Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Chủ Nhật, 22 tháng 2, 2015

Cái "giật mình" của Cao Bá Quát


Ở phương Tây, người ta có cái gọi là Triết Lý về Sự Ngạc Nhiên (La philosophie de la Surprise). Giật mình là hệ quả của sự ngạc nhiên, của bất ngờ… Từ ngạc nhiên mới tò mò tìm hiểu, tra vấn rồi đi đến chỗ đặt lại vần đề về tất cả những gì đã hiện hữu, đang hiện hữu.

Tại sao lại coi cái "giật mình" của sĩ phu Cao Bá Quát là một "di sản"?
 
Vậy thì "DI SẢN" là gì? Người ta thường hiểu "di sản là những đồ vật, của cải, tiền bạc được chuyển hoặc truyền từ đời này sang đời khác trong một giòng họ, trong một dân tộc hoặc một quốc gia... Từ thế kỷ thứ 20 bắt đầu có cái mệnh danh là "Di Sản Văn Hóa Nhân Loại" chỉ thị những công trình kiến trúc cổ xưa thuộc về lịch sử do trí óc bàn tay con người tạo tác nên, nay đã trở thành di tích. 
 
Ủy Ban Văn Hóa &Giáo Dục của Liên Hiệp Quốc (UNESCO) đã khảo sát, nghiên cứu và phong cho nhiều di tích lịch sử của các quốc gia là "Di Sản Văn Hóa Nhân Loại" được UNESCO góp phần phục chế và bảo vệ.
Di Sản Việt có một phạm vi rộng rãi hơn bao gồm di sản tinh thần và vật chất. Có thể nói di sản Việt nặng về tinh thần hơn là vật chất. Bởi vì, dân gian Việt Nam ghi nhận rằng:
 
"Trăm năm bia đá thì mòn
Nghìn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ...
 
Trong lúc người  phương Tây quan niệm rằng "Verba volant, Ssripta manant" (lời nói bay đi, dấu khắc còn vĩnh viển).
 
Có lẽ do quan niệm "Trăm năm bia đá thì mòn" nên người Việt truyền thống trong các triều đại quân chủ không thiết tha đến việc xây dựng những đền, đài lăng tẫm đồ sộ, nguy nga...tốn nhiều công sức, mồ hôi và xương máu của nhân dân. Tại Việt Nam có rất ít tượng đồng, bia đá dùng để suy tôn cá nhân ngay cả cá nhân đó là một anh hùng đã cứu nguy cho dân tộc.
 
Do đó, chúng tôi quan niệm rằng trong kho tàng di sản Việt, những lời nói của vĩ nhân, những thái độ và cách hành xử của tiền nhân cũng là những "của cải tinh thần" đáng trân quý và đang đem ra để học hỏi, rút kinh nghiệm cho hiện tại.
 
Trở lại với chủ đề CÁI "GIẬT MÌNH" CỦA CAO BÁ QUÁT"
 
Trong văn học sử Việt Nam thế kỷ thứ 19, Cao Bá Quát được xem như là một văn tài lỗi lạc, một nhà trí thức uyên thâm. Về tài văn thơ, Cao Bá Quát đã được Hoàng đế Tự Đức ngự phê:
 
"Văn như Siêu, Quát, vô tiền Hán
Thi đáo Tùng, Tuy, thất thịnh Đường!"
 
Nghĩa là về Văn, viết như các ông Nguyễn Văn Siêu và Cao Bá Quát, thì các văn nhân thời tiền Hán bên Tàu không còn chỗ đứng; về Thơ thì đến các ông Tùng Thiện Vương và Tuy Lý Vương, thời thịnh vượng của thơ nhà Đường cũng tiêu ma.
 
Được Vua tâng bốc lên tận trời xanh... nên Cao Bá Quát đã vô cùng kiêu căng về tài văn chương chữ nghĩa của mình và sẵn sàng ngạo báng những ai làm văn thơ dở. Cao Bá Quát đã từng chê thơ của Mạc Vân Thi Xã của hai bậc vương tôn Tuy Lý và Tùng Thiện là hôi mùi nước mắm Nghệ An. Khi nghe đọc xong một bài thơ của Thi Xã này, Cao Bá Quát đã đưa tay bịt mũi, phán rằng:
 
"Ngán thay cái mũi vô duyên
Câu thơ thi xã, con thuyền Nghệ An!" 
 
Ông đã tuyên bố rằng: "Cả thiên hạ có bốn bồ chữ, một mình tôi chiếm hai bồ, anh tôi Bá Đạt và bạn tôi Nguyễn Văn Siêu giữ một bồ, còn một bồ thì phân phát cho các kẻ học." Thi Khảo Hạch ở tỉnh, Cao Bá Quát đỗ "đầu xứ". Năm Minh Mạng thứ 12 (1831) ông đỗ Á Nguyên (tức thứ nhì) tại trường thi Hà Nội. Nhưng hỏng kỳ thi Hội vì tính tình kiêu ngạo không chịu tuân theo nội quy của trường thi. 
 
Thi hỏng, không có chỗ làm việc, Cao Bá Quát sống cuộc đời của một "Tài Tử Đa Cùng" lấy văn thơ trêu cợt đời, mỉa mai những oái ăm của xã hội...
 
Trong bài phú "Tài Tử Đa Cùng" Cao Bá Quát đã hé lộ một giấc mộng lớn. Đó là, nếu gặp thời cơ thì ông sẽ "đeo vòng thư kiếm, quyết xoay bạch ốc lại lâu đài" và "gánh vác giang sơn, quyết ném thanh khâm sang cẩm tú." Đây là ước mơ làm một cuộc cách mạng để đổi đời cho nhân dân nghèo khổ.
 
