Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Chủ Nhật, 21 tháng 9, 2014

Việt Nam sáng tạo kém Lào:Thay đổi hay... ngả mũ nhận thua?


Tâm An (thực hiện)/ Đất Việt ;

Ảnh bên:  Giá trị gia tăng trong ngành nông nghiệp của Việt Nam thấp hơn khi so sánh với Lào

Tương lai mất cạnh tranh của Việt Nam ngày càng rõ rệt do bản thân Việt Nam làm mình kém đi trong khi các đối tác xung quanh đang nổi lên. 

 Ths Bùi Ngọc Sơn – Trưởng phòng Kinh tế Quốc tế, Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính trị thế giới nêu quan điểm trước những thông tin liên quan đến báo cáo của Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) và tổ chức nghiên cứu Economist Intelligence Unit (EIU) cho thấy, trong khu vực Đông Nam Á, Việt Nam xếp thứ 6, sau Lào, Singapore, Indonesia, Malaysia và Thái Lan về Chỉ số Năng suất Sáng tạo.
Việt Nam thua Lào vì…

PV: - Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) và tổ chức nghiên cứu Economist Intelligence Unit (EIU) vừa công bố báo cáo Chỉ số Năng suất Sáng tạo (CPI) của 22 nền kinh tế châu Á, Mỹ và Phần Lan. Chỉ số CPI được tính dựa trên 36 chỉ số “đầu vào” như nền kinh tế đó có bao nhiêu trường đại học được xếp trong danh sách 500 trường hàng đầu thế giới, tỷ lệ đô thị hóa, chi phí cho hoạt động nghiên cứu phát triển, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, tham nhũng, quan liêu… 8 chỉ số “đầu ra” gồm số bằng sáng chế được phát minh, giá trị gia tăng trong ngành nông nghiệp, số sách và phim ảnh được sản xuất…

Theo nghiên cứu của EIU, Việt Nam đạt mức trung bình về “đầu vào” nói chung nhưng yếu về “đầu ra", đặc biệt tính riêng khu vực Đông Nam Á, Việt Nam xếp thứ 6, sau Lào, Singapore, Indonesia, Malaysia và Thái Lan.

Ông có bất ngờ trước kết quả này không và vì sao? Liệu ông có thể lý giải, vì sao Lào, một nước vốn bị coi là nghèo và kém phát triển ở Đông Nam Á lại có được kết quả nổi bật đến như vậy?

Ths Bùi Ngọc Sơn: - Gần đây một số nước như Lào, Campuchia thay đổi nên có thể điểm số của họ cao hơn. Song ý nghĩa của con số này không lớn, chỉ mang tính chất tham khảo vì bản thân nó được tính ra bởi hàng loạt con số mà độ thuyết phục, chính xác chưa cao.

Nó giống như chỉ số đánh giá về độ hạnh phúc của con người, từng quốc gia cho thấy Việt Nam có chỉ số này rất cao nhưng người Việt Nam lại không cảm nhận được điều đó. Vì có thể những nhà nghiên cứu đánh giá theo tiêu chuẩn của họ mà người Việt Nam cảm thấy không hài lòng nhưng họ lại cho điểm cao. 

Trong các chỉ số “đầu vào”, bảo hộ sở hữu trí tuệ ở Việt Nam được đánh giá ở mức thấp do nạn ăn cắp quá nhiều. Khi so sánh với Lào, ở Lào không có tình trạng này trong khi Việt Nam sử dụng nhiều hàng nhái, túi xách, quần áo… trong khi hàng tại Lào chủ yếu là tự cung tự cấp, tự may để sử dụng.
Về vấn đề tham nhũng, quan liêu có thể 2 nước bằng nhau vì Lào cũng tham nhũng nhưng mức độ tham nhũng quan liêu của Việt Nam có thể nhiều hơn chút ít. Chính những lý do này có thể khiến cho “đầu vào” của Việt Nam thấp hơn so với Lào.

Còn về những chỉ số “đầu ra” trong đó có giá trị gia tăng trong nông nghiệp. Sản xuất nông nghiệp của Việt Nam rất lớn, là nước xuất khẩu hàng đầu nhiều mặt hàng nhưng sự thay đổi chưa nhiều nhưng Lào chỉ có một vài công ty vào đầu tư, mở rộng sản xuất, nông nghiệp bé nhưng chế biến được rất nhiều. Như vậy tỷ lệ nông nghiệp chế biến trên tổng nông nghiệp lớn hơn so với Việt Nam. 

 Điều đó có nghĩa, chưa chắc chuyện này đã phản ánh điều gì quá lo ngại, chỉ khi các chỉ số như quan liêu, tham nhũng tách riêng hoặc cảnh báo cụ thể môi trường đầu tư sẽ bắn thông điệp vào các doanh nghiệp, có thể là những tham khảo để doanh nghiệp loại Việt Nam ra khỏi danh mục đầu tư. 

PV: - Cách đây không lâu, khảo sát từ VCCI - Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam về môi trường đầu tư của Việt Nam so sánh với Lào Campuchia đã cho kết quả, các nhà đầu tư nước ngoài cũng xếp hạng cơ sở hạ tầng của Việt Nam ngang bằng với Campuchia và Lào, trong khi tham nhũng và gánh nặng quy định pháp luật Việt Nam bị đánh giá là hơn Lào, Campuchia. 

Thưa ông, có ý kiến cho rằng, sự tụt hậu này bắt nguồn từ “thói quen ăn sẵn bán đào”, sự chủ động lệ thuộc vào nền kinh tế Trung Quốc của Việt Nam. Ông có đồng tình với ý kiến này không và vì sao?

Ths Bùi Ngọc Sơn: - Kết quả khảo sát về môi trường đầu tư của Việt Nam so sánh với Lào, Campuchia cho thấy các nhà đầu tư nước ngoài xếp hạng cơ sở hạ tầng của Việt Nam ngang bằng với Campuchia và Lào, trong khi tham nhũng và gánh nặng quy định pháp luật Việt Nam bị đánh giá là hơn Lào, Campuchia là đúng vì Lào, Campuchia mới trong khi Việt Nam có mấy chục năm, hệ thống ăn sâu bám rễ nếu không được thay đổi ngay từ đầu thì dứt khoát sẽ cao hơn.

