Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Bảy, 28 tháng 2, 2015

Cả tin và mê muội hơn là TÍN NGƯỠNG!

​Bi kịch tín ngưỡng của người Việt

TT - Trong tín ngưỡng mà trục lợi thì không còn là tín ngưỡng. Nhưng đó là thực trạng của nhiều lễ hội năm nay.
                        
Người dân giẫm đạp lên nhau để mua ấn đền Trần năm 2013 - Ảnh: Nguyễn Khánh 
Năm nào cũng vậy, vào mùa lễ hội dịp đầu xuân là nảy sinh biết bao hiện tượng tiêu cực, từ bạo lực đến nhét tiền lẻ vào tay tượng Phật, đánh nhau hỗn loạn để tranh cướp ấn cướp lộc... Một trong những nguyên nhân của thực trạng nhiễu loạn ấy là do lễ hội hiện nay đang nhuốm màu trục lợi.
Có năm, lãnh đạo TP Nam Định cho biết riêng lễ hội đền Trần đã thu được 14 tỉ đồng. Sau đó, số tiền ấy được sử dụng như thế nào tôi không biết, nhưng nó biến lễ hội đó thành một lễ hội trục lợi
Không dễ từ bỏ mối lợi hàng chục tỉ đồng
Tính vụ lợi trong lễ hội hiện nay đến từ cả hai phía là người tổ chức và người tham dự lễ hội. Hiện tượng này phổ biến trên khắp đất nước. Vào mùa lễ hội hay thậm chí là quanh năm, các đền, phủ luôn cố gắng phải “thu hoạch” được càng nhiều càng tốt.
Các két sắt công đức (bây giờ không còn là hòm công đức nữa mà hầu như đã được thay bằng két sắt công đức) được dựng khắp nơi. Các cơ sở tổ chức lễ hội tìm đủ mọi cách để móc túi người dân, trong khi họ lại không tổ chức được cách tiếp nhận tiền công đức của người dân một cách trân trọng.
Cả người tổ chức và người đến dự lễ hội đều coi thường, rẻ rúng, sẵn sàng chà đạp lên những đồng tiền lẻ.
Tôi đã có lần làm việc với đền Sòng và được biết một năm sau khi thanh toán tất cả các khoản chi phí, nhà đền còn nộp cho ngân sách của huyện Bỉm Sơn (Thanh Hóa) 12 tỉ đồng. Nhưng nếu so sánh thì đền Sòng vẫn chưa bằng hội Phủ Dầy và đền Trần Nam Định.
Trở lại câu chuyện tranh cướp hỗn loạn để mua ấn ở đền Trần đã được nói rất nhiều trong những năm qua, bản thân tôi là một người Nam Định rất xấu hổ về chuyện đó và luôn hi vọng người dân cùng cơ quan quản lý nhà nước sẽ khắc phục được.
Xưa kia, đây là lễ hội tôn vinh, tái hiện một thời kỳ rất huy hoàng trong lịch sử dân tộc chúng ta là thời đại nhà Trần, nhưng bây giờ chúng ta đã biến thành một lễ hội mà ai cũng biết là để “mua - bán ấn”. Lễ hội nhuốm màu của trục lợi từ hành vi cơ bản đó.
Trong đó cả người tổ chức, quản lý và người tham dự lễ hội đều quá chú trọng đến việc bán và xin ấn. Người dân trong vùng cũng vụ lợi từ số tiền thu được bằng những dịch vụ ăn theo.
Nếu được hỏi sẽ không ai bảo đó là “mua - bán ấn”, nhưng thực tế chắc chắn không có ai lấy được một tờ ấn mà không phải trả một số tiền nhất định.
Có năm, lãnh đạo TP Nam Định cho biết riêng lễ hội đền Trần đã thu được 14 tỉ đồng. Sau đó, số tiền ấy được sử dụng như thế nào tôi không biết, nhưng nó biến lễ hội đó thành một lễ hội trục lợi. Và đương nhiên không ai dễ từ bỏ một mối lợi hàng chục tỉ đồng như vậy.
“Đút lót” cả thần linh
Đời sống tâm linh là sự phản ánh đời sống xã hội. Xã hội ra sao thì đời sống tín ngưỡng cũng như vậy. Ở ngoài xã hội thì người dân có thói quen đưa tiền hối lộ tận tay những người giúp đỡ họ.
Nên khi đến đền, chùa họ mang theo quan niệm ấy và phải nhét tiền tận tay thần linh chứ không bỏ tiền vào hòm công đức, có lẽ vì bây giờ họ không tin số tiền họ bỏ vào hòm công đức sẽ đến được với thần linh.
Nếu nói theo ngôn ngữ trần tục thì đó là “đút lót” thần linh, cũng như ngoài xã hội họ “đút lót” cho cán bộ, công chức.
Hành động này không chỉ vô văn hóa, phản tín ngưỡng mà còn rất phản cảm về tư cách công dân không lành mạnh. Đồng tiền của đất nước mình dù mệnh giá nhỏ nhưng cũng rất thiêng liêng. Vậy mà cả người đi lễ hội và người tổ chức lễ hội đều không e ngại chà đạp lên những đồng tiền của quốc gia.
Khi không gian lễ hội không còn tính thiêng nữa thì tính bạo lực trong lễ hội gia tăng là điều tất yếu. Điển hình là việc các thanh niên cầm gậy đánh nhau tại hội Gióng (Sóc Sơn, Hà Nội). Bây giờ, người VN “lao vào đời sống tín ngưỡng” như con thiêu thân.
Nhưng bi kịch là họ không biết đến chỗ nào để xin cái gì, thậm chí không tìm hiểu xem nơi đó thờ ai, có ý nghĩa, lịch sử như thế nào. Trong đời sống tín ngưỡng, ngoài tâm thế thanh sạch còn phải có kiến thức.
Tình trạng lễ hội hỗn loạn hiện nay còn có nguyên nhân do lịch sử để lại, đó là có một thời kỳ dài chúng ta không thừa nhận tín ngưỡng, đã xóa sạch mọi lề lối trong đời sống tín ngưỡng xưa kia mà ông cha để lại.
Sự đứt gãy trong lịch sử tín ngưỡng người Việt đã để lại hậu quả đến tận bây giờ là người VN rất thiếu kiến thức về tín ngưỡng, nên mới gây ra sự hỗn loạn và xung đột trong lễ hội. Không chỉ người dân mà ngay cả một số quan chức văn hóa hiện nay cũng không có kiến thức về tín ngưỡng.
Để giải quyết bài toán khó này, Bộ VH-TT&DL phải có một chiến lược lâu dài, có thể 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn để tuyên truyền, giáo dục, đưa lại cho người dân những hiểu biết về tín ngưỡng. Khi người dân có kiến thức về tín ngưỡng thì họ sẽ tự điều chỉnh hành vi cho phù hợp với lề lối.
Đồng thời, chính quyền cần phải trả lễ hội về cho người dân tự tổ chức, quản lý. Đây là nguyên tắc về văn hóa đã được UNESCO thừa nhận, vì người dân chính là chủ thể văn hóa.
Nhưng do người dân bao nhiêu năm đã đánh mất những kiến thức tín ngưỡng họ đã có, nên các nhà khoa học, nhà quản lý văn hóa phải có trách nhiệm hướng dẫn, cung cấp kiến thức tín ngưỡng cho họ.
TP.HCM giảm tần suất tổ chức lễ hội
Đó là chỉ đạo mới đây của UBND TP.HCM đối với các sở ngành, UBND quận huyện và các tổ chức đoàn thể nhằm đảm bảo việc tổ chức lễ hội, ngày hội tiết kiệm, hiệu quả, tránh phô trương lãng phí, phù hợp với truyền thống văn hóa của dân tộc. Theo đó, sẽ giảm tần suất tổ chức lễ hội, ngày hội, nhất là những lễ hội có quy mô lớn.
Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị nói trên sẽ chịu trách nhiệm báo cáo về kế hoạch, chương trình, nội dung, quy mô, tần suất, thời gian tổ chức lễ hội, ngày hội. Hạn chế tối đa việc sử dụng ngân sách tổ chức lễ hội, ngày hội.
Về quản lý, sử dụng, lưu thông tiền tệ, đặc biệt tại các di tích, công trình tín ngưỡng, tôn giáo, nơi tổ chức lễ hội: quản lý việc đặt tiền lễ, tiền giọt dầu bảo đảm văn minh, tiết kiệm, hợp lý.
Nghiêm cấm hoạt động đổi tiền lẻ hưởng phí chênh lệch, đặc biệt là trong khuôn viên di tích và lễ hội. Việc tu bổ, tôn tạo di tích; cung tiến, tiếp nhận đồ cung tiến vào di tích, công trình tín ngưỡng, tôn giáo phải được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.
MAI HOA
















































































































































