Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Năm, 25 tháng 9, 2014

Quá Khứ, Hiện Tại Và Tương Lai Liệu Có Cùng Tồn Tại ? Nghiên Cứu Phát Hiện: Việc Xuyên Qua Thời Không Là Có Thể Xảy Ra

Trịnh Hiếu Kỳ 
140822205108985
Một nhà vật lý học đến từ trường Đại học Cambridge của Anh cho rằng, về mặt lý thuyết, việc thực hiện đi xuyên qua thời không (thời gian và không gian) là có thể được, nếu một wormhole mỏng được bảo trì trạng thái mở trong một thời gian đủ lâu, người ta sẽ có thể sử dụng mạch ánh sáng để truyền đi những tin tức vượt qua thời gian và không gian. (fotolia)
Những ký ức về những cảnh tượng trong bộ phim “Back to the Future” (Trở lại tương lai) đối với nhiều người vẫn còn như mới, vậy con người liệu có thể thực sự thông qua đường hầm vượt thời không để thu nhận các thông tin trong tương lai và quá khứ hay không? Liệu có thể tiến nhập vào một thời không khác, hoặc gửi một tin nhắn SMS đến chính bạn trong tương lai không? Nhiều người nghĩ rằng điều này là không thể nhưng họ vẫn luôn hy vọng rằng ý tưởng này có thể trở thành hiện thực, đây cũng chính là điều mà một số nhà khoa học đang cố gắng để phá vỡ các câu đố.
Một nhà vật lý học đến từ trường Đại học Cambridge của Anh cho rằng, về mặt lý thuyết, việc thực hiện đi xuyên qua thời không (thời gian và không gian) là có thể được, nếu một wormhole (Lỗ sâu) mỏng được bảo trì trạng thái mở trong một thời gian đủ lâu, người ta sẽ có thể sử dụng mạch ánh sáng để truyền đi những tin tức vượt qua thời gian và không gian.
Lỗ Sâu (Wormhole) là đường hầm chật hẹp có thể tồn tại, nó có thể liên kết hai thời không khác nhau trong vũ trụ. (fotolia)
Theo Wikipedia, Lỗ Sâu (Wormhole), hay còn được dịch là Hố Sâu hay Động Sâu, còn được gọi là cầu Einstein – Rosen, là đường thông đạo chật hẹp liên kết hai thời không với nhau, nó có thể tồn tại trong vũ trụ. Wormhole là một khái niệm được đề xuất lần đầu tiên vào năm 1916 bởi nhà vật lý người Áo Ludwig (Ludwig Flamm), vào những năm 1930, trong khi Albert Einstein và Nathan Rosen nghiên cứu các phương trình trường hấp dẫn, hai người họ đã đưa ra một giả thiết: Thông qua các wormhole có thể trong chốc lát làm dịch chuyển thời gian của không gian hoặc có thể du hành vượt thời gian.
Nhưng vấn đề là trong lý thuyết của Einstein, cho dù wormhole có tồn tại, thời gian mà nó bảo trì trạng thái mở vẫn không đủ để cho con người, thậm chí là chỉ một hạt lạp tử xuyên qua. Loại trạng thái đóng này được gọi là “Sự sụp đổ đường hầm” (Collapsing tunnel).

Chiều dài lớn hơn chiều rộng, trạng thái mở của wormhole có thể được bảo trì khá lâu

Giáo sư đại học Cambridge là Luke Butcher đã đề xuất một lý thuyết: Nếu chiều dài của wormhole lớn hơn nhiều so với chiều rộng của nó, trong đó tự nhiên sản sinh “Năng lượng Casimir”, như vậy sẽ có thể khiến cho một wormhole giữ được trạng thái mở lâu hơn. (Fotolia)
Tuy nhiên, nghiên cứu mới nhất tại Đại học Cambridge cho thấy, một số wormhole có thể bảo trì trạng thái mở với thời gian khá lâu, đủ để con người truyền đi thông tin qua lại tại hai đầu của hai thời không. Năm 1988, nhà vật lý tại học viện Caltech là Kip Thorne cho rằng, việc đi xuyên qua được gọi là “Hiệu ứng Casimir” (Casimir Effect) của năng lượng phụ, hoặc giả có thể khiến cho wormhole bảo trì trạng thái mở trong thời gian tương đối lâu.
“Hiệu ứng Casimir” dựa trên khái niệm “chân không không phải là trống rỗng” của lý thuyết trường lượng tử rằng: nếu chân không không tồn tại vật chất mà vẫn có sự tăng giảm năng lượng, hai bản kim loại trung tính (không mang theo điện) trong chân không sẽ xuất hiện lực hút. Hiệu ứng này chỉ xảy ra trong tình huống mà khoảng cách giữa hai vật thể rất nhỏ, khi đó mới có thể đo thấy được.
Tại đại học Cambridge giáo sư Butcher (Luke Butcher) đề xuất một lý thuyết: Nếu chiều dài của wormhole lớn hơn nhiều so với chiều rộng của nó, “năng lượng Casimir” được sản sinh tự nhiên ở bên trong, sẽ có thể bảo trì trạng thái mở cho wormhole trong thời gian lâu hơn.
Butcher cho biết: “wormhole là một cấu trúc hình ống, nghiên cứu này là để xem liệu bản thân các wormhole có thể tạo ra các hiệu ứng tương tự như đối với tấm bản hình bình hành hay không. Nghiên cứu tính toán cho thấy rằng nếu chiều dài wormhole lớn hơn chiều rộng nhiều lần, trung tâm wormhole có thể sản xuất ra năng lượng phụ. “
Đầu kia của wormhole sẽ xuyên suốt thời gian tới một điểm. Butcher cho biết, wormhole bảo trì khoảng thời gian đủ dài để cho một quang tử (photon) xuyên việt thời không. Theo lý thuyết, các photon có thể giúp chúng ta truyền tải các tin tức và nội dung, gửi đến tương lai, hoặc quá khứ xa xôi.
Nhà khoa học Mỹ nổi tiếng, giáo sư John Bukai cũng cho rằng “đường hầm thời không” tồn tại một cách khách quan, không thể nhìn thấy, không thể sờ thấy, nó không hoàn toàn đóng cửa đối với con người, mà nó có thể ngẫu nhiên được khai mở; “đường hầm thời không” và thời không mà nhân loại đang tồn tại trong đó là không cùng một hệ thống, trong “đường hầm thời không”, thời gian có mang tính đảo ngược, có thể chuyển xuôi, cũng có thể chuyển ngược, nó là tương đối tĩnh chỉ.

Di chuyển vượt không gian – đi 6000 km trong khoảnh khắc.

Một nhà vật lý học tại trường Đại học Cambridge cho rằng, về mặt lý thuyết, việc xuyên việt thời không là có khả năng thực hiện, nếu một wormhole mỏng được bảo trì trạng thái mở trong một khoảng thời gian đủ lâu, mọi người sẽ có thể sử dụng xung mạch ánh sáng xuyên qua thời không để truyền thông tin đi. (Fotolia)
Trong khi các nhà khoa học đang chứng thực tính khả thi của việc xuyên việt thời không một cách không biết mệt mỏi, thì trong lịch sử đã phát sinh một số sự kiện siêu nhiên không thể giải thích được, có lẽ đây chính là những bằng chứng thực tiễn về việc xuyên việt qua thời không.
Một tờ báo địa phương của Argentina đã từng lấy thông tin “Di chuyển vượt không gian từ Chascomus đến Mexico” (Teleportation from Chascomus to Mexico) làm tiêu đề, một báo cáo năm 1968 cho biết sự kiện “Di chuyển vượt không gian từ Chascomus đến Mexico” của cặp vợ chồng Tiến sĩ Dahl Gaylard ở Argentina là có thật.
Một buổi tối vào ngày 1 tháng 6 năm 1968, hai chiếc xe Limousine ở ngoại ô Buenos Aires, Argentina đang chạy tốc độ cao về phía trước, một luật sư địa phương – Tiến sĩ Dahl Gaylard đang lái một trong hai chiếc xe đó, ở bên cạnh là người vợ của ông, họ theo sau chiếc xe của hai vợ chồng người bạn ở phía trước, cùng đi thăm một người bạn cũ. Họ khởi hành từ phía nam thành phố Buenos Aires, đi 150 km về phía nam, và lái xe qua đêm.
khi chiếc xe của người bạn đi phía trước tiếp cận ngoại ô thành phố, nhìn lại đằng sau chỉ thấy một màn sương mờ, chiếc xe của tiến sĩ Dahl Gaylard hoàn toàn biến mất. Sau khi dừng lại một thời gian dài nhưng không thấy, họ đã lái xe trở lại tìm kiếm, nhưng cũng không tìm thấy. Đây là một con đường thẳng không có ngã rẽ, hai bên đường không có một chiếc xe hay mảnh xe vỡ nào.
Ngày hôm sau, họ hối thúc người thân và bạn bè tìm kiếm xung quanh các khu vực có thể phát sinh sự cố, nhưng vẫn không thấy bóng dáng của cặp vợ chồng tiến sĩ đâu cả. Hai ngày sau đó – ngày 3 tháng 6, họ nhận được một cuộc gọi điện thoại từ lãnh sự quán Argentina tại Mexico. Điện thoại cho biết: “Có một cặp đôi tự xưng là vợ chồng luật sư Dahl đang được chúng tôi bảo vệ. Bạn có biết họ không?”
Cặp vợ chồng tiến sĩ Dahl hóa ra đang ở thành phố Mexico. Họ đã đi từ thành phố Chascomus ở Argentina đến một thành phố khác ở Mexico, khoảng cách từ hai địa điểm lên tới 6000 km. Kỳ lạ hơn nữa là ngay cả chiếc xe của cặp vợ chồng tiến sĩ cũng xuất hiện tại lãnh sự quán Argentina tại Mexico. Trưởng lãnh sự quán ở đó xác nhận, vào ngày 3 tháng 6 vợ chồng tiến sĩ Dahl quả thực đã ở đó.
Theo tiến sĩ Dahl kể lại, khi họ lái xe rời khỏi thành phố Chascomus không lâu, vào khoảng 12 giờ 10 phút đêm, phía trước xe bất ngờ xuất hiện một màn sương trắng, bỗng chốc bao vây chiếc xe lại. Họ lập tức phanh gấp, và rất nhanh chóng trở nên mất tri giác. Khi họ tỉnh giấc thì trời cũng đã sáng, cảnh tượng bên ngoài cửa sổ xe không giống chút nào so với vùng đồng bằng ở Argentina. Sau khi xuống xe tìm hiểu, họ thấy mình đang ở Mexico. Hai vợ chồng cảm thấy vô cùng kinh ngạc, liền chạy tới lãnh sự quán Argentina để xin được giúp đỡ, họ phát hiện chiếc đồng hồ đeo tay đã dừng lại đúng vào thời khắc họ bất tỉnh –12 giờ 10 phút, còn lúc họ bước vào lãnh sự quán đã là ngày 3 tháng 6