Nguyên văn câu phú như sau:
 
"Bài phú Dương Hùng(1) dù nghiệm tá, thì xin tống Bần quỷ ra đến miền Đông hải, để ta đeo vòng thư kiếm quyết xoay bạch ốc lại lâu đài. Câu văn Hàn Dũ (2)phỏng thiêng chăng, thì xin tống Cùng thần ra đến đất Con lôn, để ta gánh vác giang sơ, quyết ném thanh khâm sang cẩm tú."
 
(1) Dương Hùng là tác giả bài phú "Trục Bần" (Đuổi Nghèo); (2) Hàn Dũ là tác giả của bài phú "Tống Cùng" nghĩa là Tiễn sự nghèo khó đi.
 
Bạch ốc: nhà không có gì cả của người nghèo -"Bạch ốc vô văn"
 
Thanh khâm: áo xanh (áo của người làm tôi tớ, làm để kiếm ăn); Cẩm tú: gấm, vóc (ý nói nhà giàu).
 
Mộng lớn, chí cao, chữ nghĩa văn chương bao trùm thiên hạ, nhưng không được giữ những chức vụ đúng với tài năng khiến ông trở thành người bất mãn... Nhân được cử vào Hội đồng Sơ Khảo kỳ thi Hương ở tỉnh Thừa Thiên, thấy có những bài văn hay nhưng bị "phạm húy" (tức là phạm những quy định của cuộc thi như trùng tên của vua), Cao Bá Quát đã tìm cách cứu vớt các thí sinh này, không may sự việc bị lộ ra, ông bị phạt tội, phải đổi đi vào Đà Nẵng. Nhưng Sứ Bộ Đào Tri Phú đã tâu xin cho Cao Bá Quát tháp tùng đi Tân -gia-ba (Singapore). Ông được tha và theo Đào Tri Phú lên tàu đi sứ...
 
Khi con tàu Sứ Bộ vừa ra khỏi hải phận Việt Nam hướng về Tân Gia Ba, Cao Bá Quát đã xúc động ngâm rằng:
"Tân Gia từ vượt con tàu
 
Mới hay vũ trụ một bầu bao la...
Giật mình... khi ở xó nhà
Văn chương chữ nghĩa khéo là trò chơi!
Không đi khắp bốn phương trời
Vùi đầu án sách, uổng đời làm trai!"
 
Cái "Giật mình" của Cao Bá Quát là một thức tỉnh đột ngột trước thực tế. Đây là một thái độ giác ngộ triệt để về thực tại. 
 
Thật vậy, con người chỉ “giật mình” khi bất ngờ gặp một sự kiện hoặc một hòan cảnh khác với thường tình, đều đặn. Giật mình có thể xem như cái nhịp chổi trong một khúc nhạc đơn điệu.
 
Ở phương Tây, người ta có cái gọi là Triết Lý về Sự Ngạc Nhiên (La philosophie de la Surprise). Giật mình là hệ quả của sự ngạc nhiên, của bất ngờ… Từ ngạc nhiên mới tò mò tìm hiểu, tra vấn rồi đi đến chỗ đặt lại vần đề về tất cả những gì đã hiện hữu, đang hiện hữu.
 
“Đặt lại vấn đề” là hành động và thái độ cần thiết cho sự tiến bộ của bản thân, của gia đình, xã hội và nhân lọai.
Nhìn lại người Việt Nam xưa và nay, người ta ghi nhận rằng trong lúc hầu hết người việt thiên về “chủ thuyết Tự Nhiên” hoặc “Thiên Mệnh” thì người Âu Tây luôn luôn đặt vấn đề “Tại Sao?” “Do Đâu?” rồi ra sức tìm cho đựợc cái nguyên nhân của các hiện tựợng các sự kiện xảy ra trong vũ trụ, trong mỗi bản thân con người…
 
Một thí dụ cụ thể, ông Newton (trước khi trở thành nhà vật lý học nổi tiếng với thuyết Trọng Lực) khi nhìn thấy trái táo rơi xuống đất, ngọn lá cũng rơi xuống đất, cọng lông, viên sỏi vân vân cũng đều rơi xuống mặt đất…ông đã đặt câu hỏi tại sao mọi vật đều rơi xuống?
 
Và Newton (sinh năm1665) đã đưa ra một giả thuyết sơ khởi “Mọi vật đều rơi xuống đất vì đất có sức hút” Từ giả thuyết ông đã thí nghiệm và đi đến thuyết về “Vạn Vật Hấp Dẫn” cách nay 349 năm.
 
Di Sản Việt của chúng ta không có nhiều những tư tưởng về khoa học thực nghiệm đó là do quan niệm “tự nhiên nó xảy ra” “tự dưng nó đến” nên bỏ qua “luật nhân-quả” trong vũ trụ. Cái gì cũng có nguyên nhân, không có cái gì “tự nhiên mà có” cả.
 
Vì vậy, chúng ta rất cần tìm hiểu và triển khai nội dung và ý nghĩa của những cái Giật Mình của tiền nhân để từ cái di sản tâm linh đó dấn thân vào hiện tại của lịch sử đất nuớc, đặt lại các vấn đề để canh tân đất nuớc…
 
GS Nguyễn  Châu
Phần nhận xét hiển thị trên trang

[Parody] Con Bướm Xuân - Huy JOo

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Làng Cổ Đô xưa và nay

TỨ BÌNH LÀNG VIỆT - BÀI 1: CỔ ĐÔ - LÀNG HỌA, LÀNG THƠ


 Xuân Diện 
- viết năm 1993

Thăm Cổ Đô, du khách hãy đến thăm Bảo tàng Họa sĩ Sỹ Tốt - bảo tàng nghệ thuật tư nhân đầu tiên của Hà Nội, cùng Đền thờ Thượng thư, nhà thơ Nguyễn Bá Lân, nhà thờ họ Lưỡng quốc Trạng nguyên Nguyễn Sư Mạnh. 