Còn nếu nói sự tụt hậu do “thói quen ăn sẵn bán đào” cũng không phải, nó do chính sách của Việt Nam hoặc do cấu trúc kinh tế liên quan đến nhiều vấn đề như doanh nghiệp nhà nước, mang nặng tư tưởng doanh nghiệp nhà nước là chủ đạo trong khi hệ thống được hưởng nhiều làm ra ít nhưng không bị trừng phạt… 

Việt Nam đang kém dần

PV: - Sự vươn lên của Lào và Campuchia trong những bảng đánh giá khách quan và trung lập này liệu có là cảnh báo đỏ cho Việt Nam, đặc biệt khi hiện tại nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng dựa một phần lớn vào FDI (đầu tư trực tiếp, xuất khẩu sản phẩm của doanh nghiệp FDI)? 

Ths Bùi Ngọc Sơn: - Việt Nam phải tự xem xét thậm chí không chỉ Lào, Campuchia mà Myanmar mới gia nhập vào hệ thống phát triển nhưng tốc độ sức hút cao, Việt Nam phải lưu ý vì các lợi thế của Việt Nam đang bị cạnh tranh thậm chí mất dần nếu không thay đổi.

Người ta đánh giá sức cạnh tranh các nước gần Việt Nam nổi lên, Việt Nam không thay đổi tức là môi trường của Việt Nam kém dần, các nhà đầu tư sẽ chuyển hướng sáng nơi khác vì vậy phải có sự cải tiến về hành chính luật pháp, chất lượng lao động, cơ sở hạ tầng… 

Cơ sở hạ tầng của nhiều nước chưa quá tải nên trong khi Việt Nam phát triển nhiều, phát triển lâu nên giờ tình trạng quá tải khiến việc vận chuyển hàng hóa mất thời gian quá lâu dẫn đến chi phí lớn, tham nhũng trên đường nhiều cũng đội chi phí lên cao người ta sẽ tính toán di chuyển sang chỗ khác. Lao động mang tiếng nhiều nhưng lao động sử dụng được ít, nếu muốn sử dụng phải bỏ tiền ra để huấn luyện và đào tạo cũng khiến chi phí tăng… Tất cả phải được thay đổi để làm sao cho lao động tốt, môi trường kinh doanh tốt, cơ sở hạ tầng tốt mới giữ được chân các nhà đầu tư.
Người Việt Nam vẫn thích ăn sổi, không thích sáng tạo trong sản xuất
Người Việt Nam vẫn thích ăn sổi, không thích sáng tạo trong sản xuất

Tôi được biết, cơ sở hạ tầng của Campuchia tốt hơn nhiều so với Việt Nam, lượng ô tô cũng chưa nhiều, không có hiện tượng đường lún nứt, ổ gà, ổ voi chưa kể trên đường tình trạng cảnh sát dừng xe, chặn xe không có. 

PV: - Tương lai mất cạnh tranh về môi trường đầu tư (do sự vươn lên của các nước láng giềng, dư địa trục lợi từ chính sách ưu đãi đầu tư không còn…) có còn xa với Việt Nam hay không? Nếu điều đó xảy ra thì diện mạo của nền kinh tế Việt Nam sẽ ra sao, khi mà tới thời điểm này, năng lực sản xuất của nền kinh tế Việt Nam bị đánh giá là không làm nổi một cái ốc vít, còn nền nông nghiệp khiến người nông dân thua thiệt mà phải bỏ ruộng?

Ths Bùi Ngọc Sơn: - Có những doanh nghiệp nước ngoài vừa và nhỏ, ở Việt Nam có thể không là gì nhưng sang kia thì được ưu đãi hơn. Rõ ràng có những đối tác cạnh tranh đang nổi lên nên phải lưu ý điều đó và rõ ràng chưa mất hẳn nhưng có dấu hiệu đang kém đi và kém đi nhanh chóng theo nghĩa bản thân mình làm cho nó kém hấp dẫn, thứ 2 là các đối tác xung quanh đang nổi lên nên tốc độ xuống dốc có vẻ nhanh lên. Nên phải có thay đổi tích cực, căn bản mới có thể thay đổi được cục diện.
Dư địa trục lợi từ chính sách ưu đãi đầu tư không còn, sẽ bị đe dọa khi dòng FDI bị phân tán, không tập trung vào Việt Nam. Nhưng diện mạo của nền kinh tế Việt Nam cũng phụ thuộc vào nhiều vấn đề như cấu trúc nền kinh tế hiện nay, vấn đề nợ xấu, bất động sản, ngân hàng trì trệ. Vấn đề môi trường đầu tư ảnh hưởng FDI là một khía cạnh nhưng cái chính là vấn đề cấu trúc kinh tế, các vấn đề bất động sản, nợ xấu, doanh nghiệp nhà nước… những điều này sẽ không có gì thay đổi đến năm 2016.

PV: - Thực chất, thời điểm mà Việt Nam phải hội nhập đầy đủ vào WTO sắp cận kề. Lối thoát cho những nền kinh tế nhỏ trước áp lực này là như thế nào, thưa ông? Nhìn vào đó, Việt Nam có lợi thế hơn Lào hay Campuchia hay không, hay chính chúng ta rồi sẽ phải ngả mũ trước hai nền kinh tế vốn bị coi là yếu kém hơn này? 

Ths Bùi Ngọc Sơn: - Việt Nam phải tự cải cách, nâng cấp mình. Theo đó có 2 cách thức, một là chưa đủ năng lực và không muốn thay đổi nhưng lại gia nhập vào thế giới để lấy áp lực đó thay đổi mình, cách thứ 2 là tự thay đổi để gia nhập vào cuộc chơi. Cách thứ 2 tốt hơn việc tự tạo sức ép để thay đổi, vì như vậy sẽ phát sinh vấn đề cầu xin sự thông cảm. Trung Quốc chơi bài thứ 2, thay đổi để tham gia vào cuộc chơi của thế giới. 

Còn lợi thế, Việt Nam có tiềm năng quy mô dân số, thị trường mà các nước khác có thể không có, có vị trí thuận lợi, đường biển giao thông, các trung tâm tài chính giao dịch phát triển hơn, so với Trung Quốc lao động rẻ hơn nhiều, vấn đề giáo dục có vẻ hơn Lào, Campuchia nhưng lại dạy những điều không áp dụng vào thực tiễn.

Chỉ số IQ của người Việt cao hơn so với nhiều nước nhưng cũng không để làm gì, IQ xét về xử lý của bộ não nhưng xử lý cái gì lại là chuyện khác, Việt Nam có tiềm năng nhưng không đi vào thực tế. 