Khinh khí cầu xuất hiện trở lại sau 36 năm

Năm 1954, trong một cuộc đua khinh khí cầu, Harry Logan và Derek Norton ngồi trong một khinh khí cầu bay qua tam giác quỷ Bermuda đã biến mất một cách thần bí. Đến mùa xuân năm 1990, trong một cuộc thi đấu khinh khí cầu ở Cuba, chiếc khinh khí cầu đã mất tích 36 năm trước, đột nhiên xuất hiện. Người Cuba khi ấy còn cho rằng nó là vũ khí bí mật của Mỹ.
Logan và Norton cho biết, khi hai ông đang tham gia một cuộc thi đấu khinh khí cầu vào năm 1954 tại San Juan Puerto Rico, bỗng thấy khắp người đau nhức như bị kim châm, giống như thể có một dòng điện nhẹ chạy qua cơ thể vậy, sau đó họ cảm thấy một cơn đau kịch liệt. Tất cả mọi thứ xung quanh, bao gồm cả bầu trời và đại dương đều chuyển sang màu đỏ, sư việc tiếp theo mà họ biết là có một chiếc máy bay chiến đấu theo dõi khinh khí cầu, ra lệnh cho họ hạ xuống.
Chuyên gia chuyên nghiên cứu các hiện tượng siêu tự nhiên tại Chicago là Calvin Callaway, cùng một số người, xác nhận chiếc khinh khí cầu đã bị tam giác quỷ Bermuda hút vào. Những gì Logan và Norton đã trải qua có vẻ như chỉ trong một khoảng thời gian ngắn, vậy mà ở trên Trái đất đã trải qua 36 năm rồi.
Những sự kiện xuyên việt thời không khác trong lịch sử cùng các sự kiện các con tàu và máy bay biến mất một cách thần bí tại tam giác quỷ Bermuda, và phát minh dịch chuyển tức thời trong thí nghiệm Philadelphia, cho tới bài báo cáo về hiện tượng “đường hầm thời gian” ngày 23 tháng 5 năm 2013 v.v …. Những hiện tượng xuyên việt thời không xảy ra ở những nơi ấy, liệu có phải là lối vào của các wormhole?
Giáo sư Longboat Key cho biết, trong thế giới vật chất tại địa cầu này, sự tiến nhập vào “đường hầm thời gian” đồng nghĩa với việc biến mất một cách bí ẩn; và việc từ “đường hầm thời gian” đi ra, có nghĩa là sự tái hiện bí ẩn. Vì thời gian trong “đường hầm thời gian” có thể tương đối tĩnh, do đó việc mất tích mấy chục năm cũng chỉ giống như một ngày hay nửa ngày.

Cảm giác sai về thời gian: quá khứ, hiện tại và thời gian là đồng thời tồn tại

Trung Quốc có một câu nói cổ rằng “một ngày ở trên trời, ngàn năm dưới mặt đất”, xuất phát từ câu chuyện về “Lạn Kha Sơn”. Đông Tấn Ngu Hỉ trong “Chí Lâm” có ghi: “Tại núi Tín An có một động đá, Vương Chất vào trong nhìn thấy hai cậu bé đang chơi cờ, liền đứng xem. Ván cờ chưa kết thúc, nhìn thấy thế cờ đã đi vào tàn cuộc, bèn quay trở ra, thì thấy làng quê đã biến đổi hoàn toàn. Những câu chuyện tương tự như vậy trong các tác phẩm cổ thư khác như “Tấn Thư”, “Thủy Kinh Chú”, “Thuật Dị Ký”, “Động Tiên Truyền” đều có ghi chép, điều này cho thấy người thời đó cũng đã trải nghiệm qua việc xuyên việt thời không , và với sự sai biệt thời gian giữa các không gian khác nhau.
Einstein nói: “Sự khác biệt giữa quá khứ, hiện tại và tương lai mà con người nhìn nhận chỉ là một sự trì hoãn tồn tại một cách ảo tưởng, thời gian không chỉ như chúng ta nhìn thấy, nó không chỉ chuyển động theo một hướng, mà hiện tại, quá khứ và tương lai là đồng thời tồn tại. “
Giáo sư Đại học Columbia về vật lý và toán học, nhà vật lý lý thuyết Brian Greene, đã làm một chủ đề diễn thuyết mang tên “Ảo tưởng về thời gian: quá khứ, hiện tại và tương lai cùng tồn tại”, trong đó nói rằng chúng ta thông thường đều đã có sự hiểu lầm về thời gian.
Bài diễn thuyết nói rằng toàn thể vũ trụ giống như một ổ bánh mì lớn. Mỗi một điểm thời gian độc lập giống như từng lát cắt bánh mỳ đồng thời tồn tại trong một miếng bánh mì. Quá khứ không hề biến mất, và tương lai đã tồn tại ở một nơi nào đó. Toàn bộ vũ trụ là một cấu trúc thông tin thời không lập thể (Hologram). Mỗi thời gian, không gian tồn tại những tín tức khác nhau, và đồng thời tồn tại trong vũ trụ.
Video: Các nhà khoa học khẳng định vũ trụ ba chiều của chúng ta phản ánh tình hình vật thể tồn tại trong các không gian.
Scientists Confirm That Reality is an Illusion Our 3D Universe Is A Hologram
Watch this video on YouTube.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Xúi dại!


"Đèn cù" và việc viết về các nhân vật chính trị tầm cỡ quốc gia

Vương Trí Nhàn/ Blog Vương Trí Nhàn 
Những chân dung chính trị đầy ấn tượng

Tôi muốn dùng lại cái cụm từ hai trong mộtđể chỉ Đèn cù.
 
Đây là một cuốn tự truyện của một trí thức. Người trí thức này làm cái nghề mà ở Việt Nam dễ đánh mất mình nhất là nghề làm báo. Nhưng anh là một nhà báo theo cái nghĩa mà ở các nước hiện đại người ta vẫn hiểu. Nhờ làm báo anh biết rất nhiều và có nhiều điều về chính mình khi về già muốn chia sẻ với bạn đọc. Và rộng ra, chia sẻ với thời đại.

Trong phần khắc họa lại khuôn mặt của nhiều nhân vật cao cấp mà mình đã được gặp và có khi là cùng làm việc, cuốn sách đưa ra những phác họa  chân dung chính trị.

Nếu cắt riêng các đoạn viết về từng người, rồi gộp lại, và bổ sung như thế nào đó làm nên một chỉnh thể hợp lý, ta sẽ có một cuốn sách riêng, với giá trị riêng.

Về chất tự truyện của Đèn cù, tôi sẽ đề cập tới trong một dịp khác. Hãy nói cái điểm thứ hai. Đây cũng là điểm làm nên sức thu hút của tác phẩm.

Ta hãy chú ý, sau khi học  ở Trung quốc về, tác giả được phân công chuyên đi theo Hồ Chí Minh để viết về ông cụ. Rồi về sau, do những vướng mắc về lý lịch nên mới bị mất cái chân rất khó kiếm ấy.

Ở các nước trên thế giới hiện nay chung quanh các nhân vật quan trọng – các VIP - bao gồm từ các chính khách các nghệ sĩ lớn, các cầu thủ bóng đá, luôn luôn có những người đi kèm để viết tiểu sử của họ.