Làng Cổ Đô là một làng quê nhỏ bé nằm nép mình bên dòng sông Đà cuộn sóng. Xuôi xuôi một chút là Ngã Ba Hạc nơi gặp gỡ của ba con sông, ba màu nước lại là nơi chất chứa bao huyền thoại từ thuở hồng hoang khi “vũ trụ mơ màng, càn khôn xếch xác”.
Đất Cổ Đô là đất cổ, trước đó có tên là An Đô, sau lại đổi là An Bang, thuộc huyện Tiên Phong, phủ Quảng Oai, trấn Sơn Tây (nay là huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây).
Xưa, Cổ Đô có nghề dệt lụa. Tương truyền, công chúa Thiếu Hoa, con gái vua Hùng từ thành Phong Châu sang đây dạy dân nghề tơ lụa. Lụa làng Cổ Đô là sản vật tiến vua. Lụa Cổ Đô đã đi vào ca dao, nức tiếng cả nước: 

Lụa này thật lụa Cổ Đô
Chính tông lụa cống các cô ưa dùng.
Không chỉ có vậy. Làng Cổ Đô còn nổi tiếng là đất văn học. Hình ảnh “Bên anh đọc sách bên nàng quay tơ” trong câu ca xưa có thể tìm thấy ở nơi này. Theo quan niệm người xưa, một làng quê trù phú và bình yên phải có “tam thanh” trong sinh hoạt hàng ngày. “Tam thanh” (ba thứ âm thanh) là: tiếng đọc thơ, bình văn của kẻ sĩ, tiếng thoi reo lách cách của thôn nữ và tiếng nô đùa của con trẻ. Làng Cổ Đô là làng có đủ cả “tam thanh”.
Người làng Cổ Đô đã tự hào về truyền thống hiếu học, truyền thống khoa bảng của quê mình: 

Đồn rằng Hà Nội vui thay 
Vui thì vui vậy chưa tày Cổ Đô 
Cổ Đô trên miếu dưới chùa
Trong làng lắm kẻ nhà Nho có tài.
Sinh ra hoa cống hoa  khôi
Trong hai khoa ấy thì tài cả hai. 

Và đây tiếng của sinh họat đời thường đã dội vào ca dao: 

Gái thì giữ việc trong nhà 
Khi vào canh cửi, khi ra thêu thùa
Trai thì đọc sách ngâm thơ
Dùi mài kinh sử để chờ kịp khoa.
Cổ Đô là đất lành, người xưa nói “đất lành chim đậu”. Xưa có một gia đình vốn quê ở Cẩm Thủy, trấn Thanh Hoa (Thanh Hóa ngày nay) vì nghèo mà phiêu dạt tới đất này. Người chồng làm nghề chăn vịt, người vợ làm nghề nông tang. Họ đã sinh ra một ông Tiến sĩ. Đó là Tiến sĩ Nguyễn Sư Mạnh. Vì nhà nghèo, cha mất sớm, nên 27 tuổi Nguyễn Sư Mạnh mới lều chõng đi thi. Ông đã đỗ Đệ Tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Giáp Thìn, niên hiệu Hồng Đức thứ 15 (1484). Sau Nguyễn Sư Mạnh vì có công lao mà được ban quốc tính (họ Lê) làm quan tới Thượng thư bộ Lễ, tước Sùng Tín hầu.
Gia phả họ Nguyễn còn ghi rõ, khi ông đang làm Thượng thư bộ Lễ, ông được cử đi sứ nhà Minh. Lúc vào yết kiến, vua Minh thấy sứ thần nước Nam mặc áo không cài khuy, cho là xấc xược, bèn hạch tội khi quân (khinh nhờn vua). Sư Mạnh quỳ xuống tâu rằng:
- Tâu bệ hạ, sứ thần nước Nam đi lâu ngày, sợ khú mất chữ Thánh hiền, cho nên phải cởi áo ra hong, xin được đại xá!
Vua thấy ông đối đáp mau lẹ, muốn hại người tài nước ta, bèn dựa vào câu trả lời đó mà xuống chiếu rằng: “Nay Thiên triều đã lạc mất thiên Vi Chính trong sách Luận Ngữ, nhờ người thuộc thiên kinh vạn quyển chép lại giúp”. Vua Minh hẹn ba ngày phải hoàn tất. Hai ngày đầu, Sư Mạnh chỉ du ngoạn đó đây, dạo xem phong cảnh Yên Kinh. Đến gần hết hạn, ông mới ngồi vào án, chép liền tay, xong thiên Vi Chính, dâng lên. Vua Minh liền lấy sách trong thư viện ra so thì chỉ có thừa một dấu chấm ở chữ “cộng”. Nhưng đến khi tìm đến bản gốc thì thấy chữ “cộng” cũng có dấu chấm ấy. Phục tài quá, vua Minh bỏ ý hại mà phong cho chứcThượng thư lại ban cho áo mũ, thẻ bài như một ông Thượng thư của Trung Quốc. Bốn chữ “Lưỡng quốc Thượng thư” (Thượng thư ở cả hai nước) ánh vàng chói lọi từ nơi từ đường họ Nguyễn ở Cổ Đô là nhắc đến chuyến đi sứ vẻ vang ấy. Cũng ở từ đường, còn có đôi câu đối này: 

Luận ngữ nhất thiên, tâm ấn quyển
Thái bình tứ cú, khẩu thành chương.
Nghĩa là:

Một thiên Luận ngữ, khắc rõ trong tim
Bốn câu “Thái Bình”, miệng nói thành áng văn đẹp.
“Bốn câu Thái Bình” là nhắc chuyện một bài thơ ứng khẩu đọc dâng vua Lê Tư Thành của Nguyễn Sư Mạnh.
Đó là chuyện “Lượng quốc Thượng thư” - ông Thượng thư thứ nhất của làng Cổ Đô. Nhưng làng quê ấy có tới hai ông Thượng thư, ông Thượng thư thứ hai là: Lục bộ Thượng thư Nguyễn Bá Lân.
Nguyễn Bá Lân là tác giả của bài Ngã Ba Hạc Phú nổi tiếng. Ông vốn quê gốc ở xã Hoài Bão, huyện Tiên Du, phủ Từ Sơn, xứ Kinh Bắc. Gia phả dòng họ Nguyễn Bá Lân, do chính Nguyễn Bá Lân và con trai ông là Nguyễn Bá Uông viết, chép rằng: Tổ tiên ông gặp buổi binh đao loạn lạc, đến lánh binh ở Cổ Đô, sống bằng nghề dạy học, vì mến cảnh mến người mà nhập tịch ở đây”.
Nguyễn Bá Lân sinh giờ Tuất, ngày 27 tháng giêng năm Canh Thìn (1700). Cha ông là Nguyễn Công Hoàn, khi ấy đã ba mươi tuổi, mới sinh ông là con đầu lòng.
Nguyễn Công Hoàn tên hiệu là Mai Hiên, tên chữ là Hạo Nhiên, là một người tài tử nổi tiếng thời bấy giờ. Ông là người văn tài xuất chúng, trong kinh ngoài trấn âi ai cũng kính phục. Người ta gọi ông là một trong “Tràng An tứ hổ” (Bốn con hổ đất Thăng Long). “Tứ hổ” đó là: Nhất Quỳnh, nhị Nham, tam Hoàn, tứ Tuấn. Nguyễn Công Hoàn, tài ba xuất chúng nhưng về con đường khoa cử thì lận đận. Ông thường đi dạy học ở khắp nơi. Tới khi Nguyễn Bá Lân 15 tuổi (1714) thì ông mới trở về nhà chuyên tâm dạy con học hành hàng ngày.
Trong phần Tự thuật về mình, Nguyễn Bá Lân viết rằng cha ông chỉ dạy ông bằng “một cuốn Xuân Thu (một trong Ngũ kinh) và hơn 20 thiên sách Lễ ký đều không dày quá 100 trang sách giấy Thanh Hoa”. Và những câu chuyện Nguyễn Công Hoàn dạy học cho con bắt đầu từ đấy; chuyện xướng họa văn chương giữa hai cha con cũng bắt đầu từ đấy.
Từ nhỏ, Nguyễn Bá Lân vốn đã ham đọc sách. Thường ngày, bên án của ông lúc nào cũng bên trái đặt bản dồ, bên phải đặt sách vở. Được cha trực tiếp dạy dỗ, sự học Nguyễn Bá Lân lại càng tiến tới, chẳng bao lâu thì vượt cả cha mình (cũng là thầy của mình). Nguyễn Công Hoàn là người phong cách tài tử, tâm tính khoáng đạt; về văn chương chữ nghĩa thì chẳng chịu nhường ai, nên giữa hai cha con thường có chuyện thi thố. Chuyện thi thố văn chương giữa hai cha con bao giờ cũng bắt đầu từ phía ông Hoàn, Bá Lân có cố tránh cũng không được.
Một hôm, cha con ông cùng qua đò, ông Hoàn nhìn thấy đàn dê bên kia sông, liền ra bài phú với đầu đề: “Dịch đình dương xa phú” (Bài phú xe dê cung cấm). Ông Hoàn bảo con rằng: “Nếu sang bờ bên kia, ta làm xong trước mà mày chưa xong thì ta ném mày xuống sông, mày làm song trước mà ta chưa làm xong thì mày ném ta xuống sông”. Khi thuyền cập đến, bài phú của Nguyễn Bá Lân đã xong, Nguyễn Công Hoàn mới làm được một nửa. Ông Hoàn bắt ông Lân phải ném mình xuống sông, ông Lân không dám nghe lời, ông Hoàn liền đánh ông Lân. Bài phú ấy đã được người đời tán thưởng và truyền tụng. Người ta gọi bài đó là: “Nhất độ giang thành chương phú” (Bài phú hoàn thành trên một chuyến đò ngang).
Đã có biết bao nhiêu câu chuyện như vậy về cha con Nguyễn Bá Lân được truyền tụng trong dân gian xứ Đoài, mà đến hôm nay ở vùng quê ấy, chúng ta vẫn còn được nghe kể. Các sách Đăng khoa lục sưu giảng (của Thượng thư Trần Tiến, triều Lê Hiến Tông); Tang thương ngẫu lục (của danh sĩ Phạm Đình Hổ, triều Nguyễn) đều có ghi lại.
18 tuổi, Nguyễn Bá Lân dự kỳ thi Hương và đỗ đầu kỳ đó, gọi là đỗ Giải nguyên. Hai năm sau, ông lại đỗ kỳ thi Hội và đến khoa thi Đình năm Tân Hợi, niên hiệu Vĩnh Khánh thứ 3 (1731) Nguyễn Bá Lân đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân. Nguyễn Bá Lân đã từng làm Thượng thư ở 6 bộ của triều Lê, được phong tước Lễ Trạch hầu, hàm Thiếu bảo, bậc Ngũ hầu Lão Chúa. Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí đã hết lời ca ngợi phẩm cách trong sạch, cốt cách thanh cao và liêm khiết của ông trong cuộc đời làm quan từ khi ông 32 tuổi đến lúc mất (86 tuổi).
Người thời bấy giờ gọi ông là một trong “An Nam tứ đại tài” (Bốn người giỏi nhất nước Nam). Đó là bốn ông: Nguyễn Trác Luân, Nguyễn Tông Khuê, Ngô Tuấn Cảnh và Nguyễn Bá Lân.
Nguyễn Bá Lân là tác giả của bài “Ngã Ba Hạc phú” – “một bài phú Nôm” có địa vị và ảnh hưởng tích cực nhất định đối với sự phát triển củ “biền văn Nôm”.
Đến với Ngã Ba Hạc phú là đến với vùng mây nước tươi đẹp, nơi gặp gỡ của ba con sông ba màu nước xui khiến cảm xúc trào dâng: 

