Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Hai, 19 tháng 1, 2015

HAI NGƯỜI THỢ SĂN


 Truyện ngắn của Hồng Giang



Lão Khuyên đã sửa soạn xong đồ nghề cho một ngày.
Nhìn cái đồng Hồ Pôn zốt đeo ở cổ tay trái: Mới hơn bảy giờ. Đúng là “đồng hồ Liên Xô không bao giờ sai”. Nó là chiếc đồng hồ lão được tặng thưởng sau đận lão cùng mấy dân quân ở xã này bắt sống tên phi công nhảy dù xuống trên đỉnh Bạch Mã kia.
Thực tình mà nói, vùng lão cái năm Đinh Mùi ấy ít bị bắn phá. Đám “Thần sấm”, “Con ma” ném bom đâu bên Yên Bái, Thái Nguyên là phần nhiều. Ở đây chỉ nghe ì ùng tiếng bom đạn vọng về như tiếng sấm rền không nghe rõ lắm.
Thế nào hôm ấy, tiếng máy bay rít ngay trên đầu, đảo qua đảo lại mấy lần. Về sau mới biết đó là một trận không chiến giữa máy bay ta và máy bay giặc. Chiếc F105 bị bắn rơi ngay trên dòng sông Gâm. Trời hôm ấy có gió, tên phi công nhảy dù ra bị gió đưa đi một đoạn khá xa. Dưới mặt đất các xã lân cận tiếng tù và, tiếng hô hoán dậy một vùng.
Thời đó đường đi lối lại không như bây giờ, chủ yếu “Vận động chiến” bằng đôi chân. Những người phát hiện ra chiếc dù chạy đến chân đèo Mã Quýnh thì dừng lại. Một bên vách núi cao sừng sững, một bên vực sâu. Khi tốp dân quân xã dưới tìm được lối qua đèo sang đến bên này, thì mất dấu chiếc dù. Họ chia nhau sục xạo cánh rừng quanh đấy mà không biết tên phi công bị treo lơ lửng trên ngọn cây dưới chân Bạch Mã phía bên này. Mấy phút sau nó rơi vào tay tốp dân quân đầu tiên của xã, do lão dẫn đầu..
Thế mà véo một cái, đã nửa thế kỷ trôi qua!.
Đồng hồ Pháp, đồng hồ Thụy Sĩ lão được dùng qua cả. Từ cái anh Ni cờ le “vừa nghe vừa lắc” đến “Ô mê ga” mặt có dạ quang, ban đêm chả cần đèn đóm gì cũng xem được, lão không lạ. Hồi mới giải phóng, anh con cả mang từ miền nam ra biếu bố chiếc “Thủy Quân lục chiến” nặng gần bằng hòn sỏi to đeo vào cổ tay. Loại này lạ lắm, không cần lên dây, nó tự động chạy. Anh con bảo, “Nó chạy bằng mạch máu, cứ đeo vào tay, mạch đập là nó chạy thôi..Không cần lên dây cót như đồng hồ khác đâu pá à..” Nghe thì biết thế. Mạch máu là mạch máu, nó có liên quan gì tới chiếc đồng hồ? Chả nối với nhau bằng thứ dây dợ nào cả, làm sao làm cho đồng hồ chạy được?
Cái thằng Pôn Zốt này tuy ngày nào cũng phải lên dây nhưng nó nhẹ nhàng. Với lão nó là chiếc đồng hồ tốt nhất trần đời. Có người bảo nó cũ quá rồi, nên thay cái khác, hoặc muốn đeo nữa thì thay cái vỏ, hoặc đêm mạ bạc lại. Lão không nghe. Lâu ngày cái đồng hồ cũng có lúc giở chứng chết vài lần. Vỏ nó đã han tróc, lòi cả cái ruột đồng bên trong xanh lè, lão vẫn chấp nhận. Lão đeo nó như đeo niềm vinh dự, như đeo niềm vui, xem giờ được hay không cũng không quan trọng. Người già cảm nhận thời gian bằng thói quen, theo thời, tiết là chính. Đồng hồ chỉ là thứ kiểm định lại mà thôi..
Năm nay lão nhớ là mình đã tròn trăm tuổi. Cái tuổi còn hơn người ta bảo “Xưa nay hiếm”, thời gian của ngày đã qua, của bây giờ và sắp tới cứ như lồng vào nhau. Chuyện cũ chuyện mới có lúc phải một lúc bình tĩnh mới nhớ chính xác là một chuyện nào đấy thực ra xảy ra lúc nào và như thế nào?
Chỉ khi đeo chiếc đồng hồ này vào tay, nó như thứ bảo bối, tự nhiên lão minh mẫn hẳn ra, lại nhớ rành rẽ mọi chuyện. Cứ y như mới xảy ra hôm kia, hôm qua vậy. Từ chuyện tháng bắt đầu thế giới chiến tranh lần thứ nhất năm 1914, năm lão ra đời đến tháng kết thúc thế chiến lần hai năm 1945.. Chiến thắng Điện Biên Phủ, thống nhất hai miền Nam Bắc, lão không quên chuyện nào. Nhưng những chuyện gần đây lão lại hay nhầm.
Già rồi thì lẩn thẩn, lẩm cẩm cũng là lẽ tự nhiên. Đấy là lão tự nhủ trong lòng. Thể hiện ra ngoài lão không muốn thế. Con cháu hay người làng có ai nói với lão như vậy, chắc chắn lão giận sẽ rất lâu. Lão cũng như chiếc đồng hồ này, vẫn chạy tốt, vẫn như thường, có sao đâu?
Dù nó không chạy, nó vẫn là chiếc đồng hồ, cái máy ghi thời gian, đâu phải cục sắt vô tình.
Làng này ai cũng bảo số lão sướng, đại phúc đại thọ. Lão cứ việc sống vui, sống khỏe. Như thế là có ích cho mọi người rồi..
Nhưng lão thì buồn. Bây giờ lão chơi với ai? Chơi gì nào? Bạn bè tuổi lão giờ chả còn ai ngoài lão Kiền điếc lòi, điếc nổ. Nhiều lúc phải ghé sát vào tai, nói như quát lên, lão vẫn chưa nghe ra, cứ cười nhen nhen như người dở. Đến là bực mình, phải ra hiệu bằng tay lão mới hiểu mình đang nói gì?
Lão Khuyên vừa sửa soạn đồ lề, vừa nghĩ như vậy trong đầu trước lúc đi gặp lão Kiền. Lão thắt lại bao đạn, đội cái đèn soi lên trán, sửa lại dây giày nghiêm chỉnh đâu vào đấy rồi khoác súng lên vai.
Ai không biết, nhìn khẩu súng khai hậu cũng nghĩ là súng thật. Khẩu súng báng gỗ, nòng gỗ được lão đánh thuốc, sơn bóng nhoáng chả khác gì súng có nòng bằng thép. Lão vốn là tay chế súng có tiếng trong vùng này mà. Nếu người ta không cấm sử dụng súng săn, chắc chắn lão còn có cả khẩu hai nòng nữa chứ đâu phải khẩu súng này?
Đứa chắt thấy lão đi ra ngõ, nó hỏi:
-          Cụ cố lại đi săn đấy à?
-          Ừ ở nhà trông nhà. Chiều về cố sẽ có thịt cho mà ăn !
Thằng bé bưng miệng, không dám cười. Hẳn nó nghĩ: Thú rừng giờ đâu mà còn? Nếu có chăng nữa, với khẩu súng gỗ kia cụ cố làm sao hạ nổi được con thú kia chứ?
**
Lão Khuyên đi trước, lão Kiền theo sau. Sau lưng lão Kiền là cái nỏ, lẫy và má nỏ làm bằng sừng trâu trắng. Một cây nỏ thực sự chứ không phải như cây súng gỗ tượng trưng như của lão Khuyên. Dù rằng đã lâu, lão không đủ sức lên được dây nỏ nặng hơn ba chục ký lô. Lão chỉ mang theo cho đỡ nhớ rừng, nhớ một thời thợ săn tiếng tăm của cả hai người. Những năm trên núi Bạch mã này còn có đủ cả ông hổ, ông gấu. Còn hươu hoẵng và lợn rừng nhiều chả kém là bao so với trâu bò trong bản bây giờ.
Nghề đi săn cũng giống như nhiều nghề khác. Nghĩa rằng phải có bạn. Ít có ai đi săn một mình. Đấy là một nghề rất lý thú nhưng cũng nhiều nguy hiểm. Ai biết được sẽ gặp hay xảy ra chuyện gì? Cần có người đi cùng với mình như một chỗ tựa sau lưng. Thường thì thợ săn hay đi theo phường, có khi cả chục người. Nhưng đó là những thợ săn thiếu tự tin, phải dựa vào số đông. Lão Khuyên với lão Kiền thì khác. Hai người là thợ săn lành nghề, thiện xạ có tiếng ở đất này. Chỉ cần dấu chân con thú để lại trên vệt cỏ là họ đã nhận ra ngay con thú đó là con gì, có thể ước đoán nó nặng bao nhiêu cân. Nghe mùi gió thổi từ xa đưa lại là biết con thú đang nấp ở chỗ nào. Nhìn ngọn cây còn đang khẽ lay động là biết nó đi về đâu. Ngoài kinh nghiệm lâu năm, lão Khuyên còn như được trời ban cho đôi tai rất thính, đôi mắt cực tinh. Có đêm đi trong rừng già lão cũng chẳng đốt đèn. Loại đèn ló thắp bằng đất đèn chỉ khi nào cần lắm mới đốt để lấy ánh sáng. Ấy là lúc nhồi thuốc hay cài kíp lông gà. Mà đất đèn hồi ấy quý và hiếm lắm, không dùng tùy tiện..
Bạn săn với nhau, thực ra lão Kiền kém ké Khuyên gần hai chục tuổi. Ngày trước vẫn gọi ké Khuyên bằng chú, xưng cháu. Từ năm lão Kiền có chắt nội, chắt ngoại rồi, ké khuyên mới bảo: “Thôi, có chắt rồi, gọi như thế không tiện, cứ cụ ké là được rồi”, lão mới thôi không xưng hô như trước nữa. Già cả rồi, có hơn kém một hai chục tuổi cũng không quan trọng vai vế nữa. Người già cả mà, gọi thế con cháu khó xưng hô.
     “Năm ông Ké Khuyên biết tán gái, lấy vợ rồi, mình vẫn còn là cậu choai choai mới lớn. Chỉ như con trâu nhe, đứng gần con trâu mụng”. Lão Kiền nhớ trong đầu, dù nhiều chuyện lão đã quên không còn nhớ.. Thế mà thấm thoắt bấy nhiêu năm đã trôi qua. Ké Khuyên một trăm, mình cũng ngoài tám mươi chứ có ít ỏi gì? Những người già ở nơi khác ở tuổi này đã hai tay hai gậy hoặc nằm một chỗ. Mấy ai còn đi lại bình thường, chứ đừng nói “đi săn” kiểu giả vờ như thế này được?
Người ta bảo tại được nhờ khí mạch, phong thủy của đất này nên người già mới sống lâu, mới thọ được như thế. Lão Kiền nghĩ cũng phải. Lão từng đi nhiều nơi thấy ít có nơi nào khí hậu trong lành, núi non quang quẻ như ở đây. Từ ngày lão ké Khuyên bày cái trò đi săn này, lão Kiền thấy người như khỏe ra, như trẻ thêm cả chục tuổi. Đúng là người già năng vận động vẫn hơn. Ngồi đánh cờ suốt ngày là rất không nên..