Thêm nữa, người Việt Nam vẫn thích ăn sổi, không thích sáng tạo trong sản xuất đến giờ cái lược, cái kim, sợi chỉ cũng nhập từ Trung Quốc. Theo tôi, những phát minh sáng chế, thay vì tặng bằng khen, phải có quỹ bằng tiền mặt để trao tặng, lúc bấy giờ họ mới mở thêm các phòng thí nghiệm tìm tòi sản phẩm mới sử dụng được, bán được. Việc này bắt nguồn từ chính cơ chế, người tài hoặc làm ra không ai khen, không ai trả tiền cho họ, không phải tự nhiên phương Tây coi trọng luật bản quyền vì sự sáng tạo là sự dẫn dắt, dẫn đến sự đổi mới cho nền kinh tế. 

Xin trân trọng cảm ơn ông!


Phần nhận xét hiển thị trên trang

"Bút tre" và ảnh



Nỉ hảo đổng chí Vũ Khiêu..



Uống diệu nà không nái xe. Hò nhau xuống đủn vãi le ra quần:))




Cuộc đào thoát vĩ đại.




Nhìn đồng chí tưởng ông hoàng. Một trăm tuổi vẫn đùng đoàng song điêu:))




Bác Trư ơi hỡi bác Trư. Thỉnh kinh xong phát là dư thía lày:))

Hình ảnh cô dâu đi dép tổ ong ngày cưới gây sốt - 1

Giày cao em dận không quen. Tổ ong thần thánh toen hoen gót hồng:))





Hôm nay giời nắng chang chang. Có cô gái tắm vãi hàng xì - tai:))



Phương Thúy chim rất là to. Thế là nhiều đứa đi đo lại rồi:))



Con giời con phật kia ơi. Mày rơi một phát là đời thắp nhang:))



Hai chân cũng giống bốn chân. Ngủ ngon như thể cục phân cuộc đời:))



Đàn bà đẹp cốt ở ti. Nhìn em anh biết nói gì? quay tay!



Giai phố..



Giai kia có số làm chồng. Gái kia có số chổng mông ngựa người:))



Da trắng môi đỏ má hồng. Choén được một nhát mọt gông cũng đành:))



Hôm nay đại hội công nhân. Cave viên chức muôn phần tốt tươi:))



Da trắng lại vỗ bạch bì. Ti to bịt thế còn gì là xuân:))

Nguồn: nhặt trên NET.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Trung Quốc đã mở rộng Gạc Ma tới 100.000m2

Từ hôm giàn khoan 981 rút ( vì lý do cho đến nay chưa rõ, chỉ nghe thấy TQ nói đã hoàn tất công việc thăm dò ) hay tránh bão gì đó. Trên giang hồ nhiều người đã thở phào, coi như sự kiện đến đó là xong, mọi sự chấm dứt. Thực ra TQ vẫn âm thầm ra các chiêu mới mà tính chất nguy hiểm của nó chưa ai lường hết được. Mục tiêu chiếm trọn biển đông của họ chắc chắn không thay đổi. Người TQ coi như đây là lợi ích sống còn, tồn vong và phát triển của đất nước họ. Người Việt Nam nghĩ gì về các thông tin đại loại như sau đây?:



Trung Anh
(Dân trí) - Hình ảnh vệ tinh do cơ quan Quốc phòng và Không gian Airbus đưa ra đã cho thấy có sự tiến triển nhanh chóng và thay đổi lớn trong hoạt động xây dựng của Trung Quốc trên Gạc Ma, thuộc quần đảo Trường Sa.

Cho tới đầu năm 2014, cấu trúc nhân tạo duy nhất trên bãi đá ngầm Gạc Ma mà Trung Quốc chiếm của Việt Nam năm 1988 là một sàn bê tông nhỏ, trên đó có một cơ sở liên lạc, tòa nhà của đơn vị đồn trú và một cầu cảng. Sàn bê tông này hiện được bao quanh bởi một hòn đảo rộng xấp xỉ 400m (ở hai điểm cách xa nhau nhất) và có diện tích khoảng 100.000m2.

Công nhân đã xây dựng một bức tường kiên cố quanh toàn bộ hòn đảo. Ngoài ra còn có 2 bến tàu lưu động và một cầu cảng ở phía sườn tây bắc của Gạc Ma, các phần móng có thể để xây một tòa nhà lớn ở phía sườn tây nam, trong khi cũng có thể thấy các máy khử muối, khu trộn bê tông và một kho nhiên liệu.

Bãi Gạc Ma không chỉ là địa điểm xây dựng duy nhất của Trung Quốc ở Trường Sa. Hình ảnh đề ngày 13/9 và được các hãng thông tấn nhà nước Trung Quốc công bố cũng cho thấy hoạt động xây dựng tượng tự ở bãi đá Châu Viên, với các máy khử muối, cần trục, máy khoan cùng với các đống vật liệu xây dựng.

Dữ liệu theo dõi tàu AISLive được tạp chí quân sự HIS Jane’s đăng tải hồi tháng 6/2014 cho thấy tàu nạo vét Ting Jing Hao, tàu chịu trách nhiệm cho gần như toàn bộ hoạt động nạo vét, bồi đắp đất của Trung Quốc ở Trường Sa, đã tới đá Châu Viên 3 lần kể từ tháng 9/2013 và lần gần đây nhất là từ 10/4-22/5/2014.

Ting Jing Hao cũng chịu trách nhiệm cho hoạt động nạo vét ở Gạc Ma và đã tới bãi Ga Ven, nằm ở trung tâm Trường Sa và gần với đảo Ba Bình do Đài Loan chiếm giữ.

Hình ảnh do chính phủ Philippines công bố hồi tháng 8 vừa qua cũng cho thấy hoạt động bồi đắp đất ồ ạt của Trung Quốc ở bãi Gạc Ma, một trong những bãi thuộc cụm Sinh Tồn thuộc Trường Sa.

Theo tạp chí Jane’s, từ tất cả những hoạt động được nêu trên, Trung Quốc đang xây dựng các đảo quanh các cơ sở bê tông mà họ đã xây dựng trong những năm 1980 và 1990. Chương trình mở rộng hoạt động bồi đắp đất ở Trường Sa này của Trung Quốc đã phớt lờ Tuyên bố về ứng xử của các bên trên Biển Đông, tuyên bố không có tính ràng buộc được ASEAN và Trung Quốc ký năm 2002.

Và hoạt động của Bắc Kinh trên Trường Sa suốt 12 tháng qua là thách thức đối với hiện trạng khu vực, bởi họ đã tạo ra những khu đất rộng lớn có khả năng để xây các căn cứ quân sự rất gần với lãnh thổ của các nước khác.

Jane’s nhận định: “Lịch sử xung đột ở Biển Đông cho thấy những căn cứ như vậy có thể được dùng làm điểm xuất kích để tấn công vào các thực thể gần đó, mặc dù cho tới nay Trung Quốc thích khẳng định tuyên bố chủ quyền trong khu vực bằng các tàu bán quân sự và bằng cách phong tỏa hơn.”

