nguyên nhân cản trở tất cả sự phát triển của Việt Nam".

Tôi cũng không chấp với Nguyễn Quang A, khi ông này cho rằng: "Chúng ta không thể thoát Trung vì chùa Bái Đính được gọi là chùa Tàu vì tiền của Tàu bỏ ra". Vì thực tế chả có gì chứng minh "Chùa Bái Đính là chùa Tàu, do Tàu bỏ tiền ra xây". Phát biểu như thế quả là liều và nực cười, nhất là với một ông Tiến sĩ.

Tôi quan tâm đến lời phát biểu của 2 ông: 

- Ông Đình Thiết nói: "đề nghị lột cái mũ bình thiên của Lý Thái Tổ ở bờ Hồ đi, vì mũ ấy là mũ của Tàu".

- Ông GS Chu Hảo đánh giá: "tượng Lý Thái Tổ ở bờ Hồ có “mặt như ông cố đạo Pháp, mà cái mũ lại mũ của Tàu"

Thực tế khi dựng tượng, những người có trách nhiệm đã phải tổ chức hội thảo khá nhiều lần. Để có thể phán ánh được chân dung và dáng vóc, và thần thái của Lý Thái Tổ, các nhà khoa học đã phải dựa vào các cơ sở khoa học. Vắn tắt, đó là:

1. Di vật khảo cổ học (quần áo, mũ mão thời lý); 
2. Kỹ thuật dựng hình từ các dỉ chi đào được;
3. Những hiểu biết và kỹ năng "Nhân chủng học";
4. Những hiểu biết về giải phẫu tạo hình;
5. Khu vực mộ táng của Lý Thái Tổ.

Đã có những cuộc Hội thảo khoa học vào năm 2003 với đông đủ các nhà sử học, văn hóa học, các kiến trúc sư, điêu khắc gia, họa sĩ... tham gia nhằm thảo luận về hình tượng vua Lý sẽ được thể hiện như thế nào trước khi xây dựng tượng đài.

Theo Đại Việt sử ký toàn thư, Lý Công uẩn sinh năm 974. Năm 35 tuổi Lý Công Uẩn dựng nên triều Lý (1009). Quyết định dời đô ra Thăng Long khi 36 tuổi và mất ở tuổi 55 (1028). Hình ảnh các vị vua chúa, tướng lĩnh, danh nhân của nhiều thế kỷ trước, hầu hết đều không có hình vẽ hoặc tượng để lại, cũng không được mô tả kỹ lưỡng ngoài những dòng ca ngợi ngắn và cũng mang tính ước lệ, tượng trưng do tình cảm tôn vinh của người chép sử hoặc nhân dân truyền tụng lại. Chẳng hạn khi viết về Thân vệ Lý Công Uẩn thì chỉ là "người khoan thứ, nhân từ", "thông minh, tuấn tú khác thường" sẽ "là bậc minh chủ trong thiên hạ" v.v...

Những thông tin đó không đủ là chất liệu cho các nghệ sĩ tạo hình. Họ phải làm theo phương pháp giả định tùy theo kiến thức lịch sử, tình cảm, sự tưởng tượng, sự sáng tạo cao hay thấp của mỗi người nghệ sĩ.

Trang phục của vua Lý cũng không có một tư liệu nào để khai thác. Còn suy đoán lịch sử theo lô-gic thì trang phục triều đình Lý mới lập nghiệp sẽ chưa thể đưa ra một kiểu mẫu nào mới khác với triều Đinh, Lê trước đó, mà các thời này lại ăn mặc theo trang phục Tống triều. Điều này lại trông chờ ở các nhà sử học, trang phục học hoặc các nhà điêu khắc tưởng tượng và giải quyết sao cho mọi người có thể chấp nhận được.

Các nhà nghiên cứu Vũ Khiêu, Nguyễn Vinh Phúc, Trần Lâm Biền, Lê Văn Lan, Nguyễn Văn Huy, Phan Khanh, Đặng Văn Bài, Trần Đức Cường... kiến trúc sư Nguyễn Trực Luyện, họa sĩ Trịnh Quang Vũ (người nghiên cứu và có nhiều tư liệu cổ về trang phục) và một số học giả khác đã có những ý kiến góp phần làm “sáng” các vấn đề đang trong tình trạng “mờ” này.

Sau một thời gian, Ban tổ chức đã nhận được 28 mẫu tượng cùng các sa bàn, bản vẽ phối cảnh. Hội đồng nghệ thuật (HĐNT) đã tiến hành nhiều cuộc thảo luận, nhiều vòng bỏ phiếu kín để chọn ra ba mẫu hội đủ các tiêu chí đề ra. Đó là mẫu phác thảo của các nhà điêu khắc Lê Đình Bảo, Vi Thị Hoa và Lê Đình Quỳ.

Cả ba mẫu đã được HĐNT tiến cử đến các cấp lãnh đạo thành phố xem xét và quyết định lựa chọn. Đây cũng là việc làm được quy định của một Hội đồng tư vấn. Và cuối cùng NĐK Vi Thị Hoa đã chiến thắng.

Nói như thế để thấy, việc lựa chọn hình tượng vua Lý Thái Tổ cùng với trang phục của người là việc làm rất công phu. Tuy nhiên, khó có thể làm rõ được chiếc mũ của nhà vua đội có thực sự phù hợp hay không.

Tôi nghĩ, việc một triều đại nào đó học tập trang phục của người Trung Quốc cũng là điều dễ hiểu, và thực tế các triều đại trước cũng đã làm như vậy.

Trong đời sống xã hội hiện đại, người dân, thậm chí cả quân đội, cảnh sát thiết kế trang phục dựa trên cơ sở tham khảo trang phục của nước khác thì cũng không có nghĩa là lệ thuộc hay phụ thuộc vào họ.

Hãy thử hỏi chiếc mũ cử nhân của sinh viên, mũ Kê-pi của Quân đội, của cảnh sát, của Hải quân không chỉ ở Việt Nam, mà còn ở nhiều nước trên thế giới đang sử dụng có nguồn gốc từ đâu, và việc chúng ta sử dụng những chiếc mũ ấy, liệu có phải là lệ thuộc vào họ?

