Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Bảy, 7 tháng 3, 2015

Sự xuống cấp mang tính hủy diệt của văn hóa


Nguyễn Quang Thân/ Theo Thời báo Kinh tế Sài Gòn
VNN - Bảy mươi năm về trước, một trong những khẩu hiệu phổ biến nhất của cuộc Cách mạng tháng Tám là bài trừ mê tín dị đoan. Từ những năm tháng ấy, lý tưởng tranh đấu giành độc lập tự do chiếm lĩnh tâm trí hầu hết mọi người dân.

Niềm tin vào “chủ nghĩa duy vật” thắng thế. Tâm linh, bao gồm di sản tinh thần dân gian cùng với niềm tin tôn giáo bị coi nhẹ, có lúc bị phỉ báng, đỉnh cao là có rất nhiều nơi ở miền Bắc người ta đã đập phá hoặc sử dụng đình chùa làm nhà kho. Những hủ tục của quá khứ như bói tướng, cầu hồn, cầu cơ, lập đàn cúng tế, cả những việc nhỏ vô hại như xem ngày tốt xấu cho cưới xin tang lễ cũng đều bị dẹp bỏ, tự nguyện hoặc bắt buộc. Cỗ bàn giỗ ông bà cũng đơn giản, đặc biệt bỏ hẳn việc đốt vàng mã vì không còn bày bán ngoài chợ. Giỗ, Tết, đảng viên thường có mặt nhưng không vái lạy để làm gương.

Ít nhất trên miền Bắc, lễ hội truyền thống ở các địa phương bị xếp lại tuyệt đối vì chiến tranh đã đành, nhưng chủ yếu là do người dân đã thay đổi tư duy. Sau hàng trăm năm cầu xin Trời Phật, tổ tiên phù hộ mà vẫn không thấy được đổi đời, vẫn thấy bị vua chúa, quan lại, thực dân đè đầu cưỡi cổ, người dân bỗng được “rũ bùn đứng dậy sáng lòa” (thơ Nguyễn Đình Thi) chỉ sau mấy ngày Cách mạng tháng Tám và có ruộng cày sau cuộc cải cách ruộng đất long trời lở đất đả phong kiến, với viễn cảnh độc lập tự do, “thế giới đại đồng”. Dân nhạt cầu cúng, đậm đấu tranh cho lý tưởng.

Niềm tin vào đại nghĩa của dân tộc và tương lai của đất nước lấn át tuyệt đối và đẩy lùi thế giới tâm linh. Ít nhất thì cũng có một thời gian dài chúng ta tưởng là như thế. Thế nhưng, ai cũng phải giật mình về những gì đang xảy ra trong đời sống cộng đồng những năm gần đây. Người Việt không chỉ quay ngoắt 180 độ trở về với những mê tín dị đoan đã có đã theo trước năm 1945 mà còn phát sinh nhiều “dị đoan” đến từ một thế giới phẳng nhờ công cụ Internet lan truyền.

Chưa từng bao giờ nảy sinh nhiều thầy bói, thầy tướng, thầy địa lý, phong thủy như ngày nay. Thậm chí người ta viết sách, viết báo khẳng định như đinh đóng cột những điều ngàn năm nay vẫn nằm trong thế giới “sắc sắc không không”, làm như họ đã trả lời ngon ơ mọi câu hỏi của con Sphinx trước cửa Kim tự tháp. Hàng loạt nhà “ngoại cảm” túa ra như nấm mùa xuân, không ít kẻ làm giàu nhờ biết lợi dụng tối đa nỗi đau hậu chiến. Vụ “cậu Thủy” với tín chủ “ngân hàng chính sách” ở Dak Nông và vở bi hài kịch ven sông Hồng trong cuộc tìm kiếm không thành công thi hài chị Huyền xấu số đã làm lộ mặt nhiều nhà ngoại cảm dỏm. Chưa từng thấy các quan chức đua nhau “mê tín dị đoan” như bây giờ. Họ bấm độn để xuất hành công tác, kể cả đi dạy biện chứng pháp ở trường đại học. Họ chạy thầy cúng, thầy pháp, thầy bói mong tăng phiếu bầu cử, thậm chí mang cả hương vàng bay ra Côn Đảo sì sụp khấn xin phiếu trước mộ chị Sáu, lúc nào cũng chật người vì được đồn là linh thiêng. Người con gái Đất Đỏ anh hùng chắc sửng sốt về những lời cầu xin quá đỗi lạ tai.

Phát ấn Đền Trần là ngày đánh dấu thời thịnh trị khi nhà vua quyết định trao ấn để chấm dứt vụ ăn Tết kéo dài, lệnh cho nền hành chính cả nước bắt đầu hoạt động nghiêm chỉnh phục vụ triều đình và nhân dân. Nhưng người ta đã biến sáng kiến rất văn minh này thành một cuộc tranh cướp danh lợi. Toàn dân xin ấn với hy vọng được làm quan, thăng quan thì còn ai làm dân nữa? Và những lễ hội nói là cha ông để lại nhưng không còn mấy ý nghĩa nguyên thủy mà được phát huy tối đa khía cạnh thương mại do một số nhóm lợi ích bày đặt. Họ biến một số lễ hội thành “sàn môi giới” giữa người trần và thần thánh để cầu xin và hối lộ công khai. Ông Nguyễn Sự, Bí thư Hội An, đã phải than với báo chí: “Nếu anh có đi đến các lễ hội ấy mà anh chỉ cầu riêng cho mình là chưa đủ. Anh phải cầu cho mọi người dân được mạnh khỏe, thiên hạ được thái bình, vùng đất mình sống được yên ổn và mọi người được hưởng phúc. Nói như ông bà mình ngày xưa là cầu cho mưa thuận gió hòa, cho muôn người, muôn loài. Đó mới là thái độ ứng xử có văn hóa. Cha ông ta làm lễ hội trước đây làm gì có việc đánh cướp nhau như vậy. Chẳng có thánh thần nào lại đi ban phát phước đức, tài lộc cho những người đang lao vào đánh đồng loại của mình như mấy ngày gần đây...” (báo Một thế giới). PGS.TS. Lê Quý Đức, nguyên Phó viện trưởng Viện Văn hóa Phát triển (Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh) thì thẳng thừng tuy mới chỉ chạm nhẹ vào cái gốc của vấn đề: “Người ta thiếu tin tưởng vào đời sống thế tục, tin tưởng vào giá trị, lý tưởng chính trị xã hội mà người ta chỉ tin vào tâm linh” (báo Một thế giới).

Đúng. Nhưng họ đang tin vào thứ “tâm linh” nào? Hối lộ cả Bụt, buôn thần bán thánh, muốn độc quyền cả Trời Phật chỉ phù hộ kiếm lợi cho riêng mình, làm hại đối thủ của mình, đua nhau xin ấn quan lộc, nhét tiền vào tay tượng, coi vị Bồ Tát thiêng liêng như người bán hàng rong, tham nhũng chán chê rồi đi lễ sám hối, giải hạn, vài ngàn lẻ một chuyện nhảm nhí khác đang xảy ra, phải chăng đó không phải là “mê tín dị đoan” mà chúng ta đã từng gạt bỏ 70 năm trước? Tin vào tâm linh không có gì để bàn, nhưng lấy cái gọi là “tâm linh” nhảm nhí, lố bịch đã từng bị quẳng vào sọt rác của lịch sử văn minh thay cho lý tưởng cao đẹp vì nhân quần xã hội chắc chắn chỉ là sự xuống cấp không phanh có tính hủy diệt của văn hóa.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

điên và đọc:

CHO TẤT CẢ BÀ CON TA ĐÂY :D


Xin được gửi tặng bà con phần cuối Chương 29 sách 3339 [NMHT] nguyên bản (trong bản in, phần này đã bị kiểm duyệt cắt quá nhiều):





[…]
Đặng Thân:
THƯA QUÝ VỊ!
Vậy là con nặc nô Mộng Hường nó đã làm hại tôi và quý vị rồi. Và vì có sự THAY ĐỔI VỀ KỊCH BẢN với sự xuất hiện của NHÂN VẬT NGOÀI DỰ KIẾN thế này nên tôi sẽ lâm vào tình thế hoàn toàn bị động… Khổ cho tôi quá!
Chắc là tôi sẽ không còn biết cốt truyện (plot) và các cảnh huống (scenes) sẽ xẩy ra và diễn biến tiếp ra sao nữa.
Chắc cú bọn nhân vật (characters) sẽ được mùa làm loạn.
Chắc chắn từ mấy chương sau trở đi nhịp độ (tempo) của cái truyện này sẽ bị biến đổi. Điên ơi là điên! Không cẩn thận bọn phê bình “văn hoọc” sẽ lợi dụng sơ hở nhẩy vào sủa bẩn nhăng nhít đây.


A Bồng:
He he, những con chim sâu mới ra ràng thường đã ôm mộng mổ chết loài đại bàng trên đỉnh núi. Chúng quên mất “nghiệp” của chúng chỉ là bắt sâu – một việc “thiện” trong mắt con người nhưng lại là một nghề “ác” trong tâm thức “loài sâu ngủ yên quên bao ưu phiền”. Xin chớ liều mạng với định mệnh.


Đặng Thân:
Thôi thì mặc mẹ tất cả chúng mày. Kệ cha chúng mày kệ bố tao…
Mà bố tôi thì đã chết mất rồi còn đâu!
Bố có linh thiêng thì hãy về đây giúp con một tay với, ôi bố ơi…

Bất chấp lời cảnh báo “sóng thần” của tôi, tối hôm đó đôi gian phu dâm phụ vẫn gặp nhau tại Láng Hạ 101. Đúng là “háng lạ” có khác, mới xa nhau ít hôm mà đã phải đâm đầu đi tìm nhau rồi. Ngẫm cái cảnh thằng giặc Tầu mặc nhiên xâm phạm địa phận, hải phận của tổ quốc mà lòng đầy căm tức. Thật là phải đồng cảm với cụ Trần Quốc Tuấn “ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa, nửa đêm vỗ gối…” với nỗi đau này.
Tôi chỉ muốn được “xẻ thịt, lột da, ăn gan, uống máu” thằng Dương Đại “Nghiệp chướng”. Tôi muốn các cụ chí sỹ xưa sống dậy để đem con Mộng Hường ra cho voi giầy ngựa xé, gọt tóc bôi vôi thả bè trôi sông… hay đem luộc lên mà chấm muối. Hoặc là nhốt nó vào vườn thú Thủ Lệ cho mọi người xem loài thú lạ cũng được.
Nhưng nghĩ lại cũng thấy mình tức vô lí. Vì bọn chúng thông dâm với nhau kia mà. Con nặc nô đã mời thằng Nghiệp “chướng” vào nhà cơ mà. Đồ cõng rắn cắn gà nhà, rước voi về giầy mả tổ, thông đồng với bọn ngửi máu không tanh, ăn cả thịt chín lẫn thịt sống.
Ta còn biết làm gì đây. Tôi tức tối căm thù mà chẳng biết phải tức tối căm thù ai. Tôi nghĩ đến trả thù mà không biết trả thù đứa nào.
Trước mắt, tôi cũng không biết phải xử sự xử lý với em Mộng Hường thế nào nữa.


