Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Ba, 27 tháng 1, 2015

Người VN đã chịu đựng quá đủ rồi...

Không để VN thành nạn nhân tranh hùng nước lớn

– "Việt Nam không thể để mình trở thành nạn nhân của bất kỳ cuộc tranh hùng giữa các nước hay giữa các nhóm nước nào. Người Việt Nam đã chịu đựng quá đủ rồi" - ông Bùi Thế Giang, Vụ trưởng Vụ Tây Âu - Bắc Mỹ khẳng định.
VietNamNet giới thiệu kỳ cuối bàn tròn với ông Bùi Thế Giang, Vụ trưởng Vụ Tây Âu - Bắc Mỹ, Ban Đối ngoại TƯ Đảng và Ts Anders Corr (Harvard), chuyên gia phân tích chính trị quốc tế, từng có nhiều năm là chuyên gia của Bộ Quốc phòng Mỹ.

Cơ chế đảm bảo an ninh khu vực
Nhà báo Việt Lâm: Ý tưởng về tổ chức hợp tác quân sự đa phương do Mỹ dẫn đầu để đảm bảo an ninh ở CA-TBD như vừa phân tích là khó khả thi trong bối cảnh chính trị khu vực hiện tại. Vậy theo ông Giang, một khuôn khổ, cơ chế như thế nào sẽ giúp đảm bảo hoà bình và ổn định ở khu vực?
Ông Bùi Thế Giang: Khi tìm kiếm một cơ chế đảm bảo hoà bình, ổn định ở CA-TBD, chúng ta có thể lưu ý hai điểm.

Một là, chúng ta cần xem xét, dự báo nguồn cơn xung đột hay tranh chấp. Liệu bạn có nhìn thấy trước một xung đột nào trên đất liền, chẳng hạn như một nước A xâm chiếm một nước B hay không?
Trong khi đó, chúng ta đang chứng kiến các tranh chấp hiện tồn trên biển. Do vậy, để ngăn ngừa các diễn biến tiêu cực trong các tranh chấp đó, ít nhât chúng ta đã có Tuyên bố chung về Biển Đông (DOC) ký kết giữa ASEAN và TQ 12 năm trước. Nhắc đến ASEAN ngụ ý bao gồm 4 nước đang có tranh chấp chủ quyền và hai bên còn lại là TQ và Đài Loan. DOC có thể hiểu là một cơ chế như vậy nhưng tất cả chúng ta đều hiểu rằng DOC không có tính ràng buộc pháp lý. Vì thế, chúng ta đang phải cố gắng tiến tới Bộ Quy tắc ứng xử COC về Biển Đông.
Các nước ASEAN đã làm việc miệt mài cùng nhau để soạn ra dự thảo khung và nói một cách tích cực thì gần đây TQ đã phát đi những tín hiệu cho thấy họ sẽ tham gia vào tiến trình COC. Đó là một bước tiến. Tất cả chúng ta đều mong muốn kết thúc đàm phán COC càng sớm càng tốt để COC có thể phát huy vai trò như một cơ chế có tính ràng buộc pháp lý đối với tất cả các bên tham gia tranh chấp, ít nhất trong thời điểm hiện tại.

Hai là, hợp tác sâu rộng hơn giữa các quốc gia, trong đó có việc gia tăng trao đổi thương mại, kinh tế có thể mang đến lợi ích lớn hơn, buộc các quốc gia phải cân nhắc khi họ có ý định làm gì đó khiến tình hình trở nên căng thẳng. Bởi vậy, VN luôn ủng hộ các sáng kiến hợp tác kinh tế tích cực.
Tuy nhiên, mỗi khi một sáng kiến hợp tác kinh tế - thương mại như thế được đưa ra, chúng tôi cần nghiên cứu một cách thấu đáo. Các sáng kiến đó có thể đem lại lợi ích cho tất cả các nước trong khu vực nhưng nó cũng có thể là một sân chơi không công bằng. Bởi vì khi ông ở vị trí có thể loại bỏ các nước khác, các đấu thủ khác, đó sẽ không phải là cuộc chơi cùng thắng (win-win) một cách công bằng như khẩu hiệu mà nhiều người vẫn ưa dùng. Đó cũng không nhất thiết là trò chơi có tổng bằng không (kẻ thắng lấy hết phần lợi, kẻ thua chịu mọi phần thiệt) nhưng càng không phải là trò chơi cùng thắng công bằng. Ông có thể thắng 90% còn tôi chỉ được 10% thôi.
Tôi không thể chấp nhận những sáng kiến dạng đó. Dĩ nhiên, trong thế giới cạnh tranh ngày nay, khi mọi quốc gia dường như đều đặt lợi ích riêng của mình lên trên hết thì họ sẵn sàng làm bất cứ điều gì trong khả năng của họ để bảo vệ và mở rộng lợi ích ấy. Bởi thế, một lần nữa chúng tôi cần phải mở to mắt và cảnh giác, đồng thời cũng xem xét một cách nghiêm túc bất kỳ sáng kiến nào. Cho dù đó là “Giấc mơ Trung Hoa”, hay “giấc mơ Châu Á – Thái Bình Dương”, hay “Con đường tơ lụa trên biển”, hay G20 vv…Chúng tôi phải nghiên cứu cẩn trọng mọi sáng kiến và xem xét năng lực bản thân để trở thành một thành viên bình đẳng và độc lập trong đó.

Ts Corr: Tôi đồng ý với ông. Theo lối suy nghĩ xưa cũ kiểu chủ nghĩa hiện thực thế kỷ 19, những quốc gia đánh nhau để giành lấy vài mẩu lãnh thổ vốn luôn tìm mọi cách giành lợi ích trên lưng nước khác.
Nhưng tôi tin rằng điều này đang dần thay đổi giữa nhiều nước. Chẳng hạn như khi Philippines yêu cầu Mỹ rời khỏi căn cứ ở vịnh Subic, một trong hai căn cứ quân sự quan trọng nhất của chúng tôi ở châu Á, chúng tôi chấp nhận và rời đi. Không vấn đề gì cả. Chúng tôi chuyển sang Singapore, trả tiền thuê cho họ. Một khi Singapore muốn chúng tôi đi, chúng tôi sẽ phải đi vì chúng tôi tuân thủ luật pháp quốc tế. Chúng tôi tin vào chủ quyền lãnh thổ của các quốc gia. Chúng tôi tin vào luật pháp quốc tế.
Tôi tin rằng đó là lý do vì sao các nước ở châu Á, châu Âu hiện nay có thể tin tưởng vào Mỹ để đảm bảo hoà bình và ổn định trong khu vực. Dĩ nhiên, Mỹ đã mắc rất nhiều sai lầm nhưng vấn đề là hiện tại chúng tôi đang nỗ lực cổ xuý cho luật pháp quốc tế.
 Trung Quốc, Mỹ, Việt Nam
Ts Anders Corr, người sáng lập Corr Analytics từng có nhiều năm là chuyên gia phân tích của Bộ Quốc phòng Mỹ, tác giả nhiều bài bình luận trên Bloomberg và Finanical Times. Ảnh: Lê Anh Dũng
Không ai có thể áp đặt ý chí của mình lên dân tộc khác

Ông Bùi Thế Giang: 
Tôi chia sẻ quan điểm của ông về xây dựng lòng tin không chỉ trong lời nói, mà quan trọng hơn là trong hành động trên thực tế. Tôi tin là trong trái tim cũng như khối óc của người VN chúng tôi chưa bao giờ nuôi dưỡng hận thù với bất kỳ kẻ thù cũ nào. Nếu không như thế, làm sao chúng tôi có thể có mối quan hệ tốt đẹp như hiện nay với Hoa Kỳ, Pháp, Nhật hay Trung Quốc. Như ông biết đấy, trong hàng ngàn năm qua, họ đã tiến hành 12 cuộc chiến tranh lớn chống lại VN nhưng chúng tôi luôn chìa bàn tay hữu nghị với họ. Đó là chính sách của chúng tôi.
VN luôn giữ một trái tim rộng mở và một tâm hồn phóng khoáng trong cách cư xử với thế giới. Điều duy nhất ở đây là chúng tôi cần sự tôn trọng lẫn nhau vì độc lập, tự do mà chúng tôi đã mất rất nhiều máu xương mới giành lại được như ngày nay. Chúng tôi cũng đòi hỏi các nước khác tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền quốc gia.

