Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Bảy, 2 tháng 8, 2014

Đà Nẵng đã bán sân Chi Lăng cho Thiên Thanh như thế nào?


Anh Thư
CAFEF - Vụ việc Đà Nẵng chuyển nhượng hơn 5,5 ha khu đất "sạch" 4 mặt tiền sân Chi Lăng cho Thiên Thanh xây khu phức hợp thương mại - dịch vụ, đã gây ra sự lùm xùm trên truyền thông lẫn dư luận.

Bởi mang danh là "đất vàng" nhưng lại không qua đấu giá, giá chuyển nhượng lại rất thấp, thấp hơn cả giá đất tối thiểu theo khung giá của địa phương. Ðiều này “không chỉ gây thất thu ngân sách nhà nước mà còn làm méo mó môi trường đầu tư”, báo Tuổi Trẻ ngày 6.6.2011 nhận định trong một bài viết.

Cụ thể, giá đất giao cho Thiên Thanh bằng với giá đất TP Đà Nẵng kêu gọi đầu tư (25,3 triệu đồng/m2), thấp hơn 2-3 lần giá đất giao dịch trên thị trường. Ðó là chưa kể đến cả hệ thống sân bãi bóng đá, nhà điều hành vừa mới đầu tư xây dựng trị giá nhiều tỉ đồng phải đập bỏ.

Hơn nữa, sau quyết định bán toàn bộ khu vực sân vận động Chi Lăng cho Thiên Thanh, UBND TP Ðà Nẵng quyết định xây một sân vận động mới tại khu liên hiệp thể dục thể thao Hòa Xuân với sức chứa 40.000 chỗ ngồi. Ðể xây dựng dự án khu liên hiệp thể thao này, TP Ðà Nẵng phải giải tỏa 249 ha với tổng kinh phí bồi thường lên đến 835 tỉ đồng.

Tiếp tục theo đuổi vụ việc, ngày 14.6.2011 và 20.6.2011, báo Tuổi Trẻ tiếp tục có 2 bài phỏng vấn ông Trần Văn Minh - chủ tịch UBND TP Đà Nẵng - cùng các sở, ban ngành của TP.

Trả lời vì sao không đấu giá công khai mà lại chỉ chuyển nhượng khu đất cho mỗi Thiên Thanh, ông Minh nói, để kêu gọi đầu tư vào dự án sân vận động Chi Lăng, TP Đà Nẵng đã đăng công khai trên hai tờ báo là báo Công An TP Đà Nẵng và báo Người Lao Động từ ngày 22.9.2010. Nhưng chỉ có mỗi Thiên Thanh chấp thuận đầu tư nên TP đồng ý giao khu đất “vàng” 5,5 ha này cho Thiên Thanh.

Khi PV hỏi vì sao thời gian kêu gọi đầu tư chỉ vỏn vẹn 14 ngày (từ 22.9 đến 6.10.2010) mà không phải là 30 ngày như quy chế đấu giá của Nhà nước, ông Minh khẳng định: “Đà Nẵng đã làm đúng theo quy định của pháp luật”.

PV chất vấn vào ngày 10.8.2010, ông Minh đã ký công văn 4889 có đoạn ghi rõ: “Xét nội dung công văn số 74 ngày 26.7.2010 của Công ty TNHH Tập đoàn Thiên Thanh về việc đề nghị chấp thuận chủ trương đầu tư dự án khu phức hợp thương mại dịch vụ cao tầng tại khu đất mặt tiền các đường Hùng Vương - Ngô Gia Tự - Lê Duẩn - Triệu Nữ Vương (bao gồm cả sân vận động Chi Lăng), tại cuộc họp giao ban ngày 9.8.2010, chủ tịch và phó chủ tịch TP có ý kiến như sau: thống nhất về mặt chủ trương theo đề nghị của Công ty TNHH Tập đoàn Thiên Thanh về dự án nói trên với quy mô khoảng 6ha. Giao Sở Xây dựng chỉ đạo Viện Quy hoạch xây dựng lập hồ sơ ranh giới sử dụng đất xây dựng khu phức hợp, trình TP xem xét, quyết định trong tháng 8.2010”.

Nội dung trong công văn trên không hề có cụm từ “cho đơn vị nghiên cứu dự án”. Như vậy, TP đã đồng ý chủ trương cho Thiên Thanh được phép đầu tư vào dự án này trước khi kêu gọi đầu tư?

Ông Minh lại trả lời tại công văn này, TP chỉ xem xét, đồng ý về mặt chủ trương nghiên cứu dự án đầu tư khu phức hợp thương mại dịch vụ tại khu đất này (khu vực sân vận động Chi Lăng - PV), hoàn toàn chưa có nội dung đồng ý cho Thiên Thanh được nhận quyền sử dụng đất để đầu tư.

Nói thêm về mức giá chuyển nhượng 25,3 triệu đồng/m2, ông Minh lý giải: “Không thể lấy giá của một lô đất mặt tiền các đường phố chính có diện tích nhỏ hơn từ 50 - 80 triệu đồng/m2 để so sánh với khu đất có diện tích đến 50.000m2... TP cũng rất muốn có nhiều nhà đầu tư tham gia đấu giá nhưng cuối cùng chỉ có Thiên Thanh thì không thể khẳng định giá đó là rẻ so với giá thị trường được”.

Cũng lý giải về giá đất chuyển nhượng, ông Nguyễn Thành Trung, trưởng phòng kinh tế tổng hợp UBND TP Ðà Nẵng, cho rằng: "Nhà đầu tư bỏ tiền lớn ra làm dự án, nếu TP tính giá sát với giá thị trường thì có thu hút đầu tư hay không.

Cứ giở bài toán giá thị trường ra, Ðà Nẵng không thể phát triển được, không thể có quy hoạch tốt, tầm nhìn tốt. Khi tính toán giá dự án này, hội đồng thẩm định giá đã đưa ra các phương án, có phân tích các yếu tố liên quan".

Còn theo bà Nguyễn Thị Thu Hà - chủ tịch Hội đồng thẩm định giá đất TP Ðà Nẵng, đối với dự án sân vận động Chi Lăng nếu tính đúng, tính đủ thì giá phải trên 70 triệu đồng/m2. Tuy nhiên căn cứ theo mật độ xây dựng được duyệt (60% diện tích) cộng với các yếu tố khác, hội đồng quyết định đưa ra mức giá 25,3 triệu đồng/m2.

Không chỉ có khu đất sân vận động Chi Lăng, năm 2011, Thiên Thanh cũng được UBND TP Đà Nẵng chuyển giao khu đất rộng 23.000m2 ở 209 Trường Chinh.

Đáng nói là TP giao chỉ thu tiền sử dụng đất 40 tỉ đồng vào ngân sách nhà nước rồi chuyển vào quỹ xây dựng bệnh viện ung thư. Điều này là chưa đúng với quy định nhà nước về quản lý đất đai. Bởi nếu chỉ tính theo giá đất mà TP Đà Nẵng quy định đã lên đến 140 tỉ đồng.

Nhưng ông Trần Văn Minh - Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng cho rằng khu đất này TP giao cho nhà đầu tư theo công văn của Bộ Quốc phòng và đây không phải là khu đất vàng.

Về mức giá, ông lý giải: Nếu tính theo giá sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp (bao gồm tính phân vệt, hệ số thị trường, mật độ xây dựng) thì toàn bộ khu đất này có giá trị khoảng 70 tỉ đồng. Đây là đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp để xây dựng siêu thị kinh doanh vật liệu xây dựng, không phải để phân lô bán nền và mật độ xây dựng của dự án dự kiến là 60%. Trên cơ sở tiền sử dụng đất nêu trên, TP hỗ trợ 30 tỉ đồng cho Quân khu 5, còn 40 tỉ đồng chuyển vào ngân sách TP để hỗ trợ xây dựng Bệnh viện Ung thư.

Theo Một Thế Giới

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Đúng là dở dại dở khôn, Cuối cùng lại vẫn vần Ồn thành văn! Văn chương Việt thôi rồi, toàn chuyện nhảm!

Xác phàm - Nguyễn Đình Tú

Đi mua sách đọc, thấy có Xác phàm của Nguyễn Đình Tú, tuy rất hãi các thể loại tiểu thuyết Việt Nam có những cái tít như thế (điển hình là Hoang tâm, tác phẩm ngay trước của chính Nguyễn Đình Tú - tức là đi vào hệ thống rồi nhá), nhưng vì nhiều thứ, trong đó có quyết tâm sắt đá thúc đẩy sự phát triển của ngành phát hành sách đất nước (mình có tiền nên mình có quyền mua sách, các bác đừng ngăn cản hehe) mình vẫn mua về đọc.

Nhân vật trong í tên là Nam và Việt, hai anh sang Thái để anh Nam làm phẫu thuật chuyển giới tính, nôm na là lắp lỗ.

Trong khi phẫu thuật thì bác sĩ Tha người Thái (chắc lấy cảm hứng từ anh Thặc xỉn) phải bật bài hát của Trịnh Công Sơn cho anh chuyển giới "mộng mị tái sinh" nghe, nếu không anh í không chịu cho lắp lỗ.