Chiếc áo trắng cộc tay mà ông Chu Hảo đang mặc kia có nguồn gốc Âu châu liệu có phản ánh việc ông Chu Hảo lệ thuộc văn hóa vào nơi xuất phát?

Mái tóc, đôi giầy kiểu châu Âu mà ông Chu Hảo đang sử dụng có cần phải vứt đi và thay vào đó là mái tóc dài búi tóc, chân đất, xăm mình để giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc?

Câu trả lời khá đơn giản, bởi "chiếc áo không làm nên thầy tu".

Vậy "Hội thảo Thoát Trung về văn hóa" thực chất là gì, chắc các bạn đã hiểu.

Đáng buồn hơn cả, một giáo sư như ông Chu Hảo lại có tầm nghĩ "Thoát Trung về văn hóa" lại chỉ là...bỏ chiếc mũ Bình thiên của vua Lý Thái Tổ. Hóa ra ông là loại hồ đồ chuyên ăn theo nói leo đám rận sĩ ăn tàn phá hại.

Xin mách cho ông Chu Hảo một video do người Pháp thực hiện: Video lễ lên ngôi Hoàng thái tử cuối cùng của Việt Nam (Tôi thấy đăng trên trang Người Đồng Bằng của nhà báo Anh Kiệt). Video này sẽ khai sáng cho ông về chiếc mũ Bình thiên cũng như trang phục cung đình xưa của người Việt: 

https://www.youtube.com/watch?v=BHRUvRWIg-U


Quả là không sai khi nhà văn Đông La gọi ông Chu Hảo và Võ Thị Hảo là đám "Bất Hảo".
-----------
Ảnh trên: GS Chu Hảo và nhà thơ Hoàng Hưng - Ảnh: Phạm Xuân Nguyên
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Mỹ lần đầu tiên triển khai tàu tuần duyên tới Đông Bắc Á


Thiếu tướng Hải quân Mỹ cho biết nước này sẽ lần đầu tiên triển khai một tàu tuần duyên tới khu vực Đông Bắc Á kể từ khi Washington bắt đầu điều các tàu LCS tới châu Á năm 2013.
Mỹ lần đầu tiên triển khai tàu tuần duyên tới Đông Bắc Á
Tàu tuần duyên USS Fort Worth của Mỹ.
Ngày 17/2, Thiếu tướng Hải quân Mỹ Charles Williams cho biết, tàu tuần duyên USS Fort Worth sẽ rời Singapore trong tuần này để tới Đông Bắc Á tham gia một cuộc tập trận với Hàn Quốc vào cuối năm nay và thăm Nhật Bản. 
 
USS Fort Worth là tàu LCS thứ 2 mà Hải quân Mỹ triển khai tới Singapore. USS Fort Worth nhận nhiệm vụ của Hạm đội 7 và tới Singapore hồi cuối năm 2014 để thực hiện nhiệm vụ kéo dài 16 tháng, thay cho USS Freedom, tàu LCS đầu tiên tới Singapore.  Không giống như USS Freedom chủ yếu hoạt động ở khu vực Đông Nam Á trong nhiệm vụ kéo dài 10 tháng hồi năm 2013, USS Fort Worth sẽ thực hiện nhiệm vụ luân phiên kéo dài 16 tháng và sẽ hoạt động cả ở khu vực Đông Bắc Á. Ngoài ra, Tướng Williams cũng cho biết sẽ có 4 tàu LCS của Mỹ hoạt động ở Singapore trước cuối năm 2018, tăng 1 tàu so với hiện tại. Việc "luân phiên triển khai" LCS diễn tra trong bối cảnh Trung Quốc tiếp tục phô diễn sức mạnh tại Biển Hoa Nam (Biển Đông) và căng thẳng vẫn tiếp diễn tại bán đảo Triều Tiên.
Phần nhận xét hiển thị trên trang

CÁI SỰ VĨ ĐẠI, LẮM NỖI ...


Khải Nguyên



Không rỗi nhưng cũng ngồi đọc hết cuốn “Bác sĩ riêng của Mao” của Lí Chí Thỏa, bản dịch tiếng Việt. Ông bác sĩ họ Lí là thầy thuốc riêng của Mao Trạch Đông từ năm 1954 cho đến khi ông này chết vào năm 1976, cũng là người trông coi việc ướp xác Mao và chứng kiến việc nặn giả hình Mao. Nhiều lúc ông Lí còn gần gũi Mao, cả theo nghĩa bóng, hơn những cận vệ và thuộc hạ trực tiếp. Chẳng hạn, Mao đã cho Lí biết chủ trương “trăm hoa đua nở, trăm nhà đua nói” (cho giới trí thức, văn nghệ sĩ) chỉ là cái bẫy, là “mồi nhử rắn rết ra khỏi hang” và “thả cho cỏ dại mọc lên” để tận diệt. Cuốn sách của Lí làm hiện rõ chân dung Mao với đặc trưng là “sự tàn nhẫn, vô cảm, xảo trá, tham nhũng, không dung nạp bất đồng chính kiến, không muốn thừa nhận thất bại, không quan tâm đến vệ sinh cá nhân, nghiện thuốc an thần Barbiturate, và say mê nhân tình trẻ" (Wikipedia). Cuốn sách cũng cung cấp các chi tiết quan trọng mà trước đó chưa từng được biết về nhiều đồng chí, đồng nghiệp của Mao tại Trung Nam Hải và các sự kiện quan trọng xảy ra trong thời gian Mao cai trị Cộng hòa nhân dân Trung Hoa.


Có thời kì tôi trọng Mao Trạch Đông và thích thú theo rõi những bài bình luận “chống bọn xét lại Khơ-rút-sốp” trên đài phát thanh Bắc kinh, buổi phát thanh tiếng Việt, năm 1964. Nhưng từ cuối 1966, trong khi thường thường người ta vẫn gọi “Mao chủ tịch”, thậm chí “bác Mao” (vốn là hệ quả của “tuyên truyền”, “giáo dục”), tôi chỉ gọi “Mao”, dẫu gặp “phiền” không ít mỗi lần “học tập chính trị”. Cũng như khi người ta gọi “nước Trung Quốc anh em”, tôi chỉ gọi “nước Tàu” như trước Cách mạng ở ta vẫn gọi không ngụ ý gì khinh miệt hoặc tôn sùng (Còn nhớ quãng năm 1950 trong kháng chiến chống Pháp, một y sĩ khi mổ cho thương binh bực mình vì “con dao Tàu này tồi quá” đã bị tước bằng chuyên môn!).

