Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Chủ Nhật, 28 tháng 12, 2014

Bùi Ngọc Tấn và Chuyện kể năm 2000


Số phận một tác phẩm văn chương lớn lúc nào cũng phải bao gồm đầy đủ cả hạnh phúc và bất hạnh. Chuyện kể năm 2000 là một sự kiện hạnh phúc của nền văn chương Việt Nam, và kể từ đó, tức là trải hết năm “lệnh” - theo cách tính đầy hào phóng của những người tù - thật bất hạnh, nó vẫn cứ là sự kiện lớn nhất của nền văn chương ấy.

Năm 2000, chắc là khoảng giữa năm, qua những mối quan hệ mà tôi chỉ nhớ là rất loằng ngoằng và thật ra không còn muốn nhớ cụ thể nữa, một nhà văn ở Hà Nội đồng ý cho mượn hai quyển Chuyện kể năm 2000. Phải đến tận nhà ông, đâu đó ở mạn Bà Triệu-Triệu Việt Vương ngay lập tức để lấy mang về. Thời ấy, đến gõ cửa nhà một người không quen vào đúng giờ cơm tối vẫn còn chưa trở thành một điều gì vi phạm quá đáng lắm đối với tập quán sống vẫn chưa trôi hết khỏi quán tính làng xã, phố huyện.
Chuyện kể năm 2000 ngay tắp lự đưa ta về với một tập quán sống nơi thành phố miền Bắc vào cái thời đã được Bùi Ngọc Tấn vĩnh cửu hóa bằng một cách miêu tả: “pha lê hóa”. Những người bạn tới nhà chơi, ngồi ở chỗ cái bàn con con uống nước, cửa để mở, hàng xóm đi qua đi lại nhìn rõ bên trong, thỉnh thoảng lại có ai đó đến gửi nhờ thứ đồ nào đấy (trong Chuyện kể năm 2000 là anh tù tên Giang gửi những chiếc xe đạp đánh nghẽođược, nguồn cơn để anh Giang đó tiếp tục đi cải tạo thêm một đợt vô tăm tích nữa), và trong ký ức lũ trẻ con sống ở nhà tập thể hồi ấy chắc chắn là có những người khách đến ngủ nhờ một đêm, vài đêm hoặc thậm chí nhiều đêm, những người không còn chắc chắn lắm có phải họ hàng không, rồi sau đó họ biến mất không để lại dấu vết, giống như già Đô trongChuyện kể năm 2000, một nhân vật chất chứa rất nhiều thương xót, tủi hổ của tác giả, người bạn tù chỉ lo sợ sẽ chết trong tù, tức là rũ tù, nhưng khi đã được ra tù, ở nhờ đêm đêm nhà tác giả được một thời gian thì chỉ tìm cách xin quay trở lại trong tù, và bởi không được như vậy nên đi ăn cắp ngang nhiên, nhưng ngay cả sự ăn cắp này cũng không thành công, mà chỉ khiến ông trở thành niềm vui thú cho bọn trẻ con Hải Phòng.

Cái năm 2000 ấy, sau khi đứng ngoài cửa không dám vào nhà, chỉ kịp nhìn thấy một mâm cơm rất tương phản với những gì nhà văn ở mạn Bà Triệu-Triệu Việt Vương ấy viết về thú ăn chơi rực rỡ của dân Hà Nội, là đến lúc đọc ngốn ngấu hai tập sách, một mạch cho đến “đoạn Ngụy Như Cần”, tức là đoạn cuối. Những lần đọc sách mượn như ăn cướp thời gian ấy cũng là một phong vị của những năm Hà Nội ngày trước.

Đoạn người tù tên Tuấn đến gặp Ngụy Như Cần, giờ đọc lại, đẹp như một bức tranh: “Vừa nhô ra khỏi vạt rừng, bắt gặp con suối chặn ngang, con suối dẫn tới Ngụy Như Cần, hắn bỗng khựng lại vì suýt vấp phải đàn bướm. Một dải bướm vàng bay ngang qua mặt hắn. Hàng triệu con bay dọc suối. Những cánh bướm màu hoa cải như một dải lụa dập dờn trên không trung uốn lượn theo con suối ngoằn ngoèo. Nó từ đâu trôi tới và còn đi đâu nữa. Nó trôi giữa những hàng cây bên suối cành lá khum khum làm thành một đường hầm. Nó cong xuống sát mặt suối để tránh một tán cây xòe ngang. Nó bốc lên vì một cành cây khô gẫy nằm chỏng chơ bên suối. Những cánh bướm vàng tươi, mỏng manh giống hệt nhau bay theo một hướng như trảy hội, quấy động không khí, lấp lánh lấp lánh trên nền xanh đen nghiêm nghị của rừng” (t.2, tr.335).

Đọc lại một tác phẩm văn chương, thường gồ lên một nỗi sợ hãi mơ hồ là lần này đọc ta sẽ thấy nó bé đi, không còn lớn lao như trong ký ức, mà ký ức thì hay phản bội, hay đánh lừa và giả dối (“đạo đức giả”, giống như Bùi Ngọc Tấn hay nhắc tới trong Chuyện kể năm 2000). Chuyện kể năm 2000không thuộc vào hạng tác phẩm này, thêm thời gian chỉ càng làm nó tăng thêm sức nặng. Sức nặng ấy là từ cách nhìn của một tiểu thuyết gia.

Giống như đoạn tả đàn bướm trên đây, Chuyện kể năm 2000 có những khoảnh khắc rất đặc biệt, đó chính là những gì ta có thể gọi là “epiphany”, những chớp lóe thiên tải nhất thì, những đường nét ảo diệu làm một bức tranh có cái nền vô cùng u ám bật lên, sắc nét trong một bố cục hơi dị thường nhưng ăn sâu vào trí nhớ, không thể nào quên. Bóng cây xoan in trên tường nhà đối diện trong những đêm ân ái của cặp vợ chồng trẻ; thời khắc người tù tìm được những viên than đặc biệt tình cờ mà có do rễ cây cháy ngún xuống âm ỉ tạo ra - và những rễ cây ấy đã nói cho người tù biết bao nhiêu điều bí ẩn; giây phút tắm suối rồi lạc vào một cái hang có con tôm trắng; cái lúc cả một cái cây bỗng cháy đùng đùng đỏ rực giữa đêm khuya gần lán tù với những con người vừa hoảng sợ vừa háo hức; phiên tòa xử gí điện con chuột “Chí Văn Chuột”: những “epiphany” ấy tạo ra đường nét, dẫu là những nét chìm – en filigrane - cho một tác phẩm, khiến nó trở nên không còn giống bất kỳ một tác phẩm nào nữa. Đặc biệt là vài khoảnh khắc rất bất chợt khi nhân vật thấy như thể mọi thời gian chập vào với nhau, không còn phân chia quá khứ, hiện tại, tương lai nữa. Cảm giác về thời gian đã hoàn toàn bị xáo lộn khi người ta ở trong tù quá lâu, sự tập trung về tinh thần và tâm trí đạt đến một mức độ sẽ không thể có được nếu vây xung quanh vẫn là những lao xao của cuộc sống, dù cho có là “pha lê hóa” hay không.

Và nhất là, cả bộ tiểu thuyết dài đến vậy, rất nhiều chi tiết, rất nhiều câu chuyện, nhưng vô cùng nhất quán ở cái phong vị chung, nó là thể hiện bằng ấn tượng của một cách nhìn riêng biệt: từ đầu đến cuối, nhân vật là một người hiểu đời, hiểu về chia ly đứt ruột, bần cùng, cái đói, tình yêu, nhọc nhằn chữ nghĩa, thất bại và thất vọng, nhưng thủy chung, con người ấy hiểu đời mà không lõi đời, hết ngây thơ những vẫn không thôi mơ mộng.

Tôi còn nhớ không rõ lắm từ hồi đọc Chuyện kể năm 2000 vào năm 2000 rằng Bùi Ngọc Tấn có nói đến cảm giác của mình, rằng những gì ông chịu đựng chính là một cách thức “gánh hộ cho những người khác”. Đoạn ấy đây, tuy pha vị mỉa mai nhưng không phải là không chân thật:

“Còn hắn, hắn hy sinh cái quý nhất: Tự do. Là cũng để cho chiến thắng. Hắn chịu đựng khổ nhục, đau đớn là để cho chiến thắng. Chiến thắng cần phải được đảm bảo bằng sự an toàn tuyệt đối ở hậu phương, hậu phương pha-lê hóa… Ít nhất việc bắt hắn cũng có tác dụng răn đe những người khác, nếu hắn không có tội. Đóng góp vào việc răn đe, hướng mọi người toàn tâm toàn ý vào một mục tiêu duy nhất là sự đóng góp tích cực. Có nhiều cách đóng góp. Cách đóng góp của hắn đáng kể lắm chứ. Nó cũng được làm bằng đời người. Nó cũng được làm bằng nước mắt” (t.2, tr.221).

Những người đã trải qua những kinh nghiệm ghê gớm có cái nhìn đặc biệt; cái nhìn này càng đặc biệt hơn nếu người trải qua kinh nghiệm không chuốc lên người mình một sự bi lụy dễ dàng hoặc không gục ngã. Sau nhà tù, có người trở nên điên dại chỉ chăm chăm đi quét tước dọn dẹp hoặc phá tan hoang một khu vườn cam để lấy chỗ trồng củ ráy (nhân vật Sơn), có người lại tiếp tục như trước (nhân vật Giang), lại có người tuy có chịu thua nhưng không đầu hàng (già Đô), cũng có người tự kết liễu cuộc đời mình (Ngụy Như Cần). Ứng xử như thế nào với kinh nghiệm đã trải qua là vấn đề của Chuyện kể năm 2000.

Một thời gian sau khi ra tù, nhân vật cố tìm mọi cách để đòi lại hơn một nghìn trang bản thảo bằng giấy pelure bị công an tịch thu trước đó; chắc đã có lúc với Tuấn, đấy chính là lẽ sống, một cách thức để chống chọi. Nhưng một con người đã trải qua những “epiphany” rạng rỡ đến lúc cũng hiểu ra, mọi tài sản của một cuộc đời đã qua cũng mất đi giống như chính cuộc đời ấy. Hơn một nghìn trang bản thảo ấy có lẽ cần mất đi, hoặc cháy thành tro, để từ tro tàn ấy mà dựng nên một cuộc đời khác, những trang bản thảo khác, những trang bản thảo đích thực của một sứ mệnh.



Lần đầu tiên tôi gặp Bùi Ngọc Tấn là tại một nơi từ đó có thể nhanh chóng đi tàu xuống Marseille. Lần ấy và cả những lần sau này tôi chưa bao giờ hỏi đã bao giờ ông đến Marseille để biết không khí cuộc sống một thuở xa xăm của già Đô, người bạn tù thân thiết của ông.
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Lệ Rơi lên sóng VTV1: Thánh nhân đãi kẻ khù khờ


Ngọc Khánh
TNO - Chàng thanh niên có cái nickname Lệ Rơi (tên thật là Nguyễn Đức Hậu, ở huyện Thanh Hà, Hải Dương) xuất hiện trong chương trình Cuộc sống thường ngày trên kênh VTV1 ngày 27.12 lại khiến cộng đồng mạng một lần nữa “dậy sóng”.

Chỉ khi hình ảnh Lệ Rơi trả lời phỏng vấn trong trường quay chương trình  Cuộc sống thường ngày tối 27.12 xuất hiện dày đặc trên Facebook, tôi mới biết đến "sự kiện" này.

Sau nửa năm nổi tiếng trong cộng đồng mạng, "chàng trai trồng ổi" lên sóng truyền hình quốc gia vẫn giản dị như ngày nào, chiếc áo khoác đen, vẫn nói ngọng, làn da rám nắng và mái tóc không chuốt keo bóng bẩy. Trả lời phỏng vấn, Lệ Rơi cho biết: “Em hát không có hay nhưng quan trọng là tình cảm của em dành cho anh em và mọi người”.

