Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Ba, 24 tháng 2, 2015

NGUYÊN KHÍ

HOÀNG MINH TƯỜNG


 

Tiểu thuyết                                           

“Nguyên khí” là cuốn tiểu thuyết viết về hai nhân vật lịch sử nổi tiếng Nguyễn Trãi - Nguyễn Thị Lộ thời Lê sơ (thế kỷ XV) của nhà văn Hoàng Minh Tường, được Nhà xuất bản DÂN KHÍ ấn hành năm 2014, mạng Amazon và shop Người Việt  phát hành. Là tiểu thuyết lịch sử nhưng thực chất lịch sử chỉ là điểm tựa tạo niềm cảm hứng cho tác giả thể hiện quan điểm thẩm mỹ thông qua hệ thống nhân vật và bối cảnh xã hội hư cấu. Lịch sử nhân loại thường được ghi chép không mấy trung thực, nhất là với lịch sử Việt Nam, qua hàng ngàn năm chống ngoại xâm và nội chiến khốc liệt giành vương quyền đã để lại nhiều điểm mù mờ, tạo nên những góc khuất, cho đến ngày nay vẫn còn là những câu hỏi lớn. Vì vậy, không lạ gì, khi cùng một sự kiện ghi trong Quốc sử, nhưng mỗi nhà văn lại có quan điểm khác nhau khi khai thác và sử dụng tư liệu. Vì thế,  Alxandre Dumas (cha) khi viết tác phẩm “Ba chàng ngự lâm” (Les trois mousquetaires) đã từng tuyên bố Lịch sửchỉ  cái đinh để nhà văn treo bức tranh vẽ theo trí tưởng tượng của mình”. Có thể xem như đó là một tuyên ngôn của nghệ thuật.
Về mặt phương pháp sáng tác, “Nguyên khí” hầu như không chịu sự chi phối của thi pháp tiểu thuyết lịch sử truyền thống. Tác giả phá vỡ hệ thống quy phạm vốn đã được “tiêu chuẩn hóa”. Ông có vẻ như không coi trọng lắm các sự kiện lịch sử, mà tập trung khai thác bản chất lịch sử thông qua thao tác phản biện.
Có thể nói, viết “Nguyên khí”, Hoàng Minh Tường thay đổi hẳn bút pháp nếu so với “Gia phả của đất” và “Thời của thánh thần”. Mạch truyện không theo trình tư tuyến tính mà phát triển theo kiểu gián cách. Hệ thống nhân vật lịch sử và hiện tại đan xen vào nhau cùng với những bình luận ngoại đề của nhân vật hay của chính tác giả, tạo nên một văn bản nghệ thuật hấp dẫn, trong đó có không ít trường đoạn mang yếu tố trào lộng, giễu nhại của phương pháp sáng tác Hậu hiện đại.
Tính chân thực của “Nguyên khí” được dẫn dắt bởi mạch truyện linh hoạt kết hợp giữa các sự kiện lịch sử và hư cấu nghệ thuật xung quanh vụ án Lệ Chi Viên làm người đọc bị bất ngờ qua hàng loạt tình huống giầu kịch tính. Câu chuyện bắt  đầu bằng việc ông trưởng tộc họ Đoàn xứ Đoài bất ngờ tìm được bộ “Long Thành tạp ký”  bằng chữ Hán , ghi chép về vụ án Lệ Chi Viên do cụ tổ Ứng Nhân Đoàn Khâm để lại từ năm trăm năm trước. Và cũng từ bộ sách quý này mới nảy sinh ra chuỗi nhân vật giầu cá tính, đầy bản lĩnh nhưng cũng thấp thoáng chút hài hước là hai “nhà buôn văn hóa” Cao và Thấp, giáo sư Hán học Hoàng, tiến sĩ Bùi La Việt, chủ nhiệm Huỳnh Đạo. Tuyến nhân vật hiện đại này tuy mỗi người một vẻ, mỗi người một hoàn cảnh, một tâm trạng, nhưng tất cả đều có một mẫu số chung là đều kính trọng, tôn vinh Nguyễn Trãi - Nguyễn Thị Lộ, đồng thời tìm mọi cách trả lại danh dự cho hai danh nhân văn hóa sau cái chết oan khuất của họ cách đây hơn bảy trăm năm.
Có thể xem, “Nguyên khí” là một văn bản nghệ thuật kết hợp giữa  quá khứ và hiện tại, được soi rọi bằng nhãn quan thấu thị của người cầm bút lách vào những góc khuất thời gian mà không bị chi phối bởi ý thức hệ, nhằm tìm ra được chân tướng lịch sử vốn bị mù mờ do các sử gia để lại.
Nguyên khí là bi kịch không chỉ một thời của giới trí thức Việt Nam. Nó là nỗi đau tận tâm can của nhiều thế hệ bởi chúng ta chưa tự thắng được sự hèn yếu của mình.
Đặng Văn Sinh

   
“… HIỀN TÀI LÀ NGUYÊN KHÍ CỦA QUỐC GIA. NGUYÊN KHÍ THỊNH THÌ THẾ NƯỚC MẠNH MÀ HƯNG THỊNH, NGUYÊN KHÍ SUYTHÌ THẾ NƯỚC YẾU MÀ THẤP HÈN. VÌ THẾ CÁC BẬC ĐẾ VƯƠNG  THÁNH MINH KHÔNG ĐỜI NÀO KHÔNG COI   VIỆC GIÁO DỤC NHÂN TÀI, KÉN CHỌN KẺ SĨ,  VUN TRỒNG NGUYÊN KHÍ QUỐC GIA LÀM CÔNG VIỆC CẦN THIẾT…”

Thân Nhân Trung
( Văn bia Tiến sĩ năm Nhâm Tuất,1442)
VĂN MIẾU QUỐC TỬ GIÁM
HÀ NỘI


“ … Tấn thảm kịch thực sự của Nguyễn Trãi là tấn thảm kịch của một vĩ nhân sống trong một xã hội quá ư bé nhỏ.”