Mình có một tình cảm rất là ấy với Lưu Quang Vũ, nhưng mình công nhận Lưu Quang Vũ ấy mà, lắm lúc ông ấy cực tiên tri, cực Cassandra:

"Người ta còn làm gì người nữa Việt Nam ơi"

Phần nhận xét hiển thị trên trang

NGƯỜI GÁC CỔNG

Tru Sa

1Tôi được phân đứng gác cổng, cánh cổng phía ngoài tòa kiến trúc. Đây là công việc đã từ lâu và tôi nhận nó cũng từ lâu. Cánh cổng này chỉ có mình tôi đứng gác và vì thế tôi không được phép lơ đễnh. Tôi được trang bị đầy đủ những loại vũ khí để đối phó với những kẻ có ý định xâm nhập. Những món vũ khí đó đều là loại tối tân và cần thiết cho những cuộc chiến bắt buộc. Bộ quần áo của tôi được làm từ loại vải chỉ có ở tòa kiến trúc. Chất vải mềm nhưng rất bền và dẻo dai, khi cần thiết các lớp áo vải sẽ cộm lên và chắc chắn như một lớp áo giáp. Bộ trang phục này không gò bó tôi và tôi vẫn có thể vận động theo ý mình. Những lưỡi dao dắt ở bên hông rất bén, còn khẩu súng, chiếc kìm chích điện cũng đều là những dụng cụ sát thủ. Tôi được toàn quyền sử dụng.
   “Nào, hãy tránh ra.” – Từ phía ngoài, một người đàn ông cao lớn hô và tôi gật gù, mở cánh cổng ra. Người đó bước vào và rất mau chóng biến mất sau cánh cửa.
     Nơi tôi đứng gác là cổng chính. Một cánh cổng lớn, đúc bằng thép. Nó rất rắn và dày tới mức cản được cả xe bọc thép nhưng cũng vì vậy mà tôi sẽ khó khăn trong việc đóng mở cánh cổng. Tôi không ước tính nổi chiều cao và bề rộng của cánh cổng vì khi đứng đó tôi trông rất nhỏ bé.
     Cánh cổng này là một phạm vi quan trọng của tòa kiến trúc. Nó được đặt ở ngoài và che chắn cho tòa kiến trúc. Tôi đứng gác từ rất lâu, và như đã nói công việc này tôi nhận từ lúc còn trẻ. Vóc người tôi cao lớn và tráng kiện, tôi đã từng tay không đánh chết một bầy sư tử và vì thế tôi có đủ sức khỏe để làm việc cho tòa kiến trúc. Một thời gian dài, tôi phải vất vả để ngăn chặn những cuộc xâm nhập vào tòa kiến trúc. Luôn có những cuộc hỗn chiến và tôi luôn giành chiến thắng. Những kẻ tìm tới tòa kiến trúc này đều sống ở xa ( tôi chắc vậy vì họ đã mang theo cả hành lý.) và với những lời quen thuộc như “Hãy cho tôi vào gặp người trong tòa kiến trúc” , “Tôi muốn vào đó”, “Tôi có một vật và anh hãy chuyển nó vào trong.” – Tất nhiên tôi không dễ gì mà tin vào những lời nói đó. Tôi không phải một người đưa thư, càng không phải thuyết khách hay một cố vấn về tâm lý, tôi là người gác cổng và bảo vệ cho tòa kiến trúc là nhiệm vụ của tôi. Khi mọi thuyết phục thất bại, họ nhao nhác cả lên và trở nên hung dữ. Những người đó thường đi theo nhóm và kết thành một đám đông. Họ gào thét, nhào tới như muốn xô đổ cánh cổng.
     Những món vũ khí mà tòa kiến trúc đã trang bị cho tôi đều có sức mạnh và vì thế không mấy khó khăn để triệt hạ đám ô hợp này.
     Nhiều lần, sau khi hạ gục đám người, thân thể tôi ướt đẫm máu. Tôi vẫn án ngữ trước cánh cổng. Hai chân tôi trụ vững như cắm rễ xuống đất.
     Dưới chân tôi là những xác người nằm ngả nghiêng. Nhiều thân thể ôm lấy nhau, co quắp như loài gấu ngủ đông. Một cái xác ở gần phía tôi đã nát bấy nhưng cánh tay với vài ngón đứt lìa vẫn vươn về phía cánh cổng. Chúng chỉ vươn tới đó.
     Máu nhuộm đỏ đôi bàn tay tôi. Khẩu súng tôi cầm trên tay vẫn nóng rẫy, đầu súng chúc lên, giật giật như còn muốn khạc đạn.
     Tôi luôn đứng ở ngoài, trước cánh cổng lớn dẫn vào tòa kiến trúc. Cả những ngày nắng, mưa bão hay chớp giật tôi vẫn đứng ở đó. Điều này chẳng đáng bàn gì vì thể lực của tôi rất tốt. Những gì ở bên trong nằm ngoài công việc của tôi. Thực ra tôi sẽ vẫn gác ở đây, nhưng việc quá nhiều người tìm tới và mong đợi được vào tòa kiến trúc đã phần nào khơi dậy trong tôi chút tà tâm về một sự xâm nhập. Có gì trong đó ? một sự thăm viếng hay điều gì khác mà tôi chưa rõ về tòa kiến trúc. Lý do gì khiến đám người kia liều mạng để xông vào.
     Những lúc mở cánh cổng ra để những người làm việc trong tòa kiến trúc đi vào tôi đã từng nhìn vào bên trong. Điều đó vụt qua mau như một ánh chớp. Nhưng tôi đã thấy một khối hình rất lớn trong đó. Nhiều lần tôi đã cố ý mở hoặc đóng cánh cổng thật chậm để có thể nhìn tòa kiến trúc kỹ hơn. Việc này nằm ngoài nhiệm vụ của tôi và sẽ là phạm tội nếu tôi làm vậy, nhưng có thứ gì đó đã thôi thúc và chế ngự tôi. “Tôi là người gác cổng, tôi không thuộc tòa kiến trúc kia nhưng tôi muốn biết về nó. Ít nhất là ngoại cảnh.” – Tôi nghĩ thế và buông mình theo cái suy nghĩ đó. Cặp mắt tôi nhìn vào, cố thu gọn khối hình khổng lồ đó vào trí nhớ. Nhưng có thứ gì đó đã che phủ tầm nhìn và tôi không thấy được gì ngoài một khối hình to lớn nhưng mù mờ. Rõ ràng không phải sương mù, cũng không phải triệu chứng của bệnh hoang tưởng nhưng chẳng tài nào tôi nhìn rõ được tòa kiến trúc. Nó ở cố định và tôi biết nó rất lớn, có tầm vóc như những vị thần Titan. Chỉ như thế.
   “Anh trở nên chậm chạp từ bao giờ vậy.” – Một người trong tòa kiến trúc nói khi tôi đang mở cánh cổng, mắt ngó vào bên trong. Tôi chỉ im lặng và ông ta nói tiếp “Anh là người gác cổng, bổn phận anh là thế và hãy ở đó đi.” – Câu nói đó chạy vào tai tôi và vang lên rất lớn. Mọi suy nghĩ bị thứ âm thanh đó nghiền nát và thứ còn lại trong tôi là một điều răn của đấng bề trên.
     Ngày hôm nay có một vị khách lạ tìm tới cánh cổng dẫn tới tòa kiến trúc. Người này ngồi xe lăn và đi một mình. Gương mặt vị khách này chỉ còn lại một lớp sẹo xù xì, lớp da còn lại gần như đã bong ra hết và cái mũi cũng rụng đâu mất, để trơ ra hai cái hốc đen ngòm. Môi người này nứt nẻ và một vài cái răng đã bị gãy. Vết thương ở cổ mà giờ đã thành sẹo khiến giọng nói người này méo hẳn đi và khàn đục như người bị ngạt mũi. Lớp da nứt nẻ, vài sợi tóc bạc mỏng mảnh còn sót lại trên cái đầu trọc đã giúp tôi biết được đây là một người đàn ông và ông ta đã có tuổi.
   “Này người gác cổng, hãy cho tôi vào trong.”
   “Này ông ! Tòa kiến trúc này không dành cho ông đâu, hãy về đi.”
   “Tòa kiến trúc này không có chỗ cho tôi nữa – Người lạ mặt nói – Nhưng tôi muốn anh biết rằng tôi cũng từng có mối liên hệ với tòa kiến trúc này, từ rất lâu. Anh hãy cho tôi vào hoặc hãy giúp tôi gặp một ai đó làm việc trong tòa kiến trúc.”
   “Tôi là người gác cổng và công việc tôi là gác cổng. Xin thứ lỗi, tôi không giúp được gì.”
     Người lạ mặt lấy trong chiếc túi mang theo một chiếc hộp. Ông ta đẩy chiếc xe lăn, tiến gần về phía tôi. Tôi nhìn thấy rõ hơn những vết lở loét trên khuôn mặt ông ta.
