Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Ba, 17 tháng 2, 2015

Chuyện của người lính sống sót ở pháo đài tử thủ Đồng Đăng

16-02-2015
(VTC News) – Chúng dùng súng phun lửa, thả lựu đạn,chất hóa học vào các lỗ thông hơi, làm thiệt mạng tất cả chiến sỹ cũng như dân quanh vùng chui vào pháo đài lánh nạn.
kỳ 1: Ngày 17/2 khốc liệt
Đồng Đăng, Lạng Sơn trong một chiều mưa phùn lất phất, cái lạnh lẽo cuối mùa đông làm khung cảnh thêm buồn bã.
Ngoài quốc lộ, hàng đoàn xe container xếp thành hàng dài, chở đầy hàng hóa chờ xuất sang Trung Quốc.
Không ai để ý tới bóng dáng một người đàn ông hơn 50 tuổi tập tễnh khó nhọc bước về phía Pháo đài Đồng Đăng.
Những người lớn tuổi nhận ra ông là một cựu binh thông qua bộ quân phục cũ kỹ khoác trên người. Người cựu binh đó đã trải qua những giây phút sinh tử của chiến tranh, mà bằng chứng là những vết sẹo chằng chịt trên khuôn mặt khắc khổ.
Bất chợt, ông run rẩy, ngâm những câu thơ trong bài thơ “Thần chiến thắng” của Chế Lan Viên: “Ôi, ta yêu đến đau thương Tổ quốc của mình/ Mỗi đất nước có một số phận riêng, một cuộc đời riêng, có phải?/… Cái ta xây cất mười năm, chúng thiêu tàn một buổi/ Tội ác ấy muôn đời không xóa nổi…”.
Những câu thơ đau ruột xót lòng. Hơn 36 năm sau cuộc chiến, những câu thơ ấy vẫn lay động tâm can, thức tỉnh ý thức con người.
Pháo đài Đồng Đăng hoang tàn đổ nát, cỏ mọc kít mít
Pháo đài Đồng Đăng hoang tàn đổ nát, cỏ mọc kít mít
Pháo đài Đồng Đăng – nơi diễn ra cuộc chiến anh hùng của mấy trăm chiến sỹ chống lại quân xâm lược Trung Quốc giờ quá hoang tàn, đổ nát. Người cựu binh đến đây, chỉ thấy rác lẫn kim tiêm của con nghiện vứt lại. Không một tấm bia, không một hình ảnh.
Hỏi chuyện xung quanh, thì nhiều người cũng chỉ biết rằng cuộc chiến ở Đồng Đăng, nhất là khu vực pháo đài nghe nói khủng khiếp lắm. Nhưng ít ai được chứng kiến, vì phần lớn đều chạy loạn khi cuộc chiến nổ ra, hoặc về sau họ mới tìm lên đây sinh sống.
Xung quanh pháo đài, tường đá đổ nát rêu phong, lau lách chi chít. 36 năm, lẽ nào cỏ dại đã mọc trùm ký ức?
Nhiều tài liệu ghi chép, lực lượng phòng thủ tại pháo đài Đồng Đăng dù không được chi viện nhưng đã kiên cường chiến đấu suốt 5 ngày trời, trụ được cho tới ngày 22/2/1979.
Ông Nguyễn Duy Thực kể lại thời khắc khốc liệt ở Pháo đài Đồng Đăng
Ông Nguyễn Duy Thực kể lại thời khắc khốc liệt ở Pháo đài Đồng Đăng
Ngày cuối cùng tại đây, nơi có hệ thống phòng thủ kiên cố nhất, không gọi được đối phương đầu hàng, quân Trung Quốc chở bộc phá đánh sập cửa chính.
Chúng dùng súng phun lửa, thả lựu đạn, chất hóa học vào các lỗ thông hơi, làm thiệt mạng tất cả chiến sỹ cũng như dân quanh vùng chui vào pháo đài lánh nạn.
Ít ai biết rằng, vẫn có người sống sót. Và người cựu binh già đó là một trong mấy nhân chứng của cuộc chiến khốc liệt tại pháo đài Đồng Đăng 36 năm trước.
Ông là Nguyễn Duy Thực, ở phường Việt Hưng, quận Long Biên, Hà Nội. ông là cựu binh của Đại đội 42, Trung đoàn 4, Sư đoàn 3 đóng quân tại Lạng Sơn.
Ông Thực gia nhập quân ngũ và huấn luyện tại Lục Ngạn, Bắc Giang đầu năm 1978.
Cuối năm đó, khi Trung Quốc rục rịch gây chiến suốt toàn dải biên giới phía bắc, đơn vị của ông được lệnh tập trung tại Lạng Sơn. Bản thân ông cùng đại đội của mình đóng quân tại pháo đài Đồng Đăng, nơi mà chỉ ít lâu sau đã diễn ra cuộc chiến bi tráng của vài trăm con người chống lại cả mấy sư đoàn quân xâm lược Trung Quốc.
Chiến tranh biên giới. (Ảnh: internet)
Chiến tranh biên giới. (Ảnh: internet)
Nhắc lại thời điểm 17/2/1979, ông Thực rưng rưng: “Các bạn còn trẻ, chưa được chứng kiến cũng như không hình dung được hết sự tàn khốc của chiến tranh, nhưng dù sao tôi còn may mắn hơn nhiều những đồng đội đã mãi nằm lại nơi biên cương này”.
Với ông, dù đã trải qua 36 năm, nhưng những ký ức về cuộc chiến vẫn như mới vừa hôm qua, và nó vẫn cứ đeo đẳng mãi về sau.
Năm 1979, Trung Quốc bất ngờ huy động hàng chục sư đoàn tấn công trên khắp tuyến biên giới với Việt Nam. Ở Trung Quốc, giới cầm quyền mị dân gọi đây là cuộc “phản kích tự vệ”, để “dạy cho Việt Nam một bài học”.
Tuy nhiên, lẽ phải không thuộc về Trung Quốc bởi họ không có lý do nào chính đáng để giải thích cho hành động xâm lược này.
Trước đó, lúc mới hành quân lên biên giới, ông Thực cùng anh em Đại đội 42 đã chia nhau đào công sự, trấn giữ các mỏm đồi. Tuy nhiên, lán trại mới được dựng lên, vữa trát còn chưa khô, mái gianh còn xanh lá, mới có mấy ngày đã xảy ra chiến tranh.
Người cựu binh già nhớ lại: 5h sáng ngày 17/2/1979, lúc mọi người đang chuẩn bị tập thể dục, thì bất ngờ phía bên kia biên giới, cách chỗ lán trại có vài km, tiếng pháo bắt đầu nổ ùng oàng, ánh chớp sáng rực góc trời, liên tiếp những quả đạn vượt qua pháo đài rơi xuống thị trấn Đồng Đăng.
Không ai bảo ai, mọi người đồng thanh hô to: “Tàu đánh rồi”. Tất cả chạy qua kho quân khí, mỗi người cầm 1 khẩu súng và tức khắc chạy lên các chốt phòng thủ.
Sau màn rót pháo, chỉ trong phút chốc, quân Trung Quốc rầm rộ tiến vào Đồng Đăng.
Đi đầu là xe tăng, bò lên bắn vào các cao điểm, phía sau là quân Trung Quốc tiến lên đủ chủng loại, kẻ chạy bộ, kẻ đi ngựa, kẻ ngồi trên xe quân sự tiến lên.
Thị trấn Đồng Đăng nhìn từ pháo đài
Thị trấn Đồng Đăng nhìn từ pháo đài
Một phát đạn B40 phóng xuống đám lính đầu tiên tiến gần đến pháo đài, cả tiểu đội tan xác. Những tên gần đó tóc tai cháy xém, mặt mũi lộ vẻ kinh hoảng, ngần ngừ không dám tiến. Ngay tức khắc, chúng bị những tên đi sau bắn chết, rồi cả biển người lầm lũi tiến lên, bất chấp súng đạn.
B40, ĐKZ, AK bắn toét cả nòng súng cũng không xuể trước chiến thuật biển người của quân Trung Quốc, ông Thực cùng đồng đội phải rút dần vào pháo đài cố thủ.
Đến trưa 17/2, các chốt cố thủ của Đại đội 42 từ con đường quanh đồi thông dẫn đến pháo đài cũng lần lượt bị mất.
Về sau mới biết, bên cạnh ưu thế về lực lượng, lại chủ động về thời gian xâm lấn, quân Trung Quốc còn được sự hỗ trợ của bọn phản động người Hoa. Chúng cắt hết dây thông tin liên lạc, dẫn lính Trung Quốc theo các đường hẻm lên chốt, những vị trí đóng quân của ta.
Trong pháo đài lúc đó có khoảng 700 con người, bao gồm Đại đội 42, một đơn vị cảnh sát dã chiến Đồng Đăng, công an vũ trang, cùng một số người dân chạy loạn tìm lên.
Lương thực dự trữ chỉ có chút ít, nhưng quân Trung Quốc tiến vào đã phá sạch, cướp sạch.
Một đồng đội kể lại với ông Thực rằng, ông chứng kiến phía sau đám lính là một đội dân binh rất đông di chuyển theo để hỗ trợ. Chúng là đội quân ô hợp hôi của. Chúng vào nhà dân bắt gà, bắt lợn chọc tiết, xuống cả ao bắt cá… Đám quân ô hợp ấy đặt bộc phá giật đổ nhà cửa dân cư.
Trên đường tìm về pháo đài, người đồng đội ấy đã tiêu diệt thêm mấy tên lính Trung Quốc. Khi chạy qua đám xác chết, ông còn gặp một tên chết trong tư thế hai tay còn ôm chặt bao khoai lang.
Còn tiếp…
Phần nhận xét hiển thị trên trang

