Thứ Hai, 16 tháng 2, 2015
Xem phim Thị Xã Trong Tầm Tay - Phim cũ Việt Nam 1983
Phần nhận xét hiển thị trên trang
Mứt Huế
Huế là xứ sở của các loại mứt nên Tết Huế luôn có hàng chục món mứt : mứt gừng, mứt dừa, mứt chanh, mứt quất, mứt cam, mứt khoai lang, mứt khoa tây, mứt bí đao, mứt củ cải, mứt cà rốt, mứt hạt sen, mứt me, mứt cóc, mứt xoài… Mỗi món mứt có sắc thái riêng, hương vị riêng, nhưng lại giống nhau ở một điểm là đều do mẹ hay do chị em trong nhà tự tay làm ra, chứ không phải là mứt mua ngoài chợ, bởi lẽ, phụ nữ Huế dường như ai cũng giỏi nữ công gia chánh. Chính điều này đã tạo nên hương sắc riêng của mứt Huế và Tết Huế.
Nghệ nhân Hồ Thị Hoàng Anh và những món mứt cung đình do bà phục hồi.
Phụ nữ Huế ngày trước phải học làm mứt bánh từ khi còn nhỏ và Tết là dịp để họ thể hiện tài nghệ khéo léo của mình qua việc nấu nướng, làm mứt bánh. Theo truyền thống, trong mỗi phủ đệ của các thân vương hay trong mỗi gia đình quyền quý đều chuyên làm những món mứt bánh khác nhau, trong đó có những món mứt bánh đặc biệt để cung tiến hoàng đế và hoàng gia, dâng tặng những bậc tôn trưởng hay cúng dường các chùa chiền ở kinh kỳ. Vì thế mà các bà, các cô đều ra sức học làm mứt bánh, vừa để thể hiện tài nữ công gia chánh của bản thân, vừa đáp ứng nhu cầu ẩm thực của gia đình trong những ngày Tết, đồng thời cũng là sự tiếp nối truyền thống gia phong. Có lẽ vì thế mà mứt Huế rất phong phú, đặc sắc.
Ngày Tết ở Huế có rất nhiều món mứt, nhưng món phổ biến nhất và nổi tiếng nhất chính là mứt gừng. Tuy nhà nào cũng biết làm mứt gừng và thường tự làm món mứt này để dùng, nhưng món mứt gừng ngon nhất ở Huế phải là mứt gừng Kim Long. Làng Kim Long nằm ở ven sông Hương, chỉ cần đi ngược về phía thượng nguồn chừng nửa giờ là đến ngã ba Tuần, nơi nổi danh về nghề trồng gừng để làm mứt. Gừng làng Tuần cay nhưng không nồng, khi thu hoạch thì không quá già, cũng không quá non nên là nguyên liệu thích hợp nhất để làm nên những lát mứt gừng Kim Long hảo hạng. Mứt gừng Kim Long lát mỏng như lụa, được “phiếu” rất trắng rồi mới rim với đường trên than củi. Khi đường ngấm sâu vào từng lát mứt ở trong chảo, thì mứt được gỡ thành từng lát, duỗi cho thẳng, xếp chồng với nhau rồi mới đem phơi và đóng gói để đưa đi bán ở các phiên chợ Tết.
Những món mứt cung đình Huế.
Huế cũng nổi tiếng với món mứt bí đao trắng ngần, ngọt sắt và thơm lừng. Cũng như mứt gừng, mứt bí đao Huế được “phiếu” rất công phu. “Phiếu” là một kỹ thuật chỉ được biết đến trong ẩm thực Huế. Đó là bí quyết làm trắng các loại rau củ trong chế biến ẩm thực bằng hình thức ngâm nước và phơi nắng liên hoàn trong nhiều ngày. Huế có hồ Tịnh Tâm, là nơi trồng sen nổi tiếng trong kinh thành, nên cũng nổi danh với món mứt làm từ hạt sen Tịnh Tâm, thơm mềm như tan trong miệng…
Ngoài các loại mứt phổ dụng như trên, ở Huế có những món mứt mà không nơi nào ở Việt Nam có được. Đó là mứt cung đình. Theo sử sách của triều Nguyễn, trong các dịp Tết lễ, triều hội, yến tiệc, hoàng đế thường chiêu đãi quốc khách và đình thần nhiều món mứt cung đình như mứt bát bửu, mứt tứ linh, mứt màu hoa, mứt màu quả, mứt nho, mứt táo, mứt dưa, mứt đậu phụng, mứt sơn trà… Ngoài ra trong cung còn có nhiều món mứt đặc biệt khác, do các cung tần mỹ nữ khéo tay chế biến để dâng cho hoàng đế và thái hậu sử dụng thường ngày.
Mứt màu hoa.
