Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Bảy, 21 tháng 2, 2015

Từ Hải làm sao sánh với Quang Trung mà đem so sánh!

Các nhà nghiên cứu cuối thế kỷ 20, hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp cho rằng nhân vật Từ Hải là hình ảnh của người anh hùng dân tộc Quang Trung - Nguyễn Huệ, hoặc có hình bóng và âm vang của phong trào khởi nghĩa nông dân dưới thời vua Lê - chúa Trịnh.
Hơn 200 năm nay, từ khi kiệt tác Truyện Kiều của Nguyễn Du ra đời đã có hàng nghìn tiểu luận nghiên cứu. Bắt đầu của Phạm Quý Thích (1759 - 1825) viết Đề từ cho lần xuất bản đầu tiên của Đoạn trường tân thanh, đã có hàng trăm nhà nghiên cứu Truyện Kiều, trong số đó có nhiều nhà nghiên cứu đã phân tích, nghiên cứu nhân vật Từ Hải dưới nhiều góc độ khác nhau. Và hình như các nhà nghiên cứu cuối thế kỷ XX có nhiều người, hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp cho rằng nhân vật Từ Hải là hình ảnh của người anh hùng dân tộc Quang Trung - Nguyễn Huệ, hoặc có hình bóng và âm vang của phong trào khởi nghĩa nông dân dưới thời vua Lê - chúa Trịnh.
Và thế hệ học trò chúng tôi, từ khoảng 70 tuổi trở về, ai cũng đinh ninh điều ấy và mỗi khi nhắc đến Quang Trung là nghĩ ngay đến Từ Hải.
Lập luận của một số nhà nghiên cứu đưa đến tâm lý ấy là xuất phát từ hình ảnh ngang tàng, "đội trời đạp đất ở đời", "Phong trần mài một lưỡi gươm - Những phường giá áo túi cơm xá gì"; là hình ảnh thật nghệ sỹ" gươm đàn nửa gánh non sông một chèo" của Từ Hải, giống như huyền thoại "ngày mùng 5 Tết, Quang Trung đánh tan 27 vạn quân Thanh, dẫn đầu quân sỹ vào thành Thăng Long, áo bào còn đẫm khói súng... cho người mang một cành đào phi ngựa về Huế tặng Ngọc Hân công chúa". Thậm chí có người cho rằng, Từ Hải đã "Năm năm hùng cứ một phương hải tần" sau khi đã "Huyện thành đạp đổ năm toà cõi nam" chính là Nguyễn Huệ đã 5 năm trị vì ở ngai vàng của vương triều Tây Sơn.
Thôi thì tự hào, yêu quý Quang Trung và kính phục Nguyễn Du và yêu quý Truyện Kiều của Cụ mà có tình cảm ấy thì cũng đáng trân trọng. Nhưng...
Từ Hải là nhân vật tiểu thuyết, là hình tượng nghệ thuật, là nhân vật lãng mạn nhất trong Truyện Kiều. ở Truyện Kiều, Từ Hải đột ngột xuất hiện:
Bỗng đâu có khách biên đình
sang chơi
Rồi sau đó, dưới ngòi bút tài hoa của Nguyễn Du, Từ Hải hiện lên như một người anh hùng từ vóc dáng "Râu hùm hàm én mày ngài - Vai năm tấc rộng thân mười thước cao", đến sức mạnh "Côn quyền hơn sức, lược thao gồm tài", "Đội trời đạp đất ở đời", "Giang hồ quen thói vẫy vùng, gươm đàn nửa gánh non sông một chèo". Rồi sau khi đã bén duyên với Thuý Kiều là "Trai anh hùng gái thuyền quyên - Phỉ nguyền sánh phượng, đẹp duyên cưỡi rồng" và "Nửa năm hương lửa đang nồng" thì vì "động lòng bốn phương" mà Từ Hải lại ra đi:
Trông vời trời bể mênh mang
Thanh gươm yên ngựa lên đàng thẳng dong
Với những phẩm chất "Giữa đường dẫu thấy bất bằng mà tha", Từ Hải đã giúp Thuý Kiều báo ân, báo oán, đưa nàng lên bậc mệnh phụ phu nhân, chúng ta càng yêu quý Từ Hải của Nguyễn Du.
Nhưng Từ Hải là ai? Chúng ta biết Truyện Kiều được Nguyễn Du mượn cốt truyện từ Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân. Chính Cụ cho ta biết chứ chẳng cần tìm tòi nghiên cứu:
Cảo thơm lần giở trước đèn
Phong tình cổ lục còn truyền
sử xanh
Cụ lần giờ sách phong tình cổ lục còn truyền lại để viết nên Truyện Kiều. Nhân vật Từ Hải đã có sẵn trong "Cảo thơm" của Thanh Tâm Tài Nhân chứ không phải do Nguyễn Du sáng tác ra. Từ Hải của Thanh Tâm Tài Nhân mà Nguyễn Du đọc được trong Kim Vân Kiều truyện đã là một vị đại vương hùng cứ một phương, nhưng vẫn là một "tên giặc" nhưng không còn là "giặc cỏ" nữa mà là một viên tướng có tài thao lược. Thanh Tâm Tài Nhân tả Từ Hải: "Đánh một thôi, lấy được năm huyện phía Nam", để rồi Nguyễn Du viết:
Đòi phen gió quét mưa sa
Huyện thành đạp đổ năm toà
cõi nam
chứ không phải đợi đến năm 1789 Nguyễn Huệ kéo quân ra Bắc đánh tan 27 vạn quân Thanh chỉ trong khoảng 10 ngày để viết nên hai câu thơ trên nói lên tài thao lược của Từ Hải và Quang Trung.
Cái ông tướng - "nghệ sỹ" Từ Hải mà Nguyễn Du lấy từ nguyên mẫu của Thanh Tâm Tài Nhân hoá ra cũng đã được nhà văn Trung Quốc cải biên nhiều lắm từ nhân vật mang tên Từ Hải có lai lịch, gốc tích hẳn hoi trong lịch sử.
"Trong bộ Minh sử ngày xưa các cụ học đi thi thì có ghi tên Từ Hải, song cũng ghi qua thể thôi"(1). Như vậy là từ thế kỷ XVI, sách sử Trung Quốc đã có ghi đến hiện tượng giặc cướp ở vùng duyên hải Chiết Giang, có một tên cướp là Từ Hải. Không có danh phận, không phải là thủ lĩnh gì ghê gớm nhưng hắn có người vợ đẹp là Vương Thuý Kiều. Thuý Kiều khuyên Từ Hải đầu hàng khi triều đình đánh dẹp. Từ Hải nghe lời vợ ra hàng và bị giết chết. Thuý Kiều cũng chết theo. Có một nhà văn hạng xoàng là Dư Hoài đã viết chuyện này trong tập truyện "Ngu sơ tân chí" (2).