A Bồng:
Bọn Ăng-lê và Mẽo đã nói rồi: “If you can’t beat them, join them.” Ha ha ha…


Đặng Thân:
A Bồng sáng suốt!
Thế là tôi đến Láng Hạ 101 lao vọt vào thang máy lên tầng 21 để cùng bọn chúng tham gia vào một đêm liên hoan tiệc sex “3 trong 1” đúng kiểu “tam giáo đồng nguyên” hân hoan trong thế giới đại đồng, thái bình thịnh trị, công bằng, dân chủ và văn minh. Màn trình diễn ngoạn mục này đã được Mộng Hường quay camera, sau đó hình như em nó có đưa lên mạng HerTube gì đấy. Bạn nào quan tâm có thể search được ngay mà. Cái sex-clip này có tiêu đề là Nhật ký Láng Hạ 101 thì phải.
Thằng Nghiệp “chướng” làm việc như trâu điên. Kiểu trâu húc mả. Kiểu đại bàng đạp mái chim sâu. Kiểu lấy thịt đè người. Kiểu “biển người”. Kiểu này mới nhìn thì thấy oách, nhưng nhìn kĩ tôi đã thấy điểm yếu của nó. Vì nó có vẻ thiếu tinh thần cách mạng khoa học kĩ thuật. Thiếu cả “cổ học tinh hoa”. Cái kiểu của hắn chỉ làm đối thủ hài lòng trong hiệp một nhưng hiệp hai thì oải, và tất yếu không có hai hiệp phụ cùng màn trực tiếp penalty đứng tim theo luật FIFA.
Chúng tôi vần vũ như đi săn sư tử. Lăng xăng như chó. Đúng như tinh thần các cụ ta đã tiếu lâm về loài chó:

Quanh quanh đằng đít lại đằng đầu;
Hễ thấy ai vào cắn gâu gâu.
Khi nằm với vợ thì phải đứng…

Lúc thằng Nghiệp “chướng” ở đằng đuôi thì tôi ở đằng đầu của Hường, và ngược lại. Khi lên, khi xuống, khi trên, khi dưới. Thằng này được cái liếm láp rất khéo nên tôi cũng cho nó liếm luôn, phê hơn Hường làm là cái chắc.
Các tư thế đều được triển khai:
- “Truyền thống” (Thằng Khựa khá trung thành với kiểu này, chứng tỏ nó trân trọng truyền thống lắm lắm. Tôi cũng quý truyền thống nhưng không bằng nó);


Judah-Schditt von deBalle-Kant:
Người Âu gọi kiểu này là “tư thế nhà truyền giáo”. Thời Trung Cổ ở châu Âu, Thánh Thomas Aquinas (1225–1274) và nhiều nhà truyền giáo Catholik khác rất cổ xúy cho tư thế này đấy, họ dậy dỗ con chiên rằng đây là “tư thế đúng mực nhất”. Người Tuscan (xứ này có thủ phủ là Florence) ở Ý gọi kiểu này là “Tư thế Thiên thần”. Những người Ả Rập lại gọi là “phong thái của rắn”[2]. Tư thế này giúp cho người ta giữ được những giá trị lãng mạn do diện tích da tiếp xúc được nhiều nhất, bốn mắt nhìn nhau (nếu không thích nhắm), rồi còn được khuyến mại những cái hôn và vuốt ve. Người ta cũng đã thống kê được là làm tình kiểu này cho kết quả thụ tinh cao nhất. Kiểu này cũng cho phép người nữ được “nghỉ ngơi thoải mái”, song mỗi khi chủ động người nữ có cơ hội được tập thể dục cơ hông (động tác xoay) hoặc chân (đạp chân xuống giường hay quặp vào người nam). Tư thế này không dùng cho phụ nữ có thai giai đoạn cuối và những phụ nữ ưa đóng vai trò chủ động… 


Đặng Thân:
Và “xin đọc kỹ hướng dẫn sử dụng trước khi dùng” nữa chứ gì. Thôi được rồi đấy Schditt ạ. Anh mà làm tôi mất hứng là tôi không kể nữa đâu.
Xin được kể tiếp các tư thế điển hình khác đã được thực hiện:
- “Truyền thống - chân chổng ngược” (Người ta còn gọi là kiểu “cái đe”. Kiểu này vào sâu nhất);
- “Vác cầy qua núi” (Kiểu này đòi hỏi người nữ phải rất linh hoạt);
- “Chim bay qua núi”;
- “Đại bàng đạp mái chim sâu”;
- “Úp thìa”;
- “Ếch”/”Chó”;
- “Rùa”/”Ba ba” (Kiểu này nhà máy nước đạt công suất cao thôi rồi!);
- “Rồng” (Kiểu này cực khó);
- “Phượng”;
- “Nhện sa”;
- “Cô gái chăn bò” xoay 4 hướng;
- “69” (Kiểu này trong dân gian còn gọi là “giở đầu đuôi”);
- “Hoa sen” (Giống như tư thế tọa thiền kiểu hoa sen nở);
- “Tích hợp tay ba”.
Lòng căm giận đã làm não bộ tôi chiết xuất ra những ý tưởng tinh túy hơn đời.
Giờ phút ấy tôi phải lấy làm tự hào là mình được làm con dân của bán đảo Trung-Ấn. Tôi thực hành đúng kiểu “bế tinh” hay “cửu thiển nhất thâm”, “bát thiển nhị thâm” của Đạo gia Trung Quốc kết hợp với Kama Sutra Ấn Độ. Lúc vờn như mèo, khi mạnh như hổ, lúc tận tụy như chó, khi nhí nhảnh như khỉ. Khi văng tục, lúc chửi thề, khi rống như bò, khi rên như ma Hời. Tinh thần sáng tạo của hào khí Việt Nam được đẩy lên hết cỡ trong hoan lạc thái bình… hoan… lạc… thái… bình…
Trong cơn địa chấn hưng phấn của sáng tạo tôi đã nghĩ ra một màn trình diễn/sắp đặt performance/installation art kỳ vĩ mà tôi lấy tên gọi là “26 chữ cái”. “Cái” đây phải hiểu theo nghĩa chính là giống cái, trái với đực, vì tôi lấy em làm nguyên vật liệu. Vừa làm tình tôi vừa xếp em đủ các hình mẫu tự: A, B, C, D, E, F, G, H, I, J, K, L, M, N, O, P, Q, R, S, T, U, V, W, X, Y, Z. Tôi thích nhất là những chữ A, G, M, S, T, W, X, Y, Z. Càng về các chữ ở phần dưới càng thấy sướng khoái vô cùng.


A Bồng:
Mẹ kiếp! Đúng là thằng nhà văn “ngộ chữ”. Đến lúc làm tình mà nó vẫn còn nghĩ đến chữ nghe mới “khốn nịn” làm sao! Thế thì thăng hoa làm sao được. Ta từng nghe nhiều bọn đã bàn chuyện nào là “sống với chữ”, “sống chết với nghề chữ”, cho đến “phu chữ”, “làm chữ”, “làm tiếng Việt”… nhưng đến cái thằng “phịt chữ” này thì quả thật là quá “dã man”!


Đặng Thân:
Trong lúc giải lao tôi vui vẻ bảo Nghiệp “chướng”: “Hẩu à. Tứ hải giai huynh đệ. Mối tình hữu nghị Việt-Trung, vừa là đồng chí vừa là anh em…” Thằng chó cười như nắc nẻ, cứ “hẩu hẩu”, “hẩu lớ”, “hủ tố” liên tục. Rất khách khí nó còn chắp tay “Tà sư phọ” với tôi suốt.
Phải chăng “chung sống hòa bình” luôn là tối ưu. Nhưng cũng phải có hoàn cảnh đưa đẩy thì mới thực hiện được. Và tạo ra hoàn cảnh thì không phải ai cũng làm được đâu. Chỉ có Trời và những anh hùng cái thế mà thôi. Hỡi ôi!

Dù sao kinh nghiệm từ công cuộc hội nhập khu vực và toàn cầu hóa kể trên cũng đem lại cho tôi, nhà văn Đặng Thân, một ý định mới. Có thể tôi sẽ không viết văn nữa. Văn Việt Nam vừa hãm vừa rẻ như bèo, viết chẳng bõ. Tôi sẽ tập trung tinh lực để viết một cuốn từ điển tình dục, xuất phát từ ý tưởng 26 chữ cái trên đây. Có thể sẽ đặt nhan đề là 26 sáng thế Kinh (“sáng thế” nghe đắc đạo hơn “tư thế”) hoặc là Từ điển tình dục học Đại thừa, Duy tim cật sở thất Kinh, Diệu pháp liên sàng Kinh, 26 đoạn trường dục thanh, 26 cung lạc ngâm khúc, Hường lâu mộng, Cực lạc nam nữ du ký, Ta đi tới 26, Sự mất ngủ của nước và lửa, 26 cửa mở, Thượng thừa 26, Đại náo tử cung, 26 nẻo về của sướng, 26 dục thiên thế giới, 26 lỗ đen vũ trụ, Mẫu tự nhục dục quyền, 26 chân trời A-Z, 26 miền âm dương chân Kinh, Đặc dị giao phối hành, Trần gian hữu đạo, 26 Sex Cafés, Sex Zen, Sex Yoga, Hyper-styled Sex, Multi-layered Orgasm, How to Fuck to the Ultimate, Alphabetical Bliss and Climax (gọi tắt làABC Dictionary), Bản giao hưởng-hợp xướng 26 tiết tấu (gọi tắt là Giao-hợp 26 tiết tấu). Đơn giản và “hàng họ” hơn có thể là Tửu Sắc Quán 26 Hàng ChuốiMút xoa chân 26 Hàng Khoai cho nó có cái vẻ truyền thống ngàn năm văn vật của băm sáu phố phường; hay giản phác hơn là Phở 26 hoặc Từ điển 26 cho nó hợp với dân tộc tính.
Tôi tin cuốn từ điển này sẽ thành best-seller không những của dân tộc mà còn của nhân loại mọi thời đại. Lúc ấy thiên hạ đúc tượng thờ thì rất ngại.

***** 
HA HA, TÔI VIẾT ĐOẠN TRÊN VÀO ĐẦU NĂM 2008. THẾ RỒI HƠN 3 NĂM SAU (2011) CÓ 1 NỮ HỌA SỸ NGƯỜI ANH GỐC PHÁP, MALIKA FAVRE, CŨNG BỖNG DƯNG CHẾ RA CÁC TƯ THẾ LÀM TÌNH KIỂU 26 CHỮ CÁI, HE HE. KHÔNG BIẾT CHÚNG TA CÓ NÊN KIỆN ĐÒI TIỀN BẢN QUYỀN KHÔNG NHỈ??!! MỜI QUÝ VỊ XEM: 










TOÀN VĂN MỜI BÀ CON XEM LINK NÀY: http://www.thekamasutra.co/a-z
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nhân cuối ngày Thơ VN