Tôi cứ ngỡ rằng dư luận có những ý kiến trái chiều, cho rằng chương trình “nhảm nhí”, “câu khách”... là do Lệ Rơi trả lời quá lố, “nổ” hoặc người dẫn nói rằng “gặp chàng trai hát hay”. Nhưng xem trọn cuộc phỏng vấn với tiêu đề “Gặp gỡ chàng thanh niên hay hát” này, tôi thấy cách làm của êkíp sản xuất chương trình này rất ổn, không có “sạn”. Thông điệp chương trình đưa ra rõ ràng: “Hãy sống với niềm đam mê của mình”.

Thật khó hiểu khi một chương trình rất đời thường như chính tên gọi của nó lại bị dư luận “ném đá” dữ dội như thế. Có lẽ, một bộ phận dư luận đã quá quen với hình ảnh những người nổi tiếng hào nhoáng trả lời phỏng vấn trơn tru trên màn hình nên không chấp nhận được một Lệ Rơi ăn nói quê mùa, không quần áo thời trang nhưng chất phác, hiền lành.

Lệ Rơi là khách mời để trò chuyện về tình yêu với âm nhạc, cách giao lưu với bạn bè trên mạng chứ không nói về kỹ thuật để hát hay. Lệ Rơi không phải tội phạm, chẳng có lý do gì mà không được nói lên những đam mê ca hát rất lành mạnh của mình.

VTV1 đâu phải chỉ dành riêng cho một ai đó? Đây là kênh thông tin đại chúng, phản ánh cuộc sống muôn màu. Rõ ràng, thông điệp trong cuộc trò chuyện với Lệ Rơi đã cho thấy chân lý của nhân sinh giấu trong những điều đơn giản, bình thường. Xin đừng cứng nhắc, khắt khe để rồi làm tổn thương người khác.

Từ “phòng thu” trên giường ngủ, Lệ Rơi đã bước lên sóng truyền hình quốc gia.

Câu chuyện của Lệ Rơi tương tự như Susan Boyle, người phụ nữ Scotland béo phì, mái tóc xơ xác, mặc chiếc váy cũ kỹ, có phần đãng trí đã trở nên nổi tiếng trong chương trình Tìm kiếm tài năng nước Anh năm 2009. Sự tương tự ở đây không phải là giọng hát mà là niềm đam mê.

Ai cũng có cơ hội để thay đổi hoàn cảnh sống của chính mình, chỉ cần giữ được lòng nhiệt huyết, khát khao. Thay vì đứng ngoài chê bai, “ném đá”, bạn hãy lan tỏa niềm lạc quan và tình yêu cuộc sống như Lệ Rơi đang làm. Có thể một ngày bạn cũng sẽ nổi tiếng, bởi “thánh nhân đãi kẻ khù khờ”.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Bảy, 27 tháng 12, 2014

CHÂN DUNG VĂN NGHỆ SĨ

Ngô Minh

             Cách đây mấy năm, Nhà xuất bản Trẻ ấn hành tập chân dung văn nghệ sĩ viết theo lối văn chương độc đáo của nhà văn Nguyễn Quang Lập có tựa là Bạn văn. Cuốn sách dày 456 trang gồm những bài viết tài hoa mà Nguyễn Quang Lập viết đăng báo trong hai ba năm nay. Sách phác thảo gần 100 chân dung văn nghệ sĩ quen biết của nhà văn, có người đã mất, có người đang sống và viết trên khắp cả nước. Đây là những bài đã được in trên báo Tuần San Thanh niên, chuyên mục Giai thoại . Sau đó in trên blog Quê choa của Bọ Lập trong entry Bạn văn.  Blog Quê choacủa Nguyễn Quang Lập là một trong ít blog nóng nhất trên thế giới mạng hiện nay. Chỉ mới 4 năm, từ 2007 đến nay đã có  mấy chục triệu người truy cập. Một trong Entry của Blogquechoa lôi cuốn công chúng mạng nhất là chân dung văn nghệ sĩ, tức bạn văn. Lối văn chương này Nguyễn Quang Lập gọi là “khẩu văn”, tức là văn nói, một phong cách sáng tạo mới của Lập, rất  phù hợp với cuộc sống nghe nhìn nhiều hơn đọc hiện nay. Đây là cuốn sách thứ hai Lập đến với bạn đọc theo lối văn này. Cuốn trước là Ký ức vụn rất được độc giả chào đón.
             Trong Bạn văn có chân dung  người nổi tiếng và người không mấy nổi tiếng , nhưng tất cả đều được vẽ bởi những nét phác thảo hóm hỉnh, sâu sắc mà đậm chất  dân gian nên rất nổi bật. Có cả những câu chửi thề, nói tục. Lập viết tục nhưng không tục, vì đó là “một thứ mắm muối dư vị rất riêng, được Bọ Lập gia giảm có liều lượng vừa đủ  làm cho câu chuyện mặn mòi , làm đậm đà cho nhân vật được nói đến “ (Lời thưa đầu sách của Phạm Xuân Nguyên). Ví như tính cách mẹ Đốp rất quyết liệt của nữ nghệ sĩ xinh đẹp, chị MYZ trong bài Người đẹp: ”...Một đạo diễn từ Hà Nội vào làm vở, thấy chị thì thích lắm , làm bộ quan trọng , gọi chị ra riêng, nói anh muốn giao vở này cho em, có có thích không , chị nói em thích lắm. Ông này nói tối nay đi ăn tối với anh nhé, chị cười  nói ăn tối xong rồi sao nữa anh, ông này cười cười, nói em còn hỏi anh câu đó. Chị nói thôi, để em tụt quần  cho anh chơi ngay bây giờ, ăn uống làm gì cho mất thời giờ. Nói xong thì tụt quần liền. Ông đạo diễn vội vàng quay mặt, bỏ đi liền. Từ đó không dám ho he gì nữa.”
            Văn nghệ sĩ là những người lắm tài, nhiều tật, Nguyễn Quang Lập không hề né tránh cái “tật” đó mà viết về nó vừa ngộ nghĩnh, vừa sắc bén, cười ra nước mắt. Mỗi chân dung chỉ ba bốn trang sách khổ 13 x 20 cm, mà người nào ra người nấy, không lẫn và rất dễ đọc, vì ngắn. TrongBạn văn  có rất nhiều cái tên cứ nhắc đến là muốn mở sách đọc ngay như Trần Dần, Xuân Diệu, Nguyễn Minh Châu, Hữu Thỉnh, Xuân Sách, Phan Tứ, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Lâm Thị Mỹ Dạ, Nguyễn Trọng Tạo, Phùng Quán, Thạch Quỳ, Hoàng Ngọc Hiến , Trần Vàng Sao, Đỗ Trung Quân., Hồng Ánh, Trọng Đài.v.v..
                Mỗi người một nét nhấn, rất ngắn, rất hài hước, mà đọc là nhớ như khảm vào tâm trí. Nhà văn Nguyễn Minh Châu luôn thu mình lại , khi đi hội thảo thì :”Vào cuộc người ta nói đông nói tây, anh cứ ngồi khóm róm, nơm nớp sợ người ta gọi đến tên mình, y chang cậu học trò không thuộc bài. Anh nói ông ạ, trên đời này tôi hãi nhất là người ta bắt tôi đi nói chuyện...” Còn nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ  xinh đẹp, hay thương  người và cả tin, khi đi sáng tác  ở Nha Trang, có ông nhà văn đeo lấy tán. Dạ không chịu. Thế là “ ông này giả đò đi thẳng ra biển, nói Dạ không yêu anh thì anh chết đây, rồi cứ thế lội ào ào. Chị hoảng quá, hai tay vẫy vẫy như khoát nước, cuống quýt hét ầm lên , nói yêu yêu vô đi vô đi, yêu yêu vô đi vô đi . Viết về tài đọc sách của nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên, Bọ Lập viết :” nó đọc nhanh kinh hoàng...Đọc đâu nhớ đấy, nhớ rất kỹ, rất chi tiết thế mới phục. Cùng một cuốn sách,  mình nhằn mất cả tuần, nó chỉ xơi vài giờ là xong, thế mà động đến chi tiết nào mình đều phải hỏi nó”. Còn nhà văn Nguyễn Khắc Phê thì  “ Đi đâu có khát nước cháy cổ anh cũng cố chạy về nhà  uống nước chứ chẳng chịu mất cho quán nước một xu, còn bảo vào quán uống chén trà thì anh cười lắc đầu , nói trà ở nhà mình cũng có, vô đó mần chi...”.v.v..
            Nguyễn Quang Lập quan sát rất sắc sảo, chỉ một nốt ruồi dưới cằm của ông Tường ( nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường) cũng biểu hiện khác nhau tùy theo tình cảm  của nhà văn. “Đêm đó tại Đại học Sư phạm Huế, hàng ngàn  sinh viên kín đặc hội trường lớn đón anh Sơn ( Trịnh Công Sơn). Hiếm khi nào thấy anh Tường xúc động, hồi hộp đến thế, cái nốt ruồi to dưới cằm anh giật giật liên hồi”. Mọi người ngưỡng mộ đến thế, nhưng đến khi nhạc sĩ Trịnh Công Sơn  lên sân khấu chỉ nói vài câu và hát đúng một bài Em là hoa hồng nhỏ, rồi xuống, làm Hoàng Phủ lại không vừa lòng, “ mắt anh Tường thoáng buồn, cái nốt ruồi đứng im phăng phắc” ( Chuyện nhỏ hai người bạn)
                  Viết chân dung  hài hước, ngắn thế, nhưng mỗi người Nguyễn Quang Lập cũng lẩy ra được những dấu lặng của  cuộc đời rất xúc động . Giữa thời khăn khó cơm áo, nhà thơ Thạch Quỳ, ông đồ gàn xứ Nghệ thì :”...Hồi này xứ Nghệ có phong trào nuôi hươu sao, một con hươu cái đến mấy chục triệu. Anh khoác vai chị ( chị Nhã, vợ) hôn đánh chụt , nói em có biết anh mơ gì không , anh mơ sáng mai ngủ dậy , bên anh không phải là em mà là một con hươu sao... Chị  không cười, nước mắt rân rấn. Anh cười khấc khấc khấc, chẳng phải cười, nghe như anh cố khạc ra  mấy cục đắng ngắt.”.
              Viết về “khẩu văn” của Nguyễn Quang Lập, nhà văn Bảo Ninh cho rằng :” Anh viết dường như rất dễ, nhưng sự dễ ấy trái ngược hoàn toàn với dễ dãi. Đố anh dễ dãi nào viết được như thế....Viết được như thế thật sướng, nhưng muốn sướng được như vậy phải đổi cả một đời trần ai, nào ai dám đổi “. Bảo Ninh nói  chí lý. Nhưng tôi lại  muốn nghĩ thêm. Bọ Lập viết dễ ,viết nhanh vì đã phát kiến ra được lối văn “khẩu ngữ” gần gũi với đông đảo người đọc. Chỉ có lối văn này mới tạo ra được phong cách hài hước, buồn cười mà cuốn hút người đọc.
Phần nhận xét hiển thị trên trang

10 loại cây, quả 'độc' đình đám nhất năm 2014


Bưởi bàn tay Phật, dưa hấu tí hon, nhãn tím kì lạ, cà chua, bí đao, khoai lang khổng lồ… là những loại quả độc, lạ và đẹp mắt xuất hiện trên thị trường năm qua.

Bưởi bàn tay Phật: "Độc", lạ, đẹp mắt
Được đánh giá là loại quả "độc", lạ, đẹp mắt, những trái bưởi lễ có hình dáng bàn tay Phật chính thức xuất hiện tại 4 ngôi chùa phía Nam và 4 ngôi chùa ở phía Bắc vào những tháng cuối năm. Sau 3 năm thử nghiệm, những người trồng cây hạnh phúc vì đã hoàn thành sản phẩm mà họ rất tâm đắc. 

Đây là sản phẩm bưởi Năm Roi có hình 2 bàn tay ốp vào, được áp dụng công nghệ, kỹ thuật tạo hình 3D để thiết kế hình dáng. Dự kiến trong dịp tết Nguyên đán sẽ có từ 1.000 đến 3.000 quả “Bưởi lễ Cát Tường” được tung ra thị trường.