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Những cánh đồng vắng bóng nông dân

Cuối tháng Bảy. Trải dài những con đường tôi đi qua nước Pháp là cánh đồng mênh mông lúa mì đang vào mùa thu hoạch. Một màu vàng nâu ấm áp của ruộng lúa chín, của rơm được bó ép thành những cuộn tròn khối vuông rải rác trên đồng vắng lặng. Thi thoảng nhìn thấy một hai chiếc máy gặt liên hợp thong thả làm việc, vậy thôi, không thấy bóng dáng người nông dân nào dù những ngôi làng nhỏ liền kề cánh đồng vẫn đông người qua lại…

Mùa này cũng là mùa hướng dương nở rộ. Vẫn những cánh đồng vàng rực rỡ sáng chiều ngả theo ánh mặt trời. Vẫn thi thoảng có vài chiếc máy chạy giữa cánh đồng hoa bạt ngàn, và không thấy ai ngoại trừ người lái máy.
Cánh đồng khô ráo với những sắc vàng in trên nền trời xanh đắm đuối của mùa hè nước Pháp, khắp nơi là màu xanh của lá và sắc màu rực rỡ của hoa, từ thành phố đến nông thôn, từ dọc đường quốc lộ đến đường làng, từ ban công vỉa hè phố cổ đến khung cửa sổ ngôi nhà làng quê bình yên. Thiên nhiên khắp nơi, con người như lọt thỏm vào màu sắc và không khí trong lành tự nhiên, mặc dù đây đó vẫn những khối bê tông kính ốp cao lớn đồ sộ.
Có thể dễ dàng nhận ra một làng quê nước Pháp như ốc đảo xanh giữa cánh đồng vàng. Ở đó từ xa đã thấy nhô lên cao vút tháp chuông nhà thờ cổ, xây bằng đá xám xù xì hay bằng loại gạch đỏ son đều nhuộm màu thời gian trầm lắng, ở đó có tháp nước cao vượt trên những nóc nhà. Bây giờ nhiều nơi còn có vài chiếc quạt điện gió cao ngất ngưởng thong thả quay từng vòng… Nông thôn có lẽ chỉ khác thành phố là nhà trải dọc đường làng như xương cá, những ngôi nhà gạch nhà gỗ, rèm trắng nhẹ nhàng lay trên khóm hoa nhiều màu sắc. Tầng áp mái như những con mắt dõi theo khách qua đường. Đi qua những làng quê như vậy tôi nghĩ, chẳng cần gì hơn, kể cả internet, để có được một khoảng không gian yên ả tránh xa những bề bộn nơi thị thành.
Mùa hè, khách du lịch đông như kiến, ở Paris, ở Toulouse, ở bất cứ làng cổ hay lâu đài nào tôi đến. Không chỉ là khách du lịch nước ngoài, người Pháp cũng đi thăm quan chính nước mình, và cả nông dân cũng nghỉ hè đúng vào mùa thu hoạch lúa. Tại sao không, khi mà chỉ cần một chiếc máy đã thay thế cho hàng chục hàng trăm người nông dân?
Không chỉ nước Pháp, nhiều quốc gia khác đã công nghiệp hóa nông nghiệp từ lâu rồi, máy móc thay thế sức lao động của người, của trâu ngựa từ hàng chục năm nay. Nông dân, kể cả trồng lúa, trồng cây công nghiệp hay chăn nuôi, cũng từ lâu rồi làm việc như những người công nhân điều khiển máy móc chứ không còn phải “bán mặt cho đất bán lưng cho trời”. Con đường hiện đại hóa ở nhiều nước có thể khác nhau ở ngành mũi nhọn, nhưng không nước nào không công nghiệp hóa từ nông nghiệp, bởi vì, có khi nào có nơi nào trên thế giới này loài người không cần lương thực và những nông sản khác?
Xe cứ chạy vút qua những cánh đồng nước Pháp vắng bóng nông dân. Nhớ thương quá chừng những cánh đồng mênh mông miền Tây Nam bộ cũng thưa thớt bóng nông dân… Thanh niên đổ lên thành phố và các khu công nghiệp-khu chế xuất hay đi làm thuê ở nước ngoài. Lúa cứ chín rục nhưng còn ai về gặt?  Hạt lúa nuôi dân ta hơn bốn ngàn năm vẫn oằn lưng gánh bao trách nhiệm: xuất khẩu, xóa đói giảm nghèo, dự trữ lương thực… nhưng được trồng trên nhiều cánh đồng vẫn “con trâu đi trước cái cày đi sau”… Khu công nghiệp càng nhiều thì càng vắng bóng nông dân nhưng người đổ đến làm ở đó thì chưa hẳn là công nhân bởi rời đất ra họ đã có nghề nghiệp gì đâu.
Tỉnh nào cũng hiện đại hóa bằng khu công nghiệp nhiều ngành nghề dịch vụ nhưng hầu như bỏ ngỏ lĩnh vực  chế tạo sản xuất máy móc nông nghiệp. Chế tạo ra máy này máy kia là do những người nông dân ít học tự mày mò vì công việc làm ăn của chính họ thôi thúc, sản xuất thành công rồi đăng ký bản quyền sáng chế cũng còn lắm thủ tục nhiêu khê…
Thời kỳ văn minh Đông Sơn ở đồng bằng sông Hồng, nông nghiệp trồng lúa nước với kỹ thuật dùng cày và sức kéo của trâu, bò là kỹ thuật tiên tiến. Hơn bốn ngàn năm đã qua, hiện nay và nhiều thế kỷ nữa nước ta vẫn là một quốc gia Nông nghiệp – Nông dân – Nông thôn, đó là một “hằng số” kinh tế và văn hóa. Nếu không lấy NÔNG làm đầu và làm trọng tâm thì nền nông nghiệp lạc hậu sẽ không bao giờ đủ sức làm “đòn bẩy” cho sự phát triển của đất nước.
Mỗi chúng ta ai không có một nhà quê, ai không có gốc gác nông dân, ai không ước mơ một ngày nào đó trên những cánh đồng lưu vực sông Cửu Long, sông Hồng cũng sẽ vắng bóng nông dân, nhưng làng quê lúc đó sẽ trù phú khang trang hơn gấp nhiều lần, thế hệ nông dân mới sẽ có học thức không thua kém ai, và có thể họ cũng sẽ “rời xa mảnh đất của mình” nhưng không phải “vì không có đất vì nước đã mất” mà họ đã có nghề nghiệp đủ sống đàng hoàng, nếu ở lại quê hương chí ít cũng trở thành công nhân nông nghiệp làm việc trên những chiếc máy cày máy cấy máy gặt liên hợp trên mảnh đất của chính mình.
Hơn ai hết, người nông dân Việt Nam xứng đáng và cần phải được như thế!
Nguyễn Thị Hậu (Viet-Studies)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Những nẻo đường “đại gia”

So với mấy chục năm về trước, xã hội ngày càng nói nhiều tới tầng lớp giàu có, thường được mệnh danh là “đại gia”. Theo quan điểm của giới quản lý tài sản, tạm coi giàu có là những người có tài sản tính trên đơn vị triệu đô la Mỹ (đương nhiên phải tạm chấp nhận điều kiện tính toán tài sản ở Việt Nam chỉ có tính chính xác tương đối).