   “Hãy giúp tôi chuyển nó vào trong. Hãy coi đây là một lời thỉnh cầu.”
     Đôi mắt ông ta mang vẻ buồn bã. Tiếng nói ông ta đứt quãng dần vì những cơn ho.      Tôi nghe thấy tiếng gõ cửa bên trong và như mọi lần tôi quay ra và đẩy cánh cửa nặng nề sang một bên. Một người đàn ông đi ra. Cũng như hầu hết những người tôi đã từng gặp trong tòa kiến trúc, tất cả đều mặc một bộ đồ kín mít. Họ mặc nhiều loại áo khác nhau, với đủ loại màu sắc, phụ kiện nhưng tất cả đều phải cố định trong khuôn mẫu một trang phục kín kẽ. Họ có đeo găng tay, cổ quàng một chiếc khăn mỏng, màu sắc của mỗi loại khăn có thể giúp tôi phân biệt được giới tính từng người trong tòa kiến trúc. Thứ duy nhất ló khỏi lớp vải là cái đầu nhưng thường thì ở một số người đã chùm một lớp vải để che đi gương mặt, số khác thì đeo kính hoặc kéo chiếc mũ liền áo. Chẳng cách nào có thể nhìn rõ được họ, dù không phải do lớp vải vóc. Có nhiều người đã để đầu trần, như người đàn ông đang đứng trước mặt tôi đây nhưng tôi chẳng tài nào có thể ghi nhớ khuôn mặt đó quá lâu. Đôi mắt, cái mũi, độ tuổi hay một dấu ấn để phân biệt giữa người này với người kia tôi đều không nắm được, nhưng tôi biết những người họ là chỉ huy của tôi và cũng như vậy, tôi phải trung thành phục tùng họ.
     Người đàn ông thuộc tòa kiến trúc nhìn tôi và người lạ mặt kia.
   “Người này chắc hẳn không phải là khách hoặc ai đó tôi biết trong tòa kiến trúc. Và này, anh lại quên mất nhiệm vụ của mình ư.”
   “Hãy mở cửa ra, ta muốn vào trong đó ! – Người lạ mặt nói, nhìn chằm chằm về phía người đàn ông vừa bước ra.”
    “Tại sao chứ ! – Ông ta nói – Ngươi phải biết tòa kiến trúc này không dễ dàng tiếp những người lạ. Hãy trở về đi.”
     Người lạ mặt đưa chiếc hộp khi nãy ra.
   “Ta biết. Nhưng có lẽ ông cũng biết tòa kiến trúc này vốn được tạo ra vì một cộng đồng. Chiếc hộp này, xin hãy nhận lấy, mọi thứ trong đó đều là của ông, trừ những tờ giấy. Hãy làm ơn chuyển tới tầng cao nhất của tòa kiến trúc.”
     Người đàn ông đó cầm lấy chiếc hộp. Ông ta nhìn ngắm nó hồi lâu.
   “Được thôi, ta sẽ nhận lấy nó, nhưng ta phải nói trước bây giờ thì ngươi chưa vào được đâu. Ngươi sẽ còn phải chờ.”
   “Tôi đã chờ từ lâu lắm rồi…”
   “Ta làm việc trong tòa kiến trúc, nhưng ngươi biết đấy ta ở tầng hạ. Tòa kiến trúc còn nhiều tầng lắm và với một sự chân thành ta khuyên ngươi hãy tiếp tục chờ đợi.”
     Người đàn ông thuộc tòa kiến trúc nhìn người lạ mặt. Bốn mắt chạm nhau. Không gian im bặt. Thật khó để kết luận một sự thiện ý gì ở con người quyền uy kia vì tới lúc này khuôn mặt thực của ông ta vẫn vô định như chưa được tạo ra.
   “Được! Ta sẽ về. – Người lạ mặt nói, cặp mắt ông ta vằn lên những tia đỏ rực – Nhưng ta sẽ còn quay lại, và các ngươi nhớ là thế.” Ông ta ho vài tiếng và chiếc xe lăn đi. Cái bóng nhỏ xíu đổ dài xuống con đường rồi tắt ngóm.
     Người đàn ông thuộc tòa kiến trúc bước đi. Một hình ảnh của người lạ mặt lạc lại trong suy nghĩ tôi.
   “Sao ngài không mở cửa cho con người khốn khổ đó.”
     Người đàn ông thuộc về tòa kiến trúc dừng chân.
   “Công việc của anh là gác cổng. Anh quên rồi sao.”
   “Tòa kiến trúc này được một tập thể tạo ra, hoàn toàn không thuộc sở hữu của bất kì ai.”
   “Này người gác cổng! Anh quên mất vị trí của mình rồi đấy.”
   “Tôi biết. Tôi là người gác cổng, nhưng xin nhớ rằng tôi cũng là người bảo vệ cho tòa kiến trúc và vì thế tôi cũng có quan hệ với nơi đây.”
     Tôi rút súng. Nòng súng hướng về người đàn ông. Ngón tay tôi giữ lấy cò.
     Một tiếng lạ bật ra, tôi nghĩ người đàn ông đã cười vì từ cằm nhích lên, ứng với vị trí miệng đã có một sự chuyển động.
     Khẩu súng tan biến trong tay tôi. Khi sờ bên hông thì con dao và chiếc kìm chích điện cũng đã biến mất. Bộ quần áo đặc dụng mà tòa kiến trúc trang bị cho tôi co dần lại và cứa vào da thịt. Các lớp vải bó quá chặt khiến tôi không di chuyển được. Phần vải phía dưới chân chùng xuống mang theo sức nặng ngàn cân. Cặp chân tôi đã không còn nằm trong sự kiểm soát của thân thể và bắt đầu trượt xuống. Đầu gối tôi lún xuống đất.
   “Anh là người gác cổng, hãy nhớ như vậy. Tôi không mong chuyện này tái diễn một lần nữa đâu.”
     Người đàn ông đó quay đi. Ông ta đi xa dần. Chiếc bóng của ông ta vẫn kéo dài về phía sau, nó to lớn hơn cỡ người vốn có của ông ta. Người đàn ông này và những người khác, to lớn và quan trọng hơn trong tòa kiến trúc mỗi khi đi đều có một cái bóng dài đổ dưới chân. Đây là điều không lạ nhưng cái bóng của họ luôn lớn hơn tôi. Mỗi khi họ đi qua và vô tình tôi lọt vào chiếc bóng đó, thân thể tôi bị thu nhỏ lại. Tôi kẹt ở chiếc bóng và những vùng tối quanh chiếc bóng vẫn tiếp tục tràn ra. Chúng phủ quanh tôi và tôi bị nhấn chìm…
     Chiếc áo giãn ra và tôi bắt đầu cử động được. Tôi sờ bên hông, khẩu súng vẫn ở đó. Cả con dao mà tôi luôn tìm kiếm lúc trước cũng trở về bên tôi. Tôi muốn quay người lại và mở toang cánh cửa bằng đôi tay mình nhưng tôi không tài nào nhúc nhích được. Tiếng xương vỡ cùng cơn đau thấu tim không giúp tôi quay được nửa thân người. Lớp quần áo bó lại rất chặt mỗi khi tôi gồng sức. Sức lực của tôi đã bi hút đi và nguồn sinh lực tràn trề mà tôi có là của bộ trang phục. Tôi không còn nhúc nhích được chân. Ngón tay đặt nơi nòng súng đang chĩa vào thái dương cũng không còn là của tôi nữa.
     Thứ trang phục tối thượng một lần nữa dịch chuyển các lớp vải và cố định tôi vào tư thế đứng thẳng người.
     Tôi nén một hơi để hét lên một tiếng thật lớn. Không chắc tiếng hét có thể di chuyển được cánh cổng nhưng nó sẽ đánh động tới ai đó đang trên đường tới đây. Tiếng hét tắc nghẹn trong cổ họng. Tôi chẳng thể phát tiết thứ âm thanh đó ra ngoài vì miệng tôi đã vị chính tay tôi bịt lại. Tay còn lại bóp lấy cuống họng tôi. Những con chữ đáng lẽ vang ra ngoài bị chặn đứng lại. Tôi đẩy thêm hơi, bàn tay đang bóp nơi cuống họng xiết chặt thêm. Hơi thở tôi bị ngăn lại. Chút sức lực cuối cùng. Tôi lấy hết hơi thở. Nỗi căm phẫn của tôi thoát ra ngoài và chúng kéo dài trên đôi mắt tôi bằng hai cột máu.
     Ở phía xa, tôi thấy một đoàn người. Họ nói rất lớn, vài người cầm theo những tấm biển có khắc chữ, nhiều người đeo băng rôn, có người chít khăn trắng. Một chiếc xe lăn lẫn trong đám đông.
     Họ thấy tôi. Thấy con mắt đỏ rực máu của tôi.
     Họ ở lại, và tiến lên.
     Bộ trang phục đánh hơi thấy mùi phản loạn. Súng lên đạn…
Bài đã đăng trên "Văn tuyển"