TỌA ĐÀM VĂN NGHỆ DƯỚI GỐC CÂY... ƯU BÀ
(Tạp bút)
“Tất cả mọi đối thoại đều... ảo” – Bya Tago
Cây Ưu Bà (Upà) rất sẵn ở đất Phật. Nó gắn liền với nhiều sự tích về Phật chỉ sau cây Bồ Đề (Boudha). Ưu Bà là chỗ ưu (nổi, không phải chỗ khuyết) của... các bà, là chỗ nửa kín nửa hở, chỗ gây “sung” [sướng] của đàn ông, tóm lại dịch sang ngôn ngữ Giao Chỉ thì nó là... cây sung. Xứ ta không làng nào không có cây sung. Không cây sung nào không có vết rạch. Không vết rạch nào không để lại dấu tích [chảy nhựa]. Ở một cái gốc như thế có gã Đặng Thân đang ngồi câu cá với cái đầu quả nhót trụi thùi lụi của gã. Con quạ đậu tít trên ngọn cây rót một giọt cứt trúng giữa huyệt Bách Hội. Giọt cứt (sốt) nóng hổi tràn trề năng lượng vũ trụ ngay lập tức đả thông các loại kinh mạch trong người gã. Trước mắt gã hiện lên ba nghìn thế giới với thập phương chư Phật... Gã vươn vai một nhát rồi thản nhiên bước ra khỏi cái “chuồng người” của mình...
“Mở đầu không kém phần kì ảo. “Sung” là một từ rất gợi cảm. “Chuồng người” thì hay tuyệt. Hình như có một tay mũi lõ “định nghĩa” như vậy?”
“Ấy lão triết gia lẩm cẩm F.W. Nietzsche bảo con người ta mỗi mỗi tự tạo cho mình một cái “chuồng người” đấy. Nếu muốn thoát ra khỏi nó thì phải làm siêu nhân. Nhưng siêu nhân lại biến thành một kiểu “chuồng [siêu] người” nữa. Cứ thế... [không cho chúng nó thoát]”
“Đúng quá đi bác. Phần lớn (99,999…%) người ta (quân “ngu phu ngu phụ”, Khổng Khâu bảo) tự đóng chuồng cho mình đấy chứ, vô thức bầy đàn xúi dục chúng thế. Còn các xiêu nhân thì lại tự đóng chuồng xiêu nhân. Cái lí thuyết “xìu-phờ-men” này cũng là cái ruy ý chí của quân “Tây phương hùng biện” mà thôi. Hỡi ôi, một nhân gian chuồng! Vì thế, đã là “chuồng nhân” thì phải bầy đàn, muốn làm mỗi “nhân” thôi thì [đành] phải “độc lập bất cụ”. Các cụ “Đông phương minh triết” dường như đã giải quyết cái vụ này khá ổn từ khuya rồi. Mỗi tội các cụ bí hiểm bỏ mẹ, nói năng tù mù thiên địa làm các “chuồng nhân” đếch hiểu được. Mà cái gì bố mày đếch hiểu thì cái đó... sai(!) [trong 1 cuộc “tọa đàm” cách đây hơi bị lâu, Lông Trùm Chiếu bảo vậy, vì thế đám Lông-ít (cả Lông-nhiều) cũng bảo thế]. Bọn chúng lại đông nên oách tờ rờ lắm, và thường đỏ mặt vỗ ngực: “Chúng mày có biết bố mày là ai không?” (Bố mày chính là bố của con bố mày đây).
Xem kìa, bờ ao bên kia toàn những “chuồng người” đang di chuyển... Phải ra khỏi “chuồng người” mới nhìn rõ “chuồng người”. Thế gian này hơn sáu tỉ “chuồng người”... Ờ nhưng tại sao bác biết em vừa bước ra khỏi cái “chuồng” của mình?”
“Bước ra rồi lại chui vào. Ví dụ lúc đi bỏ phiếu hay ăn vụng vợ thì dứt khoát phải chui vào. Những lúc ở ngoài “chuồng” mi viết Từ điển thi x/x loại [chúng sinh], viết ma net, viết Hiếp... đấy. Loại văn ấy ở trong “chuồng” đếch thằng nào viết được.”
“Ngót một nửa nhân loại từng viết văn trong “chuồng”. Văn ấy gọi là gì nhỉ?”
“Gọi là gì cũng được. Ví dụ “hiện thực XHCN” chẳng hạn.”
“Chính xác như lưỡi mác, hiện thực là... đang xơi, món ăn là sự thật, được chế biến như giời. Ôi, thế thì có nhẽ con quạ kia đã ban cho bác một giọt cứt trước khi ban cho em. Nhưng... xứ ta làm đếch gì còn con quạ nào nhỉ?”
“Còn đúng một con gọi là “kim ô”, ngày nào cũng bay ngang bầu trời. Con này chỉ biết “gắt”, không biết kêu. Còn ngoài ra thì lũ chúng nó hoá kiếp cả đấy. Mi không thấy kể từ giữa thế kỉ trước bắt đầu có hiện tượng là hễ quạ vắng đến đâu thì hội văn nghệ phát triển thêm hội viên đến đấy hay sao?”
“Chỉ được cái đúng như củ súng. Ai như cụ Ức Giai bảo quân tử cố cùn [gỉ] tiểu nhân vùn vụt [tiến]. Vậy đố bác biết giống quạ nổi tiếng nhất ở động tác gì nào?”
“Ở động tác “mổ”. Các bà thường mắng con gái “đồ... quạ mổ” đấy là gì.”
“Hèn nào mà sau khi hoá kiếp, chúng “mổ” kinh thật. Talawas phải lập hẳn một “Hồ sơ...”, lưu lại ngót trăm cú “mổ” của chúng kia đấy.”
“Mổ xong lại tỉnh bơ ngâm thơ: “Trái Đất ba phần tư cá sấu / Đi như nồi lẩu giữa không trung...”
“Diệu! Nhưng hình như... “ba phần tư nước mắt” chứ? Bác cứ hay xuyên tạc.”
“Không có cá sấu, lấy đâu ra lắm nước mắt thế? Tóm lại là cá sấu có trước, nước mắt có sau... Có lẽ phải đề nghị Phạm Thị Hoài đổi tên cái bộ hồ sơ ấy thành: “Hồ sơ... quạ mổ”.
“Cũng có lý. Còn “hồ sơ quạ mổ” - cái tên nghe rất hình ảnh. Bác từng viết “Kền kền và quạ đen”. Thì ra bác đã nghiên cứu về quạ từ trước?”
“Quạ còn nổi tiếng bởi cái tổ bệ rạc của nó. Vậy mà có thời, những cái “tổ” ấy được coi là “thiên đường...” cơ đấy. Con người rồi còn phải tốn khá nhiều công sức để dọn dẹp vô số những “tổ quạ” còn ngự trị chỗ này chỗ nọ trong đời.”
“Dọn cả trên những giá sách, thư viện, những công viên, giao lộ,... nữa. Song cái đó đã có hậu thế chúng nó lo. Chẳng phải bác cũng “chưởng thành” từ những cái “tổ quạ” đó hay sao?”
“Đức Phật cũng từng có kiếp phải đầu thai làm một con quạ. Khi ấy Ngài “độc tài” kinh khủng. Ngài từng ngôn rằng: “thượng thiên, hạ địa, duy ngã độc tôn” (trên trời, dưới đất chỉ độc mình ta).”
“Thì... quạ nào chẳng thế”.
“Về sau có lão thiền sư tên Vân Môn nghe chuyện ấy liền bảo: ta mà chứng kiến lúc (con quạ) Phật nói câu đó thì ta sẽ đập cho một gậy chết tươi rồi quẳng cho chó ăn để mong thiên hạ thái bình.”
“Và thiên hạ chẳng bao giờ thái bình... “
“Chỉ vì ngôn có trước cây gậy.”
“Hay! Thế mới gay! À mà các nhà văn nghệ của xứ ta hiện đang làm gì í nhẩy?”
“Họ vẫn đang ăn lương và... hát [mãi khúc quân hành]. Cái ấy gọi là... Tao đàn (vua tôi cùng đàn). Xứ ta từng có một thời “Tao đàn”. Đến thời này là thời thứ hai, gọi là “Tao đàn đệ nhị”.”
“Chẳng trách vẫn tự tôn xưng là “đậm đà bản sắc bộ tộc” [1]. Nó làm em nhớ tới bài thơ, hình như của một thi sĩ mũi lõ đỏ chót tên là: A-[thì]ra-[cái]gông mà em học từ hồi phổ thông. Bài thơ ấy như sau:
Rõ ràng một chân lí
Sáng như giữa giờ Tí
Của những đêm hết í
Trong vòng tay đồng chí...
Ờ, mà nghe giọng bác hình như xuất thân nông dân?”
“Cả “làng” tớ xuất thân nông dân. Cụ tổ tớ ngày trước khoẻ lắm, gánh lúa của cụ không bao giờ đi lọt cổng làng. Thế là cụ bèn bỏ ngay tại đó, con cháu phải dỡ ra chuyển dần về nhà.”
“Sao cụ không bó nhỏ bớt đi cho nó lọt qua cổng?”
“Cụ bảo gánh thế không bõ vai.”
“Bây giờ cái cổng ấy còn không?”
“Cổng xây bằng gạch thì không còn. Nhưng lại sinh ra rất nhiều “cổng” khác. Những chiếc “cổng” này còn hẹp hơn trước rất nhiều. Vậy nên mới có “thơ” vịnh văn nghệ rằng:
Cổng xưa đã không lọt
Cổng nay càng không tọt
Nếu không muốn đời mọt
Thì phải lo... chạy chọt...”
Thơ chửa kịp ngâm xong, nhìn lên thấy con “kim ô” đã bay khỏi ngọn cây sung từ lúc nào. Trời ngả sang chiều. Những con cá từ thời cụ Tam Nguyên Yên Đổ thỉnh thoảng vẫn đớp nhẹ một cái dưới chân bèo. Tiếng chuông chùa ở bốn phương vọng lại báo hiệu đã đến giờ các tăng ni lên phật đường học về lịch sử chiến tranh cách mạng [để mà rèn luyện lòng tự hào, ngõ hầu trúng quả (đậm) A La Hán]. Đặng Thân bỗng dưng im bặt. Có lẽ gã tranh thủ những giây phút còn ở ngoài “chuồng” để viết văn đây. Quả nhiên như thế thật. Gã đang viết Từ điển thi x/x loại [chúng sinh] vần J, nhân vật đại thi nhân “Jái”. Nay xin dẫn ra đây để làm chứng cho những lúc... nứng:
JÁI
Thi x [nhân] này còn được gọi là "bìu", "ngọc hành"... (các từ điển Anh, Mỹ, Úc hay Niu Zí-lần gọi là "scrotum", "penis", "testicles"...); nhưng, một khi đã là Jái thì dù có gọi bằng bất cứ cái tên gì, vẫn tỏa... mùi ["A rose is a rose... would smell as sweet" (Shakespeare). Oh no! It would stink like hell]. Người ta đã lấy gốc tên của Jái mà đặt cho các vị thần chúa tể như Jàng, Jeus, Jupiter... cùng những ý niệm và sự vật/việc cao đẹp như Justice, Jihad, Jade [...], Jerk, [Blow] Job, Joy, Joie de vivre, Je ne sais quoi... Thực sự thì Jái đã có thân hình của một cây bút có sẵn ngòi [có lông] và lọ mực [trắng] vĩnh cửu nên Jái mần thơ liên tục từ ngày ra đời [đúng là "người làm sao của chiêm bao làm vậy" (tục ngữ, không phải "văn tục")], tính đến nay đã 5 triệu năm. Jái là bậc Sáng Thế đã viết nên Cuộc Sống. Jái đã làm bao nhiêu bài thơ trong 5 triệu năm đằng đẵng thì không sử sách nào có thể ghi lại được (tôi thách các sử gia thế giới, cả "tứ trụ" Lâm-Lê-Tấn-Vượng hay Phan Cu Dệ [bút danh nói lái (đúng tông Nghệ) của Phan Dê Cụ], Nhan Trí Vướng [hậu duệ của Nhan Hồi "yểu mệnh nhi bất yểu tài", nay cháu nó thì ngược lại]... của Việt Nam làm được điều đó), chỉ biết rằng con số tác phẩm còn lại đến hôm nay là hơn 6 tỷ (!!!). Phi phàm! Jái là Vua của văn hóa, văn minh và tất cả x [nhân/thập] loại [chúng sinh]. Là hậu sinh bất kể nam phụ lão ấu chớ quên điều đó, đừng bày đặt trò "nam quyền", "nữ quyền" ngu xuẩn hay đạo đức giả chọc ngoáy, dè bỉu [bìu giẻ] kẻo bị Jái "trừng phạt" hay "cấm vận" như nước Mỹ vẫn thường làm với thế giới thì "nát một đời hoa [loa kèn]" (tục ngữ mới). "Một lần làm Vua, mãi mãi là Vua!" ("Once a King, always a King!"); nhưng, hãy nhớ cho: "Once a [k]night is enough".