Phần nhận xét hiển thị trên trang

cHƯA LÀM ĐƯỢC GÌ THÌ..LÀM THƠ!


KHÔNG

Rừng xưa lặng tiếng chim kêu
Lâu lâu chích chích
chim sâu dưới cành
Suối không muốn chảy
một mình
Gió khô
khô cả chút tình
mới hoa

Ngẩn ngừ ta đợi
mình ta
Run run tay nắng
mây xa cuối nguồn
Ai cùng ta
đốt nỗi buồn
Gửi mây cho gió
gửi hồn cho mơ..

Dở dang như dại
như khờ
Cuốc vào mặt đất
ươm thơ lỡ mùa..
Người ta hát!
người ta hò!
Sao ta vương mãi con đò

bến Không?
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Cuộc truy tìm nguồn gốc người Việt lần thứ ba.


Hồ Trung Tú

Mặc sự công nhận chính thức về cội nguồn người Việt của giới khoa học chính thống, cuộc truy tìm nguồn gốc người Việt của các nhà nghiên cứu nghiệp dư vẫn lặng lẽ và đang ngày càng tỏ ra quyết liệt với những quan điểm mới, nhiều khi cực đoan, nhưng không phải không có lý, và tất cả hé lộ cho thấy quả thật còn rất nhiều chuyện phải làm trong định nghĩa thế nào là nguồn gốc người Việt.

Truy tìm nguồn gốc người Việt ngỡ như đã xong bỗng gần đây được xới lên, nhất là trên không gian mạng, nơi có điều kiện bày tỏ quan điểm một cách khá bình đẳng, không phân biệt là chuyên gia hay người bình thường, giáo sư, tiến sĩ sử học hoặc là sinh viên học sinh yêu môn sử. Theo dõi những cuộc trao đổi này chúng tôi chợt nhận ra vẫn còn những câu hỏi vô cùng lớn về nguồn gốc người Việt chưa được giải đáp.



Tóm tắt vấn đề như sau (Xin chỉ nêu tên tác giả mà không dẫn nguồn vì sẽ rất dài, ai quan tâm có thể dễ dàng truy tìm qua vài từ khóa tìm kiếm trên mạng):

- Quan điểm chính thống của giới sử học hiện này thì người Việt là người bản địa, chủ nhân của nền văn hoá Đông Sơn và phát triển xuyên suốt từ đó đến nay trên địa bàn nước Việt Nam nay, đã nhận nhiều tác động từ bên ngoài, đã có nhiều biến đổi, đã tập hợp thêm nhiều nhóm dân tộc khác vào cộng đồng nói tiếng Việt, và đã trở thành một khối thống nhất không thể tách rời, với một lịch sử đã được nghiên cứu hầu như đã đầy đủ và rõ nét.

Tuy vậy, sự mạnh mẽ và quan phương của quan điểm này vẫn không ngăn nhiều người nêu ra những câu hỏi nghi hoặc về cội nguồn nếu không thể kết nối được nó với dân tộc anh em nào khác nữa, xa hơn về trước. Tại sao các dân tộc, Thái, Mường, Tày, Nùng, Hơ Mông, Mèo, Dao.... đều tìm thấy người anh em của họ ở ngoài biên giới của bất kể nước nào trong khu vực, cớ sao người Việt lại không tìm thấy anh em nào của mình ở trên các nước khác ? Liệu đó có phải là hệ quả của một sự hình thành cộng đồng Việt rất muộn, tức Việt mới, do tổng hợp từ nhiều nguồn dân tộc khác nhau, và điều này xảy ra trong giai đoạn ngàn năm Bắc thuộc hoặc thậm chí muộn hơn nữa, thế kỷ 13, 14 ? (Các nhóm người Việt, gọi là người Kinh, ở Quảng Đông Quảng Tây Trung Quốc nay đều là những di dân Việt vào các thế kỷ gần đây).

- Từ giữa thế kỷ 20 về trước, dựa trên các tư liệu huyền sử như Lạc Long Quân - Âu Cơ, Triệu Đà, An Dương Vương và nhất là 18 đời vua Hùng, nhiều tác giả cho rằng người Việt có nguồn gốc từ phương Bắc, gốc từ các tộc người Hán di cư về châu thổ sông Hồng và tạo nên tộc người Việt như ta thấy trong sử liệu chính thức. Đại diện cho quan điểm này là nhà nghiên cứu Linh mục Nguyễn Phương, GS Đào Duy Anh...

- Gần với quan niệm này thì cho rằng người Việt nay là cùng trong nhóm cộng đồng Bách Việt vốn phát triển khá rực rỡ ở phíaNam sông Dương Tử Trung Quốc. Người Hán khi tiến vào Hoa Hạ đã tiếp thu rồi nâng cao rất nhiều từ nền văn minh này. Trong thời nhà Đường nhiều nhóm người Việt (thuocj Bách Việt) đã hoàn toàn nhập vào với văn hoá Hán và trở thành một phần của nước Trung Hoa 1,4 tỉ dân hiện nay. Riêng nhóm Việt ở Phú Thọ - Mê Linh tuy cũng bị 1.000 năm cai trị của các triều đại Trung Hoa nhưng vì một lý do nào đó vẫn giữ được ý thức dân tộc và đến Ngô Quyền thì giành được độc lập, giữ được nền độc lập đó cho đến tận nay. Và có thể nói cộng đồng Việt thuộc An Nam là đại diện xuất sắc và điển hình nhất của cộng đồng Bách Việt này. Đại diện cho quan điểm này là Lê Mạnh Thát, Hà Văn Thùy, Nguyễn Đức Tố Lưu...