Phần nhận xét hiển thị trên trang

TÂN HỌC THUYẾT “ĐẠI ĐÔNG Á” CỦA NHẬT BẢN

 W.

1Trong Thế chiến II cách đây khoảng 70 năm. Nhật Bản phát động hàng loạt cuộc tấn công thôn tính các nước trong khu vực Đông Á. Sau khi thống trị Trung Hoa, Tokyo còn bất ngờ tấn công Trân Châu Cảng của Mỹ, tất cả nhằm mục đích thực thi học thuyết “ĐẠI ĐÔNG Á” của Nhật Bản.
HỌC THUYẾT “ĐẠI ĐÔNG Á” TRONG QUÁ KHỨ CỦA NHẬT:
“KHỐI THỊNH VƯỢNG CHUNG ĐẠI ĐÔNG Á” là khẩu hiệu được Tokyo và quân đội Nhật đề xướng trong thời kỳ Chiêu Hòa để thực hiện tham vọng tạo ra một khối các quốc gia Châu Á do Nhật Bản lãnh đạo mà không phụ thuộc vào Phương Tây. Khẩu hiệu nầy được Thủ tướng Fumimaro Konoe trong nổ lực nhằm tạo ra một “Đại Đông Á” bao gồm các quốc gia: Nhật Bản, Mãn Châu Quốc và Trung Hoa và một phần các quốc gia thuộc khu vực Đông Nam Á. Với mục đích trên, theo bộ máy tuyên truyền của chính quyền Tokyo là thiết lập một “TRẬT TỰ THẾ GIỚI MỚI” nhằm tìm kiếm sự “thịnh vượng chung” cho các quốc gia Châu Á, cùng chia sẻ sự thịnh vượng và hòa bình và hoàn toàn không lệ thuộc vào chủ nghĩa thực dân và sự thống trị của Phương Tây.
Tuy nhiên, khái niệm nầy được Tokyo chỉ dùng để biện minh cho chính sách xâm lược của Nhật Bản tại Đông Á từ thập niên 1930 cho đến khi chấm dứt Thế chiến II và thuật ngữ “Khối Thịnh Vượng Chung Đại Đông Á” chỉ là tấm bình phong cho sự thống trị của Đế quốc Nhật Bản tại các quốc gia chiếm đóng trong Thế chiến II.
Cũng như Đức Quốc Xã, học thuyết “Đại Đông Á” phát xuất từ quan niệm dân tộc Phù Tang là dân tộc thượng đẳng, so với các dân tộc Châu Á khác. Nó đã được thành hình vào khoảng thế kỷ 19. Học giả Fukuzawa Yukichi trong tác phẩm “Vai Trò nước Nhật ở Châu Á” được công bố vào năm 1882 ủng hộ mạnh mẽ cách nhìn về Đế quốc Nhật Bản và vai trò hiển nhiên là nước lãnh đạo của toàn Châu Á. Bước vào thế kỷ 20, một học giả “dân tộc cực đoan khác” là Kita Ikki đã thu hút được nhiều sự chú ý của độc giả Nhật, khi ông đưa ra nhận định về sứ mạng của nước Nhật với vai trò đưa Châu Á thoát khỏi ách đô hộ của Đế quốc Thực dân Phương Tây, thậm chí bằng khả năng gây chiến tranh nếu cần. Vì vậy, vào năm 1905, Đế quốc Nhật gây chiến đánh thắng Đế quốc Nga trong cuộc chiến tranh Nga – Nhật (1904-1905). Cuộc chiến tranh được lưu danh vào lịch sử thế giới là một quốc gia Châu Á đầu tiên đã đánh bại một Đế quốc Phương Tây, góp phần định hướng cho một vai trò lớn hơn của nước Nhật sau nầy.
Kinh tế cũng là yếu tố quan trọng trong quyết định đưa ra tuyên bố học thuyết “Đại Đông Á” lần đầu tiên vào năm 1940. Nhật Bản có nhu cầu rất lớn về các nguyên liệu thô như dầu ở Đông Ấn hay cao su của Đông Dương nhằm duy trì sản xuất và nhu cầu cho quân đội đang chiếm đóng Trung Hoa. Hành động nghiêm cấm chuyên chở dầu, nguyên liệu thô và sắt thép đến Nhật Bản của Hoa Kỳ và các quốc gia Phương Tây đã thúc đẩy Tokyo tìm các nguồn cung ứng khác ở các quốc gia Châu Á để thay thế, và đây cũng là nguyên do Nhật vận động các nước trong khu vực Đông Á tham gia vào khối thịnh vượng chung “Đại Đông Á” thì Nhật Bản mới có thể duy trì được việc sản xuất hàng hóa cho các thị trường xuất cảng.
Ngoài các nguyên nhân trên, tham vọng về một địa chính trị quốc tế cũng đã góp phần đưa đến sự ra đời của “Khối Thịnh Vượng Chung Đại Đông Á”. Từ cuối thế kỷ thứ 19, các nhà hoạch định chính sách của Nhật tin rằng: nước Nhật cũng có quyền ngang hàng với các nước “Đế quốc Phương Tây” trong việc mở rộng và duy trì thuộc địa của họ ở Châu Á. Tin rằng, việc làm đó sẽ là điều kiện cơ bản giúp nước Nhật đạt được một vị trí quan trọng hơn trên vũ đài chính trị thế giới và được nhìn nhận Nhật Bản như một quốc gia thượng đẳng, ngang hàng với các quốc gia Phương Tây.
Vì vậy, các Đế quốc Phương Tây đã phản đối các hành động nầy của Nhật bằng hàng loạt đưa ra các điều khoản bất bình đẳng đã gây ra bất bình với người Nhật. Trong các điều khoản được ký kết tại “Hội nghị Hải quân Quôc Tế” ở Washington (1922), buộc Nhật phải duy trì một tỉ lệ lực lượng tàu chiến là 3/5 so với Hoa Kỳ & Anh Quốc. Vào năm 1924, Hoa Kỳ thông qua dự luật ngưng tiếp nhận dân Nhật nhập cư từ Nhật Bản.
Các chính trị gia Nhật dùng chủ thuyết “Châu Á phải dành cho người Á Châu” nhằm thuyết phục dân Nhật và các quốc gia Châu Á khác và phải có hành động cấp bách để giải phóng các nước Châu Á thoát khỏi ách nô lệ các Đế quốc Phương Tây. Nhưng, các quốc gia bị Đế quốc Nhật chiếm đóng sau đó đều nhận ra rằng, mọi thứ đã hoàn toàn khác hẳn với lời tuyên truyền trước kia về “Khối thịnh vượng chung Đại Đông Á”. Các chính phủ do Nhật dựng lên trở thành bù nhìn. Nhân dân các nước bị Nhật chiếm đóng đã phải chịu đựng nhiều thống khổ do chính sách cai trị hà khắc của người Nhật. Khối thịnh vượng chung Đại Đông Á chỉ là cái bánh vẽ, một dạng khác của chủ nghĩa đế quốc được Phương Tây đã thực hiện từ lâu. Nói tóm lại, “Khối Thinh vượng chung Đại Đông Á” đã không hoạt động vì sự phát triển của tất cả các quốc gia Đông Á mà chỉ phục vụ cho lợi ích của nước Nhật và do đó họ đã thất bại vì không tranh thủ được sự ủng hộ tại các quốc gia Đông Á.
Tóm lại, học thuyết “Đại Đông Á” (cũ) là một hệ thống các nguyên tắc về chính sách xâm lược và bành trướng của Đế quốc Nhật Bản do Thủ tướng Konoe đề ra ngày 1/8/1940 nhằm xây dựng một “khu vực thịnh vượng chung Đại Đông Á”. Bộ trưởng Ngoại giao Nhật lúc bấy giờ là Mashuoka đã lên tiếng giải thích những nguyên tắc cho việc xây dựng một khu vực Đại Đông Á thịnh vượng và phát triển như sau:
(1)       Quân sự đồng minh.
(2)       Kinh tế hợp tác.
(3)       Văn hóa giao lưu.
(4)       Ngoại giao liên hiệp.
(5)       Chính trị độc lập.
Nhưng, thực ra Học thuyết “Đại Đông Á” trong quá khứ lợi dụng sự khác biệt về chủng tộc, kích động sự hận thù của nhân dân Châu Á đối với Thực dân da trắng Phương tây nhằm lừa bịp các dân tộc Châu Á với những luận điệu như “đồng văn”, “đồng chủng”, cùng “máu đỏ da vàng” để các thế lực Quân Phiệt Nhật muốn đặt các dân tộc Châu Á bao gồm Trung Hoa, Mãn Châu Quốc, Đông Dương, Malaysia, Indonesia, Thái Lan, Philippines dưới ách thống trị của Nhật Bản, tranh giành các thuộc địa rộng lớn của các Đế quốc Phương Tây ở khu vực nầy nhằm khai thác, vơ vét tài nguyên, nhân lực để phục vụ cho các kế hoạch xâm lược…
HỌC THUYẾT KAIFU:
Do Thủ tướng Nhật Kaifu trình bày tại Singapore trong chuyến đi thăm một số nước ĐNA từ 27/4 đến 6/5/1991. Thủ tướng Kaifu chính thức xin lổi các nước về những hành vi quân sự trong chiến tranh Thế giới II của Nhật, cam kết sẽ không trở thành cường quốc quân sự và sẽ đóng vai trò tích cực hơn trong các vấn đề chính trị, kinh tế ở Châu Á-TBD. Tăng cường hợp tác khu vực thông qua đầu tư, chuyển giao công nghệ, đóng vai trò thúc đẩy hợp tác giữa các nước ASEAN với Đông Dương cùng phát triển và trở thành bạn hàng tốt. Thủ tướng Kaifu đã nhắc lại những nét cơ bản của Học thuyết Fukuda (1977) nên được gọi là Học thuyết Fukuda II nhằm nâng cao địa vị chính trị và hoạt động kinh tế của Nhật Bản ở Châu Á-TBD.
HỌC THUYẾT HASHIMOTO:
Tháng 1/1997, Thủ tướng Nhật Hashimoto tiến hành chuyến công du thăm 5 nước ASEAN và tại Singapore, ông đã đọc diễn văn quan trọng tuyên bố chính sách Đông Nam Á của Nhật hay còn gọi là Học thuyết Hashimoto với chủ đề: “Biến Kỷ Nguyên Mới của Nhật và ASEAN thành quan hệ đối tác rộng rãi và mật thiết hơn”. Nội dung chính của học thuyết Hashimoto có thể tóm gọn vào 3 điểm chính sau:
(1)       Tăng cường đối thoại giữa Nhật & ASEAN, cụ thể là tiến hành “Hội nghị Cấp cao ASEAN” chính thức hoặc không chính thức.
(2)       Nhật tiếp tục khẳng định sự hiện diện quân sự Mỹ ở Đông Á thông qua sự dàn xếp Mỹ – Nhật, có tác dụng như một “Cơ sở hạ tầng cho sự ổn định và thịnh vượng kinh tế Châu Á – TBD”.
(3)       Ủng hộ nỗ lực của Trung Quốc tham gia cộng đồng quốc tế với tư cách là một đối tác xây dựng.”