Tôi thực sự cảm phục điều mà Tổng thống Obama đã phát biểu tại Đại hội đồng LHQ năm 2008 ngay sau khi ông vừa đắc cử. Ông ấy nói rằng” “Không ai có thể áp đặt ý chí lên dân tộc khác. Chúng tôi tôn trọng quyền lựa chọn chế độ chính trị của các nước khác”. Tôi nghĩ đây là một luận điểm quan trọng, và trong mối quan hệ song phương với Mỹ, TQ và các nước khác, điều này càng trở nên quan trọng.
Đó là lý do vì sao tôi mang theo tuyên bố chung của Tổng thống Obama và Chủ tịch nước Trương Tấn Sang ngày 25/7 năm ngoái ở Washington DC. Trong đó, có một điểm rất quan trọng là hai nước tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ chính trị của nhau. Điều đó chứng tỏ đây là một nền tảng rất tốt mà dựa vào đó chúng ta có thể xây dựng sự tin cậy lẫn nhau.
2015 sẽ bình yên hơn?
Việt Lâm:Bàn tròn đã khá dài và có vẻ còn rất nhiều vấn đề mà hai vị khách mời muốn thảo luận tiếp. Nhưng giờ tôi muốn chuyển sang một câu hỏi mà khá nhiều độc giả thắc mắc: Hai ông dự đoán thế nào về những diễn biến chính ở khu vực trong năm tới? Tất nhiên, công tác dự báo luôn vô cùng khó khăn bởi vì luôn có nhiều việc xảy ra ngoài mọi dự đoán.

Ông Bùi Thế Giang: Tôi vốn không giỏi dự đoán. Nhưng nếu ông nhìn vào dòng sự kiện đã xảy ra suốt năm qua, có thể thấy rằng 2015 sẽ là năm quan trọng đối với nhiều nước. Đó là một năm trước thềm bầu cử Tổng thống Mỹ 2016. Đó cũng là một năm quan trọng với VN vì 2016 là năm của Đại hội Toàn quốc Đảng Cộng sản.
Đó cũng là một năm quan trọng với TQ vì Tập Cận Bình đã củng cố vững chắc quyền lực. Ông ta đã hoàn tất những việc quan trọng và cần thiết. Chẳng hạn như chiến dịch chống tham nhũng đã kết thúc với diễn biến khá phức tạp, khi thì nhanh chóng, khi thì chậm chạp. Và ở khu vực này, cách đây vài ngày vừa diễn ra cuộc bầu cử ở Nhật Bản với chiến thắng của Liên minh LPD và Komei, góp phần củng cố vị thế của Thủ tướng Shinzo Abe. Tại ASEAN, Malaysia sẽ tiếp nhận ghế Chủ tịch Hiệp hội. Malaysia như chúng ta đã biết là một quốc gia có chính sách đối ngoại trung dung.

Vì thế, tôi hi vọng rằng khu vực sẽ hoà bình và ổn định hơn một chút so với năm nay. Tôi trông đợi chính sách tiếp tục can dự tích cực của Mỹ vào khu vực theo hướng tái cân bằng. Tôi trông đợi hợp tác chặt chẽ hơn giữa các quốc gia đang phát triển ở khu vực này như Mỹ, Australia, Nhật Bản và Hàn Quốc như là những thành viên của G20 và G8 cũng như với các nước đang phát triển, đặc biệt là các nước thu nhập trung bình, trong đó có VN. Như tôi đã nói, trước thềm Đại hội Đảng Toàn quốc tổ chức 5 năm một lần, chúng tôi muốn môi trường hoà bình và ổn định, chúng tôi muốn tăng cường hợp tác để chúng tôi có thể chứng minh rằng thiện chí của một phía sẽ được các phía khác đáp lại một cách tích cực.
Trung Quốc, Mỹ, Việt Nam
Ông Bùi Thế Giang là một chuyên gia kỳ cựu về quan hệ quốc tế. Ông là một trong hai người đầu tiên từ Việt Nam đi học quan hệ quốc tế tại SAIS, John Hopkins, ngôi trường hàng đầu của Mỹ về quan hệ quốc tế, từ khi Mỹ còn đang cấm vận VN. Ảnh: Lê Anh Dũng

Ts Corr: Tôi cũng nghĩ rằng năm tới khu vực này sẽ bình yên hơn. Tôi tin rằng vì TQ đã chứng kiến việc nhiều nước phản đối mạnh mẽ các hành vi gây hấn của họ nên họ sẽ trở nên thận trọng hơn trong năm tới và nhờ thế khu vực này có thể yên bình hơn. Ở Mỹ, tôi nghĩ rằng có thể Đảng Cộng hoà sẽ thắng trong cuộc bầu cử Tổng thống năm 2016. Mặc dù là một người Dân chủ nhưng tôi nghĩ rằng khả năng đó có thể xảy ra bởi người Mỹ đang nhìn nhận hiện nay Mỹ khá yếu ớt trong chính sách đối ngoại và họ mong muốn một nước Mỹ mạnh mẽ hơn trong chính sách đối ngoại liên quan đến Nga và TQ. Do vậy, tôi tin là chúng ta sẽ được chứng kiến Mỹ trở nên mạnh mẽ hơn về đối ngoại và bảo vệ luật pháp quốc tế.
Lựa chọn nào cho VN?
Việt Lâm: Để đối phó với môi trường khu vực nhiều biến động như vậy, theo các ông thì những nước vừa và nhỏ như VN có thể có những lựa chọn gì?
Ts Corr: 
Các nước vừa và nhỏ không thể ứng phó với sức ép của TQ một cách đơn lẻ. Và sẽ càng sai lầm hơn nếu họ chọn cách tiếp cận bằng quân sự để giải quyết các tranh chấp với TQ. Các nước trong khu vực cần đoàn kết với nhau và cần làm bạn với những đối tác thân thiện, có đủ năng lực hỗ trợ họ như Mỹ. Tôi không nghĩ đây là việc lựa chọn về phe nào, bởi vì bạn đang làm ăn kinh tế với cả hai bên cơ mà. Tuy nhiên, nếu có bất kỳ cú sốc nào xảy đến thì việc các nước trong khu vực có một đối tác mạnh là cực kỳ quan trọng.

Ông Bùi Thế Giang: Tôi tin rằng lựa chọn hữu ích cho VN là tiếp tục chính sách mà chúng ta đã đề ra. Chúng ta sẽ nỗ lực duy trì môi trường hoà bình cho VN. Điều này cần được thực hiện như một điều kiện, song song với nhu cầu đảm bảo sự tôn trọng từ tất cả các nước khác, các đối tác khác đối với nền độc lập, toàn vẹn lãnh thổ, chủ quyền và sự thống nhất quốc gia. Tôi tin rằng điều này có ý nghĩa tối quan trọng với VN, nhất là vào thời điểm này sau tất cả những trải nghiệm quá khứ mà tôi không cần nhắc lại ở đây nữa.
Độc lập có vị trí tối cao. Tuy nhiên, chúng ta cần phân biệt giữa độc lập và sự cô lập. Đây thực chất là hai vấn đề hoàn toàn khác nhau và tôi tin độc lập trong chính sách của chúng ta là không tham gia bất kỳ một liên minh nào nhằm chống lại bên thứ ba. VN không thể để mình trở thành nạn nhân của bất kỳ cuộc tranh hùng nào giữa hai nước, hay giữa các nhóm tổ chức. Người VN đã chịu đựng quá đủ rồi.
- Xin cảm ơn hai ông!
  • VietNamNet

Phần nhận xét hiển thị trên trang

'Lãnh đạo Việt Nam muốn chúng tôi phản biện'


Ông Thomas Vallely chia sẻ về hành trình dài hơn 20 năm gắn bó với VN trên cương vị Giám đốc Chương trình VN tại ĐH Harvard, "cha đẻ" của trường Fulbright tại TP.HCM.

Đầu năm 1989, Thomas Vallely, Giám đốc Chương trình VN tại ĐH Harvard, cựu lính thủy đánh bộ trong chiến tranh VN cùng GS Dwight Perkins, sau này là Giám đốc Viện Phát triển Quốc tế Harvard có chuyến thăm Việt Nam. Khi đó, đất nước mới bắt đầu tiến trình Đổi Mới và hầu hết các nhà lãnh đạo VN khi ấy vẫn còn rất mơ hồ về những khái niệm kinh tế thị trường.

Những vết thương chiến tranh vẫn còn hiện diện trên khắp đất nước. Vậy mà ngược với dự đoán ban đầu, nhóm tư vấn của Harvard thấy mình được chào đón ở VN, được nghiên cứu bất kỳ vấn đề kinh tế quan trọng nào.
"Ngay từ những ngày tháng ban đầu, còn nhiều khó khăn khi ấy, các lãnh đạo VN và TPHCM đã quan tâm, thậm chí đặt hàng cụ thể với Viện Đại học Harvard. Với chức năng, nhiệm vụ được Nhà nước giao, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch đã mời, tạo điều kiện cho công việc của nhóm nghiên cứu. Các nhà lãnh đạo VN mong muốn VN không chỉ thoát nghèo nàn, mà còn sớm công nghiệp hóa, hiện đại hóa và sánh vài các cường quốc năm châu như ước nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh”, Thứ trưởng Ngoại giao Lê Hoài Trung nhớ lại.