Hình như ở ta, các nhân vật chính trị lúc đầu cũng định chơi sang như vậy. Nhưng về sau, cách mạng càng ngày càng gặp khó, các VIP càng ngày càng sống trong bí mật không muốn ai biết về cuộc sống riêng của mình.

 Rút cuộc chính trị ở ta là một vùng cấm, nhân vật chính trị là một thứ người ở trên trời. Mà cánh nhà báo nhà văn được phân công đưa tin vể các vị ấy thì ngày càng tẩm thường hèn hạ chỉ mong viết ra những bài báo vô cảm.

Có thể ban đầu, tác giả  Đèn cù,  cũng chỉ lo việc làm báo. Nhưng đây là một đầu óc thường xuyên đọc báo chí sách vở chính trị  quốc tế, lại có ngòi bút quan sát lên chi tiết của một nhà văn. Khi viết lại tự truyện, anh mang tất cả những kinh lịch đó vào tác phẩm. Đèn cù gợi ra cái định đề rằng giới nhà văn nhà báo phải  coi việc viết về các VIP  là nghĩa vụ trước lịch sử.

Hai ví dụ

Cầm Đèn cù trên tay tôi nhớ ngay hai tác giả Nga và Trung Hoa. 

Ông người Nga là Roy Medvedev. Theo Encyclopedia Britanica, phần đưa trên mạng, thì ông sinh 1925. Cha ông cũng từng bị bắt năm 1938, bị chết khi đi cải tạo vào năm 1941. 

Tấn kịch này đã khiến R. Medvedev rất quan tâm tới hệ thống chính trị và lịch sử chế độ xô viết. 

Ông từng là nhà nghiên cứu giáo dục và lấy bằng phó tiến sĩ ở Viện hàn lâm khoa học giáo dục Moskva 1958. Có thời gian làm Tổng biên tập nhà xuất bản Giáo dục.

Vào Đảng năm 1956 —sau Đại hội 20--, ông bị trục xuất khỏi Đảng năm 1969. Ông được phương Tây coi như một nhà lịch sử độc lập.

Tác phẩm chính của ông gồm có  Khrushchev: Những năm cầm quyền(1976), Khrushchev (1983), và  Khrushchev:một cuốn tiểu sử chính trị (1986) ...

 Hồi 1986 ở Nga tôi thấy giới trí thức truyền tay nhau cuốn tiểu sử Stalin do Medvedev viết. 

Ngoài ra ông  còn có một cuốn sách khác, mang tên Họ vây quanh Sta lin, dịch sang tiếng Anh là All Stalin’s Men (1984) viết về một chùm, những Malenkov, Molotov, Kalinin…Tôi từng đọc cuốn này khi in nhiều kỳ trên tờ Iunost, và có cắt ra mang từ Nga vể, sau có tặng lại cho anh Lê Tuấn Huy.

Ông người Tàu (lục địa) thì là Diệp Vĩnh Liệt, tác giả của nhiều cuốn tiểu sử những Mao Trạch Đông, Giang Thanh, Khang Sinh, Tưởng Giới Thạch... 

Tạm kể một ví dụ một cuốn  mang tên Các bí thư của Mao Trạch Đông, bản tiếng Việt gần đây của Minh Khai book, Nguyễn Thu Hiền biên dịch. 

Đây là đoạn quảng cáo tôi sao chép lại từ trên mạng, dán lên đây để giúp hiểu cách làm việc của Diệp Vĩnh Liệt

Thực tế đã có rất nhiều thư ký làm việc bên Mao Trạch Đông. Cuốn Các Bí Thư Của Mao Trạch Đông viết lại những hồi ức và những nghiên cứu về con người Mao Trạch Đông bằng một góc nhìn đặc thù, góc nhìn nhận của chính các thư ký đối với Mao Trạch Đông.

 Cuốn sách này viết về 6 vị thư ký: Hồ Kiều Mộc, Trần Bá Đạt, Điền Gia Anh, Gianh Thanh và hai thư ký cơ yếu của Mao Trạch Đông đó là Cao Trí và Lô Quang Lộc.

Tác giả cuốn sách này đã trực tiếp phỏng vấn Trần Bá Đạt, Cao Trí và Lô Quang Lộc, đồng thời cũng phỏng vấn hai vị phu nhân: bà Cốc Vũ - vợ Hồ Kiều Mộc và bà Đổng Biên - vợ Điền Gia Anh - cùng rất nhiều những người bạn quên biết với Giang Thanh.

Ngoài ra, trong sách còn có thêm những ghi chép thực tế khi tác giả phỏng vấn hai nhân vật khác. Một là, đội trưởng đội cảnh vệ Trung ương Trương Diêu Từ; hai là Lô Địch - người đọc giảng thơ văn cho Mao Trạch Đông. Tất cả đều có giá trị tham khảo quan trọng trong việc nghiên cứu và tìm hiểu về Mao Trạch Đông.

 Một kho hồi ký đáng ra phải có. 

 Cả Medvedev lẫn Diệp Vĩnh Liệt đều viết như là những nhà nghiên cứu, còn Trần Đĩnh – TĐ trong Đèn cù chứ không phải trong mấy tài liệu theo đơn đặt hàng của tuyên huấn -- thì viết về các VIP như là một phần tự truyện, như là hồi ký về các vị ấy.

 Đọc Đèn cù tự nhiên tôi ước ao giá kể công việc của Trần  Đĩnh được nhiều người khác cùng gánh vác. 

Trong Đèn cù, mỗi khi nói tới Mao Trạch Đông, tác giả thường láy lại một số chi tiết lấy từ cuốn hồi ký của Lý, một bác sĩ chuyên lo chăm sóc sứ khỏe của Mao.

Chung quanh các lãnh tụ của VN, cũng có bao  nhiêu người từng là bác sĩ là thư ký riêng, là dân tay hòm chìa khóa luôn luôn phải lo phục vụ từ việc công tới việc tư. Nếu những người đó có cách  nhìn riêng bản lĩnh riêng thu thập những hiểu biết về các vị VIP ấy, ngay từ trong chốn riêng tư thì chúng ta sẽ có bao nhiêu trang sách thú vị. 

Cố nhiên, trong các nước tổ chức xã hội theo lý thuyết cộng sản, đây là một việc nguy hiểm.
Nguyễn Khải từng kể với tôi là hồi hòa đàm ở Yalta sau Đại chiến thứ hai, sau khi họp kín với Churchill, Roosevelt,  nhà độc tài Stalin có nói với người phiên dịch của mình:
-- Mày biết nhiều quá, tao muốn mượn luôn cái đầu của mày quá!

Người trong cuộc dễ chuốc lấy tai vạ khi viết. Nhưng công chúng thì hưởng lợi. 

Một xã hội hiện đại là một xã hội trong đó người làm chính trị dù ở cấp nào cũng là một thứ công chức và cũng phải chịu sự quản lý của pháp luật.

Ngược lại thì đó là xã hội trung cổ.

Nên có chú giải

 Trở lại Đèn cù

Trong đời làm văn làm sách của mình, tôi thấy dễ chưa có tác phẩm nào được đọc nhiều như thế. Ở trong nước ở ngoài nước. Trên mạng trên sách. Cả người viết người làm chính trị chuyên nghiệp lẫn người bạn đọc bình thường.

Trong số những điều gọi là phản hồi của độc giả, có chi tiết vui vui sau đây.

Sau khi Đèn cù được tung lên mạng theo dạng tháo khoán, một bạn đọc đang ở hải ngoại tâm sự: Tôi đã đọc bản điện tử, tôi vẫn tính chuyện phải mua thêm một bản giấy. Nghĩa là sách hay quá, bạn đọc ấy tính còn phải đọc đi đọc lại. 

Nghe có tự hào. 

Nhưng trong đó chẳng phải không có một hai phần trăm nào đó tiếc tiền(?)

Vốn làm nghề xuất bản tôi rất hiểu sự cạnh tranh của sách in trên giấy và các ebook.

Tôi muốn mách nước anh Đĩnh và nhà xuất bản để làm tăng giá trị bản giấy và làm cho bản in trên mạng không thể so với bản giấy. 

Có thể, trong những lần in tiếp, thứ nhất tác giả nên bắt tay ngay vào việc chỉnh lý những thiếu sót trong bản đầu.
Thứ hai, với tư cách một cuốn khảo cứu chính trị, và với dung lượng lớn các nhân vật được nói tới trong tác phẩm như Đèn cù, biên tập viên và nếu chính tác giả làm thì càng tốt nên làm một thứ sách dẫn – index - ở cuối sách. Ở cả hai loại:

1/ index về chủ đề
2/ index về nhân vật

Ở nhiều nước văn minh, các cuốn sách lớn – với nghĩa sách buộc người ta phải đọc đi đọc lại nhiều lần -- có kèm theo các index loại đó.Trong tầm vóc của mình, Đèn cù đáng để làm lắm.