Những nẻo đường đại gia
Trong một nghiên cứu mang tính học thuật của mình, ông Nguyễn Xuân Thành, Giám đốc Chương trình Giảng dạy kinh tế Fulbright tại TPHCM, cho rằng vì nhiều lý do, cơ cấu xã hội bình quân thu nhập thời bao cấp của Việt Nam đã bị phá hủy và tầng lớp đại gia mới được hình thành trong vòng 30 năm trở lại đây.
Sau năm 1975, chế độ kế hoạch hóa tập trung được áp đặt nhưng vẫn còn nét nào đó của kinh tế thị trường dưới hình thức kinh doanh phi chính thức hay kinh tế hộ gia đình. Một nhóm người đã nắm bắt cơ hội này, hình thành nhóm có tiền đầu tiên và tồn tại đến hôm nay. Ví dụ ông Đặng Văn Thành có tiền nhờ làm hợp tác xã sản xuất, mua bán cồn và mật. Từ Hợp tác xã Thành Thành Công, ông dùng tiền mua và gầy dựng Sacombank. Các đại gia khác như ông Trầm Bê, Phó chủ tịch thường trực Sacombank hay bà Trương Mỹ Lan, người sáng lập Công ty TNHH Vạn Thịnh Phát, cũng khởi nghiệp kinh doanh từ những dòng tiền đầu tiên như vậy.
Ở phía Bắc, nhiều người kiếm nguồn tiền đầu tiên từ kinh doanh chênh lệch giá. Một thời, họ bị gọi là con buôn chuyên “buôn bán, phe phẩy”, có khi không cần bỏ vốn, chỉ cần mang hàng từ nơi này tới nơi khác đã có thể kiếm lời.
Một nhóm khác giàu lên rất nhanh nhờ việc kinh doanh hàng hóa từ nước ngoài (như các nước thuộc Liên Xô cũ, các nước trong khối xã hội chủ nghĩa), rồi họ dùng dòng tiền kiếm được đó tham gia vào thị trường tài chính, thị trường bất động sản, thành lập doanh nghiệp.
Một nhóm khá nổi bật kiếm được tiền ở các nước Đông Âu, mang về đầu tư, kinh doanh tại Việt Nam và hiện là cổ đông lớn trong nhiều ngân hàng thương mại hay các công ty bất động sản. Dòng tiền đầu tiên họ kiếm được là từ kinh doanh thực phẩm, mì ăn liền, buôn bán hàng hóa tại nước ngoài. Đây được xem là điểm khác biệt thú vị của đại gia Việt Nam so với các nước châu Á khác.
Một nhóm các “đại gia” khởi nghiệp từ hai bàn tay trắng, tuổi đời kinh doanh của họ trẻ hơn các nhóm trên, như ông Đoàn Nguyên Đức (Hoàng Anh Gia Lai), ông Lê Phước Vũ (Tôn Hoa Sen), ông Dương Ngọc Minh (Thủy sản Hùng Vương)…
Nhóm tiếp theo xuất thân từ khu vực nhà nước. Một số từng là giám đốc doanh nghiệp nhà nước (DNNN), sau đó mua thêm tài sản nhà nước hoặc vẫn tiếp tục làm lãnh đạo tại DNNN và có quyền lực vừa từ của cải vừa từ quyền định đoạt đối với doanh nghiệp đó (thường là các doanh nghiệp lớn). Bà Nguyễn Thị Mai Thanh, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc Công ty cổ phần Cơ điện lạnh (REE) hay bà Mai Kiều Liên, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc Vinamilk là ví dụ.
Ở Nga, Trung Quốc, Indonesia và một vài nước cũng có hiện tượng đại gia này. Họ giàu lên từ tài sản nhà nước cộng với sự nhạy cảm trước các cơ hội làm ăn và nhiều DNNN đã rơi vào tay họ. Nhiều đại gia thu được cả mỏ đồng, mỏ than hay tập đoàn xi măng… Tới đây, khi Việt Nam cổ phần hóa nhiều DNNN, nhiều người đặt câu hỏi liệu có xuất hiện những đại gia dạng này?
Ở một số nước như Colombia còn có tầng lớp đại gia hình thành từ buôn bán ma túy hay tham gia hoạt động kinh tế ngầm. Trung Quốc còn có một tầng lớp đại gia thế hệ Internet, còn gọi là đại gia mạng. Ở Việt Nam chưa xuất hiện dạng đại gia này.
Nếu như Trung Quốc có một tầng lớp đại gia là con cháu các quan chức thì ở Việt Nam, nhóm đại gia giàu bằng tài sản thừa kế còn mờ nhạt, hoặc còn ẩn mình. Một số ý kiến cho rằng nhóm này sẽ hình thành rõ nét hơn trong thời gian tới.
Theo Viện Nghiên cứu Hurun (Trung Quốc), lớp triệu phú người Trung Quốc với giá trị tài sản ròng vào khoảng trên 100 triệu nhân dân tệ có độ tuổi trung bình là 45, trong khi những người có 10-99 triệu nhân dân tệ có độ tuổi trung bình 41, tức tầng lớp trung lưu trẻ hơn thượng lưu một chút. Ở Việt Nam chưa xác định được tài sản của nhóm người giàu nhất nên câu hỏi được quan tâm là người giàu thật sự giàu đến đâu sau khi trừ hết nợ nần?
Thị trường tranh những năm gần đây sôi động hơn khi ngày càng có nhiều người mua tranh quý như một kênh cất giữ tài sản. Với giới nhà giàu phương Tây, cất tiền bằng cách mua tranh, rượu quý, đồ cổ, các tác phẩm có giá trị nghệ thuật không còn là việc xa lạ và được xem là cách đa dạng hóa danh mục đầu tư, bảo toàn tài sản.
“Nhiều nghiên cứu cho thấy những người có tài sản lớn nhất luôn có phản ứng nhạy bén nhất với các thay đổi của thị trường, của nền kinh tế hay các yếu tố chính trị, xã hội. Trong các khảo sát của chúng tôi, họ luôn có điểm số biến động nhanh và cao nhất”, Ông Debnath Guharoy, chuyên gia của tổ chức nghiên cứu thị trường Roy Morgan, chia sẻ với TBKTSG.
“Đại gia” sợ gì?
Đặt câu hỏi này với một người có kinh nghiệm trong ngành tài chính và quản lý tài sản thì nhận được câu trả lời: đại gia sợ mất tiền và sợ đi tù.
Vấn đề của người giàu là phải luôn luôn giàu. Họ cần bảo toàn tài sản, cần chuyển tài sản sang nhiều dạng thức. Họ dùng tiền tạo thêm tiền, cần sự an tâm về tốc độ sinh lời của tài sản, cần giảm thiểu các chi phí cho việc vận hành khối tài sản đó.
Ông Nguyễn Xuân Thành cho rằng tỉ phú tại các nước sợ bị đánh thuế. Thuế cao có thể là lý do khiến tỉ phú không còn là tỉ phú nữa. Vì thế mới có chuyện đại gia dùng tiền thuê các công ty quản lý tài sản, công ty tư vấn giúp mình né thuế. Trong chuyện này còn có những mối quan hệ nhạy cảm giữa đại gia và Chính phủ. Đại gia lấy lòng chính phủ bằng nhiều cách nhưng cũng lại tìm cách không để Chính phủ can thiệp vào tài sản của mình.
Các đại gia có chiến lược bảo vệ thu nhập bằng nhiều cách. Trên thế giới cũng có hiện tượng nhóm đại gia lớn bảo kê cho các đại gia nhỏ hơn. Có những đại gia như ông Suharto, Tổng thống Indonesia giai đoạn 1967-1998, trở thành người cầm đầu thể chế để qua đó tự bảo vệ tài sản của mình và hỗ trợ các đại gia nhỏ bảo vệ tài sản.
Ở các nước chưa có nhiều đại gia và nếu có thì tài sản còn ở quy mô nhỏ, không rõ ràng như Việt Nam, nếu chưa đủ giàu để dùng tiền hay chưa đủ quyền lực (trực tiếp hay gián tiếp) để bảo vệ tài sản của mình, một nhóm đại gia có xu hướng giấu bớt tài sản theo một số cách, như để người khác đứng tên tài sản, không công khai tài sản hoặc chuyển một phần tài sản ra nước ngoài… Hiện tượng nhiều đại gia Nga chạy qua Anh, giới nhà giàu Trung Quốc chạy qua Canada và Úc, những nơi có chi phí mua quốc tịch rẻ, cũng trở thành hiện tượng.
Để bảo vệ tài sản, có những đại gia chuyển hoạt động đầu tư qua thị trường khác. Ở Việt Nam bắt đầu có hiện tượng này. Có người mời sự tham gia của các nhà đầu tư chiến lược, tức chấp nhận bán một phần sự kiểm soát đối với tài sản. Có người niêm yết công ty trên thị trường chứng khoán. Đó là cách để tài sản được luật pháp bảo vệ.
Hồng Phúc (TBKTSG)
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Bảy, 20 tháng 9, 2014