Dù rằng sau khi Mao mất, người ta đã tiết lộ nhiều những chuyện “thâm cung bí sử”, -khá kĩ là cuốn “Mao Trạch Đông, ngàn năm công tội” của Tân Tử Lăng (cựu giảng viên học viện quân sự của Trung cộng), tác phẩm của Lí Chí Thỏa vẫn làm “giật mình”.

Khỏi nói những chuyện riêng tư đã rất động trời như: Mao không tắm bao giờ tuy thích bơi lội (hàng ngày có người dùng khăn ướt lau người cho), nhai lá chè thay cho đánh răng, ngủ với không biết bao nhiêu phụ nữ chưa chồng hoặc có chồng (có thể “xài” hai người một đêm, có lúc “rỡn” với năm cô trên chiếc giường riêng rộng quá khổ!), thản nhiên phung phí của công để tôn uy quyền tối cao của mình như cho xây biệt điện hành cung ở các địa phương, cần nhiều người chăm sóc và bảo vệ thường trực, mà họa hoằn lắm mới đến ngự vài ngày, … Cũng khỏi nói những hậu quả bi thảm: gần 40 triệu người dân chết đói trong phong trào “Đại nhảy vọt” cuối những năm 50 thế kỉ trước; nhiều triệu người chết trong “Đại cách mạng văn hóa vô sản” (theo cuốn “Mao Trạch Đông, ngàn năm công tội” thì khoảng 20 triệu); số thương vong khó kể xiết trong những đợt đấu tố từ những năm 1940 trở đi như “chỉnh phong”, “tam phản, ngũ phản”, “cải cách điền địa”, … Chỉ nói cái uy, cái quyền của “bậc chí tôn” với bốn “vĩ đại” (lãnh tụ vĩ đại, thống soái vĩ đại, người cầm lái vĩ đại, ông thầy vĩ đại) đẻ ra cái tư tưởng “vĩ đại”, xứng đáng là “Lênin thời nay”, -ngôn từ một thời huyễn hoặc và khống chế toàn nước Trung Hoa và ban bố cho cả và thiên hạ. Nhiều tình tiết trong cuốn sách của bác sĩ Lí minh chứng đầy đủ cho cái uy, cái quyền ấy.

Tất nhiên, sá gì với dân đen vốn chẳng được đếm xỉa đến đã đành; với giới trí thức cũng vậy thôi. Ngay giới lãnh đạo chóp bu, những đồng chí, những bạn chiến đấu của Mao, cũng cúi đầu trước cái uy cái quyền ấy, không loại trừ những người hùng mà oai danh một thời trùm khắp nước và vang xa cả ở nước ngoài. Bành Đức Hoài, nguyên soái tổng tư lệnh quân đội từng chỉ huy quân kháng Mĩ viện Triều, chỉ viết thư riêng trình Mao về nỗi điêu linh của dân quê do quốc sách “Ba ngọn cờ hồng” mà bị đưa ra phê phán, qui kết tội đồ rồi cách tuột mọi chức vụ và đầy đọa cho đến chết. Lưu Thiếu Kì, nhân vật số hai được Mao “dự kiến” cho kế vị ngôi “số một”, đương kim chủ tịch nước, người có công đầu vá víu lại đất nước tan hoang vì đường lối hoang tưởng của Mao, nhưng không nắm được thâm ý của ông ta lại làm cho ông ta nghi ngại tham vọng của mình, nên đã bị đẩy ra cho bọn tiểu tướng lau nhau hồng vệ binh truy bức hành hạ ngay trong phủ chủ tịch nước, giam giữ luôn tại đó, cuối cùng rồi thân tàn ma dại “được” chết tại một xó vô danh như một kẻ ăn mày thảm hại nhất. Đặng Tiểu Bình tuy khôn ngoan hơn, không nói thẳng như Bành, không để hở sườn như Lưu, nhưng vẫn bị đám tiểu tướng đấu tố, và hai lần bị hạ bệ. Đến như Chu Ân Lai, thủ tướng từ ngày thành lập nước CHNDTH cho đến lúc ông ta mất năm 1976, một người khôn khéo, người mà trong lần thăm dò dư luận của một cơ quan truyền hình Bắc kinh năm 1992 được 100% phiếu tín nhiệm, trong khi Mao được chưa đến 2% (theo tờ “Kính báo” Hông Công –Tân Tử Lăng dẫn lại), người khá nổi tiếng cả ở nước ngoài, lại là người phục tùng, nịnh bợ Mao nhất, theo nhận xét của bác sĩ Lí, cho đến đỗi một lần đang họp được tin gì đó từ dinh Mao ông ta bĩnh ra quần phải vội vàng thay nội y mới đến chỗ Mao được (Chỉ trong hồi kí của bs Lí mới có được những tiết lộ loại này. Chả trách Trung cộng “la lối” cuốn sách và xóa tên cùng mọi vết tích của Lí Chí Thỏa khỏi các lưu trữ về Trung Nam Hải thời Mao, phi tang, tạo cớ để phủ nhận những sự thật được phơi bày trong quyển hồi kí của bác sĩ Lí!).

{Không một ai dám làm trái ý Mao. Ngay Đặng Tiểu Bình, người đã dám nói vụng ám chỉ Mao: “Không ỉa ra cứt mà cứ ôm lấy nhà xí chẳng cho ai vào cả”, cũng không dám công khai phản bác. Vậy mà có một người, cô Trương Ngọc Phượng, vừa là y tá hầu cận vừa là người tình của Mao, đã dám chửi ông ta. Lí Chí Thỏa kể đã có lần nghe cô ta cãi nhau với Mao: “chủ tịch chửi mẹ tôi nên tôi chửi lại”. Lần khác, khi Mao dọa sẽ trừng phạt, cô ta nói: “Nếu không làm được, chủ tịch là con chó!” (!) [Rõ là “thần l. ám ảnh cũng mê mẩn đời” chăng?!]}.