Về lâu về dài, nếu có dịp có thể tác giả hay ai đó làm thêm một phụ lục mang tên "Đèn cù" chú giải thì càng tốt.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Khi một đất nước đang phát triển



Thời gian vài năm trở lại đây, khi mà các nhà báo dần dần đưa ra ánh sáng nhiều lỗi lầm hơn của cấp lãnh đạo Việt Nam, của giới kinh doanh vô đạo đức, của tình trạng bạo lực giết chóc, vô nhân tính tràn lan, của ô nhiễm môi trường trầm trọng, của diện tích rừng bị thu hẹp, của thú vật bị giết quá nhiều đe dọa tuyệt chủng thì mỗi chúng ta đều hốt hoảng nhận ra một sự thật rằng: Đất nước đang trong thời kỳ báo động đỏ.

Có lẽ, từ xưa tới giờ mọi người vẫn biết đó thôi, nhưng đều cố gắng bơ đi để mà sống, vì chẳng biết làm gì hơn. Nhưng đã đến lúc, giấy đã không còn có thể gói được lửa, sự thật không thể mãi che dấu, mỗi chúng ta mới bàng hoàng nhận ra rằng, mọi thứ thật cấp bách với đất nước này.

Vậy từ đâu mà mọi thứ lại trở nên xấu xí quá đỗi đến vậy?

Có một điều khách quan mà trước hết, ta phải thừa nhận là, bất cứ một đất nước nào trong thời kỳ phát triển cũng phải đi qua một giai đoạn đầy khó khăn và bất cập cả. Bất cứ nước Âu Châu nào cũng từng bị ô nhiễm không khí rất nhiều trong thời kỳ quá độ, đơn cử là thủ đô Luân Đôn của Anh cũng đã từng bị ô nhiễm không khí khủng khiếp gây chết người năm 1873 để có thể được như ngày nay.

Không khí chỉ là một trong các vấn đề của một đất nước đang phát triển còn nhiều thứ phải lo toan, dĩ nhiên là không thể chu toàn hết tất cả ngay được. Một lý do mà chúng ta có thể tạm lấy để tự trấn an, lấy làm tấm bình phong, tha thứ cho mình được.

Lý do thứ hai dẫn đến tình trạng này, nói thẳng trắng trợn ra là những người lãnh đạo đất nước đã quá thiên lệch về xây dựng chế độ. Xây dựng chế độ và xây dựng đất nước không phải lúc nào cũng là một. Khi mà chúng ta bỏ công sức quá nhiều cho xây chế độ, dĩ nhiên ta không còn bao nhiêu khả năng để xây dựng kinh tế nữa – một vấn đề cốt yếu để tồn tại. Nói đến đây, tôi phải nhắc lại câu nói của cha ông ta: Phú quý sinh lễ nghĩa, bần hàn sinh đạo tặc. Câu nói đó đến nay vẫn toàn vẹn giá trị cho đến bây giờ. Rõ ràng, trộm cướp ngày nay bạo dạng, hung ác hơn xưa nhiều (vì áp lực và cách biệt giàu nghèo lớn quá). Xét theo khía cạnh đó, những nhà kinh doanh vô đạo đức cũng có thể được xem như một tên cướp cạn, trắng trợn giữa ban ngày, không quên cho thêm tí thuốc độc (ngành thực phẩm, hệ thống xử lý chất thải).

Trong việc đi kèm với xây dựng đường lối xã hội chủ nghĩa, nhiều kẻ đã bán đi nhân phẩm của mình để dễ dàng trục lợi hơn cho bản thân và gia đình họ. Tham quan làn tràn khắp mọi nơi, báo đài ngày nào cũng nói, thất thoát tiền bạc đóng thuế của dân và tiền cứu tế lẽ ra những con người khổ cực đã phải được nhận.

Với cái phong thái “xây dựng đất nước” đó, đất nước phát triển ỳ ạch như một con rùa bò. Mà càng phát triển chậm và kéo dài giai đoạn “quá độ” thì đất nước càng đứng ở giữa ngã ba đường, chịu nhiều bất cập thêm nữa. Mỗi ngày trôi qua, ngột ngạt vẫn hoàn ngột ngạt, xám xịt không thấy lối thoát.

Vì nhìn đâu cũng không thấy lối thoát, chẳng thấy động thái rõ rệt, quyết tâm gì của các cấp lãnh đạo, nên dẫn đến lý do thứ ba, là chúng ta!

Mỗi quốc gia phát triển phải có sự đóng góp của người dân. Kể cả ở Mỹ, người dân phải mỏi mồm mỏi miệng phát biểu và lên tiếng rất nhiều để cải thiện mọi thứ. Họ phải tự thân đấu tranh cho họ; kiểu: Muốn có cái gì thì tự đi mà giành lấy. Còn ở ta, mỗi người dân, hoặc là trông chờ vào nhà lãnh đạo, hoặc là không nhìn thấy tương lai. Do đó mà ở ta có phần mất niềm tin, từ đó chọn cách chúng ta hành xử là bơ đi mà sống. Phải, tôi đau xót phải nói rằng, phần lớn rất lớn chúng ta đã chọn cách im lặng, không nói gì cả; theo đúng kim chỉ nam có trong câu nói của người xưa – một tấm bình phong khác khá là chắc chắn (kiểu: nói có sách mách có chứng) mà ta có thể núp được: Đèn nhà ai nấy rạng, tuyết nhà ai nấy quét.

Tôi biết nhiều sự thật đằng sau cách mà người ta chọn phớt lờ. Không phải vì họ mất trí hay mất hẳn nhân tính. Trong những ánh mắt của người dân, tôi thấy người ta khao khát được sống hạnh phúc và quan tâm nhau hơn, nhiều người tỏ vẻ tiếc nuối, bất lực vì không giúp được người bị nạn, nhưng họ không dám chạm vào. Họ không dám giúp ai vì sợ liên lụy, phiền toái; họ không dám chạm vào việc phê bình ai đó trong bộ máy nhà nước, vì làm như thế là tự chuốc họa vào thân. Có lẽ, chẳng phải mình tôi biết điều đó, tất cả dân tộc này biết cái tình trạng mà đất nước đang vướng mắc. Trong mắt mọi người, họ nhìn nhau đầy cảm thông trước những tình trạng vô cảm.

Nhưng chúng ta đã nhầm, dù thông cảm với nhau cách mấy, trong tận sâu thẳm tâm hồn mình, chúng ta biết, ta vẫn không bao giờ có thể tha thứ cho mình hay cho người mà ta nhìn vào mắt vì những gì họ đã phớt lờ. Chúng ta không bao giờ có thể tha thứ cho mình vì đã nhìn đất nước ngày càng đi vào chỗ tồi tệ hơn.

Rất tiếc rằng, “riết rồi cũng quen”, một cụm từ quen thuộc với việc chúng ta bơ đi mà sống trước những thách thức thời đại mà không trước thì sau mỗi người phải đối mặt. Một câu khác cũng nghe xót lòng không kém: “Việt Nam mà!”. Không biết có ai đã từng nghe 2 cụm từ trên hay chưa, nhưng tôi thì nghe hoài. Nhưng chúng ta chấp nhận tất cả, kể cả đi xuống vực, vì hàng tá lý do mà chúng ta “có thể thông cảm được”.

Tôi đã thông cảm rất nhiều, chúng ta đã thông cảm cho nhau rất nhiều, về cách mà chúng ta đối xử với dân tộc mình. Những điều đó nghiễm nhiên trở thành thứ gọi là “luật bất thành văn”.

Vậy là chúng ta, nhìn cho đến tận cùng, nên thừa nhận rằng, người Việt là một dân tộc lười biếng. Dĩ nhiên là đa phần chứ không phải tất cả. Lười biếng đấu tranh, lười biếng lên tiếng, lười biếng giúp đỡ, lười biếng cải thiện, lười biếng đổi mới… Chúng ta hoạt động với những hệ thống cũ rích của giáo dục, của hành chính, cũng như trong cách nhìn nhận thế giới ngày nay về góc cạnh văn hóa, văn minh. Thử nhìn mà xem, bao nhiêu bài báo chê bai đàn ông Việt Nam nhậu nhẹt quá nhiều, cà phê cà pháo quá nhiều, ham chơi và hưởng thụ quá nhiều? Thậm chí chúng ta cũng lười đi bỏ rác vào thùng nếu không có sẵn thùng rác ở đó, và ở Sài Gòn, ngay sau công nhân vệ sinh làm việc buổi sáng, một số nơi đâu lại vào đấy, không chút văn minh, mặc dù giữ vệ sinh không khó, cũng chẳng tốn tiền, nó chỉ tốn chút công bé nhỏ.

Tạm bỏ qua những thói hư tật xấu và bất cập, bởi vì không kể sao chi hết. Giờ, hãy nghĩ đến góc nhìn khác.

Chúng ta bảo chúng ta “quen rồi”! Quen với bối cảnh đó rồi. Nhưng có thực sự như thế không nhỉ? Hay chúng ta nên biết, chúng ta sống trong một môi trường, cùng gắn kết với nhau. Rằng, khi thành phố ô nhiễm không khí, toàn dân phải hít bầu trời đó; khi nước ô nhiễm, hàng triệu người uống phải nó (1/3 dân số Sài Gòn sử dụng nguồn nước không đảm bảo an toàn); khi thức ăn độc hại, muôn vạn người cũng phải cố gắng nuốt nó vào bụng để tiếp tục sống. Nói một cách, có thể là hãi hùng hóa, chúng ta đang bị đe dọa đến quyền được sống, quyền thấp nhất của loài người. Không khí, nước, và thức ăn của chúng ta đã ô nhiễm mà khu chịu hậu quả nặng nề nhất là thành thị. Tôi tin không ai quen với ô nhiễm, không ai quen với sự đe dọa cho được cả, nhưng là vì, tự dối gạt mình, rằng nó không sao khi chưa thấy hậu quả.