                                                           YVELINE  FÉRAY

 

                                                             SG. Ngày 16/8 Nhâm Thìn (1/10/2012)
                                                                  PHÁT PHẪN TRƯỚC THƯ


1. ỨNG NHÂN ĐOÀN KHÂM


             Tình  thư một bức phong còn kín
                  Gió nơi đâu gượng mở xem

                        (Cây chuối - Quốc âm thi tập - Nguyễn Trãi)


Có khách lạ từ Hà Nội về thăm ông thủ từ đình làng Động.
Chiếc xe Vios màu bạc từ đường nhựa đi thẳng vào cửa đình. Hai ông khách, một trung niên một trẻ, ông trung niên cao gầy, tương phản đến hài hước với ông trẻ béo lùn đeo kính cận, giống hệt như hai thầy trò Don Quixote và Sancho Panza của văn hào Miguel de Servantes  nước Tây Ban Nha. Hai ông khách thông thạo đường đi nước bước còn hơn cả người làng, đến tận phòng cụ thủ từ, thì thào với cụ điều gì đó khoảng nửa tiếng đồng hồ, rồi phóng xe đi ngay.
Ngày hôm sau, một đoàn năm người, do cụ thủ  từ dẫn đầu, đón taxi ra gặp hai vị khách. Được hai ông tận tình hướng dẫn, đưa đi gặp ban này, phòng nọ, sở kia, nhưng quan trọng hơn cả là họ được gặp sư trụ trì chùa Thái Cực.
- A di đà Phật - Sư trụ trì cung kính chắp tay đáp lễ và nói - Làng ta phúc lộc cao dày. Phải có duyên có phước lắm mới được đức Phật độ trì.
Nói rồi sư trụ trì đưa người làng Động vào hậu cung, tận mắt nhìn thấy một tấm bia đá hình chữ nhật chi chít chữ nho, bề rộng chừng hai gang tay, chiều cao hơn ba gang tay, xung quanh chạm nổi hoa dây và rồng phượng. Tấm bia dựng áp tường, phía dưới là một ngăn tủ chìm, xếp vừa một hòm sắc cổ, trong đó có những bảo vật của làng Động từ hơn năm trăm năm trước.
Công việc xác nhận, bàn giao và đưa tấm bia đá cùng hòm sắc cổ về làng được tiến hành lặng lẽ, khẩn trương, nhưng cũng phải kéo dài hai mươi mốt ngày mới hoàn tất.
Một lễ mở cửa đình bất thường giữa mùa hè đã được các cụ phụ lão làng Động tiến hành suốt ba ngày ba đêm. Sau kỳ lễ, tấm bia đá được gắn vào chân tường phía bên tả  nhà bái đình, còn chiếc hòm sắc cổ phủ  vải điều đã được trang trọng đặt vào hậu cung, trước ngai thờ Thánh, nơi lưu giữ các báu vật linh thiêng của làng.

Vì sao lại có cuộc rước bia đá và hòm sắc cổ ấy?
Lớp trẻ trong làng có thể không biết. Nhưng từ lứa trung niên trở lên đều biết làng Động từng có một ngôi đình vọng, gọi là  đình Bái Động, giữa khu phố cổ Hà Nội. Người già kể lại rằng, từ thời Lý  - Trần, làng Động đã có người sinh sống ở  kinh kỳ. Họ buôn và bán rượu, tạo ra hẳn một phố hàng Rượu, thuộc phường Khán Xuân, ven hồ  Thái Cực, nay là địa phận khu phố Hàng Ngang, Hàng Đào. Công việc làm ăn ngày càng phát đạt. Vào cuối thời Trần, phường rượu làng Động góp tiền mua đất, rồi dựng lên một ngôi đình thờ vọng để cho những con em xa quê có nơi thờ cúng thành hoàng, tổ tiên.
Trải mấy trăm năm, thế gian biến cải, phố  phường lấn lướt, khuôn viên đình Bái Động thu hẹp dần. Cho tới sau ngày giải phóng Thủ đô năm 1954, ngôi đình chỉ còn lại tam quan và gian hậu cung. Năm 1961, đình Bái Động được chuyển thành kho chứa của Công ty lương thực Quyết Thắng và Cửa hàng Thực phẩm số 7. Năm 1972, bom Mỹ làm sập gian trái đình, sạt mái tam quan. Rồi bẩy nhà dân từ đâu nhảy vào lấn chiếm. Khu đất vốn linh thiêng ngày xưa, nay trở thành xóm tập thể, mạnh ai người ấy cát cứ.
Khi một mét vuông đất quanh Hồ Gươm có giá tới bốn mươi cây vàng, thì đình Bái Động bỗng thành một núi vàng. Biết bao con mắt lăm le. Thành phố mấy lần ra quyết định giải tỏa vẫn không thành. Sáu năm dòng dã cò cưa thương lượng, đền bù, cưỡng chế… Năm 1997, một công ty địa ốc bỏ ra mấy trăm cây vàng di dời được các hộ dân, rồi cho xây tại đây một tòa nhà 12 tầng với cái tên vừa khó đọc, vừa khó hiểu: Tòa nhà TBD Cty.
Theo sư thầy Thích Quảng Nhân, người trụ trì  và gắn bó 42 năm với chùa Thái Cực thì tấm bia đá và hòm sắc là cổ vật của đình Bái Động được tốp công nhân đưa sang gửi chùa từ khi khởi công tòa nhà TBD Cty. Năm 2009, chùa Thái Cực được nhà nước đại tu để chào  đón đại lễ 1000 năm Thăng Long – Hà Nội. Khi lên danh sách kiểm kê, trật ra tấm bia và hòm sắc lạ. Báu vật của làng Động có dịp hạnh ngộ  quê nhà.
Sau bao năm thất lạc, châu lại về Hợp Phố.                                               
 Trong chiếc hòm sắc cổ rước về đình làng Động, không có vàng bạc châu báu, mũ mãng cân đai, mà chỉ có cuốn thần phả, mấy tờ sắc phong các triều Lê, Nguyễn và năm quyển sách chữ Nho, giấy dó làng Bưởi đã ngả vàng, ghi số từ quyển Nhất đến quyển Ngũ, bìa bồi một thứ nhựa nâu đen, hai quyển rách bìa, mép sách mòn quăn, nhiều trang mất chữ. Người duy nhất ở làng biết đọc chữ nho là cụ thủ từ đình làng, đeo mục kỉnh nhìn hàng tiếng đồng hồ, cũng chỉ luận ra được hai chữ: “…THÀNH TẠP… ”. Cụ thủ từ bảo: “ Đây là năm pho sách của Thánh hiền cung tiến Thành hoàng đình làng ta”, rồi trân trọng đóng nắp hòm sắc, cung kính đặt lên giá thờ.
 