Mao đã “ra đi” gần bốn chục năm rồi, chẳng nên nói đến nữa làm chi. “... chết là hết chuyện” nhưng thật ra nào chuyện đã hết! Không chỉ là những “câu hỏi lớn không lời đáp”. Chẳng hạn, làm sao những con người từng vùng lên chống áp bức bóc lột và lôi kéo hàng triệu quần chúng đi theo, những con người từng chiến đấu vào sinh ra tử, những con người từng nuôi “lí tưởng giải phóng nhân loại”(!) lại có thể trở nên bé nhỏ, hèn hạ, thậm chí ti tiện trước một con người vốn từ cùng hàng ngũ mà ra, từng là “đồng chí” của nhau? Phải chăng lí do trên hết là ở Mao tích tụ “chí nhớn” của họ. Nữa, chẳng hạn, từ “cải cách, mở cửa” về sau, “chí nhớn” ấy “di căn cốt lõi” ra sao? ...

Ở Trung Quốc, kết tinh những “chất liệu” làm nên “uy” và “quyền” kia. Truyền thống quân quyền tuyệt đối liên tục hơn hai nghìn năm chìm đắm trong đạo “tôn quân” của “thánh” Khổng chẳng thể dễ gột bỏ sau năm 1911. Mặt khác, chủ nghĩa bành trướng đại Hán cũng trườn mình suốt hơn ba nghìn năm, tuy có lúc phải nép mình trước “ngoại tộc” song rồi thôn tính luôn kẻ đô hộ mình, hình thành nên tinh thần và ý thức “thần dân con trời”. (Hai “chất liệu” này, do điều kiện địa-chính trị, địa-lịch sử, có “duyên nợ” với nhau, cố kết nhau. Chẳng lạ, Trung cộng mang danh CS mà lại cố vực “bóng ma Khổng tử” của thời phong kiến xa xưa đem trưng ra khắp thế giới trong vỏ mĩ miều “viện Khổng tử!). Dân chúng, kể cả tầng lớp “tinh hoa”, nhiễm những truyền thống ấy cần một “đấng chí  tôn” để sùng bái. Đây là “lợi địa” để cho thế lực nào đó đứng lên lập nên chính quyền chuyên chế nhất thống. Mao và những người cộng sản Trung Quốc là một thế lực như thế. Nhưng nếu không dựa vào chủ nghĩa Mác-Lênin làm công cụ mê hoặc và tập hợp quần chúng, không có thời cơ là cuộc xâm lăng của Nhật-bản thất bại trong thế chiến thứ hai, và không có sự ủng hộ và giúp đỡ của Liên-xô (xưa) thì họ chẳng dễ mà đoạt được quyền hành từ tay Tưởng Giới Thạch và Quốc Dân đảng, một thế lực chẳng hề kém cạnh về tham vọng chuyên chế, cái thế lực đã xướng xuất ra cái hình “lưỡi bò” trơ tráo trên biển Đông mà nay Bắc kinh chính thức bám chặt lấy!

Nay hết thời Mao rồi thì Trung Nam Hải “tỉnh giấc mơ” chứ? Đúng là sau cơn bát nháo: sức sản xuất phong kiến + quan hệ sản xuất vừa “nô lệ” vừa “cộng sản nguyên thủy” + thuyết chủ nghĩa xã hội hoang tưởng, họ đã tỉnh ra, nhưng chưa (hoặc không) rứt được thứ (mệnh danh hay bán rao là) “chủ nghĩa xã hội kiểu Trung Quốc”, có nghĩa là đối nội vẫn là chuyên chế toàn trị và đối ngoại vẫn là bành trướng bá quyền đại Hán (duy, chỉ khác là với vế trước thì bớt mê tín ma mị, còn vế sau thì thêm trắng trợn ngang ngược). Thay vì “một thiên tử đỏ” là “một tập (mượn từ của lí thuyết tập hợp) thiên tử đỏ”, chứ chẳng hề là “giai cấp công nhân lãnh đạo xã hội”(!). Thay vì trương khẩu hiệu “chống phục hồi chủ nghĩa tư bản” (tuy thâm tâm Mao vẫn hướng tới Hoa Kì, -ông ta cho Chu Ân Lai chìa tay ra với Mĩ ở hội nghi Genève năm 1954 nhưng không đắt, ông ta học tiếng Anh chứ không học tiếng Nga, ...), thay vì “tiêu diệt” là “phục hồi” tư sản (đỏ) trong cái chế độ không mang danh tư bản chủ nghĩa!

Thế cũng tốt chứ? Chẳng phải nay TQ giàu mạnh nhanh đến chóng mặt sao! Đúng là tiến nhanh thật, như nước Đức thời đảng Quốc xã cầm quyền, như Liên xô xưa thời “vàng son”. Tư sản đỏ TQ thừa hưởng cái “gien” làm ăn của giới tư sản Tàu trước đây [Phải thừa nhận người TQ biết làm ăn. Một quan chức HP hồi còn bao cấp đi tham quan bên Tàu về nói “một người bên họ làm việc bằng hai người mình”(!)]. Lại được chế độ độc tài toàn trị hiện đại hóa “lãnh đạo” học cung cách làm ăn của “tư bản rẫy chết” một cách bài bản và có bản lĩnh. Vậy ra độc tài cũng “hay” đấy nhỉ! Ờ, có thể! Với đối tượng nào đó, trong điều kiện nào đó, vân vân. Tuy nhiên, rồi ra kết cục chẳng thế nào tốt đẹp đâu! Nếu không đi đến làm loạn thế giới do tham vọng bá chủ để rồi bị tiêu diệt như Đức quốc xã thì cũng đi đến suy tàn và sụp đổ do tự làm ruỗng mình với những mâu thuẫn nội tại như Liên-xô xưa. Chẳng chế độ độc tài nào ngự trị được mãi; vấn đề là chóng hay chầy và kết thúc theo cách nào.

Dân tộc Trung Hoa là dân tộc vĩ đại. Song le, ranh giới giữa tinh thần dân tộc và chủ nghĩa dân tộc khá mong manh. Niềm tự hào dân tộc dễ bị kích lên tính tự đại dân tộc. Chẳng lẽ phản ứng của người Nga trước sự kiện bán đảo Crưm sát nhập vào nước Nga vừa đây không nói lên điều gì ư? Uy tín của tổng thống Nga Putin đang dần giảm sút vì sự chuyên chế, bỗng tăng vọt lên 80% theo một kết quả điều tra độc lập. Lí Chí Thỏa từng hãnh diện vì Mao “dám đương đầu với đế quốc Mĩ ở Triều Tiên”. Tân Tử Lăng từng phục Mao đã coi Khơrútsốp chẳng là cái đinh gì (chỉ ngại Stalin thôi). Cả hai người này đều đã vỡ mộng về Mao. Nhưng nếu cái “vĩ đại” của Mao làm tôn sự vĩ đại của đất nước và dân tộc Trung Hoa thì đánh giá của họ có thể khác.