BIÊN GIỚI PHÍA BẮC 1979: 30 NGÀY KHÔNG THỂ NÀO QUÊN

 (2) Pháo binh VN - Ảnh: ST Like TCCL.info Blog để cập nhật thông tin mới nhất từ Việt Nam và toàn Thế giới!   TCCL | Đăng ngày 17/2/2015 
Biên giới phía Bắc 1979: 30 ngày không thể nào quên (2)

Sáng ngày 17-2-1979, pháo binh Trung Quốc đã khai hỏa vào các mục tiêu trong lãnh thổ Việt Nam, mở màn cuộc xâm lược. Sáng ngày 17-2-1979, pháo binh Trung Quốc đã khai hỏa vào các mục tiêu trong lãnh thổ Việt Nam, mở màn cuộc xâm lược. Cuộc chiến bảo vệ biên giới phía Bắc của quân và dân Việt Nam chính thức bắt đầu. Lời Tòa soạn: Đã 36 năm trôi qua nhưng ký ức của hàng triệu người dân Việt Nam về một trang sử hào hùng của Tổ quốc, ký ức về sự hy sinh của hàng ngàn đồng bào, chiến sỹ đã ngã xuống để bảo vệ từng tấc đất biên cương khởi đầu từ ngày 17/2/1979 ... vẫn chưa hề phai mờ.  Nhắc lại cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc năm 1979 với 30 ngày khốc liệt để hậu thế chúng ta thêm hiểu hơn về lịch sử của đất nước, để tôn vinh những người con ưu tú đã ngã xuống giống như chúng ta vẫn thường tôn vinh những anh hùng, liệt sỹ của những khác trong suốt thời kỳ chiến tranh giải phóng dân tộc. Với mong muốn giúp cho độc giả có một cái nhìn khái quát nhất nhưng toàn cảnh nhất về cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc 1979, Infonet xin giới thiệu loạt bài viết được chắt lọc, tham khảo và tổng hợp từ các tài liệu, sách báo đã từng được xuất bản như:  Lịch sử lực lượng vũ trang nhân dân Quân khu 1 và 2;  Lịch sử các quân đoàn 1, 2, Binh đoàn Pắc Bó;  Lịch sử các sư đoàn 3, 316, 337, 338, 346, 395;  Lịch sử lực lượng vũ trang nhân dân tỉnh Lạng Sơn, thị xã Cao Bằng; Lịch sử Bộ đội Biên phòng Lịch sử Dẫn đường Không quân Lịch sử Pháo binh QĐNDVN Báo Quân đội Nhân dân tháng 2 và 3-1979 China’s Aggression: How and Why It Failed – Nguyen Huu Thuy Chinese Military Strategy In The Third Indochina War - Edward C. O’Dowd China’s War With Vietnam 1979 – King C. Chen ------------------------------ Pháo binh trên mặt trận Quảng Ninh Bài 2: Diễn biến cuộc chiến trên các mặt trận chính Trên mặt trận Lai Châu Trên mặt trận Lai Châu, quân Trung Quốc chia thành hai mũi tiến công. Mũi chủ công đảm nhiệm tiến công Ma Ly Pho, Pa Nậm Cúm vào ngã ba Phong Thổ. Mũi thứ hai tiến công từ Huổi Luông, Pa Tần (Sìn Hồ). Ngoài ra địch còn sử dụng một lực lượng đánh chiếm khu vực bắc Dào San và Mù San (Phong Thổ). Từ ngày 17-2 địch bắt đầu thực hành tấn công vào các điểm cao 1562 Mù San, 1112 Ma Ly Pho, Hoàng Thểm, Khao Chải, điểm cao 262… cùng một số vị trí khác do Trung đoàn 741 và 193, Tiểu đoàn 2 Sìn Hồ, đồn biên phòng Ma Lù Thàng, Si Lờ Lầu, A Pa Chải… bảo vệ. Đến ngày 19-2 đối phương chiếm các vị trí này và tiến xuống ngã ba Nậm Cáy, Mô Sy Câu, ngã ba Pa So và bắc Pa Tần. Lực lượng ta chặn đánh quyết liệt nhưng đến 24-2 địch làm chủ các mục tiêu trên và tiếp tục tăng cường lực lượng để đột phá tiếp. Lực lượng vũ trang Lai Châu chiến đấu Trước tình hình này, Bộ tư lệnh Quân khu 2 điều động lực lượng của Trung đoàn 98 Sư đoàn 316 và Trung đoàn 46 Sư đoàn 326 tăng cường cho khu vực phòng thủ Pa Tần và tổ chức phản công đánh chiếm lại một số vị trí. Tại đây chiến sự diễn ra ác liệt, hai bên giành giật từng điểm chốt như ở cao điểm 805, 551 hay 553 bắc Pa Tần. Sau nhiều đợt tiến công liên tục, ngày 3-3, quân Trung Quốc chiếm được thị trấn Phong Thổ, Pa Tần và đến 5-3 chiếm được Dào San. Đến 10-3 trên mặt trận Lai Châu địch rút về bên kia biên giới. Kết thúc đợt chiến đấu này đã có 11 cá nhân và 6 đơn vị chiến đấu trên hướng Lai Châu được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân. Trên mặt trận Quảng Ninh Trên hướng Quảng Ninh, ngày 17-2-1979, quân Trung Quốc huy động một bộ phận địa phương quân, biên phòng, dân binh của tỉnh Quảng Tây tiến đánh một số trận địa phòng ngự do các đơn vị thuộc Trung đoàn 41 và 288 Sư đoàn 325B, Trung đoàn 43 và 244 bộ đội địa phương, Đồn biên phòng Pò Hèn… đảm nhiệm ở khu vực Hoành Mô, Đồng Văn (Bình Liêu), Thán Phún (Hải Ninh) và pháo kích vào thị xã Móng Cái. Trong các trận tiến công này địch chiếm được bình độ 300, đồn Pò Hèn và điểm cao 1050 Cao Ba Lanh nhưng đến chiều 19-2 ta phản kích khôi phục lại trận địa.   Ngày 26-2, địch mở đợt tiến công mới nhằm vào khu vực chốt của Trung đoàn 288 Sư đoàn 325B ở điểm cao 1050, 585, đồi Cây Xanh, đồi Không Tên… và ngày 28-2 đánh vào trận địa Trung đoàn 41 Sư đoàn 325B ở điểm cao 500, 600, 781, đồi Khẩu Hiệu… Các đợt tiến công này đều bị đánh bại. Ngày 28-2, Tư lệnh Quân khu 1 quyết định thành lập Bộ tư lệnh Mặt trận Quảng Ninh do Thiếu tướng Nguyễn Sùng Lãm mới được cử về làm Phó tư lệnh quân khu đứng đầu. Ngày 1-3, quân Trung Quốc đồng loạt tiến công vào các điểm tựa của Trung đoàn 41 và 288 Sư đoàn 325B, Tiểu đoàn 130 Bình Liêu, Đồn biên phòng Hoành Mô, Đồng Văn, Móng Cái và Đại đội 6 công an vũ trang… chiếm được đồn Hoành Mô và một phần điểm cao 600 và 781 nhưng bị chặn lại trên các hướng khác. Ngày 4-3, địch tập trung đánh chiếm điểm cao 1050 nhưng một lần nữa bị đẩy lui với thiệt hại nặng nề. Cũng trong ngày hôm đó Trung đoàn 41 Sư đoàn 325B phản kích lấy lại điểm cao 600 và 781. Đến đây, mọi nỗ lực tấn công vào tuyến biên giới Quảng Ninh của Trung Quốc đều bị bẻ gãy. Ngày 5-3, Bắc Kinh tuyên bố rút quân khỏi Việt Nam. Chiến sự trên hướng Quảng Ninh tạm thời lắng xuống. Trong đợt chiến đấu này, 2 cá nhân và 5 đơn vị đã được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân. Trên mặt trận Hà Tuyên Hà Tuyên là hướng phối hợp, địch không tiến công lớn mà chỉ sử dụng biên phòng và dân binh tỉnh Vân Nam đánh vào các chốt của ta ở xã Thượng Phùng, Lũng Làn (Mèo Vạc), Lũng Cú, Ma Ly (Đồng Văn), Nghĩa Thuận (Quản Bạ), Thanh Thủy, Lao Chải (Vị Xuyên), Bản Păng, Bản Máy (Xìn Mần), Na Khê (Yên Minh). Tại đây bộ đội địa phương, công an vũ trang và dân quân tự vệ đã