Truyện Vương Thuý Kiều của Dư Hoài cho biết, Từ Hải vốn là nhà sư phá giới (giống như Lỗ Trí Thâm trong Thuỷ Hử ) hay rượu chè, cờ bạc và hay đi nhà thổ. Thuý Kiều gặp Từ Hải ở đó. Có lần Từ Hải đánh bạc thua, được Thuý Kiều cưu mang, rồi đi làm tướng cướp. Sau đó Kiều khuyên Từ Hải bỏ nghề cướp bóc. Từ Hải nghe lời, đến trình diện Hồ Tôn Hiến là quan triều đình đi dẹp cướp, bị Hồ Tôn Hiến cho một tên thuộc hạ đưa tiễn về nhưng dọc đường giết chết.
ở cái thời văn - sử bất phân ấy, truyện của Dư Hoài có thể xem như có nhiều điều là sử. Giống như "Hoàng Lê nhất thống chí" của Ngô Gia văn phái. Chúng ta vẫn tìm Lê Chiêu Thống, Lê Quýnh, Nguyễn Hữu Chỉnh, Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Huệ, Ngọc Hân, Sầm Nghi Đống.. trong đó vậy.
Như vậy để thấy, Từ Hải dù là nhân vật hay hình tượng nghệ thuật, thì từ lịch sử đến Dư Hoài, đến Thanh Tâm Tài Nhân, Từ Hải vẫn là một tên cướp, là "giặc cỏ". Từ Hải ấy đã được Nguyễn Du hoá thân thành người anh hùng, được chúng ta yêu mến, được các nhân vật trong Truyện Kiều ca ngợi ngay cả khi Từ Hải đã chết. Viên lại già họ Đô ca ngợi:
Bỗng đâu lại gặp một người
Hơn đời trí dũng, nghiêng trời
uy linh
Trong tay mười vạn tinh binh
Kéo về đóng chật một thành
Lâm Tri
Thúc Sinh, người đã từng là chồng của Thuý Kiều vẫn hết sức kính trọng ca ngợi Từ Hải:
"Đại vương tên Hải họ Từ
Đánh quen trăm trận sức dư
muôn người"
"Vẫy vùng trong bấy nhiêu niên
Làm cho động địa thiên kinh
đùng đùng"
Nhưng dù sao thì Từ Hải của Nguyễn Du vẫn là xuất thân từ Từ Hải của Thanh Tâm Tài Nhân và Từ Hải của Dư Hoài. Thuý Kiều đã từng ca ngợi Từ Hải ngay từ lúc mới gặp nhau:
Thưa rằng: Lượng cả bao dung
Tấn Dương được thấy mây rồng
có phen
Chàng sẽ là anh hùng, sẽ làm vua có phen, nhưng rồi cũng chính nàng so sánh sự nghiệp của Từ Hải với Hoàng Sào - là giặc cướp đó thôi:
Ngẫm từ dấy việc binh đao
Đống xương Vô định đã cao
bằng đầu
Làm cho để tiếng về sau
Nghìn năm ai có khen đâu
Hoàng Sào
Dù đã được Nguyễn Du nghệ thuật hoá, lý tưởng hoá đến tuyệt vời, nhưng Từ Hải vẫn không bao giờ và không thể là hình ảnh của Nguyễn Huệ - Quang Trung. Từ Hải luôn luôn muốn là người anh hùng, nhưng anh hùng để mà anh hùng. Chàng gặp Thuý Kiều trong lầu xanh. Thì cũng là đi lầu xanh cả nhưng Từ Hải lại coi khinh những người khác, cũng đến lầu xanh như mình:
Từ rằng: Tâm phúc tương cờ
Phải tuồng trăng gió vật vờ
hay sao?
Chỉ có mình là người đi tìm tâm phúc, còn những người khác là tuồng vật vờ cả. Từ Hải coi những người khác là phường "giá áo túi cơm", chỉ mình là anh hùng. Chàng tự nói, tự nhận về mình chứ không cần ai ca ngợi. Từ Hải nhiều lần dùng từ anh hùng để nói về mình
“Anh hùng đoán giữa trần ai”
mới già
“Anh hùng mới biết anh hùng”
Từ Hải cũng tự nhận là "Quốc sỹ", tự gọi mình là "phi thường":
“Từ rằng: quốc sỹ xưa nay”
“Làm cho rõ mặt phi thường”
Con người luôn luôn tự biết, tự gọi mình là anh hùng ấy, là người "Phong trần mài một lưỡi gươm, Những phường giá áo túi cơm sá gì", vừa gặp người con gái "Một hai nghiêng nước nghiêng thành" là Thuý Kiều, dù mới "Nửa năm hương lửa đương nồng" nhưng Từ Hải đã ra đi:
Trông vời trời bể mênh mông
Thanh gươm yên ngựa
lên đường thẳng dong
Rồi với tính cách "Giang hồ quen thói vẫy vùng" ấy chàng đã làm chấn động xã hội với những chiến công hiển hách:
Đòi cơn gió táp mưa sa
Huyện thành đạp đổ năm toà
cõi nam
Nhưng dù có chiến công vang dội, dù có "Rạch đôi sơn hà" thì mục đích của chàng cũng chỉ là "Giữa đường dẫu thấy bất bằng mà tha". Thấy ngang trái, thấy bất công, thấy con người bị chà đạp thì Từ Hải ra tay cứu vớt, như chàng chuộc Thuý Kiều ra khỏi lầu xanh, như mang cả 10 vạn tinh binh với đại bác (bác đồng chật đất), cờ quạt rợp trời (tinh kỳ rợp sân), chia làm 2 đạo quân (đạo ra Vô Tích đạo vào Lâm Tri) bắt những kẻ gây nên đau khổ cho Thuý Kiều về để nàng trị tội.
Tuy vậy,Từ Hải không có mục ...tiêu, lý tưởng gì cao xa. Sự nghiệp của chàng cũng chỉ đến vậy. Từ Hải chỉ là mơ ước của Nguyễn Du, là hình ảnh lãng mạn, đối lập với hiện thực khắc nghiệt là Thuý Kiều, với bao nhiêu đau khổ, chịu bao nhiêu là bất công trong một xã hội nhiễu nhương đầy bất trắc. Nhưng những cảnh này thì xã hội nào mà chẳng có. Đến "Miền Bắc thiên đường của các con tôi" mà ở Kính gửi cụ Nguyễn Du (1965) Tố Hữu vẫn viết "Song còn bao nỗi chua cay. Gớm quân Ưng, Khuyển ghê bầy Sở Khanh".