Những người mệnh danh cộng sản kế tục Mao thống trị Trung Quốc vẫn quyết liệt đeo đuổi “giấc mơ Trung Hoa”, giấc mơ về một cuộc “phục hưng vĩ đại” mà hẳn người tiền bối “4 vĩ đại” hằng ôm ấp. Nữa, chẳng phải họ đang từng bước thực hiện giấc mơ mà Mao từng nói ra miệng “đưa 500 triệu dân nghèo Trung Quốc xâm nhập Đông Nam Á” bằng những kế sách thâm hiểm, thời Mao chưa thể nghĩ tới. Bất chấp tất cả, một mặt họ dùng mọi thủ đoạn lừa mị nhân dân thế giới; mặt khác, họ tiếp tục “giáo dục” người dân TQ về chủ nghĩa dân tộc cực đoan.

Với chân dung và “công tích” của Mao Trạch Đông như vậy mà người ta vẫn trưng ảnh ông sừng sững trước lầu Thiên An môn! Nó có còn là biểu tượng tư tưởng Mao Trạch Đông? -nay đã là “bóng ma ý thức hệ” chưa? Dẫu sao, hơn mọi thâm ý khác, đây coi như là một thứ “biểu tượng” bành trướng bá quyền đại Hán (luôn luôn vĩ đại(!)).



31-3-2014
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Cuộc chiến không cân sức của Trung Quốc chống lại giá trị phương Tây