Mứt cung đình Huế rất phong phú và cầu kỳ. Chẳng hạn, mứt bát bửu hợp thành từ những món mứt quý như mứt hạt sen, mứt kim quất, mứt táo, mứt long nhãn, mứt đậu đỏ… cùng với thịt heo quay, và là loại mứt chỉ sử dụng trong những dịp triều hội quan trọng. Mứt cam sành dùng trong dịp Tết thì được chưng trong những chiếc tìm làm bằng đồ sứ ký kiểu sang trọng. Mứt sen ngào với đường phèn, cánh nở như hoa rất kiểu cách. Mứt hạt dâu làm từ đậu xanh và đường phèn với phẩm màu thiên nhiên, là loại mứt dùng thay cho hạt dưa vì trong cung không cho phép cắn hạt dưa do cho rằng việc cắn hạt dưa lách tách là vô phép. Mứt màu hoa làm từ đu đủ và bí đao tỉa vẽ công phu. Mứt trái Phật thủ có hương vị thơm tho… Tất cả đều là những món mứt đặc biệt, chỉ dành riêng cho các bậc vua chúa mà thôi. Sau khi nhà Nguyễn cáo chung, nhiều món ăn cung đình trong đó có các món mứt, dần dần mai một.
Mứt bát bửu.
Ngày nay nhiều loại mứt cung đình từng bị thất truyền như mứt bát bửu, mứt cam sành, mứt hạt dâu, mứt sen, mứt trái Phật thủ… đã được phục hồi thành công nhờ công lao của nghệ nhân ẩm thực Hồ Thị Hoàng Anh, hậu duệ của một vị đội trưởng Đội Thượng Thiện ở Huế xưa.
Không ai có thể hình dung Tết Huế sẽ như thế nào nếu vắng bóng hoàng mai và thiếu đi cái hương vị nồng nàn của mùi mứt Tết thoảng trong làn gió xuân, nhất là với những ai luôn mong mỏi tìm về với Huế để tận hưởng không khí Tết ở nơi đế đô một thuở sau bao năm tháng tha hương.
Mứt cam sành.
Mứt sen tỉa theo kiểu Huế.
Mứt hạt dâu làm bằng bột đậu xanh và đường phèn.
Trần Đức Anh Sơn
Phần nhận xét hiển thị trên trang
NGƯNG LẠI ĐI!
Sau thời điểm xúc động về sự ra đi của một con người đặc biệt, ông Nguyễn Bá Thanh, một số tờ báo bắt đầu lôi ra những chuyện ngược lại, gọi là “nốt trầm”…hay gì gì đó. Và tôi đồ rằng, vài này tới sẽ có thêm nhiều “nốt trầm” được khai thác.
Các bạn có ý định nên ngừng lại đi.
Cuộc đời của con người ai chẳng có những sai lầm, thậm chí, nhiều người tìm một người bạn đời cũng có thể sai lầm huống chi là công việc. Đặc biệt, người càng làm nhiều thì càng có nhiều cái sai, chỉ những người không làm thì không sai mà thôi.
Theo chiều hướng phản hồi tích cực, chúng ta nên nhìn một cách tổng thể để thấy được cái lớn nhất mà ông Nguyễn Bá Thanh góp phần mang lại cho người dân Đà Nẵng- đó là những gì đang hiển hiện trước mắt chúng ta.
*
Một người bạn ở xa viết trên tường nhà tôi, đại ý, cô ấy đến bây giờ cũng không biết ai là chủ tịch, ai là bí thư tỉnh thành cổ đang sống, nhưng vào Đà Nẵng, một cậu bé đánh giày cũng biết bác Nguyễn Bá Thanh.
Thật sự, phàm người dân Đà Nẵng, không ai không biết ông Nguyễn Bá Thanh. Điều nhiều lãnh đạo không dễ chi làm được.
*
Tôi biết nhiều người không nói nhưng cũng rất bực ông Nguyễn Bá Thanh lúc sinh thời. Ví dụ như họp HĐND truyền hình trực tiếp mà ổng truy cán bộ từ lãnh đạo TP đến lãnh đạo các ban ngành đến cùng, chỉ cái yếu của họ ra trước bàn dân thiên hạ như thế họ không ức mới lạ.
*
Tôi không ngần ngại khi nói, ông Nguyễn Bá Thanh là thần tượng của tôi, ở chỗ, ông là người luôn mang lại cho tôi niềm cảm hứng. Với tôi, đó đã là điều kỳ diệu hiếm hoi trong cuộc đời. Một người trong cuộc đời giúp cho mình một việc, dù việc đó không cụ thể mà là tạo cảm hứng, với tôi đã đáng để tri ân rồi.
Khối đứa nhắc đến nó ta càng thêm bực mình.
****************************
*Báo Đà Nẵng cuối tuần đã làm chuyên đề về ông Nguyễn Bá Thanh cực hay. Tiếc là không bán ở sạp nên bạn bè nhờ mua mà không có.
*Và cực kỳ thích bức ảnh này của em Hiền Tròn. Bình luận sẽ thừa.
*
Một người bạn ở xa viết trên tường nhà tôi, đại ý, cô ấy đến bây giờ cũng không biết ai là chủ tịch, ai là bí thư tỉnh thành cổ đang sống, nhưng vào Đà Nẵng, một cậu bé đánh giày cũng biết bác Nguyễn Bá Thanh.