Xinh thay! Ngã Ba Hạc
Lạ thay! Ngã Ba Hạc
... Ngóc ngách khôn dò rộng hẹp, dòng biếc lẫn dòng đào.
Lênh láng dễ biết nông sâu, nước đen pha nước bạc.
Theo Dư địa chí của Nguyễn Trãi thì Bạch Hạc thuộc đất Phong Châu ngày xưa, đất ấy có cây chiên đàn, có chim hạc trắng về đậu ở trên cây nên gọi là Bạch Hạc. Cảnh đẹp Ngã Ba Hạc được hiện lên với những nét nguyên sơ, hoang dã: 

Ba góc bờ tre văng vắng, huyệt Kim Quy chênh hẻm đá gồng ghềnh.
Một chòm bãi cỏ phơ phơ, hang Anh Vũ thấu lòng sông huyếch hoác.
Cảnh vật khôi nguyên là thế, mấy nét chấm phá về con người cũng hiện lên rất mực thanh tao: 

Rủ dây dù ông Lã máy cần
Trần trã mặc Chử Đổng ngâm nước
Trôi trối dài hơi cốc lặn, mênh mang mây nước ao thành
Vênh vênh thẳng cánh cò bay, sẵn nước doành Ngân bến Bắc. 

Thanh tao là thế, mà cũng không chỉ có thế. Ngã Ba Hạc còn là nơi trên bến dưới thuyền tấp nập và sinh động: 

Bè khách thương lạ bến, tượng chân quỳ gối lắc cày xuôi 
Thuyền ngư phủ trôi dòng, dang nách khom lưng chèo dếch ngược. 

Và cứ thế cảm hứng chủ đạo là lòng yêu thiên nhiên quê hương rất mực chân thành xuyên suốt bài phú. Vẻ xinh tươi, tấp nập của bến nước hiện dần lên, như họat cảnh trên màn sân khấu nhờ việc sử dụng ngôn ngữ tài ba và bút pháp độc đáo, với luyến láy thuần thục uyển chuyển pha chút vui tươi dí dỏm gây dư âm vang xa mãi.
Dường như tất cả tình yêu thiên nhiên đất nước con người của Nguyễn Bá Lân đã trào lên ngọn bút và gửi gắm trong Ngã Ba Hạc phú này. Không có tình yêu bền chặt với quê hương, không có sự từng trải và tâm hồn nghệ sĩ sao có thể viết được một bài phú dậy lên sức sống như vậy được.
Đã mấy trăm năm qua, kể từ khi Ngã Ba Hạc phú ra đời, vậy mà mỗi khi qua ngã ba sông ấy vẫn nghe như đâu đây âm vang dư ba của bài phú trác tuyệt này.
Ngã Ba Hạc phú là điểm sáng chói sự nghiệp văn chương của Nguyễn Bá Lân, nhưng ngoài bài phú đó, ông còn có hàng chục bài phú chữ Hán, cũng đều là những hòn ngọc xinh đẹp trong chuỗi ngọc của lịch sử văn chương Việt Nam. Các tuyển tập phú cổ như: Danh phú hợp tuyển, Danh phú tập, Bát Vận phú, Hoàng Lê bát vận phú đều có tuyển nhiều bài của ông. Đó là: Trương Hàn tư thuần lô phú, Cung Nhân trúc diệp phú, Giai cảnh hứng tình phú... tất cả đều là những bài phú chữ Hán mẫu mực.
Ngã Ba Hạc còn đấy, đẹp như thuở xa xưa khi Nguyễn Bá Lân “thấy Ngã Ba Hạc xinh thay, làm ra một phú”. Hỏi có ai qua bến nước này; ngắm nhìn mây nước này, chẳng nhớ tới bài phú của người con đất Cổ Đô văn vật ấy.
  Phong cảnh làng Cổ Đô. Ảnh: Nguyễn Quốc Ân.
Người xưa nói: “Địa linh nhân kiệt” (đất thiêng thì người giỏi). Đất Cổ Đô vốn là đất linh cho nên cái tơ duyên văn chương thuở trước còn nối với hôm nay. Làng Cổ Đô hôm nay, tuy chưa có những tài thơ sánh với Nguyễn Bá Lân, nhưng làng quê ấy vẫn có người làm thơ, có thơ xuất bản hay in trên sách báo trung ương. Đó là các nhà thơ và người làm thơ Trần Cẩn, Linh Kha, Khánh Hữu, Nguyễn Bách, Quốc Trụ... Hiếm có một làng quê nhỏ bé và hẻo lánh nào mà số người làm thơ và có thơ in nhiều đến thế, ấy là chưa kể đến những người làm thơ chỉ để cho riêng mình, với tâm sự của riêng mình mà không hề in ở dâu. Cổ Đô có “Câu lạc bộ những người cao tuổi” sinh hoạt khá đều đặn, một hình thức sinh họat đầy chất văn hóa, thể hiện một nét đẹp tinh thần của một lớp người ở đây. Một bài thơ, một vế đối của một người xướng ra được hàng chục bài thơ vế đối họa lại như là lời đáp “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu” của những tâm hồn bè bạn.
Làng Cổ Đô là làng lụa, làng thơ. Làng Cổ Đô được ôm ấp bởi lũy tre xanh ngăn ngắt, bởi dòng Hồng Hà trằn sóng đỏ, bởi dải đê như tấm khăn hồng choàng lên cánh đồng xanh rợn sóng lúa lại là cái đẹp của sắc màu hội họa. Có phải vì sắc màu quê hương Cổ Đô đẹp là vậy mà làng Cổ Đô đợc trời phú cho một nét đẹp văn hóa nữa: Làng họa sĩ không? Thật vậy, Làng - họa sĩ, ba tiếng ấy nói lên đầy đủ một nét đặc trưng nữa của làng Cổ Đô. Ai có thể ngờ rằng, cái làng nhỏ bé ấy ở rất xa trung tâm văn hóa lớn mà có tới gần hai chục họa sĩ và người làm hội họa được đào tạo chính quy tại hai trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội và trường Đại học Mỹ thuật Công nghiệp Hà Nội, hoặc chí ít thì cũng được đào tạo tại Trường Cao đẳng sư phạm Nhạc -Họa trung ương..
Nói đến giới họa sĩ Cổ Đô, ai là không nhắc họa sĩ lão thành Sĩ Tốt với những bức tranh nổi tiếng:Tiếng đàn bầu, Bế con... đang được lưu giữ tại Viện Bảo tàng Mỹ thuật quốc gia. Nhiều bức tranh của họa sĩ hiện đang được lưu giữ tại các Viện Bảo tàng lớn ở Mỹ, Pháp, Đức, Thụy Điển, Ba Lan... Với gần 1000 bức tranh (trong đó có 100 bức vẽ hoa) được vẽ trong suốt cuộc đời nghệ sĩ của mình, tên tuổi và vị trí Sĩ Tốt mãi mãi được ghi nhận trong lịch sử Mỹ thuật hiện đại Việt Nam. Điều rất đáng nói về ông là, từ ông và do ông dìu dắt mà lớp lớp họa sĩ trẻ của làng ra đời, trưởng thành và được khẳng định trong giới. Đó là các họa sĩ Sĩ Tuấn, Sĩ Thiết, Ngô Bình Thiểm, Sao Mai, Giang Khích, Nguyễn Thạch, Trần Hòa và nhiều người khác nữa. Nhận thấy việc phát hiện, bồi dưỡng và đào tạo những mầm non nghệ thuật phải kịp thời và cần thiết, nên trong cuộc đời họa sĩ của mình nhất là kể từ khi về hưu tại quê nhà, họa sĩ Sĩ Tốt thường xuyên tổ chức các lớp dạy vẽ tại nhà với ý thức trách nhiệm và lòng yêu thương sâu sắc nhất.