Dự kiến sẽ được xuất khẩu, quả bưởi đặc biệt này không chỉ có hình dáng lạ mà phần ruột bên trong cũng có thể ăn được. Do được bọc trong lớp nhựa trong thời gian dài nên nhiều nông dân cho rằng ,chất lượng quả bưởi đảm bảo sạch. Đồng thời khi sản xuất đại trà, quả bưởi sẽ có giá thấp, rất phù hợp với túi tiền người tiêu dùng trong tương lai.


Dưa hấu hơn 9 tháng không thối, vẫn... to lên từng ngày trên đĩa thờ

Đó là quả dưa hấu của gia đình anh Lê Văn Quới ngụ ấp Long Định, xã Long Thắng, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp. Quả dưa giống Hồng Cúc, có vỏ ban đầu màu vàng nhưng sau đó đã ngả dần sang màu xanh và vẫn từng ngày... to lên dù chỉ bày trên bàn thờ.

Anh Quới cũng khẳng định là không dùng bất kỳ một loại chất bảo quản hay bất kỳ hóa chất nào. Việc chăm sóc cũng không có gì đặc biệt. Quả dưa mới chưng chỉ có chu vi đo được 81cm, nhưng ở thời điểm nói trên quả dưa đã “lớn lên” thêm gần 3 cm (đo được là gần 84cm).


Những quả nhãn tím kì lạ của lão nông Sóc TrăngNhãn tím là một sản phẩm đột biến gene do nông dân Trần Văn Huy (ấp Phong Thạnh, xã Phong Nẫm, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng) phát hiện rồi chiết cành, nhân giống cách đây hơn 10 năm.


Suốt 10 năm liền, gia đình ông Huy trồng và nhân giống cây nhãn tím này theo kiểu “ăn chơi” và chưa chú ý đến việc bán ra thị trường. Giống nhãn này được biết đến khi mới đây, chính quyền địa phương đề nghị ông đem 5kg đến trưng bày ở Khu du lịch Mỹ Phước (huyện Kế Sách, Sóc Trăng) trong dịp Tết Đoan Ngọ và khoảng 6kg dự thi trái cây ngon trong hội chợ tại huyện Chợ Lách (tỉnh Bến Tre).


Cà chua khổng lồ, mỗi trái nặng 1kg

Đó là khu vườn cà chua của bà Phạm Thị Thu Cúc ở huyện Lạc Dương (Lâm Đồng), cho mỗi trái nặng với khối lượng từ 600 g đến 1 kg, gấp 15-20 lần so với loại thường.Vườn cà chua của bà Cúc trồng giống mới xuất xứ từ Hà Lan.

Đây là cà chua Beef cao cấp, thường được dùng kèm với các loại thức ăn nhanh. Điểm đặc biệt của giống này là trái nặng từ 600g đến 1 kg, trong khi cà chua mà đa số nông dân trồng phải 15-20 quả mới được một kg. Bà Cúc là người đầu tiên trồng thành công cà chua Beef ở Lâm Đồng.


Cây không khí cực lạ, gây “sốt”

Những ngày cuối tháng 9 năm nay, do sự hiếu kỳ, người dân miền Tây nườm nượp đi mua cây không khí, một dạng cây kiểng lạ mới vừa được du nhập vào miền Nam để về làm cảnh.

Đặc tính của cây là không cần đất, chỉ cần không khí và thỉnh thoảng phun nước là cây sống tốt. Đặc biệt loại cây này có hoa cũng giống như hoa Lan (đẹp và lâu tàn). Ở thời điểm cây không khí trổ hoa, tại TP Sa Đéc, các cửa hàng bán đều đã cháy hàng. Trước nhu cầu ngày càng cao mà nguồn cung không đủ, đã có một số nhà vườn nhân giống để sản xuất loại cây không khí này.



Trái mướp dài cả mét chỉ sau 2 tuần, loằng ngoằng hệt... rắn lục

Vườn mướp có hình thù kỳ lạ này thuộc sở hữu của một người dân trồng trước cửa nhà ở huyện Bình Chánh, TP.HCM. Được biết, sau khi nhận được hạt giống từ một người bạn ở Gò Công, Tiền Giang, người dân này đã đem về trồng và kết quả thu được thật bất ngờ.

Sau khi trồng khoảng một tháng rưỡi, anh này thấy khá "choáng" về hình thù kỳ lạ của những trái mướp. Loại mướp dài rất nhanh. Thoạt nhìn qua ai cũng giật mình vì giống con rắn lục. Trong số 4 quả hiện có, chỉ sau 14 ngày ra quả thì đã có chiều dài tới 1,15m.



Buồng chuối siêu “mắn” ở Đăk Lăk, mỗi ngày “đẻ”... 2 nải

Những ngày cuối tháng 8 năm nay, rất nhiều người hiếu kỳ đã tìm đến nhà anh Trần Thanh Hải (thôn 4, xã Ea Kao, TP.Buôn Ma Thuột, Đăk Lăk) để xem cây chuối kỳ lạ. Đây là cây chuối được anh Hải mua về trồng hơn 1 năm. Trước đó 4 tháng, cây chuối bắt đầu trổ bắp rồi ra quả.

Sau đó, dù buồng chuối đã dài hơn 2m và có đến hơn 150 nải (trung bình mỗi nải có 16 trái, to đều) nhưng vẫn chưa có dấu hiệu ngưng “đẻ”. Cứ mỗi sáng thức dậy, buồng chuối lại tiếp tục nở thêm ra hai nải mới, trong khi đó, phần bắp vẫn còn rất to, chưa có dấu hiệu teo lại nên có thể cho ra hàng chục nải chuối nữa. Nhiều người đã ngỏ ý mua lại với giá vài triệu đồng nhưng chủ nhân của nó vẫn không muốn bán.



Củ khoai lang to ngang ngửa bé 1 tuổi

Sáng 3/1, anh Trần Công Tuấn ra sau vườn ở quán cà phê Làng Báo 2 của mình (đường Mậu Thân, phường An Hòa, quận Ninh Kiều, TP Cần Thơ) để cho gà ăn thì phát hiện phần đầu của củ khoai lang trồi lên mặt đất.

Cứ tưởng là củ khoai bình thường, nhưng khi anh dùng tay nhổ lên thì phát hiện củ khoai to ngoài sức tưởng tượng. Trong lượng củ khoai nặng 4,3 kg. Nhìn củ khoai khủng, nhiều khách đến uống cà phê tỏ ra thích thú.



Bí đao khổng lồ nặng cả tạ, to như heo rừng

Những quả bí đao khổng lồ có cân nặng lên tới 30-80 kg ở Mỹ Thọ, Phù Mỹ- Bình Định đã khiến cho những ai lần đầu chiêm ngưỡng cũng phải thốt lên: bí khổng lồ! Những trái bí khủng nặng trĩu được người nông dân chằng đỡ bằng những sợi dây nơm hoặc những tấm lưới chắc chắn.

Những quả bí đao ở đây thường có cân nặng trung bình khoảng 50 kg, có khi lên tới 70 kg, dài 60 - 90cm. Đường kính của những quả bí này lớn đến nỗi vòng tay của bé gái cũng không ôm hết.



Phụ nữ Việt “phát sốt” săn giống dưa hấu tí hon

Dưa hấu tí hon không còn là loại quả quá xa lạ với người châu Âu, song nó mới chỉ du nhập vào Việt Nam và ngay lập tức đã được chị em phụ nữ “săn đón” nhiệt tình. Được biết, ruột của dưa hấu tí hon không đỏ mà xanh nhạt. Khi thưởng thức, nó giòn như dưa chuột và có vị chua thanh mát.

Đó là loại quả có chiều dài chỉ khoảng 3cm, nhỏ bằng 1/20 kích thước trung bình của trái dưa hấu thông thường. Tuy nhiên về tỷ lệ chiều dài, bề ngang và màu sắc, mẫu mã của hai loại dưa hấu này giống hệt nhau. Có cảm giác như, dưa hấu tí hon chính là hình ảnh thu nhỏ của trái dưa thường.

Theo Hồng Liên/Dân Việt


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Vận hạn 2014 và cú hưởng lợi bất ngờ của Dũng lò vôi

Vướng vào rắc rối trong vụ kiện tụng với Chủ tịch tỉnh Bình Dương cộng với việc đóng cửa Đại Nam khiến tên tuổi của đại gia này “nổi như cồn”. Năm 2014 có thể coi là một năm nhiều sóng gió với đại gia Dũng lò vôi (tên thật là Huỳnh Uy Dũng, Chủ tịch HĐQT công ty CP Đại Nam).
Việc ông Dũng vác đơn kiện để tố cáo Chủ tịch UBND tỉnh Bình Dương về việc liên quan đến quyền sử dụng đất tại Khu công nghiệp Sóng Thần đã khiến dư luận cả nước quan tâm. Điều đặc biệt, vụ kiện này đã kéo lê, dai dẳng suốt một thời gian dài từ thời điểm gần cuối tháng 10/2013 cho đến nay vẫn chưa có hồi kết.

Thêm vào đó, việc liên tục thay đổi lịch đóng cửa khu du lịch Đại Nam – nơi ông Dũng đã đặt bao tâm huyết, tiền của để xây dựng, khiến cái tên Dũng lò vôi được nhắc đến nhiều trên hầu hết các mặt báo.

Khi đại gia bị truyền thông… nghi ngờ

Ông Dũng lò vôi từng được gán biệt danh “ngông” vì những quyết định “hâm, khùng” khi treo thưởng 100 tỷ đồng cho bất cứ ai chứng minh được vợ ông đem tài sản đi thế chấp hay trao khối tài sản nghìn tỷ cho con trai 1 tuổi.

Mới đây, việc tuyên bố đóng cửa Đại Nam - khu du lịch hoành tráng bậc nhất Việt Nam với số vốn đầu tư khổng lồ lên đến 6000 tỷ đồng thêm một lần nữa chứng minh độ “ngông” của vị đại gia có biệt danh “hâm, khùng” này.

Bởi theo số liệu ghi nhận, mỗi năm khu du lịch Đại Nam đón khoảng 2 triệu lượt khách.

Những ngày bình thường, giá vé vào cổng, vé tại các khu biển, vườn thú 80.000-100.000 đồng/người mỗi khu, còn vé các trò chơi cũng từ 20.000 đến 50.000 đồng, cá biệt có những trò chơi với giá vé 80.000 - 115.000 đồng...

Tính tổng cộng giá vé “trọn gói” để vào cổng và chơi hết các trò không dưới 400.000 đồng một khách tham quan.




Liên tục thay đổi lịch đóng cửa khu du lịch Đại Nam, ông Dũng lò vôi bị giới truyền thông nghi ngờ về chiêu PR, làm thương hiệu của vị đại gia này.

Nhiều người đã không khỏi băn khoăn: Đóng cửa một nơi hút khách du lịch và đem lại lợi nhuận “khủng” cho ông Dũng lò vôi như vậy liệu có phải là một quyết định dại dột của vị đại gia tỉnh Bình Dương này?

Tuy nhiên, việc 3 lần liên tục thay đổi kế hoạch về thời gian đóng cửa Đại Nam (từ ngày 10/11 chuyển sang ngày 20/11 và cuối cùng là 28/11) đã khiến nhiều người hồ nghi rằng: Đây có thể chỉ là một chiêu trò PR của ông Huỳnh Uy Dũng?

Bởi lẽ, cứ sau mỗi lần Đại Nam tuyên bố sắp hết hạn mở cửa miễn phí cho du khách thì lượng người kéo đến vui chơi, thăm quan, giải trí tại khu du lịch này càng đông.

Thậm chí, cảnh chen lấn, xô đẩy, xếp hàng dài chờ tới lượt chơi diễn ra thường xuyên. Tại khu vực để xe máy của khách tham quan, số lượng xe tăng đột biến.

Trước đó, thông báo được đăng tải 4/11 cho biết, Đại Nam sẽ đóng cửa từ ngày 10/11 đến hết năm 2014, tuy nhiên đến ngày 10/11 thời gian đóng cửa được lùi lại đến ngày 20/11 đến 31/12/2014.

Cuối cùng, thông báo mới nhất cho biết, trong thời gian đóng cửa từ 20/11 – 31/12/2014, thay vì việc ngừng hoạt động liên tục, Đại Nam vẫn mở cửa miễn phí cho khách vé thăm quan, riêng trò chơi sẽ tính phí bình thường.