Trong những năm 1990 và 1991, Vallely và GS David Dapice, một nhà nghiên cứu về kinh tế VN đã tổ chức nhiều chuyến tham quan, khảo sát cho các nhà hoạch định chính sách, các bộ trưởng phụ trách kinh tế và nhiều quan chức cấp cao khác ở Indonesia, Hàn Quốc, Đài Loan và Thái Lan. Đối với nhiều thành viên, đó là chuyến đi đầu tiên của họ đến các nước láng giềng đang phát triển rất nhanh chóng khi ấy, và là cơ hội ban đầu để gặp gỡ những đồng sự chịu trách nhiệm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và cải thiện mức sống người dân. Trong các thành viên khi ấy, có ông Phan Văn Khải, người một thập niên sau trở thành Thủ tướng của VN.

Đấy cũng là lúc mà Chương trình VN của ĐH Harvard do Thomas Vallely sáng lập bắt đầu ghi dấu ấn sâu đậm của mình, với sáng kiến thành lập Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright tại TP.HCM (FETP hay còn gọi là trường Fulbright) vào năm 1994, trước cả khi hai nước bình thường hoá quan hệ.

Nhờ những hậu thuẫn chính trị quan trọng từ các nhà lãnh đạo VN cũng như Mỹ, từ một chương trình một năm đào tạo các khoá học về kinh tế học cổ điển theo chương trình giảng dạy của Harvard, giờ đây, sau 20 năm, FETP đã có hơn 1000 cựu sinh viên nắm giữ các trọng trách trong các cơ quan nhà nước, chính quyền địa phương, trong khu vực công cũng như lãnh đạo doanh nghiệp.

Hoàn tất một chặng đường 20 năm, chương trình khởi đầu cho lộ trình xây dựng một mối quan hệ mới giữa hai cựu thù Việt – Mỹ đang đứng trước cơ hội lớn để trở thành một trường đại học lớn mang đẳng cấp quốc tế. Tháng 6 năm ngoái, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chấp thuận chủ trương thành lập trường Đại học Fulbright Việt Nam (FUV) và tháng 12 mới đây, Quốc hội Mỹ đã phê chuẩn thành luật cho phép Chính phủ Mỹ tài trợ khoảng 20 triệu USD để xây dựng FUV.

Cuộc trò chuyện của VietNamNet với ông Thomas Vallely, Giám đốc Chương trình VN tại ĐH Harvard và Chủ tịch Quỹ Tín thác Sáng kiến Đại học Việt Nam, người tiên phong cho các nỗ lực thành lập FUV bắt đầu với lễ kỷ niệm 20 năm trường Fulbright ở Dinh Thống Nhất, TP.HCM tuần trước.

Nhà báo Việt Lâm: Tuần trước, chúng ta đã kỉ niệm 20 năm ngày thành lập Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright, hay còn gọi là trường Fulbright tại Dinh Thống Nhất TP.HCM. Đó là một sự kiện đầy ý nghĩa với nhiều người, không chỉ với các thành viên của gia đình Fulbright, mà còn đối với những người ủng hộ cho cải cách giáo dục đại học ở Việt Nam. Khi ngồi ở trong hội trường rộng lớn đó, lắng nghe mỗi người chia sẻ câu chuyện riêng của họ, ông, người sáng lập chương trình cảm thấy thế nào?
Ông Thomas Vallely: Trước hết, tôi muốn cảm ơn VietNamNet vì cơ hội được trò chuyện với độc giả Việt Nam. Tôi rất cảm kích bởi VietNamNet thực sự đã đóng vai trò quan trọng trong tiến trình chuyển đổi mà trường Fubright đã khởi xướng. Ngày nay, hầu hết mọi người đều đồng ý rằng Internet đã hiện diện mạnh mẽ và sâu sắc trong các ngóc ngách của xã hội VN. Vì thế, có thể ít ai biết rằng cách đây chưa lâu, ngay ở trường Fulbright giữa trung tâm TP.HCM, chúng tôi đã phải làm mọi cách để kết nối với thế giới. Đó là giai đoạn mà 50 sinh viên của trường được tiếp cận Internet nhiều hơn tất cả các sinh viên trong toàn hệ thống giáo dục đại học, nhờ có VietNamNet.

Khi chúng tôi bắt đầu chương trình, chúng tôi xây một khuôn viên nhỏ ở TP.HCM. Khi đến đó, chúng tôi đã nghĩ rằng “ồ, đây là một trong những kiến trúc đẹp nhất VN mà tôi đã từng thấy ở TP.HCM”. Lúc đó, kế hoạch của chúng tôi là mua một khuôn viên thật đẹp để thu hút mọi người đến đó không chỉ vì chương trình khoá học mà còn vì họ thích đến đó thưởng ngoạn nữa. Có thể điều đó bây giờ là bình thường ở VN khi mà nhiều người VN ngày càng thích đến những nơi đẹp đẽ.

Khi mới bắt đầu, chúng tôi không giảng dạy ở mức độ mà chúng tôi thực hiện được như ngày nay. Tôi nghĩ đây là một điểm rất đặc biệt. Khi đó, chúng tôi dạy các khoá kinh tế học tân cổ điển theo đúng cách mà bạn sẽ học ở trường Georgetown, Arizona State, California Irvine hay Harvard. Chúng tôi sử dụng sách giáo khoa Mỹ và không thực sự kết nối những gì chúng tôi giảng dạy với các vấn đề chính sách công ở VN khi đó. Có thể nói trong vài năm đầu tiên, chúng tôi chỉ học hỏi làm sao để triển khai được chương trình và chủ yếu là các giáo sư nước ngoài đến giảng dạy với sự trợ giúp của các trợ giảng người Việt.

Bởi thế, điều khiến tôi ấn tượng nhất tại lễ kỷ niệm 20 năm thành lập trường là làm thế nào mà chúng tôi đã hoàn tất một quá trình mang tính cải biến như vậy. Giờ đây, tất cả các giảng viên là người Việt Nam, trừ một vài ngoại lệ là một số giáo sư nước ngoài được mời đến giảng theo học kỳ. Hầu hết các giảng viên VN đó đều được đào tạo từ các trường đại học nghiên cứu hàng đầu ở nước ngoài. Sự cải biến trong nguồn lực con người, theo tôi chính là thành tựu lớn nhất mà một sự thay đổi nhỏ mang tính thể chế đã đem lại cho trường. Chúng tôi đã xây dựng được một đội ngũ giảng viên nhỏ nhưng rất tài năng. Đầu tư cho nguồn nhân lực là phần đầu tư chiếm tỷ trọng lớn nhất của trường. Và được chứng kiến những giảng viên VN trẻ đó trưởng thành thực sự là khoảnh khắc đáng tự hào và xúc động.
trường Fulbright, Thomas Vallely
Ông Thomas Vallely, Giám đốc Chương trình Việt Nam tại ĐH Harvar. Ảnh: Phạm Hải

Vấn đề của VN là chỉ so mình với chính mình
Tôi nhớ cách đây chừng mươi năm thì những cái tên như Vũ Thành Tự Anh, Nguyễn Xuân Thành, Huỳnh Thế Du…(các giảng viên VN của FETP) vẫn còn rất xa lạ. Giờ đây, họ là những chuyên gia kinh tế có tiếng nói và ảnh hưởng trong cộng đồng. Các tờ báo uy tín, trong đó có VietNamNet thường xuyên trích đăng các ý kiến, bài viết của họ.

Tôi nhớ trong lễ kỷ niệm 20 năm trường Fulbright, một ai đó đã hỏi tôi một câu hỏi có liên quan gián tiếp đến 3 giảng viên mà bạn vừa đề cập. Câu hỏi đó là “ông định nghĩa thế nào về đẳng cấp thế giới”. Đẳng cấp quốc tế, theo tôi là các giảng viên của trường phải biết rõ những người khác trên thế giới đang dạy những gì họ dạy và nghiên cứu những gì họ nghiên cứu. Những giảng viên hàng đầu không chỉ là những người xuất sắc nhất ở VN mà họ còn phải có khả năng cạnh tranh với những bộ óc giỏi nhất trên thế giới trong lĩnh vực kinh tế phát triển, kinh tế chính trị, hay kinh doanh. Đấy là điểm khác biệt trong cách tiếp cận của Fulbright so với các cơ sở đào tạo nghiên cứu khác. Và những giảng viên mà bạn vừa nhắc tới là những người kết nối được với thế giới.