Từ ngày “đi mò” tức là đi săn tượng trưng như thế này, ăn tốt, ngủ tốt hơn. Con cháu có đứa lúc đầu thấy thế con ngăn cản, có đứa còn cười.. Bây giờ chúng mới tin như vậy là tốt, lại muốn động viên dù hai ông lão đi săn cả buổi chả được con thú nào.
Hai lão thợ săn già đã đi gần hết khu rừng chò. Kể ra gọi bằng rừng chưa hẳn đúng. Nó chỉ là một mảnh của rừng xưa, bây giờ xung quanh đã có nhà ở của một xóm định cư hơn chục năm. Có lẽ gọi là vườn chò thì đúng hơn, nhưng lão Khuyên vẫn thích gọi như thế. Mà quả thật ngày xưa nó là rừng chò thật. Hàng trăm cây, hàng ngàn cây, hàng vạn cây không chừng. Không gọi bằng rừng thì gọi bằng gì?
Những cây chò như không quan tâm gì đến tuổi tác. Cứ tháng giêng hai thì ra hoa. Tháng năm âm thì rụng quả, quả rụng đầy gốc cây. Ngày xưa chả ai nhặt vì nó nhiều như sỏi dưới dòng suối bên kia. Nhưng bây giờ thì hiếm rồi. Vụ quả vừa rồi, trong làng bọn trẻ tranh nhau nhặt, bán được tiền lắm. Người ta mua cả trăm ngàn đồng cân ký lô mang về trung tâm giống cây trồng. Nghe bảo giống chò này chưa thể chiết ghép mô được, vẫn phải ươm bằng hạt, vì thế hạt nó mới đắt. Cả tỉnh nghe nói chỉ còn vài nơi có được vườn chò giống như ở xã này. Giống cây quý bây giờ đã vào sổ đỏ cả rồi, chứ trước đây bạt ngàn vùng này cây chò cũng như cây nứa, cây mai, đâu có thiếu? Thế mới biết sự hủy hoại của con người thực là ghê gớm. Có khi còn hơn cả thiên tai, địch họa. Có cháy rừng cũng chỉ cháy vài ba đám, chứ đâu có mất nhiều rừng?
Cả vườn chò chỉ giờ còn đúng trăm cây, vừa bằng số tuổi của lão. Mấy mươi năm sống trên đời lão mất rất nhiều công để giữ nó còn được đến giờ. Hễ có ai lăm le bén mảng đến là lão ra ngăn cản. Con dao quắm trong tay, khẩu khai hậu sau lưng chả có thằng lâm tặc nào dám đụng rìu, đụng dao vào cái đám chò này. Sức của lão có hạn, chỉ giữ được bấy nhiêu thôi. Những chỗ khác lão không thể. Hoặc giữ được lúc này lại mất lúc khác..
Ngày ấy, buổi đi săn nào lão cũng đi vòng quanh khu vườn chò một lượt. Riết rồi quen chân, thành lệ, thành thói quen không bỏ được.
Người trong bản nhìn mãi cảnh ấy quen mắt. Chả biết ai gọi ra câu ấy đầu tiên, về sau cả làng cả xã đều gọi tên vườn chò ấy là “Vườn chò ông ké Khuyên”. Chả thế có đận lái buôn gỗ đến tận nhà gạ mua cây, lão giải thích mãi mà họ không chịu tin là thật. Mà kể ra người ta gọi như thế cũng có cái lý đúng của nó. Dù sao thì lão cũng là người có công bảo vệ nó, dù bây giờ nó có là tài sản quý quốc gia cũng chẳng sao. Con cháu làm ăn khá cả, chả cần bán đến đám chò này mới có cái ăn. Bây giờ chúng lại đang đua nhau trồng dó bầu, trồng cây sơn ta. Thấy bảo các loại cây này là cây có giá trị, kiếm được tiền lắm. Nhưng lão nghĩ muốn trồng gì thì trồng, rừng mà không có đinh lim sến táu, chò chỉ thì sao gọi là rừng có giá trị? Hay là người thời bây giờ chỉ tính cái ăn ngay, trồng keo, trồng bạch đàn cho chóng được thu? Lão mấy bận lên ủy ban xã gặp bí thư chủ tịch. Nghe lão trình bày chả biết có thực tâm hay không, ông nào cũng gật gù, ra điều tán thưởng. Nhưng mãi chả thấy làm? Hỏi thì bảo:”Khó cây giống ông ké ạ”! Cũng con cháu trong nhà cả mà, nhắc thế chúng nghe được thì nghe, nói nhiều nó không thích.
Trước mặt hai thợ săn già là tảng đá xám, một góc có vết mòn lâu ngày do người ngồi nhẵn thín. Không biết bao nhiêu lần rồi đây là chỗ nghỉ chân. Không phải ngẫu nhiên mà hai người chọn chỗ này. Nó gần suối, dưới bóng cây mát đã đành, còn một duyên cớ nữa. Đây chính là nơi lão Kiền chết hụt một lần.
Lần ấy không gặp lão ké Khuyên đi họp ngang qua, lão Kiền và bà người yêu lúc bấy giờ của lão chắc đã thành người thiên cổ lâu rồi. Có sống cũng thành tật, đâu còn được nguyên ven đến bây giờ?
Sở dĩ lão ké Khuyên hay ngồi chỗ này cũng có lý do nữa, riêng của lão. Ấy là hôm lão đang lần theo dấu vết con hổ thọt chân, con hổ vồ trượt lão Kiền bây giờ. Lão đang chăm chú để ý đám cây sậy ven suối bị vẹt đi, ngả nghiêng có dấu chân con mãnh thú. Lão đoán hẳn là nó hay ra đây uống nước lúc chiều tối hay khi chạng vạng sáng? Thì bỗng đâu tiếng gầm rú ngay trên đầu. Rồi một chiếc dù đỏ nom như đám lửa bay ngay trên đầu. Lão lập tức hiểu chuyện gì đang xảy ra, vội rút chiếc tù và bằng sừng trâu ngay bên sườn rúc lên một hồi. Chiếc tù và thường vẫn dùng khi thợ săn cần ứng cứu, được dùng thời bấy giờ vào việc báo động phòng không. Ở vùng rừng tiếng kẻng vang không được xa như tiếng tù và. Mang nó theo bên người lại rất tiện. Kẻng còn cần có chỗ treo, khi dùng đến lại phải tất tả chạy đến chứ tù và thì đeo ngay bên mình, tức khắc thổi chỗ nào cũng được. Lão là xã đội trưởng, sáng kiến này là lão đi học tập huấn về, thấy tiện lợi bèn cho dân quân trong làng áp dụng..
Chính ở nơi có tảng đá xám này lão đã phát hiện tên phi công nhảy dù và rúc hồi tù và ấy. Những người nghe chuyện của lão nhiều người đã sang thế giới khác. Lớp trẻ bây giờ lại không mấy hào hứng nghe lại lần thứ hai. Chúng chỉ tỏ ra thích thú nghe lần đầu thôi thế mới ghét chứ!
Chỉ riêng chuyện con hổ thọt là vẫn nhiều người tò mò, hỏi đi hỏi lại mãi. Lão nghĩ sở dĩ như vậy có nguyên nhân sâu xa của nó. Hình như trong dòng máu di truyền nhiều thế hệ, thói quen săn bắn đã hằn sâu vào vào ký ức. Cho dù bây giờ nghề thợ săn hầu như đã bị lãng quên. Lão và lão Kiền có mở cuộc săn cũng chỉ là để cho đỡ nhớ. Cũng là cách luyện tập gân cốt có lợi cho người già. Những buổi trời mưa không đi được, ngồi nhà nhìn ra ngoài rừng mà buồn nẫu ruột.
Hai thợ săn già ngồi lặng im trên phiến đá, lặng im không nói gì. Thực ra đang có cuộc nói chuyện thầm trong bụng.
“Ông còn nhớ đêm hôm ấy vào mùa nào không?”
“Tôi làm sao quên được..khi ấy vừa gặt xong, khoảng cuối tháng mười âm”
“ Thiếu gì chỗ quang đãng mà lại đưa bà Éng ấy ra mãi tận đây, chỗ rậm rịt này”
“Ây dà.. chuyện dài lắm..Nếu mà nhà tôi khi đó có đủ bạc trắng, đủ trâu thì đâu đến nỗi? Bà ấy thương tôi hai ba năm trời, thề sống thề chết với nhau, vậy mà phải đi lấy người khác. Bà ấy hẹn tôi ra đây cho tôi cái quý nhất của đời mình, vì sang đến hôm sau nhà trai đã đến đón dâu rồi, chả còn gặp nhau được nữa..”
“Thế đã kịp gì chưa?”
“Tôi vừa vòng tay sau lưng bà ấy. Người bà ta mềm đã hết cả.. Đang lúng túng không biết như nào thì nghe thấy bô.. ộp. rô.. ộp, bô.. ộp ro.. ạt ngay phía sau lưng..”
“Lúc ấy có biết là có hổ chưa?”
“Thợ săn ai mà không biết vớ? Mùi nó hôi, tanh kinh lắm, xộc vào mũi tưởng chết ngất đi vớ! Bà Éng vẫn như chưa biết gì, không biết vì khiếp quá ngất đi hay gái phải hơi trai lần đầu không còn tỉnh. Tôi vội kéo bà ấy nhảy đại qua đám cây cả hai vừa phát, nghĩ bụng thôi thế là xong! “
“ Chỉ nghe thấy ào một tiếng, như gió mạnh thổi rồi tiếng hổ gầm gừ ngay sau lưng, cách chỗ chúng tôi chưa đến ba gang tay. Tôi hoảng hồn nhìn lại, thật may quá, chính đám cây chúng tôi phát quang cho đỡ muỗi đã cứu mạng cả hai. Con hổ nằm kẹt giữa bốn cái gốc cây nhọn như bị đóng gông vào cổ và giữa bụng nó. Mà nó cũng may, chỉ chệch một tý là nó bị gốc cây nhọn xuyên qua bụng đi đời rồi.. Dưới ánh trăng mắt nó lòe lửa, tôi không dám nhìn lâu vội kêu cứu”..
Phần sau, cụ ké Khuyên nhớ rõ:
“Tôi đi họp về. Tình cờ ngang qua, vội nâng khẩu khai hậu bắn một phát. Lúc ấy nếu không sợ đạn lạc trúng vào hai người, chắc chắn con hổ bị hạ rồi. Phải bắn chỉ chỉ thiên..tiếc mãi..Chắc là hoảng chết, con hổ vùng mạnh một cái thoát ra được”
“Cái số chúng mình beo không ăn thịt được, chả cứ lần ấy, sau này còn mấy lần nữa suýt bị hổ bắt. Có lần dẫm phải đuôi nó, cu cậu sợ quá vọt lên chạy, như bây giờ đám trẻ bảo là “chạy mất dép”.
Câu chuyện này mấy năm trước cả hai thường hay lặp đi lặp lại. Từ năm ngoái đến năm nay mới thôi không nói thành lời. Có thể là cả hai đã già, không thích nói nhiều. Cũng có thể có những câu chuyện chỉ nói chuyện thầm còn hay hơn là nói ra lời.