 Tiếng đàn bầu. Tranh Sỹ Tốt. Hiện đang trưng bày tại Bảo tàng Mỹ thuật VN.
Với lớp lớp trò nhỏ của ông, đều không phụ công dạy bảo của thầy đều đã trưởng thành. Mỗi người công tác ở mỗi cơ quan khác nhau (ở đài truyền hình, ở trong quân đội, trong các trường sư phạm, trường nghệ thuật hay ở các câu lạc bộ) song họ đều nghĩ về quê hương, nghĩ về thầy, nghĩ về đồng nghiệp lại càng tăng thêm tinh thần trách nhiệm và ý thức vươn lên về mọi mặt.
Cổ Đô Làng lụa, làng thơ, làng họa sĩ. Bấy nhiêu đặc trưng của một làng quê có thể tóm tắt bằng mấy chữ này: Cổ Đô – Làng văn hóa. Cổ Đô xưa và nay có được những vẻ đẹp văn hóa ấy, chính là do nó được xây dựng trên một cái nền học vấn, nền tảng ấy do người dân bao đời san đắp, tạo dựng. Người Cổ Đô có truyền thống hiếu học. Đất Cổ Đô là đất học. Thời phong kiến, Cổ Đô rạng rõ với những ông Nghè, ông Cống; sang thời Pháp, làng quê này lại tự hào với những Cử nhân, Tú tài Tây học, và giờ đây ngót 300 Cử nhân, Phó Tiến sĩ của làng càng làm người Cổ Đô tự hào hơn.
Trọng học, người dân Cổ Đô, dù còn nhiều khó khăn vẫn cố gắng góp công, góp của xây dựng trường sở, động viên con em mình học hành để chờ đón những vận hội mới của quê hương đất nước vì một nước Việt Nam phồn vinh. Nhịp sống Cổ Đô xưa đã vui vẻ là thế, mong Cổ Đô sẽ mãi xứng đáng với lời đồn: 

Đồn rằngHà Nội vui thay 
Vui thì vui vậy, chưa  tày Cổ Đô.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tưng bừng lễ hội rước pháo làng Đồng Kỵ



Hồng Vĩnh
Báo Tiền Phong


TPO - Hôm nay 22/2 (tức mùng 4 Tết), lễ hội rước pháo làng Đồng Kỵ (Từ Sơn – Bắc Ninh) đã khai hội.
 
Quả pháo được rước ra sân đình để trang trí và làm lễ trước khi rước về đình tổ.

Là một trong những lễ hội đặc sắc và diễn ra sớm nhất trong năm, lễ hội làng Đồng Kỵ tôn thờ đức Thành Thiên Cương và tứ pháp (Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện)


Sáng nay, mùng 4 Tết, lễ hội làng Đồng Kỵ đã diễn ra cùng với nghi thức rước Đức Thánh về Đình làng, rước các ông Pháo và Dô quan đám. Lễ hội đã thu hút đông đảo người tham dự.

 
Quả (quả pháo) được rước ra sân đình để trang trí và làm lễ trước khi rước về đình tổ. Sẽ có 70 người phụ trách rước mỗi quả. Có 2 quả là quả nhất và quả nhị. Quả nhị đi trước.

 
Đi trước mỗi tràng, quả bao giờ cũng có 1 đội nam. Do không được phép đốt pháo nên đội này sẽ phụ trách khuấy động không khí bằng cách hô "Mừng tràng (quả) nhất (nhị)". Ngay sau tiếng hô này, tất cả những người còn lại sẽ nhảy lên và hét lớn thay tiếng pháo.

