Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Chủ Nhật, 9 tháng 11, 2014

HUYỀN THOẠI CỦA RỪNG.




Truyện ngắn NGỐ viết
 

Năm xưa lưu lạc hải hồ, mình có quen mấy ông trên vùng cao. Một ông người Mèo, một ông Mán và một ông người Thổ. ( Cứ gọi nôm thế cho nó dân dã, thân mật, chả phải văn hoa, kiểu cách H’Mông, Dao diếc gì cả ). Tôn trọng, yêu mến nhau là ở trong lòng, phải đâu cách gọi tên thế này ra thế khác?
Ngày ấy mình khó trăm bề. Có ông anh kết nghĩa cho cái máy ảnh cũ Hiệu Ca non, ca già gì ấy, lâu ngày không còn nhớ nhãn mác, ống kính, độ zum của nó nữa. ÔNg ấy bảo: “Tao cho mày cái cần câu cơm. Lên vùng cao mà kiếm ăn. Ở đấy đồng bào người dân tộc. Người ta thật thà, tốt bụng và quý người. Vừa kiếm sống vừa tích lũy vốn sống sau này vừa phù hợp với chân số của mày”.
Mình nghĩ ông này kinh, hiểu quá sâu về mình. Ông ấy không định kiến a dua theo dư luận lại còn có ý muốn giúp. Ông nhớ cả câu trong lá số của mình. Rằng là “Ở quê ăn ở chẳng yên, sau này lên núi, lên non mới thành”. Và cũng là “mối tình đầu XÃ NGHĨA”, con người ta sống với nhau. Đời sống còn nhiều khó khăn nhưng tình cảm trong sáng, không vụ lợi hoặc “Ông mất chân giò bà thò chai rượu”, có đi có lại như bây giờ!
 Đang sống ở Hà thành bụi bặm, ngột ngạt, những người là người, lênh bênh như trứng treo trong giỏ. Công việc nay có mai không, ba cọc ba đồng buộc vào cỗ máy nhà nước dăm ba tháng lại chực văng ra ngoài. Nay được ra chỗ rộng rãi, thoáng đãng, môi trường tử tế ai mà không ham? Tâm trạng mình như anh tù vừa được tha, sướng khôngtảđược!
 Mình sắm sửa lên đường ngay. Chỉ định đi một vài năm, rồi “Châu về hợp phố”. Ai ngờ dính với núi với rừng gỡ không ra, mãi cho đến bây giờ!
Bạn trên núi cao một thời coi mình như người trong nhà. Bốn, năm cái “cùng” chứ không chỉ “ba cùng” như mấy ông cán bộ hồi cải cách, hay mấy ông “nằm vùng” ngàynay.
Ấy là mình nghe kể lại và tìm tòi qua sách vở, chứ hồi “cải cách”, mình đã biết “cải cách”làcáiquáigìđâu?
Còn cái anh “Nằm vùng” hiện tại, quá lắm chỉ một, hai “cùng” thôi. Anh nào bám dân chỉ cùng ở, cùng ăn đã là tốt rồi. Làm gì còn ai cùng làm, “Ba cùng” nữa?
Mình khác. Chẳng những cùng ăn, cùng ở, cùng làm..Còn cùng suy nghĩ và cùng vui, cùng buồn, sướng khổ với các ông ấy. Người ta đối với mình thế nào, mình quý báu lại người ta như thế.
Lâu nay thêm tí danh hão, mình bận công việc như lông lươn, chả lúc nào rảnh.
Lâu lâu mới lên thăm các ông ấy được một lần. Các lần thăm viếng ấy thường không gặp may. Rất ít khi gặp các ông ấy có mặt ở nhà. Hôm thì có ông đi “Cầu làng”, hôm ông đi làm “Ma khô”, hôm vợ chồng cơm nắm lên nương, ở lại đó đến tối mới về. Mình đi tranh thủ, làm sao đợi được đến ngày hôm sau?
Sự thực là thế, nhưng công nhận mình vẫn thiếu quyết tâm, thiếu nhiệt tình. Con người ta muốn tốt với nhau, muốn gặp gỡ ân tình có trở ngại nào ngăn cản được? Chẳng qua mình tự dối lòng, tự an ủi mình thôi. Cái chính vẫn là ngại đi bộ, đường xa. Cái thời mũ lá, măng rừng leo núi, vượt đèo hàng chục cây số “như xưa” mất rồi. Con người ta hơi sướng một tí là quên, sợ ngay cái khổ, dễ hư thân. Mình còn thế huống chi những anh miệng rộng, bụng to, quan liêu, quan cách? Chả trách chủ trương cứ như ở trên giời.   Muốn giúp người vùng cao mà giúp không phải lối.
Định dịp cuối năm, nhân thể “đi thực tế tối tác” có thời gian sẽ ở lại vài ngày. Nướng bắp non, uống rượu hoẵng, chuyện tào phào với các bạn “tồng”.
Chưa kịp đi các ông ấy có việc về tỉnh, ghé nhà chơi. Nào mật ong, mộc nhĩ, gà, gạo lỉnh kỉnh như kiểu đi thăm người ốm.
Lại mừng và nhậu..

**
Bốn thằng mình, tuy là bốn “tông” người khác nhau ngồi theo thế “Tứ trụ trào đình” đang “mở hội tâm hồn” đãi nhau, chứ không phải như bác Chế “đãi núi sông”đâu. Sông núi thì tâm hồn đãi làm sao được? Mà chỉ tâm hồn thôi cũng chưa chắc đã đủ. Sông núi cần thứ khác, cụ thể hơn, mãnh liệt hơn, can đảm, sáng suốt hơn. Tâm hồn suông thì nước mẹ gì?
Rượu rót ra chén, lời thật thà tử tế rót vào lỗ tai. Thằng người Mèo bảo: “Tao xem vườn nhà cái mày rậm quá. Để hôm này tao vác con máy xuống hộ cho một buổi. Để thế này định nuôi chồn à?” Mình bảo không phải, không phải. Chẳng qua bận quá, chưa mượn được người. Với lại làm rừng cần phải giữ “thực bì”. Phát sạch cỏ, độ ẩm giảm đi đâu có tốt? Nó cau mặt: “Đúng là cái mày học cày đường nhựa rồi. Phải phát quang đi cây mới lên được chứ?” Mình thế á, thế á? Hôm nào xuống giúp tao đi. Nó chả cần nghĩ lâu, đầu gật như gà mổ thóc! Thằng người Mán bảo: “ Cái gói tao đưa cho mày lúc nãy, đem ngâm rượu ngay đi. Dưng phải để lâu lâu mới uống. Uông lâu không nên đâu!”. Còn anh Thổ chả nói gì, gắp thức ăn cho cả ba: “Ăn tí đi đã. Uống không thế này khác gì rượu nhắm với thịt mình. Chuyện đâu chốc nữa nói. Ừ thì ăn. Uống..
 Đang vui có người thập thò trước cửa. Con chó Mèo lông xồm chồm ra, người đó kêu ré lên. Mình vội chạy ra:
- Ai đấy? Có việc gì à?
- Tôi đây, có việc mới đến tìm ông. Không có đến làm gì?
Không đợi mình mời người đó gù gù kiểu “bố bản” cứ thể xông vào. Mình điên thật sự. Thằng nào chứ thằng này mình không muốn nó vào nhà tí nào. Ngày thường mặt nó tôi tối, môi mỏng xám ngoét. Không hiểu sao hôm nay mặt nó đỏ tía lên. Cái trán hói cao như kiểu trán lãnh tụ bóng nhãy mồ hôi. Hai tay nó khuỳnh khuỳnh vòng trước đưa đi đưa lại, như thể chuẩn bị vào “trung bình tấn”, nom rất gây sự. Nó va mình mấy lần, mình đã cho nó nếm mùi đời, cạch mình đã lâu lâu. Hôm nay dáng vẻ khiêu khích thế này, chắc là có chuyện. Mình đoán thế dù chưa biết có chuyện gì? Mình đâu có vướng mắc hay làm hại gì nó? Thằng “kiêu binh” này muốn gi?
Nếu nhà không có khách mình sẽ từ tốn nói với nó là mình đang bận, hay có việc ngay bây giờ phải đi. Không phải mình hốt hãi, ngại gì thằng đó, chỉ là không muốn nói chuyện với hạng người này. Nhưng lúc này không lẽ đuổi nó đi? Mấy ông bạn kia sẽ nghĩ thế nào về mình? Dù sao nó cũng là người cùng một dãy nhà với mình. Có một vị láng giềng như thế, chả đáng lấy làm xấu hổ lắm sao?
Đành phải để hắn ngồi xuống ghế. Các ông bạn chân thành của mình vội lấy thêm cái chén, rót rượu cho nó. Mình than thầm, thể nào rồi cũng có chuyện..
Y như rằng! Hắn nhắc lại câu chuyện mấy hôm trước gặp mình ở nhà lão bí thư. Lão ấy cứ hỏi chuyện này, chuyện khác, chỗ nọ xọ chỗ kia. Lạ nhỉ, người cương vị như lão sao kiến văn eo hẹp thế không biết? Cái gì cũng hỏi? Vui mồm mình kể chuyện mấy ngày rong ruổi trên cao nguyên Đà Lạt. Gặp bà con người Lâm Hà.. Toàn những chuyện chả liên quan gì đến hắn. Không biết hắn nhắc lại hôm đó là sao nhỉ?

