Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Bảy, 6 tháng 12, 2014

QUÁ TRỄ ĐỂ KHÉP TỘI Vụ Hồ Duy Hải: CÒN QUÁ SỚM ĐỂ NÓI HỒ DUY HẢI VÔ TỘI

 Vu Hoang Son 

Cuteo@

Chúng ta sẽ vật vã đau đớn nếu như chứng kiến cả một nền tư pháp cùng báo chí, luật sư để một người vô tội chết oan.

Trong thâm tâm, tôi mong rằng Hồ Duy Hải vô tội, kẻ thủ ác thực sự sẽ bị bắt và những người làm oan sai (nếu có) cũng sẽ phải trả giá.

Tin Hồ Duy Hải được hoãn thi hành án tử hình vào phút cuối làm nhiều người vui. Nhiều người vui vì tin rằng Hồ Duy Hải vô tội và thoát được cái chết "oan uổng". Không ít kẻ vui vì qua đó làm dầy thêm thành tích chống nhà nước bằng những chứng cứ thuyết phục.

Theo quyết định thi hành án (THA) tử hình do chánh án TAND tỉnh Long An đã ký trước đó thì ngày 5/12/14, Hội đồng THA tử hình tỉnh Long An sẽ THA đối với tử tội Hồ Duy Hải, 29 tuổi, ngụ ấp 1, xã Nhị Thành, huyện Thủ Thừa, Long An. Nhưng vào “phút 89”, Phó Chánh án TAND tỉnh này – Thẩm phán Lê Quang Hùng đã thay mặt chánh án ký quyết định hoãn THA tử hình đối với Hải. Theo nguồn tin chính thức, quyết định này được thực hiện theo đề nghị của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang.



Giải thích về "văn bản lạ" chứa đựng 39 từ, kèm chữ ký có đóng dấu đỏ có giá trị tạm thời hoãn thi hành án tử đối với Hồ Duy Hải, ông Lê Quang Hùng kể lại buổi gặp với gia đình Hồ Văn Hải vào ngày 4/12/14, ông Hùng nói: Khi đó người thân Hải tập trung trước tòa án, để tránh xảy ra các tình huống pháp lý Tòa án đã mời một người đại diện vào trong. Người này đã đưa ra 3 yêu cầu: (1) Hoãn thi hành án đối với Hồ Duy Hải; (2) Trả tự do cho Hải; (3) Tòa án phải cung cấp chứng cứ theo 4 nghi ngờ mà luật sư đã đề ra. Tuy nhiên Tòa án chỉ có thể giải quyết đề nghị thứ nhất, vì 2 đề nghị còn lại không thuộc thẩm quyền. Nghe vậy gia đình Hải đã đề nghị phải viết vào phía sau lá đơn. Sau khi viết xong gia đình nói cảm ơn và nhẹ nhàng ra về. Ông Hùng không nói rõ tình huống pháp lý có thể xảy ra là tình huống nào, nhưng chúng ta đều hiểu đó là áp lực từ phía gia đình nhà Hồ Duy Hải. (Xem hình trên: Mặt trước và mặt sau lá đơn của gia đình Hồ Duy Hải. Đáng tiếc, báo chí chỉ đưa mặt sau).

Sau sự kiện này, nhiều người đã nghĩ, Hồ Duy Hải đã thoát án tử hình, và cho rằng, Hải vô tội.

Theo tôi, còn quá sớm để tin rằng, Hồ Duy Hải vô tội.

Phải nói rằng, còn rất nhiều mâu thuẫn trong vụ án không được trả lời, và còn nhiều tình tiết chưa được làm sáng tỏ. Vì thế, hoãn thi hành án để có thời gian xem xét lại là đúng. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có tình tiết có khả năng lật ngược được tình thế minh oan được cho Hồ Duy Hải. Mặc dù báo chí vẫn cố gắng chứng minh bằng cách chỉ ra những thứ được gọi là "sai sót" trong quá trình điều tra.

Thực tế là, báo chí mới chỉ tập trung vào những chi tiết có lợi cho Hồ Duy Hải (không đưa được chứng cứ gỡ tội), nhưng báo chí lại lờ đi những chi tiết bất lợi chứng minh Hải phạm tội như "lời khai về mua bán vàng"; kết quả "thực nghiệm điều tra" là hoàn toàn khớp với lời khai nhận của anh ta. Những gì diễn ra tại buổi "thực nghiệm hiện trường" là phù hợp với diễn biễn của vụ án, và luật sư bào chữa được chứng kiến cũng đã phải công nhận điều này.

Từ một góc nhìn khác, các bạn cũng nên nhớ, chính Hồ Duy Hải đã nhận mình là người giết hai cô gái ở Bưu điện Cầu Voi, quá trình thực nghiệm, có sự chứng kiến của luật sư bào chữa, mọi hành động của Hải là hoàn toàn phù hợp với diễn biến của vụ án. Cũng cần nói thêm, bản thân Hải có một quá khứ bất hảo đến mức, mọi người có quyền tin vào những gì mà Hải đã khai.

Một diễn biến khác là, sau khi bản án phúc thẩm có hiệu lực, Hồ Duy Hải đã gửi đơn đến Chủ tịch nước xin ân xá, nội dung đơn của Hải thể hiện rằng, anh ta lớn lên trong gia đình không có cha, thiếu sự quản lý giáo dục, ăn chơi nợ nần và giết cùng lúc hai mạng người. Hải cũng trình bày rằng bên ngoại nhà Hải là gia đình có công với cách mạng nên mong Chủ tịch nước tha cho tội chết. Tuy nhiên, sau đó Chủ tịch nước đã bác đơn xin ân xá của Hải.

Thử hỏi rằng, một người không có tội, vậy sao phải viết đơn xin ân xá?

Ngay sau khi Chủ tịch nước bác đơn xin ân xá của Hải, Viện KSND tối cao cũng đã rất thận trọng cử một kiểm sát viên cao cấp gặp Hồ Duy Hải ở trại giam để hỏi về vụ án. Tại cuộc gặp gỡ này, Hải thừa nhận mình giết người, hiện nay rất ân hận với việc đó và có nguyện vọng mong Chủ tịch nước tha cho tội chết để có cơ hội làm lại từ đầu.

Cáo trạng trước đó cho biết tối ngày 13/1/2008, Hồ Duy Hải đến Bưu điện Cầu Voi (huyện Thủ Thừa, Long An). Sau đó Hải đưa tiền cho chị Nguyễn Thị Thu Vân (nhân viên bưu điện) nhờ đi mua trái cây, còn Hải ngồi nói chuyện với chị Nguyễn Thị Ánh Hồng (nhân viên bưu điện).

Trong lúc chị Vân đi mua trái cây Hải nảy sinh ý định quan hệ với chị Hồng, bị chị này chống cự Hải đã bóp cổ, lấy thớt đập vào đầu, mặt rồi lấy dao cắt cổ nạn nhân. Khi chị Vân trở về, Hải tiếp tục dùng ghế inox đánh vào đầu và cũng dùng dao cắt cổ chị này.

Gây án xong, Hải rửa tay, rửa dao rồi mở tủ lấy 1.400.000 đồng, một số điện thoại, sim card và nữ trang lột trên người hai nạn nhân rồi trèo qua tường về nhà cất nữ trang rồi đi ngủ.

Phát hiện vụ việc, Cơ quan điều tra vào cuộc khám nghiệm hiện trường, khởi tố vụ án nhưng sau hai tháng vẫn không tìm ra hung thủ. Tuy nhiên trong một lần Hải bị công an triệu tập lấy lời khai vì cá độ đá banh và đánh đề, Hải khai nhận giết hai cô gái.