Thật sự, phàm người dân Đà Nẵng, không ai không biết ông Nguyễn Bá Thanh. Điều nhiều lãnh đạo không dễ chi làm được.
*
Tôi biết nhiều người không nói nhưng cũng rất bực ông Nguyễn Bá Thanh lúc sinh thời. Ví dụ như họp HĐND truyền hình trực tiếp mà ổng truy cán bộ từ lãnh đạo TP đến lãnh đạo các ban ngành đến cùng, chỉ cái yếu của họ ra trước bàn dân thiên hạ như thế họ không ức mới lạ.
*
Tôi không ngần ngại khi nói, ông Nguyễn Bá Thanh là thần tượng của tôi, ở chỗ, ông là người luôn mang lại cho tôi niềm cảm hứng. Với tôi, đó đã là điều kỳ diệu hiếm hoi trong cuộc đời. Một người trong cuộc đời giúp cho mình một việc, dù việc đó không cụ thể mà là tạo cảm hứng, với tôi đã đáng để tri ân rồi.
Khối đứa nhắc đến nó ta càng thêm bực mình.
****************************
*Báo Đà Nẵng cuối tuần đã làm chuyên đề về ông Nguyễn Bá Thanh cực hay. Tiếc là không bán ở sạp nên bạn bè nhờ mua mà không có.
*Và cực kỳ thích bức ảnh này của em Hiền Tròn. Bình luận sẽ thừa.
Tháng 2 giữ đất cha ông - Kỳ 1: Đánh giập đầu điệp báo
(TNO) Đi dọc biên giới phía Bắc thắp hương trong các nghĩa trang và bia tưởng niệm liệt sĩ, thi thoảng chúng tôi tìm thấy những người lính hy sinh trước ngày 17.2.1979, roi rói nụ cười bất tử trên vành sao đỏ đỉnh bia.
Họ có thể là bộ đội, công an, dân quân, tự vệ... nhưng đều ngã xuống vì chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc. Những cuộc tranh đấu - giằng co giữ từng góc rừng, đoạn suối, cột mốc, vạt nương luôn âm thầm dai dẳng, không phải ai cũng biết và hình dung nổi. Bao giờ cũng vậy, chủ quyền quốc gia là tối thượng, bất khả xâm phạm. 36 năm qua cùng ngàn năm nữa, điều này vẫn vẹn nguyên giá trị.
Fanpage Thanh Niên
Tôi Viết(TNO) Đi dọc biên giới phía Bắc thắp hương trong các nghĩa trang và bia tưởng niệm liệt sĩ, thi thoảng chúng tôi tìm thấy những người lính hy sinh trước ngày 17.2.1979, roi rói nụ cười bất tử trên vành sao đỏ đỉnh bia.Họ có thể là bộ đội, công an, dân quân, tự vệ... nhưng đều ngã xuống vì chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc. Những cuộc tranh đấu - giằng co giữ từng góc rừng, đoạn suối, cột mốc, vạt nương luôn âm thầm dai dẳng, không phải ai cũng biết và hình dung nổi. Bao giờ cũng vậy, chủ quyền quốc gia là tối thượng, bất khả xâm phạm. 36 năm qua cùng ngàn năm nữa, điều này vẫn vẹn nguyên giá trị.
Kỳ 1: Đánh giập đầu điệp báo
Nhắc đến chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc, người ta thường đề cập đến mốc thời gian 17.2.1979 – ngày Trung Quốc đồng loạt nổ súng tấn công các tỉnh biên giới phía Bắc nước ta. Ít ai biết rằng, ngay từ năm 1974, cùng với việc tranh thủ đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa, phía Trung Quốc còn đồng thời tiến hành các hoạt động tranh chấp tại biên giới phía Bắc và tung người dọc biên giới nhằm điều tra tình báo, lũng đoạn lực lượng.
Bắt gián điệp “con thoi”
Giữa năm 1974, đoàn khảo sát biên giới tỉnh Cao Bằng tiến hành khảo sát đoạn Trà Lĩnh, đối diện với công an xã Long Bang (huyện Trịnh Tây, Quảng Tây, Trung Quốc). Ngay khi đoàn tiến hành công việc, số người từ Trung Quốc qua biên giới đi chợ, thăm thân nhân tăng lên đột biến và qua xác minh thấy có nhiều đối tượng khả nghi, trong đó nổi bật là Đàm Quế Thỏ.
Với nhận định ban đầu: “Đàm Quế Thỏ có khả năng là gián điệp con thoi, do một trung tâm tình báo bên kia chỉ huy, xâm nhập vào khu vực biên phòng Trà Lĩnh để thu thập tình báo, gây dựng cơ sở hoạt động phá hoại”, cơ quan chức năng quyết định cử một tổ cán bộ nghiệp vụ từ dưới xuôi lên đánh án.
Với nhận định ban đầu: “Đàm Quế Thỏ có khả năng là gián điệp con thoi, do một trung tâm tình báo bên kia chỉ huy, xâm nhập vào khu vực biên phòng Trà Lĩnh để thu thập tình báo, gây dựng cơ sở hoạt động phá hoại”, cơ quan chức năng quyết định cử một tổ cán bộ nghiệp vụ từ dưới xuôi lên đánh án.