Tôi rất tâm đắc một phát biểu của Giáo sư Hoàng Tuỵ rằng vấn đề của hệ thống giáo dục là VN chỉ kết nối VN với VN, so sánh mình với chính mình chứ không kết nối được VN với thế giới. Nếu bạn chỉ so ta với ta, kết nối ta với ta thôi thì bạn không có đủ áp lực để trở thành một nhà hoá học, sinh học hay kỹ sư xuất chúng. Điều đó không có nghĩa là bạn yếu kém, không có nghĩa là bạn không có giá trị gì nhưng bởi vì bạn không thể trở nên xuất sắc bởi vì bạn không có sự cạnh tranh hay tái tạo tri thức từ sự kết nối với thế giới bên ngoài.

Khi chúng tôi thành lập trường Fulbright, chúng tôi chưa có được các giảng viên người Việt đủ năng lực làm điều này. Nhưng giờ đây, sau 20 năm, trường hoàn toàn được quản trị bởi các giảng viên Việt. Cơ chế quản trị có lẽ là thành tố chính làm nên sự khác biệt của trường Fulbright so với các cuộc thử nghiệm có yếu tố nước ngoài khác mà VN đã triển khai. Hầu hết các tổ chức nước ngoài khi đến VN đều nói rằng người VN biết điều gì là tốt nhất. Thực ra thì người VN không hẳn biết được điều gì là tốt nhất mà là họ hiểu hệ thống của họ và hệ thống đó không cho phép một cơ cấu quản trị có đủ minh bạch, trách nhiệm giải trình hay tính sáng tạo. Và do đó, nên bắt đầu bằng một tiến trình cải cách thể chế trong các tổ chức VN hay các tổ chức có đầu tư nước ngoài.

Nghiên cứu chính sách là để các nhà lãnh đạo có thể thực hiện được
Ông gợi tôi nhớ đến slogan của trường Fulbright là “địa phương hoá tri thức toàn cầu”. Nói cách khác là đưa những ý tưởng mới, từ những hệ thống có thể nói là rất khác biệt so với VN áp dụng cho một hoàn cảnh rất đặc thù của riêng VN. Các ông đã vượt qua những rào cản về chính trị, về xã hội như thế nào để đưa được những ý tưởng mới vào quá trình hoạch định chính sách của VN?

Một trong những nhân tố khác biệt nữa của trường Fulbright so với các chương trình đào tạo khác trong hệ thống là trước hết, chúng tôi đầu tư mạnh vào nghiên cứu chất lượng cao. Và các nghiên cứu về kinh tế chính trị là nhằm để gây ảnh hưởng vào các dự thảo chính sách đúng đắn và khả thi. Chúng không được viết để đăng trên tạp chí kinh tế học. Nếu bạn viết cho một tạp chí kinh tế học, không ai ở VN có thể hiểu được bạn đang nói về cái gì bởi vì nó không khác gì một bài toán. Bạn phải viết và phân tích vấn đề để làm sao dễ hiểu nhất với đại chúng. Bạn phải hiểu vấn đề và viết thành một cái gì đó có thể thực hiện được cho một quan chức chính phủ, cán bộ đảng để họ có thể nắm bắt rõ vấn đề và thực thi các giải pháp.

Có rất nhiều ví dụ như thế. Chẳng hạn như chúng tôi đã viết những bài phân tích đầu tiên về nhu cầu phải nới lỏng các quy định đối với hệ thống viễn thông. Ngày nay, các bạn trẻ có thể dễ dàng nhấc điện thoại lên, vào facebook, và họ nghĩ rằng chúng hoạt động một cách tự động. Nhưng thực ra không phải thế. Các bạn có thể dễ dàng tiếp cận với Internet là bởi vì VN đã quyết định thực hiện điều mà chúng tôi đã nghiên cứu rất kỹ. Chính phủ VN thực sự đã cân nhắc kiến nghị ấy một cách nghiêm túc. Khuyến nghị của chúng tôi sau các nghiên cứu ấy là: Hãy để hệ thống viễn thông vẫn do nhà nước sở hữu nhưng phải có cạnh tranh. Tôi nhớ là nghiên cứu ấy ra đời khi mà chỉ có trường Fulbright được tiếp cận với Internet và lúc ấy thì chính phủ đang đắn đo không muốn cho Internet phổ cập ở VN. Nó cũng tương tự như việc VN cân nhắc chỉ kết nối các trường đại học trong nước với nhau chứ không phải với thế giới vậy.

Cuối cùng thì điều đã thực sự xảy ra là quân đội quyết định thành lập Viettel để cạnh tranh với VNPT trong lĩnh vực viễn thông. Cuộc cạnh tranh này đã giúp cho Internet trở nên rẻ hơn, dễ tiếp cận và được kết nối rộng rãi trên khắp đất nước. Điều này đã góp phần quan trọng cải biến không chỉ hệ thống giáo dục đại học mà còn là nền chính trị của VN nữa. Tôi nghĩ chính phủ đã đưa ra một quyết định mang tính cải biến lớn lao khi cho phép cạnh tranh trong hệ thống viễn thông, điều làm VN khác biệt so với Trung Quốc và nhiều nước khác. Giờ đây, VN có độ phủ Internet cao nhất ở khu vực Đông Nam Á.
trường Fulbright, Thomas Vallely
Ngoại trưởng Mỹ John Kerry trò chuyện với các giảng viên và sinh viên của trường Fulbright.

VN thích chúng tôi phản biện
Có lẽ chính nhờ cách tiếp cận theo hướng nghiên cứu sâu sắc nhưng phải dễ hiểu và khả thi với VN như vậy nên trường Fulbright được biết đến rộng rãi trong chính giới, các nhà hoạch định chính sách, nhà nghiên cứu và công chúng với các bài nghiên cứu chính sách, từ cuốn “Theo hướng rồng bay” những năm đầu thập kỷ 90 cho tới “Lựa chọn thành công” năm 2008 và “Các nút thắt thể chế” mới đây. Nhưng nhìn lại 20 năm qua, một chặng đường dài như vậy, rất nhiều người nói với tôi rằng, ông phải kiên nhẫn và nhiệt huyết lắm mới có thể vượt qua những rào cản ban đầu để xây dựng được trường Fulbright như ngày nay. Ông lấy đâu ra nguồn năng lượng đó vậy?

Ồ, nhận xét này có hơi phóng đại một chút nhưng tôi thực sự cảm kích trước những lời tốt đẹp mà các bạn dành cho tôi. Tôi nghĩ rằng có hai nhân tố quan trọng trong thành công của trường Fulbright. Đó là chúng tôi thực hiện những nghiên cứu theo hướng phải khả thi và triển khai được ở VN, đồng thời chúng tôi cũng đề cao tinh thần phê bình, phản biện.

Tôi biết lý do mà chúng tôi có được một vị trí khá là đặc quyền ở VN có thể bởi vì trường Fulbright có Harvard. Nhưng đó còn bởi vì ngay từ ban đầu, trường Fulbright đã thực hiện những nghiên cứu có tính chất phản biện đối với các chính sách của chính phủ và nền quản trị chính trị. Đó là sự phản biện mang tính xây dựng. Nhưng bởi vì tính phản biện từ buổi đầu đã tạo nên sự khác biệt. Không phải bởi vì chúng tôi dũng cảm hơn ai, mà bởi vì chúng tôi có lá chắn trên đầu để bảo vệ.

Thực ra có 3 lá chắn. Lá chắn thứ nhất là một nhóm người ở VN muốn có phản biện. Ngay từ ban đầu, nhiều nhà lãnh đạo cấp cao của VN mà chúng tôi có dịp gặp gỡ, làm việc đều mong muốn chúng tôi phản biện. Hai là, trường Harvard cũng có một vị thế tương đối để phản biện hơn các nơi khác. Cuối cùng là trường Fulbright nhận tài trợ chính từ chính phủ Mỹ và do chính TNS John Kerry và John McCain tham gia sáng lập. Vào thời điểm đó, VN và Mỹ đang cùng nhau xây dựng mối quan hệ. Tôi nghĩ trường Fulbrigh đã hưởng lợi khá nhiều. Nhờ thế, chúng tôi có nhiều khoảng không tự do hơn những người khác.

Không lẽ ông chưa bao giờ vấp phải sự phản đối mạnh mẽ hay thái độ khó chịu từ ai đó vì đã phản biện quá thẳng thắn không?
Ồ, nếu điều đó xảy ra thì có nghĩa là chúng tôi đã phản biện không đủ (cười). Không, điều đó không phải là vấn đề gì to tát cả. Chúng tôi tạo dựng uy tín nhờ phản biện và uy tín đó trở nên giá trị bởi vì bạn đã làm việc một cách tích cực, xây dựng chứ việc phê bình tự thân nó không làm nên giá trị. Phản biện một cách xây dựng mang đến cho bạn sức mạnh trong tranh luận. Và chúng tôi đã theo đuổi điều đó ngay từ ban đầu.