                                                          ***

Cho đến một ngày đẹp trời, chiếc Vios màu bạc lại về làng. Lần này hai ông khách không vào đình gặp cụ thủ từ mà đến thẳng nhà ông Nghĩa, trưởng tộc họ Đoàn.
Ông  Đoàn Nghĩa, 75 tuổi, cựu giáo chức hàng huyện, lĩnh sổ hưu đã mười lăm năm. Họ Đoàn có mấy ông cao tuổi hơn ông Nghĩa, nhưng về thứ bậc, học vấn, trường đời…, ông Nghĩa vẫn đứng đầu, có uy tín cao trong làng. Hai ông khách Hà Nội dường như biết điều đó. Ông trung niên hất hàm ra hiệu cho ông trẻ lấy từ trong chiếc samsonai có khóa inoc sáng loáng một tập dày cộp đặt lên bàn.
- Thưa ông trưởng họ. Chúng tôi là dân văn hóa. Tôi tên Đỗ Chí Cao. Chú đây tên Ngô Tháp. Chính chúng tôi là người phát hiện ra tấm bia và hòm sắc cổ của đình Bái Động khi trùng tu chùa Thái Cực.
- Tôi nhận ra hai đồng chí rồi - Ông Nghĩa có  thói quen gọi những ai có dáng dấp cán bộ đều là đồng chí. Với tính hài hước, ngay khi hai ông khách giới thiệu tên, ông đã tủm tỉm cười thầm đặt biệt danh cho hai người. Đỗ Chí Cao thì đúng là Cao rồi. Còn Ngô Tháp thì gọi béng là Thấp cho tiện.
Thấp rút bao ba số 5 vuông, lấy bật lửa zippo, gẩy tay một cách điệu đàng, vừa châm thuốc vừa nói:
- Bố ơi, chúng con mang lộc về cho họ.
 Ông Nghĩa giọng hồ hởi:
- Vậy thì để tôi rước hai đồng chí ra đình, gặp cụ thủ từ.
Ông Cao khoát tay:
- Không nên. Chúng tôi đến gặp ông là có ý riêng. Không cần để cụ thủ từ và các phụ lão trong làng biết chuyện này. Chú Tháp đây có biết chút ít chữ Hán, chú nói cho cụ trưởng họ rõ đi.
Thấp hờ hững để bao thuốc và chiếc bật lửa trên bàn, khiến ông Nghĩa cứ dán mắt vào con zippo hình thù kỳ lạ, lại có cô gái cởi truồng, nằm ở tư thế rất chướng mắt.
- Cổ vật đấy ông ạ.Vỏ bằng đồng thau nguyên chất, ruột mạ vàng 18k – Cao cầm chiếc bật lửa đưa cho ông Nghĩa – Chủ nhân con zippo này là trung uý Richars Conney con thượng nghị sĩ Mc Uyliam Conney, hy sinh tại chiến trường Quảng Đà năm 1968. Đây là hàng độc, chỉ sản xuất một nghìn chiếc tại Mỹ. Con này số sery 02, lại khắc chìm tên chủ nhân. Hơi bị khủng. Thằng Lợi hói ở Sài Gòn, vừa sang tên cho chú Tháp đúng hai ngàn USD, không bớt một cắc.
Ông Nghĩa lè lưỡi, như vừa nuốt phải mật cá mè.
- Em sẵn sàng đổi một trăm con zippo để lấy bộ sách cổ này anh Cao ạ - Tháp kính cẩn đưa tập sách ra trước mặt ông Nghĩa - Mời bố xem di sản của họ Đoàn ta. Con zippo dù là kỷ vật của con trai ngài thượng nghị sĩ Mỹ, thì cũng không thể so được với cổ vật này - Vừa nói Tháp vừa lật dở những trang chữ nho sạm đen trên giấy photo, đôi mắt kính dày như đít chai loang loáng - Dạ, thưa bố, đây là bản chụp năm quyển sách giấy bản có trong hòm sắc cổ mà chúng con đã giúp làng mang từ chùa Thái Cực về. Ban đầu chúng con chỉ biết là thư tịch cổ chứ không biết sách viết những gì. Vì tò mò nghề nghiệp, chúng con đã trộm chụp phim rồi mang in ra bản này. Thưa bố, khi nhờ người thạo chữ Hán và chữ Nôm giảng giải, chúng con mới biết tác giả là cụ Đoàn Khâm, hiệu là Ứng Nhân, người làng Động ta…
Như có một luồng điện vừa chạy từ sống lưng lên gáy, ông  Đoàn Nghĩa ngồi dựng lên, tròn mắt nhìn tập sách, rồi lại nhìn hai người khách.
- Các đồng chí nói sao? Của cụ thượng tổ nhà tôi?
Ông Cao nói:
- Chúng tôi về đây là muốn xác định xem cụ Ứng Nhân Đoàn Khâm, đỗ hương cống thời Lê sơ có phải là người họ Đoàn làng Động…
Ông Thấp bổ sung:
- Ở phần lạc khoản có ghi cụ Đoàn Khâm người phủ Ứng Thiên, trấn Sơn Nam Hạ.
- Vậy thì đúng là cụ thượng tổ nhà tôi rồi các đồng chí ơi ! Ứng Nhân tức là người phủ Ứng Thiên - Ông Nghĩa reo lên và lật đật đứng dậy châm đèn thắp hương. Sau đó ông mở chiếc tráp sơn son thếp vàng lấy ra cuốn gia phả dòng họ đưa cho hai ông khách.
- Đây là cuốn gia phả họ Đoàn mới  được chúng tôi sắp xếp lại rồi cho vi tính, mỗi gia đình giữ một bản. Các chú xem đi. Cụ thượng tổ Đoàn Khâm nhà chúng tôi ở hàng thứ  hai, sau cụ thủy tổ Đoàn Khang…
Trong khi hai ông khách xem gia phả, thì ông Nghĩa sẽ  sàng lật giở từng trang sách chữ nho photo, tựa hồ như ông đang được hầu chuyện tiền nhân. Ông mường tượng thấp thoáng giữa những trang sách là một cụ già đầu đội mũ cánh chuồn, râu tóc bạc phơ, ánh mắt bao dung và đôn hậu. Cụ đang kể lại với hậu duệ của mình về lịch sử dòng họ Đoàn làng Động…
Họ Đoàn, trước cụ thủy tổ Đoàn Khang, không rõ ở đâu. Chỉ biết cụ Đoàn Khang cùng với hai cụ họ Hoàng và họ Nguyễn lập ra làng Động. Thuở ấy vùng này còn là đầm lầy. Ba họ chiếm ba khu đất cao, như ba con long mã chầu về một gò đất hình con quy, nơi sau này được làng dựng đình và thờ Định Quốc công Nguyễn Bặc làm Thành hoàng. Đoàn Khâm, con thứ của cụ Đoàn Khang là người đầu tiên của họ Đoàn đỗ hương cống, cũng là người khai khoa của làng Động. Đoàn Khâm sinh Đoàn Thuật, Đoàn Thuật sinh Đoàn Tín, Đoàn Tín sinh Đoàn Trí… Đến thời nhà Mạc, năm Minh Đức thứ 3 (1529), dòng họ Đoàn làng Động đã có người đỗ đồng tiến sĩ xuất thân, đó là Đoàn Sinh, làm quan đến chức Tả thị lang triều Mạc Đăng Doanh.
- Không chệch đi đâu được nữa rồi - Ông Cao đưa cuốn gia phả cho chú Thấp, rồi nói với ông Nghĩa - Nếu cụ Ứng Nhân là thượng tổ đời thứ hai thì ông trưởng họ đây thuộc hậu duệ đời thứ 21 hay 22?