Dù là người anh hùng "Chọc trời khuấy nước mặc dầu, dọc ngang nào biết trên đầu có ai", thì Từ Hải cũng chỉ "Vẫy vùng trong bấy nhiêu niên, làm cho động địa kinh thiên đùng đùng" trong một xã hội nhìn chung là chưa đến nỗi. Thì chính Nguyễn Du xác nhận điều này:
Rằng năm Gia Tĩnh triều Minh
Bốn phương phẳng lặng
hai kinh vững vàng
Và rồi khi đã đạt nguyện vọng cá nhân, trước lời khuyên đầy cám dỗ của vợ:
Sao bằng lộc trọng quyền cao
Công danh ai dắt lối nào cho qua
Hoá ra quyền cao, lộc trọng, công danh... cái lẽ thường tình của con người lại làm cho Từ Hải loá mắt. Cái ngang tàng, khí phách, cái anh hùng mà chỉ mới đây thôi:
Thừa cơ trúc chẻ ngói tan
Binh uy từ ấy sấm ran trong ngoài
Triều đình riêng một góc trời
Gồm hai văn võ rạch đôi sơn hà
Đòi cơn gió táp mưa sa
Huyện thành đạp đổ năm toà
cõi nam
bây giờ đã biến đi đâu mất, mà xuất hiện một "Từ công riêng hãy mười phân hồ đồ", rồi "Thế công, Từ mới chuyển ra thế hàng". Từ Hải đã đầu hàng, dù là chết đứng thì cũng đã xoá bỏ tất cả sự nghiệp (dù không lấy gì to lớn) của mình, chỉ để lại trong lòng người đọc một nỗi ấm ức và thương hại. Từ Hải có "chọc trời khuấy nước mặc dầu" thì cuối cùng cũng bị trấn dẹp và đất nước, xã hội lại vẫn "Sóng êm Phúc Kiến, lửa tàn Chiết Giang". Làm sao mà Từ Hải có hình bóng của Nguyễn Huệ - một người anh hùng dân tộc, đánh tan hai vương triều Nguyễn ở phía Nam, Lê - Trịnh ở phía Bắc. Chấm dứt hai trăm năm chiến tranh tàn khốc của hai tập đoàn phong kiến, thống nhất đất nước sau 100 năm chia cắt vì Trịnh - Nguyễn phân tranh và đánh tan 27 vạn quân Thanh xâm lược, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Oai thần vũ của Quang Trung - Nguyễn Huệ: "Đánh cho để răng đen, đánh cho để tóc dài, Đánh cho nó chích luân bất phản, Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn, Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ", làm cho cả vua quan nhà Thanh kinh sợ, còn định gả công chúa và dâng hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây cho Quang Trung làm của hồi môn.
Chúng ta cần lưu ý điểm này, Truyện Kiều được Nguyễn Du sáng tác năm nào? Bản thảo của Nguyễn Du nay chưa tìm thấy. Nhiều ý kiến xung quanh thời gian ra đời của Truyện Kiều. Đại loại có hai mốc. Nhiều người cho rằng Truyện Kiều được Nguyễn Du sáng tác sau khi đi sứ về (ông làm quan thời vua Gia Long) (1813), có mang về cuốn Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân.
Nhiều nhà nghiên cứu khác như Đào Duy Anh, Hoàng Xuân Hãn, Trương Chính, Vũ Đức Phúc, Nguyễn Tài Cẩn, Đào Thái Tôn thì cho rằng "Nguyễn Du viết xong Truyện Kiều nếu không phải đầu đời Tây Sơn thì muộn nhất cũng là trong đời đó. Nghĩa là viết trước khi ra làm quan với Gia Long khá lâu" (3) nghĩa là từ năm 1796 - 1809. Tôi thiên về giả thiết này, dựa trên các công trình nghiên cứu khoa học của các nhà nghiên cứu có uy tín trên đây.
Nếu Truyện Kiều được viết trước đời Tây Sơn thì lúc đó chưa có Nguyễn Huệ, Nguyễn Du lấy đâu ra hình tượng Nguyễn Huệ - Quang Trung để xây dựng nên hình tượng Từ Hải?
Nếu Truyện Kiều được viết trong đời Tây Sơn, khi đã có Nguyễn Huệ - Quang Trung thì lại rơi vào khoảng thời gian "10 năm gió bụi" của Nguyễn Du. Chiến tranh liên tục, đất nước, xã hội xáo trộn và thay đổi ghê gớm. Cả nước loạn lạc, bản thân Nguyễn Du phải chạy loạn từ Thăng Long lên Bắc Ninh quê mẹ, chạy xuống Thái Bình ở nhờ nhà vợ , rồi về quê Hà Tĩnh. Đặc biệt là ông trốn chạy Tây Sơn, tổ chức quân đội chống lại Tây Sơn, rồi bị Tây Sơn bắt và cầm tù. Trong hoàn cảnh ấy khó mà có điều kiện để sáng tác Truyện Kiều, một kiệt tác văn học, một bách khoa toàn thư của Việt Nam.
Cuộc khởi nghĩa của Tây Sơn mà đứng đầu là Nguyễn Huệ là lực lượng trực tiếp phá tan gia đình và dòng họ Nguyễn Tiên Điền của Nguyễn Du. Cha ông Nguyễn Nghiễm là thượng thư, anh trai ông, Nguyễn Khản là quan tể tướng, bản thân ông cũng là một ông quan. Trong phút chốc, tập đoàn phong kiến Lê - Trịnh trong đó có gia đình ông đã tan tành ra mây khói. Vị trí xã hội, đời sống nhung lụa, vàng son, chức tước bổng lộc của ông và gia đình đã tan tành. Chính ông đã than thở xót xa:
Xưa sao phong gấm rủ là
Nay sao tan tác như hoa giữa đường
Dưới góc độ tâm lý của con người, khó có ai lại đi ca ngợi, tung hô, tri ân kẻ đã phá hoại, gây ra tang tóc, nợ máu đối với cha, với anh, với bản thân mình (và thực tế Nguyễn Du đã mộ quân chống lại Tây Sơn) như lời thơ Nguyễn Du viết về Từ Hải. Nguyễn Du là nghệ sỹ, nhà văn hoá chứ không phải là nhà chính trị. Phong trào Tây Sơn và Nguyễn Huệ - Quang Trung là phong trào cách mạng của dân tộc ta, nhưng chúng ta không thể bắt Nguyễn Du phải ca ngợi và ủng hộ. Victo Hugo, chống lại nhà nước Pháp bị cầm tù và lưu đày, Byron nhà thơ Anh cũng bị trục xuất khỏi nước vì chống lại chính quyền nước Anh. Ông đã phải chết ở Hy-Lạp, nhưng vẫn là những người con ưu tú của dân tộc. Nabokov, Shonzenixin... không ủng hộ Liên - Xô, bị chính quyền xua đuổi ra nước ngoài, bị tù đày thì họ vẫn được nhân dân Liên - Xô và nhân dân thế giới quý trọng.