**
Đáng lẽ thằng bỏ mẹ này phải cảm ơn mình mới phải. Hồi giải tán hợp tác xã nó mất chân thư ký đội. Từ nay làm thật ăn thật, không thể thăn thiến được của ai.
Dân làng đỡ hơn trước một chút, nhưng nhà nó lại đi xuống.
Nó vẫn hãnh diện với mọi người: Từng là lính lái xe tăng, tàu bò, từng là ‘Dũng sĩ” nọ kia. Nhà nó có tủ gương, giường mô đét, là những của quý lúc bấy giờ. Lại năm gian nhà ngói, vườn rộng hàng mẫu. Cả xã chưa ai biết đi xe máy thì nó đã mua Pốt xoa. Mua để cho oai chứ đâu đã có đường mà đi được? ( Riêng thuê chiếc thuyền chở từ Vật Trì về đã bằng tiền nhà người ta ăn tiêu cả năm. Thế mới kinh! )
Đang ở trên trời như thế, tự nhiên rơi xuống đất. Nó chán, lao vào rượu chè, bài bạc là những thứ mà trước đây nó ghét, nó khinh bỉ.
Của nả trong nhà cứ dần dà đội nón ra đi. Cuối cùng vợ nó ra đi nốt. Riêng về chuyện này không phải lỗi ở thị vợ nó. Dù có nghèo khổ đến đâu, con gái làng này cũng không bao giờ bỏ chồng, bỏ con để sướng một mình.
Thị ra đi vì chuyện khác..
Thằng em trai nó đang ở trên “chốt”. Tình hình biên giới mỗi ngày một căng, tay ấy ít khi về.
Đứa em dâu lại rờ rỡ như hoa hải đường. Nó thèm và đã bước qua hàng rào luân lí!
Mình không rõ chuyện ấy có thực hay không?
Nhưng dân làng bảo là nó có chuyện với đứa em dâu.
Con này sinh ra một thằng bé có đuôi dài độ nửa mét, mắt mũi dính lại với nhau và có đến mấy cái tai!
 Nhà nó họp lại, không dám nuôi, nửa đêm bắt phải đem chôn dấu dân làng ở gốc cây mít.
Nửa tháng sau ông bố đẻ nó vào một đêm tối trời, treo cổ tự vẫn chính cây mít ấy. Khi cả nhà phát hiện ra, người ông đã cứng, lạnh tím tự bao giờ rồi!
Sau chuyện đó, nó dở điên dở khùng, nhưng lúc không rượu lại nói năng rất văn hoa. Người xa mới gặp ai cũng nghĩ nó là người hiểu biết lịch sự..
Chính khi ấy mình về. Nó chủ động đến chơi, nghe nó nói chuyện mình có chút cảm tình. Ở cái chốn rừng xanh núi đỏ xa cách thế giới này, có một thằng như thế ai lại không muốn? Mình đâu biết quá khứ hay dở thế nào đâu?
Thằng bỏ mẹ kể những ngày oai hùng của nó. Mình nghe mà thèm. Nó bảo : “ Thực ra bài hát năm anh em trên một chuyến xe tăng là người ta hát cho có vần. Đúng ra xe tăng ta thời bấy giờ chỉ có bốn người. Vừa lái chính lại phụ, xạ thủ, thợ máy. Dưng mà chả sao, thơ nhạc cũng phải "mô đi phê" đi một tí chứ. Có sao hát vậy thì làm sao mà nghe cho được”. Mình phục. Thằng này tài. Biết cả chuyện éo le, bếp núc của văn học nghệ thuật, không phải người thường!
Mình có cô bạn người dưới Phòng trước cùng học một khoa với mình. Chồng nàng lái tàu Vích Ko lớ sớ thế nào lâm vào cảnh lao lí. Nàng bán nhà lên Hà Nội ngồi chè chén ngoài ga Hàng Cỏ, kiếm sống qua ngày. Lại thêm một thằng con trai mới ba bốn tuổi. Mình tình cờ gặp nàng trong một chuyến vi hành. Người cũ, bạn xưa, oan khiên hiện tại khiến mình động lòng. Nàng theo mình lên nhà chơi, nhận bà mẹ mình là mẹ nuôi. Thực ra mẹ mình đâu có nuôi nàng được ngày nào?
Sau này mình cứ ân hận mãi, nếu không có cuộc gặp gỡ định mệnh ấy, bạn mình đã không khổ. Hoặc giả mình không gặp chuyện ngang tai trái mắt bỏ nhà đi chừng ấy năm, thì đã không có chuyện. Hắn lấy được nàng, nghe nói được mấy tháng đầu hạnh phúc lắm. Mình về thăm nhà, vợ chồng hắn đưa con lên chơi mang cả rượu cả gà.. Mình nghĩ vậy là mình đã làm được điều nhân nghĩa, phúc đức. Một thằng mất gần hết tính người gặp được người bơ vơ chân trời góc bể, đấu níu nhau, làm lại cuộc đời. Qúa tốt rồi còn gì để nói?
***
Ngồi vào bàn nhậu rồi, nó không cần ý tứ. Bạn trên non cao của mình rót chén nào ra, nó không để “long đen” chén ấy. Liên tay gắp cho người, lại gắp cho mình.( Muốn ăn thì gắp cho người cũng chẳng sao). Mình nghĩ thằng này lâu ngay háo chất. Sống một thân một mình, bữa thất bữa thường, Người có gia đình hẳn hoi lúc khó khăn này còn sất bất sang bang, huống chi đơn người, phù phiếm vật vờ như nó? Không thông cảm chiếu cố đến hoàn cảnh của nó thì mình đâu còn là con người. Chỉ mong cho nó “đến vạch”, đứng lên ra về. Mấy ông bạn trên núi lại càng thật thà chăm sóc..
Ai ngờ cuối bữa, nó nhắc chuyện hôm gặp nhà bí vừa rồi.
Hôm ấy nó cắt ở đâu mấy cành bưởi bảo là giống quý đến nhà bí chơi lần cuối!
Hỏi sao là lần cuối?
Nó bảo: “ Chả thiết ở cái làng này nữa. Sống buồn thế đủ rồi, tôi đến gặp ngài để ngày mai đi..”
Bí đâm hoảng. “ Thằng này có họ xa với mình. Nó định đi đâu? Hay là..? Nhà nó có cái zen tự vẫn. Ngoài ông bố nó còn đứa con trai bảo mà làm, thực ra uống thuốc ngủ chui vào bụi chết. Lại thằng cháu gọi nó là chú ruột. Hay là thằng này định “Theo chân” bố nó?” Vội vàng an ủi, động viên.
Mình cũng góp lời, thôi đi làm gì? Ở đâu cũng đường đất nhà trời. Ở đâu cũng phải làm phải ăn. Chả có chỗ nào ngồi mát mà ăn bát vàng đâu bác ạ!
Nó long mắt gừ mình:
- Mày thì biết sao được nỗi khổ của tao? Hồi ấy mày có nhà đâu? Con cái Quy ( Chính là cô bạn học của mình ) tao quý nó như vàng. Nó nỡ bỏ tao đi mang theo cả giọt máu của tao nữa. Chúng mày tưởng tao đi chết à? Đừng có nhầm. Tao đi tìm vợ con chứ dại gì mà tự vẫn?
Bí mừng ra mặt. Thế là đỡ đi một “vấn đề” phức tạp. Còn mình lại lo.
Ngày mình qua Lâm Đồng, thế nào lại gặp Quy. Đúng là oan gia lối nhỏ! Mình chỉ mong Quy đừng trách giận gì mình:
Nàng bảo chả qua là tại nàng chưa tìm hiểu sâu sát, lấy phải ác ma. Nó đánh nàng lên bờ xuống ruộng. Bắt phải đưa thằng cu con nàng về quê ngoại. Mà quê ngoại nàng đâu còn ai? Không có cách nào thuyết phục cảm hóa nổi con người này. Cuối cùng nàng lại một lần nữa cất bước lên đường. May mà vào đến trong này gặp được người tốt, mới có ngày hôm nay. Nàng gặp mình cốt để hỏi thăm hiện tại chồng cũ là nó đang sống như thế nào? Mình kể qua loa cho nàng nghe. Nàng lặng người đi một lúc. Nàng dặn mình đừng nói gì với hắn về chuyện này. Cho mình số điện thoại để khi nào nàng cưới con mời mình vào dự đám.

Mình đã giữ lời hứa với nàng không nói gì. Không hiểu sao nó lại biết có cuộc gặp gỡ đó?
Mình nghĩ mãi. Có lẽ hôm đó khỏi nó về một lúc, chả biết cám cảnh về nỗi niềm của nó hay mấy chén rượu ngâm bìm bịp nhà bí mà mình hở chuyện. Quên cả việc nó với bí là chỗ họ hàng. Có lẽ thông tin từ lỗ này dò rỉ ra chăng?
****
Mồm ăn miệng nói, nó liên thuyên về cái thời ra ngõ gặp anh hùng. Bản thân nó cũng là một “anh hùng chính danh”. Bạn vùng cao của mình cứ trố mắt ra mà nghe. Sao cái thằng xấu xấu bẩn bẩn này lắm tài thế nhở? Cái gì cũng biết, cái gì cũng hay. Trên đời này chả có cái khó nào mà nó chưa từng trải qua!
Bạn mình phục và nể nó quá!
Bạn người Mèo còn hẹn nó: “Hôm nào lên cái tao chơi”!
Người vùng cao vắng vẻ thích nghe chuyện và quý người một cách đơn sơ như vậy. Bạn Dao còn xin nó số điện thoại. Thằng bỏ mẹ cười ngượng ngịu: “ Mình quên không mang”.
Thực ra nó nào có dùng? Gọi đi đâu và nghe ai gọi mà dùng điện thoại?
Nó phét thế thây kệ nó. Mình chỉ mong cho nó đứng lên, kết thúc cuộc gặp bất đắc dĩ này.
Đột nhiên nó quay sang mình:
- Tớ có việc phải về. Nhưng trước khi về cậu cho tớ số của..
- Làm gì có số nào? Ông với bà ấy vợ chồng với nhau bao nhiêu năm còn chả có nữa là tôi?
- Này đừng dấu nhau, lão bí nó bảo cậu biết số của mẹ con cái Quy, cậu giấu tớ làm gì?
- Ông này hay! Tôi dấu làm gì? Nếu ông bí biết thì hỏi ông ta ấy, sao lại hỏi tôi?
- Hay là mày có chuyện gì với nó mà mày dấu?
Tôi nóng hết cả mặt mày, định lôi luôn nó ra cửa, nhưng nghĩ nhà đang có khách, không nên. Bạn Thổ trên làng Lan đã nóng mắt, lại không bình tĩnh như mình, nói ngay:
- Có, người ta mới cho mày được, không có lấy đâu cho, sao lại nói thế?
Nó nhếch mép cười khẩy:
- Mày biết đéo gì chuyện này mà tham gia? Thích gây với tao hả? Có biết bố mày là ai không?
Bạn thổ giận tím mặt, từ từ đứng lên. Có lẽ bạn ấy tức nó về câu văng tục vừa rồi..Nó ra tay trước, vơ vội cái bát vèo một cái ngang qua mặt mình. Không trúng ai. Cái bát chỉ làm vỡ cái khung ảnh “Gia đình văn hóa”  treo trên tường.
Cuộc đấu không hẹn của hai bên diễn ra ngay trên sân nhà. Hai kẻ không quen biết lăn xả vào nhau. Mọi người chạy đến nhưng không ai làm cách nào ngăn cản được. Đúng là thằng dở có vài miếng của thời “lực lượng đặc biệt”. Anh bạn Thổ cũng không phải tay vừa. Bài “Miêu quyền” giờ được lúc trổ tài, tấn thủ mau lẹ..
Mọi chuyện xảy ra bất ngờ quá, mình lúng túng chưa biết làm sao. Có lẽ tại cái thứ men rượu của bọn người “nước lạ” bán sang đây? Con người ta bỗng chốc trở nên rồ dại, mất bình tĩnh do thần kinh căng thẳng đột ngột. Người bình thường còn có thể chịu đựng được. Nhưng với với kẻ điên sẵn, rồ sẵn, lại có dòng máu mang “zen tự vẫn” như thằng này, không bị điên hẳn, mới lạ!
Hai đấu thủ kẻ thì xưng má, kẻ trều môi vẫn quyết một lòng sống chết lăn lộn vào nhau. Vớ được cái gì liệng về đối phương cái đấy. Vừa may có một người vác đâu cành dòng tre gai lùa vào giữa..
Đây là kinh nghiệm khi có hai con trâu cà đánh nhau, thật là hiệu nghiệm! Áo của cả hai “võ sư - võ sĩ” quấn chặt vào mớ gai đó, nhùng nhằng gỡ mãi không ra, cuộc tỉ thí mới tạm dừng. Cũng là lúc người nhà nó nghe tin chạy đến.
Không hiểu sao hôm nay bọn chúng mát tính. Không té nước theo mưa, kéo bè kéo cánh gây thêm sự như ở nơi khác, còn xin lỗi mình, đưa tên bỏ mẹ về nhà!
Bữa rượu thành ra hỏng. Bạn mình trên núi giận dữ bỏ ra về. Bao lâu mới gặp chỉ một chuyện không đâu vào đâu, chuyện nọ xọ chuyện kia mà nên nỗi!
Mình buồn, chả biết các anh í có hiểu cho tấm lòng của mình nữa hay không?




Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tiết lộ sự thật khủng khiếp về chính quyền Triều Tiên

Nhật Đăng/ Thanh niên

Nhật Đăng/ Thanh niên
Ảnh bên:“Khi quyền lực trao lại cho thế hệ thứ ba, nó đã trở nên tàn bạo hơn", Lee Young-guk nói - Ảnh: AFP

 “Khi quyền lực trao lại cho thế hệ thứ ba, nó đã trở nên tàn bạo hơn. Kim Jong-un đã tạo ra lòng trung thành, song nó là lòng trung thành bắt nguồn từ sự sợ hãi”, CNN dẫn lời một cựu bảo vệ đã trốn khỏi Triều Tiên.

Lee Young-guk nằm trong số 25.000 người trốn từ Triều Tiên sang Hàn Quốc. Ông ta kể với CNN rằng mình từng là vệ sĩ cho Kim Jong-il.

Để trở thành vệ sĩ của cựu lãnh đạo Kim Jong-il, một người phải dùng đầu húc vào chồng gạch, chịu đựng những cú đập bằng búa tạ từ đá granite, dùng ngón tay chọc vỡ bóng đèn, bị tẩy não..., người này kể lại.

“Tại sao phải làm tất cả điều này chứ? Đó là để xây dựng lòng trung thành. Một khẩu súng lục hay thế võ taekwondo không thể giúp bạn thắng cuộc chiến tranh hạt nhân và công nghệ cao hiện tại, nhưng quan trọng là tinh thần, nó tạo ra lòng trung thành”, Lee nói với CNN.

Việc rèn luyện thể lực, kỹ chiến thuật chỉ là thứ yếu. Điểm không thể bỏ qua trong quân đội là quá trình tẩy não ý thức hệ. Ví như Lee, người ta bắt anh phải xem Kim Jong-il như vị thần, một “lãnh tụ kính yêu” và là mục tiêu duy nhất giống như anh sinh ra để phục vụ.
 
Kim Jong-il (phải) gặp gỡ tổng thống Hàn Quốc Kim Dae Jung năm 2000 - Ảnh: AFP
Lee kể điều duy nhất trong đầu người sát cánh cùng Kim Jong-il là nguy cơ đối diện cái chết. Kim Jong-il được mô tả “có hai mặt”. Khi vui, ông ta có thể cho vàng và khi tức giận, ông ta có thể ra bất kỳ lệnh trừng phạt nào. Nguy hiểm nhất, tính “hai mặt” của Kim Jong-il có thể khiến ông ta quyết định chặt đầu người đối diện ngay cả lúc đang vui.

Lee nhớ lại một lãnh đạo cấp cao từng bị phát hiện sử dụng thang máy và gạt tàn riêng của Kim Jong-il, ông này lập tức bị đưa đến trại tập trung và bị xử tử sau đó.

Sau khi trốn khỏi Triều Tiên, Lee Young-guk hành nghề nông để kiếm sống đồng thời viết sách về cuộc đời mình ở Bắc Hàn. Khi được hỏi về lãnh đạo Triều Tiên hiện tại Kim Jong-un, Lee kể:

“Kim Jong-un đã giết cả chú mình, người mà Kim Jong-il khi xưa không đụng tới”, Lee nói và tiếp lời: “Khi quyền lực trao lại cho thế hệ thứ ba, nó đã trở nên tàn bạo hơn. Kim Jong-un đã tạo ra lòng trung thành, song nó là lòng trung thành bắt nguồn từ sự sợ hãi”.

Kim Jong-un kế thừa vị trí lãnh đạo tối cao của Triều Tiên từ Kim Jong-il, và là nhân vật nổi tiếng thế giới với nhiều câu chuyện bí ẩn.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Một lần tới Huế, tôi đã gặp ông, đăng lại bài này của Nhật Tuấn để nhớ:

CHÂN DUNG HAY CHÂN TƯỚNG NHÀ VĂN 


                                                                               
              NHÀ VĂN HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG

Hồi năm 1978, ông bạn họa sĩ Trịnh Tú, lúc đó là thư ký bác sĩ Tôn Thất Tùng, GĐ bệnh viện Phủ Doãn một hôm rủ tôi :
“ Tới thăm vợ chồng Hoàng Phủ Ngọc Tường đi !”
Tôi ngần ngại :
“ Có việc gì cần không ? Nếu không thì ngồi quán bà Dậu làm chén rượu chẳng hơn à ?’
Hồi đó tôi ở phố Ấu Triệu sát ngay bệnh viện Phủ Doãn nên Trịnh  Tú thưởng lẻn sang rủ tôi uống rượu ở quán bà Dậu ngay đầu phố tôi. Nguyên là ông bạn vàng này mới nhờ tôi đưa bồ hắn từ Sàigòn ra đi thăm nuôi chồng vốn là sĩ quan quân đội cộng hòa đang cải tạo mãi tại vùng rừng núi heo hút   Thanh Hóa. Vì không phải thân nhân nên tôi không được vào trại , phải ngủ rừng một đêm muỗi cắn gần chết. Sợ ông bạn lại “sai” việc nữa , tôi giao hẹn trước :
“ Tới chơi thôi, còn có việc thì thôi nhé !”
Trinh Tú cười cười :
“ Tới giúp bà Mỹ Dạ, vợ ông Tường đi khám bệnh…”
Tôi  gật gật:
“ Vậy thì được…”
Tôi tưởng vợ chồng nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường phải ở một căn hộ nào đó ở khu hồ Tây hoặc khu nghỉ dưỡng Quảng Bá, không ngờ Trịnh Tú đưa tôi lên đường đê La Thành vào trường viết văn Nguyễn Du tới một căn buồng  mái tranh, vách đất, trống huếch trống hoác, giữa nhà trải chiếc chiếu, một người đàn ông gày guộc, ngồi xệp, hai đầu gối qúa tai. Chắc đã hẹn trước, nhà văn vồn vã mời ngồi, còn chị vợ  - nhà thơ Lâm thị Mỹ Dạ thì xin phép vào bếp rang…lạc đãi khách. Trịnh Tú vội xua tay :
“ Thôi thôi…tôi tới coi sức khỏe chị sao ? Liệu có giúp được gì rồi phải  về ngay…”
Trong lúc Trịnh Tú hỏi chuyện chị vợ thì tôi ngắm nhà văn . Ôi chao ôi , người đàn ông gày  gò, ốm đói kìa lại là người viết ra bút ký “ Rất nhiều ánh lửa “đăng trang nhất báo Văn Nghệ ư ? Điều kiện sống tối tăm và ẩm thấp thế này ông lấy đâu ra lửa ?
Trên đường về tôi la oai oái. Thật không thể tưởng tượng được, một  “nhà văn viết bút ký hay nhất của văn học ta hiện nay” ( Nguyên Ngọc) ,  hồi Tổng tấn công Tết Mậu Thân 1968 ở Huế là tổng thư ký Liên minh các Lực lượng Dân tộc Dân chủ và Hoà bình Thành phố Huế , soạn “Lời hiệu triệu” kêu gọi quần chúng nổi dậy, thu băng phát đi khắp các nẻo đường, phố phường Huế Tết Mậu Thân , có thành tich lớn trong phong trào “diệt ác, trừ gian”, theo đồn đại đã từng ngồi ghế Chủ tọa Tòa  án Nhân dân tại trường Gia Hội . Năm 1972 được điều ra làm Trưởng Ty Văn hoá tỉnh Quảng Trị ở Đông Hà  (vùng mới giải phóng của Mặt trận Giải phóng), 17 năm kiên trì làm “đối tượng Đảng” rồi được kết nạp…
Một người đã bỏ đô thị “lên xanh” theo cách mạng với thành tích lớn thế sao ra Bắc lại bị “đãi ngộ” nghèo nàn đến vậy.
Ra khỏi nhà Hoàng phủ Ngọc tường, tôi lo lắng hỏi bệnh tật chị Mỹ Dạ, Trịnh Tú gạt đí :
“Bệnh tật gì đâu…bệnh thiếu…protide ấy mà…ăn uống thiếu thốn, kham khổ nên sinh bệnh thế thôi.”
Tôi nổi cáu :
“ Một cặp nhà văn –nhà thơ có nhiều đóng góp cho cách mạng sao giờ lại đối xử vậy ?”
Trinh Tú cười hề hề :
“ Cậu đi hỏi mấy ông trên, sao hỏi tớ ? Thôi, ghé quán bà Dậu làm chén “cuốc lủi” , mặc mẹ sự đời .”
Sau này vợ chồng Hoàng Phủ Ngọc Tường rời Hà Nội trở về Huế và nghe nói được “đãi ngộ” khá hơn.  Ở Đại hội Nhà văn lần thứ V (1995), văn phòng Tổng Bí thư Đỗ Mười đưa xe đến mời nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường tới gặp riêng  Tổng bí thư. Dịp tết Ất Dậu, ông Đinh La Thăng, giờ là Bộ trưởng Bộ Giao Thông Vận Tải  nổi tiếng vụ “trảm tướng” sân bay Đà Nẵng, đòi đánh thuế cả xe máy dân nghèo, lúc đó là  Phó bí thư thường trực Tỉnh ủy đến tận nhà, tặng vợ chồng nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường một dàn máy tính xịn. 
Năm 1980-1981, được Giải thưởng Văn học Hội Nhà văn Việt Nam với tập “Rất nhiều ánh lửa” (1979). 
Năm 2007, được  Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật, cùng đợt với vợ là nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ. 
Ông từng làm Tổng biên tập Tạp chí Sông Hương và Tạp chí Cửa Việt.
Tháng 7-1997, Hoàng Phủ Ngọc Tường sang thăm Paris. Khi được bà Thụy Khuê (RFI) hỏi :
Nhìn từ phía những dữ kiện lịch sử mà anh nắm bắt được, diễn biến Mậu Thân đã xẩy ra trong một trình tự như thế nào"
Ông đã trả lời :
“  Điều quan trọng còn lại tôi xin ngỏ bầy ở đây, với tư cách là một đứa con của Huế, đã ra đi và trở về, ấy là nỗi thống thiết tận đáy lòng mỗi khi tôi nghĩ về những tang tóc thê thảm mà nhiều gia đình người Huế đã phải gánh chịu, do hành động giết oan của quân nổi dậy trên mặt trận Huế năm Mậu Thân. Đó là một sai lầm không thể nào biện bác được, nhìn từ lương tâm dân tộc, và nhìn trên quan điểm chiến tranh cách mạng…”
Phải chăng vì những oan hồn đó, sau này trên giường bệnh, ông làm những câu thơ đậm chất “tâm linh” :
Những chiều Bến Ngự dâng mưa
Chừng như ai đó mơ hồ gọi tôi
Tôi ra mở cửa đón người
Chỉ nghe tiếng gió thổi ngoài hành lang.
Hoặc :
         “Nợ người một khối u sầu
        Tìm người tôi trả ngày sau luân hồi ……”
Cũng trên giường bệnh, trả lời nhà báo, Hoàng Phủ Ngọc Tường thành thực :
“ Nhà văn phải nói lên sự thật…”
Qúa đúng, với ông , có lẽ trước hết là sự thật về cuộc Tổng tiến công nổi dậy năm Mậu Thân ở Huế.
Nhà thơ Xuân Sách có lẽ hiểu khá thấu đáo Hoàng Phủ Ngọc Tường nên đã hạ bút :
“Trăm năm ông phủ... Ngọc Tường ơi
Cái nợ lên xanh giũ sạch rồi
Cửa Việt tung hoành con sóng vỗ
Sông Hương lặng lẽ chiếc thuyền trôi
Sử thi thành cổ buồn nao dạ
Chuyện mới Đông hà tái nhợt môi
Từ biệt chốn xưa nhiều ánh lửa
Trăm năm ông phủ... Ngọc Tường ơi!”