Tại 2 phiên xét xử sơ thẩm và phúc thẩm Hồ Duy Hải đều bị tuyên án “tử hình” về hai tội giết người và cướp tài sản.

Việc điều tra vẫn đang được tiến hành. Chúng ta mong rằng, những phán xét công minh sẽ được đưa ra

P/s: Có nhiều người nhận xét rằng, cách đưa tin của báo chí về vụ việc chưa thật khách quan. Mới chỉ đưa một chiều, và hậu quạ là "đẩy dư luận vào một thế đối đầu, hoài nghi với nên tư pháp, hành pháp của Việt Nam". 

_____________

Vụ Hồ Duy Hải: QUÁ TRỄ ĐỂ KHÉP TỘI

Thợ Cạo@ 
Đồng lòng với Cuteo@: "mong rằng Hồ Duy Hải vô tội, kẻ thủ ác thực sự sẽ bị bắt và những người làm oan sai (nếu có) cũng sẽ phải trả giá."

Nhưng không nghĩ rằng: Người ký lệnh hõan thi hành án là do áp lực từ phía gia đình nhà Hồ Duy Hải và Báo chí đẩy dư luận vào một thế đối đầu, hoài nghi với nên tư pháp, hành pháp của Việt Nam.

Lão không chắc là HDH oan ức vô tội. Báo chí dư luận, gia đình đương sự gào khóc chẳng là cái đinh gì nếu cơ quan tố tụng thực thi đúng theo luật định và tất nhiên họ không bao giờ chùn tay. Chứng cứ là cái không thể thiếu để kết tội ai đó, nếu nó mơ hồ thì buột anh phải trả tự do cho đương sự dù rằng thâm tâm anh nghĩ chính nó là tội phạm.

Khả năng trả tự do cho HDH, theo Thợ Cạo là rất cao vì nếu người ta củng cố chứng cứ được thì họ đã làm từ nhiều năm trước rồi, bây giờ bới lại thì càng mù mịt hơn và... không ai điên đi chứng minh mình đã làm sai!

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Sáu, 5 tháng 12, 2014

TRIẾT LÝ VĂN CHƯƠNG TRÊN TRANG VIẾT NGUYỄN HUY THIỆP

Võ Thị Thu Hằng



Một cuộc giao lưu, chuyện trò về văn chương của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp do Heritage Space tổ chức vào 15h ngày 6 tháng 12 năm 2014 tại Tòa nhà Dolphin Plaza, 28 Trần Bình (Tầng hai Café Paris Deli, Tòa nhà Dolphin gần bến xe Mỹ Đình). Chủ đề “ Nguyễn Huy Thiệp và bước ngoặt của văn xuôi Việt nam sau 1975”. Diễn giả: Nhà nghiên cứu văn học, Giáo sư Lã Khắc Hòa. Khách mời: nhà văn Nguyễn Huy Thiệp. 




Cơn bão táp mang tên Nguyễn Huy Thiệp, giờ đây đã tạm yên ả. Và tôi lại lên đường đi tìm Nguyễn Huy Thiệp với một niềm tin, qua bão táp, cái gì là giá trị sẽ tự khẳng định được mình!

“Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp” [1]…
Cuộc hành trình ấy đã chi chít những dấu chân…

Trên con đường đã chi chít dấu chân đó, người ta đã tìm thấy ông? Không hiểu sao tôi cứ mường tượng cuộc hành trình này tựa như câu chuyện các thày bói đi xem voi – mỗi người sờ một bộ phận của con voi rồi ra sức khẳng định con voi là bộ phận đó, thành ra một cuộc cãi nhau ỏm tỏi. Nói như vậy, tôi không có ý và cũng không dám phủ nhận những bậc tiền bối đi trước, họ đã có những phát hiện và cả những linh cảm rất đúng, rất sâu sắc về Nguyễn Huy Thiệp. Nhưng sao người ta cứ lấy vài ba nhân vật, vài ba hình tượng trong truyện của ông mà quy kết cho cả tư tưởng, cả quan niệm về văn chương, thậm chí, cả đạo đức của ông. Sao chưa ai đi tìm ông từ chính những quan niệm về văn chương mà ông trực tiếp hay gián tiếp phát biểu trong các truyện ngắn?

Cơn bão táp mang tên Nguyễn Huy Thiệp, giờ đây đã tạm yên ả. Và tôi lại lên đường đi tìm Nguyễn Huy Thiệp với một niềm tin, qua bão táp, cái gì là giá trị sẽ tự khẳng định được mình!

Có thể thấy, hầu hết những truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp đều chứa đựng một hoặc vài lời triết lý của ông về văn chương. Điều đó chứng tỏ, Nguyễn Huy Thiệp là người hay trăn trở về văn chương và ý nghĩa của nó. Những triết lý đó, được phát biểu gián tiếp qua các nhân vật, qua tình huống truyện hoặc đôi khi phát biểu một cách trực tiếp. Trước đây, Nam Cao cũng thường thể hiện những quan niệm của mình trên trang viết của mình. Nhưng với Nguyễn Huy Thiệp, văn chương không đơn giản và rành mạch như Nam Cao. Cái nhìn của ông về văn chương có gì đó rất phức tạp – phức tạp như chính cuộc đời, khi thì “văn chương là thứ bỉ ổi nhất” (Chút thoáng Xuân Hương), khi thì “văn chương có cái gì từa tựa lẽ phải” (Giọt máu), khi thì: “văn chương có nhiều thứ lắm. Có thứ văn chương hành nghề kiếm sống, có thứ văn chương sửa mình, có thứ văn chương trốn đời, trốn việc. Lại có thứ văn chương làm loạn” (Giọt máu).

Với Thiệp, văn chương là một thế giới đầy bí ẩn, như “con gái thuỷ thần” chợt ẩn, chợt hiện: “Nàng ở đâu? Nàng ở chỗ nào? Vì cái gì?Bởi lẽ gì? Cho tôi mượn màu son phấn ra đi”. Và Nguyễn Huy Thiệp đã ra đi gần hết nữa cuộc đời mình. Ra đi trong cô đơn, tìm kiếm trong cô đơn và trở về trong cô đơn… Bởi không như Nam Cao, cuối cuộc hành trình đó, Nguyễn Huy Thiệp không đưa ra bất kỳ một chân lý nào. Cái ông đem đến cho người đọc lại là một sự hoài nghi về chân lý. Và với những người đọc đã quen cái tâm thế đón chờ chân lý, người ta lạ lẫm trước trang văn của ông. Người ta thấy nó xa lạ với truyền thống, xa lạ với chuẩn mực. Và người ta ghẻ lạnh ông, vội vàng kết tội ông là giũ bỏ quá khứ, mắng ông là không có tâm, không nhân văn… Thật ra, Nguyễn Huy Thiệp thừa sức viết ra những triết lý văn chương “chuẩn mực” cả nội dung và hình thức. Nhưng, Thiệp đã chọn cho mình một con đường khác, xây nên một thế giới khác. Để giải mã cái thế giới bí ẩn ấy, ta hãy thử làm một cuộc hành trình đến với các triết lý văn chương trên trang viết của ông.