7/7/7/7
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Văn hóa đọc Việt Nam liệu có thay đổi sau "3.3.3.9 [những mảnh hồn trần]" ?


phamngochien.com - Thứ 3 ngày 19/08/2014 - 08 giờ:27 phút  
Đôi điều về Tiểu-thuyết-Đặng-Thân

Kể từ sau cuốn sách 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần], chúng tôi đề nghị một khái niệm là tiểu-thuyết-Đặng-Thân, liên quan tới gần như mọi mặt của thi pháp học và trên hầu khắp các lĩnh vực của chữ nghĩa. Hai câu hỏi sinh tử và kinh điển trong lý thuyết văn học - "Văn học là gì?", "Văn học để làm gì?" cùng chuỗi các quan hệ dây chuyền (xã hội và văn học, hiện thực/hư cấu và văn học, hình thức và nội dung, cá biệt và điển hình, dân tộc tính và toàn cầu tính...) - và nhiều nan đề trong lao động nhà văn cũng có dịp được tái thẩm định.
Trong tất cả các cái-gọi-là trào lưu/trường phái văn nghệ, dường như hậu hiện đại gây tranh cãi khốc liệt hơn cả; vì đó... không phải là trào lưu/trường phái! Các chữ "cách tân", "cách mạng" thường dùng những khi có các thay thế, phủ định, phát triển, hoàn thiện trong dòng chảy liên tục của văn nghệ thế giới. Hậu hiện đại không như thế: phủ định (một số phần), khai triển, biến dạng thì có; nhưng nó chẳng thay thế cái gì khác. Vì không cái gì giống nó, xét về chủng loại, giống loài. Vì trong nó ẩn hiện những yếu tố của tất cả các trào lưu/trường phái đã có và chưa có để phát lộ khi gặp điều kiện. Các sắc thái của nó, từ thuở ban sơ của văn minh loài người - có người Việt trong đó! - ẩn náu trong văn hóa và xã hội, âm ỉ từ các thập niên 20-30 và bùng lên cả về lý thuyết lẫn thực hành vào những thập niên 60-80 của thế kỷ trước ở xã hội và nhất là văn học nghệ thuật trong một số nước tiên tiến châu Âu (khởi đầu là Pháp) và Hoa Kỳ; và hai thập niên gần đây ở nhiều quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Chỉ riêng việc gọi tên một sáng tác nào đó thuộc về hoặc mang màu sắc hậu hiện đại hay không đã làm nhiễu tạo loạn không ít các trang báo, các cuộc hội thảo.
Hội thảo "3.3.3.9 [Những mảnh hồn trần] của Đặng Thân" 7.1.2012,
Trung tâm Văn hóa Pháp - L'Espace - Hà Nội.
Với 3.3.3.9, tranh luận về danh xưng chắc sẽ không xảy ra, còn ở nội hàm hẳn sẽ có. Hậu hiện đại mà! Lại là hậu hiện đại theo kiểu Đặng Thân đã nổi lên trong văn học Việt gần mươi năm qua ở truyện ngắn, thơ và tiểu luận - phê bình, từ trong ra ngoài nước, cả trong dòng chính ra tới bờ lề...
Cùng một số sáng tác dài hơi hậu hiện đại của các tác giả khác trong thập niên năm qua, quả cân nặng ký nhất từ "trên trời" chính thức ra mắt bằng ấn bản "dưới đất" mang tên 3.3.3.9 đã trình bày một quan niệm khác, một ý niệm lạ trong thể loại tiểu thuyết ở Việt Nam, và có thể cũng trên thế giới. Khái niệm tiểu-thuyết-Đặng-Thân, qua cuốn sách này, có giá trị lớn nhất là thế. Một cuộc cách tân hoàn toàn về nghệ thuật viết và đọc tiểu thuyết Việt Nam đã được hiển lộ đàng hoàng trên văn đàn qua 3.3.3.9.
Mời đọc bài giới thiệu từ nhà văn - nhà biên tập Đà Linh; sáng và gọn: "Một niềm vui văn học mới" - ở đó có tóm tắt cơ cấu cuốn sách theo 5 nhân vật:1- Ông Bà/A Bồng, 2- Schditt von deBalle-Kant, 3- Tác giả, 4- Mộng Hường (nhân vật nữ), 5- Lời bàn [phím...] của các Netizen với 5 cốt truyện đồng thời, độc lập và xuyên suốt; và liệt kê cả tá đề tài liên hệ của cuốn sách: Một Câu chuyện lớn (từ lịch sử - văn hóa - truyền thống - hiện đại - nhân loại...) chứa đựng nhiều Câu chuyện nhỏ (gia phả, đạo, âm nhạc, kinh doanh, văn học, dịch thuật, phong tục, nhân vật, du lịch, cửa Phật, ngôn ngữ, thời sự trong nước và thế giới...).
Với các độc giả không có nhiều thời gian, không thích triết lý, ngại kiến thức và quen với tiểu thuyết "bình thường", thì chỉ cần đọc 2 mạch truyện của Mộng Hường và của Schditt với cốt truyện, nhân vật, câu chuyện kể có mở có kết trọn vẹn.
Lời bạt, với câu "Đặng Thân là điển hình của văn chương hậu-Đổi mới", cùng bài giới thiệu trên báo Văn Nghệ số 53 (31/12/2011) mang tựa đề "Cuộc chạy tiếp sức lịch sử (Đặng Thân nhìn từ Nguyễn Huy Thiệp)" với câu "Nói từ Nguyễn Huy Thiệp đến Đặng Thân là nói từ (chủ nghĩa) hiện đại đến hậu hiện đại", của nhà lý luận - phê bình Đỗ Lai Thúy mang ý nghĩa "bắt vít đóng đinh" 3.3.3.9 và tác giả của nó lên bảng giá trị của văn học Việt Nam đương đại.
Phần chúng tôi, đồng ý về nội dung và tinh thần trong cả hai bài và xin bàn lại vài tiểu tiết về hậu hiện đại; tức là làm tơi ra cho rôm rả mà không hòng kết quả! Bởi cái-gọi-là-chủ-nghĩa/phương-pháp/tinh-thần/tâm-thức/triết-học hậu hiện đại luôn chỉ là những con đường; không là thành Rome.
Trường bút và văn phong ở 3.3.3.9 cho thấy thể loại tiểu thuyết mới kham nổi con ngựa bất kham họ Đặng tên Thân. May ra có Từ điển thi x/x loại [chúng sinh] sánh được. Dùng lại cách nói của nhà thơ Nguyễn Đình Thi, Đặng Thân viết tiểu thuyết là "lấy tất cả mình ra làm... diễn đàn".
Về cơ cấu hình thức và cấu trúc nghệ thuật: 3.3.3.9 hậu hiện đại ở nội thất, mà vẫn hiện đại và tiền hiện đại ở mặt tiền cổng vườn ngõ hậu. Và cổ điển, lãng mạn, hiện thực rải rác khắp nơi. Đặng Thân kết hợp hai phạm trù hình thức và nội dung khi kết cấu một tác phẩm hậu hiện đại. Đây là điểm son ít tác giả hậu hiện đại khác làm được. Kết cấu truyền thống (tự sự theo thời gian một chiều) và kết cấu nghệ thuật (không - thời gian quay đảo, đồng hiện) không còn mâu thuẫn nhau như trong sáng tác hiện đại và tiền hiện đại. Văn bản 3.3.3.9 trộn tạp nhiều hình thức ngôn tự với hai dạng chính là văn chương (kể cả văn vần) và báo chí; nhưng có những khoảng trống giữa các thành phần độc lập. Theo René Char về cấu trúc một bài thơ, thì 3.3.3.9như là các tiểu khúc "quần đảo". Vẻ ngoài, cấu trúc truyện thì hậu hiện đại hoa mắt ù tai, dễ làm độc giả bình dân nản lòng; tuy nhiên, nếu bập vào một mạch nhỏ sẽ nhận ra: kiểu dàn binh bố trận của 3.3.3.9 vẫn lấy cách kể tuyến tính làm trọng.
3.3.3.9rất có hơi văn khí truyện - nhận dạng đầu tiên cho sức thu hút của một tiểu thuyết. Hơi thì quá nồng, khí thì thậm đậm. Nhưng có thế mới là con đẻ của Đặng Thân.
Riêng về cấu tứ, không biết trong văn chương thế giới có tác phẩm nào tương tự 3.3.3.9? Hình như không. Dù thế nào, với 3.3.3.9 văn học Việt vẫn có thêm một ấn phẩm đáng giá mang ra trường quốc tế. Bề kích - chứ không phải dung lượng - của các sáng tác bằng tiếng Việt đang thực sự sang trang với 3.3.3.9! Về độ "khủng" trong cấu tứ truyện, rất có thể3.3.3.9 là tác phẩm đầu tiên của văn đàn Việt Nam.
Về thi pháp học hình thức, 3.3.3.9 mang chất hậu hiện đại ngồn ngột và ngùn ngụt. Còn về thi pháp tư duy nghệ thuật, tiểu-thuyết-Đặng-Thân lại thuộc về các khuynh hướng hiện đại và các hình thái trước đó. Cốt lõi dễ thấy: Nội dung của tiểu-thuyết-Đặng-Thân có thể kể-lại-được; nhất là hai mạch chính về Mộng Hường và Schditt. Hư cấu lẫn phi hư cấu, 3.3.3.9 có hàng trăm lớp lang, nhưng bóc đi gọt ra cùi vỏ, cuối cùng độc giả sẽ gặp nhân - đúng ra là vài cái nhân - của tác phẩm. Đấy là nét quảng đại quan trọng nhất không bị các yếu tố hậu hiện đại phá hủy ở tiểu thuyết 3.3.3.9.
Nhà văn Đặng Thân - Khách mời của đài Phát Thanh và Truyền hình Hải Phòng 
Thể loại là một trong các phá vỡ thậm tệ nhất về văn bản của cái-gọi-là hậu hiện đại. Sẽ hoài hơi khi cứ khăng khăng đòi phân loại ra môn ra khoai các sáng tác hậu hiện đại. Còn cuốn sách này đúng là thể tiểu thuyết, theo cách hiểu thông thường nhất. Nhưng nó là loại tiểu thuyết gì? Tìm hiểu này sẽ đưa tới nhiều hệ quả đẹp, xác định giá trị mở lối thông đường của 3.3.3.9 trên lộ trình văn học Việt Nam đương đại, nhất là văn học hậu hiện đại Việt Nam.
Khó có một cách gọi "chuẩn không cần chỉnh" cho loại tiểu thuyết của3.3.3.9! Chính tác giả Đặng Thân, về giọng điệu có lúc coi đây là "tiểu thuyết phúng dụ". Nhà văn Nguyễn Quang Lập, nhìn cấu trúc, thấy "nó vừa giống 'tiểu thuyết tư liệu' vừa không". Được biết với nhà thơ - dịch giả Dương Tường thì là "phi thể loại", với nhà lý luận Trần Ngọc Vương là "tiểu thuyết của học giả". Các mũ đàn hồi quen thuộc khác như "siêu tiểu thuyết", "tiểu thuyết thử nghiệm", "tiểu thuyết mở", "tiểu thuyết tư duy"... cũng thật tiện khi nhiều người đang đội lên đầu 3.3.3.9.