Nguyễn Du vẫn là thiên tài, được nhân dân ta quý trọng và tự hào dù ông chống lại Tây Sơn, không ca ngợi Nguyễn Huệ - người anh hùng dân tộc.
Như thế để thấy rằng Nguyễn Du xây dựng nên hình tượng nhân vật Từ Hải chẳng có gì liên quan hay hình bóng của Nguyễn Huệ - Quang Trung cả.
Hơn nữa, Nguyễn Du xuất thân từ gia đình quan lại và khoa bảng. Ông am hiểu sâu sắc lịch sử và văn học Trung Quốc. Những Sở Bá Vương, Hàn Tín, Trình Giảo Kim (Hán Sở tranh hùng), Quan Vân Trường, Trương Phi (Tam quốc diễn nghĩa), Võ Tòng, Lý Quỳ, Lâm Sung hay Tống Giang (đầu hàng) trong Thuỷ Hử... đều có thể có ở Từ Hải của Nguyễn Du. Nguyễn Du khi sáng tác Truyện Kiều đã có 10 thế kỷ văn học Việt Nam, thế kỷ XVIII có văn học chữ Nôm đã phát triển lên đến đỉnh cao. Đồng thời với ông có một loạt các tác gia danh tiếng, như Hồ Xuân Hương, Đoàn Thị Điểm, Bà Huyện Thanh quan, Phạm Đình Hổ, Nguyễn Huy Tự, Nguyễn Huy Oánh, Nguyễn Huy Lượng (đồng hương và là thông gia), Nguyễn Gia Thiều... Nguyễn Du vĩ đại, chắc chắn được "ngồi trên vai những người khổng lồ" này. Cái xã hội của Truyện Kiều mà Từ Hải chống lại có khác gì cái xã hội của Ôn Như Hầu.
Bực mình muốn đạp tiêu phòng mà ra.
Nỗi nhớ nhà của nàng Kiều ở lầu Ngưng Bích cũng là nỗi nhớ của Bà Huyện Thanh Quan:
Nhớ nước đau lòng con quốc quốc
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia.
Chẳng lẽ Nguyễn Du không đọc, không cảm với những câu thơ của Đặng Trần Côn và Đoàn Thị Điểm:
"Chí làm trai dặm nghìn da ngựa
Gieo thái sơn nhẹ tựa hồng mao".
"Sứ trời sớm giục đường mây
Phép công là trọng niềm tây sá nào"
khi viết về Từ Hải:
"Nửa năm hương lửa đương nồng
Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương
Trông vời trời bể mênh mang
Thanh gươm yên ngựa lên đàng thẳng dong"
Hay: "Quyết lòng dứt áo ra đi
Cánh bằng tiện gió đã lìa dặm khơi"
Chắc chắn Nguyễn Du đã đọc, đã cảm những câu thơ của Chinh phụ ngâm mô tả khí phách và ý chí của người ra trận:
"Giã nhà đeo bức chiến bào
Thét roi cầu Vị ào ào gió thâu."
"Múa gươm rượu tiễn chưa tàn
Chỉ ngang ngọn giáo vào ngàn hang beo."
Nếu Từ Hải có hình bóng của ai đó thì những câu thơ này còn thuyết phục hơn.
Những hình tượng anh hùng ca như Thánh Gióng, Thạch Sanh, Trần Hưng Đạo, Bùi Cầm Hồ (cùng quê Nguyễn Du)... mỗi nhân vật có thể là một nét tác động vào tâm hồn nghệ sỹ của Nguyễn Du, để ông chắt lọc, tổng hợp, hư cấu nên hình tượng nghệ thuật Từ Hải. Cái chết bi thương của Từ Hải làm cho ta nhớ đến vè "Chàng Lía" mà người Hà Tĩnh rất quen thuộc:
Chiều chiều én liệng truông Mây
Nhớ thương chú Lía bị vây trong thành.
Như thế để thấy rằng Từ Hải trong Truyện Kiều của Nguyễn Du chẳng có gì dính dáng đến Nguyễn Huệ - Quang Trung cả, mà chỉ là nhân vật nghệ thuật hư cấu với thi pháp lãng mạn kiểu nhân vật nổi loạn: Cướp biển của Byron, Bác sỹ Faust của Gơte (những người cùng thời với Nguyễn Du) và đó là một hình tượng nghệ thuật, một nhân vật đẹp.
Theo VĂN NGHỆ THÁI NGUYÊN

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Sáu, 20 tháng 2, 2015

Phùng Văn Nhân: Năm Mùi nói chuyện Dê


Năm Giáp Ngọ qua, năm Ất Mùi đến. Gọi nôm na là năm con dê. Ngày đầu năm âm lịch gọi là ngày Tết Nguyên Đán.
Nhưng trước khi vui tết, đêm cuối cùng của năm gọi là giao thừa, người Việt thường làm mâm cúng tổ tiên theo truyền thống đạo lý uống nước nhớ nguồn, mời tổ tiên ông bà về vui hưởng tết với con cháu..
Người Việt ăn nhiều tết, tết Đoan Ngọ, tết Trung Thu… nhưng tết Nguyên Đán là tết trọng nhất, tết còn mang ý nghĩa thiêng liêng, vì đó là ngày đoàn tụ gia đình. Con cái cháu chắt dù tứ xứ tha hương vẫn cố gắng về quê ăn tết, chúc thọ ông bà cha mẹ. Người thân, hàng xóm láng giềng thăm hỏi chúc nhau những điều tốt đẹp may mắn, rồi tụ tập rượu chè cờ bạc…hoặc tổ chức du xuân lễ hội…
Cụ Tịt Tuốt sổng chuồng. Ảnh: HM
Dê cụ Ninh Bình. Ảnh: HM
Do mê tín, người ta kiêng kỵ, tránh làm nhiều việc hầu gặp may mắn tốt lành trong năm mới, tránh bất hạnh tai ương, táng gia bại sản…có kiêng có lành. Ngày đầu năm người ta thường chọn những người  hợp tuổi với chủ nhà, lại phải vui vẻ hiền lành phúc hậu đến nhà trước tiên, gọi là xông nhà ( miền nam gọi là xông đất). Chẳng may gặp kẻ xông nhà cỡ Thị Nở Chí Phèo ắt xui tận mạng, có khi táng gia bại sản…
Năm con dê mà không bàn về dê hẳn rất thiếu sót. Theo các nhà khoa học chuyên nghiên cứu về dê, tục gọi là nhà ”Dê Học”…Giống dê xuất hiện khoảng 50,000 năm trước nhưng mới được thuần hóa khoảng ba hoặc bốn ngàn năm.