Tôi còn nhớ cuốn sách đầu tiên chúng tôi viết về VN là cuốn “Theo hướng rồng bay”. Đó là một bản phân tích được viết bởi một trong những người sáng lập trường Fulbright, giáo sư Dwight Perkins. Ông ấy là người đã đi tiên phong nghiên cứu về kinh tế Trung Quốc ở Harvard, một lĩnh vực gây nhiều tranh cãi ở Mỹ thời điểm đó đến nỗi mà ai đó nghiên cứu về nó có thể gặp phiền nhiễu. Hồi đó, GS Dwight cũng dạy một khoá ở Harvard về tiến trình phát triển của Đài Loan, Singapore, Hongkong, Hàn Quốc, về việc họ đã làm thế nào để vươn dậy và quá trình công nghiệp hoá đã diễn ra như thế nào. Chúng tôi viết một phân tích tương tự về VN, về việc VN có thể làm gì để công nghiệp hoá thành công như những nước này.

Thế rồi thế giới thay đổi. Chúng ta có toàn cầu hoá, rồi khủng hoảng tài chính châu Á 1997-1998. Bây giờ trường Fulbright không còn khoá học đó nữa nhưng nó đã khởi nguồn cho cuộc đối thoại chính sách trong hệ thống kinh tế chính trị của VN. Chúng tôi cũng biết rằng không phải lúc nào góp ý của mình cũng được tiếp thu nhưng chí ít chúng tôi đã đóng vai trò nhất định trong cuộc tranh luận về chính sách. Và điều tuyệt vời về VN chính là họ thích chúng tôi làm việc đó.
trường Fulbright, Thomas Vallely
"Khi bạn gặp rắc rối, nhiều người muốn giúp bạn hơn là làm hại bạn. Đó chính là giấy phép kiểu VN". Ảnh: Phạm Hải


Thế có bao giờ ông muốn bỏ cuộc không?
Không, không bao giờ. Chưa từng có ai yêu cầu chúng tôi từ bỏ. Và chúng tôi đã đầu tư mạnh mẽ vào rất nhiều người trẻ VN. Nhiều người VN đã làm việc cho chúng tôi, làm việc cùng chúng tôi và chúng tôi đã trở thành những người bạn thân thiết. Chúng tôi không bao giờ nghĩ đến việc rời khỏi nơi này.

Chúng tôi phải làm việc với Harvard, với Bộ Giáo dục và chính quyền TP.HCM. Và bạn biết không, phần lớn vấn đề lại nằm ở phía Harvard, ý tôi là các vấn đề liên quan đến hành chính lại không đến từ VN mà từ Harvard.

Tôi nghĩ chúng tôi có được sự đầu tư mạnh vào nguồn lực con người là bởi vì trường Fulbright đã vận hành từ trước khi có Đại sứ quán Mỹ. Nhờ thế mà chúng tôi có được tiếng nói ngay từ buổi ban đầu.

Ở VN, giấy phép/sự cho phép là gì? Giấy phép ở VN chính là khi bạn gặp rắc rối, sẽ có nhiều người muốn giúp bạn hơn là muốn làm hại bạn. Đó chính là cái gọi là giấy phép ở VN và đó là cách mà trường Fulbright đã vượt qua được các thách thức để phát triển.
  • VietNamNet
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Hổm, thấy lão tiến sĩ xuất hiện trên tàng hình, tự nhiên thích đăng lại bài nầy!

Sao quê hương mình già nua đến vậy?

SAO QUÊ HƯƠNG MÌNH GIÀ NUA ĐẾN VẬY?Các nhà đầu tư thế giới thường nghĩ về Việt Nam như một quốc gia trẻ trung, đang lên và chứa nhiều tiềm năng nhất trong số các thị trường mới nổi. Họ ấn tượng với con số tăng trưởng về dân số, về sự kiện là 58% người VN dưới tuổi 25, và theo nhãn quan của người Âu Mỹ, đây là phân khúc sáng tạo và cầu tiến nhất của bất cứ xã hội nào. Họ tìm đến VN mong những đột phá kỳ diệu và một vận hành năng động kiểu thung lũng Silicon (trung tâm IT của Mỹ ở phía nam San Francisco). Sau vài năm tung tiền mua tiềm năng và cơ hội, họ thường thất vọng và âm thầm bỏ đi. Tại sao?
Những giả thuyết ngây thơ
Họ đã không lầm về những số liệu tạo nên hình ảnh đó. Tuy nhiên, sự phân tích và biện giải về logic của họ vướng phải vài giả thuyết và tiền đề không chính xác. Một người có số tuổi còn trẻ không có nghĩa là sự suy nghĩ và vận hành của người đó cũng phải trẻ trung như số tuổi, nhất là khi họ lớn lên trong một xã hội khép kín, ít tiếp xúc với thế giới.
Tôi còn nhớ một đai gia IT nổi tiếng cũng đã từng kết luân trong một buổi hội thảo về kinh tế là số người sử dụng điện thoại di động ở VN đã tăng trưởng ấn tượng 36% mỗi năm trong 5 năm qua và lên đến 68 triệu người hay khoảng 80% dân số. Kết luận của anh chuyên gia trẻ này là tương lai về công nghệ thông tin của VN phải sáng ngời và sẽ vượt trội các nước như Trung Quốc, Ấn Độ, Philippines…
Đây là những kết luận ngây thơ về thực tại của xã hội. Một người trẻ suốt ngày la cà quán cà phê hay quán nhậu sẽ không đóng góp gì về sáng tạo hay năng động; cũng như vài ba anh chị nông dân với điện thoai cầm tay không thay đổi gì về cuộc diện của nông thôn ngày nay (nông dân vẫn chiếm đến 64% của dân số xứ này).
Tôi thích câu nói (không biết của ai): Tất cả bắt đầu bằng suy nghĩ (tư duy). Suy nghĩ tạo nên hành động, hành động liên tục biến thành thói quen và thói quen tạo nên định mệnh. Định mệnh của cá nhân phát sinh từ tư duy cá nhân, định mệnh tập thể đúc kết bởi suy nghĩ của tập thể.
Tư duy, thói quen và định mệnh
Quên đi góc nhìn cá nhân, hãy tự suy nghĩ về tư duy thời thượng của xã hội này và từ đó, ta có thể nhận thức được những hành xử và thói quen của người dân VN. Bắt đầu từ tầng cấp lãnh đạo về kinh tế, giáo dục và xã hội đến lớp người dân kém may mắn đang bị cơn lũ của thời thế cuốn trôi; tôi không nghĩ là một ai có thể lạc quan và thỏa mãn với sự khám phá.
Những thói quen xấu về chụp giựt, tham lam, mánh mung, dối trá, liều lĩnh, sĩ diện… vẫn nhiều gấp chục lần các hành xử đạo đức, cẩn trọng, trách nhiệm, danh dự và hy sinh. Dĩ nhiên, đây là một nhận định chủ quan, sau một lục lọi rất phiến diện trên báo chí, truyền hình và diễn đàn Internet. Nhưng tôi nghĩ là rất nhiều người VN sẽ đồng ý với nhận định này.
Tôi nghĩ lý do chính yếu của những thói quen tệ hại này là bắt nguồn từ một tư duy già cỗi, nông cạn và nhiều mặc cảm. Tôi có cảm giác là ngay cả những bạn trẻ doanh nhân và sinh viên mà tôi thường tiếp xúc vẫn còn sống trong một thời đại cách đây 100 năm, dưới thời Pháp thuộc. Thực tình, nhiều bậc trí giả đã lo ngại là so với thời cũ, chúng ta đã đi thụt lùi về đạo đức xã hội và hành xử văn minh.
Tôi thường khuyên các bạn trẻ hãy đọc lại những tiểu thuyết của thời Pháp thuộc trước 1945. Họ sẽ thấy đời sống và các vấn nạn của một nông dân trong truyện của Sơn Nam vẫn không khác gì mấy so với một nông dân qua lời kể của Nguyễn Ngọc Tư. Bâng khuâng và thách thức của những gia đình trung lưu qua các câu chuyên của Khái Hưng rất gần gũi với những mẫu chuyện ngắn của nhiều tác giả trẻ hiện nay. Ngay cả những tên trọc phú, cơ hội và láu lỉnh trong tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng cũng mang đậm nét hình ảnh của những Xuân Tóc Đỏ ngày nay trong xã hội.
Ôm lấy quá khứ ở thế kỷ 21
Tóm lại, tôi có cảm tưởng chúng ta vẫn sống và vẫn tranh đấu, suy nghĩ trong môi trường cả 100 năm trước. Những mặc cảm thua kém với các ông chủ da trắng vẫn ám ảnh các bạn trẻ ngày nay. Chúng ta vẫn bàn cãi về những triết thuyết mà phần lớn nhân loại đã bỏ vào sọt rác. Trong lãnh vực kinh doanh, phần lớn các doanh nhân vẫn cho rằng bất động sản và khoáng sản là căn bản của mọi tài sản. Sản xuất gia công và chế biến nông sản vẫn chiếm một tỷ trọng rất lớn trong kim ngạch xuất khẩu. Một doanh nhân Trung Quốc đã mỉa mai với tôi khi đến thăm một khu công nghiệp của VN, “Họ đang cố học và làm những gì chúng tôi đang muốn quên”.
Tôi đang ở tuổi 66. May mắn cho tôi, nền kinh tế toàn cầu đã thay đổi khác hẳn thời Pháp thuộc. Tôi không cần phải dùng tay chân để lao động, cạnh tranh với tuổi trẻ. Kinh doanh bây giờ đòi hỏi một sáng tạo chỉ đến từ trí tuệ và tư duy đổi mới. Thân thể tôi dù bị hao mòn (xương khớp lỏng lẻo, tai mắt nhấp nhem..). nhưng trí óc tôi và tinh thần vẫn trẻ hơn bao giờ hết. Thêm vào đó, nó không bị phân tâm bởi những hóc môn (hormones) về đàn bà hay những thứ lăng nhăng khác như các bạn trẻ. Do đó, hiệu năng và công suất của sự suy nghĩ trở nên bén nhậy hơn.
Người Mỹ có câu, “Những con chó già không bao giờ thay đổi” (old dogs never change). Do đó, tôi thường không thích trò chuyện với những người trên 40, nhất là những đại trí giả. Nhưng tôi thất vọng vô cùng khi về lại VN và gặp toàn những ông cụ non mới trên 20 tuổi đời: Nhút nhát, cầu an, thụ động, chỉ biết ăn nhậu, và đua đòi theo thời thế. Họ sống như các ông già đã về hưu, họ nói năng như một con vẹt, lập đi lập lại những giáo điều, khẩu hiệu đã hiện diện hơn trăm năm. Họ làm việc như một con ngựa bị bịt kín đôi mắt để chỉ nhìn thấy con đường một chiều trước mắt.
Nhiều người đỗ lỗi cho những thế hệ trứơc và văn hóa gia đình đã kềm kẹp và làm cho thế hệ trẻ này hay ỷ lại và hư hỏng. Cha mẹ vẫn giữ thói quen sắp đặt và quyết định cho các con đã trưởng thành (ngay khi chúng vào tuổi 30, 40..) về những cuộc hôn nhân, công việc làm, ngay cả nhà cửa và cách sinh họat. Hậu quả là một thế hệ đáng lẽ phải tự lập và lo tạo tương lai cho mình theo ý thích lại cuối đầu nghe và làm theo những tư duy đã lỗi thời và tụt hậu.
Trong khi thế giới đang hồi sinh với thế hệ trẻ tự tin tràn đầy năng lực cho những thử thách của thế kỷ 21, thì người trẻ VN đang lần mò trong bóng tối của quá khứ, với sự khuyền khích của các nhóm muốn giữ quyền lực và bổng lộc. Tôi tự hỏi, sao quê hương mình … già nua nhanh như vậy? Những nhiệt huyết đam mê của tuổi thanh niên bây giờ chỉ dành cho những trận đá bóng của Châu Âu? Tôi nhìn vào những nghèo khó của dân mình so với láng giềng chỉ là một tình trạng tạm thời. Nhưng tôi lo cho cái tư duy già cỗi của tuổi trẻ sẽ giữ chân VN thêm nhiều thập niên nữa. Cái bẫy thu nhập trung bình to lớn và khó khăn hơn mọi ước tính.
T/S Alan Phan là Chủ Tịch Quỹ Đầu Tư Viasa tại Hong Kong và Shanghai. Du học Mỹ từ năm 1963, ông đã làm việc tại nhiều công ty đa quốc gia ở Wall Street và phát triển công ty Hartcourt của mình thành một tập đoàn niêm yết trên sàn Mỹ với thị giá hơn 700 triệu dollars. Ông sống và làm việc tại Trung Quốc từ 1999. T/S Phan tốt nghiệp BS tại Penn State (Mỹ), MBA tại American Intercontinental (Mỹ), Ph.D tại Sussex (Anh) và DBA tại Southern Cross (Úc). Email của ông làgocnhinalan@gmail.com và Web site cá nhân là www.gocnhinalan.com.
T/S Alan Phan, Chủ Tịch Quỹ Đầu Tư Viasa 