Có đến nửa giờ trôi qua. Đột nhiên lão ké Khuyên bảo:
- Lần này nữa thôi đấy. Từ mai sẽ không có chuyện săn xiếc gì nữa đâu đấy. Lâu nay chả ai nói gì, tôi với lão cứ rủ nhau đi săn như thế này mà không biết mình sai. Săn bắt thú rừng giờ đã cấm rồi, không nên khuyến khích. Dù hai ta chỉ đi săn như thế này theo thói quen, cho đỡ nhớ, chả hại đến con thú nào. Nhưng như thế là vô tình làm gương xấu cho đám trẻ. Từ mai nếu còn khỏe ta sẽ chơi cờ tướng thôi nhá?
Lão Kiền có vẻ đồng tình:
- Nói thực với cụ ké, từ lâu tôi đã định không đi nữa rồi. Nể cụ ké nên vẫn phải đi cùng thôi. Cái vườn chò này ta cũng không phải lo nữa. Nhà nước đã lập hồ sơ rồi, đánh số từng cây một chả ai dám động vào đâu!
Thì ra cái lão Kiền này quái thật. Đi săn chẳng qua là cái cớ để trông vườn chò cụ không tiện nói, thế mà lão ấy biết hết. Có ai phân công đâu? Ngày nào cụ cũng ra đây nếu không nghi trang bằng cách đi “săn giả vờ” có khi người ta bảo cụ dở tính, rỗi hơi. Cụ cũng không biết tại sao mình lại cứ vấn vương cái vườn chò này như thế. Người ta nói mỗi sự việc, mỗi thân phận ở đời đều có duyên, có nghiệp. Phải chăng điều này ứng với mình?
Hai người thợ săn đứng dậy, chầm chậm đi về bản. Đến chỗ rẽ chia tay, cụ ké Khuyên nháy mắt với lão Kiền:
- Thôi không săn nữa cũng được. Nhưng nếu hôm nào mát trời nhớ chuyện xưa với bà Éng cứ rủ, tôi sẽ đi cùng.
Lão Kiền gật gù, không nói gì. Nhưng trong bụng lão lại nghĩ:” Bà Éng mất lâu lẩu lầu lâu rồi mà”
“Ờ mà có thế thực cũng nên. Con người già thì chết.. Nhưng những câu chuyện đời sẽ còn mãi, chẳng chết bao giờ”
Lão rút sau bọc ra đưa cho ké khuyên một ống nứa:
-Chút nữa quên. Có cái món này biếu cụ?
- Gì thế?
- Cụ mang về.. lúc buồn không đi săn nữa cho đỡ nhớ rừng, đến nhà hẵng mở ra. Có ai hỏi bảo đây là con thú cuối cùng săn được. Thằng cháu thả trâu bắt được chiều hôm qua biếu đấy..

Khi cụ ké Khuyên mở ống nứa, thì ra đấy là con tắc kè hoa rất đẹp, to bằng cổ tay đứa chắt nội. Cụ chưa biết xử trí như thế nào, thoắt một cái nó đã nhảy phắt lên trần nhà. Con cháu bảo bắt lại, cụ xua tay..
Từ bữa đó, đêm nào nó cũng kêu theo tiếng phổ thông:”Sắp về”, “sắp về”.
Cụ ké hơi bàng hoàng, hay tổ tiên gọi?
Xong rồi cụ lại trấn an, tự bằng lòng với mình:  Trăm tuổi, “về” cũng được rồi, có chi mà băn khoăn?

=============


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Ảnh sưu tầm - Vẫn còn thiếu?