Xung quanh cái siêu, độ thử nghiệm và tính mở, đã có những ý kiến. Xét về chiều kích và độ đa tạp đề tài, nay có kiểu gọi khác, ra dáng toán học: tiểu thuyết cực đại. Và cũng có thể dùng - về hình thức - cách gọi của Bakhtin: tiểu thuyết đa thanh/tiểu thuyết phức điệu.
Xin cập nhật, Đặng Thân vừa tiết lộ: "Hiện nay tôi đang triển khai một cuốn tạm gọi là tiểu thuyết, nhưng thực ra là phi thể loại, không trường phái, có tên là Factum [a] Cave. Nếu ai cần xác định trường phái cho nó thì tôi xin tạm gọi là 'chủ nghĩa nguyên thủy' (có thể hiểu là: originalism/ primitivism/ cave-ism)." (Báo Sài Gòn Tiếp Thị, 24/12/2011).
Ba chương của "tiểu thuyết nguyên thủy" này đã được công bố. Vì Factum [a] Cave chưa hoàn thành, nhưng chính là vì để mỗi cái đầu của chúng ta lúc này không bị nổ tung ra, chúng tôi chưa bàn tới việc so sánh thể loại và thi pháp giữa hai cuốn tiểu thuyết 3.3.3.9 và Factum [a] Cave. Hẹn gặp lại!
Trở lại tên gọi "tiểu thuyết phúng dụ": Danh sách tác giả thành danh của dòng tiểu thuyết này trong văn học Việt Nam, từ nam chí bắc, từ ngày khai thiên lập địa tới nay chắc chưa vượt quá mười đầu ngón tay. Nếu như tiểu thuyết là trận chiến bằng tư tưởng nhân văn và hình tượng ngôn ngữ, làm phản tỉnh xã hội và thế giới, thì tiểu thuyết phúng dụ/hoạt kê là cuộc chiến không cần vũ khí sát thương. Dân tộc Việt có truyền thống "sống tốt" trong các cuộc chiến dựng nước và giữ nước, nhưng lịch sử cho thấy chúng ta "sống tồi" trong thời bình. Biết bao nhiêu nguyên do, trong đó chẳng lẽ không phải là vì công-nghiệp-văn-học-Việt thiếu vắng các máy-cái-tiểu-thuyết lấy tiếng cười là chủ điệu?
Được tôn cao đào sâu ở tiểu-thuyết-Đặng-Thân, chất hài trong văn chương Đặng Thân đến từ khá nhiều yếu tố mà giễu nhại hậu hiện đại là nét chủ. Mong sẽ có nhiều nghiên cứu về đặc điểm nghệ thuật này của tác giả 3.3.3.9trong cao vọng chuyển dạng cải hình cho tiểu thuyết Việt Nam, như GS Phong Lê vừa xướng lên tháng trước tại Hội thảo về cuốn "tiểu thuyết biếm họa" của nhà văn Đỗ Minh Tuấn: "(...) một hình hài của Đôn Kihôtê của Cervantes, một "Gacgăngchuya và Păngtagruyen" của Rabelais (...) Thời đại Phục Hưng khởi động bằng tiếng cười, chứ không phải bằng sầu bi, đời thường đâu. (...) Thời đại mới đòi hỏi một sự khởi động bằng tiếng cười."
Chúng tôi muốn có một gợi ý về cách-nói-trạng, động-thái-cuội của dân gian Việt đã được 3.3.3.9 sử dụng tối đa và hậu hiện đại hóa kỳ cùng. Đây chính "quốc hồn quốc túy"! Vũ Trọng Phụng là tác giả đã hiện đại cách-nói-trạng, động-thái-cuội Việt một cách điển hình và quái kiệt trong tiểu thuyết, phóng sự. Tự Lực Văn Đoàn có một hệ hình trạng-cuội rất hiệu quả, và chia đều ở rất nhiều bỉnh bút. Phải mất gần nửa thế kỷ sau, một tác giả đương đại là Trần Đăng Khoa, và vài năm mới đây thêm Nguyễn Quang Lập, đã thành tựu ở ký, chân dung, tản văn chính là nhờ giọng-hài-trạng, điệu-tiếu-cuội. Lượng-thông-tin của nghệ thuật Trần Đăng Khoa, nhất là của nghệ thuật Nguyễn Quang Lập, không có trọng lượng thông tin. Nhị vị "thành thần" là do thuật kể mẹo dẫn, trên hết cả là phong thái tự tin chân quê, là tình đắm đuối văn nghệ trong sự thẩm văn độc đáo. Văn chương Đặng Thân có hậu ý triết luận, tình chữ nghĩa tưng tửng, thẩm văn quái lạ là nhờ dòng-máu-phóng-dụ chảy từ đỉnh tóc đến gót chân!
3.3.3.9là một sáng tác có ý đồ văn chương rõ, chức năng thẩm mỹ chắc, độ mỹ văn sắc. Những gì, về hình thức, ngoài văn học (triết thuyết, lịch sử, tôn giáo, du lịch, khoa học...) đã được khu biệt sáng sủa về tư duy và bắt mắt về trình bày, nhằm hỗ trợ cho đích văn học. Khó có thể coi 3.3.3.9 thuộc vào kiểu loại cận-văn-học, hay là văn học mang tính báo chí, hoặc văn học đại chúng, phản-văn-học, v.v...
Gọi đấy là "tiểu thuyết đa văn bản" là chuẩn nhất về văn bản. Với mỗi loại văn bản, tác giả có ngôn ngữ trần thuật khác, bút pháp diễn đạt khác, nhất là điểm nhìn nghệ thuật khác nhưng cùng hướng về một quan niệm về thế giới và con người. Kết cục cái Thiện vẫn còn lại trong mỗi người, người Việt hay người Đức, với thế giới này với nước Việt này luôn phải chao đảo - thông điệp nhân bản quen thuộc đó chính là ngọn hải đăng; nhưng của riêng tác giả. Nó không hẳn lóe lên sau mỗi chương đoạn, khiến độc giả dễ chới với trong đại dương chữ 3.3.3.9.
Nhiều mặt đối lập với tiểu thuyết truyền thống mà không là phản-tiểu-thuyết, tiểu thuyết hậu hiện đại theo kiểu Đặng Thân 3.3.3.9 cũng tỏ ra ngược với các loại "tiểu thuyết dòng ý thức", "tiểu thuyết mới": Độc thoại nội tâm thuần túy là xa xỉ; Chống đồ vật là rất rách việc; Tiềm thức ư, có mà rỗi hơi; Giải trung tâm nên giải tán luôn trung tâm ý thức; Hợp lý và khoa học là tư chất của tác giả 3.3.3.9. Phi logic là phi-Đặng-Thân; Có chủ đề: không phải một mà 101; Có cốt chuyện, không chỉ một mà 5; Có nhân vật: 101 mạng chính phụ; Phi văn phong bất thành Đặng Thân; Tình tiết, sự kiện đẻ ra 3.3.3.9; Bảo vệ đến cùng thời gian - không gian vật lý; Thế giới quan này là phải có luận tưởng cụ thể, mời hiện tượng bề mặt đi chỗ khác chơi; Ngôn ngữ "dòng ý thức" (lệch ngữ pháp, loạn ý tứ, không viết hoa, chẳng chấm phảy...) không có đất sống; Cuối cùng, pha trộn thể loại thơ-văn xuôi, tùy bút-tự sự cũng là các trò xa lạ: ở đây thơ là thơ, văn là văn, hòa vào nhau nhưng không tan trong nhau.
Cuối cùng, xin có nhận xét gọn về một số ý, phần cụ thể của3.3.3.9:
+ Việt tính là một nỗi dày vò lớn của cuốn sách. Thực ra là nhân tính được dân tộc hóa, địa phương hóa: từ Mộng Hường, Schditt, Đặng Thân tới hàng loạt nhân vật phụ. Lạnh lùng và táo bạo, tác giả bảo vệ Việt tính bằng các ví dụ phản-Việt-tính. Trong chữ nghĩa, Đặng Thân là một người yêu dân tộc, yêu con người đến khổ sở. Một bảo đảm bằng vàng cho 3.3.3.9: quậy phá văn chương dàn trời, câu lời ngổ ngáo ngập đất tiểu-thuyết-Đặng-Thân vẫn là một sản phẩm đứng đắn.
+ Lối dùng các trích dẫn kinh viện, suy diễn vẻ khách quan của tác giả về học thuyết, tông giáo là thuật áp đặt không khoan nhượng; nhất biên đảo. Áp đảo bằng sự thông minh và tài bắt bẻ, bằng tư duy tinh quái và tốc độ dẫn truyện ào ào hơn thác đổ, bằng kết cấu thiên la địa võng của ngôn từ và văn bản... Giọng chính của tác phẩm là độc đoán, tác giả là Thượng đế, là kẻ biết tuốt. 3.3.3.9 còn giữ đặc điểm át chủ của phương pháp hiện đại và hiện thực, trong mục đích tải đạo lộ liễu.
+ Ngôn-ngữ-Đặng-Thân xứng đáng cho các khảo cứu nhà nghề. Hóm Bắc kỳ và bạo Nam kỳ; khi sâu sắc lúc nhạt phếch; vừa tri thức vừa cà nhây; khó chịu mà không buông được - tất cả dồn vào mục tiêu thuyết phục, dụ mị độc giả. Chất phản biện của tác phẩm cũng hiện rõ trong phản-tu-từ, chơi-xấu-chữ, đảo-điển-tích... Dưới mỗi con tự của Đặng Thân luôn có ít nhất một... cái hố!
+ Kỹ thuật gây cười hậu hiện đại dùng giễu nhại văn bản và tu từ vốn rất cực đoan. Đó cũng là một cản trở cho các độc giả bình thường quen nồng độ pha trò vừa phải. Làm sao có sáng tác hậu hiện đại được nếu tuân lệnh vua hềThời hiện đại Chaplin "Trò đùa phải chấm dứt khi nó thành công nhất"; hay theo phương châm cổ điển "Tiếng cười chỉ là muối của cuộc đời"? Không! Hậu hiện đại là đùa cợt, đùa cợt nữa, đùa cợt mãi! Hậu hiện đại là cả một tô canh muối, một dòng sông muối! Tiểu-thuyết-Đặng-Thân đã không là ngoại lệ.
+ Phần Lời bàn [phím...] của các netizen là một trong các độc đáo; dù nhiều tác giả khác cũng đã làm nhưng không triệt để và dằng dai như Đặng Thân. Trong thủ pháp trò chơi, đây như là phần mạo hiểm nhất. Cái hóm, cái lanh, mà trên cả là cái thiện, cái tâm của tác giả khiến phần Lời bàn cùng cả tập truyện vẫn trôi vào mắt độc giả. Quan trọng: Các netizen không sắm vai đồng tác giả, chỉ làm bình luận viên.
Chúng tôi đang muốn viết tiếp mà e không xuể, xin nêu ra như những gợi ý để chúng ta cùng nghiên cứu tiếp: So sánh vị trí và phong cách viết giữa Đặng Thân với Nguyễn Huy Thiệp (theo Đỗ Lai Thúy); So sánh kỹ thuật viết của Đặng Thân với Phạm Công Thiện, Nhật Chiêu...; Tính văn xuôi; Tính văn hóa đại chúng; Tính trò chơi; Chất hài hước; Chất tôn giáo; Chất "sex";Ngôn-ngữ-Đặng-Thân trong 3.3.3.9; v.v...
Ôi, rất nhiều điều về tiểu-thuyết-Đặng-Thân!
Đỗ Quyên
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Những tiếng nói mới