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nga xuống tín nhiệm “rác”, chứng khoán chao đảo


Giới chuyên gia kinh tế cho rằng kế hoạch chống khủng hoảng của ông Putin sẽ không có hiệu quả - Ảnh: Reuters
TTO - Ngày 27-1, Standard & Poor’s là hãng xếp hạng tín dụng phương Tây đầu tiên hạ bậc tín nhiệm Nga xuống mức “rác”. Trước đó cả Fitch và Moody’s cũng đều đưa ra cảnh báo tương tự. 
Lập tức thị trường chứng khoán Nga chao đảo.
Theo AFP, S&P hạ tín nhiệm Nga xuống mức “rác” với cảnh báo về khả năng tăng trưởng yếu. S&P cho biết viễn cảnh tăng trưởng kinh tế của Nga đã suy yếu trầm trọng và khả năng linh hoạt về chính sách tiền tệ rất hạn chế. S&P dự báo nền kinh tế Nga sẽ giảm 2,6% trong năm 2015 do giá dầu sụt giảm và cấm vận của phương Tây.
S&P là hãng xếp hang tín dụng phương Tây đầu tiên hạ bậc tín nhiệm Nga xuống mức “rác”. Trước đó cả Fitch và Moody’s cũng đều đưa ra cảnh báo tương tự. Ngay sau khi S&P đưa ra tuyên bố trên, thị trường chứng khoán Nga lập tức sụt giảm 3%.
S&P cho biết viễn cảnh tăng trưởng kinh tế của Nga đã suy yếu trầm trọng. Dự báo nền kinh tế Nga sẽ giảm 2,6% trong năm 2015 do giá dầu sụt giảm và cấm vận của phương Tây.
Giá đồng rúp cũng cũng giảm xuống chỉ còn 1 USD đổi được 67,9 rúp.
Phản ứng lại, Bộ trưởng Tài chính Nga Anton Silualov chỉ trích quyết định của S&P là “bi quan quá mức” và không tính đến những điểm mạnh của nền kinh tế Nga.
Tuy nhiên trên thực tế nhiều quan chức Nga đã dự đoán việc nước này bị hạ bậc tín nhiệm. Tháng trước Bộ trưởng Kinh tế Alexe Ulykayev cảnh báo việc Nga bị hạ bậc tín nhiệm xuống “mức rác” sẽ khiến nước này phải trả sớm nợ 20-30 tỷ USD.
Hôm qua Tổng thống Nga Vladimir Putin đã mở cuộc họp để thảo luận các biện pháp chống khủng hoảng kinh tế. Kế hoạch này cần khoảng 21 tỷ USD để thực hiện. Nhưng nhiều nhà quan sát dự báo nền kinh tế Nga sẽ tiếp tục lún sâu vào suy thoái.
“Đây mới chỉ là sự khởi đầu của cú ngã đối với nền kinh tế Nga” - nhà phân tích Sergei Aleksashenko, cựu quan chức Ngân hàng Trung ương Nga, nhận định. Ông nhấn mạnh kế hoạch chống khủng hoảng của điện Kremlin sẽ không có hiệu quả khi giá dầu thô vẫn còn duy trì ở mức thấp.
Mới đây Mỹ và Liên minh châu Âu (EU) đe đọa sẽ tăng cường trừng phạt Nga do cuộc khủng hoảng Ukraine tiếp tục trở nên tồi tệ hơn. Tuy nhiên ông Putin không tỏ dấu hiệu lùi bước. Mới đây ông mô tả quân đội của Ukraine là “đội quân viễn dương của NATO”.
Hôm qua, một quả tên lửa bắn vào thành phố Mariupol do quân đội Ukraine kiểm soát đã cướp đi sinh mạng của 30 người.
Các quan chức Liên Hiệp Quốc mô tả đây là hành vi cố tình giết hại thường dân.
Giao tranh ở Kiev khiến 12 người thiệt mạng.
NGUYỆT PHƯƠNG
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chuyên gia khí công giải mã chuyện vía dữ, vía lành


(ĐSPL) - Đối với những hiện tượng xảy ra trong đời sống con người, nếu chưa được khoa học giải thích thấu đáo, người dân sẽ nghĩ ngay đến thế lực siêu nhiên nào đó đang tồn tại và ám hại con người.
Từ lâu, người ta quan niệm rằng, những người chuyên đi gieo rắc tai họa cho người khác được xem là vía dữ, hiện thân của ma quỷ và bị xa lánh.Về vấn đề này, PV báo Đời sống và Pháp luật đã có cuộc nói chuyện với chuyên gia Cấn Văn Bình, Chủ nhiệm Câu lạc bộ Làng thiền - Định khí công - Dưỡng sinh.
Chuyên gia khí công giải mã chuyện vía dữ, vía lành - Ảnh 1

Ông Cấn Văn Bình trao đổi với PV.