Nơi Bác từng tắm, giặt, rửa chân



Nơi Bác hồi nhỏ tắm giặt ở làng Dương Nỗ, xã Phú Dương, huyện Phú Vang, TTH
Những dấu tích về 10 năm Bác Hồ sống ở cố đô Huế

Nơi Bác câu cá ở Pác Bó, Hà Quảng, Cao Bằng


Nơi Bác tắm giặt và câu cá ở Nà Pậu, Lương Bằng, Chợ Đồn, Bắc Kạn
767476

Nơi Bác rửa chân ở tại làng Long Trì, Tân Dân, Yên Dũng, Bắc Giang
https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEgQAvEC8w7uzhWQsjJyLoEYLzrQa5o4qY-rJv7Y9DzvA66rby8cQjw-ofKjCuXM0p-DdsQXh25w6lQitO-VX6m5j3KYw6i9tZZrjsPQv1Hu6_JxQ7qcdfaHpoQie44qK-LNxTmA55y_3_0/s1600/1.jpg

Nơi Bác tắm biển ở bãi Nhật Lệ, Quảng Bình




....

Đụng đến ông Cụ thuộc vướn đề nhạy cổm, đề nghị bạn có còm trọng cẩn.

Thợ Cạo

Phần nhận xét hiển thị trên trang

luận anh hùng

 



Trong việc đánh giá các nhân vật lịch sử, thường có một câu hỏi tưởng chừng đơn giản mà thật sự không đơn giản chút nào: Có đáng được xem là anh hùng không? Bởi trong thực tế, có không ít nhân vật công tội khó phân. Thêm vào đó, việc đánh giá lại còn tùy thuộc vào từng quan điểm, từng thời đại. Mà cái việc “đời luận anh hùng” này lại lắm phần phức tạp. Trần Thủ Độ là một nhân vật lịch sử điển hình cho trường hợp này.
Gia đình ngư phủ đổi đời
Trần Thủ Độ sinh năm 1194, mất năm 1264. Sử cũ không thấy chép về cha mẹ của ông, và hiện tại đây vẫn còn là một điểm mờ của làng sử học Việt Nam. Người ta chỉ biết rằng, Trần Thủ Độ từ nhỏ đã được người bác tên là Trần Lý nuôi dưỡng.
Số là vào đầu thế kỷ 13, vua Cao Tông nhà Lý ăn chơi vô độ, khiến loạn lạc nổi lên khắp nơi và dẫn đến cái loạn của Quách Bốc. Cao Tông bèn dẫn thái tử Sảm bỏ chạy khỏi kinh thành Thăng Long. Sau đó, thái tử Sảm chạy về Hải Ấp, làng Lưu Gia và được gia đình Trần Lý che chở. Gia đình Trần Lý làm nghề chài lưới, nhưng rất giàu có, và nhân buổi loạn lạc cũng tuyển mộ được binh lính riêng. Chính gia đình Trần Lý đã về kinh dẹp loạn, đưa cha con Cao Tông trở lại Thăng Long.
Đến năm 1210, Cao Tông mất, trị vì được 35 năm, hưởng dương 38 tuổi. Thái tử Sảm lên ngôi lấy hiệu Huệ Tông (1211-1225). Khi tá túc nhà Trần Lý, Huệ Tông đã kết hôn với con gái của Trần Lý là Trần Thị Dung. Sau khi lên ngôi, Huệ Tông cho rước Trần thị về làm Nguyên phi, và sau đó là hoàng hậu. Bấy giờ Trần Lý đã chết, nên Huệ Tông bèn phong cho con trai thứ của Trần Lý là Trần Tự Khánh làm Chương Tín hầu, và sau đó là Phụ chính. Anh trai Trần Tự Khánh là Trần Thừa cũng được phong làm Nội thị Phán thủ.
Một thời gian sau, Huệ Tông phải bệnh, thỉnh thoảng lên cơn điên dại. Thế là triều chính hoàn toàn do anh em Trần Tự Khánh nắm cả. Năm 1228, Trần Tự Khánh mất. Huệ Tông bèn phong cho Trần Thừa làm Phụ quốc Thái úy. Năm sau, lại phong cho Trần Thủ Độ làm Điện tiền chỉ huy sứ. Như vậy, Thủ Độ là em họ của Hoàng hậu và Phụ quốc Thái úy. Quyền hành coi như về tay họ Trần cả, chỉ còn việc chính thức thiết lập nhà Trần nữa là xong.
Sử cũ chép rằng, vào năm 1224, Trần Thủ Độ đã ép Huệ Tông nhường ngôi cho con gái mới lên 7 tuổi là Chiêu Thánh Công Chúa, tức Lý Chiêu Hoàng. Chị của Lý Chiêu Hoàng là Thuận Thiên Công Chúa thì được Trần Thủ Độ sắp đặt kết hôn với con trai lớn của Trần Thừa là Trần Liễu. Em trai Trần Liễu là Trần Cảnh, cũng vừa 7 tuổi kết hôn với Lý Chiêu Hoàng. Năm 1225, Trần Thủ Độ ép Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh. Thế là, Trần Cảnh lên ngôi lấy hiệu là Thái Tông, bắt đầu triều đại nhà Trần. Triều Lý do Lý Công Uẩn lập nên đến đây là dứt, tồn tại được 216 năm, truyền ngôi được 9 đời.
Bấy giờ, Thái Tông mới có 8 tuổi, nên mọi việc điều do chú họ là Trần Thủ Độ nắm cả. Vừa lên ngôi, Thái Tông đã ban chiếu phong Trần Thủ Độ làm Thái Sư Thống Quốc nắm hết binh quyền. Đối với một ông vua 8 tuổi, thì rõ ràng việc gia phong này là do chủ ý Trần Thủ Độ cả.
Để củng cố quyền lực nhà Trần, Thủ Độ rắp tâm diệt cỏ tận gốc đối với tôn thất nhà Lý. Năm 1225, Thủ Độ ép Huệ Tông phải tự tử. Sử cũ còn chép, năm 1232, nhân tôn thất nhà Lý về tế lễ, Thủ Độ ngầm sai người đào hầm đặt bẫy chôn sống tất cả. Sau đó, để tuyệt được hậu họa, Thủ Độ còn lấy cớ là tên của tiên tổ Triều Trần là Trần Lý, vì thế phải kiên húy chữ Lý, và ra lệnh người họ Lý trong nước phải đổi thành họ Nguyễn.
Còn việc trong nhà, sau khi bức tử Huệ Tông, Thủ Độ ép vua ban chiếu giáng thái hậu Trần Thị Dung xuống làm Thiên Cực Công Chúa và gả cho Trần Thủ Độ. Lý Chiêu Hoàng lấy Thái Tông Trần Cảnh đã 12 năm mà chưa sinh con, Thủ Độ bèn ép Thái Tông giáng xuống làm Công chúa, rồi đem chị của Lý Chiêu Hoàng là Thuận Thiên công chúa, gả cho Thái Tông làm Hoàng hậu. Khi ấy Thuận Thiên Công chúa là vợ của Trần Liễu, và đã có thai với Trần Liễu 3 tháng.
Công và tội ?
Trần Thủ Độ nắm quyền hành nhà Lý và là linh hồn của chính quyền nhà Trần cho đến khi ông mất vào năm 1264, tức trên 40 năm điều hành đất nước. Đánh giá về Trần Thủ Độ, các sử gia Nho giáo đã không tiếc lời chỉ trích.