Phần nhận xét hiển thị trên trang

THỜI 2 Đ - blog NHẬT TUẤN: CHUYỆN XƯA - NAY MỚI NÓI - KỲ 12 5 - Chuyện rìa….đ...

THỜI 2 Đ - blog NHẬT TUẤN: CHUYỆN XƯA - NAY MỚI NÓI - KỲ 12 5 - Chuyện rìa….đ...:       Đại hội nhà văn lần thứ 8, theo như trả lời PV BBC, nhà thơ Trần Mạnh Hảo cho rằng “ không phải là đại hội của những nhà vă... Phần nhận xét hiển thị trên trang

Cái cậu Baron Trịnh thật đáo để, sao lại lượm ảnh mô tả chị em thế này?

Gái khùng!


Chung quy cũng tại vua Hùng
Sinh ra một lũ vừa khùng vừa điên

Chân dài, da trắng mắt nâu
Nhưng không có óc trong đầu, phỏng em?

Trông xa nghĩ cảnh thiên nhiên
Lại gần thấy một con điên đang cười

Chân em dài phải mét hai
Cơ mà óc chắc là lai óc bò

Em trần truồng tắm trong lu
Để hàng xóm chửi: con ngu khoe hàng

Bông hoa có tội tình gì
Mà con dở ở Trâu Quỳ vít xem

Khổ thân tàu chuối vô tri
Bị đem che cái đen sì của em

Người xinh khoe dáng bên hoa
Em xấu khoe dáng bên lò cứt ngâm

Đến trâu cũng phải tần ngần
Rằng, sao có đứa tâm thần thế kia

Sinh viên tích cực làm tình
Nguyện hết cmn mình mới kinh

Người ta so bưởi với dưa
Em như con dở so bừa bí ngô

Con bò có một cái u
Còn em có một túi ngu trong người

Người ta phơi lúa phơi ngô
Còn em phơi cái tô hô… lạ nhề.

Nguồn hình ảnh: Sưu tầm trên internet.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Bảy, 8 tháng 11, 2014

“Mải mê đuổi một con diều/ Củ khoai nướng để cả chiều thành than”

(Nhân kỷ niệm 47 năm nhận công tác ở Bộ Nông nghiệp, ngày 05 tháng 8 năm 1967)