- Tác giả Phan Duy Kha và các bạn hữu thì nêu ra cội nguồn người Việt nào đó ở về phía nam, vùng núi khu bốn cũ, từ Vinh đến Hà Tĩnh, đã tiến ra vùng Việt trì Phú Thọ để tạo nên văn hóa Đông Sơn rồi sau đó trở lại nâng cao và sát nhập vùng khu bốn vào Việt (hậu).

- Bình Nguyên Lộc một mình vạch ra một hướng tiếp cận khác, ông đưa ra nhiều bằng chứng và quan trọng nhất là với vốn từ vựng đang có thì người Việt phải có nguồn gốc từ Mã Lai Đa Đảo, tức cộng đồng các tộc người hiện đang sống ở các nước như  Malaisia, Indonesia, Philippines, Nam Thái Lan, và dĩ nhiên, Việt Nam.  Chỉ vì tiếp thu một phần ngôn ngữ văn hoá của người Hán trong ngàn năm Bắc thuộc mà người Việt đã trở thành xa cách với cội nguồn Mã Lai của mình. Quan điểm của Bình Nguyên Lộc mặc dù đã được giới nghiên cứu chỉ ra nhiều thiếu sót thế nhưng vẫn chưa có câu trả lời đầy đủ về lý do vốn từ vựng to lớn có nguồn gốc Mã Lai trong vốn từ của người Việt (Việc cùng nguồn gốc ngữ hệ Nam Á không trả lời được hết các ví dụ BNL nêu ra).

Ý kiến bán đầu của GS Liam Kelley trên trang Facebook của ông

- Gần đây, GS Liam Kelley đại học Hawaii, Hoa Kỳ, đã xới lại vấn đề nghi ngờ cội nguồn phương Bắc, và cả cội nguồn bản địa (với những vua Hùng, An Dương Vương, thậm chí cả Bà Trưng) của người Việt, cũng không thiên về cội nguồn Mã Lai như Bình Nguyên Lộc. Người Việt là ai thì Liam Kelley chưa nêu câu trả lời, nhưng ông đang chứng minh ngày càng rõ nét, rằng những thứ mà ta tự hào và tin rằng nó vốn của người Việt từ lâu nay thì thật ra đều là của người Thái, như các truyền thuyết về vua Hùng, trống đồng, bà Trưng, rất nhiều chuyện cổ như Sơn Tinh Thủy Tinh, Kinh Dương Vương, trầu cau... Vài ví dụ: Người Thái ở phía Nam Trung Quốc vẫn đang dùng trống đồng và cái khèn nhạc cụ, thứ có trên trống đồng, trong khi người Việt thì hoàn toàn không còn biết đến hai loại nhạc cụ này từ rất lâu rồi. Người Việt là người Thái quên gốc gác hay thực sự là một dân cư khác đến chiếm lĩnh vùng đất này? Hay sự hình thành do tổng hòa văn hoá và ngôn ngữ của các cư dân cùng chung sống ở châu thổ sông Hồng ?

Vậy thì người Việt từ đâu mà có ? Câu trả lời chưa rõ nét, nhưng rõ ràng vấn đề đang được đặt lại một lý thú và khoa học hơn. Nếu sự hình dung nguồn gốc của người Việt thời Pháp thuộc là cuộc truy tìm nguồn gốc người Việt lần thứ nhất và vẫn được kế thừa, phát triển đến hiện nay; thì cuộc truy tìm lần thứ hai của những nhà nghiên cứu sử học nghiệp dư như Bình Nguyên Lộc, Nguyễn Phương, Cng Đình Thanh, Hà Văn Thùy đã cho thấy vấn đề cần phải được nhìn rộng hơn ở ngoài biên giới nước Việt nay, thậm chí phương pháp nhân chủng, đo sọ, di truyền cũng đã được sử dụng để tìm nguồn gốc người Việt. Và đến nay, cuộc đặt lại vấn đề nguồn gốc người Việt lần thứ 3 đã hình như được bắt đầu, thuận lợi của lần này là sự công bố và các ý kiến phản biện đều được thể hiện rất nhanh chóng, như tất cả đều đang ở trong một nhà, và mọi ý kiến đều có thể trao đổi và được tranh luận ngay khi nó được phát biểu. Đặc điểm của lần này chính là sự tham gia của các quan điểm nhân học hiện đại, nhắm đến mục tiêu sự dịch chuyển của các tộc người chứ không hề còn là cuộc tiềm kiếm một cội gốc đơn tuyến nào. Việc tìm kiếm một cội gốc đơn tuyến thuần nhất, xuyên suốt từ cổ đại đến nay như Tạ Đức trong cuốn “Nguồn gốc người Việt - người Mường” vừa xuất bản năm 2014 ngay lập tức đã tỏ ra không thuyết phục mặc dù công trình là khá dày dặn.


Chúng ta hãy chờ xem, đây là cuộc thảo luận khoa học rõ ràng là lý thú và khá hấp dẫn. Nhiều tranh luận gay gắt đã được thể hiện. Tác giả bài viết này cũng bạn hữu hiện cũng đang ấp ủ những hướng tìm kiếm mới, hy cuộc tìm kiếm này sẽ mở vấn đề ra đa diện nhiều chiều với những phương pháp tiếp cận mới thỏa mãn được mọi nỗi băn khoăn về cội nguồn nhưng lại không đẩy chúng ta rơi vào những suy nghĩ cực đoan về một thứ chủ nghĩa dân tộc thượng đẳng, thông minh rất cực đoan, nhưng cũng đã chớm hình thành đâu đó trong suy nghĩ nhiều người.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Mấy điều vân vi khi nhớ lại một lời ai điếu vay mượn