Các biện pháp nghiệp vụ được triển khai đồng thời với công tác xác minh làm rõ đã nhận định: “Thỏ là gián điệp xâm nhập kiểu con thoi”. Điều này được khẳng định khi Đàm Quế Thỏ liên tục mò sang dò la.
Giữa tháng 9.1974, khi hai ô tô của Công an vũ trang tỉnh tới Đồn Trà Lĩnh, Thỏ sang tìm chiến sĩ có họ với y đang công tác trong đơn vị và tò mò: “Xe đưa những ai mà đông thế? Có việc gì quan trọng à? Chừng nào họ về, cho em đi nhờ một quãng?”.
Ngay sau đó, phía Trung Quốc cho một phân đội bộ đội với đầy đủ vũ khí tới đóng ở Phai Can, đồng thời 1 tổ công an Trung Quốc cũng được phái đến phối hợp với bộ đội của họ.
Cuối tháng 9.1974, Thỏ giả vào thăm Trạm Kiểm soát Trà Lĩnh giữa lúc chiến sĩ Vũ đang ghi chép sổ sách. Lấy lý do đi tráng ấm pha trà, chiến sĩ Vũ để nguyên sổ sách và từ góc bí mật, cán bộ ta ghi nhận Thỏ đọc trộm tài liệu. Khi chiến sĩ Vũ đem nước ra mời, Thỏ giả vờ nhắc nhở: “Cần phải đề cao cảnh giác!”...
Ngày cuối tháng 1.1975, trong khi uống rượu với 1 cán bộ Hợp tác xã mua bán huyện, Thỏ moi hỏi nhiều tin tức bí mật về Đồn Công an vũ trang và dân quân Trà Lĩnh, sau đó ghi chép vào giấy, giấu trong gấu áo.
Sau đó ít giờ, tổ tuần tra Công an Vũ trang đã bắt quả tang Thỏ trao đổi tài liệu mật và y đã phải khai nhận: được Vương Minh Lượng, đặc phái viên của Sở Phái xuất thuộc Công an Trung Quốc huấn luyện nghiệp vụ và nhận nhiệm vụ “Điều tra để cung cấp tin tức về chính trị, quân sự, kinh tế Việt Nam”...
Sự thật về “Tổ Công tác Dân tộc”
|
38 năm trôi qua, nhưng nhiều cán bộ Tỉnh ủy Hà Tuyên (nay là Hà Giang) vẫn không quên Chuyên án PL-92, làm rõ âm mưu, thủ đoạn, phương thức hoạt động của bọn gián điệp từ bên kia biên giới.
Sự việc bắt đầu vào cuối tháng 12.1978, tại xã Phú Lũng, Đồng Văn (đối diện bên kia biên giới là Công xã Phù Sáng, huyện Ma Li Pho, Vân Nam, Trung Quốc).
Đồn Công an Vũ trang Bạch Đích phát hiện các đối tượng từ Trung Quốc xâm nhập qua Việt Nam tìm cách gặp 1 cán bộ người Dao có uy tín trong xã và viết thư đề nghị: “Vận động nhân dân tập hợp lực lượng chống lại chính quyền. Trung Quốc sẽ giúp đỡ”.
Dưới sự chỉ đạo của lãnh đạo cơ quan chức năng và sự phối hợp, giúp đỡ của lực lượng nghiệp vụ, cán bộ ta đã triển khai các động tác giả theo phía bên kia. Đại diện nhóm người bên kia biên giới là Phàn Vần Xèng đã chỉ đạo cán bộ ta “Tổ chức lại dân quân gồm những người thân tín, càng đông càng tốt. Thông qua lực lượng này và những đồng chí thân Trung Quốc mà vận động dân bám biên giới, không di chuyển về sau”.
Thậm chí, Xèng còn yêu cầu gửi gấp danh sách “dân quân thân Trung Quốc” gồm 24 người, để Xèng “báo cáo xin vũ khí trang bị cho họ” và sau đó Xèng dẫn hai đối tượng khác mang theo súng ngắn, AK báng gấp xâm nhập Việt Nam.
Khi bị phục kích bắt gọn tại “điểm hẹn”, các đối tượng thừa nhận là gián điệp Trung Quốc đã phải khai nhận: “Hoạt động thám báo, tình báo vào khu vực biên phòng Việt Nam với nhiệm vụ xâm nhập, điều tra, thu thập tin tức tình báo phục vụ cho các yêu cầu về quân sự; đồng thời lôi kéo, móc nối cơ sở trong hàng ngũ chủ chốt cấp xã để xây dựng chính quyền hai mặt, phục tùng sự điều khiển của Trung Quốc”...
Ba đối tượng gián điệp còn cho biết: chính quyền Trung Quốc phiên chế những kẻ xâm nhập trong các tổ chức được gọi là “Tổ Công tác Dân tộc”. Thực chất đây là những tổ tình báo gián điệp hoạt động sâu vào lãnh thổ Việt Nam, có sự chỉ đạo chặt chẽ theo hệ thống bí mật từ trên xuống dưới.
