Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Sáu, 11 tháng 7, 2014

Bùi Ngọc Tấn và khối u

Xang Hứng

Nhà văn Bùi Ngọc Tấn (tóc bạc, ngồi) và bạn bè. Ảnh: tác giả cung cấp.
Nhà văn Bùi Ngọc Tấn (tóc bạc, ngồi) và bạn bè. Ảnh: tác giả cung cấp.
Bài của anh Xang Hứng.
Tết  Giáp Ngọ 2014 lão Bùi Ngọc Tấn vui lắm.
Bước qua tuổi 80, gánh hành trang lão mang theo nhẹ tênh. Thời gian đã cất khỏi vai lão cả những tốt đẹp và thối nát, những chân thành và giả dối, những tiếng cười đắng cay, những hy vọng và tuyệt vọng, cả “5 năm tù dài hơn 1 kiếp người”.

“Thật may, lão cũng còn vớt vát lại chút ít. Rất ít. Trong tiểu thuyết và mấy truyện ngắn. Hy vọng nó sẽ là một cái bong bóng nhỏ cùng với nhiều bong bóng khác nổi lên trên mặt hồ tĩnh lặng của ký ức dân tộc về một thời mọi người đều có thể bị biến đổi gien.”*
Hai cái đầu gối, “một bộ phận không nhỏ” trong cái thân thể nhỏ bé của lão bỗng như hết đau, hồi sinh khi bạn bè đến thăm và chúc Tết gia đình họ. Vợ lão, người đàn bà nhỏ thó nhưng rất mạnh mẽ, can đảm, thủy chung, cả đời chỉ biết đau cùng nỗi đau, hạnh phúc cùng niềm hạnh phúc của chồng. Trên môi bà luôn nở nụ cười, nụ cười đã giúp cho lão tồn tại, rồi hồi sinh trở về từ ngục tối.
Cái Tết vừa đi qua, lão sững người ngạc nhiên khi biết Nhà xuất bản Trẻ đề nghị in những tác phẩm của lão thành “tuyển tập”. Vui thì có vui nhưng đêm nằm lão nghĩ, làm chó gì có nhiều niềm vui đến cùng một lúc như vậy. Quả là một sự vô lý vĩ đại, quá sức tưởng tượng của “Người chăn kiến” : Bùi Ngọc Tấn !
Lão đã vào tù bằng cái tội danh bị “người ta” gán cho. 46 năm trước, thứ sáu, mùng 8 tháng 11 năm 1968, khi tỉnh dậy trên giường vẫn còn là người tự do. Vài giờ sau, lão đã được nhận suất cơm tù lạnh ngắt đặt ngay dưới đất, cùng phần nước uống đựng trong cái bô sắt han rỉ.
5 năm sau ra tù, lão “tự thú” bằng cuốn tiểu thuyết “Chuyện kể năm 2000″. Đứa con tinh thần của lão chưa đầy tháng thì nó lại bị người ta bỏ tù.
Những tưởng đến cái tuổi này thì chẳng còn gì làm lão ngạc nhiên, ấy thế mà khi đối diện với những niềm vui đến liên tiếp, lão đã sướng đến mất ăn mất ngủ. Rít thuốc lá cả ngày, nghĩ ngợi cả ngày, phải có nguyên cớ gì chứ, lão cố tìm hiểu.
Thế rồi lão phát ho phét hen. Ho sù sụ, ho như Cuốc, ho ngày, ho đêm. Bao nhiêu thuốc Đông, thuốc Tây, thuốc lá, rồi cả chữa mẹo cũng không làm cơn ho buông tha lão. Suốt mấy tháng ròng, vợ con đưa lão đi khám khắp các bệnh viện, nghe ngóng ở đâu có bác sỹ giỏi là đến ngay. Cuối cùng, có anh bác sỹ đề nghị lão đi chụp CAT (Computed Axial Tomography) phổi.
Vừa đặt lưng trên CAT, lần đầu tiên sau nhiều ngày thức trắng, lão ngủ, ngủ say. Hôm đó là tháng 5/2014.
Cầm tấm phim và tờ kết quả, cô con gái lớn của lão khóc ngất: “Trên cửa sổ trung thất: Tổn thương nốt đơn độc đỉnh phổi trái KT 18,5 x 18,3mm, bờ đều, ranh giới rõ, tỷ trọng mô sau tiêm thuốc cản quang khối ngấm thuốc khá mạnh…”. Gần đây, Hải Yến, con gái lão mới tâm sự: “Hai năm ăn kiêng không làm con giảm được cân nào, thế mà cái khối u trong phổi bố giúp con giảm 4 kg trong vòng chưa đến 1 tháng”.