Bởi vậy, không có chuyện một người làm bậy cho muôn vàn người khác chịu hậu quả, còn mình thì có thể bảo vệ được gia đình mình ; không có chuyện một người tẩm thuốc vào dưa leo hay bất cứ thực vật nào để trục lợi nhưng vẫn mua được dưa leo tốt cho chính mình, bởi vì người khác sẽ ganh đua, bắt chước và làm theo. Cứ xét tiếp theo cách đó, một người làm ô nhiễm môi trường, trước hết là anh ta sẽ chịu hậu quả, sau đó người khác sẽ làm theo, và hậu quả khôn lường cộng hưởng ngày một trương phình ra.

Còn một điều tồi tệ nữa đang xảy ra, đó là đất nước chúng ta đang ở thời kỳ dân số vàng, người trẻ trong độ tuổi lao động đang rất phơi phới. Nhưng thay vì chúng ta có thể phát triển thần kỳ như Nhật Bản thì bây giờ ta vẫn chưa sản xuất nỗi một con bu lông, ốc vít nào. Và đất nước sẽ lâm vào tình trạng như Hàn Quốc hiện nay, thậm chí tệ hơn là người già bị bỏ rơi phải đi ra công viên làm gái đối với các bà già 60; trong khi đó, Hàn Quốc đã rất mạnh về kinh tế nhé. Hãy tưởng tượng một viễn cảnh tệ hơn chút đi, vì với tốc độ phát triển ốc sên này, chúng ta không thể so với Hàn Quốc nỗi, khi mà lớp người trẻ này sẽ già sau một thế hệ hai mươi lăm năm nữa, gánh nặng sẽ trút lên đầu giới trẻ ít ỏi thời đó, rồi kết quả sẽ là chúng không gánh nỗi. Ngần ấy con người trong một đất nước với dân số không hề ít ỏi này sẽ đi về đâu?

Đất nước đang phát triển, như một người trẻ vừa mới lớn, như một thanh niên mới khởi nghiệp, còn muôn vàn thứ phải lo toan, chờ đợi phải giải quyết, phải đối mặt. Thách thức của thời đại đang treo lủng lẳng trước mặt, sau hai mươi lăm năm nữa, nếu chúng ta không tự lo cho bản thân mình, dân tộc ta sẽ trở thành một dân tộc ăn xin, nhờ vả ngoại quốc, xin trợ cấp và sự giúp đỡ mất thôi. Rồi điều mà ai cũng biết, không ai cho không ai cái gì, người ngoại quốc sẽ giúp đỡ kèm theo các điều kiện và có nhiều quyền hành hơn đến dân tộc này. Chả lẽ, phải đợi đến khi đó, chúng ta mới vỡ lẽ ra một điều muộn màng rằng: Đáng ra chúng ta nên thức tỉnh sớm hơn?

Tôi không cố tình dìm hàng đất nước hay coi thường dân tộc, ngược lại, tôi mong mỏi rất nhiều là đằng khác. Cứ mỗi một bài viết, tôi hi vọng sẽ có thêm dù chỉ là một người hiểu những gì tôi nói, và anh ta/cô ta sẽ bắt đầu lên tiếng hay bất cứ việc gì có thể để giúp đất nước mình không đi vào ngõ cụt.
Bạn hỏi tôi thế thì phải làm sao, tôi nghĩ bạn biết bạn phải làm sao. Thường thì khi một người hiểu điều gì đang xảy ra, họ sẽ biết phải làm sao với khả năng của họ. Và tôi đoán là bạn đã hiểu chuyện gì đang xảy ra rồi!

Có lẽ, điều quan trọng nhất để Việt Nam có một chỗ đứng của mình trên thế giới, trước hết là phải tạo lập một nền văn hóa có điểm nhấn riêng cho mình. Điều mà từ lâu tôi đã muốn nói, con đường đi tắt đón đầu của Việt Nam không còn là khoa học công nghệ hay kiếm tiền gì nữa, hơn trên cả thảy thứ đó, là lòng yêu thương, là lòng đoàn kết toàn dân tộc. Chỉ có một dân tộc đại đoàn kết mới làm các quốc gia khác kính nể. Một khi dân tộc này đoàn kết lại, đừng nói là loài người, thần thánh cũng không thể phớt lờ chín mươi triệu con người đâu.

Hi vọng là chúng ta sẽ đoàn kết hơn, không chỉ hơn mà phải hơn nhiều thời gian mà chúng ta đã từng xao nhãng trước kia. Đoàn kết trong từng chuyện nhỏ hàng ngày, ứng xử với nhau lịch thiệp, quan tâm nhau những điều nhỏ nhoi thay vì ganh tị hay thù ghét, tôn trọng nhau hơn, không chửi lén sau lưng, không tìm những mưu mẹo vặt để qua mặt nhau vì đã có quá nhiều người nói người Việt ta khôn vặt rồi, hẳn bạn cũng không muốn nghe nữa. Từ những chuyện nhỏ nhặt, chúng ta hãy giúp đỡ nhau, chỉ có vậy mới mong tiến đến việc lớn hơn được.

Có thể bạn không tin, nhưng tôi và vài người khác đã nhìn thấy một cơn sóng đang bắt đầu vỗ mạnh hơn, trào dâng hơn trong lòng đất nước này. Trên đời này, cái gì có lên thì phải có xuống, khi cực suy là lúc khởi thịnh, và tôi nghĩ đó chắc chắn phải là lúc này, đất nước này phải đi lên và chỉ có từ lên cho tới lên thôi, ít nhất là trong vòng một thế hệ nữa. Ngần ấy thời gian có lẽ đủ để chúng ta làm nên những điều mà thần thánh cũng phải gật đầu.

Cuối cùng, hãy thôi cái điệp khúc so sánh tộc Việt với Nhật, Mỹ hay bất cứ nước nào. Thôi ngay cái trò vớ vẩn nghĩ rằng dân tộc ta thông minh hơn dân tộc kia hay kém sắc sảo bằng dân tộc nọ. Nghe này, chúng ta cũng như họ, đều là con người như nhau cả, như nhau cả thôi! Và nếu có gì đó làm ta đi nhanh hơn họ, là vì ta đã quyết không cưỡi ngựa xem hoa nữa. Vậy thôi!
Hãy nhớ, đừng chỉ dừng ở hi vọng, biến nó thành khát vọng đi!!!

Lục Phong

Theo Triết học đường phố

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Tư, 24 tháng 9, 2014

Dựa hơi?

Thử đọc vài cái tít mới đây trên báo chí từ lề đảng đến lề dân: "Con trai cố TBT Lê Duẩn: Tôi mong dân tộc này sẽ chọn được con đường sáng suốt nhất để bước đi", “Người vợ Miền Nam của cố Tổng bí thư Lê Duẩn”, và mới đây nhất là "Thư kiến nghị vợ hai của cố tổng bí thư Lê Duẩn " rất nổi tiếng.


Thấy gì qua những cái tít đó? Tất cả những cái tít đó đều gắn liền với một nhân vật nổi tiếng quyền uy một thời (Lê Duẩn). Nhưng người nổi tiếng không phải là đối tượng chủ động của bản tin, mà là vợ ông ta hay con trai ông ta. Hiện tượng này người dân gọi là "dựa hơi". Có thể đương sự không dựa hơi, nhưng rất có thể là báo chí muốn đặt cái tít như thế để thu hút độc giả.

Tôi phải tự hỏi tại sao lại dựa hơi như thế. Nếu là ý kiến hay thì dù người phát biểu là ai vẫn có thể có người quan tâm và chú ý; nếu ý kiến dở cho dù từ người nổi tiếng thì người ta sẽ bỏ qua. Dựa hơi, do đó, có thể phản ảnh một phần sự thiếu tự tin. Vì thiếu tự tin nên phải dựa vào một nhân vật nổi tiếng để làm tăng trọng lượng phát biểu của mình.

Trong trường hợp liên quan đến ông LD, tôi vẫn chưa hết thắc mắc tại sao người ta lại dùng "Vợ hai của cố tổng bí thư Lê Duẩn" trong cái tít? Trong văn hoá VN, "vợ hai" thường bị người đời dèm pha, chứ chẳng có gì đáng tự hào để khoe ra. Ấy vậy mà người ta dùng cái tít đó trong tựa đề bài viết!