Vương Trí Nhàn
Theo Blog Vương Trí Nhàn
Hồi tướng Giáp qua đời, giáo sư Vũ Khiêu có mấy câu khóc thảm thiết bằng văn chương, khiến nhiều người cảm động, trong đó có đoạn:
“Sinh ra tôi là cha mẹ, hiểu biết tôi lại là anh. Tấm lòng tri ngộ ấy tôi biết lấy gì báo đáp? Mấy hôm nay tôi ngồi khóc viết mấy lời trên, từ đỉnh trời cao anh có thấu hiểu lòng tôi?”
Không hiểu sao lúc ấy tôi đọc đã ngờ ngợ, hình như cách nói này mình đã được nghe ở đâu đó.
Cho tới mấy hôm đi lục sách báo cũ ở Sài Gòn, thấy có cuốn Thành ngữ điển tích của Diên Hương, nhxb Tổng Hợp Đồng Tháp 1992, trong đó ở mục TRI KỶ có ghi lại mối tình bạn giữa hai nhân vật thời Đông Chu bên Tầu là Bão Thúc Nha và Quản Trọng.
Bão Thúc Nha là người từ nhỏ đã buôn chung với Quản Trọng sau lại là người giúp Quản Trọng rất nhiều trên đường công danh.
Tổng kết lại, Quản Trọng bảo “Cho nên ta biết rằng sinh ra ta là cha mẹ ta, còn biết ta là Bão Tử mà thôi”.
Lúc lên mạng, ở mục Quản Trọng và Bão Thúc Nha, thấy các bài đều có ghi lại mẩu chuyện trên và cái câu nói có cánh dẫn trên. Đây là một địa chỉ:
Nhìn sự việc dưới góc độ lịch sử văn hóa
Xin phép được bình luận thêm
1/ Đầu tiên tôi chỉ nghĩ cụ giáo sư gần trăm tuổi khinh bọn hậu sinh chúng mình quá. Lại nghĩ cụ khinh thường cả cái dư luận ở xứ mình, nên cũng không lấy gì làm buồn nữa.
Rồi nghĩ tiếp “Tài liệu trên mạng còn ghi Vũ Khiêu sinh 1916. Nay cụ đã già, dễ quên, dễ lẫn”. Có thể nêu một giả thiết như thế về lời ai điếu ở trên chăng?
Cũng đã tuổi ngoại bẩy mươi, tôi muốn chúng ta cùng có một cái nhìn thông cảm như vậy.
Còn như, nếu xét về lý, trong trường hợp này, phải quy trách nhiệm của cả giới làm văn làm báo nước ta. Lẽ nào trong việc công bố một ý tưởng như trên vừa dẫn các nhà biên tập ở đài ở báo đều vô can?
Rộng hơn trường hợp Vũ Khiêu, cần phải nghĩ chung về các bậc thầy văn hóa VN hôm nay. Cả họ nữa, họ cũng phải chịu trách nhiệm về những dốt nát và vay mượn của mỗi người chúng ta.
Từ xưa đã thế, nhiều người Trung quốc, ở cả đại lục lẫn hải ngoại, rất giỏi tiếng Việt và thường xuyên theo dõi sinh hoạt tinh thần ở VN. Anh Tạ Ngọc Liễn ở Viện Sử có lần nói với tôi là riêng ở Đại học Trịnh Châu tỉnh Hà Nam (một tỉnh có các thành phố kinh đô cổ Lạc Dương và Khai Phong), đã có khoảng 500 nhà nghiên cứu Trung quốc chuyên về Việt Nam học.
Đọc những lời ai điếu loại như của Vũ Khiêu, họ sẽ nghĩ về giới trí thức VN, và cả văn hóa VN xưa và nay ra sao? Liệu chúng ta có đủ sức bác bỏ những kết luận của họ không?
2/ Cũng theo hướng suy diễn rộng ra một chút, tôi nhớ tới hai trường hợp.
Một là câu thơ Nhất sinh đê thủ bái mai hoa của Cao Bá Quát.
Và hai là bài ca dao Cày đồng đang buổi ban trưa
Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày
Ai ơi bưng bát cơm đầy/
Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần.
Khi có người tố lên rằng thật ra đó là những câu thơ Trung Hoa cổ được vay mượn nguyên văn hoặc được dịch lại, thì nhiều người lý sự thế này:
— cỡ như Cao Bá Quát không thể có chuyện vay mượn được.
— nông thôn Việt Nam là thành lũy của tinh thần phi Hán hóa ở người Việt, không thể có chuyện ca dao về làm ruộng lại dịch từ Trung quốc được.
May quá có thêm trường hợp Vũ Khiêu. Đến trong thời đại kỹ thuật tra cứu phát triển như hiện nay mà còn có chuyện nhầm lẫn, thì nhìn vào người xưa, có thấy điều tương tự, cũng không phải lạ.
Anh Dương Trung Quốc có lần bảo tôi, thời phong kiến, có hai thứ hàng các vị quan chức( = các trí thức lớn của đất nước) đi sứ được mang về là sách và thuốc.
Nhưng nhớ có lần đọc Đại Việt sử ký toàn thư, thấy có chuyện có mấy cuốn sách sứ Tầu mang biếu, vua cho các quan mượn xem, có nhiều ông giữ lại luôn làm của riêng. Chắc về làm tài liệu để chọe nhau.
(Lúc này tôi không tra cứu kịp để ghi lại số trang Đại Việt sử ký toàn thư có chép chi tiết trên, xin hẹn dịp khác).
Trong văn học hiện đại, nhà văn Nguyễn Đình Thi của chúng tôi nổi tiếng là người thông thạo văn hóa thế giới, mỗi lần nghĩ tới ông tôi cứ thấy xấu hổ cho các thế hệ về sau.
Nhưng trong một lần hơi say say, nhà văn Kim Lân nói với tôi về ông Thi:
— Ừ thì người anh em ăn nói viết lách Tây cũng phải chịu thật. Nhưng tôi ngờ là có khối thứ bố ấy đọc, bố ấy khoắng luôn, rồi đưa vào thơ vào truyện. Bố ai biết được ma ăn cỗ.
Tôi không rõ đầu đuôi thế nào, chỉ nhân câu chuyện về Vũ Khiêu nên chép lại ở đây.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Ba bậc đàn anh, một tấm gương lớn


Người Đô Thị - Khuôn mặt Sài Gòn trong y nghiệp của tôi là nhân diện của những bậc đàn anh đến từ mọi vùng miền của đất nước. Qua đó, tôi thấy lại một nền y khoa nhân bản, đầy lòng trắc ẩn và hoàn toàn vắng mặt những lời tung hô, xưng tụng hay những khẩu hiệu ngoa ngôn sáo rỗng.

1. Ông là sĩ quan quân y cao cấp của chế độ cũ, giám đốc một tổng Y viện lớn bậc nhất miền Trung. Sau 1975, khi đi cải tạo về, ông được “lưu dung” làm tại một bệnh viện lớn của Sài Gòn. Với khả năng chuyên môn giỏi giang, ông được đề bạt làm trưởng khoa một khoa bệnh nặng và khó.

Là người Bắc di cư, ông lịch lãm, điềm đạm. Nhưng dưới con mắt của một chú sinh viên năm cuối, ấn tượng về ông không chỉ có thế. Trong một góc của khoa bệnh do ông phụ trách, có căn phòng nhỏ, là nơi trú ngụ nhiều năm của một thanh niên bị chứng bệnh nặng, hôn mê dầm dề không biết chừng nào hồi tỉnh. Cám cảnh nhà đơn chiếc, ông sắp xếp cho cô chị chừng 20 tuổi của người bệnh thập tử nhất sinh này được đem chiếc máy may cũ kỹ vào bệnh viện để vừa may vá lạch xạch kiếm tiền độ nhật, vừa chăm sóc đứa em trai xấu số.

Một lần, ông nói với bọn sinh viên lộc ngộc chúng tôi: “Lấy vợ thì để anh giới thiệu cho cô bé ấy. Nhìn cách cô ấy chăm em, anh biết đó là một hiền thê”. Nhìn cách ông nói nghiêm túc, tôi biết con người nhân hậu ấy không đùa cợt. Ông đã che chở, cưu mang cho chị em nhà ấy như một “bố già” tốt bụng, chu đáo và ân cần như một người mẹ.

2. Ông cũng là bác sĩ quân y được “lưu dung” sau thời gian cải tạo. Khắc khổ với mái tóc hoa râm, nhưng luôn ăn mặc chỉn chu, thanh lịch. Đi làm bằng Piaggio và là chủ nhân của một phòng mạch rất đông khách. Ông dạy chúng tôi nhiệt tình, truyền hết những hiểu biết rất uyên bác của ông về một chuyên ngành khó.