Thêm một lần nữa, bà vợ chung thủy, nhỏ thó lại đồng hành với lão trong biến cố mới.
Thì ra nguyên nhân là đây. Có thế chứ, một lần nữa lão lại phải trả giá cho đời sống, lần này thì bằng những nguy cơ có thật, cái nguy cơ có kích thước 18,5 x 18,3mm đã “hạ đặt” trái phép trong buồng phổi lão, một cơ quan có tầm quan trọng sống còn của con người. Lại thêm một lần nữa, “Nằm co trên giường, ông nghĩ tới vũ trụ không cùng…” *
Năm 2006, sau hơn 40 năm được thoát khỏi cái “nhà tù nhỏ”, lão có dịp trở lại thăm trại Hoành Bồ, một trong những trại lão đã “sống” qua 5 năm thời trai trẻ. “Một thèm muốn, một khát khao như thèm muốn khát khao được trở lại mảnh sân, góc vườn thời thơ ấu: Ao ước được trở lại những trại giam, những nhà tù tôi đã sống. Những nơi ấy là một phần cuộc đời mình, đã góp phần hình thành mình cả về xương thịt lẫn tâm hồn, không thể thiếu, không thể tách rời. Càng về già, càng đến gần cái kết thúc tất yếu càng mong được một lần trở lại. Không phải quê hương, nhưng là một cõi, cõi mình trải qua một kiếp, để rồi sống tới đáy tuyệt vọng của một kiếp người”*
Lão đã trở về, không phải để căm hận những kẻ đã đầy đọa mình, nhưng để có thể quên, để tha thứ, để xóa đi những ám ảnh tuyệt vọng khi đã về già, để tiếp tục sống bên những người thân yêu, bè bạn. Để viết, để được tiếp tục trò chuyện cùng “Chữ”, người bạn chung thủy của lão, những “chữ vô hình, những chữ hoài thai trong ngục tối, trong lao động khổ sai để rồi sinh nở trên giấy trắng mấy chục năm sau đó, một cuộc hoài thai kéo dài hơn nửa kiếp người. Chữ trò chuyện cùng tôi, động viên tôi vượt qua cái chết lâm sàng, an ủi tôi mỗi khi tôi tuyệt vọng.” *
“Có những điều hắn tưởng không bao giờ quên được. Ấy thế rồi hắn đã quên”.*
Lần này thì lão cùng gia đình có toàn quyền quyết định. Tháng 6/2014, Bùi Ngọc Tấn cùng vợ vào Sài Gòn ở với cô con gái.
Tác giả Xang Hứng và bác Bùi Ngọc Tấn. Ảnh: tác giả cung cấp.
Tác giả Xang Hứng và bác Bùi Ngọc Tấn. Ảnh: tác giả cung cấp.
Lão bảo với tôi: “Anh rất thoải mái trong tinh thần, được sống đến ngày hôm nay là lãi lắm rồi, cho dù có xảy ra điều gì thì anh cũng đã được sống một cuộc đời thú vị, có một gia đình yêu thương, nhiều bạn bè tốt. Khi nghe anh có khối u, bạn đọc, người thân đã tận tình giúp anh, tìm đủ mọi cách tốt nhất cho anh để chữa bệnh. Anh đã bàn với chị và các con, sẽ lại một lần nữa chung sống với cái khối u quái ác này”.
Tôi hiểu rằng lão đã chọn thái độ tiêu cực nên hỏi: “Nếu biết chắc khối u trong phổi là u lành, anh sẽ làm gì ?”
Nở nụ cười hiền lành và tươi rói, lão trả lời ngay: “Anh sẽ ra Hải Phòng, và …Viết, anh có rất nhiều ý tưởng…”
Lúc này Yến, cô con gái lớn của lão bước ra tham dự buổi chuyện trò. Tôi đề nghị:
- Như anh kể, một người còn sống, còn sáng tạo được như anh sau khi phải trải qua những năm tháng mà chỉ nhớ lại thôi đã thấy khủng khiếp thì có lý do gì mà ngại ngần khi thêm một lần nữa đối diện với sự thật. Cái quan trọng của người bệnh là tinh thần, điều này anh có. Quan trọng nữa là anh có sự chia sẻ từ gia đình, mọi người luôn bên anh. Em đề nghị anh tham khảo ý kiến của những bác sỹ chuyên khoa. Nếu cần, sẽ dùng biện pháp can thiệp tích cực nhất”.
Giác quan của tôi, quan sát của tôi khi nhìn sắc diện lão cho thấy, đây cũng chỉ là một biến cố thử thách của cuộc đời. Lần này cũng chả kém gì những thử thách khắc nghiệt nhất là lão đã từng vượt qua. Lão sẽ chết, nhưng là chết già. Điều quan trọng là trước khi chết già, lão còn phải tiếp tục “lao động khổ sai” và hạnh phúc cùng “Chữ”. Lão sẽ còn được đắm đuối, cay đắng, được lặn ngụp, nhấm nháp và nghiền ngẫm “Chữ”. Được vuốt ve ngắm nghía, gọt giũa, ấp ủ trong tim, ngậm trong miệng, thì thầm và đọc to lên, “Chẳng hạn như người vô hình, mùi của trẻ thơ, góa sống, chứng say tù, độc quyền yêu nước, độc quyền nhận sai lầm, tù ngoại trú mang bản quyền Bùi Ngọc Tấn trong văn học rất rõ ràng. Mà đâu chỉ là những cụm từ. Đó là những khái niệm sống.”*
Tôi mang bệnh án của lão tham khảo ý kiến các bác sỹ chuyên khoa. Trên phim chụp cắt lớp độ dày 8mm trước và sau tiêm thuốc cản quang có thể nhận thấy một tổn thương nốt đơn độc, không có hạch to có ý nghĩa bệnh lý trung thất và rốn phổi hai bên. Khẩu kính các mạch máu lớn trong trung thất bình thường, có xơ mỡ thành động mạch chủ ngực. Không thấy tràn dịch trung thất và màng phổi hai bên. Trên cửa sổ nhu mô: không thấy tràn khí trung thất và khoang màng phổi. Không thấy hình ảnh giãn phế quản và phế nang hai bên.
Vài tác phẩm có chữ ký của Bùi Ngọc Tấn.  Ảnh: tác giả cung cấp.
Vài tác phẩm có chữ ký của Bùi Ngọc Tấn. Ảnh: tác giả cung cấp.
Hình ảnh nốt đơn độc ở đỉnh phổi trái có thể là u phổi. Vị trí không cho phép chọc sinh thiết. Các bác sỹ thống nhất sau khi kiểm tra chức năng phổi, nâng cao thể trạng là có thể dùng phương pháp mổ nội soi lấy trọn khối u ra. Lão sẽ lại về Hải Phòng, tôi tin như vậy…
Vui mừng gọi điện cho lão, nói rõ ý kiến của các bác sỹ. Lão mừng lắm nhưng vẫn hỏi tôi một câu: “Có cách nào mà không phải mổ, chấp nhận sống chung với “Nó” cả đời không ?”
Lần đầu tiên, với một người bạn, người anh lớn, một nhân cách đáng kính trọng, tôi phải gắt lên:
- Trường hợp của anh không giống như trường hợp bệnh cả dân tộc mắc phải, muốn khỏe mạnh thì bất kể loại khối u nào, dù lớn hay nhỏ, dù ác hay lành đều cần cắt bỏ, cắt tận gốc. Đây là lúc anh được toàn quyền quyết định chất lượng đời sống của mình. Hãy đau thêm một lần để có một cuộc sống trong lành cho đến …chết”.
Tôi biết, ở đầu giây bên kia, anh lại nở một nụ cười hiền và đồng ý với tôi.
Xang Hứng. Sài Gòn tháng 7/2014.
(*) Lời của nhà văn Bùi Ngọc Tấn.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chuyện giờ mới kể:

1981: Vụ cướp trực thăng tại sân bay Bạch Mai trốn đi Trung Quốc

Chiếc UH-1H 576 và phi hành đoàn tại Đại Tân (TQ) sáng sớm 30/9/1981
Chiếc UH-1H 576 và phi hành đoàn tại Đại Tân (TQ) sáng sớm 30/9/1981
Theo Cầu Nhật Tân
Trong khi chiến sự vẫn rất căng thẳng trên toàn tuyến biên giới Việt – Trung, dịp Quốc khánh Trung Quốc 1/10/1981, Việt Nam bàng hoàng bởi vụ cướp máy bay trực thăng chiến đấu biên chế ngay tại Sở chỉ huy của quân chủng Không quân ở sân bay Bạch Mai. 

Rạng sáng 30/9/1981, 2 chiến sỹ gác sân bay Bạch Mai (Trụ sở Bộ tư lệnh quân chủng Không quân) tại Hà Nội bị hạ sát bằng lưỡi lê đâm vào cổ họng. Chiếc máy bay trực thăng UH-1H với đầy đủ vũ khí và cơ số xăng dầu đã bị cướp mất. Ít ngày sau, qua Nhân Dân Nhật Báo, cơ quan ngôn luận của ĐCS Trung Quốc, Việt Nam mới hay tin những người trên máy bay đã được Trung Quốc biệt đãi, được gặp “lãnh tụ” Hoàng Văn Hoan, được Triệu Tử Dương tiếp đón.
Sáng sớm ngày 30/9/1981, lực lượng bảo vệ sân bay Bạch Mai phát hiện 2 bộ đội gác sân bay bị hạ sát, ngay sau đó họ đã không thấy chiếc máy bay trực thăng UH-1H số hiệu 576. Táo tợn hơn, sau khi cất cánh khỏi sân bay Bạch Mai, chiếc máy bay này còn đàng hoàng hạ cánh xuống phường Phúc Xá thuộc địa bàn quận Ba Đình đón thêm người rồi mới bay thẳng đi Trung Quốc trước sự bất lực hoàn toàn của lưới lửa phòng không dày đặc thời chiến.
Tác giả chính của vụ cướp máy bay này là Thiếu úy Kiều Thanh Lục, ngoài ra còn có sự trợ giúp của một số sỹ quan, cán bộ quân chủng Không quân (cùng trốn theo sang Trung Quốc) trong đó đáng chú ý có một người là cựu sỹ quan không lực Việt Nam cộng hòa được thu dung phục vụ tạm thời trong quân chủng. Dựa vào chi tiết này, phán đoán ban đầu là chiếc máy bay đã bay ra hạm đội 7 của Hoa Kỳ (lúc đó Việt Nam vẫn coi Hoa Kỳ là kẻ thù nguy hiểm nhất). Ngay lập tức, toàn bộ các đồng chí diện “thu dung” bị đặt dưới chế độ giám sát đặc biệt, kể cả đồng chí từng lái máy bay ném bom dinh Độc Lập.
Chỉ sau khi Nhân Dân Nhật Báo đăng chi tiết về vụ cướp máy bay và Bắc Kinh tổ chức họp báo quốc tế rầm rộ với Kiều Thanh Lục, Dương Văn Lợi, Hoàng Xuân Đoàn và Lê Ngọc Sơn (phi hành đoàn) thì Việt Nam mới ngã ngửa ra rằng chiếc máy bay đang ở trong tay Trung Quốc.
Sau thất bại quân sự năm 79, Trung Quốc cố thổi phồng vụ này lên, nâng tầm quan trọng ngang vụ “lão thành cách mạng Đảng Cộng sản VN” Hoàng Văn Hoan bỏ trốn, đặc biệt lại đúng dịp 32 năm Quốc khánh Trung Quốc (1/10/1981). Bắc Kinh gọi đây là máy bay đặc dụng biên chế riêng phục vụ Bộ Chính trị của “tập đoàn Lê Duẩn”.