1. Quan niệm về văn chương qua cái nhìn của những nhà chính trị

Khi thống kê các quan niệm về văn chương trên trang viết của Nguyễn Huy Thiệp, có một điều rất bất ngờ mà ít ai để ý đến, đó là hầu hết những quan niệm văn chương của ông đều được thể hiện qua cái nhìn của những nhà chính trị. Đó là văn chương qua con mắt của Nguyễn Phúc Ánh (Kiếm sắc), của Thặng (Chút thoáng Xuân Hương), của viên quan trưởng (Trương Chi), của anh Lai (Quan Âm chỉ lộ)… Vì sao Nguyễn Huy Thiệp lại để văn chương hiện lên qua đôi mắt của những nhà chính trị? Văn chương và chính trị là một mối quan hệ hết sức nhạy cảm – một vấn đề mà mọi người đều tránh né. Vậy mà Nguyễn Huy Thiệp lại cứ xông thẳng vào mảnh đất đó. Nhiều người bảo ông quá liều lĩnh – liều lĩnh đến tuỳ tiện. Cái chỗ người ta tránh, người ta né thì ông lại tự chui cổ vào. Tuy nhiên, lẽ phải có thể tạm thời bị vùi lấp chứ không bao giờ đánh lừa con người. Người ta biết đâu là sự thật, đâu là giả dối. Người ta tìm thấy ở văn ông cái thật của cuộc đời. Dẫu nó đê hèn, trần trụi, đôi khi còn ghê rợn. Lâu nay, chúng ta đã quá nặng tình với lịch sử. Nhưng lịch sử không tiến lên bằng lòng tốt. Nó cần sự thật. Văn học đã mắc nợ cuộc đời về sự thật. Và Nguyễn Huy Thiệp đã “nộp mình” để trả nợ cuộc đời!

1.1 Quan niệm văn chương qua cái nhìn của những nhà chính trị được thể hiện gián tiếp qua những hình tượng nhân vật.

Ở truyện Trương Chi, Mị Nương không hiện lên như trong truyện cổ. Mị Nương và đám tuỳ tùng quan lại của nàng lại chính là biểu tượng của tiếng nói chính trị. Ba lần viên quan trưởng bảo Trương Chi hát:

Lần thứ nhất: “Viên quan trưởng bảo:

– Hát ca ngợi công danh đi!”

Lần thứ hai: “Viên quan trưởng bảo:

– Nên hát về sự nhẫn nhục”

Lần thứ ba: “Viên quan trưởng bảo:

– Hát ca ngợi tiền bạc đi!”

Ca ngợi. Nhẫn nhục. Nhẫn nhục để ca ngợi. Để ca ngợi, văn chương một thời phải “nấu mình” trong những tiếng hô vang. Với Thiệp đó là một thứ văn chương “thô bỉ”, như một sự “nhẫn nhục đê hèn”: “Chưa bao giờ chàng hát một bài hát thô bỉ như thế. Bài hát chỉ toàn “ấy a” với lại “huầy dô”… Có chỗ còn bắt chước tiếng chó sủa, tiếng gà cục tác, tiếng dê kêu nữa. Bài hát đông người”. “Đông người” thường ồn ào và náo nhiệt. “Đông người” thường là phong trào, là bắt chước. Văn chương đánh mất mình trong đám đông. Với văn chương, đánh mất mình còn đáng sợ hơn cả cái chết. “Chàng chỉ sợ chính bản thân chàng lâm vào tình thế phải tự hạ nhục bản tính của mình, thế là mất hết, không còn tiếng hát, không còn Trương Chi”.

Nguyễn Huy Thiệp lại đề cập đến cái vấn đề muôn thưở của văn chương: Bản tính. Nhưng xã hội không ngừng đặt ra những yêu cầu, những nhiệm vụ quá khắt khe với văn chương. Còn khoảng trống nào cho văn chương được là mình, được thể hiện bản tính của mình? Khi Trương Chi hát ca ngợi công danh, tiền bạc – những khúc hát nhẫn nhục, lời chàng chỉ như những tiếng hô, tiếng chó sủa, dê kêu…Chỉ khi hát về tình yêu, chàng mới thực sự là mình, là Trương Chi thưở nào: “Đến lúc này, chàng biết chàng phải cất tiếng tự hát cho mình, bởi không chàng sẽ mất hết, mất cả cuộc đời. Chỉ bằng tình yêu của chàng, tình yêu chân thực và nồng cháy của chàng mới hòng cứu vớt được. Không phải Mị Nương, không chỉ là Mị Nương”.

Hát về tình yêu – là hát về cái phần cá nhân, riêng tư nhất của của mỗi người – điều mà văn học trước đây gọi là cá nhân chủ nghĩa. Nhưng chính ở cái phần cá nhân chủ nghĩa này, văn học mới thực sự có ý nghĩa đối với con người. Văn chương cảm hoá được tất cả – cảm hoá cả chính trị, bằng tình yêu: “Những giọt nước mắt long lanh trên mắt Mị Nương. Nàng chưa từng được nghe ai hát như thế này. Bọn hoạn quan, những gã đồng cô, những tên hề lùn, bọn bói toán, tướng số, lang băm… đứng dạt cả ra”. Những giọt nước mắt ấy chính là ý nghĩa đích thực của văn chương. Văn chương không còn là những lời thuyết giáo về đạo đức. Những lời thuyết giáo chỉ làm cho người ta sợ chứ không làm cho người ta phục. Văn chương là sự ăn năn về đạo đức. Văn chương là nơi để người ta sám hối, để người ta xưng tội với chính mình. Đó cũng là thứ văn chương mà Nguyễn Huy Thiệp đã lựa chọn và theo đuổi. Nguyễn Huy Thiệp ghét cái kết thúc truyền thống của truyện cổ. Cũng phải. Nó nhân văn quá, đẹp quá mà thành ra dối đời. Sự nhân văn phải đạo ấy, loài người thưở sơ khai có thể chấp nhận được. Nhưng loài người bây giờ thì không!

“Mị Nương sống suốt đời sung sướng và hạnh phúc
Điều ấy vừa tàn nhẫn, vừa phi lý
Lẽ đời là thế”

Và văn chương phải dám đối mặt, dám nhìn thẳng với cái lẽ đời – vừa tàn nhẫn, vừa phi lý ấy.

1.2. Các nhà chính trị trực tiếp phát biểu về văn chương

Trương Chi chỉ là cách thể hiện gián tiếp quan niệm của chính trị về văn chương. Có lúc Nguyễn Huy Thiệp đã để cho chính các nhà chính trị phát biểu quan niệm của mình một cách rất thẳng thắn.

Trước hết là lời của tri huyện Thặng trong Chút thoáng Xuân Hương: “Hách chứ, Thặng giơ ngón tay như quả chuối nắm ra trước Ấm Huy. Không hách để văn chương các chú làm loạn à? Văn chương là miếng đất nghịch”.

“Văn chương làm loạn” – Nó làm loạn trong tiềm thức của con người – một cuộc nổi loạn mà không có một thế lực nào có thể dập tắt được. Chính Thặng đã khẳng định: “Dân quen nô lệ, luật cứ ngặt nghèo, nghiêm khắc là xong. Không có bàn bạc gì cả”. Nhưng Thặng lại phải “hách” với văn chương – tức là Thặng sợ!

Đó cũng là tâm sự của Nguyễn Phúc Ánh trong Kiếm sắc: “Ta ghét bọn chữ nghĩa thôi. Chữ nghĩa chúng nó thối lắm, ngụy biện, xảo trá, tinh vi… Hành tung chúng ta chẳng lo. Toàn lũ ấm o như dòi chò, hèn mọn cả. Chúng nó quen tỉ tê với chữ nghĩa sẽ coi ta là vô đạo, không có tâm thế. Rửa đầu óc chúng nó, ta mệt lắm”.