Thưa ông, người xưa quan niệm về vía như thế nào?
Xưa nay, người xưa quan niệm rằng, người ta sống là do có hồn vía nhập vào thể xác. Khi hồn vía lìa khỏi xác thể thì cũng là lúc con người về “thế giới bên kia”. Tất cả cái tinh anh khí phách của người đàn ông hợp thành ba hồn bảy vía, còn tất cả cái khôn ngoan, tháo vát ở người đàn bà hợp thành 3 hồn 9 vía.

Chính vì thế, ở dân tộc Kinh, mỗi khi có người ốm đau đến thập tử nhất sinh, tính mạng bị đe dọa, người ta thường trèo lên mái nhà hoặc chạy ra ngã bảy, ngã ba mà vừa đi về vừa gọi hồn vía người bị nạn để mong cho họ đừng “bỏ đi” xuống “suối vàng”. Hoặc giả sử, nếu họ có chết thì hồn khỏi bị lạc đường, bơ vơ dễ sa vào bàn tay bọn ma quỷ “vô lại”, làm công cụ để hại người lương thiện. Sự gọi hồn ấy, tùy theo người bị nạn là nam hay nữ mà gọi ba hồn bảy vía hay ba hồn chín vía. Tôi nhắc lại, đây chỉ là quan niệm dân gian về vía.
Còn đối với khoa học thì sao?
Năm 1939, Liên bang Xô viết cũ đã có một nghiên cứu liên quan đến năng lượng phát ra từ con người. Họ cho một tấm kính màu xanh cô-ban vào máy ảnh và chụp được năng lượng xung quanh vạn vật có một lớp năng lượng bao phủ. Đối với con người, nếu ai cơ địa khỏe năng lượng phát sáng, ai yếu năng lượng màu xám. Năng lượng xung quanh con người đó chính là “vía” mà người dân thường nhắc đến.
Theo khoa học, năng lượng không màu, nó là sinh khí để bảo vệ và nuôi dưỡng sự sống của con người khỏi các tác động bên ngoài. Có những người có nguồn năng lượng tốt thì khi tiếp xúc sẽ khiến người khác cảm thấy dễ chịu, sự may mắn. Ngược lại, những người có năng lượng xấu, khi tiếp xúc với trẻ em, những người có sức đề kháng còn non nớt nên nó cảm thấy khó chịu và quấy khóc. Có đứa trẻ sơ sinh sau khi người lạ đến chơi nhà thì khóc mãi không thôi. Đó người ta gọi là “bệnh” khóc dạ đề.
Ông từng nói là đã chữa cho rất nhiều đứa trẻ bị vía dữ ám dẫn đến khóc dạ đề. Vậy “thuốc” mà ông sử dụng là gì?
Theo tôi, nguyên nhân dẫn đến việc bé khóc dạ đề là do nó tiếp xúc với vía dữ của một người lạ. Như ở trên tôi đã nói, có người đến thăm trẻ sơ sinh, vừa ra khỏi nhà đứa bé đã khóc mà bố mẹ dỗ như thế nào cũng không nín. Đứa bé thường khóc vào ban đêm, khóc theo đúng chu kỳ. Có nghĩa là cứ đến một giờ cố định nó lại khóc.
“Thuốc” chữa “bệnh” khóc dạ đề của tôi là một đoạn dây đồng. Đoạn dây đồng này được tôi truyền năng lượng tốt và tích tụ vào đó. Nam thì tết 7 đoạn dây đồng chập thành một, còn nữ thì 9 đoạn dây đồng. Bởi theo lời dạy của người xưa, nam 3 hồn 7 vía, nữ 3 hồn 9 vía. Sau đó, chiếc vòng này tôi sẽ gói cẩn thận vào chiếc giấy bạc rồi bọc cẩn thận trong túi nilon. Người nhà chỉ cần mang về đặt vào đầu giường, chỗ đứa trẻ ngủ và nó sẽ phát huy tác dụng.
Vì sao phải dùng kim loại đồng mà không phải là các loại dây khác và người nhà của những đứa trẻ đó phải đặt chiếc vòng đó bao lâu, thưa ông?
Việc chọn dây kim loại đồng để tụ năng lượng là theo tính chất hóa học của kim loại này. Khoa học chứng minh, kim loại là vật chất có thể tích tụ năng lượng được nhiều và lâu nhất. Trong đó có đồng. Hơn nữa, đồng là kim loại rất dẻo và bền, rất thuận tiện cho tôi khi tết vòng. Ở miền núi, nhiều người cũng dùng dây đồng để làm vòng đeo trên người những đứa trẻ để làm vía cho chúng. Còn về việc đặt chiếc vòng vía ở đầu giường đứa trẻ đến khi nào chúng hết khóc thì người nhà có thể bỏ vòng ra. Hoặc cứ để đó càng lâu càng tốt vì nó nhỏ cũng không gây vướng víu gì cả. Tôi xin lưu ý, trong quá trình đặt, người nhà không được lôi vòng ra khỏi túi nilon và chiếc giấy bạc. Nếu lôi ra, năng lượng sẽ thoát ra ngoài và chiếc dây đồng không còn tác dụng nữa.
Khi lên các vùng núi phía Bắc, chúng ta thường thấy người dân tộc đeo vòng bạc, đồng ở cổ. Đó phải chăng chỉ đơn thuần là trang sức?
Việc người dân tộc đeo vòng bạc, vòng đồng là có ý nghĩa về mặt sức khỏe và tâm linh chứ không đơn thuần chỉ là đồ trang sức như người ta lầm tưởng. Bởi, ai lên vùng núi đều có thể thấy, từ trẻ sơ sinh đến người già, mỗi người thường đeo đến 3- 4 chiếc trên người. Có người chỉ đeo vòng bạc, có người thì đeo cả bạc, cả đồng. Theo tôi được biết, vòng bạc có tác dụng “khoán nắng khoán gió” và còn vòng đồng thì mang ý nghĩa trấn giữ vía. Thực tế có thể thấy rằng, bạc và đồng là hai kim loại rất phổ biến.
Các bạn có thể thấy rằng, khi một người nào đó bị ốm, trúng gió thì chiếc vòng bạc trên người họ tự nhiên màu xám đi. Đó là do nó đã hút bớt đi những luồng khí độc xung quanh con người. Thậm chí, người ta còn dùng bạc để cạo gió cho người trúng gió. Và khi cạo gió xong, miếng bạc đó đã đổi màu. Cũng như bạc, khi người ta đeo đồng, kim loại này sẽ hút đi những năng lượng xấu - vía xấu.
Xin cảm ơn ông!

VĂN CHƯƠNG – PHẠM HẠNH

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Đại gia Việt nghìn tỷ đi xe máy ‘đồng nát’, ở chung cư cũ là ai?


Sở hữu số tài sản nghìn tỷ, nhưng đại gia Nguyễn Khắc Thành vẫn đi chiếc xe máy được mua khuyến mãi cả chục năm trước và vẫn ở căn hộ trên tầng 16 của một khu chung cư cũ...
Khởi nghiệp từ nghề… thủ quỹ
Đại gia Nguyễn Khắc Thành sinh năm 1964, gia nhập FPT năm 1991. Ông tốt nghiệp cử nhân Toán tại ĐH Tổng hợp quốc gia Matxcơva Lomonosov (MGU) năm 1987 và hoàn thành luận án Phó Tiến sỹ Toán Lý của trường này năm 1990.
Ít ai nghĩ rằng, người đoạt giải Nhất cuộc thi Toán toàn miền Bắc năm 1974 (khi đất nước chưa thống nhất), được cử đi học tại Đại học tổng hợp Quốc gia Matxcơva Lomonosov (MGU) và tốt nghiệp Tiến sĩ MGU với tấm bằng đỏ... lại chấp nhận việc làm đầu tiên là thủ quỹ cho một công ty vô danh (công ty FPT - lúc đó mới thành lập) chứ không phải một công việc liên quan đến toán học.
Nguyễn Khắc Thành giải thích: "Nghề thủ quỹ cũng liên quan chặt chẽ tới toán học đấy chứ. Đó là: "đếm". Nhưng lý do thật sự khiến Khắc Thành bỏ nghề Toán là: "Nếu làm toán học thì dù có công trình hay, tốt có khi phải 100 năm sau người ta mới ứng dụng, chưa nói tới chuyện mình chỉ là loại phọt phẹt thì chắc chắn là chả nên cơm cháo gì".
Đại gia Việt nghìn tỷ đi xe máy ‘đồng nát’, ở chung cư cũ là ai? - Ảnh 1

Trong khi không ít các triệu phú đô la tại FPT sắm xe hơi đắt tiền, mua biệt thự mới, xài hàng hiệu... thì Nguyễn Khắc Thành vẫn ở căn hộ trên tầng 16 tại một chung cư cũ, vẫn đi chiếc xe máy cũ được mua giảm giá gần chục năm trước.