Vũ Trọng Khải

Hồi nhỏ, tôi sống ở núi rừng Việt Bắc, nên đã biết chăn nuôi dê, gà và trồng rau, biết vào rừng tìm kiếm lâm sản để giúp mẹ tôi kiếm sống. Nhưng từ sau năm 1954, tôi sống cùng cha mẹ ở thành phố cảng Hải Phòng, trở thành thị dân, không biết gì về nông nghiệp, nông thôn. Năm 1963 sau khi tốt nghiệp phổ thông, tôi dự thi vào Đại học Bách Khoa Hà Nội, ngành Vô Tuyến điện. Nhưng giấy báo gọi nhập học lại là Đại học Kinh - Tài (Kinh tế - Tài chính), sau đổi thành Đại học Kinh tế - Kế hoạch, nay là Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội. Lúc đó, học ngành gì do Đảng và nhà nước phân công, ít khi phù hợp với nguyện vọng cá nhân. Nhập học trường Đại học Kinh - Tài, người ta phân tôi học ngành Kinh tế Nông nghiệp, thuộc khoa “công - nông” (kinh tế công nghiệp và kinh tế nông nghiệp).
Tôi lên văn phòng khoa, trình bày nguyện vọng, xin chuyển sang ngành Kinh tế Công nghiệp, vì tôi là thị dân trên đất Cảng, không biết gì về nông nghiệp, nông thôn. Ông Nghĩa phụ trách Tổ chức - Hành chính khoa bảo: “Học sinh phổ thông thì học ngành gì chẳng được. Tổ chức đã phân công, không thể thay đổi được”. Tôi đành bằng lòng học ngành Kinh tế nông nghiệp, khóa 5 (1963-1967) của Đại học Kinh - Tài. Sau này, tôi mới biết việc phân công sinh viên vào học các ngành của trường Đại học này theo mức độ “tốt, xấu” của lý lịch: (i) Ngoại giao, ngoại thương; (ii) Kế hoạch hóa; (iii) Tài chính, ngân hàng; (iv) Kinh tế Công nghiệp. Còn Kinh tế Nông nghiệp dành cho những người có lý lịch như tôi: “tiểu tư sản”. Ba mẹ tôi đều không phải là Đảng viên Đảng Lao động (nay là Đảng Cộng sản). Thế là tôi được ưu ái lắm rồi, so với các bạn đồng tuế khác, lúc đó. Tôi có một người bạn kém tôi gần 10 tuổi. Bà mẹ anh ấy đã kể với tôi rằng: anh ấy giỏi và mê văn lắm, nhưng hai lần thi vào Khoa Văn, trường Đại học Tổng Hợp, Hà Nội, đều trượt. Lý do rất đơn giản: Bố anh ấy tuy đã là đảng viên Đảng Cộng sản từ 1930 trong phong trào cách mạng “Tiếng trống Tiền Hải”, đã từng là Thiếu tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam, Thứ trưởng, Bí thư Đảng đoàn của một bộ, nhưng đang ở tù vì bị quy là “thành phần xét lại, chống Đảng”. Bức xúc vì con trai không được vào đại học chỉ vì lý lịch, bà mẹ anh ta lên Ban Tổ chức Trung ương Đảng phản đối và làm ầm ĩ. Cuối cùng, vị chuyên viên Ban Tổ chức Trung ương Đảng hỏi bà mẹ anh ấy rằng “Chị có đồng ý cho cậu ấy học Đại học Nông nghiệp không? Nếu đồng ý thì tôi có thể giải quyết được”. Bà mẹ anh ấy đành chấp nhận. Ông chuyên viên liền nhấc điện thoại gọi đến trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, yêu cầu nhà trường tiếp nhận anh ấy học mà không qua thi tuyển. Nhà trường buộc phải đồng ý, tuy rằng lúc đó đã là tháng 11, sinh viên các trường đại học ở Hà Nội đều đã học được hai tháng. Hiện nay, anh ta đã trở thành một vị tiến sĩ khá nổi tiếng và đang giữ chức Viện trưởng một viện thuộc một bộ quan trọng. Thế mới biết, ở cái đất nước có hơn 70-80% dân cư sống bằng nông nghiệp, mà người ta lại coi thường nông nghiệp như vậy. Những người có lý lịch chính trị “không tốt” theo tiêu chí của chế độ, chỉ có thể vào học đại học nông nghiệp! May mắn cho ngành nông nghiệp, những người bị bất đắc dĩ phải học các trường, khoa nông nghiệp vì lý do lý lịch “có vấn đề” lại thường là những người thông minh.
Thời đó, giáo trình Đại học Kinh tế hầu như được sao chép của Liên Xô và Trung Quốc. Chương trình học về chủ nghĩa Mac-Lenin bao gồm: Kinh tế Chính trị học, Triết học, Chủ nghĩa Xã hội Khoa học, mất hai năm. Chuyên ngành gồm hai môn là Kinh tế Nông nghiệp và Tổ chức Quản lý Xí nghiệp Nông nghiệp (nông, lâm trường quốc doanh và hợp tác xã nông nghiệp dựa trên chế độ sở hữu tập thể của nông dân về ruộng đất và các tư liệu sản xuất chủ yếu khác). Đương nhiên là giáo trình không dựa trên cơ sở quy luật của nền kinh tế thị trường, mà là nền kinh tế kế hoạch hóa, tập trung, quan liêu, dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất và do nhà nước chỉ huy thống nhất. (Thực chất là nền kinh tế nhà nước hóa cao độ).
Vậy là khi nước ta chuyển sang kinh tế thị trường từ 1986, toàn bộ kiến thức học ở Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội của tôi không còn giá trị gì. Nhưng cũng may là cuộc sống luôn mách bảo cho con người ta những kiến thức quý báu, đúng đắn. Nhờ quá trình công tác gắn bó, mẫn cảm với thực tiễn nông nghiệp, nông thôn, nên tôi ngộ ra nhiều điều về tính hợp lý của kinh tế thị trường. Và mỗi lần ngộ ra như vậy, trong bối cảnh không có thông tin từ thế giới văn minh, tôi cứ tưởng mình tìm ra “Châu Mỹ”. Thật thảm hại cho cái sự học của tôi. Lớp tôi có 48 sinh viên, nhưng chỉ có 8 sinh viên xuất thân là học sinh phổ thông. Trong 8 sinh viên này, tôi là người duy nhất sống ở thành phố. 40 sinh viên còn lại là cán bộ được cử đi học. Họ học chương trình phổ thông ở trường đặc biệt gọi là “Bổ túc văn hóa công nông Trung ương”, có khi một năm học hết chương trình ba lớp phổ thông. Họ gọi tôi là “nông dân cày đường nhựa”. Trong thời gian học đại học, có lẽ hứng thú nhất đối với tôi là giờ thảo luận trên lớp, đối thoại trực tiếp giữa thầy và trò. Ấn tượng sâu đậm nhất đối với tôi là cuộc đối thoại giữa tôi và thầy Đỗ Tư, dạy môn Chủ nghĩa Xã hội Khoa học. Thầy nói rằng, Lênin quan niệm: “Giai cấp vô sản làm cách mạng không mất gì. Có mất là mất xiềng xích, còn được thì được cả thế giới”. Tôi buột mồm hỏi lại thầy: “Thưa thầy, thế giai cấp hữu sản làm cách mạng thì được gì?”. Câu hỏi này không bị quy tội là thất lễ với thầy mà là tội “chết người”: “mất quan điểm, lập trường của giai cấp công nông”. May cho tôi, thầy Đỗ Tư là người uyên bác, rộng lượng, đã từ tốn giải thích về cái được của giai cấp hữu sản là tinh thần, lý tưởng, vì sự giải phóng giới cần lao khi họ đi theo giai cấp vô sản, làm cách mạng xã hội chủ nghĩa. Nhưng nhìn vào thực tế gia đình tôi, bạn bè của cha mẹ tôi, cách giải thích ấy thật khiên cưỡng. Ở Hải Phòng, ông Nguyễn Mạc là một nhà tư sản, bạn thân của cha mẹ tôi, không đi vào Nam mà ở lại để tham gia khôi phục kinh tế đất nước sau hòa bình lập lại, Hải Phòng được “giải phóng” (5/1955). Ông Nguyễn Mạc kinh doanh sản xuất giày, dép và đồ da các loại. Thường tối thứ 7, cha mẹ tôi và tôi đến ăn cơm thân mật tại tư gia của ông trên đường Trần Phú. Ông hồ hởi tham gia công ty hợp doanh với nhà nước trong công cuộc cải tạo tư bản công, thương nghiệp của thành phố cảng. Nhưng rồi, trong công ty hợp doanh, một vài công nhân “cốt cán” tố cáo ông tham gia “công đoàn vàng”, một tổ chức thân với chính quyền thời Pháp chiếm đóng Hải Phòng. Ông lo sợ bị đấu tố, cộng thêm với việc cha mẹ tôi mấy tuần liên không đến nhà ông ăn cơm như trước. Ông Đ.M, một vị lãnh đạo ở Hải Phòng lúc đó, đã khuyến cáo ba tôi là không nên có quan hệ quá thân tình với những người trong giới tư sản. Ông Mạc nghĩ rằng ba tôi sợ liên lụy với một người tham gia “công đoàn vàng”, nên không dám đến chơi. Rồi ông lo lắng, tuyệt vọng nên đã thắt cổ tự tử. Ông Đ.M lại trách ba tôi là đã không quan tâm, lui tới thăm viếng để giải thích chính sách cải tạo tư sản của chính phủ cho ông Mạc, nên đã dẫn đến cái chết bi thương ấy!?
Hơn 10 người con của ông Mạc đi học phổ thông bị phân biệt đối xử và không có ai được vào học đại học.
Về gia đình tôi, ba tôi bảo, lúc còn làm luật sư tập sự cho một luật sư người Pháp ở Hải Phòng, lương 70 đồng/ 1 tháng, đủ nuôi cả nhà, gồm bà nội, mẹ tôi, bốn anh chị em tôi, chú và cô ruột tôi. Sau khi hết tập sự, nếu ra lập văn phòng luật sư riêng thì, chỉ sau vài năm có thể mua được nhà, ô tô. Những điều đó đã không thành, vì trước năm 1945, ba tôi đã tham gia Việt Minh, theo cụ Hồ làm cách mạng tháng 8 ở Hải Phòng, rồi kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ. Đến khi chết (1/1996), cha mẹ tôi vẫn ở căn hộ tập thể, thuê của nhà nước với giá bao cấp, “gần như cho”, nhưng tiện nghi thì quá đơn sơ. Nhà ở 40 Lạch Tray gồm 5-6 hộ gia đình cùng sử dụng chung một nhà vệ sinh, hố xí xổm. Mỗi lần mưa, nước dưới bể phốt lại tràn lên mặt sân mà công ty quản lý nhà của nhà nước không sửa. Bức tường bao quanh nhà bị sập nhiều năm cũng không được xây lại. May mắn là năm 1968, luật sư Trình Đình Thảo, anh ruột mẹ tôi, từ Nam ra Bắc, xuống thăm gia đình tôi, người ta mới xây lại bức tường này để “bảo vệ ông Thảo” và mang đến một bộ salon để ba mẹ tôi tiếp ông Thảo. Sau đó, người ta lại mang bộ salon ấy đi!
Trở lại việc học, tôi tự nghĩ mình đã chấp nhận học ngành này thì phải học thật giỏi để các bạn đồng môn phải nể phục “anh nông dân cày đường nhựa” là tôi. Do đó, tôi chịu khó đọc sách và tự viết thu hoạch cho mình, thể hiện ý kiến riêng trước những kiến thức thu được. Bây giờ người ta gọi là “comment” (bình luận). Học đại học không thể tiếp thu sự truyền thụ kiến thức của thầy và sách giáo khoa một cách thụ động mà phải là đi tìm cái mình chưa biết, dựa trên cái đã biết của mình và cái đã biết của người khác qua sự giảng dạy của thầy và qua sách, báo. Tôi gọi là “cách học theo phương pháp nghiên cứu khoa học”. Lãnh đạo Đoàn Thanh niên Lao động của trường thấy cách học của tôi là sáng tạo nên bảo tôi đi báo cáo kinh nghiệm học tập cho các lớp và khoa khác trong trường.
Năm 1967, tôi học năm cuối và phải làm luận văn tốt nghiệp. Cơ may là do có sự hợp tác giữa Khoa Kinh tế Nông nghiệp và Bộ Nông trường Quốc doanh, nên sinh viên lớp tôi được cử vào các đoàn cán bộ của bộ này thực hiện nhiệm vụ: “3 xây 3 chống” ở các nông trường quốc doanh (chống quan liêu, lãng phí, tham ô, xây dựng chế độ quản lý mới, gồm ba nội dung mà nay tôi quên mất rồi). Nhờ vậy, việc nghiên cứu thực tế được thực hiện dễ dàng. Tôi đã hoàn thành xuất sắc luận văn tốt nghiệp “Cải tiến tổ chức lao động ở đội trồng cà phê, thuộc Nông trường Quốc doanh Thanh Hà, tỉnh Hòa Bình”, do thầy Nguyễn Đình Nam hướng dẫn (lúc đó, thầy Nguyễn Đình Nam là Tổ trưởng Bộ môn Tổ chức Quản lý Xí nghiệp Nông nghiệp, sau này là Giáo sư, Phó Hiệu trưởng trường Đại học Kinh tế - Kế hoạch). Nhưng điều quan trọng hơn cả là, qua thời gian tham gia đoàn cán bộ “3 xây 3 chống”, tôi đã hiểu hơn thực tế quản lý ở một đơn vị sản xuất nông nghiệp cơ sở thuộc sở hữu nhà nước, thu được một số kinh nghiệm về phương pháp xâm nhập thực tế, nhất là cách xử lý mối quan hệ với các cán bộ quản lý ở cấp vi mô (nông trường, đội, tổ sản xuất). Kết quả bốn năm học đại học vượt trội của tôi đã khiến các bạn đồng môn nể phục.