Các đối tượng thừa nhận vậy và cung cấp thêm: Ở Ma Ly Pho còn có 3 tổ tình báo khác hoạt động tại các hướng Má Lĩnh, Pả Pú, Múng Tủng (đối diện huyện Đồng Văn). Tất cả các tổ đang cố gắng móc nối sang Việt Nam để nhanh chóng biến chính quyền cấp xã ở khu vực biên giới Việt - Trung của Việt Nam thành chính quyền 2 mặt, biến dân quân Việt Nam thành lực lượng ngầm tại chỗ của Trung Quốc, sẵn sàng nổi dậy gây bạo loạn chống Việt Nam... (Còn tiếp)
Mai Thanh Hả
Phần nhận xét hiển thị trên trang
Không hiểu tại sao bi giờ người ta ưa đọc và viết kiểu này? Não trạng có vấn đì sao?
Chiện Quê
Quê tôi nghèo nghèo là , nhất là quê ngoại, tôi về mỗi đợt giỗ ông bà , hay nhậu với các chú, chồng của các dì, các chú chỉ biết làm ruộng , và làm thợ xây, quê tôi đàn ông chỉ có 2 nghề đó , có việc xây thì đi mất hút, nửa năm mới về 1 lần, còn các dì thì chỉ loanh quanh mảnh ruộng, nhỏ đến nỗi bán mẹ trâu lấy tiền đỡ mất công chăn đỡ phí cỏ đồng làng, đến vụ thì kéo bằng người, vửa khỏe vửa có tiền khà khà . Cả chú lẫn các dì, ai cũng gầy vêu vao, tôi thích uống diệu với các chú, hơn tôi khoảng chục tuổi.
Ở quê nói chung thiếu thốn, cách xây nhà quê tôi khá lạ, họ xây nhà nhưng không có tiền, đều tự làm, ví dụ năm nai xây đc cái sân ( sân quan trọng nhất vì còn phơi lúa) năm sau 4 bức tường, năm sau nữa cố đổ cái mái, rồi trát bên trong, trát ngoài, nhà các chú đến 5 năm chưa xây xong, được đồng nào đều tích góp xây nhà, chỉ đủ tiền là lên phố huyện đèo bao xi măng về, trộn trộn xây thêm vài hàng gạch.
Gia đình các chú luôn ở tình trạng khát tiền !!!
1 chú nghèo nhất hay than " thiếu cả lương thực" chú gầy, người bé, uống 1 tý là mặt đỏ , tôi hỏi thăm Dì chú bổ có đều ? bổ nghĩa là quan hệ sinh lí, cứ diệu tây tây là tôi lôi đề tài đó ra khà khà .
Quê tôi có câu " Kinh buồi gì" nghĩa là "sợ đéo gì" khi uống diệu mà bắt đầu nói kinh buồi gì thì có nghĩa bắt đầu ngấm diệu, những chiện tế-nhị sẽ đc khaithác khà khà . Tôi hai hỏi chiện tình-dục, tôi cứ uống diệu là hai hỏi chiện đó khà khà.
" Nửa năm nay tớ chưa đc nhát nào, thề có bóng đèn, mà chú mày có bổ thì cũng vo ve như muỗi ". - Dì tôi bảo tôi.
Tôi chờ chú cần fơm, chú uống thêm hớp diệu , im lặng , tức đồng ý , chú cao có mét rưỡi, gầy tong teo, hồi đó chú khoảng 4chục rồi.
" Do thiếu lương thực, tớ mà thiếu lương thực thì con ruồi đậu mép đéo buồn đuổi, thì sức đâu mà bổ , sáng ra tinh cửng đái " ( Tinh, nghĩa là toàn, hay luôn luôn, quê tôi gọi thế, cửng đái nghĩa là dái tuy cứng, nhưng là do buồn đái, nếu đái thì nó mềm ngay) chú giải thích " Nhưng sáng mai chú sẽ bổ Dì mày, vì hôm nai ăn có chất ha ha ha kinh buồi gì" .
Được múa bởi Ngẩu Pín
Phần nhận xét hiển thị trên trang
Chủ Nhật, 15 tháng 2, 2015
Những kiều nữ Hollywood sinh năm Mùi
Nicole Kidman: Người nổi tiếng, thành công nhất trong số những kiều nữ tuổi Mùi có lẽ là nữ diễn viên Nicole Kidman (sinh ngày 20/6/1967 - Đinh Mùi). Cô được người ta ưu ái dành tặng cho biệt danh là "thiên nga của nước Úc" và là vợ cũ của nam tài tử Tom Cruise. Họ trở thành một trong những cặp đôi đáng mơ ước nhất nhưng đã ly dị năm 2001 sau hơn 10 năm chung sống. Nicole tham gia nhiều bộ phim đình đám như: To die for (1995), Batman forever(1995), Moulin rouge! (2001), Rabbit hole (2010)... Cô từng nhận được nhiều đề cử và giải thưởng điện ảnh khác nhau, nhưng quan trọng nhất là giải Oscar dành cho Nữ diễn viên chính xuất sắc trong bộ phim The hours (2002).