Người ta nuôi dê lấy sữa hoặc ăn thịt. Sữa dê rất bổ. Theo thần thoại Hy Lạp- La Mã. Hai thần Zeus và Jupiter là chúa tể các vị thần, thuở sơ sinh thường uống sữa dê pha mật ong. Vậy nên sau này khi cúng các thần bao giờ cũng có con dê.
Thiên hạ lại đồn thịt dê cường dương bổ âm. Tương truyền Từ Hi Thái Hậu nhà Thanh khoái món Sơn Dương Trùng, tức loài dê đươc nuôi dưỡng đặc biệt, ăn toàn đông trùng hạ thảo. Bởi thế Thái Hậu rất khỏe, hàng đêm vẫn có trai tân hầu hạ gối chăn…
Bản chất dê ưa phá phách, chạy nhẩy tung tăng. Thiên hạ kể chuyện: Có đàn dê nọ mải miết vui chơi,  chạy lạc vào vườn nhà quan lớn thay vì về nhà…Quan nhận ngay đàn dê là của mình. Thế là chủ nhà mất toi đàn dê, chẳng dám kêu nài sợ quan lớn nổi giận quy ngay vào điều này điều nọ, luật này luật kia…Có khi bóc vài quyển lịch là thường!…
Dê tạp ăn, ăn  đủ thứ  nhưng thích nhất vẫn là lá dâu. Thời Chiến quốc, Tấn Vũ Đế có hàng trăm cung tần mỹ nữ. Hàng đêm, vua dùng dương xa ( xe do dê kéo) vào chốn hậu cung. Cung phi thường hái lá dâu để trước cửa phòng. Xe dê dừng trước phòng nào, cung tần sẽ được vui thú gối chăn, hưởng ơn mưa móc của Hoàng Thượng…Bằng không sẽ chịu cảnh gối lạnh chăn đơn..
Giống dê khả năng tình dục rất mạnh, các nhà Dê Học tính: mỗi sáng, một chàng dê có thể thỏa mãn  khoảng 25 nàng dê mà vẫn còn sức chạy nhảy bình thường…và ngày nào cũng cứ thế…
De nhi đồng. Ảnh: HM
Dê nhi đồng. Ảnh: HM
Đàn ông nhiều vợ lắm con, cùng là các vị thấy phụ nữ thì mắt sáng láo liên…thường được đời tặng hỗn danh Dê Cụ. Trong nam lại gọi “người có máu 35″, bởi trong số đề, dê mang số 35.
Nói chuyện lắm vợ nhiều con, trong sử Việt không thể quên vua Minh Mạnh triều Nguyễn. Sử chép vua có tất cả 78 hoàng tử và 64 công chúa. Còn mỹ nữ cung tần bao nhiêu không biết. Chỉ biết năm Bính Tuất 1826, sau khi lên ngôi 6 năm. Thuở ấy thiên tai mất mùa, giặc cướp nổi lên. Vua cho rằng âm khí trong cung quá nặng, truyền tha 100 cung nữ hồi hương…Số còn lại bao nhiêu không biết. Chỉ biết hằng đêm có năm nàng hầu hạ, nàng têm trầu, nàng pha trà, nàng xoa bóp, nàng sai vặt, lại có nàng ca hát cho vua nghe…Làm vua sướng thật.
Người đời truyền tụng sở dĩ vua chiến đấu kiên cường nhờ toa thuốc thần Ngũ dạ ngũ giao sinh ngũ tử…Một đêm chiến đấu 5 phen sinh 5 con. Lại có dư luận cho rằng, sau này vua lại dùng toa thuốc mạnh hơn Nhất dạ ngũ giao sinh lục tử…Miệng đời đồn đoán, hư thực chưa tường. Chỉ một sự thật vua từ giã cõi thế vừa tròn tuổi 50!! Sống đến thế là quá thọ, lẽ ra vua phải ra đi sớm hơn…
Sau này, một thời dân ta ” ra ngõ gặp gian hùng”. Trong nhiều quán nhậu Sài Gòn, nhan nhản trưng bày rượu Minh Mạng. Lại có cả rượu Càn Long, rượu ngâm 9 loại rắn độc. Nhiều quan lớn dư tiền lắm bạc, sang tận Phi Châu tậu sừng tê giác về pha rượu uống, những mong mạnh như loài dê đêm bẩy ngày ba. Rượu này ông uống bà khen..nhưng có kẻ uống rồi  vong mạng…Ấy là do rượu chè quá đáng, hung hăng xung trận nhiều phen, lục phủ ngũ tạng nát bét nên chuyển sang từ trần…Bởi trên dương gian làm nhiều điều tàn bạo nên khi chết hồn sa địa ngục gặp nhiều cụ lớn đang bị Diêm Vương hành hình thảm khốc…nhiều cụ trông cũng rất quen…
Dê đi vào tục ngữ Việt nên có câu ” treo đầu dê bán thịt chó”. Ý chỉ người lươn lẹo gian dối, nói một đàng làm một nẻo. Dê đi vào thi ca. Cụ Nguyễn Gia Thiều trong tác phẩm Cung Óan Ngâm Khúc viết hai câu:
Phải duyên hương lửa cùng nhau
Xe dê lọ rắc lá dâu mới vào…
Hậu sinh lại có Thi sĩ Bùi Giáng. Người dị kỳ vẫn sống, vẫn thở, vẫn ” Đi về trong cõi người ta-Trước là thi sĩ sau là…đười ươi”. Ông một thời làm kẻ chăn dê vùng đồi núi xứ Quảng. Yêu dê như yêu…người tình:
Thôi từ nay em tha hồ mặc sức
Nhẩy múa tung sườn núi vút dòng khe
Thôi từ nay em tha hồ mặc sức
Vang vang đồi núi giọng…be be…
Dê, du khách cạnh chùa Bái Đính. Ảnh: HM
Dê, du khách cạnh chùa Bái Đính. Ảnh: HM
Ngày tết hẳn không quên câu chúc đầu năm…Đầu thế kỷ XX, thời thi sĩ Tú Xương…Nước nhà bị Pháp đô hộ, sưu cao thuế nặng. Vua ươn hèn nhu nhược,  tham quan ra sức đàn áp bóc lột. Dân oan than oán thấu trời xanh. Thông cảm nỗi đau, nhà thơ phẫn nộ chúc tết:
Bắt chước ai ta chúc mấy lời
Chúc cho khắp tất cả trên đời
Vua quan sĩ thứ người muôn nước
Sao được cho ra cái giống…người!!