phối hợp chặn địch. Ngoài ra lực lượng vũ trang Hà Tuyên còn chủ động tổ chức một số trận đánh ngay vào vị trí xuất phát tiến công của đối phương như trận đánh ngày 23-2 của Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 122 vào điểm cao 1875 hoặc trận ngày 25-2 của Tiểu đoàn 1 Mèo Vạc tập kích địch đột nhập xã Thượng Phùng và tập kích đồn Hoà Bình. Công an vũ trang Thanh Thủy, Hà Tuyên trên chốt Từ 4-3, để hỗ trợ cho hai cánh quân trên hướng Hoàng Liên Sơn và Lai Châu, ở Hà Tuyên địch đẩy mạnh các hoạt động tiến công cấp đại đội, tiểu đoàn nhằm vào các đồn biên phòng và các xã biên giới: Ngày 5-3 tiến công đồn Lũng Làn và điểm cao 1379 Phìn Lò (Mèo Vạc), ngày 6 và 7-3 đánh Bản Păng, Bản Máy (Xín Mần); ngày 8 và 9-3 đánh Phó Bảng (Đồng Văn); ngày 11-3 tiến công khu vực Lao Chải (Vị Xuyên); ngày 13-3 tiến công điểm tựa của Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 122… đều bị đẩy lui. Đến ngày 14-3 chiến sự tạm thời lắng xuống. Trong đợt chiến đấu này lực lượng vũ trang Hà Tuyên đã tham gia chiến đấu 61 trận, có 1 cá nhân và 1 đơn vị công an biên phòng được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân. Theo công bố chính thức, trên cả ba mặt trận Quảng Ninh, Lai Châu và Hà Tuyên, các lực lượng vũ trang và nhân dân Việt Nam đã loại khỏi vòng chiến 14.000 quân Trung Quốc (trong đó Hà Tuyên tiêu diệt khoảng 1.000 địch), đánh thiệt hại nặng 3 tiểu đoàn địch, phá hủy 4 xe tăng và 6 xe quân sự. Trên mặt trận Hoàng Liên Sơn Hoàng Liên Sơn là trọng điểm tiến công chính của quân Trung Quốc trên tuyến biên giới Tây Bắc. Tại đây địch tổ chức tiến công quy mô lớn theo hai trục: từ Quang Kim (Bát Xát) đánh xuống Cam Đường, Bến Đền và từ Nà Lốc vào Bản Phiệt (Bảo Thắng) theo quốc lộ 70 đánh xuống Phong Hải, Phố Lu. Để hỗ trợ cho các hướng chính, đối phương còn cho các mũi vu hồi đánh vào Sa Pa, Mường Khương. Ngay trong đêm 16 rạng 17-2-1979, lợi dụng trời tối và sương mù, quân Trung Quốc đã bí mật cho một lực lượng lớn vượt biên giới, luồn sâu ém sẵn ở các khu vực Na Lốc, Lều Nương (bắc Bản Phiệt), bản Vược Duyên Hải (bờ nam sông Hồng phía tây bắc thị xã Lào Cai), Mường Khương (Hoàng Liên Sơn), đồng thời triển khai đội hình chủ lực sáp sát biên giới Việt Nam. 6 giờ sáng 17-2-1979, sau khi cho pháo binh bắn chuẩn bị với mật độ cao, trên hướng chủ yếu quân Trung Quốc bắc cầu phao vượt sông Hồng và tổ chức tấn công. Các đơn vị của ta lúc đầu bị bất ngờ, bị động nhưng ngay sau đó đã kịp thời triển khai đội hình chiến đấu.  Trung đoàn bộ binh 192, 254 bộ đội Hoàng Liên Sơn, Trung đoàn 16 công an vũ trang, Đồn biên phòng Vạn Hòa, Pha Long, Mường Khương, Nà Lốc, Nậm Chảy… cùng bộ đội địa phương huyện và dân quân tự vệ tổ chức đánh trả quyết liệt trên tất cả các hướng, trong khi pháo binh ta vừa chi viện bộ binh vừa phản pháo các trận địa hỏa lực ở Hà Khẩu và bắn phá các điểm vượt sông của địch.  Tuy nhiên nhờ có ưu thế vượt trội về binh hỏa lực, đến trưa 17-2 quân Trung Quốc đã chiếm các điểm cao ở phía bắc ngã ba Bản Phiệt, toàn bộ cánh đồng Quang Kim, Bản Qua, Bản Vược, thị xã Lào Cai và thị trấn Mường Khương, Bát Xát. Các đơn vị ta bị tổn thất phải lùi về phía sau tổ chức phòng ngự, tuy nhiên vẫn tiếp tục cho lực lượng bám đánh ngay cả ở những khu vực đối phương đã làm chủ và phải đến tận 19-2 quân Trung Quốc mới thực sự kiểm soát được thị xã Lào Cai. Trước tình hình đó, Bộ tư lệnh Quân khu 2 ra lệnh cho Sư đoàn bộ binh 316 (thiếu Trung đoàn bộ binh 98) từ Bình Lư, Phong Thổ (Lai Châu) cơ động lên tổ chức trận địa phòng ngự ở khu vực Sa Pa từ ngày 19-2. Đồng thời, Sư đoàn bộ binh 345 ở Bảo Thắng nhanh chóng đưa Trung đoàn bộ binh 124 vào xây dựng tuyến phòng thủ ở khu vực nông trường Phong Hải (cây số 18 trên quốc lộ 70). Ngày 19-2, quân Trung Quốc tiếp tục tiến công chiếm ngã ba Bản Phiệt, dãy Nhạc Sơn và cây số 4 Kim Tân. Ở phía hữu ngạn sông Hồng đối phương chiếm khu vực Đá Đinh, mỏ a-pa-tít Cam Đường. Trên hướng Mường Khương, sau khi chiếm thị trấn địch theo đường 4D phát triển xuống khu vực nông trường Thanh Bình. Trên hướng Sa Pa một bộ phận địch luồn lách từ khu vực Quang Kim lên Bản Khoang rồi đánh lên Ô Quý Hồ (cây số 8 trên đường 4D Sa Pa đi Bình Lư (Lai Châu), một bộ phận khác tiến công từ Cốc San lên Cầu Đôi để phối hợp với mũi vu hồi Ô Quý Hồ đánh chiếm Sa Pa. Trung đoàn pháo binh 168 Quân khu 2 chi viện cho mặt trận Hoàng Liên Sơn. Ngày 22-2, cuộc chiến đấu của Sư đoàn 316 trên hướng Sa Pa bắt đầu. Sư đoàn 345 cũng tiến hành chặn đánh địch trên hướng từ Lào Cai đi Bảo Thắng. Trên tất cả các trục tiến công của đối phương, lực lượng vũ trang ta đã dũng cảm chiến đấu tuy nhiên do tương quan quá chênh lệch nên không thể cản được đà phát triển của chúng, phải vừa đánh vừa rút lui để bảo toàn lực lượng.  Ngày 25-2, địch chiếm được thị xã Cam Đường (cách thị xã Lào Cai 10km). Ngày 1-3, địch chiếm thị trấn Sa Pa (cách thị xã Lào Cai 38km) và tiếp tục đánh về Bình Lư. Đến ngày 4 và 5-3 quân Trung Quốc đã tiến xuống cây số 36 trên quốc lộ 70, chiếm được Phố Lu (cách thị xã Lào Cai 32km), Bến Đền. Ngày 5-3, nhà cầm quyền Bắc Kinh tuyên bố rút quân. Từ ngày 6-3 trên hướng này quân Trung Quốc bắt đầu tổ chức rút về bên kia biên giới và hoàn tất vào 13-3-1979. Theo công bố chính thức, các lực lượng vũ trang và nhân dân trên mặt trận Hoàng Liên Sơn từ ngày 17-2 đến 18-3-1979 đã loại khỏi vòng chiến 11.500 quân Trung Quốc, đánh thiệt hại nặng 4 tiểu đoàn địch, phá hủy 66 xe tăng, thiết giáp và 189 xe quân sự. 12 cá nhân và 6 đơn vị được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân. 
Bài 3: Diễn biến cuộc chiến đấu trên mặt trận Lạng Sơn - Cao Bằng Trường Sơn Theo Infonet
Đọc thêm tại: http://tccl.info/vn/tri-thuc/quan-su/24287/bien-gioi-phia-bac-1979-30-ngay-khong-the-nao-quen-2-.html | TCCL.info
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Kissinger và Hoàng Sa