Con rắn đã trông thấy hai ông bà rồi nha!


lucas cranach








Phần nhận xét hiển thị trên trang

Ngày 10.9.2014 Tổng Thống Obama đã đọc một bài diễn văn tuyên bố sẽ “làm suy yếu rồi cuối cùng tiêu diệt IS hoàn toàn thông qua một chiến lược toàn diện và bền vững”, trong khi đó ngày 11.9.2014, tạp chí Time lại cho phổ biến bài The Never-Ending War (Cuộc chiến không bao giờ dứt) của bình luận gia Michael Crowley, nói về cuộc chiến nầy.

Michael Crowley là Trưởng nhóm phóng viên ngoại vụ của tạp chí Time, phụ trách các vấn đề về chính sách ngoại giao và an ninh quốc gia ở Washington và trên thế giới. Ông đã nhìn lại cuộc chiến đẫm máu giữa hai giáo phái Sunni và Shiite kể từ khi nhà tiên tri Mohammed qua đời năm 632 kéo dài cho đến ngày nay để giành quyền lãnh đạo Hồi Giáo và tin rằng nó sẽ không bao giờ chấm dứt.
Nhìn qua các cuộc tranh chấp giữa hai khối Hồi Giáo trong lịch sử sẽ giúp chúng ta thấy rõ hơn các diễn biến của tình hình hiện nay ở Trung Đông và thử xem chiến lược của Hoa Kỳ và các quốc gia Tây phương đang thực hiện có đem lại kết quả mong muốn hay không.
XUẤT TỪ PHÁT MỐI THÙ TRUYỀN KIẾP
Nhà văn Lỗ Tấn nói lịch sử Trung Quốc là lịch sử ăn thịt người, nhưng nếu nhìn lại lịch sử Hồi Giáo chúng ta sẽ thấy lịch sử này còn ghê rợn hơn nhiều.
Năm 632, nhà tiên tri Mohammad qua đời mà không chỉ định người kế vị. Một cuộc tranh luận về người kế vị - được gọi làKhalifa hay Khalip, tiếng Anh là Caliph và tiếng Pháp là Calife - đã đưa tới nhiều biến cố đẫm máu.
Nhà tiên tri không có con trai, chỉ có một đứa con gái duy nhất làFatimah và người chồng của cô này  là Ali ibn Abi Talib. Những người thuộc nhóm này nói rằng người lãnh đạo tinh thần của Hồi Giáo được gọi là IMAM phải là một vị thánh (a holy man) và thuộc dòng dõi Ali-Fatimah. Do đó, họ cho rằng Ali là vị Imam đầu tiên đã được nhà tiên tri Muhammad chỉ định.
Nhưng người cha vợ của nhà tiên tri là Abu Bakr và đa số chủ trương rằng người kế vị phải là người có đủ tư cách để trở thành Caliph và những người lãnh đạo (Shura) phải được chọn theo phương pháp được kinh Koran quy định, đó là sự đồng thuận của Cộng Đồng Hồi Giáo (Ummah).
Vì phe Ali chỉ là thiểu số, nên người đầu tiên được bầu làm Imam là Abu Bakr (632-634), người thứ hai là Umar ibn al-Khattab (634-644), người thứ ba là Uthman ibn Affan (644-656), người thứ tư mới đến Ali Ibn Abi Talib (656-661). Abi đã bị một người theo dị giáo gần Kufa thuộc Iraq giết năm 661. Những người ủng hộ Ali đã vận động để giành sự ủng hộ cho người con trai của Ali là Hussein. Nhưng trong một cuộc đụng độ gần thành phố Karbala vào ngày 10.10.680, Hussein đã bị chém đầu. Từ đó Hồi Giáo bị chia làm hai phái không bao giờ chịu đội trời chung và luôn tìm cách thanh toán nhau, đó là phái Sunni và phái Shiite (hay Shiar).
Nhiều người cho rằng chữ Sunni có nghĩa là đa số, nhưng tài liệu cho biết chữ Sunni phát xuất từ chữ Sunnah trong Hồi Giáo được dùng để chỉ các lời nói và hành động của nhà tiên tri Muhammad khi giải thích về kinh Koran được ghi chép trong Hadiths, thường được coi là truyền thống của Hồi Giáo. Còn chữ Shiar trong tiếng A-rập có nghĩa là một nhóm hay đảng ủng hộ và được dùng để chỉ những người đi theo Ali (Shia-t-Ali) hay đảng của Ali (Party of Ali). Như vậy Sunni là đi theo truyền thống của nhà tiên tri Muhammad còn Shiite là đi theo Ali. Shiite chủ trương giáo quyền lãnh đạo quốc gia còn Sunni chủ trương thế quyền. Nhưng cả hai đều coi kinh Koran là hiếp pháp và luật Sharia là luật pháp quốc gia.
NHỮNG CUỘC CHIẾN ĐẪM MÁU
Hồi giáo từ ngày thành lập đến nay đã gây nhiều cuộc chiến đẫm máu trong nội bộ cũng như trên thế giới, đưa tới những biến loạn không bao giờ dứt.
1.- Những cuộc chiến đẫm máu trong nội bộ