Học thuyết Hashimoto, có thể nói đây là lần đầu tiên Nhật Bản bày tỏ tham vọng nâng cao vai trò chính trị của một cường quốc trong khu vực. Đông Nam Á luôn chiếm một vị trí quan trọng trong chiến lược của Nhật Bản. Trong Thế chiến II, Đế quốc Nhật đã đánh chiếm một số nước Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam với mục đích thành lập một “Khu vực Kinh tế Đại Đông Á thịnh vượng” (Greater East Asian Economic Co-prosperity sphere).Tuy nhiên kế hoạch nầy của Nhật đã thất bại và Hoa Kỳ đã áp đặt Hiến Pháp Hòa Bình 1947. Điều 9 Hiến Chương 1947 cấm Nhật sở hữu các lực lượng Hải – Lục – Không quân, cấm xuất cảng vũ khí, cũng như không cho phép đưa quân ra nước ngoài dù là tham gia vào các hoạt động gìn giữ hòa bình (cho đến 1991). Không những thế, Thủ tướng Nhật Sato đã đưa ra 3 nguyên tắc phi hạt nhân. Với những hạn chế như vậy, Nhật không có cách nào tốt hơn là phải hoàn toàn lệ thuộc vào Mỹ và ô dù hạt nhân của Mỹ. Nhật luôn giữ chi phí quân sự ở mức dưới 1% tổng thu nhập quốc dân và dành toàn bộ cho nỗ lực vào tái thiết và phát triển nền kinh tế của mình.
Chính sách tất cả cho phát triển kinh tế của Nhật đã thành công và đưa nước Nhật lên vị trí cường quốc kinh tế thứ 2 thế giới vào thập niên 1980. Đông Nam Á luôn đóng một vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế của Nhật. Đến thập niên 1960, Nhật trở thành bạn hàng chủ yếu của các nước Đông Nam Á và khu vực nầy là nguồn cung cấp chủ yếu nguyên vật liệu cho nền kinh tế phát triển nhanh chóng của Nhật mà không cần biện pháp quân sự như trong Thế chiến II. Tuy nhiên, sự thâm nhập về kinh tế nhanh chóng và chính sách trọng thương của Nhật Bản đã gây ra sự phản đối của các nước ĐNA. Nhật bị coi là kẻ bốc lột tài nguyên thiên nhiên của các nước ĐNA vì lợi ích của mình.
Thái độ bất bình của các nước ASEAN đã cảnh tỉnh Tokyo và khiến Nhật Bản chú trọng đến các khía cạnh khác trong quan hệ Nhật – ASEAN và sẵn sàng đóng vai trò hòa giải giữa ASEAN & Đông Dương (đặc biệt VN), đồng thời Nhật chủ trương thúc đẩy chung sống hòa bình thay vì xung đột. Trong thời gian đó, ODA của Nhật dành cho các nước ASEAN tăng lên một cách đáng kể: Năm 1980 là 703 triệu USD đến năm 1984 tăng lên 2,132 triệu USD. Nói tóm lại, đến cuối những năm 1980 đến đầu năm 1990, Nhật đã có một nền kinh tế áp đảo ở ĐNA, trong khi vai trò chính trị vẫn còn hạn chế và phải phụ thuộc vào chính sách của Mỹ. Cột trụ của Châu Á – TBD của Nhật vẫn là liên minh an ninh Mỹ – Nhật. Việc duy trì liên minh an ninh Mỹ – Nhật tiếp tục phục vụ lợi ích của hai nước trong giai đoạn hiện nay và mục tiêu là sự trỗi dậy hung hăng, ngang ngược của Trung Cộng. Vì vậy, có thể nói chính sách của Nhật Bản đối với Trung Cộng vừa đối thoại, vừa kềm chế thông qua Hiệp ước an ninh Mỹ – Nhật.
Sự ra đời của Học thuyết Hashimoto do những yếu tố tác động đến chính sách an ninh  đối với Nhật Bản. ĐNA trước sau vẫn chiếm một vị trí trung tâm trong việc điều chỉnh chiến lược Châu Á – TBD của Nhật. Song song với những cố gắng cải thiện quan trọng với các cường quốc như Nga, Ấn, Úc…Nhật cũng theo đuổi việc tăng cường quan hệ với ASEAN đặc biệt với Philippines và Việt Nam. Trên thực tế, Nhật Bản có lợi ích đặc biệt không chỉ về kinh tế mà còn về mặt an ninh và chính trị trong việc tăng cường quan hệ với các nước ĐNA. Các nước thuộc khu vực ĐNA có một vị trí chiến lược vô cùng quan trọng đối với Nhật. Hơn 85% nguồn nhiên liệu nhập cảng của Nhật đi qua khu vực eo biển Malacca và Biển Đông, nơi mà các nước ASEAN đang có tranh chấp lãnh thổ với Trung Cộng. Nhật Bản có lợi ích sống còn trong việc duy trì hòa bình và ổn định trên những tuyến đường hàng hải nầy. Ngoài ra, sự ủng hộ của ASEAN rất quan trọng để Nhật có thể đóng một vai trò chính trị đang được mở rộng lớn hơn tại khu vực nầy sẽ góp phần cho hòa bình, ổn định và thịnh vượng cho tất các nước ĐNA.
HỌC THUYẾT “TÂN ĐẠI ĐÔNG Á” CỦA NHẬT BẢN:
Học thuyết “Tân Đại Đông Á” hoàn toàn khác khác hẳn với học thuyết “Đại Đông Á” trong quá khứ của Nhật Bản. Trong bối cảnh mới với sự trỗi dậy “không hòa bình” của Trung Cộng tại Châu Á – TBD. Học thuyết “Tân Đại Đông Á” giờ đây của Nhật Bản là mở rộng liên minh với các nước trong khu vực để chống lại “HÀNH ĐỘNG CƯỚP BIỂN” của Trung Cộng. Điều nầy được khẳng định trong bài viết của Thủ tướng Nhật Shinzo Abe được đăng tải vào ngày 27/12/2013 trên trang phân tách chính trị & kinh tế Project Syndicate.
Trong đó, Thủ thướng Shinzo Abe nêu rõ: “Tôi đã phát biểu tại Ấn Độ về sự cần thiết đối với việc Ấn Độ và Nhật Bản cùng nhau gánh vác trách nhiệm nhiều hơn để đảm bảo an ninh hàng hải xuyên suốt từ Thái Bình Dương đến Ấn Độ Dương,” Thủ tướng Abe không chỉ muốn kiên kết với Ấn Độ mà còn với Australia. Ngoài ra, đối với Hoa Kỳ, ông khẳng định. “Đối với Nhật Bản, không có gì quan trọng hơn việc tái đầu tư cho liên minh với Mỹ.” Dựa vào liên minh như thế, Shinzo Abe vạch ra một chiến liên minh như sau: “Australia, Ấn Độ, Nhật Bản cùng tiểu bang Hawaii của Mỹ tạo thành một “LIÊN MINH KIM CƯƠNG” (vững chắc như kim cương) để bảo vệ cho cộng đồng hàng hải trải dài từ Ấn Độ Dương đến Tây Thái Bình Dương. Tôi chuẩn bị đầu tư với mức tối đa cho khả năng của Nhật Bản trong “liên minh kim cương” này (Không quân Mỹ ở Thái Bình Dương hiện có 9 căn cứ quan trọng từ Alaska, Hawaii đến Guam, Okinawa và Hàn Quốc).
Ngoài ra, Thủ tướng Nhật còn nhấn mạnh sẽ tăng cường quan hệ với các nước Anh, Pháp cùng các nước ĐNA. Ông viết: “Tôi sẽ cùng mời Anh và Pháp trở lại tham gia tăng cường hoạt động an ninh cho Châu Á. Anh Quốc vẫn còn tìm thấy giá trị trong thỏa thuận quốc phòng với 4 nước: Malaysia, Singapore, Australia và New Zealand. Tôi muốn Nhật Bản tham gia nhóm nầy, tham gia tập trận chung. Trong khi đó, Hạm đội Thái Bình Dương của Pháp đóng tại Tahiti,” ông khẳng định. “Sẽ tăng cường an ninh hàng hải với khu vực ĐNA dựa theo quy tắc của “LUẬT PHÁP QUỐC TẾ”. Hãng tin Jiji Press dẫn lời Thủ tướng Abe phát biểu khi thăm Indonesia vào ngày 18/1/2014, cam kết Tokyo trong quan hệ đối tác với ASEAN sẽ nổ lực đảm bảo quản lý các đại dương bằng luật lệ chứ không bằng vũ lực.
Nổ lực liên minh của Nhật Bản, bắt đầu đẩy mạnh các liên minh trên biển từ trước khi đảng Dân chủ Tự Do (LDP) của ông Shinzo Abe trở lại nắm chính quyền. Về vấn đề nầy, tờ The New York Times cuối tháng 11/2012 đăng bài nhận định mang tựa đề: “Nhật Bản đang khẳng định sức mạnh quân sự để đối phó với sự trỗi dậy của Trung Cộng” (Japan is Flexing Its Military Muscle to Counter a Rising China).
Cũng trong tháng 11/12, tại Hội thảo Quốc tế về Biển Đông lần thứ 4, Phó Đô đốc về hưu Hideaki Kaneda, Giám đốc Viện Okazaki của Nhật, đã trình bày tham luận đề cập việc Tokyo tăng cường “LIÊN MINH AN NINH HÀNG HẢI”. Theo đó, Nhật bản đang thúc đẩy 2 hợp tác đa phương hẹp là: “NHẬT – MỸ – ÚC” và “NHẬT – MỸ- ẤN” lần lượt đóng vai trò như trục “Bắc – Nam” và trục “Đông – Tây” để bảo đảm an ninh hàng hải. Theo giới chuyên gia nhận định, Nhật Bản sẽ không dừng lại ở những nỗ lực trên, Chính phủ của Shinzo Abe trong thời gian tới, chắc chắn sẽ thực hiện nhiều hành động mới đáp ứng học thuyết “Tân Đại Đông Á”.
THỦ TƯỚNG ABE ĐÃ THÀNH HÌNH “LIÊN MINH KIM CƯƠNG”:
[1] LIÊN MINH VỚI AUSTRALIA: Ông Kerry Brown, giám đốc Trung tâm Nghiên cứu TC thuộc Đại học Sydney (Úc), nhận định Nhật Bản muốn thiết lập một “LIÊN MINH CHIẾN LƯỢC” với Úc và các nước trong khu vực để chống lại sự bành trướng của TC.
Chỉ vài ngày sau khi Nhật Bản gỡ bỏ lệnh cấm kéo dài 60 năm qua, cho phép thực thi quyền “phòng vệ tập thể”. Thủ tướng Australia là Tony Abbott mô tả mối quan hệ Nhật – Úc là “mối quan hệ rất đặc biệt” trong bối cảnh Châu Á đang đánh giá sự lớn mạnh của TC trong khu vực. Theo AFP, nguyên thủ hai quốc gia sẽ hoàn tất thỏa thuận chuyển giao một tàu ngầm và cho phép quân đội Úc tiếp cận kỷ thuật công nghệ quốc gia bí mật của Nhật Bản. Thủ tướng Shinzo Abe cũng có lịch trình dự cuộc họp của Ủy Ban An ninh quốc gia Úc.