Nói là “ta chẳng lo” nhưng lại muốn “rửa đầu óc chúng nó”, tức là Ánh cũng sợ. Song dẫu Ánh muốn cũng không thể nào làm được. Ánh đã sai Lân đi chiêu mộ các danh sĩ Bắc Hà. Nhưng trớ trêu thay, chính Lân lại được văn chương “chiêu mộ”: “Thâm tâm Lân cũng không biết nên vui hay buồn, chỉ thấy trong lòng cảm động”. Đó cũng là sức mạnh phi thường của văn chương. Lân đã phải chịu tội, chết dưới lưỡi gươm gia truyền. Hay là văn chương đã hoá kiếp cho Lân?… Để từ đây và mãi mãi bàn tay của Lân sẽ không hề dính máu. Lân chết khi trong lòng đang cảm động – cái chết ấy có ý nghĩa hơn vạn lần kiếp sống vô tâm. Có thể, đó là ý nghĩa mà Nguyễn Huy Thiệp gởi gắm trong hình thức một câu chuyện lịch sử. Vậy mà khi đọc Kiếm sắc (cùng với Vàng lửa và Phẩm tiết) người ta mặc sức gán cho Nguyễn Huy Thiệp biết bao nhiêu là tội danh. Tôi thì lại mừng cho Nguyễn Huy Thiệp, mừng vì ông đã đi đúng con đường của văn chương!

Thể hiện những quan niệm văn chương qua con mắt của những nhà chính trị, Nguyễn Huy Thiệp không hề có ý muốn đối lập chính trị với văn chương. Thật ra, Nguyễn Huy Thiệp luôn ý thức văn học phục vụ chính trị. Nhưng phục vụ chính trị không đơn thuần là là truyền bá những tư tưởng chính trị. Với Nguyễn Huy Thiệp, ý nghĩa cao nhất của văn học đối với chính trị là ở chỗ: Văn học giữ gìn lương tri cho chính trị. Ý nghĩa này thể hiện rõ qua một truyện ngắn gần đây của ông: Quan âm chỉ lộ. Câu truyện khơi nguồn từ mối quan hệ giữa nhà văn và anh Lai – vụ trưởng một vụ. Ở đó thông qua suy nghĩ của anh Lai về anh bạn nhà văn của mình (nhân vật xưng “tôi”), Nguyễn Huy Thiệp đã để cho chính trị lên tiếng về văn chương.

Anh Lai nói: “Chú là ai? Tại sao chú lại viết ra những thứ làm cho người ta dằn vặt lòng mình? Chú có quyền gì? Ai cho chú cái quyền năng ấy? Tư cách chú tôi gạt sang một bên. Tôi không hiểu vì sao mọi người lại vị nể một người như chú? Ở chú có phẩm chất gì? Cao thượng ư? Không phải! Nghiêm cẩn ư? Cũng không phải nốt. Tôi chỉ nhận ra chú dục vọng hão huyền và cái khả năng đánh thức cái dục vọng ghê gớm ấy ở mỗi người. Điều đó là tốt ư? Không phải? Xấu ư? Không phải! Từ bản chất tôi vừa căm ghét vừa sợ hãi, cảm phục những người như chú”.

Một câu trong mạch đối thoại mà ngỡ như một lời độc thoại – đúng hơn là đối thoại với chính mình. Hầu như tất cả đều tồn tại ở dạng câu hỏi. Hỏi nhà văn, nhưng chính anh Lai lại trả lời. Anh Lai nói là “không thể hiểu”. Nhưng thật ra, anh đã hiểu và hiểu rất rõ. Văn chương chính là như thế, như chính những lời anh Lai nói: làm ta dằn vặt, có khả năng đánh thức cái dục vọng ghê gớm ở mỗi người”… Điều đó là tốt hay xấu? Chính anh Lai cũng đã nói – không tốt – nhưng cũng không xấu. Văn chương đang đứng ở một độ chênh rất mỏng manh giữa nhân văn và giả dối, giữa nói lên sự thật và thóa mạ con người. Chỉ cần nhà văn chệch chân một chút thôi, sẽ rơi vào hố sâu thăm thẳm. Và Nguyễn Huy Thiệp đã giữ văn chương ở cái độ chênh ấy. Chính tại đây, văn chương thể hiện ý nghĩa của nó đối với chính trị. Văn chương giữ gìn lương tri cho chính trị – giữ gìn bằng chính những điều anh Lai nói: sự tự dằn vặt. Tại sao chị Hỷ lại mang trả bức tượng Quan Âm chỉ lộ? Phải chăng vì những giọt nước mắt trên tượng Quan Thế Âm Bồ Tát? Bồ Tát nhân từ cũng đâu thể cứu rỗi con người. Vậy thì văn học cũng đâu có tham vọng làm được điều đó. Với Thiệp, văn chương chỉ giữ cho con người không bị rơi xuống thẳm sâu của cái ác, và đánh thức ở họ cái ý thức tự cứu rỗi chính mình.

2. Nguyễn Huy Thiệp tự phát biểu những triết lý của mình về văn chương

Xen lẫn với những lời phát biểu của những nhà chính trị về văn chương là những trăn trở của chính Nguyễn Huy Thiệp.

Cuối truyện Kiếm sắc, Nguyễn Huy Thiệp đã khái quát về công việc viết văn của mình:“Công việc viết văn vốn rất nhọc nhằn, phức tạp, lại buồn tẻ nữa”. Nhọc nhằn, phức tạp vì văn Nguyễn Huy Thiệp không phải là thứ văn dễ dãi. Người ta viết văn như một sự giải thoát. Nguyễn Huy Thiệp viết như một sự chất vấn chính mình – chất vấn về nghĩa lý của văn chương, về ý nghĩa của cuộc đời cầm bút.

Vì thế, trang viết của ông như một sự trăn đi trở lại, như một sự dằn vặt, cào xé chính mình: “Ở trường Đại học, tôi đã thuyết giảng về sự vô minh của con người và thế giới, lòng khao khát của cá nhân tôi với cuộc sống mà thượng đế đã ban cho. Giờ nhớ lại những điều tôi nói hôm ấy thật xa xỉ và phù phiếm, thậm chí dối trá” (Quan Âm chỉ lộ). Nguyễn Huy Thiệp sợ mình trở thành một thằng lừa đảo. Với Thiệp, những kẻ lừa đảo trong văn chương còn đáng sợ hơn nhiều những kẻ lừa đảo tiền bạc, tài sản. Nhưng thật trớ trêu, vì sự thật bao giờ mà chẳng đắng và khó nghe. Ông đau đớn nhận ra thứ văn chương sự thật của mình đã gây ra bao nhiêu đau khổ cho người đời: “Văn chương là thứ bỉ ổi nhất. Nó gây ra sự nổi lọan trong đời thường. Cuộc đời trôi đi đơn giản. Day đi dứt lại để làm gì? (Chút thoáng Xuân Hương). Nhưng rồi, ông không thể làm khác được. Ông không thể viết ra thứ văn chương dễ dãi, sẵn sàng ca ngợi, tung hô, sẵn sàng dối trá. Ông thà để người ta đau đớn trong đời thật còn hơn chìm đắm trong thứ hạnh phúc giả tạo. Thật ra mà nói, đó cũng là một sự lựa chọn đầy khó khăn của Nguyễn Huy Thiệp.