Sau một buổi trình bệnh án, ông đốt điếu thuốc, trầm ngâm nói khẽ: “Tôi nhớ lại khi bằng tuổi các em, vừa mới ra trường, hiếu thắng vô cùng. Tôi kê toa vô tội vạ, rất nhiều thứ thuốc mắc tiền. Giờ này nghĩ lại, không biết bao nhiêu người nghèo đã phá sản, bán hết ruộng vườn, ly tán… vì những toa thuốc đắt tiền của mình hồi đó”?

Chỉ trong phút chốc, con người hào hoa ấy già sọm hẳn đi, như thể gánh nặng của cả một đời hành nghề đang đè nặng trên vai.

3. Một đàn anh lập dị, thoạt nhìn có vẻ ngông nghênh, ít được đồng nghiệp gần gũi. Từ miền Bắc vào sau 1975, anh là trưởng khoa của một bệnh viện lớn.

Lúc ấy có một đàn anh khác bị bệnh thập tử nhất sinh, cần máy thở để hỗ trợ hô hấp. Ngặt nỗi thời ấy máy thở là của hiếm và đang bị một bệnh nhân VIP chiếm dụng. Bệnh của VIP này thì giới trong nghề coi như đã “xong”, chỉ chờ ngày lành tháng tốt rút máy thở là tivi phát ngay cáo phó. Vị trưởng khoa nhà ta thấy cảnh bất bằng, quát thật to trong buổi giao ban: “Các anh dành máy thở cho một cái xác khô, trong khi đồng nghiệp mình đang thoi thóp tìm sự sống, các anh coi thế mà được à?”. Anh nhất quyết giành cho bằng được chiếc máy thở đó cho bệnh nhân - đồng nghiệp còn hy vọng sống sót, từ một người bệnh coi như cầm chắc cái chết. Dù người ấy là VIP! Nói cho cùng, trước bệnh tật, người bệnh nào cũng như nhau cả thôi.
***

Đừng bao giờ hỏi tôi tên họ của ba con người này. Vì họ chưa bao giờ xuất hiện trên tivi, báo chí để rao giảng về y đức. Họ cũng chưa bao giờ mở miệng răn dạy bọn đàn em chúng tôi lấy nửa câu về nghĩa vụ luận y khoa. Thậm chí, họ còn... văng tục khi bị triệu đi họp về công tác triển khai y đức gì gì đó… Nhưng đã hơn 20 năm, họ là hình tượng đẹp đẽ trong ký ức. Bằng lòng nhân hậu, mẫn cảm với những số phận không may. Bằng sự trung thực, luôn tự vấn lương tâm nghề nghiệp. Và bằng cơn “thánh nộ” rất đáng kính trọng trong một cơ chế chằng chịt thời ấy.

Nhớ lại họ, những bậc đàn anh rất đáng kính của y khoa Sài Gòn, để tự răn mình trong dòng chảy của một nền y khoa đổ nát hôm nay. Và để thấy y nghiệp của mình là nhỏ bé vô cùng!

ThS.BS Lê Đình Phương, trưởng phòng khám đa khoa bệnh viện FV Saigon.
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Còn một lần nữa không?