[2] LIÊN MINH VỚI ẤN ĐỘ: G2 mới trên mặt trận chống chủ nghĩa bành trướng Trung Cộng. Do việc Bắc Kinh hành động, ngang ngược, hiếu chiến trên Biển Đông & Hoa Đông khiến Nhật – Ấn tạo thành thế gọng kềm đối đầu với Trung Cộng. Theo Thời Báo Hoàn Cầu, việc New Dehli và Tokyo có những hành động tăng cường bang giao, tập trận hải quân chung ở Đông Hải, nơi đang có tranh chấp chủ quyền quần đảo Senkaku / Điếu Ngư với TC. Trong một tuyên bố chung vào cuối tháng 1/2014 giữa cựu Thủ tướng Ấn Manmohan Singh và Thủ tướng Nhật Shinzo Abe nhất trí thông qua. Trong tương lai, sẽ tổ chức nhiều hơn những cuộc tập trận hải quân để giải quyết những vấn đề hai bên cùng quan tâm. Kế đó, việc tranh chấp Trung Cộng và Ấn Độ tại khu vực thung lũng LADAKH cũng khiến quan hệ song phương rơi vào thế đối đầu quyết liệt.
Giữa tháng 6/2013, Bộ trưởng Quốc Phòng Ấn Độ lần đầu tiên sang thăm Australia. Bộ Trưởng Quốc Phòng hai nước đã đồng thuận nhất trí tăng cường hợp tác quân sự giữa 2 nước. Hai bên lên kế hoạch sẽ tổ chức tập trận chung vào năm 2015 nhằm thúc đẩy giao lưu quân sự giữa hai nước, từ đó nâng sự hợp tác phòng ngự giữa hai nước lên tầm cao: “quan hệ đối tác chiến lược”. Tập trận chung là cơ hội để hải quân Ấn Độ thể hiện sức mạnh của mình. Như vậy, với sự gia nhập của Ấn Độ vào quan hệ chiến lược 4 bên với Australia, Nhật Bản và Mỹ đã giúp Thủ tướng Shinzo Abe hoàn thành một “LIÊN MINH KIM CƯƠNG”.
[3] MỸ – ẤN – NHẬT RẦM RỘ TẬP TRẬN CHUNG:
Mỹ đang điều chỉnh chiến lược toàn cầu và đặt trọng tâm ở khu vực Châu Á-TBD, chiến lược tái cân bằng cán cân quân sự Châu Á của Mỹ nhằm thẳng vào quốc gia trỗi dậy “không hòa bình” là Trung Cộng. Các tàu chiến từ 3 nước sẽ bắt đầu cuộc tập trận chung vào ngày 25/7/2014 sau lễ khai mạc chính thức tại căn cứ hải quân SASEBO ở miền Nam Nhật Bản. Được biết đến với tên gọi cuộc tập trận “MALABAR” là một biểu tượng về sự hợp tác an ninh 3 bên đang ngày một phát triển giữa Ấn Độ, Hoa Kỳ và Nhật Bản.
Tờ Diplomat dẫn báoTimes Of India cho biết, tập trận sẽ diễn ra trước cuộc diễn tập chống khủng bố mang tên Yudh Abhyas giữa Ấn Độ và Mỹ ở Uttarakhand vào tháng 9. Malabar và Yudh Abhyas là 2 cuộc tập trận lớn nhất mà quân đội Ấn tham gia kể từ khi ông Narendra Modi và đảng Bharatiya Janata thắng cử. Theo dự kiến, Hải quân Ấn Độ sẽ đưa 4-5 tàu chiến, bao gồm cả tàu khu trục lớp Rajput và tàu tàng hình lớp Shivalik tham gia diễn tập.
Theo kế hoạch: “Đầu tiên, các tàu chiến sẽ hướng tới cuộc tập trận Indra với Nga ở ngoài khơi Vladivostock và sau đó tới vùng biển bắc Thái Bình Dương vào cuối tháng 7/2014 để tham dự Malibar. Cũng theo tờ Diplomat, cuộc tập trận Malibar bị TC coi là nổ lực nhằm kềm chế nước nầy của Ấn Độ, Nhật Bản và Hoa Kỳ, vì Malibar vẫn được xem là biểu tượng cho sự hợp tác ngày càng lớn mạnh giữa các nền dân chủ lớn nhất và là quốc gia ở Châu Á – TBD.
Năm 2012, Nhật và Ấn Độ cũng đã tổ chức cuộc diễn tập hải quân chung giữa hai nước lần đầu tiên và rõ ràng là cả Thủ tướng Nhật Shinzo Abe và Thủ tướng Ấn Narendra Modi đều muốn tiếp tục xu hướng hợp tác nầy. Thủ tướng Narendra Modi dự định sẽ tới thăm Thủ tướng Shinzo Abe ở Tokyo vào tháng 7 để tăng cường sự quan hệ đối tác chiến lược song phương.
TẠI SAO MỸ BẬT ĐÈN XANH CHO NHẬT DIỄN GIẢI LẠI HIẾN PHÁP?
Sau khi Nhật Bản thông qua chính sách xuất khẩu vũ khí và tháng 6 vừa qua là quyền phòng vệ tập thể, cũng như diễn giải lại Hiến pháp của quốc gia này, cho phép Nhật Bản được sử dụng sức mạnh quân sự và nâng cao sức mạnh này, Washington tỏ ra hoan nghênh nhiệt liệt. Qua kênh ngoại giao, Washington còn bày tỏ đây là một bước đi thông minh và cần thiết của chính quyền Shinzo Abe, nhằm bảo vệ an ninh Nhật Bản cũng như góp phần bảo vệ an ninh chung khu vực. Vậy, vì đâu Mỹ bật đèn xanh cho Nhật Bản tham gia vào thị trường màu mỡ nầy?
Thực tế, Nhật Bản tham gia thị trường vũ khí và tìm lại sự chủ động của quân đội, đây không phải là điều mới được nhắc đến dưới thời kỳ của ông Shinzo Abe mà những Thủ tướng tiền nhiệm đã nhiều lần ấp ủ mục tiêu nầy. Nhưng, chỉ đến khi Shinzo Abe nắm quyền nó mới được thông qua, bởi đảm bảo được hai yếu tố:
[1] Trước hết về nội bộ, chính quyền của ông Shinzo Abe nắm giữ đa số ghế trong Quốc hội lưỡng viện và không khó để những đề nghị của ông được chấp thuận. Nhật Bản mới thoát được sự đấu đá chính trị kéo dài nhiều thập kỷ của các đảng phái.
[2] Về khách quan, Nhật Bản cảm thấy bị Trung Cộng đe dọa an ninh quốc gia nghiêm trọng và Nhật cần chủ động bảo vệ lãnh thổ của mình. Và trên hết, Nhật được Mỹ đồng minh truyền thống và cũng là kẻ chiến thắng họ trong Thế chiến II. Mỹ đã áp đặt Hiến Pháp cho Nhật từ năm 1945 đến nay đã đồng chấp thuận. Trong đó, Mỹ cũng đạt được nhiều quyền lợi.
Theo ông John Thomas Didymus phân tích trên trang Allvoices của Mỹ, việc Hoa Kỳ không thừa nhận “Khu nhận diện Phòng không ADIZ” của Trung Cộng trên biển Hoa Đông, khiến nhiều chuyên gia TC cho rằng, Washington đang xúi bẫy một cuộc “xung đột hạn chế” giữa Bắc Kinh và Tokyo trong nổ lực làm tê liệt ảnh hưởng đang trỗi dậy của TC trong khu vực Tây Thái Bình Dương. Một chuyên gia Tàu Ma Shikun tin rằng, Washington muốn phát động một cuộc “Chiến tranh Ủy Nhiệm” giữa TC và Nhật Bản, muốn dùng sức mạnh của Nhật để kềm chế TC.
Phân tách bài viết của ông John Thomas Didymus nhận định rằng:
(1)       Nhật Bản sẽ được xem như một đối trọng được Mỹ ủy nhiệm nhằm ngăn chận, không để TC trở thành một quyền lực hải dương toàn cầu.
(2)       Dùng Nhật Bản kiềm chế TC tại khu vực Châu Á-TBD có thể làm giảm nguy cơ leo thang, bởi vì một cuộc xung đột Trung – Nhật có thể được xem như một cuộc đột hạn chế trong khu vực, nếu Mỹ không muốn trực tiếp dính líu. Bằng cách nầy, Washington có thể bảo đảm một cuộc xung đột có giới hạn, cho phép làm suy yếu nghiêm trọng sức mạnh hải quân TC mà không lo nguy cơ xảy ra chiến tranh hạt nhân hoặc leo thang căng thẳng địa chính trị.
(3)       Với một cuộc chiến tranh ủy nhiệm mà Trung – Nhật đối đầu, Mỹ chỉ cần đứng sau ủng hộ. Washington sẽ thúc đẩy Nhật Bản tăng cường sức mạnh hải quân lên tới mức độ cho phép, nếu một cuộc xung đột thực sự bùng nổ, nó chỉ cần đòi hỏi sự yểm trợ giới hạn của Mỹ để bảo đảm đạt được mục tiêu chiến lược.
(4)       Sức mạnh hải quân TC rất dễ tổn thương và có thể dễ bị Nhật đánh bại bằng cách Mỹ cung cấp, trợ giúp siêu công nghệ quân sự cho Nhật Bản để họ gánh vác công việc này giúp cho Mỹ kềm chế sự trỗi dậy của TC.
Ngoài ra, Mỹ còn muốn Ấn Độ “ĐÔNG TIẾN” liên minh chặt chẽ với Nhật Bản làm thành thế “GỌNG KỀM CHIẾN LƯỢC” chống chủ nghĩa bá quyền, bành trướng của Bắc Kinh. Kể từ mùa thu năm 2011 cho tới nay, Washington luôn coi trọng sự hợp tác với Ấn Độ. Ý đồ của Mỹ là muốn dựa vào Ấn Độ để ngăn chận sự trỗi dậy của TC, Mỹ tích cực hổ trợ Ấn Độ về mặt quận sự để phát huy vai trò “Đông Tiến” liên minh với Nhật Bản làm thành thế gọng kềm chiến lược chống Trung Cộng. Ấn Độ được Mỹ đánh giá cao là một trong những cường quốc quân sự hàng đầu tại khu vực Châu Á-TBD đang nỗ lực không ngừng cho thấy tiềm lực quân sự tương xứng với vị thế, có thể đạt ngang tầm với tham vọng biển của Trung Cộng.
Theo nhận định của Thiếu tướng (về hưu) Raja Menon: “Tàu ngầm và HKMH của Ấn Độ sẽ đánh sập “kinh tế” TC. Theo ông, Ấn Độ chỉ cần không chế được tuyến giao thông hàng hải trên Ấn Độ Dương, Hải quân Ấn Độ có thể đánh sập nền kinh tế TC.”
KẾT LUẬN:
“Giấc Mơ Chệt” của Tập Cận Bình sẽ phá sản khi phải đối đầu với học thuyết “TÂN ĐẠI ĐÔNG Á” và “LIÊN MINH KIM CƯƠNG” của Thủ tướng Nhật Bản  Shinzo Abe. Hoa Kỳ, Ấn Độ, Nhật và Australia bủa vây, phong tỏa khắp nơi. Nếu tháo gở yếu tố Mỹ ra khỏi thế trận bao vây Trung Cộng. Chỉ riêng gọng kềm chiến lược Nhật Bản – Ấn Độ tại Châu Á-TBD đã làm cho con rồng giấy Trung Cộng khó khăn vùng vẫy. Nếu chiến tranh thực sự bùng nổ gữa Trung – Nhật, chưa cần thiết Hoa Kỳ nhập cuộc, mà chỉ cần lực lượng vũ trang của Ấn Độ mở mặt trận tấn công toàn diện dọc trên biên giới Ấn – Trung, đồng thời dùng ưu thế HKMH của mình phong tỏa eo biển Malacca thì Bắc Kinh sẽ lâm vào thế “LƯỠNG ĐẦU THỌ ĐỊCH” và chắc chắn Hải quân Trung Cộng sẽ đại bại. Rõ ràng, chủ nghĩa bành trướng, bá quyền sẽ không có lợi cho tương lai của Bắc Kinh…
                  NGUYỄN VĨNH 