Sau khi tốt nghiệp, tháng 8 năm 1967, tôi được nhà trường phân công công tác về Bộ Nông nghiệp. Bộ Nông nghiệp lại phân tôi về Vụ Kế hoạch, làm cán bộ nghiên cứu chính sách và giá cả, theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp thời bây giờ. Từ đó cho đến khi về hưu, tôi không được dự bất kỳ một khóa học nào, kể cả trong nước và nước ngoài, nhưng tôi đã được học ở trường đại học lớn nhất là thực tế quản lý nông nghiệp ở Việt Nam, qua những đợt khảo sát kế tiếp nhau. Nhờ vậy, tôi đã trở thành chuyên gia về kinh tế nông nghiệp và phát triển nông thôn ở Việt Nam. Trong khi phần lớn các bạn đồng nghiệp cùng trang lứa với tôi, công tác ở các cơ quan khác nhau, lần lượt được cử đi học ở nước ngoài để trở thành Phó Tiến sĩ, thì tôi lao vào các chuyến đi công tác thực tế ở nông thôn, hết đợt này đến đợt khác. Đó cũng là cơ duyên. Chính điều đó đã tạo nên sự khác biệt giữa tôi và các bạn đồng môn, đồng nghiệp. Cũng chính sự khác biệt đó đã làm nên “thương hiệu” của tôi.
Đợt nghiên cứu khảo sát đầu tiên mà tôi được tham gia là “Tổng kết chính sách khuyến khích phát triển nông nghiệp trong khu vực kinh tế tập thể, sau 10 năm hợp tác hóa”. Tôi đã có dịp kể trong câu chuyện trước rồi. Kết quả là tôi viết được một báo cáo khoa học, trình bày trước Đảng đoàn Bộ Nông nghiệp ngày 30 tháng 4 năm 1969 và đăng trên tạp chí Nghiên cứu Kinh tế, tháng 12 năm 1969, đã gây tiếng vang lớn. Bởi vì, tôi đã đề xuất cho xã viên và hợp tác xã tự do buôn bán lương thực và các nông sản khác, sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ với nhà nước. Nhưng dĩ nhiên chả ai chấp nhận những kết quả nghiên cứu này của tôi.
Đầu những năm 70 của thế kỷ 20, Bí thư thứ nhất Trung ương Đảng Lê Duẩn có chủ trương lớn là cơ giới hóa nông nghiệp. Một tổ công tác được thành lập gồm các chuyên gia kĩ thuật cơ khí nông nghiệp và kinh tế nông nghiệp, do ông Hoàng Bá Sơn, ủy viên Ủy Ban Nông Nghiệp Trung ương (hàm Thứ Trưởng) phụ trách và ông Lê Kiểm, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Cơ khí và trang thiết bị nông nghiệp (thuộc Ủy ban Nông Nghiệp Trung ương) trực tiếp chỉ đạo thí điểm cơ giới hóa nông nghiệp tại huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Tôi được giao nghiên cứu các vấn đề kinh tế của việc cơ giới hóa nông nghiệp. Kết quả nghiên cứu của tôi đã được công bố bằng bản báo cáo “Mấy vấn đề kinh tế của việc cơ giới hóa nông nghiệp trong khu vực kinh tế tập thể” trình lên Ủy ban Nông nghiệp Trung ương và đã được tạp chí Nghiên cứu Kinh tế đăng trên hai số tháng 10 và tháng 12 năm 1971. Kết luận khoa học của tôi là không thể cơ giới hoán nông nghiệp, bởi vì: (i) Xét trên khía cạnh kỹ thuật, sức lao động được giải phóng khỏi công việc đồng áng nhờ cơ giới hóa chỉ tồn tại dưới dạng giảm số ngày công lao động cần thiết đầu tư cho sản xuất trên 1 ha gieo trồng (giảm 90 ngày công/1ha gieo trồng lúa), không giảm được số người lao động phải đảm trách 1 ha đất nông nghiệp, do không có hệ thống máy móc nông nghiệp sử dụng trong tất cả các khâu canh tác, nên năng suất lao động làm bằng máy và làm bằng tay ở các khâu canh tác không tương thích nhau. Điều đó còn gây ra tình trạng phổ biến là “máy chờ ruộng” hoặc “ruộng chờ máy”; (ii) Xét về mặt kinh tế, lý do chính cản trở cơ giới hóa nông nghiệp là những ngày công lao động được máy thay thế không tạo thêm thu nhập do không có việc làm mới. Vì vậy, càng cơ giới hóa cao, thu nhập của hợp tác xã và xã viên càng giảm. “Máy ăn thịt người”. Nhưng người ta vẫn thực hiện cơ giới hóa nông nghiệp trong mấy năm liền ở huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Thất bại là điều đương nhiên.
Năm 1973, tôi lại được tham gia tổ chỉ đạo cải tiến quản lý hợp tác xã nông nghiệp Mỹ Thọ, huyện Bình Lục (Hà Nam). Tôi đã chủ trì “thiết kế” cơ cấu tổ chức và cơ chế quản lý mới và tham gia chỉ đạo “thi công” bản “thiết kế” này trong ba năm (1973 – 1976). Hợp tác xã Mỹ Thọ được thưởng huân chương lao động hạng 3 năm 1975 và hạng 2 năm 1976 vì thành tích phát triển sản xuất và bán lúa vượt mức hai lần mức nghĩa vụ cho nhà nước. Tôi đã có bài báo “Thực hiện một nề nếp quản lý mới ở một hợp tác xã vùng đồng bằng” đăng trên tạp chíNghiên cứu Kinh tế các số tháng 8, 10 và 12 năm 1974. Dựa trên kết quả nghiên cứu và chỉ đạo thực hiện mô hình quản lý mới của hợp tác xã Mỹ Thọ, tôi đã viết luận án Phó Tiến sĩ và bảo vệ thành công ngày 5/10/1982 với tiêu đề “Quan điểm hệ thống đối với việc xây dựng một mô hình tổ chức - quản lý sản xuất - kinh doanh mới của hợp tác xã, qua thực tiễn ở hợp tác xã Mỹ Thọ, huyện Bình Lục”. Lần đầu tiên, và có lẽ là rất hi hữu, kết quả nghiên cứu của tôi được ứng dụng có hiệu quả trong thực tiễn quản lí nông nghiệp ở một hợp tác xã.
Trong những năm 1977 và 1978, ở Hà Nội đã diễn ra cuộc đấu tranh khá gay gắt về chính sách giá cả nông sản giữa hai quan điểm cấp tiến, hướng theo cơ chế thị trường và quan điểm bảo thủ theo cơ chế kế hoạch hóa, tập trung quan liêu, bao cấp. Đại diện cho quan điểm cấp tiến là ông Trần Phương, Bộ trưởng Bộ Nội thương và ông Võ Thúc Đồng, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp. Đại diện cho quan điểm bảo thủ là ông Tô Duy, Chủ nhiệm Uỷ ban Vật giá Nhà nước. Ông Trần Phương thực hiện mua nông sản giá cao, bán giá cao để tăng lượng cung thực phẩm cho dân cư phi nông nghiệp, phê phán chính sách giá nông sản “mua như cướp, bán như cho”. Quan điểm bảo thủ lập luận rất “củ chuối”: Sở dĩ mua lúa của hợp tác xã thấp với giá 0,3 đồng/ kg (ba hào), vì lương tối thiểu là 27 đồng/ tháng. Lương tối thiểu chỉ có 27 đồng/ tháng, là bởi vì giá mua lúa 0,3 đồng/ kg và còn vì giá gạo bán cho dân phi nông nghiệp (không phải chỉ cho người làm công ăn lương của nhà nước) là 0,4 đồng/kg gạo!? Đúng là một thứ tư duy logic “đèn cù”. Tôi được tham gia nghiên cứu chính sách giá nông sản dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Phó Tiến sĩ Chu Hữu Qúy, Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Nông nghiệp, thuộc Bộ Nông nghiệp. Chúng tôi đã có nhiều cuộc tranh luận rất gay gắt với cán bộ Ủy ban Vật giá Nhà nước ngay tại hợp tác xã và ở văn phòng. Sau khi đi khảo sát một số hợp tác xã, tôi đã có bài viết “Về phương pháp tính giá thành sản xuất lúa ở các hợp tác xã nông nghiệp” để làm cơ sở hoạch định chính sách giá theo hướng thị trường, đăng trên tạp chí Nghiên cứu Kinh tế số tháng 8 năm 1977. Nhưng dĩ nhiên, kết quả nghiên cứu này cũng chỉ để đăng báo, “ghi điểm” trong lí lịch khoa học của tôi mà thôi.
Từ tháng 10 năm 1982, sau khi bảo vệ thành công luận án Phó Tiến sĩ, tôi làm giáo viên ở trường Quản lý Hợp tác xã, nay là trường Cán bộ Quản lý Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn II tại Thành phố Hồ Chí Minh. Tôi ngộ ra một điều là muốn giảng dạy tốt, giáo viên phải nghiên cứu khoa học, vận dụng lý luận vào thực tiễn, nhận dạng và phân tích bản chất kinh tế xã hội của các vấn đề nảy sinh trong thực tiễn quản lý nông nghiệp ở tầm vĩ mô và vi mô, trên cơ sở đó có thể đề xuất các giải pháp khắc phục để phát triển. Những kết quả nghiên cứu ấy sẽ được đưa vào giảng day theo phương pháp nghiên cứu tình huống (case study). Tôi đề ra phương châm “Nhất thể hóa quá trình: Thực tiễn quản lý – Nghiên cứu ứng dụng – Tư vấn và Giảng dạy”. Nghiên cứu khoa học ứng dụng trong quản lý nông nghiệp là sức sống của nhà trường. Kết quả nghiên cứu khoa học phải là nội dung cơ bản của các khóa học của nhà trường. Giảng dạy được coi như là một cách tư vấn cho người học. Học viên là những cán bộ quản lý và cả nông dân đương chức ở cả đơn vị kinh doanh (nông trường quốc doanh, hợp tác xã, trang trại) và ở cơ quan hoạch định chính sách, quản lý nông nghiệp ở các cấp. Họ đến trường không phải để học lý thuyết như sinh viên các trường kinh tế. Họ cần các kiến thức thiết thực, giúp họ giải quyết các vấn đề thực tiễn đang nảy sinh trong phạm vi chức trách, quyền hạn của mình. Trong quá trình học, học viên và giảng viên, thông qua thảo luận các tình huống, họ vừa là thầy, vừa là trò của nhau. Do đó, tôi đã nhận thực hiện nhiều đề tài khoa học cấp nhà nước, cấp bộ và thành phố.
Trong các năm 1987, 1988, 1989, tôi chủ trì nghiên cứu đề tài cấp thành phố “Những bài học kinh nghiệm về cải tạo xã hội chủ nghĩa nền nông nghiệp ở ngoại thành TP HCM” và “Xây dựng và chỉ đạo thực thi mô hình hợp tác xã kinh doanh tổng hợp – hợp tác xã Xuân Lộc, huyện Hóc Môn [nay là quận 12]”. Hai đề tài này đã được hội đồng nghiệm thu đánh giá cao. Đề tài những bài học kinh nghiệm cải tạo nông nghiệp ngoại thành TP HCM đã được nhà xuất bản Khoa học - Kỹ thuật của TP HCM in và phát hành năm 1990 với tiêu đề “Kinh tế hàng hóa và sự hình thành hệ thống quản lý và kinh doanh mới trong nông nghiệp, qua thực tiễn ở TP HCM”. Đề tài thành công ở chỗ đã đưa ra cơ sở khoa học dựa trên qui luật của kinh tế thị trường để hình thành và phát triển hệ thống quản lý nông nghiệp ở cả tầm vĩ mô (cấp thành phố) và tầm vi mô (các hợp tác xã và doanh nghiệp nông nghiệp).
Điểm đặc biệt là, khi triển khai đề tài xây dựng mô hình hợp tác xã kinh doanh tổng hợp Xuân Lộc, tôi đã ngầm chấp nhận thực tiễn là không tập thể hóa ruộng đất. Ruộng đất thuộc hộ xã viên nào, xã viên đó tự chủ canh tác. Hợp tác xã chỉ làm dịch vụ đầu vào - đầu ra cho sản xuất của xã viên và kinh doanh vận tải, tín dụng và cả hàng tiêu dùng…, nhằm đáp ứng yêu cầu đa dạng của xã viên, cũng như của cư dân trên địa bàn xã Thạnh Lộc. Hồi đó, nếu cấp lãnh đạo TP HCM và trường Quản lý Hợp tác xã, nơi tôi công tác, biết được điều này chắc chắn tôi bị sa thải. Bí mật này được giữ cho đến tháng 4 năm 1988 thì không còn cần thiết nữa vì Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị về quản lý nông nghiệp đã thừa nhận hộ nông dân xã viên là đơn vị kinh tế tự chủ trong nông nghiệp. Điều này, vô hình chung, đã thừa nhận sự cáo chung của hợp tác xã dựa trên chế độ sở hữu tập thể về ruộng đất và các tư liệu sản xuất chủ yếu khác và xác lập sự đúng đắn của mô hình Hợp tác xã Xuân Lộc, không tập thể hóa quyền sở hữu ruộng đất của xã viên. Tuy vậy, các kết quả nghiên cứu này cũng chỉ giúp ích cho việc giảng dạy của tôi mà thôi.