Như việc Thủ Độ đổi vợ thay chồng trong tôn thất nhà Trần như đã nêu trên, Ngô Thời Sĩ trong Đại Việt Tiêu Án đã thốt lên: “…con nhà chài lưới chả biết lễ nghĩa là gì, tập tục loạn luân như thế…”. Sử gia Phan Phu Tiên nhận định : «Tam cương ngũ thường, đó là luân lý trọng đại của loài người. Thái Tông là vua sáng nghiệp, đáng nên lập ra phép tốt để cho đời sau theo, thế mà lại nghe mưu gian tà của Thủ Độ, cướp vợ anh làm vợ mình, như thế chả phải tự mình làm trái luân thường để mở đầu cái mối dâm loạn đấy ư?”. Sử gia Trần Trọng Kim thì cho rằng: “Làm loạn nhân luân như thế thì từ thượng cổ mới có một”.
Còn việc Trần Thủ Độ dùng hôn nhân cướp ngôi nhà Lý, thì các sử gia Nho Giáo cũng phê phán nặng nề. Chẳng hạn như các sử gia nhà Nguyễn đã phê trong bộ Việt Sử Thông Giám Cương Mục rằng: “Huống chi làm những nết xấu như chó lợn, dạ độc như hùm beo, dựng nước mà như thế thì làm thế nào mà lâu dài được?...Thực là việc lạ, suốt nghìn xưa chưa hề có”.
Thế nhưng, ngoài việc này ra, nếu nhìn vào giai đoạn sau khi cướp ngôi nhà Lý, thì Trần Thủ Độ lại là người có công lớn không chỉ với nhà Trần mà còn với cả non sông. Như đã nói, ông nắm quyền lèo lái triều đình nhà Trần đến khi mất vào năm 1264. Trong giai đoạn đó, một loạt công việc từ kinh tế, chính trị, quốc phòng…đã được thực hiện.
Phải nhìn nhận một cách khách quan rằng, kể từ thời Cao Tông nhà Lý, triều đình bắt đầu lâm cảnh suy vi, vua mãi ăn chơi bỏ bê chính sự, loạn lạc khắp nơi nổi lên, kinh tế suy sụp. Sau khi nhà Trần được lập, vua Trần Thái Tông chỉ là cậu bé chưa đầy 10 tuổi. Chính Trần Thủ Độ đã ngược xuôi dẹp nội loạn, đưa đất nước từ loạn đến trị. Ông cũng đã lèo lái hệ thống chính quyền khôi phục kinh tế, định lại thuế khóa, xây dựng đê điều, mở rộng chế độ tư hữu ruộng đất, xây dựng và củng cố quân đội, chăm lo học hành…
Chính vào giai đoạn này, nhà Trần đã mở khoa thi Thái học sinh (Tiến sĩ) đầu tiên trong lịch sử Việt Nam. Ngoài việc lập Quốc học viện để giảng Tứ thư Ngũ kinh, Trần Thủ Độ còn cho lập giảng võ đường để luyện tập võ nghệ. Sử gia Trần Trọng Kim là người phê phán gay gắt chuyện Trần Thủ Độ soán ngôi nhà Lý, cũng thừa nhận rằng: “Thủ Độ một tay cáng đáng bao nhiêu trọng sự, giúp Thái Tông bình phục được giặc giã trong nước và chỉnh đốn lại mọi việc, làm cho nước Nam ta bấy giờ được cường thịnh, ngày sau có thể chống cự được với Mông Cổ, khỏi phải làm nô lệ những kẻ hùng cường”.
Một công lớn nữa của Trần Thủ Độ đó là ông đã đóng vai trò quan trọng trong cuộc kháng chiến chống Nguyên-Mông lần thứ nhất vào năm 1258. Trần Thủ Độ với vai trò là người nắm đại quyền ở triều chính, đã xúc tiến việc củng cố quân đội. Khi giặc Nguyên-Mông tràn sang, quân đội nước Nam khi ấy có đến 20 vạn người. Đây là một chiến công trong xây dựng quân đội sau giai đoạn trì trệ kéo dài của các vua cuối triều Lý. Trước thế mạnh của giặc, vua tôi nhà Trần phải rút khỏi Thăng Long. Khi ấy không phải không có đại thần toan đầu hàng. Sử cũ chép rằng, vua Thái Tông ngự thuyền đến hỏi Thái úy Trần Nhật Hiệu, vị quan này không trả lời mà cầm sào viết xuống nước hai chữ “Nhập Tống”. Sau đó, khi Thái Tông đến hỏi Thái sư Trần Thủ Độ, thì Thủ Độ trả lời: “Đầu tôi chưa rơi xuống đất, thì xin Bệ hạ đừng lo”. Câu nói này đã cho thấy được tinh thần yêu nước đáng trân trọng của Trần Thủ Độ, vì nếu ông chỉ là người hám quyền hám danh thì đã không có cái chí khí kiên cường đến thế!
Đại Việt Sử Ký Toàn Thư nhà Hậu Lê còn chép lại nhiều mẫu chuyện về đức độ làm quan của Trần Thủ Độ :
- Thấy Thủ Độ quyền át cả vua, có kẻ ngầm vào gặp Vua Thái Tông mà nói rằng: “Bệ hạ còn thơ ấu, mà Thủ Độ quyền át cả vua, xã tắc rồi sẽ ra sao?”. Thái Tông bèn cho bắt người đó giải đến phủ Thủ Độ. Sau khi nghe chuyện, Thủ Độ đáp: “Quả đúng như lời hắn nói”. Xong, đem tiền lụa mà thưởng cho người đó.
- Linh Từ Quốc Mẫu Trần Thị Dung khi là vợ của Trần Thủ Độ, một hôm ngồi kiệu đi qua thềm cấm, bị quân hiệu ngăn lại, về dinh khóc với Thủ Độ. Ông tức giận sai người đi bắt người quân hiệu kia. Người quân hiệu thất kinh và tưởng thế nào cũng chết. Nhưng khi đến trình bảo mọi điều với Thủ Độ, thì Thủ Độ lại khen ngợi người lính hiệu đã biết giữ đúng phép nước và ban thưởng cho.
- Có lần, bà Trần Thị Dung xin với Thủ Độ cho một người được làm câu đương. Thủ Độ nhận lời. Khi gặp người ấy, ông bảo: “Người vì có công chúa xin cho được làm câu đương, không ví như những câu đương khác được, phải chặt một ngón chân để phân biệt”. Người nọ hoảng hồn khóc lóc van xin mãi mới được tha và không dám xin chức câu đương nữa. Từ đó không ai dám đến thăm Thủ Độ vì việc riêng nữa.
- Có lần Thái Tông muốn cho người anh ruột của Thủ Độ là An Quốc làm tể tướng. Thủ Độ bèn tâu: An Quốc là anh thần, nếu giỏi hơn thần thì thần xin rút lui, còn nếu cho thần giỏi hơn An Quốc thì không thể cử An Quốc, nếu anh em đều làm tể tướng cả thì việc triều đình sẽ ra sao? Vua nghe nói vậy mới thôi.
Qua đó, ta thấy rằng Trần Thủ Độ rõ ràng là một vị quan gương mẫu xưa nay hiếm, một người “vĩ công vi thượng”. Sử gia Nguyễn Khắc Thuần trong bộ Việt Sử Giai Thoại đã nhận định: “Chính quyền nhà Trần là chính quyền của quý tộc họ Trần. Chính quyền ấy cho phép con em quý tộc được quyền sống dựa vào uy danh và bổng lộc của cha ông. Song, đọc chuyện Trần Thủ Độ, ai dám bảo con cháu ông sẽ dựa hơi ông để ức hiếp người đời!”
Đại Việt Sử Ký Toàn Thư nhà Hậu Lê nhìn nhận: « Thủ Độ tuy không có học vấn nhưng tài hơn người, làm quan triều Lý được mọi người suy tôn. Thái Tôn lấy được thiên hạ đều nhờ vào mưu sức của ông cả …Thủ Độ tuy làm tể tướng, nhưng mọi việc không việc gì không để ý. Vì thế đã giúp nên vương nghiệp và giữ được tiếng tốt cho đến lúc mất. Thái Tông có làm bài văn bia ở sinh từ để tỏ lòng đặc biệt quý mến ông. Thế nhưng cái tội giết vua và thông dâm với hoàng hậu thì khó lẩn tránh với đời sau vậy”. Khâm Định Triều Nguyễn cũng cho rằng: “…những việc giết vua triều trước và thông dâm với vợ vua, việc gì Thủ Độ cũng nhẫn tâm làm cả. Như thế Thủ Độ là bầy tôi có công với triều Trần, mà là người có tội với triều Lý”. Sử gia Trần Trọng Kim cho rằng: “Thủ Độ là một người rất gian ác đối với nhà Lý, nhưng lại là một đại công thần của nhà Trần”.
Đến đây, ta thấy rằng, việc các sử gia khen và chê Trần Thủ Độ tựu chung có hai điểm:
- Chê việc ông đã soán ngôi nhà Lý và còn độc ác tận diệt người họ Lý, chê vì ông đã bất chấp luân thường để thay đổi gán ghép hôn nhân của người trong gia tộc họ Trần.
- Khen ông là một người lãnh đạo có tài và hết lòng vì nước.
Rõ ràng, ta thấy rằng, tất cả những việc Trần Thủ Độ làm bên trên là vì dòng tộc họ Trần, vì để củng cố triều Trần. Như vậy đối với dòng tộc họ Trần ông là người có công. Sau khi dựng nên nhà Trần, Thủ Độ tay nắm đại quyền đã vực dậy đất nước sau giai đoạn suy tàn thời mạc Lý, để làm tiền đề cho nước Việt đủ sức đương đầu và ba lần đánh lui quân xâm lược Nguyên-Mông, một đội quân chinh phạt mà trước đó đã “làm cỏ” khắp Á Âu. Như vậy, đối với non sông, Thủ Độ cũng lập đại công.
Một điểm cần lưu ý nữa là, chúng ta không thể không công nhận vai trò của Trần Thủ Độ đối với Trần Quốc Tuấn. Nên nhớ rằng, Trần Thủ Độ nắm đại quyền đến năm 1264, và trong cuộc xâm lược lần thứ nhất của quân Nguyên-Mông vào năm 1258, Trần Quốc Tuấn cũng đã có tham gia dưới sự chỉ huy của Trần Thủ Độ, và khi ấy Trần Quốc Tuấn chỉ mới 30 tuổi còn Trần Thủ Độ đã 64 tuổi. Hơn nữa Trần Thủ Độ lại là chú họ của Trần Quốc Tuấn. Không thể nói rằng, cái tinh thần vì sự đoàn kết của họ tộc Trần và vì nước vì dân của Trần Hưng Đạo sau này không có ảnh hưởng của Trần Thủ Độ.
Đời luận anh hùng
Đương nhiên, sự phê phán của các sử gia Nho Giáo ngày xưa là gay gắt bởi nếu đứng trên lập trường Nho Giáo, thì rõ ràng việc soán ngôi nhà Lý của Trần Thủ Độ là trái đạo luân thường. Thế nhưng, cũng nên nhớ rằng, dưới các triều đại phong kiến Việt Nam, Nho Giáo được khai thác ở những điểm cực đoan nhất nhằm phục vụ cho việc củng cố nhà nước phong kiến. Cái tinh thần trung quân khi ấy đã được đẩy lên mức cực đoan, đến mức mà người ta chỉ thấy vua mà không thấy nước, chỉ biết trung với vua mà không biết trung với nước. Trong khi mà Nho Giáo không hề ca ngợi cái “ngu trung”. Á Thánh Mạnh Tử còn nói rằng: “Quân chi thị thần như thủ túc, tắc thần thị quân như phúc tâm. Quân chi thị thần như khuyển mã, tắc thần thị quân như quốc nhân. Quân chi thị thần như thổ giới, tắc thần thị quân như khấu thù” (Vua xem bầy tôi như tay chân thì bầy tôi xem vua như máu thịt, vua xem bầy tôi như chó ngựa thì bầy tôi xem vua như người lạ trong nước vậy thôi, vua xem bầy tôi như đất cỏ thì bầy tôi xem vua như giặc thù). Nói như vậy thì chữ trung có giới hạn chứ không phải vua thế nào thì bầy tôi cũng phải trung. Bởi vì, Mạnh Tử nói: “Dân vi quí, xã tắc thứ chi, quân vi khinh” (Trước có dân sau mới tới nước, rồi mới tới vua). Thế thì dân và lợi ích của dân vẫn là trọng nhất.
Trở lại trường hợp của Trần Thủ Độ, đặt giả thuyết ông không soán ngôi nhà Lý mà tiếp tục “ngu trung”, thì với cái thế suy vi của nhà Lý lúc bấy giờ liệu nước Việt có thể giữ được chủ quyền quốc gia hay không, chứ chưa nói đến chuyện có thể đánh bại quân xâm lược Nguyên-Mông? Sau hơn bảy thế kỷ nhìn lại, đứng trên phương diện lợi ích quốc gia, ta thấy rằng, Trần Thủ Độ thật sự là người có công với xã tắc. Trường hợp của Trần Thủ Độ cũng là một lời nhắc nhở các thế hệ khi nhận xét đánh giá về bất kỳ một nhân vật lịch sử nào, đó là :không nên đánh giá chỉ dựa vào tiểu tiết mà xem nhẹ những đóng góp lớn lao cho đại cuộc.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Đúng là cái tóc cái tội, không biết đằng nào mà lần! ( Chả biết "DÂN LẦM THAN" là ai, thấy nó nói thế mình cũng phải ghi lại đây để vừa ngẫm, vừa nghĩ!