Nữ diễn viên Julia Roberts (sinh ngày 28/10/1967 - Đinh Mùi) trở thành một ngôi sao hạng A sau thành công vang dội của bộ phim Người đàn bà đẹp (Pretty woman) sản xuất năm 1990. Người hâm mộ đã dùng tên bộ phim đó đặt biệt danh cho cô và cô còn được nhớ đến qua một số bộ phim nổi tiếng khác như Steel magnolias (1989), My best friend's wedding (1997), Nothing hill (1999), Ocean's Twelve (2004)... Bộ phim Erin brockovich (2000) đã giúp mang về cho cô những giải thưởng danh giá nhất như giải Oscar, giải BAFTA, giải Quả cầu vàng trong cùng năm.
Maggie Q (sinh ngày 22/5/1979 - Kỷ Mùi) mang trong mình một nửa dòng máu Việt Nam từ mẹ, là một trong những ngôi sao không chỉ ở Hollywood mà còn ở thị trường điện ảnh châu Á. Trước khi đến với điện ảnh, cô từng làm một người mẫu chuyên nghiệp nhờ vẻ đẹp lai Á-Âu quý phái với vóc dáng chuẩn. Khán giả Việt Nam đã quá quen thuộc với cô qua những bộ phim hành động đình đám như Rush hour 2 (2001), Naked weapon (2002), Around the world in 80 days (2004), Mission: Impossible 3 (2006)... Ngoài ra, cô còn là một người ăn chay trường.
Người đẹp đa tài Jennifer Love Hewitt (sinh ngày 21/02/1979 - Kỷ Mùi) được biết đến với nhiều vai trò khác nhau như diễn viên, ca sĩ, đạo diễn, tác giả truyện... Cô đã bắt đầu sự nghiệp diễn xuất từ khi còn bé cho các chương trình thiếu nhi cho kênh Disney. Tuy nhiên cô được khán giả chú ý và mến mộ qua vai diễn chính trong bộ phim truyền hình dài tập của hãng CBS - Ghost whisperer (2005 -2010).
Xuất thân trong gia đình nghệ thuật - Kate Hudson (sinh ngày 19/4/1979 - Kỷ Mùi) sở hữu được vẻ đẹp từ người mẹ là nữ diễn viên gạo cội từng đoạt giải Oscar - Goldie Hawn. Một số bộ phim nổi bật mà cô từng tham gia gồm có:Almost famous (2000), Alex & Emma (2003), How to lose a guy in 10 days (2003) và gây chú ý nhiều nhất với bộ phim Cô dâu đại chiến - Bride wars (2009). Thể loại phim chính mà cô tham gia thường là phim hài kịch, lãng mạn.
"Bond girl" Bérénice Marlohe (sinh ngày 19/5/1979 - Kỷ Mùi) là nữ diễn viên người Pháp mang trong mình dòng máu Trung Hoa và Campuchia. Cô là một gương mặt quen thuộc trong những bộ phim truyền hình của Pháp nhưng tên tuổi của cô bỗng nhiên tỏa sáng khi thủ vai nữ chính trong bộ phim về Điệp viên 007 - Skyfall (2012), đóng chung với nam diễn viên người Anh - Daniel Craig.
http://news.zing.vn/Nhung-kieu-nu-Hollywood-sinh-nam-Mui-post511552.html
Phần nhận xét hiển thị trên trang
Thay đổi hình ảnh VN về người lao động xuất khẩu
Trần Văn Thọ (theo Doanh nhân Sài Gòn cuối tuần)
VNN - Một nước xuất khẩu nhiều lao động giản đơn hầu hết, nếu không nói là tất cả, là những nước nghèo, và do đó hình ảnh của những nước này không mấy sáng sủa trên vũ đài thế giới. Có kế hoạch chấm dứt tình trạng này trong một thời gian càng ngắn càng tốt là trách nhiệm của những người lãnh đạo đất nước.
Khu vực châu Á – Thái Bình Dương, còn được gọi là vùng Đông Á, trong 40 năm qua đã phát triển năng động. Công nghiệp hóa lan tỏa từ Nhật Bản sang Hàn Quốc, Đài Loan, rồi đến Trung Quốc lục địa và nhiều nước ở ASEAN. Quá trình đó được thúc đẩy bởi sự di chuyển nhộn nhịp của tư bản, công nghệ và tri thức kinh doanh từ các nước đi trước đến các nước đi sau.
Những năm gần đây một yếu tố khác ngày càng nổi bật trên bức tranh sống động đó. Đó là lao động. Đây là yếu tố di chuyển từ nước đi sau đến nước đã phát triển, nghĩa là đi ngược dòng với tư bản, công nghệ và tri thức kinh doanh. Nhưng trong 40 năm qua cũng có hiện tượng một số nước xoay chuyển dòng chảy, từ vị trí của nước xuất sang nước nhập khẩu lao động. Qua các hiện tượng này ta có thể thấy được trình độ phát triển của các nước, và đôi khi thấy được hình ảnh không mấy tốt đẹp của một số nước trên vũ đài quốc tế.