Các chuyên gia nhận định việc chống lại “giá trị phương Tây” có thể làm hỏng việc nhổ tận gốc tham nhũng và thúc đẩy hòa nhập thế giới của Trung Quốc.
Gần đây, hầu hết những tin tức tại Trung Quốc đã gây ra tâm trạng não nề, chủ yếu do sự trấn áp đang gia tăng của chính quyền đối với những người có ý kiến chỉ trích. Nhưng một số ít nhà quan sát, vốn là các chuyên gia phân tích kinh tế đặc biệt, dường như đã nhận ra rằng cuộc chiến mà các lãnh đạo Trung Quốc thực hiện chống lại chủ nghĩa tự do và các “giá trị phương Tây” đang trực tiếp phá hỏng những nỗ lực của chính Trung Quốc trong việc nhổ tận gốc tham nhũng, thúc đẩy năng lực sáng tạo và khởi nghiệp, hòa nhập với thế giới. Kiểu chính trị thoái hóa của chính thể Trung Quốc sẽ gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho công cuộc phát triển kinh tế Trung Quốc.
Với những người mới nhập cuộc, Chính quyền Trung Quốc đã gia tăng sự kiểm duyệt Internet, cản trở và khiến cho các cổng thông tin và trang mạng nổi tiếng – gồm cả Google, Facebook và Thời báo New York – không thể truy cập được.
Hơn nữa, các luật sư bảo vệ quyền con người đã bị tống giam; luật sư nổi tiếng ủng hộ quyền tự do ngôn luận nổi tiếng Pu Zhiqiang đã bị bắt giam hơn 6 tháng nay, trong khi các công tố viên nhà nước cố gắng tạo ra các chứng cớ để chống lại ông.
Cùng với đó, các quan chức cấp cao Trung Quốc đã có những hành động tăng cường kỷ luật chính trị trong nội bộ Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Tháng 6/2014, phát biểu tại Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Trung Quốc (CASS), ông Zhang Yingwei- Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra trung ương của Đảng Cộng sản Trung Quốc (CCP) nói rằng cơ quan này (CASS), vốn là cơ quan tư vấn chính sách uy tín nhất của Chính phủ Trung Quốc – “đã bị các thế lực ngoại quốc xâm nhập” và “đang thông đồng bất hợp pháp vào thời điểm nhạy cảm về chính trị”.
Ông Zhao Shengxuan, Phó Chủ tịch kiêm Phó Bí thư Đảng ủy của CASS cũng nhấn mạnh rằng CASS sẽ “coi kỷ luật chính trị là một tiêu chí quan trọng nhất trong việc đánh giá các nhà khoa học”. Ngay sau đó, Chủ tịch CASS, ông Wang Weiguang cũng “lớn tiếng” trong một bài tham luận rằng đấu tranh giai cấp sẽ không bao giờ bị dập tắt ở Trung Quốc.
Giới hàn lâm Trung Quốc nói rộng ra đã là đối tượng hàng đầu phải xử lý của thể chế chính trị Trung Quốc trong hành trình đi tìm kẻ thù, với trường đại học thì sa thải các giáo sư dám tán thành tư tưởng “nổi loạn” kiểu như chủ nghĩa hợp hiến. Thậm chí, một tờ báo chính thống của tỉnh Liêu Ninh còn cử các phóng viên giả dạng sinh viên trà trộn vào các trường đại học để phát hiện các giáo sư dám chỉ trích chính quyền.
Một tuyên bố gần đây của Bộ trưởng Giáo dục Trung Quốc Yuan Guiren còn đe dọa gây ra những thảm họa ở quy mô lớn hơn nữa. Ông Yuan khẳng định sẽ không bao giờ cho phép những cuốn sách “cổ vũ các giá trị phương Tây” chui vào lớp học – nhất là những cuốn sách “tấn công hay làm xấu hình ảnh về sự lãnh đạo của Đảng hoặc bôi xấu chủ nghĩa xã hội”. Với cương vị của Yuan, cam kết này có thể trở thành một chính sách chính thức. Hy vọng rằng, vì mục đích của chính Trung Quốc, điều này sẽ không xảy ra.
Các trường đại học ở Trung Quốc được yêu cầu hạn chế sử dụng những giáo trình nước ngoài có nội dung “đề cao giá trị phương Tây”
Sự tấn công gần đây chống lại tự do ngôn luận và các giá trị phương Tây phản ánh thách thức chính trị trung tâm đối với Tập Cận Bình, người đang phải loay hoay tìm cách chuyển biến hệ thống chính trị độc đảng đã bị suy nhược trầm trọng vì sự tham lam và sự bất tín tràn lan, trở thành một hệ thống có trật tự, một thể chế nhất quán về tư tưởng có khả năng thúc đẩy cải cách thị trường và duy trì sự tồn tại lâu dài. Đàn áp quyền tự do, dường như ông Tập tin rằng, có thể tiến hành song song với chương trình chống tham nhũng để thúc đẩy mục tiêu lớn hơn.
Cách nhìn này vừa sai lầm về trí tuệ vừa hoàn toàn không khả thi. Dù có cố gắng thế nào, cũng không thể nhổ bỏ tham nhũng trong hệ thống một đảng mà lại không có tự do báo chí, một xã hội dân sự lành mạnh và hệ thống pháp quyền. Tuy vậy, những thứ quan trọng ghê gớm đó lại chính là những “giá trị phương Tây” mà các đảng viên đang cố gắng xóa bỏ!
Trung Quốc sẽ phải trả giá đắt cho sai lầm này. Hãy nhìn vào ảnh hưởng của chương trình sách giáo khoa của ông Yuan áp dụng với 28 triệu sinh viên đại học Trung Quốc, những người vốn chỉ được tiếp cận với các khóa học lạc hậu. Làm sao mà những sinh viên này có thể cạnh tranh được trong bối cảnh toàn cầu, một khi nền giáo dục mà họ được hưởng đã bị phá hỏng theo cách này?
Xu hướng hiện tại dẫn đến những điều kiện ngày càng xuống cấp đối với giảng viên, nhất là trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, khi mà giới khoa học bị hạn chế ngặt nghèo về trao đổi hàn lâm với phương Tây.
Với cơ hội ngày càng hiếm hoi hơn đi tham dự các hội nghị quốc tế, công bố nghiên cứu trên các tạp chí học thuật phương Tây, hoặc thời gian thỉnh giảng, nghiên cứu bên ngoài Trung Quốc, con đường và bản lĩnh nghề nghiệp của các giảng viên bị què cụt thảm hại.
Kết quả là, việc chính quyền đàn áp các “giá trị phương Tây” – đó là chưa kể đến cuộc chiến tàn khốc chống Internet – sẽ tạo ra khả năng lớn làm nảy sinh một đợt tháo chạy khỏi tổ quốc của những con người thông minh và tài năng nhất.
Riêng trong năm 2013, một số lượng sinh viên Trung Quốc chưa từng thấy (lên tới 413.900 người) đã sang nước ngoài học, và con số này còn lớn hơn nữa trong năm 2014. Trong số đó, 90% lựa chọn học tập ở các nước phương Tây (trong đó có cả Nhật Bản).
Rõ ràng, chỉ có một tỷ lệ nhỏ sinh viên đại học ở Trung Quốc có thể học ở nước ngoài. Trên thực tế, năm 2013, số sinh viên Trung Quốc ra nước ngoài học chỉ bằng 6% tổng số sinh viên học đại học ở Trung Quốc.
Thế nhưng, giới tinh hoa lãnh đạo Trung Quốc lại đang dẫn đầu chính công cuộc tháo chạy ấy, thông qua việc gửi tất cả con cháu sang những trường phương Tây danh tiếng nhất trong nhóm “the Ivy League” hay “Oxbridge”.
Một băn khoăn là liệu các lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc có lo lắng về việc hậu duệ của họ bị tẩy não bởi các giá trị phương Tây? Họ vô cùng đắn đo và không muốn gửi con cháu mình vào các trường đại học nội địa.
Và, nếu Yuan làm theo cách của ông ta, các trường đại học của Trung Quốc sẽ ngày càng trở nên tương đồng với các trường của Triều Tiên, và tuyệt nhiên càng không thể so sánh với các trung tâm đào tạo đẳng cấp quốc tế của phương Tây. Điều này sẽ tạo ra hậu quả có ảnh hưởng sâu rộng và đồng thời mang tính tàn phá.
Hàng chục triệu sinh viên chỉ được học ở trong nước và không có cơ hội tiếp cận tri thức cũng như các kỹ năng cấp bách để duy trì, chứ chưa nói đến cải thiện, sức cạnh tranh của nền kinh tế trên toàn cầu. Trên thực tế, vì năng lực đổi mới quá cấp thiết với sự phát triển tiếp theo của kinh tế Trung Quốc-một điểm mà chính họ Tập đã nhấn mạnh nhiều lần-một cuộc chiến chống lại ảnh hưởng phương Tây trong giáo dục Trung Quốc ngay lập tức đã trở thành điều thật vô lý.
Trừ phi cuộc trấn áp của Chính quyền Trung Quốc kết thúc sớm, không thì “giấc mộng Trung Hoa” của họ Tập về sự vĩ đại quốc gia và thịnh vượng vô bờ bến sẽ biến thành một cơn ác mộng của sự gia tăng suy thoái và lạc hậu.
Theo cách này hay cách khác, cuộc chiến chống các giá trị phương Tây là cuộc chiến mà Trung Quốc chỉ có thể thua.
Theo tintuc
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chưa hẳn đã là như vậy.. Nhưng nghỉ viết cũng là tốt với nhà văn cao niên.