Nguyễn Bách

Bức Tường Ô Nhục
Bức Tường Ô Nhục
Cách đây một năm, Tết Giáp Ngọ, bài này đã được đăng trong một tạp chí trong nước. Vì lý do dễ hiểu, bài bị cắt bỏ nhiều đoạn. Sau một năm, tình hình đất nước có thay đổi, nội dung của bài phù hợp hơn bao giờ hết. Sau đây là nguyên văn bài viết
Năm 1986 là một năm đáng nhớ trong đời tôi.
Một ngày nọ trong mùa thu 1986 bọn chúng tôi sáu người được Hội người Việt Nam tại Đức cử về nước để “điều trần” về tình hình thế giới, góp ý với Đại hội Đảng lần thứ sáu.
Đó là thời điểm mà các nước theo chủ nghĩa xã hội tại Đông Âu bắt đầu có những dấu hiệu thay đổi. Tại Ba Lan tháng 9.1980 công đoàn Đoàn kết thành hình và ngày càng phát huy ảnh hưởng. 1984 khắp nơi tại Ba Lan biểu tình lan rộng. Tại Hungary năm 1980 kinh tế thị trường bắt đầu được áp dụng, năm 1982 họ gia nhập Quỹ tiền tệ quốc tế IWF và ngân hàng thế giới.
Tại CHDC Đức từ giữa những năm 80, đảng cầm quyền đã phải nhượng bộ thành phần đối lập. Cũng giữa những năm 80 Gorbachev thực hiện đổi mới Glasnost và Perestroika. Tháng 3.1985 Gorbachev tuyên bố mỗi nước trong khối Warsaw được quyền theo đường lối riêng. Từ đó học thuyết được mệnh danh Sinatra thay thế học thuyết Brezhnev, vốn được dựng lên từ 1968, sau khi Liên Xô đập tan mùa xuân Praha của Tiệp Khắc.
Những ai theo dõi thời cuộc đều hiểu là một khi Liên Xô tuyên bố đường ai nấy đi thì đó là dấu hiệu tan rã của khối Đông Âu. Điều đó cho thấy chủ nghĩa xã hội kiểu Đông Âu đã chứng tỏ sự phá sản của mình.
Tôi chuẩn bị về Hà Nội và nhớ đến CHDC Đức của những năm qua. Đây là quốc gia hùng mạnh nhất của khối Đông Âu, có tiềm lực khá nhất về kỹ thuật và kinh tế so với các nước khác, kể cả với Liên Xô hồi đó. CHDC Đức tiếp giáp với Tây Đức, về mặt địa lý lại chứa cả Tây Berlin nằm lọt thỏm trong lòng nó, nên CHDC Đức chính là “tiền đồn” số một của phe xã hội chủ nghĩa. Chính vì lẽ đó mà Đông Đức càng cẩn mật hơn đối với mọi ảnh hưởng của phe Tây phương.
Tôi càng nhớ hơn những ấn tượng của mình tại Đông Đức trong năm 1970. Đó là năm mà bọn sinh viên trẻ chúng tôi, mà chỉ là người nước ngoài, người Đức không được tham dự, được đặc cách cho đi thăm CHDC Đức một ngày, buổi tối không được ở lại, phải trở về Tây Berlin. Chuyến xe bus chạy trên những hành lang đã định sẵn từ Tây Đức đến Tây Berlin, xuyên qua địa phận Đông Đức, trên những xa lộ cách ly với phố xá làng mạc. Thỉnh thoảng xe dừng lại để sinh viên Tây Đức, với chút ngoại tệ “mạnh” ít ỏi trong túi, được mua cà-phê thuốc lá trong các cửa hàng Intershop. Họ cần ngoại tệ mạnh và đó là lý do mà chúng tôi được đi thăm. Qua biên giới ngồi trên xe tôi thấy rõ công an Đông Đức dùng những chiếc gương lớn có bánh xe, đẩy vào gầm xe xem có công dân nào của họ trốn dưới đó không.
Từ Tây Berlin chúng tôi đến Checkpoint Charlie, đó là cửa biên giới giữa hai phần của thành phố Đông Tây Berlin. Khách hồi hộp đi qua những hành lang hẹp, quanh co dưới cặp mắt dò xét của công an mật vụ Đông Đức. Mỗi khách phải đổi 20 Mark, tiền Đông Đức, một ăn một, nghe là để mua sắm, nhưng thực tế là trả tiền vào cửa với ngoại tệ mạnh.
Sau vài góc đường kể từ trạm kiểm soát, lạ thay có một thanh niên tìm tôi hỏi chuyện. Anh hỏi tôi có dư chiếc quần jean nào muốn bán lại cho anh. Tôi trố mắt lắc đầu. Anh lại đề nghị tôi cùng đi đến Intershop mua hàng với ngoại tệ mạnh, tiền anh đưa, công dân như anh không được mua hàng Intershop. Tôi cũng lắc đầu nốt. Vô cùng ngạc nhiên tôi tự hỏi, con người mới xã hội chủ nghĩa mà như thế này ư, nhất là trong một xứ ưu việt nhất của khối Đông Âu.
Trong ngày hôm đó của năm 1970 tôi lại nhớ lại một kỷ niệm xưa. Trước đó chục năm, khoảng 1960, tôi chỉ là một đứa trẻ 12 tuổi sống trong thành thị miền nam thời còn hòa bình. Ngày nọ tôi được theo người lớn ra bến sông Bến Hải, đến cầu Hiền Lương nhìn qua bờ bắc. Vĩ tuyến 17 là đây, sông Hiền Lương nước chảy chầm chậm. Tôi bâng khuâng nhìn qua, bên kia là đồng bào của tôi hay sao. Xa xa ta thấy rõ trẻ con người lớn đi lại, có người đi xe đạp. Nhưng đập vào mắt tôi là một hàng chữ thật to, dành cho người nhìn từ bờ nam. “Hai miền, hai chế độ”. Dù là đứa trẻ, tôi biết ngạc nhiên thấy câu khẩu hiệu có vẻ “hiền”, không khiêu khích, không tuyên truyền như tôi tưởng.
Trên cao ở hai bờ là hai lá cờ, một vàng một đỏ. Lạ thay chiếc cờ vàng rủ xuống như khăn tang. Còn lá cờ đỏ bên kia, không rõ được làm bằng thứ vải gì mà trời ít gió vẫn bay phất phới. Điềm lành điềm dữ gì đây?
Chiếc cầu Hiền Lương khung sắt mặt gỗ chỉ là một chiếc cầu nhỏ như trăm vạn chiếc cầu trên quốc lộ 1, tôi nhìn và nghĩ đời mình sẽ không bao giờ đi trên cầu đó. Thế nhưng hồi đó vẫn có người qua lại, vì khi tôi vào văn phòng quân đội miền nam đã có một người đội nón cối, miệng hút thuốc ngồi đó. Ông mang “bưu thiếp” từ bên kia qua, khuôn mặt bất động nhìn chúng tôi. Trong bọn chúng tôi có một đứa mũi hơi cao, da hơi sáng. Ông thốt lên “cháu này lai Mỹ”. Câu nói đầu tiên và duy nhất của ông đã trật lất.
Chục năm sau tại Đức tôi đang nếm mùi của “hai miền hai chế độ”. Nhưng hôm nay tôi được băng qua biên giới, đi thăm miền đất của con người mới xã hội chủ nghĩa. Ở đây chưa ai nhìn tôi với cặp mặt khinh thị, ngược lại có kẻ chạy theo xin hỏi mua chiếc quần jean.
Suốt chục năm sau tôi không trở lại Đông Đức, nhưng vẫn nghe người dân ở đó vẫn tìm mọi cách vượt biên qua Tây Đức, bất kể hiểm nguy cho bản thân và hệ lụy cho người ở lại. Thế nhưng với lực lượng công an cảnh sát mà tôi từng tận mắt trông thấy, tôi nghĩ Đông Đức sẽ trường tồn thiên thu bất diệt. Tấm gương mùa xuân Praha 1968 vẫn còn nóng hổi. Thậm chí tôi còn lo ngại một ngày xấu trời nào đó, bộ đội Đông Đức sẽ tràn ngập Tây Berlin vì thành phố này nằm như một hòn đảo phồn vinh giữa một vũng lầy nghẹt thở.
Thế mà chỉ hơn 15 năm sau kể từ lần viếng Đông Đức, tôi cùng phái đoàn ngồi máy bay về Hà Nội, sẽ gặp lãnh đạo Đảng và Nhà Nước để “báo cáo về tình hình thế giới và phong trào”. ”Báo cáo” ở đây phải gọi là “báo động” thì đúng hơn vì thông điệp của chúng tôi cho các vị lãnh đạo là hãy thay đổi, trên thế giới đang rục rịch thay đổi.