Hóa ra trăm năm sau, bài học làm người mấy ai đã thuộc. Làm người thật khó lắm thay.
Phần nhận xét hiển thị trên trang

CHỈ TẠI NHÀ THƠ...

Bịa chuyện cho vui       


 Quỷ Đầu Trâu dạo này được Giời giao cho cai quản dưới âm phủ. Đáng nhẽ cái chức trách ấy là của Diêm vương nhưng Diêm Vương lại mải chơi nên hay xí xớn đi thăm chỗ này chỗ khác để ra điều với thiên hạ rằng thì là nếu Giời mà nghỉ hưu thì sẽ lên thay... Chính vì vậy mà Quỷ Đầu Trâu được cai quản âm ty địa ngục.
          Ngặt một nỗi những thằng người bị chết đều được Giời chứng nhận thuộc diện trong sạch nên được lên Thiên đường ráo cả, chả có đứa nào phải xuống âm phủ. Thành thử Quỷ Đầu Trâu nhận chức mà không có việc gì để làm.
          Đầu tiên Quỷ muốn ra oai định lên trần thế bắt mấy thằng có chức quyền xuống mà khảo cho đỡ “nhạt ghế”. Thật ra quan chức trên này thì thằng nào cũng có tội cả. Lại nhớ lệnh của Giời là làm gì cũng phải tính trước tính sau, bắt hết hỏi tội hết... thì bầu không kịp... Quỷ muốn cắt “Cu” thì phải theo khuôn phép nhà Giời, Giời đã bảo như thế thì đứa nào dám trái, nên đành chịu.
          Được giao “Quyền”  mà lại không có việc gì thì sinh ra chán. Trong không gian âm ty mờ mịt nhờ nhờ nước hến, Quỷ ngồi ngoẹo cổ ngủ gật trên ngai, dãi rớt lòng thòng ướt cả ngực áo. Thấy lành lạnh ở ngực, quỷ tỉnh dậy. Ngáp vài cái mồm rách đến mang tai... chợt thấy sự vô lý của cái chức vị đang quyền. Nghĩ một hồi rồi Quỷ ta khăn gói quả mướp lên giời...
          Qua chín tầng cửa quyền mới vào đến chỗ Giời. Thấy giời cũng đang... ngủ ngồi. Đánh thức dậy thì phạm đến long thể đấng Chí tôn cai quản muôn loài. Mà không  đánh thức thì đến bao giờ mới tâu trình được. Quỷ Đầu Trâu gõ sừng cồng cộc vào chân ngai vàng mà Giời vẫn cứ ngủ. Chắc đêm vừa rồi ngài thức khuya lo việc tầm vũ trụ. Kể cũng thương. Nhưng một ngày trên giời bằng 1 năm dưới trần, một năm dưới trần lại bằng mười năm dưới âm phủ, cứ ngồi đợi thế này thì không khéo phải đóng cửa Âm phủ thì gay. Tính sao bây giờ.
          May sao giữa lúc ấy có Tiên nữ bên cung Quảng hớt hải chạy sang:
          - Giời ơi giời... dậy đi dậy ngay!
          Quái, con này láo thế, dám gọi Giời như thể bằng vai phải lứa. Nhưng Quỷ chợt hiểu ra từ cái câu của người trần thế “gần chùa gọi bụt bằng anh”... cùng giường thì Giời cũng được gọi bằng anh... chả trách nào Ngài vẫn còn mệt.
          Khiếp ngủ gì mà ngủ ác thế. Gọi đến lần thứ hai thứ ba thì Giời mới giật mình hốt hoảng (ôi thì ra Giời vẫn biết sợ):
          - Có việc gì? Việc gì?
          Tiên nữ nói một hơi:
          - Công chúa Hằng Nga nguy... nguy rồi!
          - Sao mà nguy?
          Tiên nữ nhìn Quỷ Đầu Trâu ngại ngại. Giời cũng nhìn thấy Quỷ Đầu Trâu... nhưng ngài phẩy tay:
          - Nói... không việc gì phải ngại! Thằng này ngu lắm, mấy lị dưới âm phủ thì nói được với ai mà ngại. Cứ nói đi, con ta làm sao? Nguy là nguy thế nào?
          - Dạ... dạ. Công chúa Hằng Nga bị bị vỡ... vú.
          Nghe đến đây mặt Giời tái mét... suýt ngất. Cũng may ngài là Giời nên trấn tĩnh được:
          - Sao mà vú con ta lại vỡ được?
          - Dạ... vỡ là do bị nổ ạ! Dạ là do phẫu thuật bơm thẩm mỹ ạ. Do cái mụ Thiên y mắt trố cập bờ lờ nên...
          - Giời ơi là... Chợt nhớ ra mình là giời nên đành kêu khổ thế... khổ thế. Nói cụ thể ta nghe xem nào? Vú nó đang hẳn hoi vậy mà sao phải bơm thẩm mỹ...
          Tiên nữ lập bập thưa:
          -Tại... tại... mấy thằng nhà thơ dưới hạ giới ạ...
          -? ? ?
          - Là bởi nhẽ thế này: ở cung Quảng dạo này buồn quá nên Công chúa sinh ra hay đọc thơ để giải buồn. Đọc nhiều lắm ạ! Nhưng càng đọc Công chúa lại càng tức. Tức vì các nhà thơ toàn ca ngợi Hằng Nga đẹp vào lúc tròn đầy. Mà Giời cũng biết rồi đấy, cả tháng chỉ đầy được có vài ngày còn thì lép xẹp: Đầu tháng mỏng như cái lá lúa, cuối tháng thì nham nhở như thể bị chó gặm. Những lúc ấy chả đứa nào ca ngợi cả. Vậy là Hằng Nga quyết bơm ngực cho đầy cả tháng để bọn nhà thơ lúc nào cũng phải ca ngợi. Vậy là bảo Thiên Y bơm ngực. Thiên Y đặt mức bơm một giờ từ lúc 12 giờ trưa đến 1 giờ chiều... Nào ngờ Thiên y mải buôn dưa lê quên cả thời gian lại mắt cập bờ lờ nên nhìn đồng hồ “nhầm” kim ngắn hóa kim dài kim dài thành kim ngắn... 1 giờ chiều lại tưởng mười hai giờ năm phút... vậy là cứ bơm... cứ bơm... vậy là đoành một phát... nổ to lắm... vậy là Hằng Nga vỡ vú... Vậy là...