Trong khi dư luận không ngớt đặt dấu chấm hỏi về chiêu làm thương hiệu của ông Huỳnh Uy Dũng thì Công ty Cổ phần Đại Nam lý giải:

Việc lùi thời gian đóng cửa khu du lịch Đại Nam cũng như việc mở cửa miễn phí các ngày 6,7 và chủ nhật các tuần từ 20/11 đến 31/12/2014 nhằm giảm bớt lượng khách tập chung, đảm bảo vấn đề sức khỏe người dân và du khách.

Kiện tụng liên miên, đại gia Dũng chịu thiệt

TS.Lê Đăng Doanh chia sẻ trên Dân Việt: Việc ông Dũng đóng cửa khu du lịch Đại Nam sẽ gây thiệt hại cho doanh nghiệp và cả tỉnh Bình Dương, dẫn đến những “va chạm” giữa hai bên kéo dài ngày càng căng thẳng, thiệt hại sẽ là cả hai phía.


Việc ông Dũng đóng cửa khu du lịch Đại Nam sẽ gây thiệt hại cho doanh nghiệp và cả tỉnh Bình Dương.

Trên Đời sống – Pháp luật, luật sư Trần Quốc Thuận, nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội cũng bày tỏ: Chưa bàn về chuyện đúng sai, nhưng rõ ràng việc ông Dũng đóng cửa Đại Nam trước tiên gây thiệt hại kinh tế cho cá nhân ông ấy.

Từ khúc mắc chưa được giải quyết với chính quyền địa phương, quyết định đóng cửa không hoạt động kinh doanh sản xuất là quyền của ông Dũng. Nhưng điều này theo ông Thuận sẽ tạo tiền lệ không tốt cho địa phương và các doanh nghiệp khác.

Trong khi đó, theo như lý giải của đại gia Dũng lò vôi: ông đóng cửa Đại Nam vì bị chính quyền Bình Dương o ép.

Mấu chốt của toàn bộ vụ việc xuất phát từ việc Chủ tịch UBND tỉnh Bình Dương, ông Lê Thanh Cung không phê duyệt chi tiết tỷ lệ 1/500 khu công nghiệp (KCN) Sóng Thần 3. Trong khi đó công ty Đại Nam của Dũng lò vôi đã vội kêu gọi… góp vốn đầu tư.

Ông Dũng khẳng định, việc chậm trễ trong việc phê duyệt quy hoạch suốt 7 năm qua khiến dự án ngưng trệ, doanh nghiệp bị thiệt hại lớn, ông Lê Thanh Cung phải chịu trách nhiệm chứ không thể không liên quan.

Liên quan tới vụ kiện này, Thanh tra Chính phủ đã có kết luận rằng: tố cáo của ông Dũng là có cơ sở nhưng không liên quan đến cá nhân ông Lê Thanh Cung.

Đồng thời, ông Dũng bị thu hồi quyết định sử dụng đất.

Bởi lẽ, diện tích đất ở được công ty của ông Huỳnh Uy Dũng quy hoạch trong KCN Sóng Thần 3 sẽ chỉ có thời hạn sử dụng 50 năm, thay vì "lâu dài" như các tuyên bố trước đó.

Không đồng tình với quyết định này, ông Huỳnh Uy Dũng “đòi” UBND tỉnh Bình Dương bồi thường nếu như muốn thu hồi đất. Số tiền Bình Dương cần thanh toán lên tới 1.800 tỷ đồng (theo giá 3 triệu đồng mỗi m2).

Thêm vào đó, vụ ông Dũng lò vôi tố cáo đích danh ông Lê Thanh Cung đến nay vẫn còn căng thẳng khi đại gia này lại mới có đơn gửi đến Thủ tướng đề nghị phúc tra lại kết luận của Thanh tra Chính phủ.

Có thể nói, với các hành động “ngông” của mình, ông Huỳnh Uy Dũng không chỉ gây rúng động dư luận, mà từ nay về sau, ai nhắm đầu tư lớn vào Bình Dương cũng sẽ nghĩ về câu chuyện của ông Dũng lò vôi .

(Theo Đại Lộ)
http://vietnamnet.vn/vn/kinh-te/213918/van-han-2014-va-cu-huong-loi-bat-ngo-cua-dung-lo-voi.html
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Sáu, 26 tháng 12, 2014

Kể chuyện về Nguyễn Hữu Đang và hồ sơ Nhân văn Giai phẩm




Đây là lời kể vừa xuất hiện, tháng 12/2014, của một vị thuộc lớp đàn chú đàn bác của chúng tôi ở Đại học Tổng hợp Hà Nội (sau khi ra trường, ông về Bộ Công an). Ông cũng là người được xem là có "gắn bó" với hồ sơ của vụ Nhân văn Giai phẩm


Ông cũng là người "gắn bó" lâu năm với cụ Nguyễn Hữu Đang. Hơn nữa, hai người còn là đồng hương của nhau (bức thư viết năm 1990 ở trên, cụ Nguyễn Hữu Đang ghi địa chỉ "Vũ Công" là một nơi gần với quê nhà của Thái Kế Toại).

Chú ý: theo thuật lại ở dưới đây thì, Thái Kế Toại gặp Nguyễn Hữu Đang từ sau Đổi Mới. Như vậy, tạm xem là khoảng các năm cuối thập niên 1980. Chuyện thực sự về Nguyễn Hữu Đang thời mới về quê nhà ở Vũ Công cho đến Đổi Mới, qua trải nghiệm đúng thời điểm đó, thì hiện còn ở dạng bản thảo, chưa từng được công bố (khác với những bài viết của những tác giả chỉ gặp hay gặp lại Nguyễn Hữu Đang từ sau Đổi Mới).

Toàn bộ tư liệu ở entry này là lấy về từ Fb Thái Kế Toại. Thường thì trước đây, khi viết về Nhân văn Giai phẩm, ông hay dùng bút danh là Lê Hoài Nguyên.

---

Khi ông Đang ra tù năm 1973 ông vẫn còn bị quản chế 5 năm. Theo tiền lệ thời gian đó Bộ Công an phải nuôi ông mỗi tháng 15 đồng, cũng tạm đủ ăn. Sau đời sống khó khăn số tiền đó không đủ nuôi ông, công an Thái Bình xin thêm, Bộ giải quyết cho 50 đồng nhưng hàng tháng phải cho người trực tiếp lên đơn vị tôi lĩnh về.

Bắt đầu đổi mới, tôi được giao nhiệm vụ tham mưu cho cấp trên xem xét xử lý vụ Nhân Văn- Giai Phẩm.

Đầu tiên là phải đọc lại toàn bộ hồ sơ vụ án. Đó là một công việc nan giải vì hồ sơ của vụ án này nhiều hàng mét khối. Giấy tờ đã lưu trữ hàng ba chục năm, bản viết tay nhiều, bản đánh máy thì lèm nhèm. Tôi vừa làm công tác lãnh đạo đơn vị vừa tranh thủ đọc các tập hồ sơ cơ bản. Một cán bộ là anh Dương Thanh Hưởng giúp cho tôi. Khi đọc hồ sơ tôi hiểu được bản chất vụ án, phát hiện ra một số tình tiết mà một số bài báo, bản tổng kết sau này đã viết khác đi.


Việc thứ hai là phải rà soát lại toàn bộ nhân sự cùng quan hệ nhóm, quan hệ xã hội, tâm tư, sáng tác, thái độ chính trị của những văn nghệ sỹ đã tham gia phong trào Nhân Văn Giai Phẩm.


Việc thứ ba là đánh giá thái độ của các chính phủ, các cơ quan văn hóa, các đài phát thanh, truyền hình, báo chí các nước, các tổ chức quốc tế quan tâm đến vấn đề Nhân Văn- Giai Phẩm này. 


Kết qủa là tôi đã đề xuất cần thực hiện nhanh các biện pháp giải tỏa cho những văn nghệ sỹ đã tham gia nhóm Nhân Văn Giai Phẩm. Đó là biện pháp công tác tích cực nhất góp phần tháo bớt căng thẳng dư luận xã hội và văn nghệ sỹ, góp phần làm cho việc lợi dụng sự kiện Nhân Văn Giai Phẩm theo chiều hướng tiêu cực giảm đi. Đầu tiên là khôi phục ngay hội tịch cho những người đã bị khai trừ khỏi Hội Nhà văn, Hội Mỹ thuật. Thứ hai là cấp lương hưu cho hai ông Nguyễn Hữu Đang và Phùng Cung sau khi đi tù về không có lương, chỉnh lương hưu cho những người đã có lương nhưng quá thấp như Trần Duy, Trần Dần, Lê Đạt, Phùng Quán, Hoàng Cầm. Thứ ba là bình thường hóa việc in tác phẩm trên báo, xuất bản sách của các ông ở các nhà xuất bản. Thứ tư là dỡ bỏ những rào cản đối với nghề nghiệp, đời sống con cái các ông.


Nói thêm là cùng với số văn nghệ sỹ tham gia Nhân Văn Giai Phẩm còn có một số văn nghệ sỹ khác cũng bị ngừng in bài, in sách trong một thời gian dài như Nguyễn Dậu, Hồ DZếnh, Vũ Trọng Phụng, Hà Minh Tuân, Hoàng Tiến, Hoàng Yến, Trần Huyền Trân, Hoàng Công Khanh...


Do nhiệt tình của Ban Văn hóa Văn nghệ Trung ương và các Ban, Ngành khác công việc được tiến hành nhanh chóng.


Riêng ông Nguyễn Hữu Đang do thân phận đặc biệt của ông cần được giải quyết ngay. Tôi trực tiếp đi Thái Bình. Hội ý với anh Hội Phó Giám đốc phụ trách an ninh, anh Tuất Trưởng phòng nghiệp vụ, anh Tý trinh sát xong, không dùng xe con, tôi nhờ anh Tý lấy xe máy đèo tôi xuống Trường cấp hai Vũ Công. Tôi ở lại làm việc với ông Đang, đêm ngủ ở nhà ông Hiệu trưởng ngay gần nhà ông Đang. Gọi là nhà chứ đó trước là căn bếp của trường trong buổi sơ khai, sau trường có bếp tập thể to hơn để lại cho ông Đang ở nhờ. Sau khi tôi về giải tỏa cho ông, ông Phùng Quán, nghệ sỹ nhiếp ảnh Nguyễn Đình Toán mới về thăm ông được. Khung cảnh và cuộc sống của ông đúng như Phùng Quán đã kể trong bài viết Người tổ chức Lễ Độc lập 2-9. Gầm giường ọp ẹp của ông đầy vỏ chai rượu, vỏ bao thuốc lá ngoại ông nhặt từ Hà Nội để trao đổi với bọn trẻ con cóc nhái làm thức ăn. Ông có một đống tất cũ đã rách cũng xin từ Hà Nội sửa lại để đi. Lại còn một chiếc vại nữa xin nước gạo của nhà bếp để lắng lại rồi gạn lấy phần bột để nấu cháo mà ông gọi là xúp. Rau thì ông trồng lấy trên vạt đất nhỏ trên bờ ao. Với mấy thứ đó ông cho là tự đủ dinh dưỡng, cũng không cần chợ búa. 


Ông vẫn để dành được số tiền trợ cấp ít ỏi của công an chi mua thóc lúc đang mùa, bán lại vào lúc giáp hạt để sinh lời. Có lúc ông đã có hàng tấn thóc. Nhưng con cháu ông nghèo khó luôn luôn nhòm ngó tìm cách vay mượn của ông rồi ăn quỵt. Trong thư viết cho tôi ông gọi họ là lũ giòi bọ, lưu manh. Ông thích nói về tư tưởng của Lão Trang, triết học an nhiên tự tại thuận theo quy luật tạo hóa. Ông cũng không tỏ ra ân oán với vụ án mà ông chịu 15 năm tù giam, 5 năm quản chế sau mãn hạn tù. Tôi biết ông đã trải qua những trại giam khắc nghiệt như Phong Quang Lào Cai, Quyết Tiến Hà Giang nhưng ông chỉ nói đến việc lần ông bị tạm giam ở Nam Định do sang thăm người bạn tù bị một thanh niên 18 tuổi cưỡi trên lưng, bắt ông làm chó cắn gâu gâu.