Tại Đông Á bắt đầu có hiện tượng xuất khẩu lao động từ thập niên 1970, chủ yếu là lao động nam từ Philippines, Thái Lan và Indonesia sang làm việc trong ngành xây dựng tại các nước Trung Đông, và lao động Việt Nam đi làm việc tại các nước Đông Âu. Sang thập niên 1980, lao động di chuyển trong nội bộ khu vực Đông Á bắt đầu tăng, lúc đầu chủ yếu là lao động nữ từ Indonesia, Philippines và Việt Nam di chuyển sang Đài Loan, Singapore và Thái Lan, sau đó đến Nhật và Hàn Quốc. Vào thập niên 1980 và 1990, công việc chính của những lao động nữ này là giúp việc nhà, nhưng sau đó mở rộng sang các lĩnh vực khác như săn sóc người già, phục vụ trong các nhà hàng, v.v…
Năm 2012, Philippines xuất khẩu khoảng 1,8 triệu, Indonesia khoảng 19 vạn người. Việt Nam vào năm 2013 xuất khẩu độ 9 vạn lao động. So với Philippines và Indonesia, số lượng lao động xuất khẩu của Việt Nam ít hơn nhiều, một phần vì quy mô dân số nhỏ hơn. Nhưng đó là nói về lao động xuất khẩu đến toàn thế giới. Nếu chỉ kể những thị trường chính ở Á châu thì số lượng lao động đến từ Việt Nam, Indonesia và Thái Lan gần như tương đương.
Tại các nước phát triển ở Đông Á, cơ cấu kinh tế chuyển dịch nhanh sang những ngành dùng nhiều tư bản, công nghệ và lao động trí thức, và chuyển sang nước ngoài (đầu tư trực tiếp) những ngành dùng nhiều lao động giản đơn. Tuy nhiên, những ngành dùng nhiều lao động giản đơn có quy mô khá lớn nên không thể chuyển hết ra nước ngoài, nhất là những lĩnh vực như xây dựng, nhà hàng và dịch vụ săn sóc người già vốn là những ngành không thể dịch chuyển sang nước khác.
Từ thập niên 1980, Nhật Bản ngày càng thiếu hụt lao động trong những lĩnh vực vừa kể nhưng không tích cực nhập khẩu do lo ngại an ninh xã hội không bảo đảm vì lao động giản đơn từ nước ngoài đến thường gặp trở ngại về ngôn ngữ và bất đồng về văn hóa. Nhật có chính sách chỉ nhận thực tập sinh (độ 155.000 người vào cuối năm 2013), là những người có trình độ văn hóa nhất định và từ đầu được các công ty Nhật bảo lãnh. Do chính sách này, vì tiềm năng cung và cầu khá lớn nên lao động giản đơn đến Nhật theo các kênh bất hợp pháp và không có tư cách cư trú hợp pháp.
Hàn Quốc cũng thiếu lao động giản đơn từ đầu thập niên 1990. Lúc đầu họ cũng hạn chế lao động nhập cư nhưng đến năm 2004 đã đưa ra chính sách tiếp nhận có tổ chức bằng cách phát hành thẻ cho phép làm việc đối với lao động nước ngoài theo hiệp định với nước xuất khẩu. Vào cuối năm 2012, tại Hàn Quốc có 600.000 lao động nước ngoài trong đó 550.000 là lao động giản đơn, phần lớn có xuất xứ từ Philippines và Việt Nam.
Đài Loan bắt đầu có chính sách tiếp nhận lao động nước ngoài từ năm 1989, lúc đầu giới hạn trong ngành xây dựng nhưng hiện nay phần lớn lao động nước ngoài làm việc trong các ngành chế tạo công nghiệp. Vào năm 2013 lao động giản đơn nước ngoài tại Đài Loan độ 490.000 người, phần lớn đến từ Indonesia và Việt Nam.
Trường hợp Thái Lan rất đặc biệt. Vào thập niên 1970, họ bắt đầu xuất khẩu lao động nhưng cuối thập niên 1990 – sau một thời gian phát triển nhanh – họ thiếu lao động nên xuất khẩu chấm dứt và chuyển sang nhập khẩu, chủ yếu từ Myanmar.
Như vậy, dòng chảy lao động tại vùng Đông Á có hai đặc tính. Một là, những nước thành công trong chiến lược phát triển kinh tế là những nơi ngày càng nhập khẩu nhiều lao động. Trong đó, một số nước có kinh nghiệm xuất khẩu lao động trong thời gian ngắn như Hàn Quốc và Thái Lan nhưng đã sớm chuyển vị trí sang nước nhập khẩu. Hai là, những nước đã xuất khẩu lao động từ rất sớm và hiện nay còn tiếp tục xuất khẩu với quy mô lớn là Philippines, Indonesia và Việt Nam.