Trong một buổi sáng nắng hoe vàng như màu nắng thường thấy ở miền bắc trong mùa thu, chúng tôi đến văn phòng Trung Ương Đảng, vào trong một gian phòng nghiêm trang, ngồi vào một chiếc bàn rất rộng. Người “làm việc” với chúng tôi không ai khác hơn là ông Nguyễn Văn Linh, về sau là Tổng Bí thư. Các nhân vật khác cùng có mặt là các ông Đào Duy Tùng và Hoàng Bích Sơn. Các vị lắng nghe chúng tôi một cách nghiêm túc. Tôi bất ngờ cảm nhận lòng cởi mở thân tình của các vị quan chức cấp cao nhất. Họ không có vẻ gì ngạc nhiên khi nghe tình hình các nước Đông Âu đang chao đảo. Họ để cho chúng tôi nói hết, không tỏ chút gì khó chịu khi nói nghe nói đến khuyết tật cố hữu của một nền kinh tế kế hoạch.
Ngồi đây tại Hà Nội tôi không khỏi nhớ lại đời mình. Từ một đứa trẻ đứng ngẩn ngơ bên cầu Hiền Lương và nghĩ đời mình sẽ không bao giờ qua bờ bắc, tôi đã đi một vòng lớn của cuộc đời. Số phận cho tôi đến học tập ở Đức, cũng một nơi được gọi là “hai miền hai chế độ” như nước mình. Rồi tôi cũng từng băng hàng rào sắt qua bên đó và chứng kiến chớp nhoáng cách làm ăn cò con của thời bao cấp. Nay tôi lại ngồi đây, trong một quê hương thống nhất, tại trung tâm quyền lực của cả nước và “làm việc” với Tổng Bí thư.
Thế nhưng nói thật lòng, ngay hồi đó tôi đã không có chút ảo tưởng nào. Làm sao mà các vị đó tin nghe mình, chấp nhận kiến nghị của dăm ba Việt kiều non nớt và đáng ngờ được. Những người mà họ tin nghe phải là những người khác mà chúng tôi không bao giờ gặp. Tiếng nói của chúng tôi chỉ điểm trang cho vui trong một hoàn cảnh cần chút màu sắc khác lạ. Vòng đời từ cầu Hiền Lương, gặp ông cán bộ đưa thư, đến Tây Đức, rồi lạc một ngày qua bên Đông để rồi hôm nay về lại tổ quốc, ngồi đối diện với Tổng Bí thư chỉ là một trò đùa hóm hỉnh của số phận hay đi lang thang của tôi.
Sau đó Đại hội VI diễn ra trong tháng 12.1986 với nhiều thay đổi thực. Lãnh đạo Việt Nam từ bỏ con đường bao cấp, chấp nhận nhiều thành phần kinh tế và mở cửa cho đầu tư nước ngoài. Tôi hoàn toàn không nghĩ đó là nhờ “công” góp ý của chúng tôi mà chủ trương này đã định hình một cách bắt buộc trong bối cảnh ảm đạm của nước Đông Âu. Thế nhưng so với cũ, đây là một công cuộc đổi mới vô cùng quyết liệt và mang lại thành quả to lớn.
Tháng 11 năm 1989 một biến cố long trời xảy ra tại Đức. Bức tường Berlin sụp đổ. Tôi ngồi xem hàng đoàn người hân hoan đi qua Checkpoint Charlie, nơi mà gần 20 năm trước chúng tôi phải chầm chậm đi về trong ngày, giữa những con mắt xoi mói. Tôi sởn da gà khi nhớ rằng, lịch sử ngàn năm sẽ nhớ lại cảnh này, cảnh một dân tộc thống nhất không cần tốn một viên đạn. Cầu Hiền Lương của họ đã mở cửa và người ta đi chiều ngược lại.
Ngày Giải Phóng
Ngày Giải Phóng
Hè năm 2012 chúng tôi trở về Checkpoint Charlie. Đường Friedrich không còn chập chùng đồn bót, nay rộng rãi thông suốt. Gần đó là một quán ăn Việt Nam đông khách, phục vụ trẻ măng. Đồng bào tôi đây, không hề ít tại nước Đức kỳ lạ này. Xung quanh trạm biên giới cũ, ta còn thấy hình ảnh xưa, nền móng cũ, ngày đó nơi đây một thuở… Quanh tôi là khách du lịch còn trẻ, người nước ngoài khá nhiều. Họ có biết chăng có người cảm khái nhớ đời mình và vận nước non của 40 năm qua.
Sau lần gặp Tổng Bí thư tôi nghĩ mình sẽ không bao giờ gặp quan chức cấp cao nữa. Thế nhưng cũng có một ngày đặc biệt trong đầu những năm 90. Tại sân bay Bangkok, trên xe bus từ máy bay vào nhà ga, tôi gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Ông lên xe trước tôi, lúc đó còn rất khỏe mạnh. Tôi đến gần ông, trân trọng hỏi thăm “Thưa Cụ, có phải Cụ là Cụ Võ Nguyên Giáp?”. Ông không trả lời, cũng không nhìn tôi, làm như không nghe thấy. Khuôn mặt ông bất động còn hơn ông cán bộ đưa thư ngày nọ. Tôi ngẩn ngơ, tự hỏi phải chăng mình nhìn lầm. Xuống xe tôi đi nhanh vào sảnh. Ở đó đã có vài ba người đứng đón, có chị mặc áo dài, với vòng hoa và bảng đề “Nhiệt liệt chào mừng…”.
Tôi thưa không thấy trả lời. Trong nước ông là vị tướng từng oanh liệt đánh thắng giặc Pháp. Ra ngoài ông đề phòng những ai nói tiếng Việt.
Kể từ đó tôi không còn gặp quan chức cấp cao, thật lòng tôi cũng không muốn. Nhưng cấp thấp thì nhiều. Thỉnh thoảng tôi vẫn gặp gỡ chuyện trò với họ, thậm chí chơi chung thể thao. Thỉnh thoảng khơi chuyện “bao cấp” ngày xưa thì y như rằng, ai cũng có chuyện để kể, từ anh lái xe đến ông thủ trưởng. Sức sống dân tộc to lớn thay. Thực vậy, chỉ bỏ ngăn sống cấm chợ và cho nước ngoài đầu tư mà nước ta đã tiến triển một cách ngoạn mục từ 1986 đến nay.
Nhưng rủi thay tiến trình của xã hội luôn luôn thay đổi và đòi hỏi phải có sự đổi mới. Qua năm thứ 14của thế kỷ mới, Việt Nam đã bộc lộ tất cả khuyết tật của hệ thống. Kinh tế suy thoái, tham nhũng lan tràn, các giá trị văn hóa xã hội bị sa sút trầm trọng, điều đó đã quá nhiều sách báo nói đến. Tình hình ngày nay bức xúc hơn 1986, đó là điều tôi nhận xét. Nếu không thay đổi một cách tầm cỡ như 1986 đất nước sẽ đi về đâu?
Xét lại lịch sử, Việt Nam chỉ thay đổi khi quốc tế thay đổi. Sự chấm dứt thế chiến thứ hai là cơ hội cho Đảng lãnh đạo nắm chính quyền. Sự đổi xác năm 1986 là kết quả cuộc phá sản của các nước Đông Âu. Thế thì phải chăng Việt Nam phải đợi một biến cố tầm cỡ trên quốc tế? Tôi không biết.
Tại Đức thì sau 24 năm thống nhất, nước Đức đã đưa Đông Đức lên ngang tầm phát triển của phía Tây, đó là tin vui của họ trong mùa thu 2013. Hiện tượng người bỏ sang Tây để kiếm việc đã chấm dứt. Người Đức cũng không phải thánh thiện gì, chính trị gia của họ cũng đầy khuyết tật, cũng ôm ấp những ý đồ riêng tư và ích kỷ. Nhưng điểm ưu việt của Đức là họ quyết lòng theo một xã hội pháp quyền, tất cả phải được điều hành bằng luật pháp. Việc cựu Tổng thống của họ hiện nay phải hầu tòa vì tội lạm dụng quyền thế về một số tiền chưa đầy 1000 USD, một số tiền nực cười, đối với quan chức Việt Nam hiện nay hoàn toàn không lớn, cho thấy luật pháp của Đức triệt để như thế nào.
Tôi không nghĩ mình sẽ còn có cơ hội “điều trần” gì với ai tại Việt Nam nữa. Nhưng dân tộc Việt Nam phải được một lần hỏi ý kiến. Đã đến lúc rồi, người Việt Nam phải ngồi với nhau xem thử nên điều hành đất nước theo phương cách nào. Năm 1986 đã từng có một cuộc đổi thay quyết liệt.
Có còn một lần nữa không?