Báo chí VN còn có một loại dựa hơi khác: dựa hơi bằng cấp và danh xưng. Mở tờ báo ra, bậc tivi hay đài phát thanh, chúng ta hay bắt gặp những nhân vật với những danh xưng như TS (tiến sĩ), GS (giáo sư), PGS (Phó giáo sư) trước tên họ. Có người không có những danh xưng đó thì được cho chữ CN (cử nhân) trước tên họ. Khi tôi hỏi các bạn trong giới báo chí tại sao cần mấy thứ danh xưng đó, họ nói để như thế mới dễ bán báo và làm tăng trọng lượng bài viết. Tôi không đồng ý với quan điểm đó, bởi vì trọng lượng bài viết phụ thuộc vào thông tin trong bài chứ không phải bằng cấp và danh xưng của tác giả. Chúng ta chẳng thấy những ý kiến "trời ơi" từ những GS/TS mà dân gian vẫn hay gọi là "tiến sĩ giấy" là gì. Một khi dùng đến danh xưng trước tên của họ tức là họ đã thể hiện (a) sự thiếu tự tin, hay (b) sự hám danh, hay cả hai.

Nhưng có khi dựa hơi là do yếu tố tâm lí. Nếu cái tít cuốn "Đèn cù" của tác giả Trần Đĩnh khô khốc, thì chắc khó thu hút người đọc, vì ít người nghe đến tên của tác giả trên văn đàn. Nhưng khi phần phụ đề "Tự truyện của người từng viết tiểu sử Hồ Chí Minh" thì lập tức có hàng triệu người, kể cả tôi, tìm đọc. Cái phụ đề đó lợi hại vì người đọc nghĩ ngay đến những câu chuyện thâm cung bí sử trong cuốn sách. Mà, quả thật, tác giả không phụ lòng người khi chứng tỏ khả năng kể chuyện làm hấp dẫn biết bao nhiêu độc giả.

Dựa hơi suy cho cùng là một phương tiện PR. Ca sĩ mới phải dựa hơi ca sĩ thành danh để lăng xê tác phẩm của mình. Tương tự, người chưa nổi tiếng cần dựa hơi người nổi tiếng để có thể gây sự chú ý của công chúng. Sách mới ra lò phải dựa hơi một điểm nhấn nào đó để hấp dẫn người đọc. Tôi thấy trong văn nghệ, người ta có lí do chính đáng để dựa hơi, mà thực chất là tương trợ lẫn nhau. Nhưng trong quan điểm về chính trị - xã hội, tôi không thấy lí do chính đáng để dựa hơi vào các nhân vật quá cố và nổi tiếng. Con dựa hơi sự nổi danh của cha, hay vợ dựa hơi tên tuổi của chồng không thể nào làm tăng sự hợp lí của quan điểm, mà còn gây phản tác dụng vì người ta sẽ nhìn vào và nhún vai nói: yếu đuối.


Gs Nguyễn Văn Tuấn


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nếu Hillary Clinton đắc cử tổng thống vào năm 2016, quan hệ Mỹ-Trung có thể bị ảnh hưởng bởi thái độ không thân thiện mà Trung Quốc dành cho bà.

Shannon Tiezzi, The Diplomat
Dịch bởi Minh Trung, CTV Phía Trước
Nếu Hillary Clinton đắc cử tổng thống vào năm 2016, quan hệ Mỹ-Trung có thể bị ảnh hưởng bởi thái độ không thân thiện mà Trung Quốc dành cho bà.
Nhiều người cho rằng Cựu ngoại trưởng Hillary Clinton sẽ là ứng cử viên nặng kí cho chiếc ghế tổng thống vào năm 2016, mặc dù cho đến nay bà vẫn không phủ nhận cũng chẳng xác nhận có ra tranh cử hay không. Theo nhà phân tích chính trị O’Hanlon thuộc Viện Brookings, nếu Hillary đắc cử tổng thống, chính sách của Mỹ đối với Trung Quốc (TQ) sẽ có nhiều điều đáng chú ý, nhất là do bà đặc biệt quan tâm đến khu vực châu Á-Thái Bình Dương khi còn làm Ngoại trưởng.
Hillary Clinton được coi là một trong những kiến trúc sư của chính sách “trục châu Á”- còn gọi là chính sách “tái cân bằng”- trong chính quyền Obama. Là gương mặt nổi bật của chính sách này, bà thường xuyên công du đến Châu Á và xác định rõ vai trò của Mỹ đối với từng vấn đề trong khu vực. Nổi bật nhất là, trong diễn văn đọc ở Diễn đàn khu vực ASEAN 2010, bà tuyên bố lợi ích quốc gia của Mỹ ở Biển Đông đang bị đe dọa. Vai trò của bà trong chính sách trục châu Á lớn tới mức cây bút Elizabeth Economy, thuộc tạp chí Current History chuyên về các vấn đề quốc tế, cho rằng việc bà rời ghế ngoại trưởng là một trong những yếu tố chính gây trở ngại cho việc thực hiện chính sách này trong nhiệm kì thứ hai của Tổng thống Obama.
O’Hanlon chỉ ra thái độ “cứng rắn” trong những nhận xét của Hillary Clinton về chính quyền Bắc Kinh. Ông trích dẫn hồi kí của bà, trong chuyến thăm TQ năm 2009 tổng thống Obama đã được TQ đón tiếp với “thái độ lạnh nhạt”. Hillary nhấn mạnh đến các hành động khiêu khích quân sự của TQ, đặc biệt ở Biển Đông, và cho rằng “chúng ta đang ở trong giai đoạn mới của mối quan hệ với một TQ đang lên, có quan điểm cứng rắn và không còn dấu giếm sức mạnh kinh tế và quân sự ngày một nâng cao”. Với sự tôn trọng dành cho nền kinh tế đứng thứ hai thế giới và hiểu rõ rằng quan điểm cứng rắn của Bắc Kinh là mối đe dọa đối với Mỹ, bà sẽ xử lí tốt mối quan hệ với TQ nếu bà làm tổng thống.
Phản ứng trước thái độ “cứng rắn” của Hillary, TQ chẳng ưa gì bà. Bắc Kinh cho rằng Hillary là tác giả của chính sách ngoại giao thù hằn với TQ trong suốt nhiệm kì ngoại trưởng của mình, từ việc Mỹ can thiệp sâu hơn vào các vấn đề khu vực đến việc tố cáo Trung Quốc vi phạm nhân quyền. Những phát biểu “lung tung” của Hillary khi viếng thăm nước khác (như Mông Cổ năm 2012 và Tanzania năm 2013) càng làm cho TQ khó chịu hơn.

Khi Hillary rời ghế ngoại trưởng Mỹ, Bắc Kinh cảm thấy như cất được một gánh nặng. Tờ nhật báo China Daily đã so sánh Ngoại trưởng John Kerry với người tiền nhiệm như sau: “Hillary Clinton cứ thao thao bất tuyệt và tỏ vẻ không quan tâm đến người nghe. Ngược lại, Kerry thức thời hơn, sẵng sàng lắng nghe và trao đổi với người đối thoại”. Trong mắt nhiều nhà phân tích TQ, Hillary là biểu tượng cho chính sách đối ngoại xấu xa của Mỹ: đạo đức giả về nhân quyền và dân chủ, can thiệp vào các vấn đề khu vực, và quan trọng nhất là thái độ thiếu tôn trọng TQ và “lợi ích cốt lõi” của nước này.
Như vậy, quan hệ Mỹ-Trung sẽ như thế nào nếu bà Hillary đắc cử tổng thống ? Với nhiều người Mỹ, TQ ko ưa Hillary lại là điều tốt. Họ cho rằng, khi chơi với Bắc Kinh, thà bị Bắc Kinh sợ còn hơn là được Bắc Kinh thích. Ngoại trưởng Úc Julie Bishop như phụ họa thêm cho quan điểm này khi phát biểu trước báo giới “TQ không tôn trọng các nước nhỏ”. Bà hứa Úc sẽ “phản đối thái độ đó” bất chấp TQ có nổi giận hay không.
Nhiều người Mỹ cũng mong muốn chính quyền Washington phải tỏ thái độ như Úc. Bill Bishop, người lập ra trang website Sinocism Newsletter, cho rằng “Bắc Kinh ngày càng chứng tỏ họ không tôn trọng Obama và các quan chức hoạch định chính sách ngoại giao ở nhiệm kì hai của ông”. Những người cho rằng Obama không được TQ coi trọng thích bỏ phiếu cho Hillary vì quan điểm cứng rắn với TQ của bà. Chính quyền Bắc Kinh có thể không có thiện cảm với bà nhưng sẽ phải tôn trọng bà hơn – sự “tôn trọng” chỉ để làm giảm sức ép từ Mỹ.
Cần thiết lập quan hệ cá nhân tốt đẹp giữa hai lãnh đạo Mỹ-Trung trước chuyến thăm chính thức. Blogger Yang Hengjun cho biết, mối quan hệ khắng khít Nga-Trung dựa một phần trên quan hệ cá nhân giữa tổng thống Putin và chủ tịch Tập Cận Bình. Những khác biệt về địa chính trị giữa Washington và Bắc Kinh khiến cho quan hệ giữa hai nước sẽ không bao giờ tốt đẹp, nhưng quan hệ cá nhân giữa hai lãnh đạo lại có thể xóa bỏ sự ngờ vực vốn đang rất cao. Thực tế cho thấy, dù chính sách đối ngoại của tổng thống George W. Bush không được khen ngợi nhiều, nhưng mối quan hệ thân mật trong công việc giữa ông và Chủ tịch Hồ Cảm Đào đã giúp ổn định mối quan hệ Mỹ-Trung khi cả hai còn đương chức.
Tuy đã rất cố gắng nhưng Obama và thuộc cấp không có quan hệ thuận lợi với lãnh đạo Trung Quốc như hai bậc tiền nhiệm. Chính quyền Obama đã dành nhiều thời gian và công sức để tạo quan hệ với Tập Cận Bình từ khi ông còn là phó chủ tịch nước. Nhưng, cho đến nay, những nỗ lực đó có thể coi đã thất bại, điều này thể hiện ở việc Chủ tịch Tập Cận Bình muốn nhìn xa hơn mối quan hệ Mỹ-Trung trong việc lập chính sách đối ngoại. Nếu Hillary trúng cử, quan hệ cá nhân giữa lãnh đạo hai nước Mỹ-Trung.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