Trong lịch sử 14 thế kỷ, từ thế kỷ thứ 7 đến thế kỷ 21, đã có nhiều cuộc xung đột đẫm máu trong nội bộ của Hồi Giáo giữa Sunni và Shiite. Sau đây là  những biến cố chính:
- Từ năm 1400, Hoàng đế Timur thuộc giáo phái Sunni đã đem quân đánh chiếm Aleppo, Damascus, đông Anatolia, Baghdad và Thổ Nhĩ Kỳ, sát hại hơn 1 triệu tín đồ Shiites.
- Năm 1467, đế quốc Ottoman ở Thổ Nhĩ Kỳ theo phái Sunni đem quân đánh chiếm Syria, Ai Cập, Bắc Phi và Arabia. Các tín đồ Shiite thường nổi lên chống lại đế quốc này nên nhiều triệu tín đồ Shiites đã bị tiêu diệt.
- Đế quốc Hồi Giáo Safavid theo phái Shiites đã chinh phục được Ba Tư, rồi chiếm Azerbaijan, Bahrain, Armenia, Georgia, Bắc Caucasus, Iraq, Kuwait và Afghanistan, tồn tại từ 1501 đến 1771 (270 năm). Tại những nơi đế quốc Safavid chiếm được đều đem toàn bộ các giáo sĩ (clerics) Sunni ra chặt đầu và sát hại hàng triệu tín đồ Sunni.
Ngoài các vụ tranh chấp lớn nói trên, những vụ tranh chấp trong phạm vi một quốc gia hay xuyên quốc gia đã xảy ra thường xuyên và nhiều không thể kể hết được.
2.- Gây thảm họa cho nhân loại
Mohammad khởi xướng thánh chiến (Jihad) với những người không tin Hồi Giáo. Người A-rập hưởng ứng rất mạnh mẽ, một phần vì mộ đạo, một phần vì “những chiến lợi phẩm” thu được sau mỗi lần thắng trận.
Trong suốt thế kỷ thứ 7, Hồi Giáo chiến thắng không ngừng. Họ bắt kẻ địch phải lựa chọn: “Nộp cống và thừa nhận Allah hay là chết”. Nhiều người theo Do Thái Giáo và Thiên Chúa Giáo đã phải bỏ đạo và theo Hồi Giáo. Nhờ vậy, Hồi Giáo đã lập được những chiến công vào hạng oanh liệt nhất trong lịch sử thế giới. Phía Đông họ chiếm Syria và Ai Cập (634 - 639), Ba Tư (642) rồi tiến đến Ấn Độ và Tân Cương. Phía Tây họ chinh phục được Bắc Phi rồi từ đó tiến qua chiếm Tây Ban Nha. Qua thế kỷ thứ 8, Đế quốc A-rập đã mở rộng từ sông Hằng (Ấn Độ) đến Đại Tây Dương.
Trước sự bành trướng của Hồi Giáo, các tổ chức Kitô giáo đã thành lập các thập tự quân (crusaders) và mở các cuộc thập tự chinh (crusade) để chống lại. Cuộc chiến này kéo dài từ 1095 đến 1291, có tất cả 8 cuộc chiến lớn và nhiều cuộc chiến nhỏ. Năm 1289, Tripoli bị người Hồi Giáo chiếm và tới năm 1291, khi Acre cũng rơi vào tay Hồi Giáo, giai đoạn của các cuộc Thập tự chinh thời trung cổ kết thúc.
Nhưng các đế quốc A-rập tồn tại không lâu vì nội bộ chia rẽ. Sau này, khối A-rập lại được chia thành nhiều nước nhỏ theo bộ tộc nên ngày càng yếu dần. Tháng 7 năm 1798, Hoàng Đế Napoléon của Pháp tranh giành với Anh con đường thông thương qua Ấn Độ, đã đem quân chiếm Alexandria, xâm nhập vào Ai Cập, mở đầu cho thời kỳ bị thực dân thống trị. Thế giới Hồi Giáo từ Maroc tới Indonesia đã bị đặt dưới sự đô hộ của các nước thực dân Tây Phương. Sau thế chiến thứ nhất, Đế quốc Ottaman của Hồi Giáo sụp đổ, các nước Tây phương thắng trận đã chia Hồi Giáo thành những nước nhỏ để phân hóa, khống chế và khai thác.
TÌNH TRẠNG HỒI GIÁO HIỆN NAY
Theo tài liệu của Pew Research Center công bố ngày 22.11.2011, tổng số tín đồ Hồi Giáo trên thế giới hiện nay là 1,57 tỷ, chiếm 23% tổng số nhân loại, chỉ đứng sau Thiên Chúa Giáo (2,1 tỷ, tức 33,39%).
Số người theo phái Sunni chiếm từ 85% đến 90%. Phần còn lại là Shiite. Tổng số người theo Shiite khoảng từ 165 đến 200 triệu, tập trung ở các nước sau đây: Iran 90% dân số, Iraq 60%, Bahrain 66-70%, Lebanon 45-55%, Yemen 45%, Kuwait 30-40%, Syria 15%, Pakistan 10-15%, Afghanistan 10-15%, Saudi Arabia 10%, v.v.
Trong thế giới Hồi giáo, ở các quốc gia do người Sunni cầm quyền, người Shiite thường bị đối xử như công dân hạng hai, họ chỉ được làm các công việc lao động chân tay, và tài nguyên quốc gia không được chia xẻ một cách công bằng cho họ. Tiêu diệt Shiite là một chủ trương vĩnh cửu của Sunni. Chúng tôi xin nhắc lại, lãnh tu Hồi Giáo Sunni ở Qatar là Yusef al-Qaradawi, người yểm trợ tích cực các cuộc nổi dậy ở Trung Đông, đã tuyên bố giáo rằng phái Alawites (Shiite) là "những kẻ ngoại đạo nguy hiểm hơn các Kitô hữu và các tín hữu Do Thái". Ông cảnh báo rằng người Hồi Giáo Shiite ở Iran đang cố gắng "nuốt trọn" người Hồi Giáo Sunni.