TRẦN TRIỀU LINH
Ngày nay, nghệ thuật không đưa ra những đối tượng có thể diễn tả rõ ràng, để đi đến những khoái cảm thẩm mỹ, mà nó hướng tới làm ra những sản phẩm không-thể-diễn-tả được.
Những tiếng nói mới
"Chiếc lá cuối cùng" của Phạm Huy Thông

Trước những khả thể diễn dịch đa dạng, trước những luật chơi mới, nghệ thuật đương đại không “khóc than” mà nó “reo mừng” (chữ của Bùi Văn Nam Sơn) trước vô vàn những phá vỡ các quy tắc, hướng sự thực hành nghệ thuật đi đến chỗ mà trước đây người ta không bao giờ có thể hiểu được vì sao chúng lại được gọi là nghệ thuật.

Với sự phát triển của khoa học công nghệ, thế giới trở nên nhỏ bé. Những dạng thực hành nghệ thuật của những không gian văn hóa khác nhau, tưởng như tách biệt nhau lại có cơ hội hòa nhập với nhau. Tư duy sáng tạo trong nghệ thuật Việt Nam đương đại ít nhiều đã mang dấu vết của những biến chuyển khủng khiếp của nghệ thuật thế giới. Tuy nhiên, nếu thử đối sánh về tư duy sáng tạo của văn học so với các loại hình nghệ thuật khác thì ở Việt Nam người ta thấy dường như văn học lại nhập cuộc chậm hơn. Hay nói đúng hơn sự thay đổi trong cách nhà văn nhìn thế giới ở Việt Nam đang diễn ra một cách chậm chạm, nhỏ lẻ, chưa thực sự làm nên những đợt sóng để thúc đẩy cho một sự thay đổi hệ hình trong văn chương. Trong khi đó thì dường như các lĩnh vực nghệ thuật khác lại đang có được những sự thay đổi lớn về cách thức thực hành nghệ thuật.

Đứng trước những bức tranh như thế này liệu bạn sẽ nói gì về những cảm nhận của bạn. Đó là tác phẩmChiếc lá cuối cùng của Phạm Huy Thông được trưng bày tại cuộc triển lãm Năng lượng cố đô vào đầu năm 2013 diễn ra tại Huế. Nếu bạn cho rằng đó là một tác phẩm đẹp vậy thì cái đẹp nằm ở đâu. Liệu câu nói “Cái đẹp cứu rỗi nhân loại” của Dostoiepski có trở nên bất ổn trước cách tổ chức hình tượng nghệ thuật này không? Hiện thực đã bị bóp méo, logic thông thường bị phản bội. Rõ ràng họa phẩm này không mô tả ngoại cảnh mặc dù nó dựa trên những họa tiết có từ thực tế. Nhưng với cách kết hợp các hình họa như thế này rõ ràng người họa sĩ muốn gây hấn với quan niệm về cái đẹp thông thường. Không có thế giới như ta thấy, một siêu thực tại được xác lập. Đây là sự gắn kết giữa hiện thực và thế giới của mơ tưởng, thế giới của những giấc mơ. Hình họa không hướng tới diễn tả đúng sự vật mà vượt ra ngoài sự kiểm soát của lý tính. Nó buộc chúng ta phải đối mặt với những rạn nứt trong mình. Chúng ta phải tưởng tượng, liên tưởng, chấp nhận sống trong sự xâm lấn lẫn nhau của thực tại và những giấc mơ. Tác phẩm này đang mở ra một cuộc sống thuộc về chính bản thân nó, không thể mô tả nó bằng ngôn ngữ bởi nó vượt ra ngoài các quy tắc hướng đến những xung đột và va chấn trong cảm xúc thẩm mỹ của người xem.
"Con gà" của Đặng Hoàng Anh

Còn đây là một hình ảnh được chụp lại từ tác phẩm Con gà của Đặng Hoàng Anh, thuộc nghệ thuật video art được trình chiếu trong một cuộc triển lãm tại Huế gần đây. Màu đỏ tràn ngập trên màn hình. Với một dung lượng thời gian rất ngắn tác phẩm này đã trưng ra nhiều vật thể khác nhau bằng nhiều góc nhìn khác nhau. Hình ảnh chủ đạo ở đây là cảnh giết thịt một con gà, đi liền với đó là sự va đập của nhiều tiếng động từ sinh hoạt đời thường. Những nhát cắt nhanh, gọn, những mảnh vỡ của thực tại được chộp bắt rồi trộn lẫn với nhau. Có thể từ sự trộn lẫn tưởng như ngẫu nhiên này, video art muốn đẩy đến một vài ý niệm nào đó chăng. Rõ ràng tác phẩm không phải dựa vào hình ảnh để triển khai cho một câu chuyện, không có tính chuyện, không có ai kể chuyện và các hình ảnh trong đoạn phim cũng không hướng tới một nội dung cụ thể. Chính dung lượng thời gian ngắn cộng thêm sự dồn dập của âm thanh nó gây nên một cảm giác tức thở, bất an ở người xem. Những cảm giác mà thị giác đưa lại khiến người xem rơi vào những trạng thái khác nhau, những trạng thái đó rất khó để diễn đạt bằng ngôn ngữ.

Chúng ta không thể có một cái nhìn duy lý với những tác phẩm nghệ thuật trên. Thực tại bị đánh mất. Chúng làm xô lệch quan niệm về cái đẹp. Đó là thế giới của tưởng tượng, thế giới bất thường nằm ngoài mọi quy luật, một thế giới bất tín nhận thức. Ở đó chúng ta không thể nhìn thấy sự thật trần trụi một cách hiển nhiên trong không gian và thời gian mà phải đi tìm cái không hiện hữu, cái nghiệm sinh của mỗi chúng ta. Nghệ thuật phơi bày những hoang tưởng, mơ tưởng, ảo giác...

Trong khi đó, nhìn trên diện rộng thì các nhà văn lại đang loay hoay trong nỗ lực bắt chước hiện thực. Các nhà văn trẻ nhìn chung vẫn xem hiện thực mình đang sống như một cứu cánh của sáng tạo. Họ đang đi tìm một câu chuyện để kể. Chuyện càng thực, càng cảm động thì được xem như càng thành công. Đương nhiên, sau đó họ trình ra một thứ hiện thực gượng ép, xơ cứng, thô ráp không hề có dấu vết của các cấp độ sáng tạo hay hướng tới những vén mở khác cho một cuộc sống khác. Và tất yếu, nhà văn luôn xa lạ với cảm thức, tâm thức của thời đại.

Tất nhiên không thể loại trừ những khai phá của một số nhà văn gần đây. Nếu đặt trong sự dịch chuyển của lịch sử văn học thì rõ ràng là các nhà văn đã có những nỗ lực nhất định trong quá trình làm mới chính mình. Họ đã có những cái khác đối với những người làm văn chương trước họ.
Một số tranh trên đĩa gốm của Nguyễn Huy Thiệp

Nguyễn Huy Thiệp có thể được xem là người mở đầu cho những cuộc đập phá và cũng chính ông là người mở đầu cho những vượt thoát của các nhà văn trẻ về sau. Người ta ngỡ ngàng khi Nguyễn Huy Thiệp trình làng Tướng về hưu, Không có vua... Có thể những va chấn, những đổ vỡ các thang giá trị, sự xuống cấp của đạo đức xã hội là điều có thật. Nhưng hầu hết các nhà văn cùng thời lẩn tránh điều đó, hay nói tới những điều đó bằng những ẩn dụ nhẹ nhàng hơn thì Nguyễn Huy Thiệp không lựa chọn cho mình con đường thỏa hiệp đó. Ngược lại, ông chơi trực diện, trực tiếp phanh phui những đảo lộn của mọi thứ giá trị, những giá trị đang đeo mặt nạ bị ông bóc trần một cách không thương xót. Nhưng đó là những đột phá trong việc dám chạm vào những đề tài gai góc, những mảng nội dung cấm kỵ chứ ông không phải là người khai sinh ra những kiểu dạng thực hành nghệ thuật khác biệt so với các nhà văn trước đó và những nhà văn trẻ hơn sau này. Đọc văn của Nguyễn Huy Thiệp người ta cảm thấy thế giới trở nên bất an, mọi giá trị về đạo đức bị đảo lộn. Cái khai phá của Nguyễn Huy Thiệp thực chất đang nằm ở mặt nội dung, tư tưởng chứ chưa phải là sự tìm kiếm những kiểu dạng tổ chức tác phẩm mang tính cách tân lớn về hình thức. Có thể hiểu thêm về tư duy sáng tạo của nhà văn này nếu chúng ta xem tranh vẽ của ông. Khi xem một số tranh trên gốm của Nguyễn Huy Thiệp vẽ V. Hugo, M. Gorki, Hemingway... thử hỏi rằng có giống với khuôn mặt thật của V. Hugo, M. Gorki, Hemingway không? Câu trả lời là có. Nguyễn Huy Thiệp đang vẽ làm sao cho giống với khuôn mặt thật của họ. Ở đây, Nguyễn Huy Thiệp đang triển khai những họa tiết dựa trên quan niệm nghệ thuật là sự mô phỏng. Nghệ thuật phải mô phỏng thế giới khách quan. Tiêu chí giống như thật phải là vấn đề cốt yếu. Đối với Plato và Aristotle, nghệ thuật là sự mô phỏng, mô phỏng là điều cần và đủ cho những kiểu dạng thực hành nào đó được gọi là nghệ thuật. Theo các triết gia này thì X là một nghệ phẩm khi và chỉ khi nó là sự mô phỏng.Và quan niệm này cũng đã chi phối đến thế giới ngôn từ của Nguyễn Huy Thiệp.

Từ các tác phẩm làm nên tên tuổi của ông như Tướng về hưu, Không có vua đến những tác phẩm về sau như Tuổi hai mươi yêu dấu, Gạ tình lấy điểm... đều rất giống với hiện thực cuộc sống. Vì thế đóng góp của Nguyễn Huy Thiệp cho văn học Việt Nam hiện đại không phải đến từ sự khai phá những kiểu dạng bút pháp mới mẻ hay tìm đến những khả thể hư cấu để mở ra những khả năng vô tận cho sự diễn dịch. Văn của ông luôn là sự mô phỏng hiện thực. Mặc dù người viết đã có ít nhiều hướng đến cái nghịch dị, huyễn ma nhưng đó có lẽ chưa phải là sự lựa chọn một cách chủ động của người viết dựa trên căn nền vững chắc của mỹ học và thi pháp huyền thoại. Nguyễn Huy Thiệp là nhà văn có nhiều sự đột phá. Nhưng đó là những đột phá trong việc dám chạm vào những đề tài gai góc, những mảng nội dung cấm kỵ chứ ông không phải là người khai sinh ra những kiểu dạng thực hành nghệ thuật khác biệt so với các nhà văn trước đó và những nhà văn trẻ hơn sau này.
 
Một tác phẩm hội họa của Bùi Giáng
Ngược lại khi chúng ta đứng trước một tác phẩm hội họa của Bùi Giáng thì có nhiều thứ đáng phải bàn hơn. Họa phẩm này của Bùi Giáng giống với một khách thể nào đấy không? Câu trả lời là: không. Mà ở trong ấy, cái được gọi là sự thật nằm ở đâu? Nhìn vào tranh của Bùi Giáng khó mà biết Trung Niên Thi Sĩ muốn nói gì. Tranh không hướng đến mô tả vật thể mà làm méo mó vật thể. Thậm chí đó là sự vỡ vụn của thế giới nội tâm. Chúng ta không thể nhìn thấy thế giới khách quan trong tranh Bùi Giáng. Có thể đó là những hình ảnh văng ra từ một giấc mơ nào đấy của chính nhà thơ ưa cà rỡn này? Đây rõ ràng là một kiểu dạng thực hành nghệ thuật khác biệt so với sự nhìn nhận về thế giới của những người bình thường. Trong thi ca Bùi Giáng viết: Tiếng nói xa vang trên đầu ngọn lúa/ Vì ngôn ngữ ngày kia em để úa... Cũng như tranh vẽ của ông, khó mà biết được ông muốn nói gì qua hai câu thơ đó. Thơ của Bùi Giáng là thế. Không hướng tới làm tấm gương phản ánh hiện thực. Hiện thực trong thơ ông là một kiểu dạng hiện thực được khai phá từ chính khả năng sáng tạo của ông. Ở đây ngôn ngữ tách ra khỏi sự vật, nó tự tìm kiếm một cuộc sống riêng, ngôn ngữ không chỉ sản sinh ra hình ảnh để tìm kiếm ý niệm mà ngôn ngữ tự thân khai sinh ra một đời sống khác. Tư duy sáng tạo của ông cũng vì thế mà khác với những người trước ông, sau ông cũng chưa thấy ai điên rực rỡ như thế. Thế giới của Bùi Giáng hướng tới chống diễn giải, vì thế ông là kẻ sáng tạo đã để lại cho hậu thế những kiểu lý giải dị biệt về thơ ông một cách tưng bừng.