Phần nhận xét hiển thị trên trang

TỨ TOÀN - BẤT KHẢ THI


Ông Tập Cận Bình và tấm áp phích quảng cáo về Giấc Mộng Trung Hoa - Ảnh của AFP.


Từ lý thuyết Tam Cương của Khổng Khâu, mấy ngàn năn trước Trung Hoa đã được thống nhất 2 lần: Nhà Hán và nhà Tần. Nền Cộng hòa non trẻ được Tôn Dật Tiên đặt nền móng sau khi hạ bệ hoàng đế cuối cùng của nhà Thanh, khi mà đất nước Trung Hoa bị chia cắt do phương Tây. 

Lần thứ 3 Trung Hoa được thống nhất trở lại gần đây 1949, là do Mao. Nhưng Mao đã phá hủy nền Cộng hòa non trẻ mà Tôn Dật Tiên đã xây dựng sau khi hạ bệ nhà Thanh, để mang Trung Hoa trở lại chế độ phong kiến xưa, cũ dưới hình thức , mang màu sắc Trung Hoa.

Hoàn cảnh chính trị Trung Hoa hiện nay cũng giống như Pháp vào thế kỷ XVIII, khi Nã Phá Luân kéo nước Pháp trở lại nền quân chủ chuyên chế sau khi nền Cộng hòa non trẻ ra đời năm 1789.

Quy luật của triết học đã khẳng định: "kinh tế quyết định chính trị, và chính trị sẽ tác động đến kinh tế. Một nền chính trị đơn nguyên tập quyền như Trung Hoa chỉ là chiếc áo chật khoát trên mình của một gả khổng lồ về kinh tế. 

Vì thế cho nên cách đây 2 năm ông Lý Khắc Cường - thủ tướng Trung Hoa đã đưa ra Chiến lược kinh tế - Likonomics. Likonomics gồm 3 mục tiêu - Không kích thích kinh tế - No stimulus; Giảm nợ - Deleveraging; và Cải cách cơ cấu - Structural Reform. 

Theo tổng kết của World Bank năm 2013 nợ công của Trung Hoa chiếm 121% GDP, nhưng hết 2014, thì khối nợ công này tăng thêm hơn gấp đôi tương đương với 282% GDP Trung Hoa. 

Từ thời loài người có mặt trên trái đất, và biết sống thành cộng đồng đến nay, các hình thái chính trị xã hội loài người thi nhau ra đời. Từ đơn nguyên tập quyền, đến đa nguyên tập quyền, rồi đa nguyên tản quyền, chưa có hình thái xã hội nào tiêu diệt được tham nhũng cường quyền, mà chỉ có đa nguyên nta3n quyền làm giảm thiểu tối đa tham nhũng cường quyền mà thôi.

Nền chính trị đơn nguyên tập quyền là mảnh đất màu mỡ nhất để nuôi dưỡng tham nhũng cường quyền. Theo Business Insider, chỉ trong 2 năm đả hổ diệt ruồi của ông Tập Cận Bình đã làm cho các quan tham tuồn ra khỏi Trung Hoa đến 1250 tỷ đô la để tìm quê hương mới.

Với những con số trên, sau 2 năm hoạt động Likonomics xem như phá sản, không thể kéo kinh tế Trung Hoa đang đi xuống chưa thấy đáy như tôi đã tiên liệu 2 năm trước trong bài Likonomic tiến thoái lưỡng nan.

Trung Hoa đang chuẩn bị cuộc họp quốc hội để đưa ra chính sách và pháp luật mới cho thời kỳ mới, trong lúc kinh tế lẫn chính trị Trung Hoa đang rối ren. Cách đây 3 hôm, ngày 25/02/2015, Nhân dân nhật báo Trung Hoa giới thiệu một bài xã luận trên trang nhất 2000 chữ, về chiến lược chính trị của ông Tập Cận Bình - Tứ Toàn: Four Comprehensives - nhằm nâng đở kinh tế đang trên đà thất bại của Chiến lược kinh tế của thủ tướng Lý Khắc Cường. 

Tứ toàn là gì? Nó có nghĩa là bốn cải cách toàn diện về kinh tế chính trị để nhằm khôi phục kinh tế Trung Hoa. Bốn toàn diện đó là: Xây dựng thành công xã hội khá giả toàn diện; Cải cách sâu sắc toàn diện; Quản lý đất nước theo pháp luật toàn diện; Quản lý đảng nghiêm ngặt toàn diện, nhằm thực hiện "Giấc mộng Trung Hoa" như lời ông Tập khi đọc diễn văn nhậm chức.

Tất cả những cái gọi là Tứ Toàn của ông Tập đều là những câu khẩu hiệu có tính tuyên truyền hơn là hiện thực. Còn nhớ cách đây gần 20 năm, khi ông cựu thủ tướng Chu Dung Cơ đã từng tuyên bố, nếu chủ tịch Giang Trạch Dân tham nhũng thì ông cũng bắt bỏi tù. Nhưng ông Chu Dung Cơ cũng chỉ ngồi ghế hành pháp của mình chỉ đúng một nhiệm kỳ từ 1998 đến 2003, là về vườn, giờ chỉ ngồi làm thơ dạy đời nói bóng gió.

Gần đây lại có thông tin các tham quan đang đoàn kết lại, đặt mua súng trường bắn tỉa để thủ tiêu ông Tập. Vấn đề thủ tiêu ông Tập không phải là dễ dàng. Nó cũng giống như chuyện ông Tập không thể diệt được tham nhũng ở một nền chính trị đơn nguyên tập quyền.

Không thể có một nền tư pháp đúng nghĩa trong một nền chính trị đơn nguyên tập quyền, vì không thể có tam quyền phân lập, nên cái tam toàn của ông Tập - Quản lý đất nước theo pháp luật toàn diện - là hoàn toàn phá sản khi nó vừa thoát ra khỏi cửa miệng của ông. Chỉ mới đây thôi, ngày 26/02/2015, Tân Hoa Xã đã đưa tin Tòa án nhân dân tối cao Trung Hoa khuyến cáo các nhà tư pháp cao cấp Trung Hoa hãy tránh xa mô hình tư pháp độc lập, thì làm gì có pháp luật ở Trung Hoa?

Cái tứ toàn - Quản lý đảng nghiêm ngặt toàn diện - cũng phá sản khi chưa ráo mực 2000 chữ trên tờ Nhân dân nhật báo Tring Hoa, khi quyền quản lý ấy lại thuộc về đảng cầm quyền. Hay nói cách khác chính đảng cộng sản ở Trung Hoa là đảng độc nhất nắm mọi quyền quản lý và cái trị thì lấy cái gì để quản lý lại đảng cộng sản ở Trung Hoa?

Nhất toàn - Xây dựng thành công xã hội khá giả toàn diện - chỉ là ý tưởng của ông Hồ Cẩm Đào, xã hội văn minh hài hòa. Điều này thì có thể, nhưng cũng chỉ như hiện nay. Nó chỉ dành cho tham quan và chính khách, người dân Trung Hoa không thể có quyền sống, đừng nói đến quyền mưu cầu hạnh phúc.

Nhị tòan - Cải cách toàn diện sâu sắc - chẳng khác nào là một câu chém gió của thế giới ảo internet. Cải cách cái gì, nếu không là đa nguyên tản quyền cho nền chính trị Trung Hoa? Từ 1949 đến nay, nền chính trị Trung Hoa vẫn là đa nguyên, nhưng giả hiệu, vì các đảng phái khác chỉ để làm kiểng, và cũng do đảng viên cộng sản ở Trung Hoa nắm và hoạt động theo cương lĩnh và nghị quyết của đảng cộng sản.

Tóm lại, tứ toàn của Tập Cận Bình bất khả thi, nếu Trung Hoa không chuyển mô hình chính trị từ đơn nguyên tập quyền sang đa nguyên tản quyền.

Asia Clinic, 15h47' ngày thứ Bảy, 28/02/2015
Phần nhận xét hiển thị trên trang