- Trong gia phả có ghi cả, đồng chí ạ  - Ông Nghĩa nói - Họ Đoàn nhà tôi ở làng Động, tính đến bây giờ là đời thứ 24. Tôi thuộc đời thứ 21. Ông cụ thượng tổ  Đoàn Khâm nhà chúng tôi kỵ nhật vào ngày mồng 8 tháng năm ta, mộ táng tại cánh Đồng Chằm.
- Vậy thì anh em chúng tôi xin báo với ông trưởng họ một tin mừng - Ông Cao cầm tập sách lên - Đây là trước tác của cụ Ứng Nhân Đoàn Khâm. Cụ chính là một nhà văn của làng Động. Bộ sách năm quyển đặt trong hòm sắc cổ mà chúng tôi giúp  rước về đình làng vừa rồi chính là bản gốc, có tuổi hơn năm trăm năm...
- Có thật không các đồng chí? - Giọng ông Nghĩa run run. Tay ông cầm quyển sách cũng run run - Thế ra cụ thượng tổ nhà tôi đã dâng sách lên thành hoàng đình Bái Động? Nhưng là sách gì  mà có hai chữ “Thành tạp” ngoài bìa hả các đồng chí?
- Hai chữ đầu và cuối bị nhòe, khó  đọc. Chúng con đã phục chế lại - Ngô Tháp nói và chỉ vào bốn chữ đại tự mới viết bằng mực tàu đen ánh - Đây, tên sách là   “Long thành tạp ký”, tập ghi chép về thành Thăng Long của Ứng Nhân Đoàn Khâm. Về thể loại, cũng giống như cuốn “Thượng kinh ký sự” của Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác, nhưng thời gian thì sớm hơn gần hai trăm năm.
Đỗ Chí Cao đưa đẩy:
- Loại thư tịch cổ như thế này  đặc biệt quí hiếm.Thư viện Hán Nôm có thể  mua tới mấy chục triệu đồng.
Ông Nghĩa lại tròn xoe mắt. Ông nhẩm một phép tính quy ra thóc. Vị chi là vài tấn lúa, chà chà, không ngờ mấy cuốn sách chữ nho cũ nát mà đắt giá đến thế.
- Nhưng không biết cụ thượng tổ nhà tôi viết những gì nhỉ? - Ông Nghĩa băn khoăn.
- Đây là loại thư tịch cổ, lại là bản viết tay, bây giờ ít người biết - Ông Thấp nói - Loại học Hán văn tập tọng như con, ôm từ điển cả ngày cũng không đọc nổi một trang.
- Thế này nhá - Ông Nghĩa chau mày như vừa  thầm quyết một điều gì -Trưa nay hai đồng chí ở chơi với tôi. Ta làm món gì nhắm rượu. Nhân thể tôi gọi mấy anh em trong họ đến bàn chuyện. Tôi muốn nhờ hai đồng chí dịch quyển “Long thành” của cụ thượng tổ chúng tôi ra chữ quốc ngữ cho con cháu đọc. Giá cả thế nào, xin cứ nói. Họ Đoàn chúng tôi nguyện lo chu tất. Xin lỗi, để tôi gọi điện thoại. Anh em trong họ đến đây ngay.
Ông Nghĩa nhấc máy điện thoại bấm số, nói oang oang:
-  Chú Hội, tôi có khách quí từ  Hà Nội về có việc liên quan đến họ  Đoàn nhà ta. Chú sang mời ông Tám, bác Lượng, bác Đường, chú Tại, cháu Mạnh đến tôi ngay. Nhân tiện chú ra nhà hàng Năm Sẹo bảo vợ  chồng nó làm cho tôi một mâm tám người, vừa chó  vừa vịt đặc sản quê mình. Tiền nong tôi sẽ  tính với Năm Sẹo. À, thêm một đĩa lòng lợn, nhiều cổ hũ, dạ dày. Rượu nhà có rồi… Thế nhé. Khẩn trương lên. Bà nhà tôi ra trông con cho thằng Quang. Không có ai phục vụ đâu.
Trong lúc ông Nghĩa nói chuyện điện thoại, hai ông khách nháy nhau ra sân hút thuốc. Cao lấy trong túi áo ra chiếc tẩu gỗ óc chó, cán sừng trâu rừng, nạm vàng 24k và gói thuốc sợi Captain Black hảo hạng, nhồi thuốc, rồi cũng  lấy ra một con zippo Mỹ còn khủng hơn cả con của Thấp, châm lửa.
- Riêng cái tẩu của tao giá cũng gấp ba con zippo của chú - Cao nói - Chiếc tẩu này, Bảo tàng Văn chương đang gạ mua tao năm ngàn USD. Chỉ thương cụ Nguyễn. Hồi ấy chắc bí quá Nguyễn mới đổi của độc này lấy mấy chai rượu ngoại…
- Anh nói thế nào - Thấp cãi lại - Cỡ nhà văn như Nguyễn mà lại thiếu rượu ngoại? Chắc là tay đạo chích nào thó của cụ…
- Thì bọn thằng Hạo đồ cổ nó bảo tao thế. Mà chú xem đây, cán tẩu có chữ đề tặng cụ Nguyễn rành rành …Thôi, tập trung vào việc. Ý chú thế nào?
Thấp bóp trán. Lâu lắm rồi họ mới gặp một món hàng “độc”. Mỡ đến miệng mèo rồi mà lại để trượt. Giống như vụ chiếc la bàn cổ của tượng nhân Bùi Thị Hý vùng gốm Chu Đậu. Lẽ ra trả tiền, lấy ngay thì lại chần chừ, hôm sau bảo tàng về, đưa vào kho cổ vật. Mất toi mấy chục ngàn đô. Bây giờ vụ sách cổ này, không khéo mà xôi hỏng bỏng không. Dọc đường về đây cả Cao và Thấp bàn nát nước mong vớt vát lại, không biết liệu có nên cơm cháo gì?
   Thấp nói:
- Anh vào việc ngay đi. Chuyện dịch thuật cứ từ  từ. Tay Lợi hói trong Sài Gòn vừa điện thoại, sẵn sàng trả giá hai chục ngàn nếu ngay tuần này giao cho nó bản gốc.
Cao thở dài:
- Ai học được chữ ngờ. Biết thế hôm  ở chùa Thái Cực mình cuỗm luôn bản gốc, có  phải bây giờ đỡ rách việc. Đúng là tự  thả gà ra vườn mà đuổi…
Thấp chép miệng:
- Hôm mang sách đi chụp, em cứ ngờ ngợ,  đến khi đọc thấy tên ông cụ em toát hết mồ hôi. Biết là sách độc vừa trượt khỏi tay mình…Thôi, anh cứ nói toạc ra đi. Mua đứt, năm mươi triệu.
Cao nháy mắt:
- Chú cứ để mặc tôi.
Rồi Cao vào nhà, bảo ông Nghĩa:
- Báo cáo ông trưởng họ. Việc này chúng tôi muốn bàn riêng với ông. Thế này nhá. Anh em chúng tôi đây là những người sưu tầm thư tịch cổ. Nói nôm na là chơi sách cổ, cũng ví như thú chơi cây cảnh, chơi chim, chơi tem, chơi chó…hà hà…
- Tôi hiểu - Ông Nghĩa gật gù - Ngày trước tôi cũng mê chơi diều sáo. Nhà tôi lúc nào cũng có hơn chục con diều…