CẢNH GIÁC VỚI THÔNG TIN PHẢN ĐỘNG TRÊN FACEBOOK



Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của mạng Internet, hiện nay xuất hiện nhiều loại hình truyền thông đa phương tiện mới trong đó có các mạng xã hội mà facebook là chủ yếu ở nước ta hiện nay. Sự phát triển của facebook nó cũng đã mang lại những lợi tác động tích cực cho người tham gia. Nó vừa giống web ở khả năng đưa tin nhanh, lại vừa có thể liên lạc được với mọi người như email; có thể chia sẻ được các hình ảnh, các đoạn video về bản thân người sở hữu facebook đó và chia sẻ những suy nghĩ của mình cho những người sử dụng facebook....Không chỉ vậy việc lập một tài khoản facebook cũng tương đối dễ dàng, người sử dụng chỉ cần ở đâu có internet và một email là có thể lập một tài khoản facebook mà không cần phải đăng kí với cơ quan chức năng.... Chính vì những tiện ích của facebook như vậy nên số lượng người dùng facebook nói chung tăng nhanh, đặc biệt ở Việt Nam hiện nay ước tính có khoảng 22% (20 triệu người) dùng facebook.
(Từ trên xuống dưới) 1.Tổng dân số Việt Nam; 2.Số người dùng Internet; 3.Số người dùng Facebook; 4. Số thuê bao di động
Tuy nhiên, bên cạnh những yếu tố tích cực thì facebook cũng mang lại những tác động tiêu cực cho đời sống xã hội như: giảm sự tương tác giữa mọi người, tăng cảm giác muốn gây sự chú ý, có nguy cơ mắc bệnh trầm cảm, chuyện tình cảm dễ bị tan vỡ … Đặc biệt, facebook đã được các đối tượng chống đối lợi dụng để tiến hành các hoạt động “đấu tranh dân chủ” của mình nhằm bám gót, lấy tiền của các thế lực chống đối bên ngoài như Việt Tân, Chính phủ Việt Nam tự do, Phục hưng Việt Nam…. Chúng tích cực lợi dụng những ưu thế vượt trội của facebook để tiến hành các hoạt động vi phạm an ninh trật tự như: tuyên truyền các quan điểm tư tưởng chính trị đối lập với Đảng, Nhà nước; kích động lôi kéo quần chúng nhân dân tham gia các hoạt động khiếu kiện, biểu tình, đình công... gây ra tình trạng phức tạp về an ninh trật tự; tuyên truyền bôi nhọ, hạ uy tín các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước... Thực tế trong thời gian qua các hoạt động biểu tình tự phát phản đối Trung Quốc tại Đại sứ quán Trung Quốc xâm phạm chủ quyền Việt Nam ở Biển Đông có sự tham gia kích động của các thế lực thù định thông qua facebook....
Chẳng hạn, trường hợp “hộ Pháp” của đám rận trong biểu tình với hình ảnh một biểu tình viên chuyên nghiệp của nhóm No-u mang phong cách “xã hội đen” - Hoàng Văn Nam dạy ngoại ngữ tại trường THPT Hùng Vương - Thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ. Hoàng Văn Nam cũng tham gia phong trào “dân chủ” rất mạnh mẽ, cũng lập ra facebook để tiến hành các hoạt động chống phá mang phong cách quen thuộc của các “rận”. Tuy nhiên, xem facebook của ông ta thì ông ta đề là sống và đến từ thành phố Hồ Chí Minh, không có chút gì dính dáng đến Phú Thọ từ gia đình đến bạn bè. Bởi vậy những hình ảnh biểu tình của ông ta phần lớn do “bạn bè trên mạng” tag vào, bản thân ông ta cũng không giám “khoe khoang”. Mục đích để che dấu các hoạt động chống đối đã tiến hành. Nhưng việc che dấu “hành tung” để hoạt động “dân chủ” của ông đã bị chính các facebooker bóc mẽ và đã bị chính quyền sờ gáy.
Trang facebook của đối tượng Hoàng Văn Nam, ảnh: internet
Vì vậy người sử dụng Facebook phải thận trọng với các thông tin trên facebook, không nên dễ dàng tin tưởng mà bị lôi kéo vào các hoạt động vi phạm pháp luật. Đồng thời phải có thái độ đấu tranh tích cực với các “rận” trên mặt trận facebook không để facebook là địa bàn hoạt động của “rận”.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tư lệnh Cảnh sát quân sự Campuchia: Tôi không phải Hitler

 

(GDVN) - Bạo loạn chống người Việt Nam trong cuộc đảo chính năm 1970 và những cái chết của người Việt, người Chăm do bọn diệt chủng Pol Pot gây ra là lý do cần ghi nhớ.
Tư lệnh Cảnh sát quân sự Campuchia tướng Sao Sokha.
Tờ The Phnom Penh Post hôm nay 19/1 đưa tin, Tư lệnh Cảnh sát quân sự Campuchia tướng Sao Sokha cho biết, phát biểu của ông về Hitler đã bị truyền thông hiểu lầm. Trong một cuộc họp thường niên của lực lượng cảnh sát quân sự Phnom Penh hôm Thứ Năm, truyền thông Campuchia đã đưa tin rằng tướng Sokha nói trước hội nghị, ông học được nhiều từ Hiler.