ĐƯỜNG LỐI CỦA HOA KỲ
Tổng Thống Obama đã đưa ra một kế hoạch làm suy yếu rồi tiêu diệt nhóm Nhà Nước Hồi Giáo và vận động các quốc gia Tây Phương, các quốc gia Hồi Giáo Trung Đông và Quốc Hội Hoa Kỳ yểm trợ. Có nhiều dấu hiệu cho thấy Nga và Syria cũng đã đồng ý để không quân Hoa Kỳ thanh toán các sào huyệt của IS trên đất Syria. Trong những tháng qua, các cơ quan truyền thông quốc tế đã báo động các đại gia ở ba quốc gia Saudi Arabia, Kuwait và Qata đã yểm trợ tài chánh và phương tiện cho tổ chức ISIS để loại bỏ chính quyền Shiite ở Syria và Iraq. Không quốc gia nào cải chính tin này. Nhưng sau khi Tổng Thống Obama công bố kế hoạch làm suy yếu rồi tiêu diệt IS, hôm 18.9.2014, Quốc vương Sheikh Tamim bin Hamad Al của Qatar, một nước có 71% người Hồi Giáo Sunni, đã lên truyền hình cải chính nước ông không hề yểm trợ IS. Điều này cho thấy Hoa Kỳ đã tách được khối Sunni ra khỏi IS.
Theo ước tín mới nhất của CIA, hiện nay ISIS đang làm chủ 40% lãnh thổ Iraq và 25% lãnh thổ Syria. Báo cáo của CIA cũng nói ISIS có hơn 30.000 quân, trong đó có cả ngàn thanh niên nam nữ từ những nước khác sang Trung Đông tiếp tay cho chúng.
Sau khi được Quốc Hội chấp nhận ngân khoản điều hành cuộc chiến, công việc đầu tiên của không quân Hoa Kỳ là giúp quân đội Iraq chiếm lại 5 mỏ dầu ở miền Bắc Iraq do IS chiếm từ tháng 6, nhất là nhà máy lọc dầu chính của Iraq ở tỉnh Baiji cách thủ đô Baghdad khoảng 200 km. Tất cả những thành quả này có thể giúp Tổng Thống Obama cứu vãn được những chiếc ghế của Đảng Dân Chủ trong Thượng Viện có thể bị mất vào tháng 11 tới đây. Đó là nhu cầu trước mắt.
Việc thanh toán IS trên lãnh thổ Iraq có lẽ không khó lắm, nhưng lấy lại phần đất mà IS đã chiếm ở Syria khá rắc rối, vì lực lượng Quân Đội Syria Tự Do được CIA thành lập gần như tan rã. Do đó, việc tái thành lập và giao phấn đất mà IS đang chiếm hiện nay cho một nhóm Sunni khác quản lý để hình thành một vùng tự trị mới không phải là chuyện dễ dàng.
Kế hoạch chia 5 nước ở Trung Đông thành 14 nước theo chiến lược “Trung Đông Mới” được đưa ra dưới thời Tổng Thống Bush, phải mất vài năm nữa mới hoàn thành. Trong khi đó, Hoa Kỳ vẫn phải tiếp tục tạo thế cân bằng giữa hai khối Sunni và Shiite ở Trung Đông để hai khối kiềm chế nhau. Sau khi chiếm Iraq năm 2003, Hoa Kỳ đã phá bỏ quyền hành của khối Sunni thiểu số và trao cho khối Shiite đa số ở nước này. Hành động này đã bị khối Sunni giận dữ và yểm trợ cho hai lực lượng al-Nusra và IS đánh chiếm lại. Có nhiều dấu hiệu cho thấy sau khi loại hai tổ chức cực đoan này, Hoa Kỳ sẽ chia Iraq thành ba phần, phía cực bắc dành cho người Kurk, phần thứ hai gồm 25% lãnh thổ Syria và 40% lãnh thổ Iraq do IS đang chiếm sẽ dành cho một nhóm Sunni khác. Shiite sẽ chỉ còn được giữ phần phía Nam Iraq mà thôi.
Kế hoạch phân hóa và cân bằng các lực lượng Hồi Giáo ở Trung Đông của Mỹ để làm giảm sức mạnh của khối này và ổn định tình hình rất phức và sẽ còn kéo dài trong liên tục lịch sử. Chúng tôi xin mượn kết luận của bình luận gia Michael Crowley trong bài “The Never-Ending War” để kết thúc bài này:
Cựu Tổng thống Mỹ George W. Bush từng nói về tinh thần tự do, và tổng thống đương nhiệm Obama thường viện đến tinh thần hợp tác. Cả hai chính trị gia đều nói về điều gì đó mạnh mẽ bằng trái tim hiện đại. Nhưng không ai - cũng không phải bản thân Mỹ - cho đến giờ này hoàn toàn đánh giá đúng sự ngự trị đang tiếp diễn của các tinh thần cổ xưa hơn nhiều: lòng căm thù, sự tham lam và sự gắn bó với bộ lạc. Một lần nữa, những tinh thần đó lại bị buông lỏng, và cả thế giới sẽ phải trả giá.”
Ngày 18.9.2014
Lữ Giang
nhận xét hiển thị trên trang