- Ấy đấy. Còn hơn cả mê gái ấy  ông nhỉ? -  Cao cười khục khục tự thưởng cho câu nói hóm hỉnh của mình - Thế cho nên, báo cáo ông trưởng họ, chúng tôi muốn có tập trước tác của cụ tổ Đoàn Khâm. Không phải cuốn photo này mà là bản gốc trong hòm sắc cổ ngoài đình. Chúng tôi sẽ mua giá cao, đắt gấp đôi giá của thư viện Hán Nôm, tức là trả cho họ nhà ta bốn mươi triệu đồng.
- Ấy chết - Ông Nghĩa bỗng xua tay.
Thấp tiếp lời:
- Bố sẽ có quà riêng. Con bỏ tiền túi biếu bố năm triệu uống rượu.
- Không được đâu các đồng chí ơi - Ông Nghĩa nhăn nhó như đang bị chứng đau dạ dày - Sách cổ đang để thờ ngoài đình, bất khả xâm phạm.
Cao nói:
- Nếu lấy danh nghĩa họ Đoàn, đứng ra nói với làng, xin cụ thủ từ và các cụ cao niên được thay bản sách cổ bằng bản photo  này, chắc làng sẽ đồng ý. Chúng tôi sẽ có thù lao riêng với cụ thủ từ và ban phụ lão…
Ông Nghĩa đã lấy lại bản lĩnh của một trưởng tộc họ, giọng bỗng lạnh lùng:
- Không được. Các đồng chí cỏ trả  bốn trăm triệu hay bốn tỷ cũng không ai dám mang đồ thờ ra khỏi đình. Thành hoàng làng tôi thiêng lắm. Có kẻ khuân đá kê cột đình về  nhà, hôm sau hộc máu ra chết. Hai đứa rủ nhau trèo lên nóc tam quan bắt tổ chim, một đứa rơi xuống chết tươi…Cụ thượng tổ nhà tôi đã hiến tặng sách cho đình, con cháu không thể bất tín. Thôi, ta dẹp chuyện bản gốc lại. Giờ ta bàn sang chuyện dịch sách ở bản photo. Nếu đúng là  sách do cụ thượng tổ tôi viết, họ Đoàn nhà tôi sẽ chịu toàn bộ phí tổn  để các đồng chí tìm giúp người dịch. Tôi thay mặt họ Đoàn nói thế này: Kể cả bốn mươi triệu tiền thù lao dịch sách, chúng tôi cũng quyết.
Hai người khách nhìn nhau. Họ biết rằng ông Nghĩa  đã nói như thế, tức là không thể suy chuyển. Trong đầu Thấp và Cao đều xoay vần những con tính. Đừng già néo mà đứt dây, xôi hỏng bỏng không.
Đỗ Chí Cao nói:
- Chúng tôi biết chuyện này rất khó. Nhưng cũng nói  để ông trưởng tộc bàn tính thêm với anh em họ mạc và cụ thủ từ. Nếu chúng tôi có được bản gốc quyển “Long thành tạp ký” để bổ sung cho bộ sưu tập cá nhân, thì xin gửi họ Đoàn một trăm triệu để lo việc họ hoặc cung tiến đình làng. Còn chuyện tổ chức dịch sách theo ý ông trưởng, chúng tôi xin ghi nhận và sẽ tiến hành ngay.
Ngô Tháp mở samsonai lấy ra hai bản hợp đồng đã in sẵn đưa cho ông Nghĩa.
- Đây là hai bản hợp đồng về việc dịch sách, xin bố trưởng họ ký để chúng con thực hiện.
Ông Nghĩa thoáng hoang mang, không hiểu ông Cao ông Thấp này chuẩn bị từ bao giờ. Nhưng rồi ông cũng đeo mục kỉnh, săm soi từng con chữ:
- Các đồng chí chu đáo quá…Nhưng phải thêm một khoản nữa. Như các đồng chí nói, nếu là sách cụ thượng tổ chúng tôi viết về  đình Bái Động, về phường Hàng Rượu của người làng Động ở kinh kỳ thì họ chúng tôi mới tài trợ dịch. Còn cụ viết những đề tài xã hội khác thì cứ để thư thư đã, các đồng chí ạ.
Cao thấy lão già thật cao thủ. Vòng vo mãi, cuối cùng lại không dám chi tiền. Phải lật bài ngửa với lão thôi. Cao đưa mắt cho Thấp, rồi nói:
- Như tôi đã thưa với ông trưởng tộc. Cụ thượng tổ Đoàn Khâm nhà ta không phải là một người ghi chép vặt, hoặc thuần tuý viết gia phả, mà là một sử gia, một đại văn hào.
Thấp chen ngang:
- Nói chẻ hoe ra cho nó dễ hiểu. Cuốn sách này viết về Ức Trai tiên sinh, bố ạ. Bố có biết Ức Trai Nguyễn Trãi là ai không?
Ông Nghĩa tròn xoe mắt, tưởng nghe lầm. Rồi ông chắp hai tay kính cẩn:
- Dạ, biết chứ ạ. Đến Unesco còn tôn vinh cụ là Danh nhân văn hoá thế giới cơ mà…
Thấp càng cao hứng:
- Danh nhân văn hoá thế giới đầu tiên của Việt Nam. Đến như thi hào Nguyễn Du, tác giả kiệt tác “Truyện Kiều” cũng còn đang ở diện đề nghị. Mà cụ Đoàn Khâm nhà mình viết ngay sinh thời Ức Trai tiên sinh, mới độc chứ. Nếu “Long thành tạp ký” được dịch và công bố thì đây sẽ là sự kiện chấn động toàn cầu. Ứng Nhân Đoàn Khâm sẽ được xuất hiện như một nhà văn hóa lớn… Suốt mấy hôm nay, con cứ như người nhập đồng… Hình như cụ Nguyễn Trãi và cụ bà Nguyễn Thị Lộ hiển linh báo mộng ấy, bố ạ. Bố từng dạy học, biết quá rồi. Phải nói thế này: Gần sáu trăm năm qua, vụ thảm án Lệ Chi Viên với cái án tru di tam tộc đối với  Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ là một ẩn số tàn độc chưa có lời giải. Thì đến nay, bằng tác phẩm “Long thành tạp ký”, nhà văn kiêm sử gia Đoàn Khâm đã xé toang bức màn đen dối trá và vô nhân tính của quyền lực để đưa sự thật ra ánh sáng. Bằng kiệt tác này, Ứng Nhân đã làm được một việc mà không ai làm nổi, đó là chiêu tuyết hoàn toàn cho Ức Trai tiên sinh, và đặc biệt là Lễ nghi Học sĩ Nguyễn Thị Lộ…
Ông Cao há hốc mồm kinh ngạc vì khả năng độc diễn tài tình của chú Thấp. Còn ông  Đoàn Nghĩa bàng hoàng tưởng mình nghe lầm. Là một nhà giáo dạy môn sử học và chính trị, suốt bao nhiêu năm, vụ án vườn Vải và cái chết oan khuất của hai nhân vật lịch sử nổi tiếng, khiến ông luôn dằn vặt, đau xót. Không ngờ cụ thượng tổ Đoàn Khâm lại làm được công tích vĩ đại, là giải nỗi oan muôn đời ấy, thì phúc đức họ Đoàn nhà ông cao dày đến ngần nào?
- Nếu vậy thì tôi ký ngay đây - Ông giáo Nghĩa giương mục kỉnh và cầm bút - Chỉ riêng cụ thượng tổ Đoàn Khâm trở thành hiền tài, nguyên khí Quốc gia, một sử gia, một nhà văn của làng Động, đã là niềm vinh hạnh lớn lao của họ Đoàn chúng tôi rồi.