Trở về công an Thái Bình tôi trao đổi mấy việc theo tinh thần chỉ đạo của Bộ như sau:

Ông Đang đang là một công dân bình thường cần phải đối xử với ông bình thường như những công dân khác. Không thể tiếp tục thực hiện biện pháp quản chế như cũ. Phải làm hộ khẩu cho ông, cấp chứng minh thư cho ông. Ông được tự do đi lại mà không cần có giấy phép của công an mới được ra khỏi đất Thái Bình. Bạn bè, người thân từ xa về thăm ông không phải trình báo xin phép. Ông được đọc và mượn sách báo tại Thư viện của tỉnh, có thể giúp cho công tác biên soạn lịch sử cách mạng của tỉnh.

Về Hà Nội tôi báo cáo với Bộ trưởng cần đề nghị Bộ Lao động Thương binh Xã hội làm lương hưu cho ông Đang chứ không tiếp tục dùng tiền nghiệp vụ nuôi ông nữa. Vì ông độc thân, không có nhà cửa chỉ còn anh em con cháu ruột ở Hà Nội nên bố trí cấp nhà cho ông và cho ông chuyển lên sống ở Hà Nội. Việc xếp lương hưu tiến hành tương đối nhanh, ông được hưởng mức trợ cấp như chuyên viên bậc 5 tương đương Vụ trưởng. Đối với một người như ông Đang số tiền lĩnh hàng tháng đó rất là có ý nghĩa và cũng là rất lớn so với số tiền công an nuôi ông.

Việc cấp nhà và chuyển lên Hà Nội thì lâu hơn nhưng cũng xong vào đầu những năm 90 với sự giúp thêm của ông Trần Quốc Hương, người đàn em của ông Đang thời Văn Hóa cứu quốc, ông Phan Diễn là cháu của ông Phan Khôi. Căn nhà ông được cấp ở cùng Khu nhà tập thể Hội Sân khâu đường Liễu Giai nhưng ông đã bán đi dọn về ở cùng người cháu tên Hà con ông anh ruột tại Khu tập thể nhà máy bánh mỳ Nghĩa Đô.

Ông Đang bắt đầu viết và đăng báo trở lại. Vaì bài báo về đời sống điện ảnh Hà Nội trước 1945, Việc tổ chức ngày Lễ Độc lập 2-9-1945, Hoạt động của Hội truyền bá quốc ngữ...một truyện ngắn về người yêu của ông ở Hà Nội Chiếc vòng Xơ men. Các báo cũng có bài viết và ảnh về ông.

Tôi nhớ trong thời gian chờ đợi làm thủ tục ông lên Hà Nội hay đạp chiếc xe đạp mi ni lại chỗ tôi. Người đương thời Hà Nội không thể biết được ông già bé nhỏ vẻ mặt khắc khổ, dáng điệu nhếch nhác đạp chiếc xe mi ni kia lại là Nguyễn Hữu Đang một thời nổi tiếng ở thành phố. Tôi đã trả lại cho ông bức ảnh giấy lụa còn rất đẹp về Kỳ đài Lễ Độc lập 2-9-1945 Hồ Chủ tịch đọc Tuyên ngôn độc lập. Ông Đang đứng trên lễ đài phía ngoài cùng bên phải.Một lần ông bị sưng bàn chân trái. Tôi đề nghị Bệnh viện 198 của Bộ Công an chữa cho ông. Ông Giám đốc Hoàng Tuấn mừng lắm nhận lời ngay vì mấy khi có dịp chữa bệnh cho con người đặc biệt đó. 

Trước khi vào viện anh em tôi đưa ông ra ăn phở Nam Ngư đang có tiếng. Mấy bà bán nước chè ngỡ ngàng khi ông nói chuyện phở ngày xưa. Ngày xưa Hà Nội không có phở gà như bây giờ. Chỉ có phở bò, phở chín, phở tái, phở nạm, phở gầu, phở nước trong, phở nước đục.. Họ cũng không thể biết rằng Nam Ngư là cái quán phở thời trước ông vẫn ăn, căn nhà cũ ông ở cũng ngay gần đây ngoài phố Yết Kiêu. 

Có lần tôi hỏi ông việc bối trí quay phim ngày 2-9-1945 ông bảo có đặt hiệu ảnh Hưng Ký ở Hàng Trống quay phim nhưng sau họ báo là phim bị hỏng, chỉ còn ít ảnh. Do bận nhiều việc to lớn hơn nên không ai nghĩ đến việc này. Ông cho biết hình như Đội biệt kích Con nai của người Mỹ cũng chịu trách nhiệm bảo vệ kỳ đài ngày 2-9 có thể có máy quay. Sau này khi Điện ảnh Công an làm bộ phim Điệp viên nhảy dù về nhóm các ông Lê Giản, Hoàng Đình Giong, Nguyễn Văn Ngọc, Trần Hiệu, Nông Văn Hoạt được Đồng minh thả dù xuống miền Bắc Việt Nam đầu 1945 liên lạc với Việt Minh đánh phát xít Nhật chúng tôi được Hội hữu nghị Mỹ Việt tặng một cuốn băng video có những thước phim quay về hoạt động của Đội Con nai ở chiến khu Việt Bắc. Tuy vậy đấy mới chỉ là giả thiết. Cho đến giờ người quay những thước phim nhựa cực kỳ quý giá về ngày lễ Độc lập 2-9-1945 vẫn còn là một ẩn số.

Ngày 20-11-1992 hai người em kết nghĩa là thi sỹ Phùng Cung và thi sỹ Phùng Quán tổ chức cho ông Lễ mừng thọ 80 tuổi tại nhà ông Phùng Quán ven hồ Tây. Hàng trăm người đủ các thế hệ già trẻ của văn nghệ sỹ Hà Nội, những người bạn cũ, ông Vũ Tú Nam Tổng thư ký Hội Nhà văn đã đến dự. Trong lời tâm sự ông nói:
Tôi không thể nói hết được sự cảm động của tôi trước cử chỉ thân ái, ân cần của các bạn đối với tôi hôm nay. Đúng là việc may mắn lớn mà trước đây tôi không thể nào nghĩ tới, không thể nào tưởng tượng được.

Sau khi ông Đang yên vị ở Hà Nội tôi chuyển sang phụ trách Điện ảnh Công an, một công việc thuần túy quản lý nghệ thuật ít có dịp gặp lại ông. Sau nhiều năm, có một lần trong dịp kỷ niệm gì đó của Hội Nhà văn ở Cung Hữu nghị Việt Xô tôi thấy ông đứng với các ông Nguyễn Đình Thi, Vũ Tú Nam... Tôi đi lại chào và bắt tay các ông. Ông Đang đã già, thần sắc ngơ ngác. Ông bắt tay mà hình như không nhận ra tôi...


Tháng 12-2014

---

Đọc thêm (tư liệu đã công bố từ năm 2010)

22/08/2010

Vụ Nhân văn – Giai phẩm từ góc nhìn một trào lưu tư tưởng dân chủ, một cuộc cách mạng văn học không thành
Lê Hoài Nguyên
imageNhà văn Lê Hoài Nguyên tên thật là Thái Kế Toại, nguyên Đại tá công an, công tác tại A25 (chuyên theo dõi văn nghệ sĩ và văn hóa) đã gửi tới NTT.ORG một chuyên luận dài về Nhân văn - Giai phẩm. Các bạn hãy đọc nó như đọc một “góc nhìn” về sự thật.
“Tác giả là người đã được đọc lại toàn bộ hồ sơ nghiệp vụ chuyên án NVGP, tiếp xúc với hầu hết thành viên chủ chốt của vụ án, một số văn nghệ sỹ tham gia vào đấu tranh với NVGP, tiếp xúc sớm nhất với các tài liệu nghiên cứu, các bài viết về NVGP từ nước ngoài, tiếp xúc tương đối đầy đủ các bài viết về các nhân vật NVGP ở trong nước từ sau đổi mới. Tác giả tin rằng NVGP không phải là một vụ án gián điệp phản động. Các văn nghệ sỹ trí thức NVGP không có mục đích lật đổ chế độ. Họ chỉ mong muốn ĐCSVN, Chính phủ sửa chữa những sai lầm và xây dựng ngay một nền dân chủ pháp trị, một đời sống tinh thần có tự do tư tưởng, một đời sống văn học nghệ thuật tự do sáng tạo”.
Lời giới thiệu của nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo

Xin được giới thiệu thêm: Lê Hoài Nguyên khi đang còn là cán bộ A25 cũng là người đã nhiệt tình cung cấp nhiều tư liệu quý cho GS Nguyễn Huệ Chi để ông viết bài tiểu luận “Vài cảm nhận văn học Việt Nam hải ngoại” đăng trên Tạp chí văn học của Viện Văn học số 2-1994 mà ngay sau lúc công bố, Văn phòng Trung ương Đảng đã có công văn xuống cho Viện yêu cầu cung cấp 10 số báo để các Ủy viên Bộ chính trị “xem xét”; sau đó bài viết đã trở thành đề tài thảo luận trên đài RFI ba buổi với ba học giả, nhà văn: Đặng Tiến, Tạ Trọng Hiệp, Trần Vũ, và cũng được đăng lại nguyên vẹn trên tạp chí Hợp lưu (Hoa Kỳ), và trích đăng trên tạp chí Văn học (Hoa Kỳ).
Vì mang tính cách một bài tổng kết về Nhân văn – Giai phẩm, không thể rút gọn,BVN sẽ đăng lại công trình của Lê Hoài Nguyên thành ba kỳ trong ba Chủ nhật liên tiếp để bạn đọc tham khảo.