NHÀ VĂN NGUYỄN XUÂN KHÁNH: TÔI SẼ NGỪNG VIẾT VĂN

Trần Hoàng Thiên Kim

Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh và vợ của ông
NVTPHCM- Với nhà văn Nguyễn Xuân Khánh, văn chương là một cuộc trải nghiệm những ý tưởng đã được ngấm và lọc qua năm tháng cuộc đời mình. Ông tuyên bố sẽ ngừng viết ở tuổi 83, bởi vì ý tưởng đã cạn, những liên tưởng đã không còn bay cao, bay xa…
Những ngày cuối năm, căn nhà ông ở trong con ngõ tấp nập người qua lại bán mua. Căn nhà ngày xưa đóng cửa làm phòng văn, nay được cô con dâu út kinh doanh hàng tạp hóa để kiếm thêm thu nhập, cũng là để cho bà Khánh có chỗ xum tụ bạn bè. Hàng xóm đến mua, có khi không mang tiền, mua chịu rồi khi khác trả. Bà Khánh thì tươi cười đon đả, nhanh nhẹn tháo vát, dù đã ở tuổi 75.
Người đàn bà chịu thương, chịu khó, bao nhiêu năm trời cùng đứng mũi chịu sào với nhà văn Nguyễn Xuân Khánh, cùng ông vượt qua những năm tháng lận đận với 4 người con trai kiếm từng bữa ăn gian khổ.
Bây giờ ngồi nhắc lại, ông bà vẫn xuýt xoa, rồi cười trong niềm sung sướng vì đã vượt qua được những chặng đường ấy một cách ngoạn mục, để giờ đây, sau nhiều thăng trầm, nhiều trải nghiệm, nhà văn Nguyễn Xuân Khánh trở thành một tên tuổi trong văn chương Việt Nam, ông để lại những đỉnh cao văn học không dễ gì vượt qua được như:Hồ Quý Ly, Mẫu Thượng Ngàn, Đội gạo lên chùa
Nếu nói rằng, mỗi người đều có một con đường đi do số phận sắp đặt, thì con đường trở thành nhà văn của Nguyễn Xuân Khánh đúng là một sự run rủi của số phận.
Đang học trường Y, ông xin đi bộ đội và bắt đầu những trang tiểu thuyết đầu tiên của mình năm 1959. Đó là một tiểu thuyết viết về làng quê, được Nhà xuất bản Quân đội nhân dân nhận in, nhưng lần lữa mãi, sửa chữa mãi, cuối cùng ông không chỉnh sửa kịp và bỏ dở cuốn tiểu thuyết đầu tay ấy. Ông cất vào một góc của ngăn kéo… và lăn lộn với chặng đường mưu sinh vất vả khó khăn gian khổ của cuộc sống, làm đủ nghề từ công nhân, nuôi lợn, làm thợ may… để nuôi các con ăn học nên người.
Cho đến một ngày, ký ức về làng, giấc mộng về làng đã thôi thúc trong ông, ông viết như lên đồng về văn hóa, bản sắc của làng quê Việt, cái làng của ông, cái làng của tôi, của bạn, cái làng có trong thôn quê Việt Nam với những tín ngưỡng văn hóa muôn đời đã hiện lên trên trang viết của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh như thôi miên bạn đọc…
Ông, bằng tất cả vốn tự học, tự đọc, tự nghiên cứu của mình, đã khẳng định: Văn hóa người Việt đứng vững bởi những nền tảng của văn hóa làng; đạo Nho, đạo Khổng và đạo Phật. Tín ngưỡng đạo Mẫu là riêng của Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam. Tín ngưỡng dân gian có những nét đẹp trường tồn qua không gian, thời gian. Đó là sức sống phồn thực, tính sinh sôi nảy nở của làng Việt Nam.
“Chúng ta đang ở một thế giới hiện đại, chúng ta đang mất đi những nét đẹp, thông thường chúng ta muốn chiếm đoạt. Tôi muốn nói con người nên quay lại, tôi không kêu gọi người ta đi theo Phật giáo, đi tu ở chùa mà cần có lối sống Phật giáo, phải làm hằng ngày, xây dựng văn hóa cho con người, “từ bi hỉ xả”. Tôi muốn người đọc tự nhận ra, không thuyết giảng. Bất cứ người Việt Nam nào, dù không tôn giáo cũng đều mang chút tính cách, tâm hồn của đạo Phật. Với người Việt, Phật giáo là một lối sống. Với văn chương, quan trọng nhất là những ý tưởng thể hiện, và những ý tưởng của tôi luôn có khuynh hướng đi về văn hóa. Văn hóa trong tiểu thuyết có thể là tập tục, nếp sống làng quê. Nếu không có nền tảng văn hóa thì tiểu thuyết không đứng vững được”.
Đã có biết bao nhiêu lời nhận xét, bao nhiêu hội thảo, luận văn, luận án về tác phẩm của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh. Nhiều người cho rằng, ông là số ít các nhà nhà văn Việt Nam đáng đọc nhất hiện nay bởi sức nghĩ và vốn sống dày dặn của ông đã viết nên những cuốn tiểu thuyết sống cùng lịch sử văn hóa dân tộc. Điều đáng nói là văn của ông mang tính lịch sử, nhưng lại có dáng dấp hiện đại, nó là một sự giao thoa văn hóa, lịch sử – văn hóa – phong tục cổ kim đan quyện vào nhau, bởi vậy mà tác phẩm của ông đã làm xiêu lòng nhiều độc giả trẻ.
Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh luôn khẳng định rằng, ngoài những duyên may, thì ông là một người không ngừng nghỉ tự học, tự đọc. Để viết được một cuốn tiểu thuyết, ông đã phải đọc rất nhiều cuốn sách về phong tục tập quán, về văn hóa, về phân tâm học, văn học cổ kim trong ngoài nước.
Cũng chính bằng phương pháp tự học, mà ông đã trở thành một dịch giả với những cuốn sách như Những quả vàng (tiểu thuyết của Nathalie Sarraute, NXB Phụ nữ, Hà Nội, 1996), Chuông nguyện cầu cho kẻ đã khuất (tiểu thuyết của Taha Ben Jelloun, Trung tâm Văn hoá – Văn minh Pháp và NXB Phụ nữ, Hà Nội, 1998), Bảy ngày trên khinh khí cầu (Jules Verne, NXB Kim Đồng, Hà Nội, 1998), Hoàng hậu Sicile (tiểu thuyết của Pamela Schoenewaldt, NXB Kim Đồng, Hà Nội, 1999),Tâm lý học đám đông (tiểu luận của Gustave le Bon, NXB Tri thức, Hà Nội, 2006) hay cuốn Sự hình thành biểu tượng ở trẻ nhỏ của tác giả Jean Piaget (Jean Piaget là một nhà tâm lý học và triết học người Thụy Sĩ, nổi tiếng về những nghiên cứu nhận thức luận với trẻ em).
Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh đã chia sẻ: “Khi đọc Piaget, tôi mới hiểu ra một điều rất cơ bản: Con người trong quá trình khám phá thế giới, đã tự mình tạo nên kiến thức, tự mình tạo nên thế giới của mình. Còn giáo dục chỉ là sự giúp đỡ để con người có thể tự học, để con người tự khai sáng cho mình. Những bạn trẻ ngày nay, muốn tiến xa, muốn có năng lực làm việc thì cũng phải thường xuyên tự học. Có tự học thì cái học mới sâu sắc. Thấy cần gì nhất thì học cái ấy. Tìm mọi cách để mà tìm hiểu. Nhu cầu tự nhiên do ta tự do chọn lựa sẽ cho ta một động cơ để ta lấp đầy những chỗ ta thiếu, để ta tự do tạo ra chính bản thân ta. Jean Piaget là người tự học vĩ đại – những người sáng tạo đều thế cả.
Ông hầu như đã đọc hết những sách quan trọng của thời đại ông sống. Trong sách của ông, ta thấy trích dẫn những tên tuổi như Groos, Wundt, Claparède, Binet, Wallon, Buytendijk, Freud, Siberer, Adler, Jung… cùng nhiều người khác. Không những ông chỉ đọc mà ông còn đối thoại để tán thành để phản biện. Đối với ông chân lý là tối thượng. Dù một tác giả có uy tín đến thế nào, nếu thấy không đúng cũng phải phản biện. Ông đã dành rất nhiều trang sách để đối thoại với Groos, với Freud, với Jung…
Chỉ với tinh thần khoa học, dân chủ, không giáo điều ấy, ông mới có thể sáng tạo. Bản thân ông, mới 12 tuổi đã đọc Tố Tâm, Thủy Hử, Tam Quốc… Những câu chuyện phiêu lưu kỳ thú, tạo óc tưởng tượng cho con người; những cuốn sách “vỡ lòng” của ông là cuốn chuyển ngữ Lá thu rơi của Tô Hoài. Chẳng phải đây là cuốn sách quá hay, nhưng khi đó tôi đọc thấy thương, còn khóc nức nở. Khi bị xúc động bởi một cuốn sách tức là mình đang trải nghiệm. Câu chuyện đánh vào cảm xúc của con người, tạo nên sự xúc động trong con người, đó là ý nghĩa của việc viết văn”.
Đứng ngoài mọi tiếng tăm, đứng ngoài tất thảy những giá trị trường tồn của những tác phẩm đã trở thành đỉnh cao, trở về căn nhà ấm áp của mình, nhà văn Nguyễn Xuân Khánh là một “ông già” hay cười, vui vẻ, quan niệm đời sống giản đơn và yêu đời một cách kỳ lạ. Với ông, dường như chả có điều gì to tát, bởi thế lúc nào ông cũng cười “tít mắt” với những câu chuyện, với những con người xung quanh. Ông bảo, giờ đây, những người bạn của ông, phần lớn đều đã khuất bóng, tuổi ngoài 80 sống khỏe mạnh đã là một điều kỳ diệu, nữa là ông, trời cho một khả năng sáng tạo đều đặn, đọc sách đều đặn và chưa bao giờ ngừng tư duy, chiêm nghiệm trước một vấn đề, trước một câu chuyện nào đó thì thực sự là một điều may mắn.
Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh chỉ tiếc một điều, là thời xưa, vì đói khổ, vì phải chạy ăn từng bữa mà ông để cho các con mình “tự do” quá, không rèn giũa vào nền nếp gia đình nên bây giờ, dù các con ông đều đã trưởng thành, nhưng không có một định hướng cụ thể để có thể có một con đường tốt hơn cho các con. Họ biết cha mình là một nhà văn nổi tiếng, nhưng không phải ai cũng hiểu được công việc sáng tạo của ông. Người vợ hiền thảo kém ông 8 tuổi vẫn đôn đáo giục ông ăn uống, lo cho ông từ chiếc áo ấm đến đôi tất giữ sức khỏe hàng ngày là một điểm tựa cho ông sáng tác. Bà sống cũng giản đơn, không kìm tỏa chồng bởi những luật lệ. Bà đùa vui, ông đi đâu thì đi, văn chương kệ ông ấy, từ xưa đã thế rồi, cứ đem tiền về cho tôi nuôi con và tối ngủ ở nhà là được…
Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh đã liên tiếp nhận 3 giải thưởng danh giá của văn chương Việt Nam: Giải thưởng cuộc thi tiểu thuyết của Hội Nhà văn Việt Nam 1998 – 2000; Giải thưởng Thăng Long của UBND TP Hà Nội 2002; Giải thưởng của Hội Nhà văn Hà Nội 2001 – cho tiểu thuyết Hồ Quý Ly. Tiểu thuyết Mẫu thượng ngàn nhận giải thưởng của Hội Nhà văn Hà Nội 2006. Tiểu thuyết Đội gạo lên chùa đã giành vị trí cao nhất giải thưởng Hội Nhà văn 2011.
Với ông, văn chương là một cuộc trải nghiệm những ý tưởng đã được ngấm và lọc qua năm tháng cuộc đời mình. Ông tuyên bố sẽ ngừng viết ở tuổi 83, bởi vì ý tưởng đã cạn, những liên tưởng đã không còn bay cao, bay xa… Nhưng ông khẳng định, nếu trời cho, đến một lúc nào đó, biết đâu ông lại “bùng nổ” theo cách nào đó, biết thế nào được, bởi vì chưa bao giờ ông ngừng đọc, ngừng học hỏi, ngừng quan sát dù đã ngót bách niên trong cõi người này.
Dù ông có tuyên bố gì đi nữa thì tôi cho rằng, nhà văn Nguyễn Xuân Khánh với sức khỏe của mình, với sự từng trải của mình, với sức đọc và sự ngẫm ngợi của mình, ông sẽ chẳng bao giờ ngừng lại. Bởi vì với ông, viết văn như một cuộc dạo chơi đầy hứng khởi, và giữa những ngày xuân, ông lão ngoài 80 vẫn thong thả bên cốc cà phê đen tỏa khói để nói về văn chương, nói về quá khứ, nói về bạn hữu, nói về những chi tiết tỉ mẩn trong cuộc đời mình một cách rành rẽ, minh mẫn đến vậy, thì tôi tin chắc rằng, ông sẽ lại khiến người đọc “sửng sốt” bởi một tác phẩm nào đó về văn hóa Việt trong một ngày không xa…
Theo nhavantphcm

Phần nhận xét hiển thị trên trang