(Xem tiếp chương 2 kỳ tới)
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nghĩ về một thách thức lớn trong đổi mới thể chế


Bùi Hoàng Tám
(Dân trí) - Đổi mới thể chế là một thách thức lớn, cần phải vượt qua chính mình, cần sự hi sinh quyền lợi bản thân và gia đình. Đổi mới còn cần phải có trí tuệ và hơn cả, đổi mới cần có quyết tâm chính trị và lòng khát khao với dân tộc, đất nước.

"Việc đổi mới mạnh mẽ hơn nữa thể chế kinh tế của Việt Nam là cần thiết. Điều này không cần dùng nhiều tiền bạc, không cần bao nhiêu tỷ đô la mà cần sự đổi mới ở mỗi cán bộ, vị trí công tác, đặc biệt là các lãnh đạo cấp cao". Đó là lời của Bộ trưởng KH&ĐT Bùi Quang Vinh trên báo điện tử VietNam Net trong những ngày đầu năm mới.

Bộ trưởng Vinh đã nói chính xác một vấn đề mà không phải ai và lúc nào cũng được nhìn nhận đúng: Tài nguyên lớn nhất đó là trí tuệ, là bản lĩnh chứ không phải chỉ là mấy cái mỏ dầu, mỏ sắt, mỏ vàng, mỏ bạc hay mỏ kim cương.

Nói như thế không có nghĩa là chúng ta không cần có tài nguyên, cũng không có nghĩa là chúng ta không cần “rừng vàng, biển bạc” hay vị trí địa lý với đồng rộng sông dài…

Song tất cả các tài nguyên đó dù trữ lượng có lớn đến đâu, địa lý dù có thuận lợi đến đâu nhưng nếu như không biết gìn giữ, biết khai thác, biết phát huy thì tài nguyên sẽ mau hết, vị trí thuận lợi cũng chỉ là một miền đất hoang hóa, đói nghèo.

Duy chỉ có một thứ duy nhất càng khai thác thì càng dồi dào, càng phong phú và bất tận. Đó là tài năng, trí tuệ.

Có lẽ cũng không cần nhắc lại Singapore vốn là một làng chài, Israel là một vùng sa mạc khô cằn hay Nhật Bản, Hàn Quốc chỉ là những miền đất hầu như không có tài nguyên khoáng sản, thậm chí thiên nhiên vô cùng khắc nghiệt.

Thế nhưng bằng tài năng, ý chí và tinh thần dân tộc, họ đã trở thành những cường quốc kinh tế thế giới.

Sự thành công rực rỡ chỉ bởi một yếu tố duy nhất, đó là “con người”. Thậm chí, chỉ một người đứng đầu như Thủ tướng Lý Quang Diệu cũng có thể làm nên một quốc gia cường thịnh vào bậc nhất Đông Nam Á.

Tại Việt Nam ta hiện nay, nói như Bộ trưởng Vinh: "Chúng ta không dám đổi mới, chúng ta giữ yên ổn để xem thế nào thì chúng ta dễ đánh mất thời cơ, đối mặt với thách thức... Có thể làm được ngay và không bị vướng mắc nhiều lắm đó là tiếp tục xem xét, cải cách mạnh mẽ hơn nữa, đổi mới mạnh mẽ hơn nữa thể chế kinh tế của Việt Nam.

Điều này không cần dùng nhiều tiền bạc, không cần bao nhiêu tỷ đô la mà cần sự đổi mới ở mỗi cán bộ, ví trí công tác, đặc biệt là các lãnh đạo cấp cao… Đổi mới thể chế không phải chỉ nói đơn giản mà nó đụng đến công việc, cách làm quen thuộc trước đây, thậm chí tước bỏ đi những quyền lợi, lợi ích mà ở mỗi vị trí có thể có”.

Từ những tâm sự của Bộ trưởng Vinh, mình tự đặt câu hỏi rằng chả lẽ Việt Nam thiếu người tài. Không! Chúng ta không bao giờ tự nhận là dân tộc thông minh nhất thế giới và cũng không bao giờ tự ti nói điều ngược lại.

Vậy chúng ta thiếu điều gì?

Xin trích một câu nói cũng của Bộ trưởng Vinh trong bài “Quên đi cái thời vào Nhà nước mới vẻ vang” ngày 21/2 trên Vietnam Net: “Cải cách thể chế bắt đầu từ con người. Nếu thể chế trì trệ, chúng ta phải hứng chịu chính những điều chúng ta đặt ra. Nên để đổi mới cũng phải vượt qua chính mình. Chỉ có những người có bản lĩnh nhìn nhận được yếu tố đang cản trở, có quyết tâm chính trị và lòng khát khao với dân tộc, đất nước thì mới vượt qua được. Còn nếu vẫn nghĩ đến bản thân, gia đình nhiều hơn, thì tôi nghĩ rất khó làm. Đây chính là một thách thức”.

Vâng, đổi mới thể chế là một thách thức lớn, cần phải vượt qua chính mình, cần sự hi sinh quyền lợi bản thân và gia đình. Đổi mới còn cần phải có trí tuệ và hơn cả, đổi mới cần có quyết tâm chính trị và lòng khát khao với dân tộc, đất nước.

Nếu như có tài năng mà thiếu “lòng khát khao với dân tộc, đất nước” thì tài năng đó chỉ để “nghĩ đến bản thân, gia đình” và khi đó, nhiều khi lại là mối nguy hại cho đất nước, phải không các bạn?
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Bị coi là “ngụy quyền”, hình ảnh của hoàng đế Quang Trung – Nguyễn Huệ hiện lên như thế nào trong chính sử triều Nguyễn?