THAM LUẬN CỦA NHÀ BÁO LÊ HẢI ( KHÔNG ĐƯỢC ĐỌC ) TẠI ĐẠI HỘI CÁC HỘI VH-NT THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG LẦN VIII

 

 by kytrung 
Nhà báo Lê Hải trong cuộc biểu tình chống quân Trung Quốc xâm lược ngày 11/5/2014
  Tôi với nhà báo Lê Hải chơi thân, có chuyện gì "ới" với nhau một tiếng, là có mặt liền. Tính cách của Lê Hải tôi thích, tất cả phải rạch ròi, không nửa vời, không xu thời, không nịnh thế. Tất nhiên những con người như thế, trong xã hội chúng ta đang sống, chịu một số thiệt thòi. nhưng không vì thế, Lê Hải bi quan, hay có những suy nghĩ tiêu cực. Ngược lại, trước bất công, trước sự đớn hèn Lê Hải cất tiếng nói dũng cảm và hành động thực sự. Bài tham luận Lê Hải viết và định đọc trước đại hội liên hiệp các hội VH-NT thành phố Đà Nẵng lần thứ VIII là một ví dụ. Rất tiếc, bản tham luận này không được đoàn chủ tịch đại hội cho phép đọc. Cũng chẳng sao...! Mình không đọc mọi người đều biết cả - Hải nói với tôi như vậy, khi tôi hỏi : " Ông có bực mình không?" rồi  Hải cười.
            Tiếng cười rổn rảng, y như khi hai thằng kể tiếu lâm cho nhau nghe...

Bản lĩnh của những người văn nghệ.