(Cám ơn Nguyen Thanh Tuan đã thu xếp cho tôi gặp lại GS Thomas Bass)

Hơn 8 năm trước, ngày 10-3-2006, GS Thomas Bass đã thu xếp để tôi phỏng vấn Henry Kissinger. Khi xem tấm ảnh tôi chụp với Kissinger, ông đùa: “Nếu cậu là người Mỹ thì có thể lồng kính bức ảnh này treo trong văn phòng”. Nói thế thôi, như số đông người Mỹ khác, Thomas rất ghét Henry Kissinger.
Không có khoa ngoại giao của trường đại học nào ở vùng Boston lại không bắt học trò đọc sách của Kissinger. Nhưng, lần ấy, khi ông tới Boston dự Hội thảo Việt Nam and the Presidency, sinh viên ý ới gọi nhau biểu tình phản đối. Tôi hỏi: “Tại sao?”. Kissinger cười: “Cho dù ghét tôi thế nào thì họ cũng phải thấy rằng, thế giới đã không thể có những thay đổi như thế này nếu không có những quyết định của chúng tôi”.
Một trong những hành động mà người Việt cộng sản thù ghét Kissinger nhất là cú bắt tay tháng 2-1972 giữa Nixon và Mao. Đây là bước ngoặt lớn nhất trong quan hệ giữa Hà Nội với Bắc Kinh. Thay vì có đủ tầm nhìn để nhận thấy sự thay đổi của thế giới sau cú bắt tay đó, để có những thay đổi thích hợp, Hà Nội đã phản ứng như một cậu em quen được nuông chiều, giận lẫy vì bị “ông anh bán đứng”.
Cuối tháng 3-1972, khi Hà Nội dồn sức chiếm bằng được cổ thành Quảng Trị. Nixon quyết định dùng B-52 ném bom ra tới Vinh để chặn đường tiếp tế. Ngày 3-4-1972, Kissinger gọi đại sứ Dobrynin của Liên Xô đến Nhà Trắng, trách cứ Liên Xô “đồng lõa” với cuộc tiến công của Hà Nội. Liên Xô khi đó đang muốn có cuộc gặp “thượng đỉnh” với Nixon, ngầm cho Kissinger biết rằng, họ không muốn rủi ro quyền lợi của mình bằng cách ủng hộ vô điều kiện cho Hà Nội.
Cùng ngày, Kissinger cử Winston Lord tới New York gặp Hoàng Hoa, đại sứ Trung Quốc tại Liên hợp quốc, chuyển tới Hoàng Hoa “thông điệp miệng” (oral message) rằng, Mỹ sẽ ra lệnh cho tàu chiến ra khỏi lãnh hải Hoàng Sa 18 dặm thay vì 3 dặm như “vị trí lịch sử” của Mỹ. Như vậy, tới lúc đó Washington mới bắt đầu “công nhận” tuyên bố 1958 của Chu Ân Lai (Ngày 19-1-1974 Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa, Hạm đội 7 đã án binh bất động).
Ngay sau đó 20 B-52, lần đầu tiên được đưa ra miền Bắc, ném bom xuống khu vực Vinh. Các cuộc tấn công này không ngăn được Hà Nội, ngày 1-5-1972, tiến chiếm thủ phủ Quảng Trị. Nhưng những thỏa thuận ngầm đạt được với Maxcova và Bắc Kinh đã khiến cho Nixon tự tin cho thả thủy lôi phong tỏa miền Bắc.
Kissinger hài lòng khi TASS khẳng định “sẽ giành cho nhân dân Việt Nam sự hỗ trợ cần thiết” thay vì “sự hỗ trợ tăng thêm” như họ lo lắng. Còn Nhân Dân Nhật Báo thì tuy dùng những lời lẽ đao to búa lớn, đã trấn an người Mỹ bằng cách vẫn chỉ coi Trung Quốc là “hậu phương” của Việt Nam. Ngày 15-9-1972, người Mỹ giúp miền Nam lấy lại Quảng Trị.
Sau năm 1979 khi Trung Quốc đánh Việt Nam, có giai thoại: Năm 1973, Kissinger đến Việt Nam, nói với Lê Đức Thọ rằng, mối đe dọa của Việt Nam từ nay không phải là người Mỹ mà là phương Bắc. Khi nghe tôi nhắc lại chuyện này, Kissinger cười: “Tôi đến Hà Nội, Lê Đức Thọ đưa tôi đi thăm bảo tàng lịch sử, ở đó tôi không hề thấy phần trưng bày nào nói đến chiến tranh với Mỹ, trong khi có rất nhiều phần nói về các cuộc chiến tranh chống quân xâm lược phương Bắc. Với chừng đó kinh nghiệm, anh nghĩ là Hà Nội còn cần một lời khuyên của tôi hay sao!”
Giúp Hien Le thu xếp cho cựu nhà báo Mỹ, Andrew Pearson, ăn trưa với bạn cũ, Tướng Phạm Xuân Ẩn, tại Givral, những ngày sau 30-4-2005
Giúp Hien Le thu xếp cho cựu nhà báo Mỹ, Andrew Pearson, ăn trưa với bạn cũ, Tướng Phạm Xuân Ẩn, tại Givral, những ngày sau 30-4-2005
"Có phải ông (Kissinger) khuyên Lê Đức Thọ (1973), từ nay mối đe dọa Việt Nam chỉ đến từ phương Bắc không?"
“Có phải ông (Kissinger) khuyên Lê Đức Thọ (1973), từ nay mối đe dọa Việt Nam chỉ đến từ phương Bắc không?”
Thomas Bass: "Nếu cậu là người Mỹ thì có thể lồng kính bức ảnh này treo ở văn phòng" - Với Kissinger - chính khách Mỹ bị ghét nhất trong thế kỷ 20 - tại Hội thảo Việt Nam and the Presidency, 10-3-2006.
Thomas Bass: “Nếu cậu là người Mỹ thì có thể lồng kính bức ảnh này treo ở văn phòng” – Với Kissinger – chính khách Mỹ bị ghét nhất trong thế kỷ 20 – tại Hội thảo Việt Nam and the Presidency, 10-3-2006.
Với giáo sư Thomas Bass (University at Albany, State University of New York) tại báo Tuổi Trẻ chiều 27-5-2014.
Với giáo sư Thomas Bass (University at Albany, State University of New York) tại báo Tuổi Trẻ chiều 27-5-2014.
GS Thomas Bass là người Mỹ đầu tiên viết đầy đủ về tướng Phạm Xuân Ẩn, A Spy Who Loved us (The New Yorker). Cuốn Điệp Viên Z 21 của ông về Phạm Xuân Ẩn được coi là có giá trị tư liệu nhất hiện nay (Nhã Nam xuất bản). Khi trả lời phỏng vấn Nguyen Thanh Tuan, GS Thomas Bass nói: "Bà Nguyễn Thị Ngọc Hải (Hai Nguyen Thi Ngoc) là tác giả quan trọng hàng đầu về Phạm xuân Ẩn. Cuốn sách của bà là chỉ dẫn quan trọng cho tất cả chúng tôi, những người theo bước chân bà viết về ông....".
GS Thomas Bass là người Mỹ đầu tiên viết đầy đủ về tướng Phạm Xuân Ẩn, A Spy Who Loved us (The New Yorker). Cuốn Điệp Viên Z 21 của ông về Phạm Xuân Ẩn được coi là có giá trị tư liệu nhất hiện nay (Nhã Nam xuất bản). Khi trả lời phỏng vấn Nguyen Thanh Tuan, GS Thomas Bass nói: “Bà Nguyễn Thị Ngọc Hải (Hai Nguyen Thi Ngoc) là tác giả quan trọng hàng đầu về Phạm xuân Ẩn. Cuốn sách của bà là chỉ dẫn quan trọng cho tất cả chúng tôi, những người theo bước chân bà viết về ông….”.
Cam Phan chăm chú lắng nghe hai người hay viết về "những điều bị che đậy".
Cam Phan chăm chú lắng nghe hai người hay viết về “những điều bị che đậy”.
Huy Đức

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Kẻ thù ta - Phạm Duy

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Patrick MODIANO – Nghệ thuật về ký ức