Vừa là “ngụy” vừa là anh hùng

Sau khi lên cầm quyền, triều đình nhà Nguyễn đã rất tích cực trong việc thủ tiêu các di tích và sách sử về nhà Tây Sơn - kẻ thù không đội trời chung của họ.
Chỉ đến thời vua Tự Đức, Đại Nam liệt truyện - một tài liệu chính sử của Sử quán triều Nguyễn mới có những ghi chép về các vị vua Tây Sơn trong một thiên có nhan đề “Ngụy Tây liệt truyện” (có nghĩa là Truyện về sự tiêu vong của ngụy quyền Tây Sơn).
Điều đáng chú ý là dù bị coi là “ngụy”, nhưng hình ảnh của hoàng đế Quang Trung - Nguyễn Huệ hiện lên trong Ngụy Tây liệt truyện như một con người phi thường, với khí phách và tài năng của một vị anh hùng lịch sử.
Theo mô tả của Ngụy Tây liệt truyện, ngay từ ngoại hình, Nguyễn Huệ đã một con người phi phàm với “tiếng nói như tiếng chuông to, mắt lập lòe như tia lửa”. Ông là người “đánh giặc rất giỏi, người người đều sợ”.
Bằng những lời lẽ không giấu giếm sự nể phục, tác phẩm cho biết: “Nguyễn Huệ đã bốn lần đánh phá Gia Định, lâm trận đi đầu các binh sĩ, hiệu lệnh rất nghiêm minh, quân sĩ đều kính phục”.
Tài cầm quân của Nguyễn Huệ được miêu tả khá kỹ trong trận đánh Vị hoàng ở vùng Thanh Nghệ trên đường ra Bắc dẹp quân Trịnh:
“Khi Nguyễn Huệ đã tiến tới Vị Hoàng, kinh thành Thăng Long chấn động. Trịnh Khải sai Trịnh Tự Quyền đen bộ binh xuống Sơn Nam, sai Đinh Tích Nhưỡng đem chiến thuyền chặn ngang sông Lỗ Giang lập thế trận hình chữ nhất. Lúc đấy nước lụt vừa yên, đang đêm Nguyễn Huệ cho năm chiếc thuyền chiến Mông xung (thuyền cơ động dùng để đột kích) trước hết tiến bức Lỗ Giang mà đánh.
Binh của Đinh Tích Nhưỡng Tranh nhau bắn, nhưng chiến thuyền của địch lặng lờ không động đậy gì. Đến sáng binh của Đinh Tích Nhưỡng mới biết đó là thuyền không, thì thuốc đạn đã hết. Chiến thuyền của Nguyễn Huệ ụp tới thuận theo gió, súng nổ rền trời, đạn bay đoạn ngang cây cổ thụ…”.
Đến cuộc chiến chống sự xâm lược của quân Thanh, khí phách và tài năng của Nguyễn Huệ càng được tỏ rõ.
Khi Tôn Sĩ Nghị đưa quân vào Thăng Long, tuyên phong Lê Chiêu Thống làm An Nam quốc Vương (1788) và bày tỏ sự coi thường quân Tây Sơn, Nguyễn Huệ đã vô cùng phẫn nộ. Ngụy Tây liệt truyện viết:
“Ngô Văn Sở bỏ các trấn ở Bắc thành. Vua Chiêu Thống sai quan đến nhậm chức các nơi. Các quan văn võ lục tục kéo đến đô thành Thăng Long bái Yết. Họ đều xin Sĩ Nghị ra quân. Sĩ nghị bảo: Năm sắp hết, việc gì mà vội? Không cần đánh gấp. Quân giặc ốm. chúng ta chính đang nuôi chúng mập béo để chúng tự đến nạp thịt vậy.
Sĩ Nghị truyền lệnh cho các đội quân hạ trại nghỉ ngơi, hẹn ra xuân mùng 6 tháng Giêng ra quân.
Nguyễn Huệ được cấp báo mắng to: Chó Ngô là quân gì mà dám tung hoành?”.
Ngay sau đó Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế, đổi niên hiệu là Quang Trung và tiến hành cuộc hành quân huyền thoại ra đất Bắc.
Vị anh hùng của Tây Sơn đã chứng tỏ mình là một người có trí tuệ sáng suốt khi hành xử thấu tình đạt lý với hai bại tướng không chặn được quân Thanh. Theo Ngụy Tây liệt truyện thì:
“Ngày 20 tháng Chạp vua Quang Trung đến núi Tam Điệp. Ngô Văn Sở và Phan Văn Lân phủ phục bên đường xin nhận tội. Vua Quang Trung nói: Tội của các ngươi đáng muôn lần chết. Nhưng ta lại nhớ Bắc Hà mới dẹp yên, lòng người chưa phụ vào. Bọn ngươi bảo toàn được quân đội để tránh mũi dùi nhọn của giặc, trong thì kích thích chí khí của quân sĩ, ngoài thì làm kiêu căng lòng giặc. Đó cũng là cái kế dụ địch. Ta cho bọn ngươi lập công chuộc tội để xem chiến tích của bọn ngươi sau này”.
Tài năng quân sự của hoàng đế Quang Trung – Nguyễn Huệ không chỉ thể hiện ở việc đánh trận mà còn ở nghệ thuật truyền dũng khí cho quân sĩ, được kể lại như sau:
“Vua Quang Trung đãi quân sĩ ăn uống no say rồi nói với toàn quân: Nay chúng ta hãy ăn Tết trước, đợi sang xuân mùng 7 vào thành Thăng Long rồi ta mở yến tiệc một lần nữa. Bọn ngươi hãy nhớ xem ta nói có ngoa hay không”.
Dưới sự dẫn dắt của hoàng đế Quang Trung, đội quân Tây Sơn nhanh chóng nhổ bật các chướng ngại để bước vào trận đánh sinh tử ở đại bản doanh của kẻ thù.
Trận Ngọc Hồi được Ngụy Tây liệt truyện mô tả:
 
Xem thêm:






“Hừng sáng ngày mùng 5 quân Nam tiến đánh lũy Ngọc Hồi. Trên lũy đạn bắn xuống như mưa. Vua Quang Trung ra lệnh cho quân sĩ lấy ván gỗ núp mà xung trận. Vua Quang Trung tự đánh voi đốc quân ở phía sau.
Quân Nam đã phá được cửa lũy, liền bỏ ván gỗ xuống đất, dùng đoản đao đánh giết. Quân Thanh chống không nổi, tan rã bỏ chạy tứ phía mắc vào bẫy ngầm, địa lôi phát nổ, tử thương rất nhiều. Vua Quang Trung giục trống thúc quân truy đuổi, phá luôn mấy đồn Văn Điển, An Quyết…
Ngày ấy vua Quang Trung xua quân vào thành. Chiếu bào của vua biến thành màu sạm đen vì thuốc súng”.
Đọc những đoạn trên, khó có thể hình dung Ngụy Tây liệt truyện đang nói về một kẻ tử thù của triều Nguyễn. Người ta chỉ thấy hình ảnh vua Quang Trung hiện lên như một đấng anh hùng kiệt xuất.
Ngụy Tây liệt truyện cũng ghi nhận sự khiếp sợ của người phương Bắc trước uy thế của vua Quang Trung:
“Vua Quang Trung cho quân đuổi theo đến cửa ải Lạng Sơn, và lên tiếng sẽ giết sạch không sót mạng nào để tìm tung tích vua Chiêu Thống. Người nhà Thanh kinh khủng, từ cửa ải trở về Bắc, già trẻ dìu nhau trốn chạy. Hàng mấy trăm dặm tuyệt nhiên người và khói bếp lạnh tanh”.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Ảnh vệ tinh mới nhất 6 đảo nhân tạo TQ đang xây dựng (cập nhật 01/2015)