          Giời hốt hoảng nhảy từ trên ngai vàng xuống miệng lẩm bẩm: Mấy thằng nhà thơ khốn kiếp... rồi biết tay ông. Xỏ vội chân vào đôi hia rồi khoát tay một phát Giời bảo: Đi! Thế là Giời đi sang cung Quảng cùng Tiên nữ.
          Quỷ Đầu trâu vội chạy theo nắm lấy vạt áo Giời níu lại. Giời cáu:
          - Đang vội. Có việc gì? Nói mau.
          Quỷ lập bập:
          - Dạ bẩm...
          - Bẩm cái con khỉ. Nói mau... vội bỏ mẹ lại còn bẩm...
          Quỷ vội thưa:
          - Bẩm dạo này dưới âm ty không có việc để làm!
          Giời chửi ngay:
          - Sao ngu thế. Tao đã đặt ra chức cho mà ngồi thì phải tự nghĩ ra việc để mà làm. Có vậy mà còn hỏi.
          Nói xong Giời tất tả đi miệng vẫn lẩm bẩm: mấy thằng nhà thơ khốn kiếp... rồi biết tay ông.
          Quỷ nghe được những nhời vàng ngọc của Giời nhưng chả hiểu ra làm sao. Hắn đứng gãi tai, gãi mũi một hồi rồi nhẩm: “Nghĩ việc mà làm... mấy thằng nhà thơ khốn kiếp... rồi biết tay ông”. Thế là thế nào nhỉ? À đúng rồi mình là quân của Giời, phải nhớ câu “còn Giời thì còn quỷ...” mà Giời đang ghét mấy tay nhà thơ. Vậy thì phải trị mấy tay nhà thơ. Đúng. Phải trị. Thay Giời hành đạo, trị mấy tay nhà thơ lập công với Giời. Thế nào cũng được thưởng công, thế nào cũng lên chức. Rồi mình sẽ lên làm Diêm Vương, rồi dần dần được đề bạt làm ông Giời, thoát khỏi kiếp tay sai làm quỷ. Sướng quá. Quỷ vội ba chân bốn cẳng rời khỏi Thiên đình để đi tìm mấy tay nhà thơ dưới trần thế.
          Đến trần thế thì Quỷ Đầu Trâu lại băn khoăn. Nhà thơ là người như thế nào, hắn đâu có biết và cũng chưa gặp bao giờ. Nhưng nghe cái danh xưng “nhà” thơ thì chắc chắn nó phải có cái nhà rất to. Rồi! Nó phải biết làm thơ. Rồi! Nhưng Thơ là cái gì nhỉ... chắc là phải nói có vần... Rồi thì gì nữa nhỉ... Quỷ Đầu Trâu vốn không biết chữ. Không biết chữ nó khổ thế đấy giời ạ...Ôi thôi chết! Phạm húy... Quỷ vội rụt lưỡi lại.
          Từ xa xa Quỷ trông thấy một thằng người. Thằng này đang dạng chân đứng đái. Lại thấy hắn vừa đái vừa hét rõ to:
                   Ta đứng đây mắt nhìn bốn hướng
                   Trông hôm nay và trông cả mai sau
                   Trông bắc trông nam trông cả địa cầu...
          Hiên ngang gớm, vần gớm... Có thể thằng này là nhà thơ- Quỷ nghĩ vậy. Nhưng không biết nhà nó có to không? Cần phải kiểm tra. Nhưng lộ mặt quỷ thì không được: nếu gặp thằng nhát thì nó sẽ chạy bán sới, còn nếu gặp thằng cùn thì... nó đập vỡ mặt. Lại phải nghĩ cách. Quỷ bèn hóa thành đứa con gái. Đứa con gái ưỡn ẹo đến gần thằng người:
          - Em chào anh!
          Thằng người thấy gái thì vội quay người kéo khóa quần... rồi đon đả:
          - Anh chào em gái yêu kiều.
          Ối giời... lại còn yêu kiều. Đúng nhà thơ thật rồi. Vậy là cô gái quỷ hỏi:
          - Anh là nhà thơ phải không ạ.
          Thằng người thấy gái gọi là nhà thơ thì sướng nở mặt nở mũi. Hắn trả lời ngay tắp lự: Đúng anh là nhà thơ... công nhận em gái tinh thật. Vừa xinh đẹp vừa thông minh.
          Thực ra thằng này là thằng chăn vịt, suốt ngày lông nhông ngoài đồng. Nay thấy gái thì ra cái điều thơ phú. Quỷ thì chỉ biết là thơ phải có vần... muốn hỏi nhanh nhanh để biết rõ thằng người có phải nhà thơ không để còn trị tội. Nhưng lại có một cái luật giời là quỷ chỉ được phép biến thành người trong một quãng thời gian ngắn nên cần phải xác định cho rõ. Vậy là cô gái quỷ phải ưỡn ẹo hỏi tiếp vào cái chủ đề chính mà quỷ đang cần biết để khẳng định:
          - Nhà anh ở đâu, có to không?
          Thằng chăn vịt đang cơn hứng và cũng muốn tỏ ra mình là nhà thơ bèn vung tay như nghệ sĩ, mắt nhắm nghiền đầu ngẩng cao ung dung uốn giọng:
          -Trời cao biển rộng ngày đêm
          Mây che làm mái, đất êm giường nằm
          Quân gia kẻ dưới hàng ngàn
          Lúc vui tiên cảnh... lúc nhàn làm thơ.
          Cô gái quỷ nghe thằng chăn vịt nói vậy thì chắc mẩm đây là nhà thơ. Vì nó nói ra là đã có vần, nhà nó to đến vậy cơ mà, gia nhân nó đông hàng nghìn cơ mà... chắc chắn thằng này là nhà thơ nhớn. Mày chết với ông. Vậy là quỷ nắm lấy lưng quần chàng chăn vịt. Thằng chăn vịt thấy buồn buồn ở lưng... sướng mê tơi nghĩ bụng: “Em cảm mình rồi.” Ôi... thì ra bốc phét vài câu mà gái đẹp phải lòng đã bày tỏ tấm tình ngưỡng mộ gửi trao.