Giải Nobel Văn chương năm 2014 vừa được trao cho Patrick Modiano, nhà văn đương đại nổi tiếng của Pháp, 69 tuổi, tác giả của 27 tiểu thuyết, « bởi nghệ thuật về ký ức mà ông đã sử dụng để gợi lại những số phận con người vô cùng khó hiểu và nhân tình thế thái thời Đức tạm chiếm ».
Gương mặt chính yếu của văn chương đương đại Pháp với nhiều giải thưởng trong đó có Goncourt và Grand Prix của Viện Hàn Lâm Pháp, Modiano còn là một trong những tác giả được yêu mến nhất của độc giả Pháp bởi văn phong giản dị và trong sáng, đức tính khiêm tốn và thành thực, nhưng có lẽ trên hết bởi tài năng cùng tác phong nghiêm túc mà ông dành cho văn chương. Tiểu thuyết gia nổi tiếng chia sẻ rằng viết văn là một công việc “khó chịu”, “mệt mỏi và mất rất nhiều thời gian”. Và để tránh rơi vào “tình trạng bị nản lòng”, với ông không có cách gì hơn là ngồi viết mỗi ngày. Ông ví quá trình viết một cuốn sách như “mò mẫm lái một con tàu” trong sương mù, không biết đi về đâu, đôi khi biết là đã lạc hướng, nhưng không có quyền dừng. Bởi vì “dừng là sẽ bị nước cuốn trôi”.
Ngày 9/10, trước câu hỏi của nhà báo: “Giải Nobel sẽ mang lại cho ông rất nhiều tiền. Thế cuộc sống của ông sẽ có gì thay đổi không ?”, Modiano chân thành trả lời: “Thì vẫn thế thôi. Sống thì vẫn viết. Và mỗi khi viết thì khó nhọc vẫn hoàn khó nhọc…”modiano-patrick-8835-_paris-2007-olivier-roller
*Thời Đức tạm chiếm
Có thể coi khoảng 4 năm (từ 1940 đến 1944) khi nước Pháp bị quân đội Hít-le chiếm đóng là một nỗi hổ thẹn của lịch sử Pháp. Cho tới bây giờ nước Pháp vẫn còn bị dằn vặt bởi một thời kỳ đen tối đã khiến không ít những con người vốn hiền lành chấp nhận làm chỉ điểm cho phát xít, đẩy hàng nghìn thường dân gốc Do Thái vào các trại tập trung.
Modiano sinh năm 1945, khi Thế chiến II vừa kết thúc, tiếp theo là một tháng ngày lẻ loi, khắc dấu bởi sự vắng mặt thường xuyên của người mẹ diễn viên kịch nói, bởi cái chết rất sớm của người em trai duy nhất, bởi sự thuyên chuyển liên miên các trường nội trú, và có lẽ đặc biệt là bởi hành vi và tung tích bí ẩn của người cha gốc Do Thái. Nhưng sẽ rất vội vã khi cho rằng đó chính là lý do khiến Modiano quan tâm đến vấn đề Do Thái và thời Đức tạm chiếm như một cách giải mã cho cha. Nếu đọc Một tiền án (2005) – tiểu thuyết được coi là mang nhiều tính tiểu sử nhất của ông, ta sẽ nhận thấy sự khách quan của Modiano khi kể về cha mình – một nhà buôn đã kịp kiếm tiền tỉ trong chiến tranh nhờ những cú đầu cơ và những hoạt động mờ ám, người mà chàng trai trẻ đã quyết định cắt đứt liên lạc năm 17 tuổi, chấm dứt những cuộc cãi vã triền miên cùng những hẹn hò chớp nhoáng. Trong Modiano, ý thức chính trị và thế giới quan của người cầm bút được đặt ở vị trí cao hơn hẳn mối quan hệ cá nhân cha-con: “thời kỳ Đức tạm chiếm” trở thành một đề tài sáng tác với những tìm kiếm và thử nghiệm mang tính chất văn chương cùng dấu ấn của riêng ông. Ngay từ tiểu thuyết đầu tiên Quảng trường Ngôi sao được coi như « bản khai sinh của một nhà văn », ông đã không ngần ngại tấn công vào quá khứ dân tộc, làm thức dậy những kỷ niệm tưởng như đã được xếp gọn, những nỗi đau ngỡ như đã liền miệng.
Điều gì đã thực sự xảy ra trong thời Đức tạm chiếm? 
Cái gì đã khiến con người biến dạng ? 
Gần nửa thế kỷ nay, sáng tác của Modiano xoay quanh những câu hỏi đau đớn đó để mỗi tác phẩm lại đẩy ta sâu hơn nữa vào cõi u buồn của trí nhớ, vào chặng đường kỳ bí tìm lại quá khứ. Trong tiểu thuyết Dora Bruder (xuất bản năm 1997) kể lại cuộc điều tra kỳ lạ về một thiếu nữ Do Thái mất tích trong thời Đức chiếm đóng Paris, nhân vật/tác giả Modiano tự ví mình như « một thân cây mọc từ đống phân của thời Đức tạm chiếm» và phát biểu một cách chua chát: «Rất nhiều bạn bè mà tôi không quen đã ra đi vào năm 1945, năm tôi sinh ra trên đời này».
*Nghệ thuật về ký ức :