Chuyển sang kinh tế thị trường kể từ sau Đại hội Đảng lần 6 năm 1986, nhiều vấn đề kinh tế và quản lý mới nảy sinh. Điều đó tuy là đương nhiên, nhưng nó đòi hỏi những nhà hoạch định thể chế quản lý vĩ mô và vi mô (doanh nghiệp, hợp tác xã, trang trại) phải thay đổi tư duy để thay đổi pháp luật và chính sách, phương thức quản lý phù hợp với qui luật của kinh tế thị trường. Vì vậy, để làm tốt việc bồi dưỡng kiến thức cho học viên – các nhà quản lý đương chức, việc thực hiện tốt phương châm “Nhất thể hóa quá trình Thực tiễn quản lý nông nghiệp - Nghiên cứu ứng dụng - Đào tạo, Tư vấn” lại càng trở nên cần thiết và cấp bách. Do đó, tôi đã thực hiện nhiều đề tài khoa học.
Năm 1985, miền Nam tuyên bố “cơ bản hoàn thành cải tạo nông nghiệp, thành lập hàng loạt các tập đoàn sản xuất, hợp tác xã nông nghiệp dựa trên việc tập thể hóa quyền sở hữu ruộng đất”. Tôi đề xuất và được Bộ Nông nghiệp cho thực hiện đề tài “Xã hội hóa nền nông nghiệp tiểu nông ở Nam Bộ”. Tôi phát hiện rằng, trong quá trình cải tạo xã hội chủ nghĩa nền nông nghiệp Nam Bộ bằng chính sách “điều chỉnh ruộng đất” theo phương châm “nhường cơm xẻ áo” đã xóa bỏ thành phần trung nông, lực lượng sản xuất hàng hóa chủ yếu trong nông nghiệp Nam Bộ. Tiếp đến, việc thành lập các tập đoàn sản xuất, hợp tác xã nông nghiệp và thực hiện cơ chế khoán sản phẩm theo chỉ thị 100 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (1981) đã một lần nữa “cào bằng” ruộng đất giữa các hộ nông dân do việc giao khoán diện tích ruộng đất theo mức bình quân nhân khẩu trong hợp tác xã, tập đoàn sản xuất. Thậm chí, ruộng đất còn giao cho các hộ tiểu thương ở thôn quê. Tôi đã viết bài “Vấn đề ruộng đất ở Nam Bộ”, đăng trên tạp chí của Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp (nay là Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn) cảnh báo trước tình trạng tranh chấp ruộng đất và giảm sút sản lượng nông sản hàng hóa. Chỉ những vùng nông thôn nào không thực hiện đúng chính sách ruộng đất (như ở hợp tác xã Xuân Lộc, Hóc Môn, TP HCM được nêu ở trên), với “chiêu” khoán “nguyên canh”, vấn đề tranh ruộng đất mới không xảy ra. Thực tiễn đã diễn ra như tôi đã dự báo. Đầu những năm 90 của thế kỉ 20, tình trạng tranh chấp ruộng đất đã diễn ra khá gay gắt ở Nam Bộ, còn kết quả nghiên cứu khoa học của tôi lại được cất trên kệ sách. Để quá độ sang kinh tế thị trường, phải chuyển các xí nghiệp quốc doanh, hợp tác xã trong nông nghiệp sang các loại hình tổ chức kinh doanh mới. Các thể chế quản lí vĩ mô và vi mô đã thay đổi nhưng do không hiểu đúng bản chất của kinh tế thị trường nên có rất nhiều ngộ nhận. Tôi đã viết những bài nghiên cứu để phản biện các thể chế quản lí và vạch ra sự ngộ nhận trong nhận thức về kinh tế của nhiều người, được đăng tải trên báo và tạp chí khoa học. Điển hình là các bài “Đa dạng hóa quyền sở hữu trong xí nghiệp quốc doanh”, để hình thành các loại hình doanh nghiệp theo cơ chế kinh tế thị trường, “Tổng công ty 90-91 và kinh tế thị trường”; “Trang trại và kinh tế thị trường”, “Bản chất kinh tế - xã hội của hợp tác xã kiểu mới”, “Mô hình nông trường quốc doanh Sông Hậu”…
Thực hiện đề tài cấp thành phố về “Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước trong nông nghiệp” ở TP HCM (năm 1993), tôi đã xây dựng được cơ sở khoa học và thực tiễn để hình thành bộ máy quản lý nhà nước về nông nghiệp theo cơ chế kinh tế thị trường.
Khi xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ ở các nước Đông Nam Á năm 1997, đầu năm 1998, tôi đã tổ chức hội thảo khoa học và có bài tổng kết đăng trên báo Nhân dân “Đối sách của các doanh nghiệp Việt Nam trước cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ trong khu vực”.
Dĩ nhiên các kết quả nghiên cứu này cũng chỉ giúp ích cho việc giảng dạy của tôi mà thôi.
Năm 2002, kỷ niệm 35 năm tốt nghiệp đại học và làm nhiệm vụ nghiên cứu, giảng dạy về quản lý nông nghiệp, tôi đã tập hợp các bài viết, các kết quả nghiên cứu khoa học để nhà xuất bản Chính trị Quốc gia in và phát hành cuốn sách Hai mô hình kinh tế và sự đổi mới kinh tế, qua thực tiễn phát triển nông nghiệp ở Việt Nam.
Tôi đang nghĩ sẽ không tham gia thực hiện các đề tài khoa học nữa, vì cơ chế quản lý tài chính trong khoa học rất tồi tệ, làm nản lòng các nhà khoa học. Các nhà khoa học không chấp nhận “thay thế văn minh lúa nước của cha ông bằng văn minh phong bì”!
Nhưng rồi, “sinh nghề tử nghiệp”, do cuộc sống xô đẩy, tôi trúng thầu đề tài cấp nhà nước KX 01-13 “Tổng kết và xây dựng mô hình phát triển nông thôn Việt Nam từ làng xã truyền thống đến văn minh thời đại” (năm 2003 và 2004). Tôi làm chủ nhiệm đề tài với sự cộng tác đắc lực của Giáo sư Xã hội học Đỗ Thái Đồng và Tiến sĩ Tâm lý học Phạm Bích Hợp. Đề tài đã đạt kết quả xuất sắc và nhà xuất bản Nông nghiệp đã in và phát hành năm 2004.
Năm 2005, trước tình trạng quản lí yếu kém của các nông trường quốc doanh tôi buộc phải tham gia và đã trúng thầu đề tài trọng điểm cấp bộ “Đa dạng hóa chủ thể sở hữu doanh nghiệp nông nghiệp nhà nước” với sự cộng tác của Tiến sĩ Nguyễn Thắng, Hiệu trưởng trường Cán bộ Quản lý Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn II từ tháng 6 năm 2006 đến nay (tôi hướng dẫn luận án tiến sĩ cho nghiên cứu sinh Nguyễn Thắng với đề tài trên, nhưng chỉ trong phạm vi ngành cao su và đã bảo vệ thành công năm 2004). Đề tài cũng được nghiệm thu, đánh giá xuất sắc và nhà xuất bản Chính trị Quốc gia in và phát hành năm 2006. Từ 2006, tôi không tham gia đấu thầu các đề tài khoa học vì quá mệt mỏi với cơ chế quản lí tài chính đối với hoạt động nghiên cứu khoa học. Tôi gọi cơ chế quản lí tài chính này được thiết kế theo nguyên lí Trạng Quỳnh “ị mà cấm đái”. Nhưng cuộc sống đã thúc giục tôi viết nhiều bài báo chuyên luận, phản biện các chính sách và cơ chế quản lí nông nghiệp và phát triển nông thôn cũng như các phương thức quản lý doanh nghiệp nông nghiệp. Chúng được đăng tải trên các báo, như Thời báo Kinh tế Sài GònThời báo Kinh tế Việt Nam, tạp chí Khoa học Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, báo Nông nghiệp Việt Nam (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn)… Chủ đề của các bài báo bao gồm từ chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn, chính sách ruộng đất, mua lúa gạo, đến tổ chức sản xuất theo hợp đồng trong nông nghiệp, quản lý chuỗi giá trị ngành hàng nông sản, quản lý hợp tác xã, trang trại, xây dựng nông thôn mới…
Năm 2010, tôi nghỉ hưu ở tuổi 65, trường Cán bộ Quản lý Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn II đã tập hợp các bài báo nói trên của tôi, in thành cuốn sách Phát triển nông nghiệp, nông thôn Việt Nam hiện nay – những bức xúc và trăn trở. Sang năm 2015, tôi tròn 70 tuổi. Tôi dự định tái bản cuốn sách này, có bổ sung các bài viết từ năm 2010 đến nay. Cuốn sách này sẽ như là biểu hiện sự kết thúc sự nghiệp của tôi với tư cách là một chuyên gia độc lập về kinh tế nông nghiệp và phát triển nông thôn một cách bắt đắt dĩ.
Điều cuối cùng, tôi muốn nói là: (1) Tôi chỉ xứng đáng là nhà nghiên cứu và giảng dạy kinh tế nông nghiệp và phát triển nông thôn của Việt Nam và chỉ của Việt Nam mà thôi. Đối với thế giới, tôi không phải là “nhà” hay “lều” nào hết. (2) Những đóng góp của tôi cho sự nghiệp phát triển nông nghiệp và nông thôn được diễn ra theo hai giai đoạn phát triển nông nghiệp, nông thôn của Việt Nam: (i) Trong giai đoạn thực thi nền kinh tế nhà nước hóa dựa trên chủ nghĩa Mac-Lenin, do bám sát thực tiễn và được thực tiễn mách bảo, tôi đã phát hiện ra những vấn đề đang cản trở sự phát triển nông nghiệp, nông thôn Việt Nam, lý giải tìm nguyên nhân của nó và đề xuất các giải pháp khắc phục để phát triển theo hướng thị trường. Tôi gọi đó là quá trình “tự ngộ” diễn ra theo quy luật của nhận thức “từ thực tiễn khái quát thành lý luận”. Bi kịch là chỗ, mỗi lần “tự ngộ”, tôi cứ tưởng mình “phát hiện ra châu Mỹ”, trong khi thế giới, người ta đã biết từ hàng chục năm, thậm chí cả trăm năm trước và viết thành hàng ngàn cuốn sách. (ii) Trong giai đoạn thực thi kinh tế thị trường, nhờ mở cửa hội nhập, tôi có điều kiện thuận lợi “học lỏm” được nhiều tri thức của nhân loại trong lĩnh vực kinh tế nông nghiệp và phát triển nông thôn và các lĩnh vực có liên quan. Do đó, tôi đã thành công trong việc vận dụng tri thức – những khái niệm, lý luận, phương pháp nghiên cứu của các nhà khoa học trên thế giới – vào thực tiễn phát triển nông nghiệp, nông thôn Việt Nam (phát hiện vấn đề mới nảy sinh, lý giải nó, tìm nguyên nhân và đề xuất giải pháp khắc phục các vấn đề này để phát triển theo quy luật kinh tế thị trường). Đó chính là quá trình “từ lý luận đến thực tiễn”.
Điều đáng buồn là ở Việt Nam, hoạt động nghiên cứu khoa học và hoạt động hoạch định thể chế quản lí ở cả tầm vĩ mô và vi mô diễn ra như hai đường thẳng song song. Các kết quả nghiên cứu khoa học chỉ giúp cho các bài giảng của tôi hấp dẫn người học hơn, chưa bao giờ nó trở thành cơ sở khoa học trong việc hoạch định chính sách và cơ chế quản lí trong lĩnh vực phát triển nông nghiệp và nông thôn. Học viên thường nói với tôi là nội dung của bài giảng của thầy đúng nhưng không áp dụng được vào thực tế. Biết vậy, nhưng tôi vẫn làm hết sức mình trong mấy chục năm qua. Vì cái tính tôi nó vậy. Kết quả là, dù không muốn tôi đã trở thành chuyên gia về kinh tế nông nghiệp và phát triển nông thôn, với thương hiệu riêng có, tạo ra một trường phái khoa học trong lĩnh vực kinh tế nông nghiệp và phát triển nông thôn ở Việt Nam. Cái giá phả trả cho các thành tựu “LÁ DIÊU BÔNG” đó là tôi đã “Mải mê đuổi một con diều/ Củ khoai nướng để cả chiều thành than” (Đồng Đức Bốn)
Tháng 08 năm 2014
Có thể đọc lại các cuốn sách và các bài báo của tôi trên website http://www.cmard2.edu.vn/