Theo The Cambodia Daily, tướng Sokha đã nói: "Nói thật lòng, tôi đã học được nhiều từ Hitler. Nước Đức sau Thế chiến I không được phép có hơn 100 ngàn quân, nhưng Đức quốc xã và Hitler đã làm bất cứ điều gì có thể để phát động Chiến tranh Thế giới thứ II". Bình luận được cho là của tướng Sokha ngay lập tức gây "bão" trong dư luận Campuchia. Các nhóm nhân quyền, thậm chí Đại sứ Đức tại Campuchia đã lập tức lên án ông.
Tướng Sokha thừa nhận rằng ông có nhắc đến tên của trùm phát xít Hitler trong cuộc họp và ông đã học được bài học từ Hitler, nhưng là bài học không hề cảm hứng như báo chí đã đưa tin.
"Tầm nhìn của chúng tôi là để giáo dục mọi người phải đi bộ trên lề đường bên phải. Tôi đã lấy Hitler ra làm ví dụ khuyến khích mọi người tìm hiểu để không theo hắn. Những gì tôi đã nói là để dạy cho cấp dưới tìm hiểu những gì là xấu và những gì là tốt, trong đó những kẻ như Hitler là một bài học xấu cần rút ra".
Tư lệnh Cảnh sát quân sự Campuchia nói rằng, ông có trách nhiệm phải giáo dục cho cấp dưới của mình về những bài học như thế trong lịch sử để họ không lặp lại sai lầm. Người Campuchia phải biết, hiểu và cẩn thận để vương quốc này không rơi vào sự kìm kẹp của chủ nghĩa dân tộc cực đoan.
Tướng Sokha nói. "Việc giết hại đồng loại, phân biệt chủng tộc và đàn áp các tôn giáo khác là những gì Hitler đã làm. Tôi không thể ngưỡng mộ hay theo hắn, và tôi không nói rằng cấp dưới của tôi phải theo hắn. Tôi không phải Hitler".
Tướng Sao Sokha trong cuộc họp hôm Thứ Năm tuần trước, ảnh: The Cambodia Daily.
Sokha nhắc lại rằng, bạo loạn chống người Việt Nam trong cuộc đảo chính năm 1970 và những cái chết của người Việt, người Chăm do bọn diệt chủng Pol Pot gây ra là lý do cần ghi nhớ những bài học lịch sử về chủ nghĩa phát xít.
Tướng Kheng Tito, phát ngôn viên Cảnh sát quân sự Campuchia cũng tham dự cuộc họp hôm Thứ Năm khẳng định, nhận xét của cấp trên của mình là một nỗ lực để giáo dục các lực lượng vũ trang Campuchia không lặp lại vết xe đổ của Hitler.
"Pol Pot cũng giống như Hitler, hắn theo phương pháp của Hitler và đã giết chết rất nhiều người", tướng Tito giải thích. Tuy nhiên bất chấp những giải thích của Tư lệnh Cảnh sát quân sự Campuchia, Mu Sochua, một nhà lập pháp đảng Cứu quốc Campuchia đối lập đã tiếp tục chỉ trích ông.
Sau khi đưa tin về phát biểu gây sốc được cho là của tướng Sokha, tờ The Cambodia Daily đã phỏng vấn Đại sứ Đức tại Campuchia Joachim Baron von Marschall qua email. Đại sứ Đức nói rằng mình đã bị sốc khi nghe thấy bất cứ ai ngưỡng mộ bọn phát xít Đức quốc xã đã giết chết hơn 6 triệu người Do Thái cũng như hàng triệu người đồng tính, tù nhân chiến tranh và người tàn tật trong những năm 1930-1940.
"Tôi phải thừa nhận rằng tôi đã khá sốc trước những nhận xét mà tôi nghĩ rằng không ai muốn nhắc đến Hitler trong tâm trí như một hình mẫu", Đại sứ Đức cho biết qua email. The Cambodia Daily cũng nói rằng tờ báo này đã cố gắng liên lạc với tướng Sokha hôm Thứ Sáu nhưng không gặp được. Một người tự xưng là vệ sĩ của ông nói qua điện thoại rằng cấp trên của mình đang bận họp.
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tội lỗi thuộc về những kẻ ưu tú


Nay lại có thêm cuốn Thư của các giáo sĩ thừa sai (Trung tâm nghiên cứu Quốc học và nxb Văn học 2013).

 Trong các lá thư  gửi về quê hương, những người viết -- vốn là những trí thức trong thời của mình -- cũng đã có những phân tích nhiều mặt về tình hình xã hội trên những miền đất mà họ đặt chân tới.
Ở một nước mà ngành sử học quá yếu kém như ở ta, những lá thư này đáng được xem là những sử liệu quý báu. Nếu có một sự tìm hiểu công phu, thì chắc qua đây có thể hiểu nhiều về lịch sử xã hội Việt.
Có điều, cũng giống như số phận các sử liệu mà người Trung quốc trong các thế kỷ trước viết về ta, các tài liệu có nguồn gốc phương Tây này ít được  giới khoa học ở Hà Nội – và rộng ra là cái dư luận chính thống ở ta -- hoan nghênh.
Riêng tôi lại thích lần mò kiếm tìm trong đó những tư tưởng xa lạ và đôi khi tôi đã thấy được cái mà tôi không hề thấy trong các nguồn tài liệu được đọc từ nhỏ.

Phác thảo bức tranh tổng quát
Trong lời giới  thiệu cuốn sách trên, người dịch là ông Nguyễn Minh Hoàng đã làm công việc hệ thống hóa những nội dung mà các bức thư trong sách đề cập tới. Dưới đây, tôi chỉ trích một đoạn.

Thư của giám mục chánh tòa Reydellet ,
cai quản giáo phận  xứ Đoài ở Đông Kinh( tức Đàng ngoài),
viết ngày 7-5-1766,
 gửi cho em  hiệu phó trường Dela Marche ở Paris
Miền xuôi miền đồng bằng gồm cả xứ Đông Kinh, là một miền rất đông đúc, đời sống người dân nghèo nàn cơ cực vì đất không nuôi đủ được người. Ngoài ra có nhiều kẻ ăn hại chỉ có độc một nghề là đi cướp phá mùa màng, dùng vũ lực  hay dùng mưu mẹo để trộm cắp ở các nhà, vu cáo để gây ra chuyện kiện tụng và làm cho người khác  phải tán gia bại sản. 
Ở xứ này, giàu có nhiều tiền lắm bạc là một tội to. Ai cũng sẵn sàng  sinh sự và hãm hại người giàu mãi cho tới lúc họ bị rơi vào cảnh nghèo nàn quẫn bách thì mới chịu thôi. Ban đêm, những người giàu không ngủ được vì còn thức để canh giữ trong nhà.
Người Đông Kinh nào cũng ham thích quan tước và tiền của nên đều thích làm quan và làm giàu. 
Những kẻ có ít chữ nghĩa và khôn khéo trong việc vu cáo người khác có thể trèo lên tới chức quan. 
Do trong nước không thiếu gì hạng người như vậy, nên bọn quan lại và bọn tai to mặt lớn sinh sôi nẩy nở vô số ở khắp nơi.
 Những kẻ nghèo khổ và trong phút chốc được trở thành quan lớn ấy, để giữ vững địa vị, đã làm tình làm tội đám dân đen, bắt họ phải bò rạp dưới chân mình, cướp bóc của cả đàn bà góa bụa và trẻ con mồ côi…
Nhìn tổng quát thì luật lệ ở đây rất đúng đắn, rất hợp lý, và được quy định rõ ràng. Chỉ hiềm một nỗi là chẳng được kẻ nào tôn trọng cả. 
Chính những người có phận sự thi hành luật pháp lại là những người phạm luật trước mọi người khác.
Tiền bạc và những tặng vật đút lót xóa sạch những tội ác. 
Dù có là đại gian hùng, nhưng nếu biết cách che giấu những hành động bất chính của mình thì vẫn là người lương thiện. Chỉ những kẻ vụng về, ngờ nghệch, nghèo hèn là bị trừng phạt thôi.( sách đã dẫn trên, tr. 71-72)

Giầu là có tội
Những  ghi nhận của tôi qua đoạn thư trên tập trung vào ba điểm:
1/ Một xã hội  muốn phát triển phải có nhiều người biết làm giầu. Khổng tử khi được hỏi về công việc của người cai trị nói là giáo dân, phú dân.Mạnh tử cũng bảo có hằng sản mới hằng tâm
Mà muốn cả xã hội giầu thì trong xã hội đó phải có những người đi trước một bước. Họ là những người ưu tú. 
Tại sao? Vì chính họ trước tiên đã phải lao động nhiều hơn và theo những cách thông minh hơn người khác thì mới có thể khởi nghiệp. Cho đến khi họ thuê mướn thêm nhân công đi chăng nữa, thì họ cũng phải lao tâm khổ tứ, tổ chức cho các người mà họ thuê mướn đó làm việc. Câu ca dao mà tôi học từ hồi lớp sáu đã nói cái ý ấy
 Mở mắt chúa gọi đi cày
Be bờ cuốc góc nửa ngày chưa tha
 Bờ lớn thì phải cuốc ra
Bờ bé đắp lại  cho bà con ơi
 Chúa trai là chúa hay lo
Đêm nằm nghĩ việc ra cho mà làm

 Xã hội Việt Nam sau 1945 đã có một định hướng mạnh mẽ là tấn công vào những người giàu, làm cho những người giàu kiệt quệ.
 Lúc đầu tôi cứ tưởng đó là cái phát kiến riêng của con người hiện đại.
 Hóa ra, như trong lá thư trên miêu tả, đó là căn bệnh vốn có trong tâm lý người Việt từ các thế kỷ trước.
 Riêng một câu Ở xứ này giàu có nhiều tiền lắm bạc là một tội to. Ai cũng sẵn sàng  sinh sự và hãm hại người giàu  mãi cho tới lúc họ bị rơi vào cảnh nghèo nàn quẫn bách thì mới chịu thôi đã đủ cắt nghĩa sự nghèo hèn kéo dài của xã hội ta  từ xưa đến nay. 