Có lẽ chúng ta đều phải công nhận rằng tuy không phải là một nhà văn vĩ đại, chủ nhân của giải Nobel Văn chương 2014 luôn tìm được những cách viết đẹp về ký ức. Với 27 tiểu thuyết được xuất bản đều đặn, cùng một dung lượng (trên dưới 150 trang), sự nghiệp của Modiano không có đỉnh cao, nhưng dường như đó không phải là mục đích của ông, cũng như ông cũng không có ý định dốc sức đặc biệt cho một tác phẩm nào, không ham muốn tạo dựng một trường phái gì. Các tác phẩm của ông đều là những hành trình tìm lại căn cước được kể bằng những cách khác nhau, luôn từ giản dị tới phức tạp, từ cụ thể đến trừu tượng, từ hiện thực tới hư cấu và bao giờ cũng tràn đầy tinh tế tỏa ra từ những câu văn giản dị, trong vắt, được sắp xếp trong một nhịp điệu dịu dàng. Mỗi câu văn là một « đơn vị » như ông định nghĩa, hay như một viên gạch góp phần xây nên một thế giới riêng, thế giới của Modiano như chúng ta đọc thấy, thế giới gồm những kỷ niệm mờ ảo, những hình ma, những tranh tối tranh sáng, những bóng người thoắt ẩn thoắt hiện, những nhân vật bỏ xứ ra đi, vất vưởng giữa đường đời, giữa bóng tối và ánh sáng, giữa cuộc sống trước mắt và dĩ vãng đã bị quên…
Một thám tử tư ở tuổi trung niên quyết định mở cuộc điều tra về căn cước của chính mình, bởi một tai nạn xảy ra từ lâu khiến anh ta chẳng còn nhớ gì về quá khứ. Một cô gái nhìn thấy một phụ nữ không quen trong tàu điện ngầm Paris và tin chắc rằng đó là mẹ của mình, người mà ngay từ bé cô được biết là đã qua đời. Một ông lục tuần hàng ngày không làm gì ngoài ngắm cây và đọc sách về thú rừng, một hôm vô tình tìm được sổ địa chỉ cũ và hy vọng từ đó lần ra manh mối của thời niên thiếu mà giờ đây không để lại dấu vết nào trong ký ức. Một cậu thanh niên bị tai nạn xe hơi, tỉnh dậy trong bệnh viện và nhớ lại tai nạn tượng tự từng xảy ra với cậu cùng những dữ kiện đã chìm nghỉm trong lãng quên suốt nhiều năm qua…
Như thế đấy, mỗi tác phẩm của Patrick Modiano là một hành trình kiếm tìm dẫn đến những cuộc gặp gỡ kỳ lạ, những tình huống bất ngờ, những sự việc khó tin, nhưng hoài nghi và phân vân… Nhưng kết quả như thế nào, căn cước cuối cùng có tìm được không, thì tác giả trích một câu của Stendhal để báo rằng: «Tôi không có khả năng đưa ra hiện thực của các sự việc, mà chỉ có thể mô tả cái bóng của chúng» (Để em không bị lạc trong khu phố ấy, 2014). Điều này thực ra cũng được ông khuyến cáo ngay từ một trong những tác phẩm đầu tay (Biệt thự buồn, 1975), thông qua câu thơ của Dylan Thomas : « Anh là ai, hỡi kẻ quan sát cái bóng? ». Quan hệ giữa cái thực và cái bóng còn được Modiano định nghĩa như sau: chất liệu tiểu sử chỉ có tác dụng khi nó « biến mất trong cái được tưởng tượng ra ». Vấn đề này có vẻ khớp với thổ lộ của ông trong một phỏng vấn về những bí mật của nghề viết: « Khởi điểm bao giờ cũng là một điều gì đó rất rõ ràng, không thuộc phạm vi của hư cấu. Một chi tiết. Hoặc một cảnh tượng. Một điều gì đó đã thực sự xảy ra. Một mẩu của hiện thực. Sau đó, tôi pha trộn những mảnh vụn có thực đó với những gì mà chúng có thể tạo nên. Và thế là trở thành một kiểu hư cấu.»
*Paris, vẻ đẹp điêu tàn
Lộng lẫy, kiêu sa, với tháp Eiffel, bảo tàng Louvre, quảng trường Vendôme – đó là Paris của du khách nước ngoài.
Rõ ràng, rành mạch, với cái nhìn tổng thể, phố nào ra phố đấy – đó là Paris chụp từ vệ tinh, Paris của Google map.
Paris của Modiano là Paris của tuổi thơ đơn độc với những cuộc bỏ nhà ra đi, những chuyến lang thang vật vờ. Paris của Modiano là Paris của một người trọn đời yêu Paris. Paris dân dã với những ngóc ngách lộn xộn, những quán cà phê bé nhỏ, những khách sạn rẻ tiền, những rạp chiếu bóng lỗi thời… Paris nguy hiểm với những đại lộ ngoại vi rầm rập xe và những địa chỉ ám muội… Paris khó hiểu với những tòa nhà có hai cửa thông ra hai phố : phố này thì tưng bừng ánh sáng, phố kia lại tăm tối âm u… Và Paris của thời Đức tạm chiếm với những khu Do Thái, trường nội trú Do Thái, trại tập trung Do Thái, cục an ninh phụ trách các vấn đề Do Thái, sở Nội vụ, phòng giam, doanh trại, đồn cảnh sát … Paris trở thành một địa điểm của tội ác và nhà văn trở thành thám tử. Đúng vậy, không chỉ các nhân vật của Modiano mới đặt cho mình câu hỏi «chúng ta là ai ? chúng ta từ đâu đến ? », cả Paris trong tác phẩm của ông cũng trăn trở với dĩ vãng u buồn…
Trong Một tiền án, Modiano viết : « tôi chỉ thật sự là tôi khi tôi lang thang một mình trên phố ». Phải chăng với ông, đối diện với Paris cũng đồng nghĩa với đối diện với lương tâm và ký ức?
_____________________
4 tiểu thuyết của Modiano đã được dịch ra tiếng Việt và xuất bản ở Việt Nam :
– Quảng trường Ngôi sao – Vũ Đình Phòng dịch
– Phố những cửa hiệu u tối – Dương Tường dịch
– Những đại lộ ngoại vi – Dương Tường dịch
– Ở quán cà phê của tuổi trẻ lạc lối – Trần Bạch Lan dịch.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