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chuyện văn nghệ nước Nam:

Để hiểu thêm Tố Hữu

Vương Trí Nhàn (blog)
clip_image002
Tố Hữu, ảnh lấy từ cinet.vn
Trước mắt tôi là sưu tập Văn Nghệ số 40 ra 3-1953. Lúc này cơ quan Hội Văn nghệ đang đóng ở rừng Việt Bắc. Nhân cái chết của Stalin, tạp chí của Hội ra một số đặc biệt, không chỉ Tố Hữu mà nhiều tác giả khác có bài liên quan tới sự kiện này.
Về thơ
Chế Lan Viên có Stalin không chết, mở đầu bằng mấy câu
Stalin mất rồi
Đồng chí Stalin đã mất!
Thế giới không cha nặng tiếng thở dài 
Ở đoạn dưới
Mẹ hiền ta ơi 
Em bé ta ơi
Đồng chí Stalin không bao giờ chết
Triệu triệu mẹ già em dại
Đều là súng Stalin để lại ( VTN gạch dưới)*
Giữ lấy hòa bình thế giới
Tiếng nổ ca vang dội thấu mặt trời
Các bài tiếp theo:
Trước bài Đời đời nhớ Ông của Tố Hữu là bài Nhớ đồng chí Stalin của Huy Cận 
Tiếp đó các bài của Bàn Tài Đoàn, Nông Quốc Chấn.
Xuân Diệu có bài Thương tiếc Đại nguyên soái Stalin:
Nghe tin mất mới thấy lòng quyến luyến
Từ bao lâu yêu Người tận tủy xương
Tiếng khóc đây là tất cả can trường 
Thấy Người thật là bát cơm miếng bánh 
Người gắn với chúng con trong vận mệnh
Về phần văn xuôi
Phan Khôi có bài Một vị học giả mác-xít thiên tài. Trước khi viết kỹ về cuốn Chủ nghĩa Mác và vấn đề ngôn ngữ, Phan Khôi có đoạn dạo đầu ngắn:
Đối với cái chết của Đại nguyên soái Stalin, vấn đề đề ra trước mắt những người đang sống là: Chúng ta phải học tập Stalin, học tập đạo đức cách mạng và trí tuệ của ông, được cả càng hay, không thì được phần nào cũng hay phần ấy, đó là một đảm bảo vững chắc cho cuộc thắng lợi của chủ nghĩa xã hội, của Chủ nghĩa tân dân chủ.
Lê Đạt thì xuất hiện như một phóng viên, ghi lại không khí một nhà máy trong rừng khi nghe tin Stalin mất. Bài viết khoảng 3.000 chữ này kể chuyện cái chết của Stalin đã gợi lên niềm xúc động to lớn, từ đó đánh thức tinh thần lao động sáng tạo của cả một tập thể công nhân gang thép.
Xin phép mở một dấu ngoặc.
Ngoài các bài LiễuBài thơ tình ở Hàng Châu, Tế Hanh còn có bài thơ ngắn sau đây, viết trong đợt thăm Trung Quốc 1962. Tôi vẫn thường nhẩm lại mỗi khi nhớ tới đời sống tinh thần của chúng tôi những năm 1965 về trước.
Hồ Nam xe chạy không dừng bước 
Dãy núi cao liền dãy núi cao
Quê hương lãnh tụ mây thêu nắng
Thấy mặt trời lên nhớ bác Mao
Tôi muốn thầm nói với Tế Hanh: Anh không việc gì phải xấu hổ cả. Hồi ấy, bao nhiêu người nghĩ thế, chứ đâu phải riêng anh! 
Trở lại chuyện Tố Hữu.
Nếu có ai hỏi tôi thích bài nào của Tố Hữu nhất, tôi sẽ nói rằng đó là cụm mấy bài ông làm hồi đi tù, in trong phần Xiềng xích của tập Từ ấy.
Bài Nhớ đồng
Gì sâu bằng những trưa thương nhớ 
Hiu quạnh bên trong một tiếng hò
Bài Tiếng hát đi đầy
Hỡi những anh đầu đi trước đó
Biết chăng còn lắm bạn đi đầy
Những bài thơ này có cái giọng mà sau này không bao giờ Tố Hữu có nữa. Nhà thơ bơ vơ trong cảnh đơn độc ở núi rừng. Phải làm thơ, phải lấy thơ để tự khẳng định, thơ cất lên không để cho ai mà trước tiên để cho mình .
Những bài thơ viết khi người ta không biết mình sẽ sống hay chết như thế này,
tôi còn gặp một lần nữa trong thơ VN về sau, đó là tập Ánh sáng và phù sa.
Khi soạn tập thơ (1960), Chế Lan Viên chưa chuyển sang giai đoạn lựa ánh sáng trên đầu mà thay đổi sắc phù sa , như Xuân Sách sẽ viết.
Sinh thời, Tố Hữu hay nói, đại ý hãy coi ông là nhà cách mạng, sau đó mới là nhà thơ.
Như thế tức là ông cũng đã biết chỗ đứng của mình trong lịch sử.
Có điều không phải luôn luôn người ta làm được đúng như những điều người ta tự xác định.
Là một người hết sức nhạy cảm và sẵn có cả chất mệ của quê hương, ông thừa biết nhiều khi dân văn nghệ ca ngợi thơ ông vì ông là quan chức phụ trách người ta, nắm sinh mệnh của người ta.
Song nếu đủ sáng suốt để từ chối những lời nịnh bợ thường trực thì ông đã không còn là ông nữa.
Lẽ đời là vậy, lúc được được quá cái đáng được, thì lúc mất cũng mất quá cái đáng mất.
Nhưng về phần chúng ta, mỗi lần đả động đến ông, tôi nghĩ nên phân biệt đang nói về ông như một quan chức cao cấp hay nói về ông như một nhà thơ.
Khoảng năm 1973, Hà Nội có một triển lãm điêu khắc với ngôn ngữ khá hiện đại của Nguyễn Hải và Lê Công Thành. Chính Tố Hữu cũng rất thích — sang Hội nhà văn nghe ngóng về, Nguyễn Khải báo cho tôi biết tin vui đó. Nhưng rồi hóa ra chúng tôi mừng hụt. Mấy vị to hơn tới xem cho là không được. Và người ta lại thấy Tố Hữu cho truyền đi nhận định không thể tìm tòi kiểu ấy, mà hãy trở lại với thứ điêu khắc mô phỏng đời thường, kiểu Trần Văn Lắm!
Tức là cũng như chúng ta, Tố Hữu cũng có lúc phải làm ngược điều mình nghĩ.
Trước đó năm 1965, Nguyễn Thành Long bị nạn với bút ký Cái gốc. Bài ký cũng chẳng có chuyện gì đen tối lắm, chỉ tả phụ nữ trong chiến tranh quá nhếch nhác, nên bị Đảng đoàn Hội phụ nữ kêu.Theo chỗ tôi nhớ, lúc đầu Nguyễn Thành Long rất tự tin, vì Tố Hữu đã nhắn xuống tỏ ý bênh, “họ có Đảng đoàn thì mình cũng có Đảng đoàn chứ “( ý nói Đảng đoàn phụ nữ và Đảng đoàn văn nghệ– hai cấp tương đương nhau ). Thế nhưng bên phụ nữ kiện lên trên và cuối cùng văn nghệ thua, Cái gốc chung số phận với Tình rừng.
Nguyễn Khải kể khoảng năm 1963, có lần được dự một cuộc họp cùng bí thư tỉnh ủy các tỉnh đồng bằng do Tố Hữu chủ trì, chắc là bàn về công tác tuyên huấn. Trong lúc nghe mọi người thảo luận, bỗng Nguyễn Khải thấy Tố Hữu đang đi quanh thì dừng lại, ghé vào tai mình nói nhỏ:
— Chăc nhà văn nhìn cảnh này như một trò hề?!
Rồi ông lảng ngay, lên bàn chủ tịch, tiếp tục lo nốt các việc đang làm dở.
Cái lạ của các nhà văn sau 1945 là khi tính viết con người thời nay, chỉ hay viết về nhân vật quần chúng công nông. Còn những người kéo quần chúng đi, vẽ ra cái mẫu điển hình để quần chúng sống theo và nói chung chỉ có vai trò đơn giản là…lèo lái toàn bộ đời sống – những nhân vật quan chức nhân vật cán bộ kiểu ấy lại chả ai viết bao giờ.
Tôi đã phác qua một vài nét về Tố Hữu hồi ở Việt Bắc trong ghi chép về Nguyễn Đình Nghi.
Nhị Ca kể với tôi cái tình tiết sau đây: trong rừng, cạnh cơ quan, thường có những quán cà phê, anh em hay ra đấy đấu láo. Đang vui thì Tố Hữu đến. Thế là mọi người không ai bảo ai rút lui hết. Chỉ còn một người bao giờ cũng ngồi với Tố Hữu đến cùng. Là Hoài Thanh.
Cái công của Tố Hữu hồi ấy là giữ cho được anh em đi theo kháng chiến đến cùng không để họ trở về thành.
Những năm chiến tranh, thỉnh thoảng một số anh em viết trẻ chúng tôi cũng được gọi đi nghe Tố Hữu nói chuyện. Có một câu ông nói khiến tôi nhớ nhất và phải nói thực sợ nhất, đó là cái ý ông bảo sang nước ngoài thấy đời sống họ lạnh lùng lắm, về nước thấy đồng bào mình sống với nhau, ấm cúng hơn hẳn.
Ông cũng thường nói là nổi tiếng ở nước ngoài thì dễ, nổi tiếng ở trong nước mới khó .
Lại có lần khuyến khích lớp trẻ, ông bảo phải biết đấu tranh cho chân lý, khi cần phải cắn xé(!). May mà bọn tôi đã nghe nhiều về tính đồng bóng của ông, nên chẳng mấy cảm động, nhớ đâu hình như chính Xuân Quỳnh bảo rằng có mà ông cho ghè gẫy răng.
Tố Hữu quản cán bộ cấp dưới thế nào? Nguyễn Khải nhận xét có vẻ như càng những người bất tài và có khuyết điểm ông lại càng thích dùng. Những ông A ông B từng bị Tố Hữu mắng như tát nước vào mặt lại rất vững vàng trong vị trí của mình. Vì ông thừa biết loại đó bảo thế nào họ cũng phải nghe.
Bảo Định Giang, người phụ trách Hội Liên hiệp những năm ấy thường kể với mọi người ông Lành dọa sẽ lấy đầu nếu BĐG để một vài văn nghệ sĩ tiêu biểu lơ mơ ở Hà Nội rồi dính bom đạn.
Một lần, khoảng những năm trước 1980, tôi ngồi với Nguyễn Khải, Xuân Sách, cùng giở một số báo Tết. Khi ấy Tố Hữu đã đi phụ trách kinh tế, nhưng các số báo tết vẫn có bài của ông. Nguyễn Khải sát hạch tôi:
— Thằng Nhàn hãy thử bình một câu xem nào.
Tôi lúc đầu cũng chỉ biết nói như mọi người:
— Thế là được một nhà kinh tế mà mất một nhà thơ.
Nguyễn Khải gạt phắt đi:
— Không được.
Trong cơn bí, tôi phụt ra một ý mà trước đó tôi không hề nghĩ:
— Người làm ra những bài thơ như thế này thì chắc làm kinh tế cũng không ra gì!
Bấy giờ Nguyễn Khải mới cười, bảo ra tôi cũng bắt đầu biết rồi đấy.
Kim Lân có lần rủ rỉ bảo tôi chính Tố Hữu đã kể với tác giả Vợ nhặt rằng hồi nhỏ ông mắc bệnh mộng du. Có lần chui lên cả bàn thờ họ mà làm một giấc ngủ trưa.

Phần nhận xét hiển thị trên trang