2/ Một khi  đám đông người nghèo đã  định hướng vào việc căm ghét người giầu, thì thói quen ăn cướp ăn cắp cũng hình thành một cách tự nhiên. Người ta lấy việc bôi  xấu những người giàu để biện hộ  cho những hành động không lương thiện của mình. Những người nghèo đã lưu manh hóa. Hiện tượng trộm cướp kéo dài triền miên trong lịch sử xã hội Việt Nam, và nếu kể cả những trường hợp nó được khoác cho cái áo sang trọng là nông dân khởi nghĩa,  thì có thể nói đó đã là một động cơ tạo nên sự vận động của lịch sử với ý nghĩa một cuộc … chạy tại chỗ.

3/ Do tình trạng tự phát bao trùm, ở cái xã hội tiểu nông manh mún ấy, người ta không thể thỏa thuận được với nhau để tổ chức nên một cơ cấu hợp lý. Từ cấp thấp đến cấp cao, bộ máy quản lý xã hội rơi vào tay những kẻ không có nghề nghiệp và hiểu biết gì hết về thuật cai trị.
 Bộ máy quan chức càng phình lên thì các thành viên của nó càng ngu dốt thêm.
Thứ luật pháp sinh ra từ những kẻ nghèo khổ và trong phút chốc được trở thành quan lớn ấy, chỉ là công cụ để bọn quan chức làm giàu và hành hạ dân chúng, mà trước tiên lại là hành hạ cái đám dân đen vốn là mảnh đất xuất thân của chúng.
Một xã hội như vậy không bao giờ có sự vận động để thay đổi được.

Chống nhà giàu đồng thời với chống trí thức
Tôi học tiểu học ở vùng Hà Nội tạm chiếm và sau 1954 mới học trung học mà hồi đó gọi là cấp II ở hệ mười năm. 
 Ở hệ học sau, có hai mối bức xúc mà tôi cảm thấy khá sớm.
Đến trường kẻ học giỏi bị làm phiền, gây khó chịu… là một.
Về nhà, sống với gia đình xóm giềng và ra phố mua bán, tôi thấy những người giỏi giang, biết làm việc, nhất là biết kiếm tiền, thì bị khinh ghét... là hai.
 Do một niềm tin mơ hồ được gia đình truyền lại, bọn tôi lo đi học và lớn lên vẫn thích đọc sách. Nhưng học xong thấy dại. Kỹ sư ra trường lương tháng hồi đó cũng chỉ  lương hơn sáu chục đồng, chẳng hơn công nhân lao động đơn giản là bao. 
Bao nhiêu nghị lực được dồn hết cả vào khả năng chịu đựng để tồn tại, chúng tôi kéo dài cuộc sống trong mòn mỏi. 
Thỉnh thoảng có dịp nhìn lại bản thân, lại ngớ ra. Sao cái phần ưu tú tốt đẹp trong mình luôn trong tâm thế xấu hổ e thẹn? Còn cái phần hoang dại tầm thường lười biếng hư hỏng... cứ nhăm nhe lôi kéo, và chỉ có một sự vượt hẳn lên về trí tuệ mới phần nào giữ được phần thiên lương vốn có.
Tôi có một đứa em và một đứa cháu, đều học rất giỏi, nhưng sẵn sàng bỏ học để đi làm các nghề khác, dễ kiếm ăn hơn. Nhiều người chung quanh cũng thế. Thoắt cái mà mấy chục năm, thoắt cái là hơn nửa thế kỷ. Theo những cách khác nhau và ở mức độ khác nhau, song sự suy đồi trong nhân cách dần dà đã đến với những kẻ bỏ đạo - ở đây là cái đạo học - chẳng có ai là ngoại lệ.

 Muốn chứng minh rằng do định hướng vào sự vô học mà cả xã hội hoàn toàn đi xuống là chuyện không dễ.  Nhưng tôi cứ tin một xã hội mà ghét bỏ những người có học thì không bao giờ phát triển lên được.
Lạ một điều là ngay trong một nghề cần nhiều đầu óc như nghề văn mà cả đời tôi theo đuổi, ai ít học vẫn được chiếu cố nhiều hơn và khi chọn vào bộ phận quan chức, vẫn được ưu tiên hơn hẳn.
 Hỏi sang bên khoa học tự nhiên, tình trạng cũng là tương tự.
Trước tôi cho rằng hai chuyện trên, ghét bỏ người giàu và ghét bỏ người có học là hai chuyện riêng rẽ.
Sau này mới hiểu đó là xã hội ta – cái xã hội công nông mà chúng tôi được giảng là  tốt đẹp nhất trên đời -- thường ghét những người ưu tú.
Với tư cách là sản phẩm  của các xã hội tiểu nông, nhiều truyện cười đã cho thấy thời xưa những người có học bị gán cho đủ tội xấu xa, cũng như cánh nhà giàu toàn là bọn người tham lam bủn xỉn…
 Sang đến thời nay, có cả một sự diễn biến loanh quanh. Đôi khi lối nghĩ đó  được bộc lộ trắng trợn hơn. Về sau  lại được che đậy khéo léo hơn. Song bên trong vẫn thế.
Người ta chỉ không biết hoặc có biết cũng cố lờ đi không nói với nhau một điều. Rằng không chỉ quy luật tiến hóa nói chung chống lại lối khẳng định đó mà  kinh nghiệm lịch sử ở ta và ở mọi xã hội khác đều rút ra những kết luận ngược lại.

Thử hình dung về một xã hội
mà những phần tử ưu tú bị bài bác
Trình độ tư duy hiện nay cho phép chúng ta thường chỉ hình dung xã hội như một bộ máy. Trong khi đó, trong một số sách vở mà tôi đọc được,  tôi thấy người ta lại nhìn xã hội  như một hiện tượng sinh học.
Mà theo các lý thuyết về sinh học thì sự tiến hóa phải trải qua những đột biến do những phần tử ưu tú khởi xướng.
 Cũng là áp dụng quan niệm sinh học vào cách nhìn xã hội, một lần tôi thử tìm cách  phân biệt các xã hội bình thường và cái xã hội vừa trải qua những biến động long trời lở đất ở ta, qua một cặp hình ảnh như sau:
-- các xã hội bình thường khác ấy như những cánh rừng nguyên sinh có cấu trúc phức tạp, ở đó có cây cao bóng cả lại có những loại dây leo và các loại cỏ ăn lan trên mặt đất, một sự phân công  khoa học.
-- còn xã hội ta hiện nay, sau khi diệt dần diệt mòn các thành phần ưu tú,trên đại thể đang tái sinh như một thứ  rừng có gianh. Tư tưởng bình quân đã thấm vào trong cấu trúc cả xã hội lẫn cấu trúc tinh thần mỗi cá nhân. Từng thành viên hết sức giỏi giang trong việc thích nghi với đời sống, và chống lại mọi sự thâm nhập từ bên ngoài. Nhưng một quần thể vốn chỉ giỏi là mình, giỏi tự vệ, sùng bái ổn định (= trì trệ) thì lại xa lạ với một sự sống theo nghĩa bình thường.

 Qua phim ảnh, và với một số người là những thể nghiệm cá nhân, chúng ta hẳn đã  từng thấy những cánh rừng cỏ gianh ở những vùng bị bom đạn càn nát trong chiến tranh cũng như bị con người hiện nay -- hung hãn điên lên trong cơn làm giàu -- tàn phá. Chúng đầy sức sống  và cũng đầy khả năng tự vệ.  Chỉ riêng khả năng hồi phục để trở thành những cánh rừng tự nhiên, cũng tức là khả năng tiến hóa theo thời gian vĩ mô, sẽ chẳng bao giờ trở lại với những rừng cỏ gianh đó cả.

Phần nhận xét hiển thị trên trang