HẾT THỜI HƯỞNG XÁI

Liên Nguyễn

Hết thời hưởng xái.
Ba mươi tám năm, đó là khoảng thời gian để một người hai mươi hai tuổi (vừa xong đại học hoặc sắp xong đại học vào năm 1975) đến tuổi nghỉ hưu.
Hai ngành y và giáo là hai ngành nền móng quan trọng nhất ở bất cứ quốc gia nào. Và có lẽ chỉ ở hai ngành này sau 4/1975 nhiều nhân lực đã phục vụ trong chế độ miền Nam được tiếp tục làm việc dưới danh từ "lưu dung" ( có lẽ với nghĩa bao dung mà lưu lại). Và dĩ nhiên dù họ có năng lực và bằng cấp như thế nào thì suốt thời gian phục vụ họ luôn là nhân viên cấp dưới. Vì bất cứ lãnh đạo ở cấp nào cũng phải là đảng viên.
Lúc giao thời nhiều biến động, ngành giáo khổ sở với những thay đổi đến chới với trong các chương trình giáo dục, lạ lẫm với những giáo điều chính trị được đưa vào mọi cấp. Rồi họ cũng quen dần và khép mình tuân theo để tồn tại.

Ngành y khó khăn hơn nhiều khi tất cả năng lực của thầy thuốc gói gọn trong vài sản phẩm nội hóa đa chức năng: Xuyên tâm liên, khung chỉ...!!!
Dao mỗ, kim khâu, kim chích được nhân viên ngành y kiên nhẫn ngồi mài trên miếng đá mài dao...!!!
Thuốc ngoại, nhất là kháng sinh được chuyển lậu về từ các nước đông Âu, từ những thùng hàng dưới danh nghĩa quà tặng từ các nước tư bản. Rồi nó lưu thông ngoài chợ đen, nơi người ta bán mua mươi viên kháng sinh chẳng khác buôn ma túy.
Cái thời lạ lùng! Giáo sư ngành sư phạm trước 75 là đồng nghiệp, dưới hạng của những người thuộc phe thắng cuộc trình độ 7+2, 10+3. Các bác sĩ giỏi dang, nổi tiếng chờ lệnh của lãnh đạo quân y đặc cách, chuyên tu, tại chức...trong chiến khu ra, trên Trường Sơn xuống...
Những người "lưu dung" đó im lặng tồn tại song song với đồng nghiệp và lãnh đạo mới. Những người lãnh đạo họ không kính trọng nhưng sợ hãi.
Tuy nhiên họ chỉ im lặng chịu đựng trong những cuộc họp mang tính hình thức, nội dung chính trị. Trong chuyên môn họ không chịu đựng được sự sai trái, kém năng lực, kém phẩm chất đạo đức. Cuộc đấu tranh đó âm thầm nhưng mãnh liệt. Họ có thể vì cầu an mà buông xuôi, nhưng đứng trước quyết định sinh tử của con người thì họ đủ dũng cảm.
Nền tảng đạo đức mà họ tiếp thu không cho phép họ nhu nhược. Nhờ thế những hành vi sai trái cả về chuyên môn lẫn đạo đức trong hai ngành y giáo luôn có sự điều chỉnh. Những kẻ kém chuyên môn, nhiều quyền hành khi muốn thực hiện một hành vi sai trái, vi phạm đạo đức cũng phải dè chừng. Trong chuyên môn thì có thể dựa dẫm, hỏi ý hoặc đùn đẩy những việc khó. Dù ra sức chèn ép nhưng không khỏi nể vì.
Quá trình ấy lơi dần, khi mỗi năm những người có tuổi, nhiều kiến thức và kinh nghiệm trong cả hai ngành trên đến tuổi hưu, và mất.
Vào năm nay, không còn ai trong thế hệ "lưu dung" còn làm việc. May mắn là vẫn còn những người tuy ra trường sau 75, nhưng khi đi học họ được dạy bởi những người "lưu dung".
Không ngạc nhiên trước những sự cố tồi tệ trong cả hai ngành y giáo hiện nay. Vì đó là điều đã được tiên liệu!
Cắt ruột thừa cắt lộn ruột già?! Cắt thận hư cắt lầm thận tốt, cắt amidan cắt luôn dây thanh quản, hộ sinh biến thành hộ tử, chính thuốc ngừa biến thành thi hành án? Bác sĩ, y tá, hộ sinh công khai đòi phong bì. Cấp cứu mà không ứng viện phí thì chờ đưa xuống nhà xác!
Thầy cô giáo thì gây ra đủ thứ chuyện vô đạo đức,ngoài cái chuyện thường tình là chèn ép điểm số để học sinh phải đi học thêm, còn có những chuyện tầy trời: đổi tình lấy điểm, hiếp dâm học sinh, lừa học sinh đem bán...
Tất cả những điều tệ hại ấy từ cái cơ chế cộng điểm ưu tiên mà ra. Lãnh đạo không cần phải là người tài giỏi nhất, đạo đức nhất, mà chỉ cần có lý lịch tốt, là đảng viên?!
Vào ngành sư phạm để ra làm thầy thiên hạ, mà điểm vào thấp nhất trong các ngành?! Đến nỗi người ta nói "chuột chạy cùng sào mới vào sư phạm".
Thời của tôi, những đứa dốt nhất lớp đều có thể thành thầy thành cô (may mà ngoài số đó ra còn có số rất giỏi nhưng lý lịch xấu).
Tại sao chế độ ưu đãi người có công với cách mạng không đơn giản là miễn học phí, cấp học bổng cho con thương binh, liệt sĩ, mà phải cộng điểm? Cha mẹ chết thì không ai nuôi cho ăn học, nhà nước cho ăn học là công bằng. Chứ cha mẹ sống thì nó sẽ được nhiều điểm hơn vì cha mẹ chạy điểm cho nó, nên phải cộng điểm?
Đều bất công đó đã dẫn đến hậu quả ngày nay.
Hết thời hưởng xái "lưu dung" rồi. Nên thời gian tới đây sẽ còn nhiều, rất nhiều những sự cố khôi hài trong hai ngành y giáo.
Nói riêng hai ngành y giáo vì nó là hai ngành sát sườn với người dân, chứ thật ra trong tất cả các ngành khác cũng thế. Hãy nhìn vào ngành báo chí, ngành tư pháp mà xem? Thế hệ cũ mà hưu hết rồi thì ngày càng thêm loạn.
Nói thế không đồng nghĩa là thế hệ trẻ sau này đều là đồ bỏ. Nhưng những người trẻ có ý chí, độc lập, tự học hỏi, có gia giáo...đều tìm đường ra nước ngoài, nếu ở trong nước họ cũng đi làm thuê cho các công ty nước ngoài. Họ không chịu đựng, nhận phần khó, lương thấp như thành phần "lưu dung" đâu.
Đổ lên đầu bà Tiến, ông Luận cả thì cũng không công bằng. Đơn giản vì thời của họ đã hết là thời hưởng xái rồi.
P/s: Bài viết chỉ nói về hiện trạng chung, rất xin lỗi các thầy cô giáo, các y bác sĩ, nhân viên hai ngành y giáo không thuộc đối tượng của bài viết trên.