Như trên đã nói, Nguyễn Huy Thiệp suốt đời kiếm tìm nghĩa lý của văn chương, nhưng ít khi nào ông phát biểu một ý nghĩa rõ ràng về văn chương. Và đây là một trong số những định nghĩa hiếm hoi của Nguyễn Huy Thiệp – hiếm hoi và khác thường: “Văn chương phải bất chấp hết. Ngập trong bùn, sục tung lên, thoát thành bướm và hoa. Đó là chí thành” (Giọt máu). Chính tại đây, nhiều người đã phê phán Nguyễn Huy Thiệp. Văn chương vốn cao quý sao Thiệp lại nỡ nhấn nó xuống bùn? Thật ra lâu nay, văn học của chúng ta đã quen đứng trên bùn mà chỉ trỏ, mà phê phán: bùn đó, ghê lắm, tránh đi! Và chỉ thế thôi. Nguyễn Huy Thiệp thì khác, bất chấp hết, ngập trong bùn rồi còn sục tung lên. Từ “bùn” chuyển sang “bướm và hoa” là một sự lột xác đầy phiêu lưu, mạo hiểm. Vì nếu không khéo sẽ dễ dàng ngập sâu trong vũng bùn. Nhưng Nguyễn Huy Thiệp đã chấp nhận cuộc phiêu lưu này. Đúng lý ra, chúng ta phải mang ơn Nguyễn Huy Thiệp. Bởi nếu không có sự “liều lĩnh đến tùy tiện” kia thì văn chương sẽ chỉ là thứ để người ta chiêm ngưỡng về sự đạo mạo, thanh khiết của nó. Và chính con người sẽ ngập sâu xuống vũng bùn đen tối!

Như vậy, những triết lý văn chương trên trang văn Nguyễn Huy Thiệp dẫu có được nhìn qua đôi mắt của các nhà chính trị hay là những trăn trở của chính nhà văn thì vẫn có sự thống nhất. Văn chương mà Nguyễn Huy Thiệp đã lựa chọn là thứ văn chương dấn thân. Dấn thân cả hai chiều – nhà văn dấn thân và chính người đọc cũng phải dấn thân.

Từng mang khuôn mặt của một kẻ kiêu ngạo cô đơn, Nguyễn Huy Thiệp đã ý thức được nỗi cô đơn tột cùng trong sáng tạo. Trong Giọt máu, ông đã từng thốt lên đau đớn: “Thằng bé mơ hồ hiểu rằng học đòi văn chương là nó bước vào một cõi mà ở đấy, nó không thể nương tựa vào bất cứ thứ gì, ngoài bản thân nó”… Nguyễn Huy Thiệp cô đơn trong sáng tạo, hay cô đơn để sáng tạo? Ông chấp nhận sự cô đơn để được là mình. Để viết đúng mình. Tức là viết khác người. “Người đời bao giờ chẳng bạc bẽo” – ông từng than vãn. Người ta bảo ông có tài nhưng không có tâm, người ta bảo ông bán rẻ quá khứ, người ta bảo…

Người ta còn bảo nhiều lắm. Còn ông, ông đã tự bảo mình không trông chờ vào lòng hào hiệp của người đời. Mà văn chương cũng chẳng cần đến lòng thương hại. Ông cứ ung dung mà đi tiếp con đường của mình, đúng hơn đi tiếp trên một sợi dây mảnh, như thể một nghệ sĩ xiếc trong một pha mạo hiểm… Và ông biết, chỉ cần ông chệch chân ra khỏi sợi dây, người ta sẽ phỉ báng ông, vùi lấp ông như thể vùi lấp một ngôi mộ. Đời vốn nghiệt ngã! Đời người sáng tạo còn nghiệt ngã hơn!

Khuôn mặt “nhàu nát” ấy hình như vẫn đang mỉm cười – một nụ cười nhân ái, thiết tha với đời, với người…

[1] Tên của cuốn sách tập hợp các bài nghiên cứu về Nguyễn Huy Thiệp do Phạm Xuân Nguyên chủ biên.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

KHÔNG UỐNG VỚI PHẢN ĐỘNG



Hôm nay đi ăn giỗ bố một người bạn lính (đám lính trận chơi với nhau hơn 40 năm đều coi bố mẹ bạn là bố mẹ của mình, chết để tang) gặp nhà giáo Phạm Toàn. Ông là em ruột luật sư Phạm Khang, mẹ nuôi của mình. Ở nhà Phạm Toàn xưng cậu. Nhưng ra ngoài đường thì lại bắt mình gọi bằng anh xưng em. Lý do rất văn, tao là nhà văn Châu Diên nhé, nhà văn hiểu chưa, không cậu cháu gì hết. Mình đã từng viết lời bạt tập truyện ngắn "Bảy mươi ba chiếc cối đá" của ô
ng. Nhìn nhà văn bát tuần người đồng sáng lập ra trang bô xít quyết liệt ngăn cản dự án bô xít Tây Nguyên và những nhức nhối xã hội, sức khỏe đã giảm sút, tai kém, rượu không uống được chỉ nhấm nháp chút đỉnh nhưng vẫn đầy nhiệt huyết với vận nước với cuộc đời với văn chương thấy cảm phục. Mình đùa bảo cháu cụng ly gia đình thôi chứ không uống với phản động. Ông cười sảng khoái, gọi tao phản động thì ok quá, chỉ mong cả nước này thành phản động. Rồi ông khoe vừa dịch 10 cuốn sách. Thấy chụp ảnh ông bảo lại facebook chứ gì, tốn nhiều thời gian lắm, cuộc đời ngắn, viết đi, văn veo phim ảnh gì cũng được nhưng phải viết. Rưng rưng nhìn ông, một thế hệ tinh hoa của nước Việt sắp sửa khuất tàn chợt thấy hổ thẹn. Hổ thẹn đúng thế.
Thích ·  · 

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Năm, 4 tháng 12, 2014

Hỏa Bốc Lên Đầu Khi Dầu Sụt Giá (Ng. X. N)