Kính thưa quí vị,
Đã rất lâu Đà Nẵng không có vấn đề nổi cộm trong văn học nghệ thuật, Đà Nẵng rất hiền lành: không có những hiện tượng xuất sắc, cũng không có chuyện ầm ỹ nổi lên bằng những tác phẩm trong tất cả các lĩnh vực từ văn chương, thơ phú đến tranh tượng, nhiếp ảnh... Mặc dù, thỉnh thoảng chúng ta có huy chương vàng, bạc, giải thưởng quốc gia. Tôi tự hỏi, VÌ SAO?
Những đột biến gây tranh cãi thường xảy ra trong lĩnh vực văn chương, điện ảnh. Trong các lĩnh vực khác như nhiếp ảnh, múa, mỹ thuật, kiến trúc, văn nghệ dân gian… im lìm hơn.
Đã một thời cả nước xôn xao vì “Đứng trước biển”, “Cái đêm hôm ấy, đêm gì”, “Tướng về hưu”, rồi tiếp đến là “Chuyện kể năm 2.000”, “Những thiên đường mù”, “Chân dung và đối thoại”, “Cánh đồng bất tận”, và mới nhất là “Bên thắng cuộc”, “Đèn cù”...
Đó là những tác phẩm không theo lối mòn truyền thống.
Đà Nẵng cũng gây xôn xao vì “Rồng đá”, “Ba người khác”, “Trần Dần- Thơ” nhưng một phần do người viết, phần lớn hơn do người xuất bản, Nhà Xuất bản Đà Nẵng mà người quyết định quan trọng là tổng biên tập đã quá cố Đà Linh.
Lịch sử đã và sẽ xôn xao về Huỳnh Thúc Kháng, Trần Cao Vân, Phan Khôi, Thủ Thiệm, Tú Quỳ, Bùi Giáng…, những nhân vật khác thường của chúng ta.
So với nhiều người xưa, Quảng Nam Đà Nẵng nói chung và Đà Nẵng nói riêng trong giai đoạn 40-50 năm nay thiếu những nhân vật ĐỂ ĐỜI cho hậu thế.
Tôi xin thử liệt kê, một cách chưa đầy đủ, những phẩm chất của người nổi tiếng: đó là người có tri thức, có văn hóa, có sự tìm tòi, sáng tạo, có óc tưởng tượng phong phú, có cái nhìn khái quát cả quốc gia và quốc tế, có lòng dũng cảm và bản lĩnh.
Nhiều nhà văn nghệ của chúng ta có đủ các phẩm chất đã nêu nhưng có vẻ thiếu lòng dũng cảm và bản lĩnh.
Trong nhiều năm qua, sự khiếp sợ và cam chịu phục tùng đã làm cho những thế hệ VN mất dần lòng tự tin, sự tự khẳng định. Những định hướng và chụp mũ đã làm cho sự sáng tạo mất dần chỗ đứng. Các văn nghệ sĩ nói riêng và nhân dân nói chung thường không có ý kiến khác với lãnh đạo, mà chỉ cố gắng làm theo những chỉ thị mệnh lệnh của cấp trên, dù biết rằng có những mệnh lệnh, chủ trương không đúng.
Một quan điểm rất sai lầm phổ biến là chỉ biết chấp hành, cắm cúi làm theo.
Tôi tin, Sẽ đến một ngày con cháu chúng ta nhìn lại quá khứ và phê phán về một thời ấu trĩ như thế.
Tôi không cổ vũ cho sự tự do tuyệt đối, không kêu gọi sự phản kháng trong mọi trường hợp, nhưng tôi mong muốn mỗi người cần có cái nhìn sâu vào nhiều vấn đề, so sánh chúng với lịch sử của đất nước và thế giới, để có cái nhìn khoa học, chính xác, để có một thái độ sống của mình, để có một bản sắc riêng.
Trong thực tế qua các giai đoạn cách mạng khác nhau, bên cạnh những đúng đắn của các chủ trương đường lối văn nghệ của Đảng và Nhà nước, lịch sử văn học nghệ thuật của nước ta đã chứng kiến những sai lầm rướm máu. Những tên tuổi như Trần Dần, Lê Đạt, Nguyễn Hữu Đang, Phan Khôi, Hữu Loan, Phùng Quán… đã chịu một thời cay đắng và tủi nhục. Nếu hồi đó, các văn nghệ sĩ có đủ bản lĩnh, có lòng can đảm nhận biết, đề nghị, yêu cầu, đấu tranh và Đảng, Chính phủ lắng nghe tiếng nói trí thức thì đất nước chắc đã tránh được nhiều nỗi đau.
Sự nhút nhát, sợ trách nhiệm, uốn mình vuông tròn theo khuôn mẫu không giải thoát được những tâm hồn sáng tạo.
Thưa quí vị,
Một lần có anh công an hỏi tôi: Anh suy nghĩ gì về Hội Nhà báo Độc lập, Văn đoàn Độc lập?
- Tôi cho rằng những tổ chức này không nguy hiểm, không là những tổ chức phản động, chống lại Đảng và Chính phủ, tôi không tin họ sẽ kêu gọi và tổ chức lật đổ Đảng, Chế độ. Họ chỉ là một nhúm người khoảng 200-300, không có nguồn tài trợ để mua vũ khí, để tổ chức đảo chính. Những người cầm đầu không đủ năng lực để thành lập một chính phủ đối lập. Họ chỉ muốn có một tiếng nói phản biện chính thức, vạch ra những sai phạm trong chủ trương, đường lối, trong sự điều hành đất nước; yêu cầu một thể chế dân chủ hơn, tự do hơn, tôn trọng nhân dân hơn như tất cả các hiến pháp Việt Nam từ năm 1946 đến nay đã công bố, để DÂNG lên Đảng và Chính phủ những ý kiến của mình.
Thật ra, họ xin phép, công bố thành lập để có một tổ chức chính thống, được phép hoạt động công khai, chứ những tư tưởng, những phản biện của họ đã xuất hiện đầy rẫy trên các diễn đàn, blogs như boxitvn, Tễu, Quê Choa, Huỳnh Ngọc Chênh, Talawas, Da Màu… hoặc trên các cơ quan báo chí nước ngoài như BBC, RFA, VOA, RFI… từ lâu.
Thưa quí vị,
Đảng và Nhà nước ta đã có một chiều dày những kinh nghiệm vô cùng to lớn trong sự nghiệp giữ nước và dựng nước, với một lực lượng, bộ máy chính quyền hùng mạnh nhất nhì Đông Nam Á, từng đánh thắng các thế lực ngoại xâm với cả đội quân nước ngoài có hơn nửa triệu lính viễn chính và những trang bị chiến tranh hiện đại.
Chúng ta hùng mạnh thì sao phải lo sợ những tổ chức nhỏ bé này?
Sự cấm đoán, ngăn cản chỉ làm cho các tổ chức dân sự bình thường, những con người bình thường trở nên nổi tiếng một cách vô lý, làm cho thế giới tự do nhìn vào đất nước ta như một nơi vi phạm nhân quyền, làm cản trở con đường chúng ta hội nhập vào thế giới, chứ thực sự không hiệu quả, không mang lại uy tín chính trị cho quốc gia.
Chúng ta sợ phải nói về cái xấu, cái mặt trái của xã hội, khuyến khích nói vê thành tựu, về sự tốt đẹp của chế độ. Các tác phẩm văn nghệ của chúng ta viết về tiêu cực, yếu kém trong điều hành đất nước, về những sự thật sai lầm lịch sử cận đại, về đời tư của những nhà lãnh đạo… rất khó tìm nơi xuất bản chính thức. Vì vậy, các tác giả luôn chọn cho mình những đề tài ít nhạy cảm, những vấn đề ít hóc búa, đỡ đụng chạm hơn. Ngay cả trong các tác phẩm viết, vẽ, nặn, chiếu, trưng bày… về đề tài chiến tranh, những sự ấu trĩ, dốt nát, độc tài, sai lầm chiến lược và chiến thuật… cũng bị lượt bỏ đi hầu hết. Chính vì vậy người ta chỉ thấy trong các tác phẩm một màu hồng hồng, nhàn nhạt, cái này giống cái kia. Những tác phẩm văn học, hội họa, điêu khắc, điện ảnh, múa, nhiếp ảnh… tất cả như cùng đúc từ một khuôn. Chúng ta chỉ nghĩ đến việc nhuộm hồng cuộc sống mà cố tình che dấu mặt sau của nó. Triển lãm Cải cách ruộng đất tại Hà Nội vừa qua là một ví dụ, chỉ mở cửa có 2 ngày và đóng cửa vì lý do mất điện.
Không ai có thể che dấu sự thật mãi mãi. Không sự thật nào có thể bị che dấu mãi mãi.
Cả thế giới bây giờ nằm trong lòng bàn tay của từng người. Mọi nỗ lực che dấu khuyết tật đều là điều không thể. Vậy thì tại sao chúng ta không dám công nhận, đường đường chính chính, rằng chúng ta còn nhiều yếu kém, chúng ta chưa mang lại cho nhân dân những điều tốt đẹp như mong muốn và chúng ta sẽ cố gắng bằng máu và nước mắt để có được những điều đó? Nước Mỹ, Pháp, Anh , Nhật… vẫn còn những bất công, vẫn đầy rẫy những điều xấu xa được phản ánh trên các tác phẩm văn học nghệ thuật của họ đấy thôi.
Thưa quí vị,
Trong nhiều năm qua, những tác phẩm ảnh báo chí của Việt Nam XHCN không chen chân được vào những cuộc thi ảnh báo chí thế giới. Ở miền Nam trước 75, nhiều tác phẩm ảnh về chiến tranh của các nhà nhiếp ảnh nhiều nước đã đạt được các giải thưởng lớn trong những cuộc thi này. Nhớ đến nhà nhiếp ảnh Nick Ut, người Việt nam làm việc cho AP đã đạt giải cao với tác phẩm "Vietnam Napalm Girl" - cô gái Việt Nam bị napalm) tại Trảng Bàng - Tây Ninh, bức ảnh đã mang lại cho ông giải Pulitzer danh giá và làm ông trở nên nổi tiếng. Bức ảnh được xếp thứ 41 trong 100 bức ảnh có tầm ảnh hưởng nhất thế kỷ 20 do Đại học Columbia bình chọn. Tác phẩm nói về sự khốc liệt, sự tàn bạo của chiến tranh do Mỹ gây ra lại nhận giải thưởng danh tiếng của Mỹ. Điều đó thật xa lạ với cách nghĩ của chúng ta nhỉ?
Ở miền Bắc Việt Nam, “Phúc Tân kêu gọi trả thù” là một tác phẩm của Vũ Ba, nguyên phóng viên báo Quân đội Nhân dân, thực hiện vào ngày 17 tháng 5 năm 1966, được báo Sự thật Liên Xô trao Giải thưởng lớn. Ông không được cho phép sang Liên Xô nhận giải và phải trả giá bằng hàng chục năm phê bình, kiểm điểm, không thăng hàm, cuộc sống lao đao vì cơm áo gạo tiền, vì ảnh hưởng chính trị. Người ta cho rằng tác giả đã “chịu ảnh hưởng nặng nề của chủ nghĩa xét lại hiện đại, sợ chiến tranh, làm nhụt ý chí chiến đấu của quân và dân ta”… Mãi đến năm 1979 nhờ một bài viết trên báo Nhân dân người ta mới nhìn nhận lại giá trị của tác phẩm, trả lại cho ông một phần những gì đã mất mát chua xót, và đến năm 2007, hơn 40 năm sau ngày tác phẩm ra đời, Vũ Ba được trao Giải thưởng Nhà nước về Văn học, Nghệ thuật. Hơn 50 tờ báo đã viết về ông.
Thưa quí vị,
Trong ít năm trở lại đây, có một vài tác giả chụp về Việt Nam được trao giải thưởng ảnh báo chí thế giới, trong đó có tác giả Justin Maxon, một sinh viên ngành báo chí người Mỹ chụp phóng sự ảnh “Mùi và Phả” kể về mẹ con một người điên bên chân cầu Long Biên đoạt giải năm 2008; một bộ ảnh khác về cuộc sống của những người đồng tính Việt Nam, tác giả là một cô gái Việt Nam, Maika Elan, tên thật là Nguyễn Thanh Hải đã đoạt giải năm 2013. Cả 2 đề tài trên và hầu hết các đề tài đoạt giải đều nói về nỗi đau, nỗi bất hạnh, chuyện không bình thường của con người.
Trình độ hiểu biết, sự đánh giá, tri thức, bản lĩnh của các nhà lãnh đạo, cái tầm và tâm của họ ảnh hưởng rất lớn đến những con người, những tác phẩm, họ có thể đưa con người lên tột đỉnh vinh quang và có thể nhấn một con người xuống vực sâu muôn trùng. Họ sẽ được tôn vinh hoặc bị nguyền rủa.
Tác giả Nguyễn Thanh Tiến trong bài “Gien sợ” đã viết: Có thể nói hiếm có một dân tộc nào mà việc biết sợ có ảnh hưởng sự sống còn như dân tộc Việt Nam.
Ngày nay, còn rất ít nơi mà việc đào tạo "gien sợ" phổ biến và tốt như ở Việt Nam.
Nó trải rộng từ trong gia đình, nhà trường đến toàn xã hội. Có thể thấy "gien sợ" của chúng ta tồn tại ở khắp mọi nơi. Khi ở nhà, con cái phải biết sợ người lớn, khi đến trường, học sinh phải biết sợ thầy cô giáo. Là thầy cô giáo phải biết sợ hiệu trưởng; Là hiệu trưởng phải biết sợ giám đốc v.v. Thậm chí khi ra đường phải biết sợ những kẻ liều mạng, những tên cướp hoặc xã hội đen, dính tới pháp luật hay hành chính phải biết sợ những người có chức có quyền .
Chỉ những người biết sợ, biết phục tùng mới được thừa nhận là những người tốt, gương mẫu và có khả năng thăng tiến.
Những ý kiến trái chiều luôn bị đánh giá là vô kỷ luật, phản loạn, phản động.
Để kết thúc tham luận này, Tôi xin gửi đến quí vị lãnh đạo một thông điệp:
-  Hãy có cái nhìn khoa học, đổi mới tư duy thật sự trong lãnh đạo, cổ vũ những sáng tạo, dám đối đầu với mọi thách thức để bảo vệ nhân tài, thấu hiểu nỗi trăn trở, tìm tòi của các văn nghệ sĩ, đừng chụp mũ, trù dập những ý kiến trái chiều, dám chấp nhận những sự thật cay đắng, đừng bắt buộc văn nghệ sĩ phải tô hồng vạn vật.
Tôi xin gửi đến các văn nghệ sĩ một thông điệp:
-  Hãy sống với nỗi đau của nhân dân để thể hiện cuộc đời thật của họ trong mọi chế độ, hãy bênh vực họ khi cuộc đời họ gặp nhiều trái ngang, hãy ca ngợi họ đã làm nên lịch sử, hãy dám nghĩ, dám nói, dám làm mọi điều tốt đẹp nhất vì dân, hãy dám nói với Đảng, Nhà nước, những người cầm quyền những điều sai và đúng đối với dân.
Tôi không mong muốn và không thể là một nhân vật quan trọng, chỉ xin làm một đứa trẻ con trong chuyện cổ tích, để hét to giữa triều đình rằng:
ĐỨC VUA, NGÀI ĐANG CỞI TRUỒNG.
Xin ĐỪNG SỢ để có những tác phẩm xứng tầm nhân loại. Hãy là những người có bản lĩnh.
Xin cám ơn quí vị đã lắng nghe.
Phần nhận xét hiển thị trên trang