Thành tâm sự: "Nghề Toán cũng giống như nghề ca sĩ vậy, nó quá khắc nghiệt và chỉ có chỗ cho những đỉnh cao. Hoặc là ông trở thành Mỹ Tâm hay Đàm Vĩnh Hưng, hoặc là ông phải đi hát phòng trà với cát sê vài chục nghìn mỗi tối và chịu đủ thứ mệt ở trên đời. Mình thì không thể thành Mỹ Tâm hay Đàm Vĩnh Hưng trong nghề toán được mà lại muốn sống khoẻ...".
Số may là bộ phận kinh doanh của Thành mới thành lập nên chưa cần phải... đếm tiền, và Thành lại được giao nhiệm vụ tự học lập trình để viết phần mềm kế toán. Sau hơn 1 tháng tự học, ông Bùi Quang Ngọc - hiện là UV HĐQT FPT (một trong những sáng lập viên của FPT) bảo Thành: "Ở đấy làm gì, thôi sang đây làm lập trình".
Thế là Thành gia nhập đội phần mềm FPT và trở thành chuyên gia phần mềm. "Căn hộ" của Thành chính là "Tổng hành dinh" của đội phần mềm FPT (lúc đó thuê trong trường Trường phổ thông cơ sở Giảng Võ, Hà Nội). Lý do rất đơn giản, Thành muốn tiết kiệm tiền thuê nhà và ở một mình thì buồn với... mất thời gian đi lại.
Gia nhập đội phần mềm FPT, Thành nhanh chóng trở thành một trong "tứ trụ" của đội phần mềm. Thành được giao phụ trách nhóm dự án phần mềm ngành ngân hàng với phần mềm SIBA (tiền thân của Smart Bank sau này) - phần mềm được rất nhiều ngân hàng trong nước và cả một số ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam sử dụng.
Ông Bùi Quang Ngọc - người đưa Khắc Thành đến với phần mềm, khá hài lòng về chuyên môn nhưng cực kỳ phiền lòng với bộ dạng của Thành. Lý do là làm phần mềm phải giao dịch với các khách hàng ở những nơi rất "xịn" nhưng Thành cứ "cưỡi" chiếc xe đạp vừa "ghẻ" vừa "bẩn" với chiếc ghi đông "cởi truồng" đi khắp nơi gặp khách hàng. Ông Ngọc cho tiền để Thành đi mua xe máy Thành cũng không chịu mà cứ đi xe đạp cà tàng...
Năm 1998, khi FPT "tấn công" thị trường phần mềm thế giới với việc thành lập đội xuất khẩu phần mềm thì Nguyễn Khắc Thành bị "bỏ qua". Thành được giao nhiệm vụ phải xây dựng một trung tâm đào tạo các lập trình viên quốc tế cho FPT và "phải làm" Giám đốc. Nói "phải làm" vì Thành hoàn toàn không thích làm Giám đốc mà "chỉ thích theo anh Nam (ông Nguyễn Thành Nam - hiện là Tổng Giám đốc FPT - người phụ trách đội xuất khẩu phần mềm lúc đó) đi làm xuất khẩu phần mềm". Sau khi các lãnh đạo FPT thuyết phục mãi, Thành đồng ý đi làm đào tạo.
Không biết bắt đầu từ đâu, Thành và các cộng sự của mình quyết định đi mua công nghệ đào tạo của Aptech (Ấn Độ). Nguyễn Khắc Thành cùng các cộng sự của mình chẳng hề sửa đổi tí gì trong chương trình giảng dạy của Aptech mà "mắm môi mắm lợi làm y xì như họ". Không có sáng tạo gì nhưng lượng học viên đến học tại Aptech Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh tăng rất nhanh. Nguyễn Khắc Thành đoán: "Có lẽ do mình là "ông" đầu tiên dạy chương trình đào tạo lập trình viên quốc tế tại Việt Nam và cũng cấp bằng quốc tế hẳn hoi".
Đại gia Việt nghìn tỷ đi xe máy ‘đồng nát’, ở chung cư cũ là ai? - Ảnh 2

Danh vọng và tiền tài của đại gia Nguyễn Khắc Thành càng ngày càng được củng cố, thế nhưng lối sống giản dị của vị đại gia này vẫn không hề thay đổi…

Đến đại gia nghìn tỷ đi xe 'đồng nát'
Cuối năm 2006, trong "cơn cuồng điên" của thị trường chứng khoán Việt Nam, chỉ sau một đêm, rất nhiều người tại FPT, trong đó có Nguyễn Khắc Thành đã trở thành triệu phú đô la. Vào lúc cao điểm, số tài sản bằng cổ phiếu FPT của Thành trị giá khoảng 40 triệu USD. Bán một phần số cổ phiếu mà mình nắm giữ và có một đống tiền nhưng mọi người vẫn thấy Thành chẳng có gì thay đổi và hình như Thành không biết dùng tiền vào việc gì.
Trong khi không ít các triệu phú đô la tại FPT sắm xe hơi đắt tiền, mua biệt thự mới, xài hàng hiệu... thì đại gia Nguyễn Khắc Thành vẫn ở căn hộ trên tầng 16 tại một chung cư cũ, vẫn đi chiếc xe máy cũ được mua giảm giá gần chục năm trước, vẫn chi tiêu tiết kiệm bình thường như xưa... Tại FPT, Thành là một trong 2 lãnh đạo cấp cao không mua ô tô riêng.
Đại gia Nguyễn Khắc Thành tâm sự: "Nếu mình chơi với ông nào đó có cái xe đẹp mà mình phải có cái đẹp hơn thì khổ lắm, suốt đời khổ. Xe máy mình đi vẫn tốt, có hỏng hóc gì đâu, làm sao mà phải đổi? Còn nhà thì đang ở rất thoải mái đổi làm gì?...". Một người bạn thân của Thành tại FPT tiết lộ về việc sử dụng số tiền bán cổ phiếu của Thành là để giúp đỡ những người thân và làm từ thiện.
Đối với việc làm từ thiện, đại gia này yêu cầu những người cùng làm với mình giữ bí mật tuyệt đối đối với những người được giúp đỡ. Người bạn này nói lại với chúng tôi một câu của Nguyễn Khắc Thành khi làm từ thiện: "Đây là việc riêng của tôi nên không cần cho ai biết...".
Nói về mong muốn của mình, vị đại gia nghìn tỷ Nguyễn Khắc Thành chỉ mong gia đình được hạnh phúc và giúp được thật nhiều bạn trẻ có kiến thức vững chắc về công nghệ thông tin để "sống khoẻ" ở bất kỳ môi trường nào, có ích cho gia đình, xã hội...
Sau khi Nguyễn Khắc Thành không chịu mua xe máy để đi giao dịch với các đối tác, ông Bùi Quang Ngọc đưa tiền cho Trần Quốc Hoài (một nhân viên mới của FPT lúc đó) đi mua một chiếc xe máy cũ (tên chủ sở hữu là Trần Quốc Hoài) và bắt Thành phải đi.
Đến năm 1999, Hoàng Nam Tiến - nhân viên của phòng xuất nhập khẩu FPT cho Thành biết là công ty được đối tác thưởng một chiếc Dream màu mận chín và nói là có thể bán lại cho Thành với giá khuyến mãi. Thành đồng ý mua nhưng người đứng tên sở hữu chiếc xe này là Trần Tuấn Việt (do Thành lười làm thủ tục đăng ký). Chiếc xe máy với giá khuyến mãi này hiện vẫn được vị đại gia này sử dụng để đi làm hàng ngày.
Ngày 12/1/2015, Quyết định thành lập trường Đào tạo cán bộ FPT (FPT Corporate University - FCU) và giao nhiệm vụ cho Phó TGĐ FPT phụ trách nguồn lực toàn cầu hóa Nguyễn Khắc Thành kiêm nhiệm chức vụ Hiệu trưởng FCU, được Chủ tịch HĐQT FPT Trương Gia Bình phê duyệt.
Danh vọng và tiền tài của đại gia Nguyễn Khắc Thành càng ngày càng được củng cố, thế nhưng lối sống giản dị của vị đại gia này vẫn không hề thay đổi…
Ngọc Anh (Tổng hợp)/ Nguoiduatin
Phần nhận xét hiển thị trên trang