Khi dầu tăng giá, chiến tranh dễ tàn phá. Ngược lại cũng thế, hãy hỏi Gorbachev!
Khi dân Mỹ đang nhồi thịt gà cho bữa tiệc Tạ Ơn vào buổi tối thì mặt trời thức giấc sớm hơn ở bên kia bán cầu: tổ chức OPEC của các nước xuất cảng dầu thô vừa kết thúc hội nghị tại Vienna trong cùng ngày Thứ Năm – với tiếng thở dài. Không thể giảm số cung để giữ giá được. Tin loan ra là giá dầu lại sụt trên các thị trường, lần đầu tiên tụt đáy bảy chục một thùng kể từ ba năm nay.
Và sẽ còn tụt nữa trong nhiều năm tới.   
Cùng với tin đó về hội nghị của OPEC, người ta biết thêm rằng ông trùm Igor Sechin, một thủ lãnh có ảnh hưởng trong đám cận thần của Tổng thống Vladimir Putin, đã thất bại trong chuyến du thuyết trước khi có hội nghị OPEC. Là Tổng quản trị của tập đoàn năng lượng quốc doanh Rosnef, Sechin đi vận động các thành viên OPEC cùng nhau tiết giảm số cung để nâng giá dầu mà chuyện không thành. Buồn ơi chào mi.
Hãy nói về nguyên do sụt giá đã.
Đầu tiên là chuyện cung cầu. Số dầu cung cấp trên thế giới hiện cao hơn số cầu đến triệu thùng một ngày. Nói về dầu thô, người ta dùng khái niệm “nhật lượng” là sản lượng trong một ngày. Số tiêu thụ của toàn cầu hiện ở mức 92 triệu thùng mà nhật lượng của các nước sản xuất lại cao hơn một triệu thùng, và giá dầu lại có mức đàn hồi (co giãn) rất cao nên giá sụt mạnh hơn sự chênh lệch cung cầu.
Cũng về mặt cung, nhật lượng của Mỹ là gần chín triệu thùng (tính đến cuối Tháng 10) nhờ cuộc cách mạng kỹ thuật mới, là gạn đá phiến ra dầu (shale-oil). Ngoài ra, dù Libya có loạn cũng đã bơm thêm dầu, từ 200 ngàn thùng nay đã 900 ngàn. Xứ Iraq chưa êm thì cũng ráo riết bơm dầu để đạt nhật lượng kỷ lục là ba triệu 300 ngàn thùng. Cả thế giới cứ nói đến nguy cơ khủng hoảng vì tổ chức khủng bố ISIL tại Syria và Iraq, nhưng quân khủng bố cũng cần bơm dầu để bán.
Trong khi đó, số cầu trên thế giới lại giảm. Từ nhiều năm rồi, các nền kinh tế Bắc Mỹ đều đã cải tiến hiệu suất – là tiêu thụ ít hơn cho cùng một sản lượng. Mà kinh tế Trung Quốc và Âu Châu lại có dấu hiệu trì trệ. Lần thứ ba trong năm nay, Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF đánh sụt dự báo tăng trưởng toàn cầu, và qua năm tới thì tình hình chưa mấy khả quan.
Người ta có thể nghĩ rằng yếu tố cung cầu ấy chỉ có tính cách ngắn hạn và giá dầu lại vượt trần là trăm đô la một thùng sau khi sụt mất ba chục bạc. Trên lý thuyết, khi giá dầu hạ là người tiêu thụ tiết kiệm được tiền và xài vào việc khác nên sẽ kích thích kinh tế và làm tăng số cầu. Và cũng trên lý thuyết thì khi giá hạ, các doang nghiệp sản xuất bị mất lời nên sẽ điều chỉnh sản lượng và làm giảm số cung. Nhưng đấy là lý thuyết.
Về thực tế, số cầu tại Bắc Mỹ tiếp tục giảm và sẽ giảm nữa nhờ hiệu suất tiêu thụ và các loại năng lượng điền thế. Kinh tế Âu Châu chưa ra khỏi suy trầm mà cũng có chiều hướng cải tiến hiệu suất tiêu thụ. Còn Trung Quốc thì sẽ đi vào chu kỳ suy thoái, có khi còn bị khủng hoảng.
Trong lúc đó, các nước dầu hỏa Trung Đông như Libya, Iraq hay Iran đều cần tiền và ra sức bơm dầu. Riêng có Saudi Arabia thì đã trường vốn, có tiền, lại mưu toan giữ giá dầu thật thấp để chi phối sản lượng của các doanh nghiệp Mỹ đã tốn tiền đầu tư vào kỹ thuật đá phiến.
Vì vậy mà cung vẫn cao hơn cầu trong nhiều năm tới và giá dầu khó trở lại trăm bạc một thùng. Lại còn có thể sụt dưới mức sáu chục là ít.
Khi một sản phẩm sụt giá thì xứ nào tiêu thụ sẽ có lời và các nước sản xuất sẽ lỗ. Kinh tế học gọi đó là “tái phân lợi tức”, từ người bán sang người mua. Nhưng dầu thô là sản phẩm có tính chất chiến lược cho nên ảnh hưởng về giá cả cũng có kích thước chính trị.
Trước hết, các quốc gia chỉ sống bằng khu vực năng lượng chứ không có sản phẩm nào khác thì sẽ vất vả. Đó là trường hợp của Liên bang Nga, một xứ lạc hậu về kinh tế với sản lượng Vodka và võ khí rất khó bù lỗ cho ngành dầu khí. Nếu dầu thô mà sụt dưới 90 bạc là ngân sách sẽ lủng và chính trường chung quanh Putin sẽ lủng củng. Putin có thể ngang nhiên làm thịt Ukraine trước sự bất lực và hậm hực của các nước Tây phương, nhưng lại bị thị trường trừng phạt còn nặng hơn chính trường Âu Mỹ!
Cũng vì vậy mà Putin đã cố tình quậy nát Trung Đông, cho cậu bé Barack Obama cầm lon nước đi chữa lửa, để giữ giá dầu trên cái ngưỡng trăm bạc. Dù nước Nga chẳng là thành viên của OPEC, Putin vẫn cố gửi Sechin qua Vienna tiếp xúc với Saudi Arabia, Venezuela và Mexico để kêu gọi các nước xuất cảng hãm vòi sản xuất, mà không xong. Lý do là nhiều nước OPEC cùng thấy rằng chính Putin cũng chẳng thể hãm vòi của các giếng dầu ở Tây Bá Lợi Á.
Nhìn trong trường kỳ, người ta không quên là trong một phần tư thế kỷ, từ 1975 đến năm 2000, là giá dầu thô chỉ ở mức 12 tới 40 đô la một thùng mà thôi. Trong khoảng thời gian đó, sau khi Michael Gorbachev lên lãnh đạo Liên bang Xô viết, giá dầu còn sụt mạnh vào cuối năm 1985 khi Saudi Arabia mở vòi bơm…
Hai năm sau là Liên Xô cạn vốn. Hai năm suy sụp kinh tế sau đó mới góp phần làm cho chế độ tan tành.
Người ta cứ nghĩ rằng khi dầu thô lên giá, xứ nào cũng cố gắng bảo đảm nguồn cung cấp và vì vậy mà chiến tranh càng dễ bùng nổ. Nhưng khi dầu thô sụt giá trong nhiều năm liền, là trường hợp ngày nay, thế giới cũng rất dễ bị khủng hoảng. Gorbachev đã thấy điều đó.
Xin hãy ngồi xem.
Nhưng chính là trong kịch bản ấy ta mới nhớ đến kế hoạch của Putin khi chạy qua bán năng lượng cho Trung Quốc. Putin đã tưởng rằng khôn và độc khi nhận tiền dầu bằng đồng bạc của Tầu thay vì đô la Mỹ. Nào ngờ dầu thô sụt giá và đồng Nguyên sẽ mất giá nữa trong trận chiến hối đoái sắp tới. Trong khi đô la cứ lặng lẽ lên giá một cách đáng ghét. Kết quả là Nga thu về một đồng tiền mất giá trong khi vẫn phải trang trải các khoản nhập cảng khác bằng tiền Mỹ.
Rõ là hỏa bốc lên đầu khi dầu thô sụt giá!

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Đằng sau việc ông Nghiên thuê biệt thự hoành tráng với giá ...10 tô phở


Kiến Giang

MTG - Đằng sau việc ông Nghiên thuê biệt thự hoành tráng với giá ... 10 tô phở

Cựu Chủ tịch thành phố Hà Nội Hoàng Văn Nghiên được thành phố cho thuê biệt thự 12 Nguyễn Chế Nghĩa trên thửa đất rộng 411 m2 với giá chỉ gần 460 nghìn đồng/tháng. Con số này rẻ hơn rất nhiều số tiền công nhân và người nhập cư phải bỏ ra hàng tháng để thuê phòng trọ chật hẹp. Tuy nhiên, đó chỉ là phần nổi của vấn đề. 

Thực chất, nếu xuôi chèo mát mái, căn biệt thự này có thể đã thuộc sở hữu của gia đình ông Nghiên. Từ vụ ông Trần Văn Truyền đến ông Hoàng Văn Nghiên phơi lộ một thực tế gây bức xúc: Nhà đất công lấy rất dễ!

Hợp đồng ban đầu trong thời hạn 3 năm (từ ngày 20.7.2001 đến 20.7.2004) thể hiện rõ diện tích nhà được thuê là 185,6 m2 nhà trên tổng cộng 410,9m2 đất. Cựu Chủ tịch thành phố Hà Nội chỉ phải trả tiền thuê nhà, không phải trả tiền thuê đất, với giá thuê ưu đãi là: 2.476 đ/m2/tháng.

Như vậy tổng số tiền ông Nghiên phải trả để thuê biệt thự 12 Nguyễn Chế Nghĩa chỉ có 459.688 đồng/tháng. Con số này chỉ bằng khoảng ¼ số tiền công nhân hoặc người nhập cư chi trả hàng tháng để có chỗ ở trong phòng trọ rộng chừng 12m2.

Không bức xúc sao được khi phần đông người Hà Nội chen chúc trong những căn nhà hộp diêm với chi phí đắt đỏ thì gia đình ông Nghiên sử dụng biệt thự hoành tráng mà chỉ cần bỏ ra không đến…10 tô phở!