          Đang cao hứng định bịa tiếp thì hắn mở mắt. Mở mắt nhìn mặt cô gái để mong chứng kiến sự ngưỡng mộ của người đẹp. Chợt hắn thấy cái mũi cô gái to dần, to dần lại đen sì, còn cái tai vểnh ra như lá mít và trên đầu cô gái thấy nhu nhú cặp sừng... thì phát hoảng. Chả nhẽ lại là quỷ. Quả thật Quỷ đã hết thời gian hóa thân đành hiện nguyên hình. Thằng chăn vịt thất thần tắc giọng... tính bài co cẳng chạy. Nhưng Quỷ đã giữ chặt lấy cạp quần, thằng chăn vịt ngã sóng xoài. Quỷ cũng ngã theo nhưng tay vẫn giữ chắc cái lưng quần của thằng người. Chàng chăn vịt vội vàng xoay người nằm ngửa, chuồi chân ra khỏi cái quần... rồi chạy thục mạng.
          Quỷ ngơ ngẩn tiếc rẻ, rồi cầm cái quần của chàng chăn vịt: Xem trong quần của “nhà thơ” có cái gì. Thấy cồm cộm, quỷ ta lôi ra một tờ giấy. Thấy đầy chữ. Nhưng Quỷ lại không biết chữ nên chắc mẩm đấy là “thơ” vì Nhà thơ chắc chắn phải giữ thơ ở trong túi quần. Thực ra đấy là một tờ công văn hay thông báo gì đó mà chàng chăn vịt nhặt được. Mục đích là để làm giấy chùi sau khi đại tiện, để khỏi phải dùng bằng đất mỗi khi ở ngoài đồng.
          Dẫu Giời bảo là ngu nhưng quỷ ta cũng chịu khó nghĩ ngợi. Chả vậy mà người trần thế có câu mưu ma chước quỷ. Thế là Quỷ đần mặt ngồi tập hợp các dấu hiệu mà quỷ chắc chắn đấy là nhà thơ: Ở nhà to này; có đông kẻ hầu người hạ này, lúc mơ tiên cảnh tức là chơi bời rượu chè nhậu nhẹt chân dài nhà nghỉ... lúc nhàn làm thơ: Thơ thì phải viết ra tức là phải viết rất nhiều chữ như cái tờ giấy mà quỷ vừa bắt được. Được rồi. Thế thì rất dễ tìm. Đợt này ông cho chúng mày toi.
          Thế là quỷ tàng hình đến tất cả các nhà to có gác cổng, có kẻ hầu người hạ... tìm những anh chàng hay nhậu nhẹt rượu chè chân dài nhà nghỉ để đánh dấu. Sau đó lại lượn lờ theo đuôi những anh chàng ấy để xem xét... Nếu thấy ngồi viết lách trong biệt thự nguy nga thì chắc chắn đấy là nhà thơ.
          Sau khi xác định được các “nhà thơ” rồi thì Quỷ ta lên bá cáo với Giời: Hiện nay bọn “nhà thơ” rứt là đông. Những điều chúng viết ra bị dân chúng la ó chửi bới Giời thậm tệ: nào là Giời quan liêu, nào là Giời dung túng, ngầm tiếp tay cho đám ăn bớt ăn chặn, thậm chí có người còn bảo là Giời ngu... Uy tín của ông Giời ngày càng giảm sút nghiêm trọng.
          Quỷ kết luận: Đây là bọn phá hoại.
          Nghe nhời Quỷ tâu lên, Giời tức quá. Đúng là bọn phá hoại! Ngài ban cho Quỷ Đầu Trâu “Thượng phương Bảo kiếm” truy nã bắt tất cả bọn “nhà thơ” ấy xuống âm phủ. Bắt cơ man là người. Quỷ lúc này rất bận rộn vì phải ra oai hỏi cung để trị tội. Nhưng oái oăm... bọn này không tên nào chịu nhận là nhà thơ.
          Quỷ chả hiểu ra làm sao... lại lên tâu với Giời. Giời lúc ấy đích thân xuống âm phủ xem xét.  Sau khi xem xét xong Ngài hằm hằm chỉ tay vào mặt Quỷ Đầu Trâu: Đồ ngu. Đấy chính là các quan, các chủ dự án của thiên đình... Trách nào khi vá vú cho Hằng Nga xong thì nhìn thiên đình vãn đi quá nửa. Làm gì có nhà thơ nào!
          Thế là Quỷ bị phạt. Một năm Giời chỉ cho lên mặt đất có vài ngày. Đến bây giờ hắn vẫn tức vì cái sự ấy và lầm bầm chửi “chỉ tại mấy tay nhà thơ.”
          Còn Hằng Nga dạo này vẫn xẹp lép đầu tháng, nham nhở cuối tháng... mấy ngày giữa tháng thì vơ những đám mây để che những đám vá víu trên ngực mình cho đỡ xấu hổ. Bây giờ có thách kẹo cũng chả dám nghĩ đến chuyện bơm ngực thẩm mỹ nữa.
          Các nhà thơ thật thì  đang ở nhà tôn nóng chảy mỡ, vén quần quá đầu gối củ lạc, uống rượu nút lá chuối nhắm lạc rang đang cười ha hả... khoái chí lắm.
          Và họ lại rổn rảng đọc thơ: “trăng tròn tròn, tròn như cái mâm con”
           

           
     Bai cua dong chi Cua
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Những bức tranh body 'nhạy cảm'


Tác giả của bộ ảnh rất đẹp này là nữ nghệ sĩ người Mỹ Cecilia Webber.
Here: a hummingbird 
A Monarch butterflyA cardinalA Cerulean butterflyA pair of lovebirdsA peacockA Fuchsia butterfly'Reach', a caterpillarA chrysalis and butterflyA butterflyA caterpillarAn owlA night owl
Picture: Cecelia Webber/Solent News (telegraph)Thi đua phải thực chất (SGGP 1-4-11)  -- Damn! This kind of things makes me mad! - -Tranh/ảnh thưởng lãm cuối tuần Xin giới thiệu bộ tranh sơn dầu liên hoàn của họa sĩ Thái Tuấn. Dựa theo một khẩu hiệu quen thuộc,cũng như bức ảnh mới nhất từ Bắc Hàn, thiên đường của các nhà lãnh đạo độc tài, vốn cũng sử dụng rất nhiều khẩu hiệu này. -Tranh Nguyễn Thái Tuấn và con mắt Internet
Phần nhận xét hiển thị trên trang