I– Mấy vấn đề có tính phương pháp luận
Hiện nay còn tồn tại nhiều cách đánh giá về vụ Nhân Văn - Giai Phẩm. Có người cực đoan cho rằng cốt lõi đây là vụ án chính trị phản động không dính líu gì đến văn học, mà chỉ có một số anh em văn nghệ sĩ bị lôi kéo vào (1). Người thì cho là một vụ án văn học, oan sai về văn học (2). Tất nhiên là để bảo vệ các khuynh hướng đánh giá không phải dễ dàng, mà phản bác hoàn toàn cũng cần hết sức thận trọng.
Với tất cả những gì đã xảy ra nên coi đây là một trào lưu tư tưởng dân chủ, một cuộc cách mạng văn học không thành thì đúng hơn. Để đi tìm cách cắt nghĩa nó. Gìn giữ những gì nó đặt ra, nó để lại cho nền văn học nước nhà. Còn nếu coi là vụ án chính trị thì không cần tốn giấy mực để viết về nó trong lịch sử văn học làm gì.
Xem xét từ cốt lõi các vấn đề chủ yếu, tức là hồn cốt vụ án, tức là hình thái của nó, các điều kiện lịch sử của nó, các nhân vật của nó, các vấn đề nó đặt ra cho xã hội đều thực sự là tư tưởng và văn học.
Vài vấn đề về phương pháp luận:
* Đánh giá NVGP trong tiến trình tư tưởng Việt Nam từ 1945- 1948- 1954- 1960 cho đến 1986- và nay 2010. Tiến trình tư tưởng cách mạng VN có đặc điểm riêng, khi du nhập chủ nghĩa Mác-Lênin. Trước khi ngả hẳn, thuần hóa chủ nghĩa Mao, nó có trạng thái lưỡng phân và giao tranh giữa tư tưởng dân chủ với tư tưởng cộng sản, tư tưởng toàn trị với tư tưởng pháp quyền (3).
* Các vấn đề của NVGP đặt ra đều có nguồn gốc từ các thời kỳ trước đó, NVGP xuất hiện vào lúc hội đủ điều kiện cả khách quan và chủ quan. Vì mang tính tất yếu, những gì mà NVGP chưa làm xong thì các thế hệ sau sẽ tiếp tục phải làm.
* Đánh giá bản chất của NVGP còn phải dựa trên tập quán hành xử chính trị của hệ thống XHCN, của xã hội VN trên cơ sở thể chế hiện hành. Tức là không thể tin cậy vào các lượng thông tin chính thống, vì loại thông tin đó đã bị biến dạng và thường là không phản ánh trung thực, toàn diện bối cảnh xã hội lúc đó, không phản ánh đúng bản chất các sự việc. Cần phải tiếp cận NVGP từ nhiều phía, nhiều nguồn tư liệu khác nhau trong và ngoài nước, quan trọng nhất là thông tin của những người trong cuộc.
* Xem xét vụ NVGP phải lấy việc xem xét nội dung văn học của nó, cái nội dung ấy phản ánh tình trạng văn học lúc đó thế nào, chứ không lệ thuộc vào việc nhà nước công bố nó là chống đối, tức chống đối là không có giá trị văn học. Từ trước đến nay những người viết về NVGP gần như theo quan niệm này và đã không xem xét giá trị văn học của các sáng tác.
Vậy ta có thể tạm khái quát như sau:
NVGP trước hết là một trào lưu tư tưởng, một cuộc cách mạng văn học đòi hỏi dân chủ hóa ở miền Bắc Việt Nam năm 1954-1960 có nguồn gốc và đã xảy ra trong nội bộ Đảng CSVN, trong bộ máy Chính phủ Kháng chiến chống Pháp do Hồ Chí Minh lãnh đạo trong quá trình đi từ chủ nghĩa dân chủ tư sản đến chủ nghĩa cộng sản hình thái Mao Trạch Đông (1948–1954), bùng phát vào thời điểm đặc biệt 1955 trên các lĩnh vực triết học, tư tưởng, pháp luật, giáo dục, văn học nghệ thuật, báo chí chủ yếu trên các ấn phẩm báo Nhân Văn, Sáng Tạo, Trăm Hoa, Tự Do Diễn Đàn, Đất Mới - Chuyện Sinh Viên, Văn… và các sách dạng tạp chí Giai Phẩm Mùa Xuân, Giai Phẩm Mùa Thu, Giai phẩm Mùa Đông, Sách Tết, Vũ Trọng Phụng… do khởi xướng hầu hết là số văn nghệ sỹ, trí thức tài năng, có nhiều công lao trong kháng chiến chống Pháp, trong quân đội, bị đàn áp và xét xử công khai bằng một vụ án chính trị hoạt động gián điệp lật đổ chính quyền nhân dân với cái tên Nhân Văn - Giai Phẩm, tiếp theo là việc xử lý bằng các hình thức trừng phạt nội bộ với hàng trăm giáo sư, thày giáo, sinh viên, nhà văn, nghệ sỹ điện ảnh sân khấu, nhạc sỹ, họa sỹ, kiến trúc sư, phóng viên, xuất bản, cán bộ lãnh đạo, nhân viên một số bộ ngành, cơ quan nhà nước…
Sau khi bị đàn áp, NVGP không chết ngay lập tức, nó còn tồn tại dai dẳng trong một số sáng tác của Phùng Cung, Hoàng Cầm, Trần Dần, Lê Đạt, Hữu Loan…thậm chí cả Nguyễn Chí Thiện (4), nhóm Văn nghệ Chân đất ở Hà Nội những năm 70-80 (5), cho đến vụ Hoàng Cầm, Hoàng Hưng bị bắt năm 1983 (6) [tác giả nhầm, HC và HH bị bắt năm 1982 – BXVN], cho đến lúc Đổi mới, trao Giải thưởng Nhà nước, Giải thưởng Hồ Chí Minh cho một số nhân vật chủ chốt của vụ NVGP 50 năm về trước. Còn mục tiêu tự do tư tưởng, tự do sáng tác, dân chủ xã hội pháp quyền, cách tân nghệ thuật mà NVGP đã đặt ra thì vẫn đang là câu hỏi cho các thế hệ người Việt Nam cho đến hôm nay…
Để có thể xem xét vụ NVGP một cách thỏa đáng không bị ràng buộc về khía cạnh vụ án chính trị, tôi chọn cách nhìn nó với tư cách là một trào lưu tư tưởng, một cuộc cách mạng văn học.
II– Các tiền đề dẫn đến vụ NVGP
1- Bối cảnh chính trị Việt Nam 1945-1954 và những tác động của quá trình Mao hóa hệ tư tưởng phản ánh vào đời sống văn học nghệ thuật.
Phản ánh của các sử gia Việt Nam về Cách mạng Tháng Tám 1945 và giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp là một cách viết sử đơn giản, dường như chỉ lấy mục đích tường thuật các chiến thắng quân sự của chính phủ Hồ Chí Minh với nguồn sử liệu nghèo nàn, một phía, hoặc với những đánh giá không khách quan. Khác với các sử gia Việt Nam, các sử gia nước ngoài, chủ yếu là phương Tây, có nguồn tư liệu từ hai phía, nhất là hồ sơ của Pháp, Nga, Trung Quốc, hồ sơ các cuộc phỏng vấn trực tiếp các cá nhân tham gia các sự kiện lịch sử, từ chỗ đứng khách quan với phương pháp tư duy phức tạp hơn họ có thể nhìn ra tiến trình lịch sử đó dưới nhiều góc độ khác nhau đặc biệt là sự vận động của hệ tư tưởng ở những người cộng sản Việt Nam đã tạo ra tình trạng phân hóa nội bộ trong giới lãnh đạo và quần chúng, tạo ra các chính sách trước sau mâu thuẫn, các màu sắc chính trị đối ngoại, các vụ án kiểu như NVGP (7)…
Có hai điểm làm cho quá trình Mao hóa hệ tư tưởng ở VN dùng dằng ở trạng thái lưỡng phân trong một thời gian dài:
* Một là trong thời điểm 1945 Việt Minh giành được chính quyền trong tương quan cùng có nhiều lực lượng quốc gia yêu nước tham gia. VM không đủ thế lực quản lý đất nước khi họ chưa có được sự công nhận, hậu thuẫn của phe XHCN, HCM vẫn còn phải tính toán con đường tồn tại trong khối Liên hiệp Pháp. Xu thế này phản ánh trong chính bảnTuyên ngôn độc lập do HCM đọc tai Ba Đình ngày 2-9-1945 và trong thành phần chính phủ liên hiệp sau đó. Ngay cả khi cuộc chiến toàn quốc đã nổ ra, 19-12-1946, VM lập một chính phủ mới hoàn toàn là của họ nhưng vẫn còn một tỷ lệ lớn là thành phần trí thức do Pháp đào tạo, đã từng cộng tác với chính phủ Trần Trọng Kim, thuộc các đảng Dân Chủ và Xã Hội, trong đó có các nhân sự chủ chốt của các ngành tư pháp, y tế, giáo dục, xã hội, thậm chí cả một phần công an, quân đội nữa. Phương án muốn duy trì bộ mặt khả ái của chính sách cai trị để đi theo khối Liên hiệp Pháp còn được đẩy mạnh vào các thời điểm giữa năm 1947, giữa năm 1957 khi miền Bắc VN vẫn còn hy vọng hiệp thương thống nhất đất nước (8).
* Quá trình xây dựng nhà nước VNDCCH theo hướng dân chủ bị biến dạng và bị phá vỡ bởi sự thắng lợi của CNXH châu Á ở Trung Quốc. Không phải HCM không thấy hết mặt trái của chủ nghĩa Mao nhưng do rất cần nguồn viện trợ và do Stalin không mặn mà với ông, giao hẳn trách nhiệm cho cách mạng Trung Quốc giúp đỡ cách mạng Việt Nam, ông phải mở cửa cho các cố vấn cộng sản Trung Quốc mang theo chủ nghĩa Mao xâm nhập vào đất nước. Điều này dẫn đến sự lệ thuộc của cộng sản Việt Nam vào cộng sản Trung Quốc, tạo cơ hội cho Mao áp đặt hệ tư tưởng của ông ta lên Hồ Chí Minh và những người cộng sản Việt Nam (9).
Bề mặt của quá trình này thể hiện ở các mâu thuẫn trong nội bộ cộng sản Việt Nam, ở các cuộc chỉnh huấn, cải cách ruộng đất, tranh luận về văn học, luật pháp, tư pháp, ở các cuộc thanh trừng những trí thức kiên trì với tư tưởng dân chủ mới hoặc CNXH chân chính như Vũ Đình Hòe, Vũ Trọng Khánh, Nguyễn Hữu Đang. Lĩnh vực giải hóa luật pháp và NVGP là điển hình của quá trình đó.
Đối với văn nghệ do cộng sản Việt Nam lãnh đạo, Trường Chinh là người đã đưa các quan điểm văn nghệ của Mao Trạch Đông vào hoạt động Văn hóa cứu quốc từ năm 1943, kiên trì bảo vệ nó cho tới khi đổi mới, đã tạo ra rất nhiều vụ án văn nghệ khác, là nhân tố chính làm cho nền văn nghệ Việt Nam hoàn thành nhiệm vụ tuyên truyền nhưng tụt hậu so với sự phát triển chung của nhân loại.
Trong thời kỳ ban đầu Trường Chinh không thể chi phối được mọi hoạt động của VHCQ do đa số những người thực hiện là các trí thức có ảnh hưởng tư tưởng dân chủ tư sản. Do điều kiện kháng chiến, VM không thể thành lập bộ máy văn hóa riêng để áp đặt đường lối của mình. Mâu thuẫn đã bộc lộ ra giữa Nguyễn Hữu Đang và Trường Chinh ngay từ lúc tổ chức Hội nghị VHCQ toàn quốc tháng 10 năm 1946 và có thể nói kết thúc bằng Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ II xóa bỏ VHCQ thành lập Hội Văn nghệ Việt Nam hoàn toàn theo quỹ đạo của đường lối văn nghệ Maoist vào thời điểm tháng 7-1948 (10). Từ thời điểm này sự rạn nứt trong đội ngũ văn nghệ kháng chiến càng trở nên trầm trọng hơn. Nhiều người bắt đầu bỏ về thành, số lượng nhiều hơn khi các cuộc chỉnh huấn theo kiểu Mao mở ra (11). Số này sau trở thành lực lượng nòng cốt của văn nghệ Sài Gòn : Tạ Tỵ, Mai Thảo, Đinh Hùng, Vũ Hoàng Chương, Doãn Quốc Sỹ, Phạm Duy, Võ Phiến, Thanh Tâm Tuyền, Nguyên Sa, Dương Nghiễm Mậu, Duyên Anh… Trong số VNS ở lại vùng kháng chiến các cuộc tranh luận về tự do sáng tác và dân chủ vẫn còn diễn ra với các ông Trương Tửu, Nguyễn Mạnh Tường, Tô Ngọc Vân, Ván Cao, Sỹ Ngọc… Có khi trở thành đòn đánh nhau công khai như việc phê bình thơ không vần của Nguyễn Đình Thi, tranh lập thể của Văn Cao, Tạ Tỵ… Tuy vậy trong bộ máy của Chính phủ kháng chiến HCM vẫn không có Bộ Văn hóa, Hội Văn nghệ đã phải làm thay chức năng cho bộ này cho tới tháng 2-1955. Đa số văn nghệ sĩ trong kháng chiến đều gia nhập quân đội và thuộc quản lý của Phòng Văn nghệ quân đội với các chính sách văn nghệ được quân sự hóa dưới sự lãnh đạo của các chính ủy.
Hy vọng về một cuộc sống thoải mái hơn về vật chất và tinh thần  sau khi hòa bình lập lại bị héo úa về cuộc Cải cách ruộng đất và những khó khăn trong đời sống, do cách thức quản lý xã hội như hộ khẩu, cải tạo tư sản, thương nghiệp quốc doanh… Trong văn nghệ đó là tệ lãnh đạo chính trị thô bạo, ép buộc tuyên truyền một chiều, tệ bè phái cơ hội, tác phong lãnh đạo hống hách, sáng tác đơn giản sơ lược …