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Đối đầu thách thức Trung Quốc: Phương án Nhật Bản của Australia


Tác giả: Evelyn Goh | Biên dịch: Lê Hoàng Giang
Abeaustralia
Australia có thể đang bỏ quên mất chiến lược lâu dài bằng cách ủng hộ Nhật Bản chống lại đối tác thương mại hàng đầu của mình – Trung Quốc.
Kể từ khi nhậm chức vào năm 2012, Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe đã chuẩn bị nhiều sửa đổi có tính quyết định về những hạn chế sử dụng vũ lực trong hiến pháp Nhật Bản. Ông cũng đã không ngừng tìm kiếm sự ủng hộ từ quốc tế chống lại những yêu sách của Trung Quốc trên vùng biển Đông Á. Ông đã hoàn thành trọn vẹn 18 tháng ngoại giao con thoi quanh khu vực Đông Nam Á và có một chuyến thăm lịch sử kéo dài một tuần đến Australia.
Hai nước đã ký một thỏa thuận nghiên cứu quốc phòng được cho là sẽ tạo điều kiện thuận lợi để Nhật Bản chuyển giao công nghệ tàu ngầm cho Australia.
Thỏa thuận quốc phòng này được ký là nhờ nội các của ông Abe đã nới lỏng việc cấm xuất khẩu vũ khí của Nhật Bản vào tháng 4. Australia giờ đây, giống như Mỹ và Anh, có thể được tiếp cận đặc biệt với các chương trình liên kết phát triển vũ khí cùng với Nhật Bản. Ngay sau khi nội các cho phép ông Abe tái diễn giải hiến pháp và cho phép các lực lượng vũ trang Nhật Bản tham gia “phòng vệ tập thể” – trợ giúp các đồng minh khi bị tấn công bởi một kẻ thù chung – thỏa thuận này đã làm gia tăng lo ngại rằng Australia đang muốn đi đến một hình thức liên minh với Nhật Bản. Dù đầu tiên là nhằm hỗ trợ chiến lược “tái cân bằng” của Mỹ tại châu Á, việc này thực chất là hành động để kìm hãm Trung Quốc.
Việc chính quyền Abbott đón nhận niềm nở những “khúc dạo đầu” trên lĩnh vực kinh tế và an ninh từ ông Abe đặt ra ba thách thức nổi bật mà tất cả các quốc gia Đông Á đều phải đối mặt trong bối cảnh chuyển giao chiến lược hiện nay:
Thứ nhất, làm thế nào để các quốc gia này có thể trục lợi tối đa từ sự tăng trưởng của Trung Quốc trong khi vẫn kiềm chế được những yêu sách của nước này? Làm thế nào để cân bằng được giữa việc ủng hộ ưu thế vượt trội và vai trò răn đe của Mỹ, trong khi đặt Trung Quốc một cách hòa bình vào trong trật tự khu vực?
Nhật bản, Hàn Quốc và nhiều nước Đông Nam Á đã phải trăn trở với những vấn đề này từ khi Trung Quốc bắt đầu cải cách kinh tế vào cuối những năm 1980, nhưng Australia rơi vào tình thế tiến thoái lưỡng nan chiến lược trọng tâm này tương đối muộn. Hơn bất kỳ đồng minh nào khác của Mỹ trong khu vực, Australia luôn bám sát vào một bản sắc chiến lược – được hình thành qua việc tham gia vào mọi cuộc xung đột của Mỹ kể từ năm 1914 – trong đó đặt ưu tiên vào việc tạo liên minh và gây dựng quan hệ thân cận với Mỹ. Mặc dù có các liên kết kinh tế đang phát triển tốt đẹp, Canberra vẫn thể hiện rõ ràng một khoảng cách địa lý và chính trị với châu Á và Trung Quốc.
Một số người ở Australia vẫn tin rằng họ không nhất thiết đang trao vật làm tin cho Trung Quốc dưới hình thức những liên kết kinh tế đó: Các tập đoàn Australia đầu tư tương đối ít tài sản không di động vào Trung Quốc, và vẫn còn nhiều phương án thay thế khác có thể trở thành thị trường cho những mặt hàng xuất khẩu chủ đạo của Australia. Ví dụ, trong 4 hoặc 5 tháng đầu năm nay, lượng quặng sắt từ Australia chiếm 55% tổng lượng quặng sắt nhập khẩu của Trung Quốc và 61% của Nhật Bản, hầu hết đều được khai thác từ vùng Pilbara ở phía Tây Australia nơi hai thủ tướng đã đến thăm. Ngoài ra, ba phần tư lượng khí đốt hóa lỏng xuất khẩu của bang Tây Australia vẫn được bán cho Nhật Bản.
Các đối tác thương mại hàng đầu của Australia
Hơn thế nữa, do nóng lòng muốn tự phân biệt với quan điểm được cho là quá ủng hộ Trung Quốc của chính quyền tiền nhiệm, chính quyền liên minh của ông Abbott có vẻ đã chuyển sang hướng trái ngược hoàn toàn. Chính quyền này đã công khai cùng với Nhật Bản và Mỹ chỉ trích những yêu sách biển đảo của Trung Quốc tại cuộc đối thoại cấp bộ trưởng quốc phòng Shangri-La tại Singapore vào tháng 6, và Ngoại trưởng Julie Bishop khẳng định thẳng thắn vào tuần trước rằng Australia sẽ “đương đầu với Trung Quốc để bảo vệ hòa bình, các giá trị tự do và pháp quyền”. Tiếp sau đó là những lần lên tiếng chống lại Trung Quốc, trong đó có việc bà chỉ trích công khai việc Trung Quốc tuyên bố lập một Vùng Nhận dạng Phòng không (ADIZ) trên một số vùng thuộc biển Hoa Đông vào năm 2013, những lời chỉ trích mà theo bà sẽ không gây hậu quả gì đến quan hệ kinh tế giữa Australia và Trung Quốc.
Tỏ ra quả quyết với Trung Quốc khác rất nhiều so với việc tạo cơ sở cho một liên minh đối trọng cùng Nhật Bản để chế ngự Trung Quốc. “Nghiêng hẳn” về phía Nhật, như ông Abe đã thúc giục, sẽ dẫn đến một số lựa chọn cụ thể cho Australia. Ngoài việc giúp tăng cường liên minh chung giữa hai nước này với Mỹ, một bước đi như vậy thực chất nghĩa là đặt cược vào khả năng Nhật Bản mang trên vai gánh nặng chiến lược trong tương lai không quá xa, mặc cho những hạn chế kinh tế, chính trị và dân số của nước này. Ngoài ra hành động đó cũng sẽ bao gồm việc trông chờ vào khả năng Australia hoặc giành được phần từ “miếng bánh” Trung Quốc – hoặc sẽ phải chịu mất đi thiện cảm của nước này.
Thách thức thứ hai là liệu những phức tạp chiến lược ngày càng gia tăng tại Đông Á có thể được giải quyết nếu các quốc gia trong khu vực đóng vai trò lớn hơn hay không. Vấn đề cấp bách này đã gây ra nhiều quan ngại về cam kết lâu dài của Mỹ đối với khu vực, dù vì ý đồ chính trị, khó khăn kinh tế hay do sự phân tâm của Mỹ sang những khu vực khác.
Trong nhiệm kỳ thủ tướng đầu tiên bị gián đoạn vào thời kỳ 2006-07 của mình, ông Abe đã có một tầm nhìn ngoại giao với chiến lược thúc đẩy một “vòng cung tự do và thịnh vượng”, liên kết Nhật Bản với những nền dân chủ lớn khác như Ấn Độ, Australia, Mỹ và Liên minh Châu Âu. Nỗ lực này đã thất bại một phần vì thiếu sự hưởng ứng nhiệt tình từ các bên khác. Lần này, ông Abbott đã hưởng ứng.
Nhưng không như trước đây, chính quyền Abe lần này sẽ không đồng thời xích lại gần với Trung Quốc; thay vào đó, chính quyền Abe có vẻ đang tìm kiếm những đối tác khu vực đa dạng hơn để cùng chống lại những yêu sách của Trung Quốc. Ông Abe đã nâng cấp một chuỗi các cuộc trao đổi quốc phòng và đối thoại chiến lược với các quốc gia Đông Nam Á chủ chốt kể từ năm 2010. Chính quyền của ông đang hỗ trợ tăng cường khả năng hàng hải của khu vực, như cung cấp tàu tuần tra cho lực lượng Tuần Duyên Philippines, và tăng gấp đôi ngân sách viện trợ quân sự cho Indonesia và Việt Nam.
Dựa trên nền tảng như vậy, nếu muốn nghiêm túc theo đuổi một mối quan hệ đối tác phòng vệ sâu sắc hơn với Nhật Bản thì chính phủ Abbott cần vạch ra một đường thẳng cắt ngang qua khu vực và kết nối hai đồng minh của Mỹ thành một thế trận tập trung giả định đối đầu Trung Quốc. Điều này sẽ hình thành nên một trục liên kết hai kẻ ngoài lề, vốn trước đây đã từng cố bỏ qua sự quan tâm đối với khu vực vì những lý do văn hóa và địa chính trị. Hai nước này sẽ đứng trái ngược hoàn toàn với hầu hết các quốc gia châu Á khác – đặc biệt là Hàn Quốc, Việt Nam và thậm chí là Ấn Độ – những nước đều không muốn phải chọn phe. Những nước đó không thể nào tránh được việc có vị trí địa lý ở gần Trung Quốc hay có số phận đan xen với Trung Quốc.
Một liên minh Australia – Nhật Bản sẽ kết thúc chiến lược “phòng bị nước đôi” (hedging) phổ biến mà các nước Đông Á đã cố duy trì trong hai thập kỷ qua giữa Mỹ và Trung Quốc. Dù vậy, về trung hạn, quan hệ đối tác phòng vệ song phương như vậy không có khả năng răn đe hiệu quả nếu không có những cam kết quân sự của Mỹ trong khu vực.
Điều này dẫn đến thách thức chiến lược thứ ba cho Đông Á: vấn đề hóc búa liên quan đến Nhật Bản. Một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến thỏa thuận hòa bình kỳ lạ sau Chiến tranh Thế giới lần thứ 2 cho Nhật Bản chính là nhằm ngăn chặn các quốc gia Đông Á tạo lập các liên kết đa phương và tham gia vào hình thức cân bằng quyền lực này. Mỹ đã chen vào giữa Nhật Bản và các quốc gia còn lại trong khu vực, đặc biệt là Trung Quốc, bằng cách đồng thời thực hiệnhai biện pháp bảo đảm. Một mặt, nước Nhật bại trận bị kiềm chế bằng cách sử dụng hiến pháp để ngăn Nhật Bản tham gia chiến tranh, đồng thời buộc Nhật phụ thuộc vào Mỹ về an ninh bên ngoài. Mặt khác, Mỹ tăng cường sự hiện diện quân sự trong khu vực nhằm răn đe những nguy cơ đe dọa an ninh Nhật Bản trong khu vực.
Thỏa thuận có lợi đôi bên như vậy đã không còn nữa: Với sự mở rộng từng bước cả về quy mô và phạm vi các hoạt động quân sự của Nhật Bản ở nước ngoài – được kích động một phần do sự trỗi dậy của Trung Quốc về quân sự – kể từ sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, người Trung Quốc không còn tin rằng liên minh Mỹ-Nhật là để kìm hãm Nhật Bản, mà thay vào đó là cơ sở để tái quân sự hóa nước Nhật. Để đáp lại, chính phủ Trung Quốc đã chính trị hóa vấn đề lịch sử với Nhật Bản và củng cố lập trường về các tranh chấp biển đảo. Người Nhật coi sự đối kháng ngày càng cao của Trung Quốc là bằng chứng cho thấy sức răn đe của Mỹ có thể sẽ không thể duy trì. Việc Trung Quốc và Nhật Bản không phải trực tiếp đối đầu nhau trong suốt 70 năm nhờ vai trò trung gian của Mỹ cũng không giúp tình thế an ninh rắc rối ngày càng leo thang đó tiến triển được chút nào. Bằng cách nghiêng cán cân về Nhật Bản, các bên thứ ba đã làm vòng xoáy mất an ninh cốt lõi này trở nên trầm trọng hơn.
Việc Trung Quốc và Nhật Bản ngày càng xa lánh nhau và tình thế tiến thoái lưỡng nan an ninh Mỹ-Nhật-Trung được giải quyết bằng cách nào có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự ổn định của khu vực. Đối với nhiều quốc gia châu Á hiện nay, vấn đề an ninh hàng đầu là làm cách nào để ngăn chặn hoặc thuyết phục Trung Quốc không tiếp tục đẩy xa hơn các yêu sách biển đảo của mình. Nhưng việc đứng về phía Nhật Bản đối đầu Trung Quốc về bản chất là khác biệt hẳn so với ủng hộ Mỹ đứng đầu khu vực. Australia và các quốc gia Đông Á khác cần phải tập trung vào bức tranh toàn cảnh chiến lược khi đưa ra các quyết định có hay không và làm cách nào để tăng cường hợp tác quốc phòng với Nhật Bản.
Evelyn Goh là Giáo sư Nghiên cứu Chính sách Chiến lược tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược & Quốc phòng thuộc ĐH Quốc gia Australia. Email: evelyn.goh@anu.edu.au
Bản gốc tiếng Anh: Yale Global
- See more at: http://nghiencuuquocte.net/2014/08/01/doi-dau-thach-thuc-trung-quoc-phuong-an-nhat-ban-cua-australia/#sthash.Jrh7QzQb.dpuf