 
Quả được rước đến đình tổ. Tại đây tràng và quả sẽ được làm lễ trước khi đưa về các gian đình quanh đó.


Vào ngày này, tất cả người dân Đồng Kỵ sẽ tập trung ở khu vực đình làng dự lễ hội. Nhiều nhà nhân dịp này hóa vàng và coi lễ hội như dịp đánh dấu hết Tết


Đi đầu đoàn rước thường là các đội lân rồng nhằm mua vui, đồng thời chúc lộc tới các nhà nằm trên đường đoàn rước đi qua



 
Trong khi các cụ làm lễ, đám thanh niên trai tráng các làng được tập hợp lại và sẵn sàng rước tràng và quả về gian đình. Họ khuấy động không khí bằng những tiếng hô lớn thay cho tiếng pháo.

 
Không khí lên đến đỉnh điểm khi phần lễ kết thúc, phần vui nhất của lễ hội là rước quan đám của 4 giáp thuộc Đồng Kỵ. Đám thanh niên rước 2 quả về gian đình sau đó vội trở lại để sẵn sàng rước quan đám của giáp mình

 

 
Ai cũng muốn đưa quan đám (khi đó chít khăn đóng giả gái mua vui cho mọi người) ra tới sân đình đầu tiên. Đây là lúc lễ hội vui nhất và cũng náo nhiệt nhất. Đám thanh niên chen lấn, xô đẩy và chạy vòng quanh. Điều quan trọng nhất là phải giữ được quan đám đứng trên cao và không được phép để ngã. Quan đám nào được giữ đứng lâu nhất là người chiến thắng. Trong khi đó người đi hội thì cố gắng sờ quan đám lấy hên. Những thanh niên rước thì phải bảo vệ quan đám.

 
 Rất đông người dân và du khách đến dự lễ hội
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Bảy, 21 tháng 2, 2015

Nhất tội, nhì nợ!

Năm tới phải trả nợ hơn 7 tỉ đô la Mỹ


Tư Hoàng
(TBKTSG Online) - Trong năm tới, Việt Nam sẽ phải chi 150 ngàn tỉ đồng (gần 7,1 tỉ đô la Mỹ) để trả nợ các khoản vay ngắn hạn, cả gốc và lãi, và các khoản vay trong nước, theo Bộ trưởng Tài chính Đinh Tiến Dũng.

Báo cáo về dự toán ngân sách nhà nước và phương án phân bổ ngân sách trung ương năm 2015, ông Dũng cho biết, trong năm tài khóa 2015, Chính phủ đề nghị mức bội chi ngân sách nhà nước là 5% GDP, tương đương với 226 nghìn tỉ đồng.

Khi đó, dư nợ công năm 2015 sẽ vào khoảng 64,5% GDP “trong phạm vi quy định”, ông Dũng nói.

Bội chi ngân sách nhà nước năm 2014 là 224 nghìn tỉ đồng, bằng 5,3% GDP, được dùng để có thêm nguồn thanh toán nợ ngân sách nhà nước.

Bộ trưởng Tài chính cho biết, số tiền vượt thu ngân sách dự kiến 52 ngàn tỉ đồng cũng được kiến nghị sử dụng để chi trả nợ, chi một số nhiệm vụ cấp bách như quốc phòng, an ninh, an sinh xã hội.

Tuy nhiên, Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính của Quốc hội Phùng Quốc Hiển không khỏi lo âu.

Ông Hiển nhận xét, chi ngân sách nhà nước cho phát triển con người, khoa học, công nghệ giảm dần. Chi đầu tư phát triển giảm quá nhanh không đảm bảo nguyên tắc cân đối chi đầu tư phát triển phải lớn hơn bội chi ngân sách nhà nước. Cải cách tiền lương không thực hiện được theo lộ trình và mục tiêu đề ra.

Về đề nghị của Chính phủ bội chi bằng 5% GDP trong năm 2015, ông Hiển cho rằng, thực tế mức bội chi phải là 7% GDP nếu cộng với 85 nghìn tỉ đồng trái phiếu Chính phủ.

Điều này có nghĩa là Chính phủ không hoàn thành kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm đã được Quốc hội quyết định, theo đó bội chi bao gồm cả trái phiếu Chính phủ chỉ được phép bằng 4,5% GDP.

Tuy nhiên ông Hiển cho biết: “Trong điều kiện còn nhiều khó khăn, đa số các ý kiến đều đồng tình với phương án Chính phủ trình nhưng đề nghị Chính phủ có lộ trình giảm bội chi, đảm bảo an ninh tài chính quốc gia.”

Chính phủ cho rằng, nợ công năm 2015 ước tính lên tới 64,5% GDP vẫn nằm dưới trần nợ công mà Quốc hội cho phép là 65% GDP.

Ông Hiển nói, Uỷ ban Tài chính cho rằng, nợ công vẫn ở dưới mức cho phép nhưng đã chạm mức trần, phản ánh tình hình nợ công đang ở mức rất khó khăn vì nghĩa vụ trả nợ so với tổng thu ngân sách nhà nước vẫn ở mức cao, vẫn phải đảo nợ và số đảo nợ ngày càng tăng.

Một số khoản nợ chưa được phản ánh đầy đủ vào nợ công, như vậy áp lực trả nợ đối với ngân sách nhà nước là rất lớn.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Đồng bào chú ý! Đồng bào chú ý! Tết đã bay xa, mọi sinh hoạt trở lại phình phường ! Tôi xin nhắc lại: Tết...

Kém xa nhà cụ Tổng Mông
Nhưng không đến nỗi nhà không chỗ ngồi
Bàn ghế là bàn ghế thui
Có gì ghê gớm lắm lời vào ra?
Đến mùa cây bưởi trổ hoa
Cây cà mở nụ, giờ ta trổ gì?
Ngày xuân chưa kịp.. xuân thì
Mau đi sửa cuốc.. phòng khi đói lòng
Xưa rồi, "Sắc sắc, không không"
Rùi ra phận mỏng, cánh hồng.. gió bay!!