Trung Quốc đang cải tạo mở rộng xây dựng 6 đảo nhân tạo trên tổng số 7 bãi ngầm san hô đã chiếm đóng: 

Bãi Ga Ven (Gaven Reefs)
15/11/2014
http://amti.csis.org/wp-content/uploads/2015/02/gaven_1.jpg
http://amti.csis.org/wp-content/uploads/2015/02/gaven_2.jpg
(ảnh Janes)
Bãi Chữ Thập (Fiery Cross Reef)
15/11/2014
http://amti.csis.org/wp-content/uploads/2015/02/fiery_cross2.jpghttp://amti.csis.org/wp-content/uploads/2015/02/fiery_cross1.jpg
  http://amti.csis.org/wp-content/uploads/2015/02/fiery_cross3.jpg


Bãi Gạc Ma (Johnson South Reef) 
12/11/2014
http://amti.csis.org/wp-content/uploads/2015/02/johnson_1.jpg
15/11/2014

http://amti.csis.org/wp-content/uploads/2015/02/johnson_2.jpg 
http://amti.csis.org/wp-content/uploads/2015/02/johnson_3.jpg

Bãi Tư Nghĩa (Hughes Reef)
15/11/2014 
http://amti.csis.org/wp-content/uploads/2015/02/Kennan2.jpg 
http://amti.csis.org/wp-content/uploads/2015/02/Kennan3.jpg
12/12/2014
http://amti.csis.org/wp-content/uploads/2015/02/Kennan1.jpg

Bãi Châu Viên (Cuarteron Reef)
15/11/2014
http://amti.csis.org/wp-content/uploads/2015/02/cuarteron_1.jpg

Bãi Vành Khăn (Mischief Reef)
19/01/2015
http://amti.csis.org/wp-content/uploads/2015/02/mischief_1.jpg
http://amti.csis.org/wp-content/uploads/2015/02/mischief_2.jpg
Nguồn: Amti.csis.org

Bãi Xu Bi (Subi Reef) không thấy ảnh xây dựng mới, căn cứ hiện tại:

 

 
In
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Trước tiên, hãy phá bỏ hết những lề thói tư duy thông thường


Bìa trước
01-01-2009 - 49 trang

Các nhà quản lý tài ba nhất thế giới có rất ít những điểm giống nhau. Họ khác nhau về giới tính, chủng tộc và tuổi tác. Họ sử dụng những cách thức hết sức khác nhau và nhắm vào những mục tiêu khác nhau. Tuy có những khác biệt như vậy, các nhà quản lý tài ba này đều có chung một điểm: Khi làm bất kỳ điều gì, trước tiên họ phá bỏ hết thảy những quy tắc của lề thói suy nghĩ thông thường. Họ không tin người ta có thể đạt cho bằng được. Họ không cố gắng để giúp người ta vượt qua những khuyết điểm. Họ luôn coi nhẹ Quy tắc Vàng. Và, họ thậm chí còn hành động thiên vị nữa.

… Nhưng, quyển sách đáng kinh ngạc này sẽ giải thích tất thảy những vấn đề tưởng như bất thường đó.

Marcus Buckingham và Curt Coffman của Tổ chức Gallup trình bày những phát hiện xuất sắc trong nghiên cứu qui mô và chuyên sâu của họ về các nhà quản lý tài ba trong mọi loại tình huống. Một số là những lãnh đạo đương chức. Một số là những nhà giám sát. Một số đã làm việc trong những công ty được xếp vào loại 500 công ty nhỏ, đầy chất doanh nhân. Bất kể tình huống của họ là gì, các nhà quản lý mà cuối cùng đã trở thành mục tiêu trong cuộc nghiên cứu của Gallup, luôn luôn là những người đã xuất sắc trong việc biến tài năng của mỗi nhân viên thành năng suất.

Trong thị trường lao động căng thẳng ngày nay, các công ty đang cạnh tranh để tìm kiếm và giữ chân những nhân viên giỏi nhất, bằng cách sử dụng tiền lương, các lợi ích, các đề bạt và huấn luyện. Nhưng các nỗ lực rất thiện chí này thường lại không đạt được mục đích. Các nhà quản lý tuyến đầu (những ngưòi giám sát trực tiếp tại chỗ) chính là chìa khoá để thu hút và giữ gìn những nhân viên tài ba. Bất kể mức lương rộng rãi đến đâu, nổi tiếng về huấn luyện đến mức nào, một công ty thiếu những nhà quản lý tuyến đầu tài ba thì sẽ chịu những thiệt hại hơn. Buckingham và Coffman giải thích cách mà các nhà quản lý giỏi lựa chọn nhân viên theo tài năng rằng, họ thiết lập các kỳ vọng thay vì xác định những kết quả đúng thay vì những bước đúng; họ động viên nhân viên của mình bằng cách dựa vào những mặt mạnh độc đáo của mỗi người, chứ không phải cố gắng sửa chữa các khuyết điểm của anh ta; và, sau hết, các nhà quản lý giỏi phát triển nhân viên của mình qua việc tìm sự thích hợp cho mỗi người, chức không phải hướng đến chức vụ kế tiếp. Và có lẽ quan trọng nhất, công trình nghiên cứu này (lúc đầu có đến hàng ngàn câu hỏi điều tra khác nhau về chủ đề ý kiến nhân viên) đã đúc kết và đưa ra được mười hai câu hỏi đơn giản. Chỉ với mười hai câu hỏi nhưng có thể xác định được những phòng ban mạnh nhất trong vô số những phòng ban khác của một công ty. Đây chính là quyển sách đầu tiên được cái thước đo cực kỳ quan trọng ấy và chứng minh được mối liên hệ giữa ý kiến nhân viên với năng suất; lợi nhuận, sự hài lòng của khách hàng và tỷ lệ lãi trên vốn đầu tư.

Quyển sách này chứa đựng những bài học thật sinh động về thành tích và sự nghiệp cho các nhà quản lý ở mọi cấp độ, và tuyệt hơn cả là sách chỉ cho bạn cách áp dụng chúng vào tình huống riêng của mình. - “Thế đấy! Với cái nhìn thấu suốt đầy sức thuyết phục, dựa trên dữ liệu hùng hồn của Gallup, Buckingham và Coffman đã xây dựng nền tảng vững vàng về công cuộc quản lý có hiệu quả. Lần đầu tiên, một lối đi rõ ràng đã được nhận diện để tạo ra những nhân viên gắn bó và những đơn vị làm việc có năng suất cao. Nó đã làm thay đổi con đường mà tôi đang theo để phát triển các nhà quản lý. “Trước tiên, hãy phá bỏ hết những lề thói tư duy thông thường” đúng là một nguồn hết sức quan trọng cho mọi nhân viên giám sát tuyến đầu não, cho các nhà quản lý bậc trung và cho cả các nhà lãnh đạo cấp cao” - Michael W. Mor-rison, ĐH Toyota. 
Phần nhận xét hiển thị trên trang