FB Lien nguyen
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Luật nhân quả đối với người ác khẩu


GĐVN - Đức Phật dạy, Ác khẩu hay còn gọi là ác ngữ là một trong bốn điều bất thiện thuộc về lời nói (vọng ngữ, ỷ ngữ, lưỡng thiệt, ác khẩu).

Tác dụng của lời nói có thể xoa dịu nỗi đau trong lòng, làm vơi đi những tâm trạng buồn; lời nói nhã nhặn, lời khuyến tấn đúng thời, đúng lúc có thể làm thay đổi suy nghĩ tiêu cực của đối phương và từ đó dần dần sẽ làm thay đổi những hành vi, những việc làm bất thiện.

Ngược lại, lời nói cũng có thể đưa con người vào vực thẳm của tội lỗi, có thể khiến người ta ăn năn hối hận cả cuộc đời, trong đó lời nói ác ngữ, ác khẩu là một trong những nguyên nhân đưa đến hậu quả như thế.

Hãy thận trọng với ác nghiệp

Điều này rất dễ thấy thông qua tính chất quan hệ nhân quả trong Phật giáo.

Ác khẩu, ác ngữ là lời nói thâm độc, thô bạo, mắng nhiếc, chửi rủa,… là những lời lẽ thiếu văn minh, đạo đức trong giao tiếp.

Đương nhiên, nói nặng lời, hoặc lớn tiếng trong chừng mực nào đó không phải là ác ngữ, nhất là trong quá trình giáo dục con cái của cha mẹ, giáo huấn học trò của thầy cô.

Trong kinh Phật có bài học đạo lý rằng: Có người nghe Đức Phật rất từ bi, rất có đạo hạnh, nên cố ý đến mắng nhiếc Đức Phật. Nhưng khi chửi mắng, Đức Phật đều lặng thinh, chẳng đáp.

Khi người ấy mắng nhiếc xong, Phật hỏi: “Ông đem lễ vật tặng người khác, người ấy không nhận thì lễ vật ấy cuối cùng sẽ thuộc về ai?” Người ấy đáp rằng, lễ vật vẫn là của ông ta.

Đức Phật liền nói “Nay ông mắng nhiếc ta, nhưng ta không nhận, ông tự mang vào thân ông vậy. Cũng giống như âm vang là do nương theo tiếng mà có, như bóng do hình mà thành, cuối cùng vẫn chẳng tránh được. Hãy thận trọng, chớ nói lời mắng nhiếc, ác ngữ!”

Theo đạo lý nhân quả trong Phật giáo, thì một việc làm, một lời nói, một ý niệm suy nghĩ của thân, miệng, ý dù đó là thiện hay bất thiện đều đưa đến kết quả nhất định của nó.

Có những hành vi, lời nói, suy nghĩ được lập đi lập lại nhiều lần thì kết quả hiện hành rõ ràng hơn, chi phối mạnh mẽ hơn trong đời sống thường ngày của cá nhân đó.

Cho nên, có câu sách tấn rằng “Phàm làm việc gì, suy nghĩ đến hậu quả của nó”, hay “Bồ tát sợ nhân, chúng sanh sợ quả”, tức là người trí, người giác ngộ thì làm việc gì, nói lời gì, nghĩ điều gì luôn luôn cẩn trọng, cân nhắc đến hậu quả của nó.

Còn người mê thì cứ làm, cứ nói, cứ hành xử theo cảm tính, theo suy nghĩ cá nhân của mình cho thỏa dạ hả lòng, khi hậu quả đến thì lo âu sợ hải.

Hậu quả khó lường…

Như vậy, với những người thường dùng lời nói thâm độc, thô bạo, mắng nhiếc, chửi rủa,… trong cuộc sống hàng ngày của họ, trước hết, chính bản thân của người ấy đã thể hiện lối sống thiếu phẩm chất, đạo đức, văn minh trong lời nói, trong giao tiếp và dẫn đến hạ thấp uy tín của tự thân, những người xung quanh sẽ dần dần xa lánh họ.

Những người thân của họ ít nhiều cũng ảnh hưởng lây bởi những lời ác ngữ này, nếu là bậc cha mẹ thường dùng ác ngữ đối với con cái thì những đứa trẻ này sẽ tiếp nhận và trong quá trình trưởng thành cũng sẽ ảnh hưởng những tính chất bất thiện này.

Một đứa bé được nuôi dưỡng và giáo dục trong môi trường có nhiều tố chất bất thiện thì khi trưởng thành chắn chắn sẽ ảnh hưởng ít nhiều về tố chất đó.

Còn nếu là con cái thường nói những lời thô bạo, thâm độc,… thì chắc chắn cha mẹ, thầy cô giáo không khỏi nao lòng.

Nhất là, trong xã hội hiện nay, một số bạn trẻ online trên mạng xã hội facebook, twitter,… thường dùng những lời lẽ ác ngữ, thô tục, xúc phạm đến người khác không phải là không có.

Có thể các bạn cho rằng những lời nói này không chỉ một người nào cụ thể, không trực tiếp một ai, thì sẽ không sợ nguy hại.

Nhưng thực tế rất nguy hiểm, không chỉ viết những lời ác ngữ, mà thậm chí chỉ cần nhấp chuột tán thành, ủng hộ những lời ác ngữ đều nguy hiểm cả, vì nhiều lần làm như vậy chính không ai biết xấu hổ, không ai kiểm soát, không ai khuyến tấn nên lâu ngày dài tháng sẽ trở thành một thói quen.

Mà Phật giáo gọi điều này là nghiệp, mà đã là nghiệp thì nó sẽ chi phối đối với đời sống của tự thân người đó. Vì thế, một lời ác khẩu, ác ngữ đều có thể đưa đến hậu quả khó lường.

Phần nhận xét hiển thị trên trang