2– Bối cảnh quốc tế, cuộc cách mạng dân chủ lần thứ nhất của phe XHCN tác động đến CMDC ở Việt Nam.
Sau 1945 không phải Liên Xô đã hoàn toàn chi phối được chính quyền  các nước Đông Âu. Ở một vài nước vẫn còn chính phủ DCTS. Đến đầu những năm 50 các cuộc chính biến cộng sản ở các nước này nổ ra lật đổ các chính phủ DCTS thì mới có được một hệ thống XHCN thuần nhất theo sự lãnh đạo của Liên Xô.
Cũng như ở Liên Xô toàn bộ các nước XHCN dưới sự chỉ đạo của Stalin đã bộc lộ các mâu thuẫn gay gắt trong nội bộ lãnh đạo các ĐCS, giữa nhân dân, trí thức, văn nghệ sĩ với ĐCS về các vấn đề pháp quyền dân chủ… Chỉ đợi đến lúc Stalin chết thần tượng Stalin mới bị hạ bệ, bị kết tội về những tội ác đã gây ra trong thời kỳ cai trị Liên Xô bằng chế độ độc tài và các cuộc thanh trừng nội bộ đẫm máu. Trong Đại hội lần thứ XX Đảng Cộng Sản Liên Xô tháng 2-1956, Tổng Bí thư Khrútsôp đã đọc báo cáo tổng kết thời Stalin và đề xuất chiến lược mới cho phe XHCN chung sống hòa bình cũng có nghĩa là mở ra cho các nước xã hội chủ nghĩa một thời kỳ dân chủ (12).
Không phải đợi đến khi Khrútsốp chính thức tuyên bố, ở các nước XHCN đều đã có các yếu tố đòi hỏi phải cải cách dân chủ. Nhưng tiếc rằng khi hoa dân chủ nở rộ, ngọn sóng dân chủ đã làm cho các ĐCS ở đây lo sợ về nguy cơ khủng hoảng. Các phần tử bảo thủ đã tìm mọi cách làm cho những người khởi xướng, ủng hộ cải cách do dự rồi lật ngược thế cờ. Một số cuộc nổi dậy bị đàn áp, các văn nghệ sĩ cấp tiến bị xử lý, thậm chí bị kết tội hoạt động lật đổ chính quyền nhân dân. Có thể gọi đó là Cuộc cách mạng dân chủ XHCN lần thứ nhất. Sau hai mươi năm cuộc Cách mạng dân chủ lần thứ hai đã nổ ra cũng khởi đầu từ Liên Xô với ngọn cờ Công khai - Cải tổ của Gorbachốp Tổng Bí thư ĐCSLX và đã dẫn đến sự sụp đổ của hệ thống XHCN .
Vậy cuộc cải cách dân chủ lần thứ nhất ở Việt Nam chính là Phong trào Nhân Văn Giai Phẩm, một trào lưu tư tưởng, trong đó theo truyền thống Á Đông, đặc trưng cơ bản của nó là phản ứng và xử lý về ngôn từ chứ không phải là một vụ án gián điệp, một vụ bạo loạn. Tất nhiên khi yêu cầu cách mạng này đặt lên vai văn học thì từ bên trong văn học xuất hiện những yêu cầu thay đổi về hình thức để đáp ứng yêu cầu xã hội.
3- Bối cảnh văn nghệ miền Bắc 1945-1954.
Nền văn nghệ Việt Nam vốn từ một nền văn nghệ nho giáo bắt đầu được hiện đại hóa với chữ quốc ngữ, đỉnh cao là Thơ Mới và Tự Lực Văn Đoàn. Hai phong trào văn học này làm cho văn học Việt Nam vươn tới một nền văn học có các phương pháp sáng tác của văn học hiện đại thế giới cả về ngôn ngữ, nhân vật, thi pháp biểu hiện, chủ nghĩa cá nhân…
Nếu nói về tiến trình văn học, Cách mạng Tháng Tám 1945 đã làm gián đoạn, nếu không nói là đứt đoạn quá trình hiện đại hóa của văn học Việt Nam. Ở đây không nói toàn bộ nền văn học mà là bộ phận văn học do những người cộng sản Việt Nam thực hiện quản lí. Các chính sách về VHVN của ĐCSVN bị ảnh hường nặng nề chủ nghĩa Mao, sau nữa là chủ nghĩa Lênin, Stalin, đã đoạn tuyệt gần như hoàn toàn với quá khứ nhất là bộ phận di sản văn nghệ quan trọng nhất, 1930-1945, đã tuyệt đối hóa chức năng tuyên truyền, lấy quần chúng công nông binh làm mục tiêu, làm thước đo giá trị của văn nghệ, đã thủ tiêu mọi ý tưởng thể hiện nghệ thuật bằng ký hiệu nghệ thuật của người nghệ sĩ. Chính vì vậy người ta mới cường điệu việc tìm đường, nhận đường cho văn nghệ sĩ, gọi nó cuộc lột xác đau đớn, là cuộc sống mới với câu tuyên ngôn giết chết cái cũ trong con người họ.
Chính vì thế, văn nghệ kháng chiến đã đánh mất nhiều tài năng trong các cuộc chỉnh huấn, các cuộc phê bình nội bộ tâm hồn tiểu tư sản hoặc phê bình mạt sát các loại hình nghệ thuật hiện đại. Một bộ phận đáng kể trí thức, văn nghệ sĩ có tư tưởng tự do trong đó đa số là gốc Bắc đã ly khai văn nghệ kháng chiến. Còn các văn nghệ sĩ tiền chiến thì co mình lại, hoang mang không biết viết cái gì, vẽ cái gì. Lớp văn nghệ sĩ do công nông binh sinh ra chưa thể trở thành những cây bút có tầm vóc. Nhìn vào chất lượng các Giải thưởng văn nghệ trong kháng chiến thì thấy rõ điều đó, có thể gọi là xuất sắc với vài bài thơ, một vài tiểu thuyết có phần đơn giản.
Bước sang giai đoạn hòa bình trong khi bộ máy quản lí vẫn còn đang theo quán tính cũ, thì cuộc sống đã đặt ra những vấn đề mới.
Cách mạng đã chuyển giai đoạn. Thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội, ai cũng biết là một thời kỳ có nhiều biến chuyển sâu sắc triệt để hơn tất cả các thời kỳ cách mạng trước. Cuộc sống thay đổi rất nhanh và một điều làm cho nhiệm vụ của nhà văn trở nên phức tạp hơn, là công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc còn đương tiến hành, khó phân biệt trong đó cái gì đương xây dựng chưa xong, và cái gì đương đổ sụp…
Như Phong- Nhìn lại bước đường đã qua,
(Tuyển tập Như Phong)
Trong bối cảnh văn học riêng của miền Bắc như thế, trong bối cảnh văn học thế giới, văn học Sài Gòn đang chuyển sang các chủ nghĩa hiện đại, bối cảnh cuộc cách mạng dân chủ của toàn phe XHCN, tất các văn nghệ sĩ phải đặt ra việc cách tân văn học cả nội dung và hình thức. Đặc biệt của NVGP là sứ mệnh cải cách lại do chính những trí thức, văn nghệ sĩ con đẻ của cách mạng, những người đã ở tuyến đầu trong cuộc kháng chiến chống Pháp khởi xướng.
Nếu cố thoát ra khỏi lối mòn, nhìn theo tiến trình phát triển văn học thế giới, có thể thấy rằng ở Việt Nam nhóm thơ Xuân Thu Nhã Tập của Nguyễn Xuân Sanh đã báo hiệu sự bế tắc của chủ nghĩa lãng mạn, chủ nghĩa hiện thực phê phán để chuyển qua chủ nghĩa siêu thực. Đó không phải là dòng văn học tiêu cực mà là tích cực theo ý nghĩa nó là một cố gắng của những nhà văn đi tìm lối thoát đưa văn học Việt Nam tiến lên.
Tiếp theo, mọi người còn nhớ, sau trong những ngày mấp mé bờ vực chiến tranh của nước Việt Nam mới, tiếp tục xuất hiện nhóm thơ Dạ Đài của Trần Dần, Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng, Trần Mai Châu, Vũ Hoàng Địch… Trong bản Tuyên ngôn tượng trưng nhóm Dạ Đài đã nói rõ thái độ phủ định văn học giai đoạn cũ và không giấu diếm ý đồ muốn tạo ra một dòng văn học mới:
Vì thế, cái thi ca cổ rích, cái thi ca tĩnh của tiền nhân ngâm vịnh, của bọn lãng mạn khóc bạn chẳng làm chúng ta quên, ví chẳng có thể đẩy đưa chúng ta theo những nhịp điệu bồng bềnh của bản thanh âm hoàn vũ.
Thế cho nên chúng tôi – thi sĩ tượng trưng – chúng tôi sẽ đón về đây tất cả những thế giới quay cuồng, chúng tôi sẽ bắt một vầng trăng phải lặn, một ánh sao phải mờ đi, một chế độ phải tàn vong và một bài thơ phải vô cùng linh động.
Trần Dần thủ lĩnh của nhóm Dạ Đài sau mười năm, ở một ngã ba, ngã tư thời đại, lại đã được trời đất cho nguồn cảm hứng về một cuộc lột xác cho nền văn học.
Hẳn là Trần Dần đã mang cái khát vọng sôi sục ấy vào các trường ca Cách mạng Tháng Tám, Đi - Việt Bắc, Nhất định thắng… và lôi cuốn các người bạn cùng theo. Trong nhật ký Ghi 1954 ông viết:
Lúc tôi muốn một thứ Thơ dễ dãi. Lúc một thứ Thơ không có vần. Lúc một thứ Thơ như một hạt ngọc. Lúc một thứ Thơ kể chuyện. Lúc một thứ Thơ gồ ghề. Lúc một thứ Thơ hiền lành, có cái khỏe của những bắp thịt hồng. Lúc một thứ Thơ na ná như của anh lính, nó mát mà lành, nó hiền mà khỏe, nó thực tế. Lúc là một thứ Thơ na ná như bài nói của anh cán bộ, nó đả thông, nó giục giã, nó lý luận.
Tôi thích Thơ thời sự, theo sát cái hồi hộp, lo lắng của Đảng tôi, dân tôi, triệu triệu quả tim dân chúng và quân đội, chiến sĩ và cán bộ, lãnh tụ và quần chúng.
Tôi lại cũng thích Thơ không thời sự, Thơ bao trùm đất nước và thời gian, Thơ ăn lấn sang mọi thế kỉ, và Thơ nhập cả vào cái biện chứng bao la của sự vật.
Vì vậy bây giờ tôi muốn một thứ Thơ nào đó lấy đề tài ngay ở nhịp đập trước mắt của trái tim dân tộc Việt Nam. Nhưng trong đề tài đó tôi đào mãi đào mãi tới khi tôi tìm thấy quả tim Nhân Loại. Đó là thực sự mà cũng là ý muốn của tôi. Quả tim dân tộc tôi có nghĩa là quả tim Nhân Loại. Nhịp đập của nó là nhịp đi của Biện Chứng. Cái ngày hôm nay là dồn ép của hàng triệu năm về trước và mở ra triệu thế kỷ về sau. Tôi muốn một thứ Thơ nào đó vạch ra được sự thực đó. Hạt bụi, sợi tóc mây là cả một vũ trụ. Một khoảnh khắc là cả lịch sử của trần gian. Một thắc mắc của em là tất cả lo âu nhân loại.
Qua những dòng này không ai có thể nghĩ đó là một quan niệm suy đồi. Cách mạng đã cho Trần Dần một quan niệm thơ ca mới mẻ và rất biện chứng, rất tích cực đối với cuộc sống.
Như vậy có lẽ trước tiên NVGP đi từ cảm hứng của một cuộc cách mạng văn học, bị kích thích bởi thời cuộc Việt Nam 1954-1956. Tuy vậy, vẫn phải nói thêm rằng nếu không có cái thời cuộc đó sẽ không có NVGP!
Trong NVGP trào lưu tư tưởng chính trị và trào lưu tư tưởng văn học gặp nhau đã tạo ra một sức mạnh xã hội to lớn làm chính quyền nhìn thấy một nguy cơ đe dọa nguy hiểm cần phải loại bỏ hơn là để nó tồn tại. Lúc ấy miền Bắc Việt Nam chưa đủ điều kiện để làm một cuộc cải cách dân chủ, một cuộc cải cách văn học.
Ba mươi năm sau, đứng trước nguy cơ khủng hoảng, ĐCSVN mới đưa ra sách lược đổi mới. Trường Chinh đã làm được việc khởi xướng đổi mới, nền kinh tế đất nước đã có ít nhiều thay đổi, nhưng những di sản văn hóa Maoist mà ông ta đã áp đặt lên đất nước từ 70 năm nay dù đang hoen gỉ nhưng bộ khung thì vẫn còn tù hãm đời sống tinh thần của dân tộc Việt Nam.
4- Các điều kiện nảy sinh NVGP
Mặc dù chủ nghĩa Mao đã được chính thức thừa nhận trong cương lĩnh ĐCSVN tại Đại hội lần thứ II tháng 2-1951, nhưng do các điều kiện  của thời kỳ đó, nội bộ lãnh đạo Đảng vẫn còn bị ràng buộc bởi các sự kiện sau:
Họ còn đang choáng váng về hậu quả của sai lầm do CCRĐ gây ra, Đảng phải công khai xin lỗi nhân dân, Tổng Bí thư Trường Chinh phải từ chức, một số cán bộ lãnh đạo CCRĐ bị kỷ luật (13).
Họ còn bị ràng buộc những điều kiện để hy vọng tiếp tục quá trình hiệp thương thống nhất đất nước và giành thắng lợi trong cuộc Tổng tuyển cử cho nên phải cố gắng tạo bộ mặt sạch sẽ cho chính thể VNDCCH như tiếp tục sử dụng nhiều nhân sĩ trí thức trong Chính phủ, Quốc hội, ban hành các đạo luật có tính chất dân chủ cởi mở như Luật tự do báo chí, tự do xuất bản, tự do hội họp, tự do lập hội… Cho đến giữa năm 1957 HCM vẫn còn tính đến khả năng Việt Nam xin gia nhập Khối Liên hiệp Pháp (14).
theo Blog Giao/
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Báo các cụ mần lông quan tham:

 Bàn tay không che khuất nổi mặt trời?
Thiếu tướng Hồ Quốc Việt, cựu Giám dđốc Công an tỉnh Bến Tre (1)
Thiếu tướng Hồ Quốc Việt, cựu Giám đốc Công an tỉnh Bến Tre.
Thời gian qua, Báo Người cao tuổi đăng loạt bài phản ảnh nhiều tiêu cực xảy ra tại tỉnh Bến Tre nhưng chưa được xử lí như: “Vườn phố Thường vụ”, “Ban Thường vụ Tỉnh ủy bao che cho kẻ phá 25,8ha rừng đặc dụng”, “Một đường dây làm hộ chiếu giả”, “Nhiều vụ án giết người không bị khởi tố hình sự”, v.v… liên quan đến ngành Công an Bến Tre vẫn đang bị bưng bít, ém nhẹm… Ai bảo kê cho các loại tội phạm trên? Báo Người cao tuổi tiếp tục đăng chân dung một vị tướng công an từng gây ra nhiều tai tiếng ở tỉnh này…
Giai đoạn 1997 – 2003, ông Hồ Quốc Việt giữ chức Trưởng phòng Xuất nhập cảnh Công an tỉnh Bến Tre cấu kết với Hồ Văn Trí, hội viên Hội Luật gia huyện Thạnh Phú (Bến Tre) làm hàng loạt giấy tờ giả tiếp tay cho nhiều kẻ phạm tội xuất cảnh ra nước ngoài trái phép. Sau khi phát hiện hàng chục trường hợp, Sở Tư pháp Bến Tre có Văn bản số 972/CV-HT-SYP đề nghị các cơ quan bảo vệ pháp luật xử lí hình sự đối với ông Hồ Văn Trí, trong đó có hàng chục trường hợp nộp hồ sơ ở Tổng Lãnh sự quán Nhật Bản tại TP Hồ Chí Minh bị phát hiện trả về. Tại xã An Nhơn, huyện Thạnh Phú, nhóm tội phạm này lập khống rất nhiều hồ sơ giả cho các đối tượng từng phạm tội ở các tỉnh khác đến để được “xuất cảnh lậu” ra nước ngoài. Cứ mỗi bộ hồ sơ, Hồ Văn Trí thu từ 200 triệu đến 500 triệu đồng. Tất cả các chi tiết cụ thể về đường dây làm hộ chiếu giả đã được Báo Người cao tuổi đăng trên số 77 (1394) ra ngày 14/5/2014. Thời kì 1997 đến 2003, khi ông Hồ Quốc Việt còn giữ chức Trưởng phòng Xuất nhập cảnh Công an tỉnh Bến Tre đã xảy ra những hành vi phạm pháp nghiêm trọng như vậy. Kể từ 2004 đến 2013, ông Việt lên Phó Giám đốc, rồi Giám đốc Công an tỉnh Bến Tre thì số hồ sơ giả này còn gấp bội, nhưng ông ta bưng bít hết? Những năm gần đây, có một phụ nữ ở lộ Hàng Keo thuộc phường Phú Khương, thành phố Bến Tre tố cáo ông Hồ Văn Trí cấu kết với ông Hồ Quốc Việt nhận làm hồ sơ giả cho bà xuất cảnh sang Mỹ với giá 10.000 USD, ứng trước 8.000 USD, sau hai năm không xuất cảnh được, người phụ nữ này đòi lại tiền thì Trí mới trả lại 2.000 USD, số tiền còn lại 6.000 USD, Trí hứa đòi lại từ ông Việt sẽ trả lại sau. Những hành vi vi phạm pháp luật hình sự của nhóm người này nghiêm trọng như vậy, nhưng Hồ Văn Trí vẫn được Công an tỉnh Bến Tre tạo điều kiện cho vợ con ông ta xuất cảnh sang định cư ở Úc. Còn Trí hiện vẫn sống nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật ở huyện Thạnh Phú, Bến Tre? Nếu như Hồ Văn Trí bị khởi tố thì đường dây làm hộ chiếu giả ở tỉnh Bến Tre sẽ lộ diện và bị bóc trần. Trao đổi với chúng tôi, ông Nguyễn Quốc Bảo, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Bến Tre cho rằng: “Hiện tại, ông Hồ Quốc Việt đang điều trị… bệnh, sau khi lành bệnh, Tỉnh ủy sẽ họp xử lí”. Nhiều vị cán bộ lão thành bức xúc: “Căn bệnh của ông Việt như ma theo, hễ thấy đoàn thanh tra nào đến thì lặng lẽ… xin nhập viện, có lẽ suốt đời ông này chẳng có loại thuốc nào chữa nổi!”.
Chuyện ông Giám đốc và sĩ quan nghèo Công an tỉnh Bến Tre…
Nhiều cán bộ, sĩ quan ngành Công an Bến Tre bức xúc chuyện ông Hồ Quốc Việt lên tỉnh Bình Phước xin đất sản xuất cải thiện đời sống cho ngành, nhưng ông ta và Hồ Văn Trí chiếm đất, lập trang trại rồi bán. Thời gian trước, ông Hồ Quốc Việt đã bị kỉ luật, nhưng khi khai lí lịch để được đề bạt lên Thiếu tướng thì ông ta cố tình giấu thông tin này. Căn dinh thự của ông Hồ Quốc Việt tọa lạc tại Phường 7, thành phố Bến Tre được dư luận đánh giá thuộc loại “á hậu” của tỉnh (chỉ đứng sau khu biệt dinh của ông Trần Văn Truyền). Nó chiếm lĩnh trên 8 lô đất, rộng hàng nghìn mét vuông nằm ngay vị trí 3 mặt tiền. Đây là khu đất được phân ra thành 47 lô, UBND tỉnh Bến Tre dành riêng bán ưu tiên cho số sĩ quan nghèo trong ngành Công an Bến Tre chưa có nhà ở, đang tạm trú tại khu tập thể Phường 3, thành phố Bến Tre bị giải tỏa trắng. Theo ông Nguyễn Thái Xây, cựu Chủ tịch UBND tỉnh Bến Tre, đó là một chủ trương đúng đắn của tỉnh, nhưng sau khi ông Xây nghỉ hưu thì Giám đốc Công an tỉnh Hồ Quốc Việt đề nghị với ông Huỳnh Văn Be, Bí thư Tỉnh ủy đem rao bán giá cao. Các sĩ quan nghèo không đủ tiền mua đất cất nhà. Lợi dụng “thành tích hiến kế” này, ông Việt mua một lúc 6 lô đất cất dinh thự. Tuy chưa có chủ quyền đất, ông Việt bất chấp các quy định của luật pháp, tự động xây dinh thự, hai năm sau đó mới tiến hành hợp thức hóa chủ quyền đất và giấy phép xây dựng. Nhà của ông Giám đốc Công an tỉnh nằm ở giữa, một bên là trụ sở Công an Phường 7, một bên là trụ sở Công an tỉnh. Giữa trụ sở Công an Phường 7 và nhà ông Việt có một con đường đổ bê-tông nhựa, Thiếu tướng Hồ Quốc Việt sử dụng thứ quyền lực dùng hàng rào bê-tông và cửa sắt chắn ngang chiếm đoạt luôn đường đi công cộng của cả khu dân cư. Hành vi ngang ngược và trắng trợn như vậy vẫn được Phó Giám đốc Sở Xây dựng tỉnh Nguyễn Văn Tâm cùng một số cán bộ chủ chốt của UBND Phường 7 và UBND thành phố Bến Tre “ngậm bồ hòn làm ngọt” kí giấy tờ hợp thức hóa hành vi phạm pháp chiếm đất công thổ của ông Giám đốc Công an tỉnh làm của riêng? Khi con đường công cộng bị ông Việt chiếm dụng, khu đô thị Sao Mai tại Phường 7 lại phải mất diện tích hơn một lô đất để mở đường cho cả khu dân cư ở phía sau lưng nhà ông Giám đốc. Như vậy, khu dinh thự “á hậu” của ông Việt chiếm hơn 8 lô đất để có 3 mặt tiền, nguy nga tráng lệ.
Là kẻ cắp còn già mồm?
Với nhiều tiêu cực của ông Hồ Quốc Việt bị báo chí phanh phui, nhiều vị Đại tá công tác trong ngành Công an Bến Tre đã nghỉ hưu sinh hoạt chung Tổ đảng với bà Phạm Thị Hồng (vợ ông Việt) đề nghị Chi bộ làm rõ từng vấn đề tiêu cực báo nêu. Bà Hồng nhiều lần phát ngôn thể hiện bản chất vô văn hóa: “Cái thằng Hạnh Bắc Kỳ làm ở Báo Người cao tuổi, cấu kết với mấy thằng cha già nghỉ hưu mất nết ở Bến Tre đưa lên báo bôi xấu chồng tôi!”. Trong quá trình tác nghiệp nhiều bài tiêu cực ở Bến Tre, nhà báo, luật sư Nguyễn Chính Hạnh không được tòa soạn phân công thực hiện mà là một nhóm phóng viên điều tra do vậy hành vi phát ngôn lỗ mãng của bà Hồng đã xúc phạm tới danh dự, nhân phẩm và uy tín của nhà báo Nguyễn Chính Hạnh. Lần theo thông tin của các cụ cao niên cung cấp, chúng tôi đã có cuộc trao đổi với nhiều cán bộ từng là thủ trưởng đơn vị của bà Hồng công tác ngày xưa. Đề cập đến bản chất của bà Hồng, nhiều cụ khẳng định: “Vợ chồng nhà nó thì không còn chỗ để nói, đúng là nồi nào, vung nấy”. Trước đây, khi bà Hồng là Trung úy Cảnh sát thì ông Việt chồng bà là Đội trưởng, cả hai đều công tác ở Phòng Cảnh sát Xuất nhập cảnh Công an Bến Tre. Bà Hồng từng làm hồ sơ xuất cảnh ra nước ngoài cho nhiều trường hợp, trong đó có một trường hợp tố cáo bà Hồng nhận hối lộ 3 chỉ vàng. Sau khi điều tra, xác minh và đem ra cơ quan họp kiểm điểm thì bà Hồng thiếu thành khẩn. Xét thấy hành vi lừa đảo người dân để nhận hối lộ của bà Phạm Thị Hồng gây ảnh hưởng xấu đến phẩm chất, danh dự, uy tín của Công an, nên Trưởng phòng Cảnh sát Xuất nhập cảnh Công an Bến Tre đã buộc bà Hồng phải nghỉ việc. Ấy vậy mà hiện tại bà Hồng vẫn có sổ lương hưu và không hề bị xử lí kỉ luật về đảng?          (Kì sau tiếp)
 Trường Sơn – Thiên Thanh – Hải Đăng

Phần nhận xét hiển thị trên trang