Tuy nhiên, vấn đề nằm ở chỗ hợp đồng của Công ty kinh doanh nhà số 2 (nay là Công ty Quản lý và phát triển nhà Hà Nội) với ông Hoàng Văn Nghiên, đã hết hạn từ ngày 20.7.2004 nhưng gia đình ông Nghiên vẫn sử dụng từ đó đến nay.

Và điều khó hiểu hơn là năm 2006 dù đã có quyết định thu hồi nhưng năm 2013 Sở Xây dựng Hà Nội đã bút phê đề xuất cho ông Nghiên tiếp tục thuê (!). Thực tế, người đứng tên thuê là ông Nghiên nhưng ông ở nơi khác và căn biệt thự này gia đình con trai ông sử dụng.

Vì sao hết hợp đồng nhưng ông Nghiên vẫn tìm cách sử dụng ngôi biệt thự này? Điều này khiến nhiều người không thể nghĩ khác rằng mục đích chính của ông Nghiên có thể là “tìm cách” hóa giá để sở hữu căn biệt thự!

Cần biết rằng, khi đã rời chức Chủ tịch UBND TP, ông Nghiên có đơn xin hóa giá căn biệt thự theo Nghị định 61/CP và đã được một số cơ quan chức năng của thành phố đồng tình.

Tuy nhiên, sau đó, việc hóa giá không thành, do báo chí thông tin, khẳng định căn biệt thự này không thuộc diện được hóa giá. Nếu không có sự phanh phui vào cuộc của báo chí, có lẽ căn biệt thự đã nghiễm nhiên thuộc về ông Nghiên.

Có điều sau khi “nuốt không trôi”, việc gia đình ông cố làm mọi cách sử dụng căn biệt thự không có cách giải thích nào khác ngoài việc… câu giờ chờ cơ hội?.

Từ vụ việc ông Trần Văn Truyền đến ông Hoàng Văn Nghiên cho thấy một công thức chung. Đó là cố thuê nhà công trong một thời gian dài sau đó xin hóa giá. Nguyên Tổng thanh tra Chính phủ Trần Văn Truyền thuê căn nhà ở Q.Phú Nhuận, TP.HCM và sau đó xin hóa giá cho con gái mình. Ông Nghiên thuê căn biệt thự nhưng thực chất là con trai ông sử dụng.

Cả hai vụ việc đều cho thấy rõ các cơ quan quản lý rất dễ dàng xét duyệt việc cho thuê hoặc hóa giá nhà đất công mặc dù hoàn toàn sai đối tượng và điều kiện.

Lại phải nhắc rằng, quy định về hóa giá nhà đất công theo Nghị định 61/CP là rất chặt chẽ, thậm chí nghiêm ngặt. Việc cơ quan quản lý “xé luật” để cho thuê hoặc hóa giá bừa bãi chỉ có thể giải thích là do cả nể hoặc quan hệ lợi ích.

Nó cho thấy một tư duy nguy hiểm, xem nhà đất công như "của chùa", vô tư lấy, vô tư dùng như món quà biếu xén. Việc quản lý nhà đất công và các chế tài vi phạm, trách nhiệm cá nhân gần như đang bị thả nổi.

Từ đây, một câu hỏi nóng bỏng của công luận cần được trả lời: Số tài sản công diện này trên cả nước là bao nhiêu? Và có bao nhiêu ông Nghiên và ông Truyền khác chưa bị phơi lộ?

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Mong sao đừng tái diễn!

LIÊN BANG XÔ VIẾT TRƯỚC GIỜ SỤP ĐỔ

Tôi đã sống ở Liên xô trong những năm tháng cuối cùng của nhà nước này. Tôi tới LX vào cuối tháng 8 năm 1987. Năm đó mùa hè nhiều mưa và lạnh. Đến hôm trước, hôm sau tôi ra cửa hàng bán đồ cũ trên đại lộ Comxomolskaya mua mộ chiếc áo khoác mặc cho đỡ lạnh. Trên đường về tôi ghé vào một cửa hàng bán thức ăn mua sũa, trứng và bánh mì cho bữa ăn trưa được nấu ngay trong phòng  ngủ. Ấn tượng ngày đầu tiên tới LX hôm ấy là rất thoải mái. Các nhu yếu phẩm hàng ngày trong các cửa hàng ( ở Moscow ) này vẫn khá đầy đủ. So với ở VN đói khổ thiếu thốn mọi thứ thì ở đây vẫn là thiên đường. Chỉ một ngày sau một cô bạn của anh bạn cùng sang Moscow với tôi, người cùng học ở học viện báo chí ở VN với anh bạn này đi xuất khẩu lao động đã bay từ Krasnodar lên để kịp thời'ăn hàng' từ VN sang : quần bò, áo phông cá sấu của Thái, pin điện tử, đồng hồ Seiko của Nhật...Tôi nhớ khoảng 12 giờ đêm anh bạn và tôi đưa cô này về nhà một anh vụ phó học ở trường Đảng để cất món hàng vừa mua. Đây là nơi tá túc của cô những lần lên 'Mat' mua hàng. Khoảng 1 giờ đêm tôi và anh bạn ra về lòng phơi phới về một thế giới no đủ, an toàn, hoàn toàn khác với Hà nội nơi  mình vừa ra đi vài ngày trước....
   Nhưng chỉ vài tháng sau Moscow đã hoàn toàn khác. Một đêm tôi sang chơi nhà anh bạn công tác bên khối SEV gửi anh mang về nhà một ít hàng cứu tế. Tôi ra về lúc 12 giờ đêm lòng không bợn một chút lo ngại nào về sự an toàn. Nhưng , Moscow đã không an toàn như vài thang trước, khi về tới ga metro Park Cultury tôi đã bị một nhóm 3 tên hooligan vây chặn. Chúng đòi tiền, tôi không cho, rồi một thằng kẹp lấy cố tôi nhấc bổng lên, hai thằng còn lại giật túi xách của tôi rồi đi thẳng. Nghĩ lại tôi thấy vẫn còn may. Trong túi xáh chẳng có gì, sự không chống trả bọn hooligan đã cứu mạng tôi. Nếu sự việc trên xảy xa muộn hơn vài tháng nữa có thể tôi đã bị chúng xỉa vài nhát dao vào bụng. Thế giới hooligan phát triển như măng mọc rau mưa rào và độ tàn bạo của chúng cũng tăng nhanh khủng khiếp. 
    Những chiếc mắc ào trong cửa hàng quần áo cũ trên phố Comxomolskaya bây giờ chẳng còn áo mà treo. Các cửa hàng khác, nhất là các cửa hàng thức phẩm chỉ còn lèo tèo vài món hàng và chúng nhanh chóng hết nhẵn sau vài giờ mở cửa. Tất cả những điều tôi vừa kể được thể hiện qua thiên phóng sự ảnh dưới đây của prophotos-ru :
Phóng sự buồn về ngày tận thế của Liên bang Xô Viết. 1990-1991. Photo của George Steinmentz, Peter Turnley.


Peter Turnley
Nạn đầu cơ sinh sôi: có những kho thực phẩm đầy ắp hàng.

 Corbis-AABT001845
trong khi các cửa hàng thực phẩm trống rỗng.

 Corbis-TL019934

 Corbis-TL019967
và những dòng người xếp hàng dài dằng dặc
 Corbis-TL019966

 Corbis-TL019964
Chỉ còn vài mẩu bánh mì mà người xếp hàng thì vẫn còn nhiều.