Phạm Thị Hoài cũng là một trong số hiếm nhà văn Việt luôn nỗ lực trong việc tìm đến chân trời của cái khác. Lối viết của Phạm Thị Hoài làm người ta nhớ tới những khai mở của những tác gia thuộc về văn học phi lý như Kafka hay Camus. Có những sự tương đồng trong cách tổ chức hình tượng, ý tưởng, không gian, thậm chí là hành văn và cách xây dựng hình tượng nhân vật của Phạm Thị Hoài với văn học phi lý ở phương Tây. Phạm Thị Hoài hướng tới kiểu văn học ý niệm hơn là mãi mê mô phỏng thực tại. Đọc những tác phẩm như Thiên sứ, Chín bỏ làm mười, Mê lộ... của Phạm Thị Hoài, người đọc nhận thấy nhà văn này đã chủ động chơi với văn chương phi lý thực sự. Đó là sự tiếp thu tư tưởng và thi pháp của văn học phương Tây vào bối cảnh, không gian sáng tạo của Việt Nam. Và rõ ràng là Phạm Thị Hoài đã có những tác động cần thiết đối với văn học Việt Nam nói chung và các nhà văn trẻ sau này nói riêng trong việc suy tư thực sự về lối viết, ít nhiều vượt lên được cách viết cảm tính, tiểu nông.

Trong Thoạt kỳ thủy, một cuốn tiểu thuyết thăm dò vào vô thức, tiềm thức Nguyễn Bình Phương viết:

- Xích vào đây một tí cho ấm. Anh Tính biết không, ngày bé ấy, bao nhiêu lần anh làm em sợ hết hồn.

- Cắn công cống thích lắm.

- Bố anh còn gặm chén không?

- Mắt chó vàng như trăng.

- Em về đây!

Tính nuốt nước bọt:

- Dạo ấy nhà em cháy to nhỉ.

- Hiền gục đầu, tay bấu sâu vào cỏ…

Đó là một cuộc thoại giữa nhân vật Tính và nhân vật Hiền. Đối thoại này không hướng tới mục đích như một cuộc đối thoại thông thường mà đó là dạng thức của đối thoại rỗng. Đối thoại rỗng đẩy không gian đi vào bên trong, đẩy tính chất huyễn ma trở nên ám ảnh, đối thoại nhưng thật chất là độc thoại. Và ở đó mỗi người là một ốc đảo biền biệt cô đơn, không thể gắn kết và thực sự con người cũng không tham vọng gắn kết. Kiểu đối thoại này hầu như xuyên suốt tiểu thuyết Thoạt kỳ thủy. Thoạt kỳ thủy là một tiểu thuyết độc đáo vào dạng bậc nhất của văn học hiện đại Việt Nam. Trong đó cái thành công của Nguyễn Bình Phương là chủ động chơi với vô thức, chơi với biểu tượng. Sự va đập của biểu tượng như trăng, máu, giấc mơ... trong Thoạt kỳ thủy luôn hướng tới khai mở cho những kiểu nhìn khác về thực tại. Đó là sự chênh chao giữa những xung năng không được thỏa mãn với những ẩn ức sâu kín trong nội giới người. Thoạt kỳ thủy làm ta nhớ tới sự tìm về với nơi hoang dã, tìm về với khởi thủy, huyền thoại, thậm chí tác phẩm còn chạm vào thế giới hoang tưởng, siêu thực của nghệ thuật tiên phong.

Nếu đối sánh với những dạng thức kết cấu trong văn chương truyền thống, chúng ta sẽ thấy ngay rằngỞ lưng chừng nhìn xuống đám đông của Nguyễn Vĩnh Nguyên là tập truyện ngắn có những đột phá mới trong kết cấu. Trong sáng tác của Nguyễn Vĩnh Nguyên thì ý thức viết mới được thể hiện một cách rất rõ ràng. Đó là sự khác biệt bởi hành ngôn, hình tượng. Truyện Nguyễn Vĩnh Nguyên hướng đến kiểu dạng của truyện ngắn ý niệm chứ không dừng lại ở lối mô tả thông thường. Kết cấu lắp dựng trở thành phương thức nghệ thuật đắc dụng của Nguyễn Vĩnh Nguyên. Tính chất lắp ghép trước hết hiển lộ ngay trên bề mặt tác phẩm. Những tia chớp hay vệt truyện facebook là một truyện ngắn tiểu biểu cho kiểu kết cấu này. Tác giả chia truyện ngắn thành 14 đoạn (cũng có thể xem đó là 14 truyện chớp) được đánh số thứ tự, mỗi đoạn có một dung lượng khác nhau và nội dung mỗi đoạn cũng chuyển tải những ý tưởng khác nhau. Không có một sự nối kết nào giữa các đoạn, hay nói đúng hơn không có một phép tu từ nào xuất hiện để nối kết, nếu như có thì cũng là những kết nối ngầm ẩn. Tất cả sự hỗn mang đó tạo thành một chỉnh thể. Từ ý thức bội ước với những nguyên tắc tưởng như vững chắc trong văn chương truyền thống, Nguyễn Vĩnh Nguyên đã làm người đọc bối rối bởi những ý niệm sau văn chương của nhà văn này. Rõ ràng những ẩn dụ, ám dụ trong tập truyện Ở lưng chừng nhìn xuống đám đông thực sự đã chuyển tải được những gam màu khác, rất khác với những tác phẩm luôn trượt đi trên dòng thi pháp hiện thực của các nhà văn trẻ cùng thời.

Quyết liệt và cực đoan hơn tất cả là cách chơi của Đặng Thân. Không dám nói đến cái hay, ở đây chúng tôi muốn nhìn nhận ở một khía cạnh của cái khác biệt. 3339 [Những mảnh hồn trần] của Đặng Thân thực sự đã gây nên những chiều hướng khác nhau trong dư luận. Những thủ pháp của văn học Hậu hiện đại, của văn chương siêu hư cấu được nhà văn này triển khai một cách đậm đặc trong tiểu thuyết của mình. Có những người khen hết lời, nhưng cũng có những hoài nghi về giá trị của tác phẩm này. Nhưng trước hết người ta phải chấp nhận một điều là tác giả đã trình ra được một sự khác biệt hoàn toàn: khác biệt về cách quan niệm đối với thể loại, khác biệt trong cách tổ chức hình tượng, hành ngôn và đưa ra được một sự đọc khác biệt. Có thể nói lối chơi của Đăng Thân là lối chơi của người muốn gây hấn, phá phách. Nhiều người đòi hỏi một sự lịch duyệt nào đó chưa tới trong tác phẩm này nhưng đây vẫn sẽ là một tác phẩm chứa đựng nhiều cái khác biệt đối với cách viết tiểu thuyết trước đó ở Việt Nam. Nó làm người ta phải nghĩ đến cách họ quan niệm về cái hay, cái đẹp ở trong văn chương nghệ thuật.

PK, Hoàng Long, Phạm Vũ Văn Khoa, Tạ Xuân Hải,... là những nhà văn về sau đã quyết liệt và dũng cảm hơn trong ý thức viết ngắn. Truyện ngắn của họ là sự giản lược một cách tối đa tất cả những yếu tố cấu thành truyện ngắn. Họ đưa ra một sự xô lệch về thể loại. Đặc biệt là sự hòa trộn giữa tư duy và ngôn ngữ của thơ với văn xuôi. Nếu như thường thấy trong văn học ngôn ngữ là phương tiện để người viết bày tỏ ý tưởng và quan điểm về những vấn đề nào đấy mà anh ta quan tâm, nhưng trong những sáng tác của các nhà văn trẻ này thì ngôn ngữ không còn dừng lại ở việc chỉ là phương tiện của nghệ thuật, ngôn ngữ không hẳn chỉ là chỗ để nhà văn trình bày một ý niệm nào đó mà ngôn ngữ tự nó đã là đối tượng của chính bản thân nghệ thuật. Ý thức được sức mạnh của ngôn ngữ, các nhà văn về sau đã mở rộng được hiện thực, khơi mở những không gian tồn tại ngay bên trong ngôn ngữ, thông qua ngôn ngữ để tạo ra những vật thể giả tạo của văn chương hậu hiện đại.

T.T.L
(Nguồn: Sông Hương 299/01-14)
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Bài hát gửi mẹ kính yêu nhân ngày 8/3 [part 2]

Phần nhận xét hiển thị trên trang

"Dân tộc Việt là cả một khối tự phát khổng lồ !"

Vương Trí Nhàn

Dưới đây là những câu trả lời của tôi với một phóng viên trẻ  VietNam Net khoảng đầu 2008. Nhận thấy bài phỏng vấn có thể nhiều phần thích ứng với đời sống hôm nay, sau khi đã sửa chữa một vài câu, tôi muốn giới thiệu lại với đông đảo bạn đọc. 
Quá trình chuẩn bị bản thảo có một "trắc trở" vui vui. Lúc tragogle không thấy. Không biết tại tôi vụng tìm hay nó đã bị mạng gốc xóa? May mà có một mạng khác đã lấy lại ở địa chỉ sau.http://www.gosanh.vn/modules.php?name=News&op=viewst&sid=376
Hôm nay giới thiệu nó ở đây, tôi đặc biệt cảm ơn bạn phóng viên ký tên Hoàng Lê của VNN. Mặc dầu cả những câu trả lời và câu hỏi đã được tôi viết lại, song tất cả ý tưởng ra đời đều là nhờ cú hích ban đầu của Hoàng Lê. Nhờ sự gợi ý của bạn, tôi đã buột miệng ra được những ý tưởng mà trước đó tôi chỉ nghĩ lờ mờ.
Vào thời gian bài trả lời phỏng vấn xuất hiện, bọn viết văn thế hệ trước chúng tôi thường khá e dè đối với báo mạng. Khi nói với Hoàng Lê, chính tôi cũng không ngờ là các ý tưởng này được giữ lại toàn vẹn mà không bị làm cho tầm thường đi. Tôi hiểu là Hoàng Lê đã là người đầu tiên chia sẻ với các ý tưởng này và, cũng như tôi, muốn nó đến với bạn đọc ở cái dạng mà chúng tôi đã nói với nhau.



(VietNam Net) Soi rọi các hiện tượng xã hội dưới ánh sáng văn hóa - đó là công việc mà nhà văn, nhà nghiên cứu văn hóa Vương Trí Nhàn đang theo đuổi. Dưới đây là những chia sẻ của ông với phóng viên VietNamNet nhân một câu chuyện thời sự.

Người Việt duy tình, cạn nghĩ, ăn xổi
Suốt tuần nay, dư luận ầm ĩ xung quanh sự kiện một diễn viên trẻ bị đưa chuyện phòng the lên mạng. Từ góc độ một người nghiên cứu văn hóa, nhận định của ông về việc này ra sao?

Có hai hiện tượng để nhìn nhận.

Thứ nhất, việc tự quay phim ghi lại chuyện ân ái của mình, chứng tỏ một bộ phận lớp trẻ hiện nay có lối sống khá bế tắc, bất cần, muốn vượt ra ngoài các lề thói đạo đức thông thường.