Nhìn từ vị trí của người lao động xuất khẩu, ta có thể nêu một số điểm quan trọng. Thứ nhất, lao động giản đơn xuất khẩu sang các nước phát triển nhất là các nền kinh tế công nghiệp mới như Hàn Quốc, Đài Loan, thông thường làm việc trong những môi trường khó khăn, quyền lợi của người lao động thường bị xâm phạm vì phần lớn việc xuất nhập khẩu lao động không được tổ chức chu đáo, không có sự cam kết của xí nghiệp dùng lao động và sự giám sát của các cơ quan nước sở tại.
Thứ hai, vì là lao động giản đơn, trình độ học vấn, trình độ văn hóa của người đi lao động nước ngoài thấp nên khó thích nghi với điều kiện văn hóa, xã hội nước ngoài. Không ít người thất vọng với hoàn cảnh sống và làm việc ở xứ người, và có nhiều trường hợp phạm pháp xảy ra, gây ra hình ảnh xấu cho nước xuất khẩu lao động. Ngoài ra, cùng với điểm thứ nhất, lao động có trình độ văn hóa thấp thường dễ bị bóc lột tại xứ người.
Thứ ba, nước xuất khẩu lao động hầu hết là những nước không thành công trong các chiến lược phát triển kinh tế. Với trình độ văn hóa thấp, người dân các nước này không khỏi không lo âu khi rời xứ sở ra nước ngoài làm việc. Thành ra, nếu trong nước có công ăn việc làm, ít người muốn tham gia xuất khẩu lao động.
Thứ tư, cho đến nay, trong những nước xuất khẩu lao động chưa thấy nước nào đưa vấn đề này vào trong chiến lược phát triển kinh tế chung, trong đó lao động được đưa đi sẽ bảo đảm rèn luyện được tay nghề khi trở về, ngoại hối thu được sẽ được dùng một cách hiệu quả trong việc du nhập công nghệ, tư bản, v.v… và có kế hoạch chấm dứt xuất khẩu lao động trong tương lai.
Riêng về Việt Nam, không kể thời kỳ quan hệ mật thiết với các nước Đông Âu, xuất khẩu lao động tăng nhanh từ cuối thập niên 1990 và chủ yếu sang các nước Đông Á. Từ năm 2001, bình quân mỗi năm có 7 vạn (gần đây là 9 vạn) lao động được đưa đi ra nước ngoài. Báo chí đã phản ánh tình trạng khó khăn, nhiều trường hợp rất bi thảm, của người lao động đang làm việc ở nước ngoài.
Một nước xuất khẩu nhiều lao động giản đơn hầu hết, nếu không nói là tất cả, là những nước nghèo, và do đó hình ảnh của những nước này không mấy sáng sủa trên vũ đài thế giới. Có kế hoạch chấm dứt tình trạng này trong một thời gian càng ngắn càng tốt là trách nhiệm của những người lãnh đạo đất nước. Như đã nói ở trên, Hàn Quốc và Thái Lan đã thành công trong việc chuyển dịch vị trí từ nước xuất sang nước nhập khẩu lao động. Ngược lại, Philippines là nước điển hình tiếp tục xuất khẩu lao động và cũng là nước điển hình trì trệ về kinh tế.
Do tích cực đầu tư sang Việt Nam, hiện nay (tính đến cuối năm 2014) số người Hàn Quốc sinh sống tại nước ta lên tới hơn 15 vạn. Ngược lại, tại Hàn Quốc hiện nay (cuối năm 2012) có hơn 12 vạn người Việt Nam đang sinh sống, trong đó gần 26.000 người cư ngụ bất hợp pháp. Ngoài vài ngàn người là sinh viên du học, hầu hết người Việt tại Hàn Quốc là lao động giản đơn hoặc phụ nữ kết hôn với người bản xứ mà theo nhiều nguồn tin trong đó một số không nhỏ đi làm dâu xa vì lý do kinh tế.
Như vậy có sự tương phản trong quan hệ Việt – Hàn: người Hàn Quốc đến Việt Nam là để làm chủ trong khi người Việt Nam đến Hàn Quốc là để làm thuê. Người Việt làm thuê cả ở xứ mình và xứ người. Vào giữa thập niên 1960, nếu so sánh Sài Gòn với Seoul, có lẽ không ai cho rằng Seoul phát triển hơn Sài Gòn. Bây giờ thì khác. Nhiều năm gần đây khi trò chuyện với những người có vị trí lãnh đạo ở Việt Nam, tôi thường đem quan hệ lao động giữa hai nước Việt và Hàn làm ví dụ để minh họa cho một tình trạng mà không một người Việt Nam nào không cảm thấy bức xúc.
Trách nhiệm của lãnh đạo chính trị là sớm chấm dứt một tình trạng liên quan đến thể diện quốc gia này. Năm 2015 là năm chẵn kỷ niệm nhiều sự kiện lịch sử. Nhiều người có trách nhiệm sẽ phát biểu về tương lai Việt Nam nhưng sẽ là một thiếu sót lớn nếu không đề cập đến việc thay đổi hình ảnh của Việt Nam trên vũ đài quốc tế về người lao động xuất khẩu.
Tokyo, trước thềm năm Ất Mùi 2015.
Phần nhận xét hiển thị trên trang
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)