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Kiếp sau, chúng là… chuột cống!


Hạ Nam
Có lẽ đây phải được coi là kỷ lục buồn, bởi tô hủ tiếu lớn nhất Việt Nam, đã phải đổ đi vì… không ăn được! 
Số là thế này, ngày 12/2, tại công viên Sa Đéc (TP Sa Đéc, Đồng Tháp), Tổ chức Kỷ lục Việt Nam đã xác lập 2 kỷ lục là: Tô hủ tiếu lớn nhất và Đòn bánh phồng tôm lớn nhất.
Tô hủ tiếu lớn nhất Việt Nam này có đường kính miệng 1,5 m, cao 70 cm, thể tích 900 lít, gồm 100kg hủ tiếu, 100kg thịt heo và 600 lít nước súp… có thể phục vụ cho hơn 1.000 lượt khách. Đi cùng kỷ lục này còn có đĩa lót tô đường kính 150 cm, muỗng inox có chiều dài 120cm, đôi đũa gỗ dài 180cm.
Bên cạnh tô hủ tiếu “khủng” còn có đòn bánh phồng tôm dài 2,2 m; đường kính 0,4 m, trọng lượng 160 kg. Theo nhà sản xuất, nguyên liệu làm nên gồm 30% tôm, 70% tinh bột khoai mì với gia vị tiêu, hành, ớt.
Những tưởng sau khi được “công nhận kỷ lục” thì sẽ có hơn ngàn người được thưởng thức… Nhưng than ôi, rau, giá đỗ, sợi hủ tiếu vì ngâm nước quá lâu, nên không còn ra cái thứ … cháo heo nào nữa. Thế là đành đổ bỏ.
Không biết những người “sính kỷ lục” này bỏ ra bao nhiêu tiền để làm tô hủ tiếu khủng? Rồi ý nghĩa đích thực mà tô hủ tiếu này mang lại là cái gì? Và chẳng hiểu cái thứ “kỷ lục” này sẽ góp phần “nâng cao danh giá” của địa phương ở mức nào?
Giá như người ta mang số tiền làm tô hủ tiếu, làm đòn bánh phồng tôm đó cho những người đang chạy ăn từng bữa thì tốt biết bao nhiêu!
   Kiếp sau, chúng là… chuột cống !
Cận cảnh tô hủ tiếu to nhất Việt Nam tại Sa Đéc.
Gần đây, nhiều tỉnh thành nô nức tổ chức lễ hội với đủ các lý do, nào là đón nhận danh hiệu cao quý, nào là kỷ niệm ngày thành lập tỉnh, rồi vinh danh nơi này là di sản, nơi kia di tích… Nhưng bi kịch là ở chỗ, có tỉnh vừa hoành tráng tổ chức lễ đón nhận di sản thế giới xong thì lại phải ngửa tay xin Chính phủ cho gạo cứu đói…
Người ta có thể bảo rằng, tiền tổ chức các lễ hội là tiền “xã hội hóa” – nghĩa là lấy tiền từ các doanh nghiệp, các nhà hảo tâm… Vâng, nói nghe thì là hay. Nhưng doanh nghiệp cũng phải đổ mồ hôi, sôi nước mắt mới kiếm được tiền chứ? Và ai dám đảm bảo rằng các doanh nghiệp được “vận động đóng góp” đó, không nghĩ mưu trốn thuế, không bóc lột công nhân, đế có tiền mua hư danh, có tiền thỏa mãn căn bệnh sĩ.
Ở Hà Nội, gần đây lại có người nêu sáng kiến “bắn pháo hoa thường xuyên trên cầu Nhật Tân”, để cho dân… ngắm, hòng quên đi những khó khăn, vất vả cực nhọc; và cũng giải thích rằng, tiền bắn pháo hoa là “xã hội hóa” – nghĩa là do các doanh nghiệp đóng góp.
Không hiểu mỗi trận pháo “mua vui” hết bao nhiêu tỷ, nhưng qua đây, cũng thấy cái bệnh sĩ diện hão của người Việt ta nặng nề quá. Cái gì cũng thích “hoành tráng”; thích “kỷ lục”, nhưng lại không nghĩ đến thực chất ta làm được gì? Giá trị hàng hóa, thương hiệu Việt của ta trên thế giới là đứng ở đâu.
Lẽ ra, lúc này, phải vận động từng người dân uống rượu bia bớt đi, ăn nhậu ít đi, tổ chức lễ hội hạn chế, và đừng có kiểu “ngàn vàng mua lấy trận cười như không”… Phải tiết kiệm từng đồng, để mà xây dựng, phát triển kinh tế, thì lại cứ đổ tiền cho những thứ mua vui, kiểu như tô hủ tiếu. Mà tự hào cái nỗi gì như kiểu tô hủ tiếu khủng?
Làm tô hủ tiếu khổng lồ, rồi mang đi đổ, không hiểu những người “khoái” kỷ lục có thấy day dứt không khi lãng phí đến vậy. Và có khi nào họ nghĩ tới còn biết bao người dân ở vùng mà họ tổ chức đang đói nữa không?
Cha ông ta, từ xưa đã nói “hạt gạo là Ngọc Thực” – Kẻ nào phung phí hạt gạo, thì kiếp sau sẽ phải biến thành chuột.
Đúng thật, kiếp sau, có lẽ những người tổ chức nấu cái tô hủ tiếu khổng lồ này, sẽ phải chuyển thành chuột cống… Suốt ngày chui rúc nhặt nhạnh từng miếng ăn – đó là cái giá phải trả cho những kẻ mắc bệnh sĩ và bệnh “thích kỷ lục”.
Nguồn: 
Phần nhận xét hiển thị trên trang