Thứ hai, việc dư luận sôi sục lên trước sự kiện ấy, chứng tỏ chúng ta có một đám đông rất nhạy cảm, dễ bị kích động. Song tôi dự đoán, rồi cũng giống như một vài vụ trước, như vụ các cô dâu lấychồng Đài Loan, Hàn Quốc, nó chỉ là hiệu ứng lửa rơm sớm nở tối tàn.Lối sống thác loạn của một bộ phận giới trẻ không phải bây giờ mới có. Chờ nó được đưa ra sân chơi công cộng, mới nảy sinh "làn sóng" chú ý, mổ xẻ, lên án nó thì muộn quá rồi còn gì. Lẽ ra với một thái độ kiên trì và bình tĩnh, chúng ta phải mang ra bàn bạc từ lâu, vừa bàn vừa lắng nghe và chờ đợi. Cả buông xuôi lẫn nóng vội ở đây đều vô nghĩa, nếu không muốn nói là có hại.

Tức là, theo ông, hiện tượng dư luận ồn ào quá mức xung quanh một chuyện cá nhân là bất thường?

Không hẳn bất thường. Như người ta vẫn nói,cái nước mình nó thế. Từ thuở chỉ quanh quẩn trong các làng xã, chúng ta vẫn có lối phản ứng như vậy. Nó là một đặc điểm của tính cách người Việt.

Tôi nhớ, trong một bài báo gần đây, ông Trần Ngọc Thêm (nhà nghiên cứu văn hoá - PV) có nói: Đặc điểm tính cách người Tây là duy lý, người Tàu là duy ý chí còn người Việt là duy tình. Chữ tình, nói theo chữ của ông Thêm, là lối sống giàu tình cảm, trọng tình nghĩa của người Việt. Căn bản phải xem đó là một ưu điểm, một thế mạnh

Nhiều người cũng nghĩ như ông Thêm.

Phần tôi, tôi cho rằng chỉ nên nói đặc điểm người Việt là tính tự phát rất lớn, thường là những cơn xúc cảm bùng lên, song không trải qua những suy ngẫm nên sẽ qua đi nhanh.

Tức, tôi không coi duy tình là một niềm tự hào. Trái lại, nó dễ làm cho người ta thiên vị lầm lạc và không kiểm soát được hành vi của mình. Căn bản nó  cho thấy một trình độ sống còn thấp, ta phải tính để vượt lên một trình độ sống khác.

Cụ thể hơn, theo ông, "sự duy tình" có những điểm nào không đáng để tự hào?
Cả sự kém duy lý (vận dụng trí tuệ) và kém duy ý chí (sự thôi thúc của tham vọng) đều góp phần kìm hãm sự phát triển của chúng ta.

Yếu về  lý tính dẫn đến nông nổi, cạn nghĩ, và nhất là không biết sống, không tìm ra cách sống tối ưu. Kém ý chí dẫn đến ngắn hơi, ăn xổi. Cái gọi là duy tình ở đây đồng nghĩa với bột phát, tùy tiện, lúc thế này lúc thế khác, và thường không dẫn đến sự sáng suốt cùng những quyết sách hợp lý, -- điều tối cần trong xã hội hiện đại.

Như trong câu chuyện phần trên chúng ta vừa nói: cả các bạn trẻ hiện nay cũng sống truồi theo cảm hứng tự phát, không nghĩ đường xa. Mà dư luận cũng tự phát, ầm ĩ đấy rồi cũng bỏ qua ngay đấy.

Đằng sau nó là những nguyên nhân sâu xa...

Một khối tự phát khổng lồ
Vậy là, từ một hiện tượng ồn ào trong dư luận hiện nay, ông muốn đi tới những khái quát đúng cho cả chiều dài  lịch sử. Liệu có gượng ép quá không?

Tôi không ngại, miễn là chúng ta cùng lắng nghe nhau một chút.

Hơn nữa, liệu cách nhìn nhận của ông về cốt cách sống của dân mình quá cực đoan và khắt khe? Người Việt xưa nay vẫn tự hào là một dân tộc hiếu học, thông minh và có sức chịu đựng, bền bỉ?

Các phương tiện truyền thông và cả bản thân chúng ta vẫn thường tự ve vuốt mình bằng những nhận định như mấy chữ bạn đã dùng.

Còn tôi, sau một giai đoạn nghiên cứu về văn hoá và tính cách Việt, tôi mạnh dạn sử dụng hình ảnh “một khối tự phát khổng lồ".

Nói vậy có thể gây tự ái cho ai đó và có thể gây tranh cãi. Ngay như bản thân tôi, cũng đã nhiều lần tự tìm cách phủ định nó, nhưng hiện tại tôi vẫn chưa tìm ra được dẫn chứng phủ định thuyết phục.

Người Việt ít đặt vấn đề dụng công nghiên cứu cái gì cho sâu, cho kỹ. Chúng ta tự cho phép sống theo thói quen, nếu như có nói đến các lý thuyết, các định hướng nọ kia thì chủ yếu là đi thừa hưởng các kết quả nghiên cứu từ các dân tộc khác. Thêm nữa, chỉ treo lý thuyết lên gọi là có, chứ vẫn sống theo cách của mình.

Tôi ví dụ, đơn giản nhất là trong đời sống tôn giáo. Với đạo Phật, chúng ta hiểu biết lơ mơ. Về tất cả các lý thuyết, hầu như không nghiên cứu gì cả, chỉ toàn là truyền miệng với nhau, trong tu thì chỉ "thiền", "ngộ", tức là ngồi để tự nhiên nghĩ ra cái gì đấy.

Tôi nghĩ lối sống này làm nghèo chúng ta đi, từ sự trống vắng, kết quả thu được cũng chẳng gì hơn cũng là trống vắng. Trong khi ấy, thử so sánh, người Trung Quốc có không biết bao nhiêu pho kinh, chẳng hạn như ông Huyền Trang sang tận Ấn Độ lấy về, dịch ra, họ đã mang lại cho đạo Phật một sức sống mới.

Bàn một chút về đặc điểm tính cách dân tộc. Theo ông, có những nguyên nhân nào tác động đến điều này?

Khi nhìn vào những ngổn ngang trong đời sống trước mắt, nhiều người có ý cho rằng đó là bởi các lý thuyết này khác mà chúng ta theo đuổi, chẳng hạn lý tưởng cộng sản... . Tôi thì lại thấy những nguyên nhân sâu xa cơ bản là nằm trong cái cốt cách mà dân tộc đã hình thành trong lịch sử. Chính nó quyết định việc ta đi theo một lý thuyết nào đó, nhất là có cách  thực hiện lý thuyết ấy theo lối riêng của mình

Hiểu rõ nguồn gốc dân tộc, sự hình thành của dân tộc mình là một trong những cách để nhận chân lại mình.
Lấy một ví dụ:

Theo thuyết địa lý- nhân văn: mỗi khu vực địa lý tạo ra một giống người với đặc điểm riêng của họ. 
Nói một cách thô thiển nhất thì như thế này
Chúng ta là người xứ nóng, vùng nhiệt đới được thiên nhiên ưu đãi, nên một mặt dễ sống, một mặt khác, nó tạo cho ta tính dễ dãi.
Người xứ nóng thường có cuộc sống đơn giản. Trước đây, thời các cụ, chẳng cần có quần áo cũng tồn tại được. Ngay trước Cách mạng tháng Tám, dân ta còn rất nhiều người đi chân đất.

Trong khi đó, người xứ lạnh, thời tiết khắc nghiệt đòi hỏi họ phải chuẩn bị cho cuộc sống cẩn thận hơn. Ngay từ ngôi nhà, đến ăn mặc phải bền chắc hơn, có sức chịu đựng hơn... Tất cả những điều này ảnh hưởng một cách vô thức đến tính cách dân tộc.

Tự bộc lộ trong chiến tranh
Sau những nguyên nhân ban đầu ấy, mọi chuyện đã phát triển ra sao?

Một công cụ để một dân tộc nào đó tư duy, là chữ viết. Việc không hình thành cho được một thứ chữ viết riêng mang lại cho chúng ta rất nhiều hạn chế. Sự phát triển của trí tuệ Việt bị kìm hãm. Chính nó khuyếch đại thêm cái khía cạnh nông nổi tự phát mà chúng ta nói từ đầu.

 Sau thời trung đại dùng chữ Hán sau này, đến khi bước vào thế giới hiện đại ta lại dùng chữ hệ Latinh. Lâu nay người ta chỉ thích nhấn mạnh rằng chữ Latinh góp phần thúc đẩy xã hội tiến tới. Tôi cũng thấy thế, nhưng lưu ý thêm chữ quốc ngữ càng làm cho chúng ta cẩu thả trong nói và viết. Nếp tư duy hời hợt lan rộng.

Việt Nam, xét trong lịch sử, là một nước trải qua khá nhiều các cuộc chiến tranh. Yếu tố này có góp phần ảnh hưởng đến cái gọi là tính cách dân tộc không, theo ông?

Tất nhiên rồi. Trên nét lớn, chiến tranh ở ta còn để lại dấu vết nặng nề và càng lảng tránh nó, chúng ta càng bị nó ám.

Không cần có kinh nghiệm nhiều thì người ta cũng có thể biết chiến tranh là tình trạng ăn xổi, ở thì, lúc đó, trong khi sống với những mơ tưởng xa vời, thực tế là người ta lại chả biết rõ ràng ngày mai của mình như thế nào.

Cụ thể hơn, hai cuộc chiến lớn của dân tộc trong thế kỷ vừa qua, để lại dấu ấn như thế nào trong đời sống tinh thần người Việt?

Chuyện lớn quá, cho phép tôi chỉ nói một điểm có tính cách xuất phát: phải nói chính ra chiến tranh nuôi dưỡng ảo tưởng. Ta không biết rõ ta đã trở nên như thế nào. Ta tưởng rằng, sau chiến tranh, mình còn nguyên vẹn, nhưng thực ra mình đã mất mát rất nhiều. Nhìn vào nhiều mặt đời sống, tôi cảm thấy so với trước chiến tranh, có một bước lùi. Con người ít tham vọng hơn, dễ dãi với mình hơn mà lại buông thả hơn.

Phải ông đang thiên kiến và liều lĩnh quá ? Có nhiều ý kiến cho rằng, chính cuộc chiến này đã khơi dậy, đánh thức được tiềm năng của các thế hệ?

Tôi cho rằng, nhận định đó là đúng nhưng chưa đủ, khi nói vậy chúng ta chỉ nói được một mặt của vấn đề. Cuộc kháng chiến chống Pháp còn vừa sức với dân tộc ta. 

Còn cuộc chiến chống Mỹ ư? Với tư cách một người vừa lớn lên thì bước vào chiến tranh, tôi muốn nói rằng nó to lớn vĩ đại, nó kinh khủng quá, nó hút hết sức lực của cộng đồng. Chiến tranh ở ta như việc một người nhỏ bé phải đối mặt với một thách thức quá sức. Vẫn làm được đấy, nhưng sau đó nó làm ta đau ốm bệnh tật không còn là mình. Tối thiểu là sẽ mệt mỏi, một sự mệt mỏi kéo dài cho đến hôm nay.
Việc nghiên cứu tính chất của xã hội hậu chiến ở ta ít được xem trọng. Nhưng nếu trở lại với lịch sử,  đọc kỹ sách vở để  nhìn rõ thực trạng đất nước sau chiến thắng quân Nguyên, quân Mông ...thì sẽ hiểu ngay.


Cả việc lớp trẻ lao đầu vào cuộc hưởng thụ lẫn một dư luận xốc nổi, khi quá khắt khe khi quá dễ dãi, tức là một đời sống tinh thần sa đọa, câu chuyện mà chúng ta nói từ đầu đến giờ, cũng là hiện tượng thường thấy ở các xã hội hậu chiến đó.


Tóm lại chính chiến tranh càng thúc đẩy chất tự phát trong sự phát triển dân tộc suốt từ 1945 tới nay?

Làm sao mà khác được! 

Hoàng Lê (thực hiện)
Phần nhận xét hiển thị trên trang