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Vietnam Airlines lỗ gần 700 tỉ đồng vì giàn khoan Hải Dương

Các vụ tai nạn hàng không liên tiếp xảy ra trên thế giới đã có những tác động nhất định đến tâm lý hành khách, làm giảm nhu cầu đi lại, nhất là du lịch của người dân... Thanh Niên vừa phỏng vấn Phó tổng giám đốc Vietnam Airlines (VNA) Phan Xuân Đức (ảnh) về ảnh hưởng của những sự cố này đến hoạt động của hãng. Ông Đức cho biết:
Hàng không vẫn là loại hình vận tải an toàn nhất
Theo ông Lại Xuân Thanh, Cục trưởng Cục Hàng không VN, nhìn lại các vụ tai nạn liên tiếp xảy ra gần đây, đa phần đều do yếu tố khách quan tác động nên hành khách trên thế giới chưa đến mức quay lưng lại với ngành hàng không. Với hàng không một tai nạn là quá nhiều, nhưng có thể thấy từ năm 2006 đến nay, theo thống kê của ICAO, tỷ lệ tai nạn trên chuyến bay của hàng không thế giới là 3 - 4/1 triệu chuyến bay. Hệ thống đảm bảo an toàn của hàng không rất chặt chẽ, hàng không vẫn là loại hình vận tải an toàn nhất. M.Hà (ghi)
Có một số thời điểm có tác động khá mạnh đến tâm lý hành khách. Các sự cố liên tiếp sau đó cũng gây nhiều ảnh hưởng, không chỉ với tâm lý hành khách mà cả đội ngũ tiếp viên của các hãng hàng không. Tôi cũng đang phải chuẩn bị thuyết trình với 2.000 tiếp viên và đội ngũ phi công của hãng để họ yên tâm về quy trình, mức độ an toàn kỹ thuật của VNA.

Ảnh hưởng của các vụ tai nạn máy bay liên tiếp trên thế giới có khiến mức độ khai thác, doanh thu của VNA bị giảm mạnh không, thưa ông?

Cũng có những tác động mạnh làm tăng nhiên liệu, tăng chi phí. Cụ thể, việc điều chỉnh đường bay để tránh diễn biến chiến sự và tránh hoàn toàn không phận Ukraine đã khiến hành trình bay xa hơn, thời gian bay tăng thêm 10 phút đối với các đường bay đến Frankfurt/Charles de Gaulle/Gatwick, dầu phải tra nạp thêm gần 3 tấn, tải thương mại giảm khoảng 500 kg và làm tốn thêm khoảng 10 tỉ đồng mỗi tháng, tương đương nửa triệu USD.

Tuy nhiên, thảm họa nổ máy bay MH17 cũng không làm giảm lượng khách bay đột ngột như vụ Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương-981 (Haiyang Shiyou-981) trong vùng biển VN hồi đầu tháng 5. Chúng tôi tính là từ thời điểm đó đến nay mất trên 700 tỉ đồng doanh thu. Đó là sự mất cân đối nghiêm trọng. Chưa năm nào xảy ra tình trạng đó. Mức sụt giảm doanh thu chủ yếu là các chuyến bay đi/đến Trung Quốc, thứ nhì là Hồng Kông, thứ ba là Đài Loan. Hiện nay sau khi Trung Quốc rút giàn khoan đi thì các đường bay đến Hồng Kông và Đài Loan đã hồi phục.

Tình trạng sút giảm doanh thu mạnh như vậy có ảnh hưởng đến kế hoạch phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO) của VNA cuối năm nay không?

Chúng tôi hy vọng từ nay đến cuối năm vẫn đảm bảo cân đối cả năm. Hiện nay vẫn quyết tâm không điều chỉnh kế hoạch. Kế hoạch IPO của chúng tôi vẫn sẽ tiến hành như dự kiến. Hiện tại, chúng tôi đã hoàn thành báo cáo phương án cổ phần hóa, Bộ Giao thông vận tải cũng đã thông qua và chúng tôi đang chờ Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

Nếu có ảnh hưởng đến IPO là ảnh hưởng do kết quả sản xuất cuối năm. Vụ giàn khoan Hải Dương-981 tháng 5, tháng 6 làm chúng tôi lỗ mất gần 700 tỉ đồng, do vậy 6 tháng đầu năm chúng tôi chỉ lãi 100 tỉ đồng trước thuế. Hai tháng thôi mà nó làm mất gần hết thành quả của 4 tháng trước.

Mạnh Quân (thực hiện)
http://www.thanhnien.com.vn/pages/20140801/vietnam-airlines-lo-gan-700-ti-dong-vi-gian-khoan-hai-duong-981.aspx
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Luật sư Định nói gì?



Nhân sự việc Luật sư Nguyễn Đăng Trừng bị Đảng CS khai trừ

Luật sư Lê Công Định

Nhân sự việc Luật sư Nguyễn Đăng Trừng bị khai trừ khỏi Đảng CS, tôi nhớ lại một giấc mơ kỳ lạ đã đến với tôi vào đêm thứ hai sau ngày bị bắt. Trong giấc mơ, tôi gặp Luật sư Triệu Quốc Mạnh và được mời đi ăn tối. Bữa ăn chưa kịp bắt đầu, bỗng LS Trừng đến ngồi cùng bàn. Thế là tôi được dịp ngồi ăn và trò chuyện cùng lúc với hai vị sếp cũ. LS Mạnh ít nói, chỉ nhìn như chia sẻ nỗi niềm của tôi. Còn LS Trừng khuyên một câu thật giá trị: “Trên võ đài khi bị đối thủ đánh ngã, cố gắng đừng để bị gục hẳn và hãy tìm cách đứng lên. Trụ lại được, nếu thời cơ đến với mình, sẽ đến lượt đối thủ phải gục!”


Tỉnh giấc mộng, tôi kinh ngạc về lời khuyên vô giá đó. Từ lúc ấy cho đến lúc bước chân ra khỏi tù, tôi đều hành động theo phương châm của LS Trừng, vị thủ lĩnh thực sự của giới luật sư Sài Gòn. Nhiều người quen tôi đã trách ông khai trừ tôi khỏi Đoàn Luật sư theo yêu cầu của phía công an chỉ vài ngày sau khi nổ ra vụ án của tôi, dù tòa án chưa tuyên. Tôi hoàn toàn không trách cứ, trái lại rất thông cảm với ông, dẫu rằng ngày cầm quyết định khai trừ mình trong tù, tôi đã nghẹn ngào, rớm nước mắt, vì dù sao cho đến thời điểm ấy tôi cũng đã gắn bó với nghề luật gần 20 năm, nhiều vinh quang và cay đắng. Ông cùng vài luật sư đồng nghiệp đã nhiều lần vào tù thăm tôi mỗi dịp gần Tết, mang đến niềm tin và hy vọng cho tôi giữa những năm tháng tăm tối. Tôi vẫn mãi cảm kích về tình nghĩa ấy.


Năm 1989 tốt nghiệp trường luật, tôi làm việc vài tháng tại Phòng Công chứng Nhà nước duy nhất vào lúc đó, rồi chuyển sang làm trợ lý riêng cho LS Triệu Quốc Mạnh, Chủ nhiệm Đoàn Luật sư đương thời. Năm 2005, đắc cử chức vụ Phó Chủ nhiệm sau một cuộc tranh cử bất thần tại Hội nghị toàn thể, tôi trở thành phó của LS Nguyễn Đăng Trừng, Chủ nhiệm Đoàn Luật sư khi ấy. Do làm việc thân cận, nên tôi đã học hỏi được nhiều từ hai vị luật sư đàn anh của mình, không chỉ về nghề nghiệp, mà còn trong tranh đấu chính trị. Cả hai ông, tuy tính cách khác biệt nhau, song đều là các bậc thầy về nghệ thuật “khiêu vũ giữa bầy sói” mà vẫn giữ được tinh thần độc lập và nhân cách của mình để không biến hẳn thành sói. Tất nhiên, tôi chưa bao giờ là thành viên của bầy sói, nhưng cũng đã ứng dụng phần nào nghệ thuật ấy trên con đường chính trị của mình.

Năm 2008 Ban Chủ nhiệm Đoàn Luật sư Sài Gòn đã chịu một áp lực lớn từ “bên trên” để cản trở tôi tiếp tục ứng cử chức vụ Phó Chủ nhiệm thêm một nhiệm kỳ nữa. Tôi nói với LS Trừng và các vị phó khác rằng tôi giữ chức vụ này để có thêm điều kiện khai triển lý tưởng nghề nghiệp luật sư tại Việt Nam, chứ không phải vì danh vọng gì. Do đó, tôi đã chủ động rút lui để các đồng nghiệp của tôi không bị khó xử trước sự can thiệp vô lối vào hoạt động độc lập và tự quản của đoàn luật sư.


Trong bối cảnh xã hội ở Việt Nam bấy lâu nay, tìm một vị thủ lãnh luật sư đoàn sẵn sàng đương đầu, chống lại sự can thiệp thô bạo từ phía Đảng CS và chính quyền để bảo vệ sự độc lập và tự quản của giới luật sư trong khả năng có thể như LS Nguyễn Đăng Trừng đã làm, thì thật là mò kim đáy bể. Lý do ông tham quyền cố vị dù đã cao niên chỉ là cớ để người ta buộc ông rút lui. Vì vậy việc ông bị khai trừ khỏi Đảng CS là điều dễ hiểu. 


Những gương mặt mà người ta sắp xếp để chuẩn bị thay thế ông, dù trẻ hơn, là bầy tôi chỉ biết khúm núm và vâng dạ. Bỏ phiếu ủng hộ những gương mặt ấy, giới luật sư Việt Nam sẽ trông mong gì cho tương lai và liệu còn đủ xứng đáng với niềm tự hào nghề nghiệp của mình chăng? Không dám phản kháng cường quyền thì tự cởi áo mão luật sư quăng xuống đất cho rồi!

Phần nhận xét hiển thị trên trang