Corbis-42-24352842

 Corbis-TL019949

 Corbis-TL020016

 Corbis-TL019944
Thịt đã hết, chỉ còn rặt xương. Gương mặt gầy guộc và đau khổ của bà cụ cho ta thấy nhiều điều.

 Corbis-TL005248
Cửa hàng chẳng còn gì để bán.

Và người ta bắt đầu rời bỏ đất nước ra đi. Những đám đông chen chúc trước cổng ĐSQ nước ngoài xin thị thực nhập cảnh.  

 Corbis-TL005146

Những cửa hiệu phương Tây xuất hiện. Nơi đây người ta chen chúc xô đẩy nhau, bát nháo như như trong bảo tàng Luvre xung quanh bức tranh"Jhoconda".

 Corbis-TL019817

 Bắt đầu xuất hiện những hợp tác xã đầu tiên.

 Corbis-GJ004210

Khắp nơi trên đường phố, trong các chợ người ta bắt đầu bán hàng trao tay mặc dù việc bán hàng như vậy bị đặt ngoài vòng pháp luật. Đó là những thứ người ta xoáy được từ đâu đó. Những chi tiết máy được tháo gỡ từ những cỗ máy trong nhà máy, từ những thứ xoáy được của những tên móc túi, từ những món đồ kỉ niệm của gia đình.... Tôi đã mua được một chiếc đồng hồ để bàn cũ của một bà cụ trong một chợ ở Ođetxa đén nay vẫn chạy tốt..Chỉ thị "Về buôn bán tự do" xuất hiện vào năm 1992. 

 Corbis-AABT001838

 Corbis-TL005243

Lĩnh vực dịch vụ mới xuất hiện- dịch vụ sex. 


катя


 Corbis-TL019793


 Corbis-TL019940

 Corbis-0000230854-015

Các cô gái Nga chạy sang phương Tây, châu Á, và châu Phi.

Corbis-TL035509

 Perestroika đã ở lại phía sau.

Corbis-JW001113

Xuất hiện những nhà lãnh đạo mới, những trào lưu mới.
 
Corbis-TL020191

 Những mặt nạ bị vất bỏ, những chiếc túi bị vất bỏ. Người phụ nữ trong ảnh đeo khẩu hiệu " Chúng tôi tin tưởng vào nghị viện của nước Nga. Đó là niềm hi vọng của chúng tôi"


Corbis-TL019680

Và không ai biết điều gì đang chờ họ ở phía trước.

Corbis-TL019284


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Tư, 3 tháng 12, 2014

Mỹ khẳng định bảo vệ đồng minh, đối tác châu Á

(Thời sự) - Ông Evan Medeiros, quan chức cấp cao Nhà Trắng phụ trách chính sách châu Á đã bác bỏ chỉ trích của Trung Quốc về nỗ lực của Mỹ hiện đại hóa, củng cố các liên minh, xây dựng quan hệ đối tác mới với Việt Nam, Myanmar. Và khẳng định nếu Mỹ không có các đối tác và đồng minh, châu Á sẽ hỗn loạn.

Mỹ khẳng định bảo vệ đồng minh, đối tác ở châu Á 1
Tại cuộc gặp hai Bộ trưởng ngoại giao Phạm Bình Minh (Việt Nam) và John Kerry (Mỹ) ở Washington ngày 2.10.2014, Mỹ thông báo chính thức dỡ bỏ một phần lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam, nước đối tác của Mỹ ở châu Á - Ảnh: Bộ Ngoại giao Mỹ
Ông Medeiros phát biểu như trên tại tổ chức tư vấn độc lập Cơ quan quốc gia nghiên cứu châu Á (NBAR) ở Washington hôm 2.12, theo hãng tin AP.
Trung Quốc lâu nay chỉ trích chính sách xoay trục sang châu Á của chính quyền Obama là nhằm bao vây và khống chế Trung Quốc, thông qua việc gia tăng sự hiện diện của quân đội Mỹ cùng việc thiết lập mạng lưới các nước đồng minh và đối tác trong khu vực.
Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc, ông Thường Vạn Toàn vào tháng trước đã kêu gọi các nước từ bỏ kiểu “suy nghĩ thời Chiến tranh Lạnh”. Ngoài ra, cuối tuần qua, trong cuộc gặp các nhà hoạch định chính sách đối ngoại cấp cao ở Bắc Kinh, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình nói về “xu hướng đang phát triển hướng tới một thế giới đa cực”.
Theo AP, những ý kiến này được xem là những cú đấm nhắm vào Mỹ trong vai trò siêu cường toàn cầu duy nhất.
Mỹ khẳng định bảo vệ đồng minh, đối tác ở châu Á 3
Một máy bay cảnh giới E-2C Hawkeye cất cánh từ tàu sân bay USS George Washington (CVN 73) ngoài khơi biển Philippines (bắc Biển Đông) ngày 26.10.2014. Tàu sân bay George Washington được bố trí ở châu Á (Nhật Bản) để bảo vệ lợi ich của Mỹ và của các đồng minh cùng đối tác Mỹ ở châu Á - Thái Bình Dương, theo Hải quân Mỹ - Ảnh: Hải quân Mỹ
Mỹ đã hưởng ưu thế thống trị về quân sự ở Thái Bình Dương kể từ khi kết thúc Thế chiến II – một khu vực mà sức mạnh quân sự của Trung Quốc bị khống chế. Mỹ vẫn duy trì hàng chục ngàn quân tại các căn cứ ở Nhật Bản và Hàn Quốc, có các hiệp ước liên minh với các nước như Úc và Philippines.
Ông Evan Medeiros nói tại cuộc họp của NBAR ngày 2.12 rằng Mỹ đang nỗ lực để hiện đại hóa và tăng cường quan hệ với các đồng minh như là một phần của chính sách xoauy trục về châu Á, xây dựng quan hệ đối tác mới với những nước như Việt Nam, Myanmar. Ông cho biết Mỹ không áp đặt ý chí của mình, nhưng đáp ứng nhu cầu mạnh mẽ từ khu vực.
“Môi trường an ninh khu vực ở châu Á sẽ như thế nào nếu Mỹ bỏ rơi đồng minh và ngừng hợp tác với các đối tác của mình? Tôi cho rằng khu vực này sẽ không ổn định và dễ hỗn loạn. Và tác động toàn cầu đó đối với Mỹ, nước có đồng minh ở tất cả các nơi trên thế giới, sẽ rất nghiêm trọng”, ông Medeiros nói.
Mỹ khẳng định bảo vệ đồng minh, đối tác ở châu Á 2
Tàu tác chiến cận bờ (LCS), chiếc USS Fort Worth (LCS 3) ngoài khơi Hawaii ngày 25.11.2014. Tàu này đang trên đường đến đồn trú 16 tháng ở Singapore, trong chiến lược tái cân bằng ở châu Á - Ảnh: Hải quân Mỹ
Trung Quốc vẫn xem chính sách xoay trục châu Á của Mỹ là nỗ lực ngăn cản sự trỗi dậy của Trung Quốc. Trung Quốc đang muốn có vai trò lớn hơn trên trường quốc tế và đang thúc đẩy việc hợp tác an ninh giữa các quốc gia châu Á, mặc dù nhiều nước cảm thấy bị đe dọa bởi sự gia tăng sức mạnh quân sự lẫn các hành động gia tăng yêu sách chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc
Tuy vậy, trong khi chiến lược đôi bên là xung khắc nhau, cả Mỹ và Trung Quốc cùng lúc nỗ lực để làm sâu sắc thêm mối quan hệ giữa hai nước. Ông Medeiros nhấn mạnh rằng Mỹ muốn các đồng minh của mình có các quan hệ hợp tác với Trung Quốc, kể cả lĩnh vực quân sự của Trung Quốc.

Phần nhận xét hiển thị trên trang