Những ngày sau, không những “lãnh tụ” Hoàng Văn Hoan mà ngay cả Triệu Tử Dương (Chủ tịch TQ) cũng đích thân tiếp 10 người đi trên máy bay. Thậm chí còn có tin, nếu Trung Quốc thành lập “chính phủ” Hoàng Văn Hoan lưu vong thì những người trên sẽ được Bắc Kinh cơ cấu vào các chức vụ quan trọng như bộ trưởng Quốc phòng, Tư lệnh Không quân …
Vụ giết bộ đội, cướp máy bay ngay tại sân của quân chủng Không quân đã trôi qua 33 năm nhưng nhiều câu hỏi lớn vẫn chưa tìm được câu trả lời thấu đáo. Có hay không bàn tay của tình báo Hoa Nam đạo diễn vụ này? Ai đã cố tình nạp sẵn nhiên liệu vào máy bay và chuẩn bị các điều kiện cất cánh khác trong khi quy trình để máy bay cất cánh phải qua nhiều khâu, nhiều người? Tại sao chiếc máy bay bị cướp có thể lọt qua hàng loạt các trận địa phòng không bảo vệ Thủ đô và nhiều căn cứ không quân, quân sự trọng yếu trên đường đi trong khi từ lúc cất cánh đến lúc bị phát hiện chỉ vẻn vẹn chưa đầy 5 phút, đặc biệt trong bối cảnh lực lượng phòng không VN đã được huấn luyện kỹ chiến thuật chống trực thăng tầm thấp sau vụ Sơn Tây 1970.
Nếu không có mật lệnh từ trước, hẳn chiếc máy bay đã bị chính lưới lửa phòng không của Trung Quốc bắn hạ chứ không thể bay sâu vào nội địa TQ để hạ cánh xuống huyện Đại Tân (lúc đó Bắc Kinh vẫn duy trì một lực lượng quân sự khổng lồ trên biên giới Trung – Việt nhằm xâm lược Việt Nam).
Ngoài ra, không thể không nhắc tới việc một vị lãnh đạo quân chủng Không quân VN năm ấy, không những không bị kỷ luật mà qua hơn 10 năm, sau khi thăng lên nhiều cấp của Bộ Quốc phòng, thì bị “biếm” bởi một quyết định phê duyệt được cho là có “yếu tố Trung Quốc”.
Theo Cầu Nhật Tân
HM Blog

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Vận mệnh nước Việt và lợi ích nhóm!



VNN - Những tuyến đường quốc lộ hỏng, lún, xuống cấp, và con đường lớn của nước Việt đứng trước vô vàn thử thách khắc nghiệt, đang cần gì?

I-Những ngày này, không chỉ vụ việc ngoài Biển Đông mới soán ngôi tâm trí nước Việt. Mà sự tồn vong, sự phát triển đi lên của đất nước, đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế thôi thúc các nhà quản lý, các chuyên gia kinh tế đi tìm một câu trả lời. Đó cũng là chủ đề hội thảo “Tự chủ kinh tế trong một thế giới phụ thuộc lẫn nhau” do Phòng Thương mại và Công nghiệp VN vừa tổ chức ngày 03/7.

Ngày nay, sự giao thương, liên kết làm ăn, thậm chí là phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia là một điều bình thường, kể cả các quốc gia mạnh nhất. Nhưng sự phụ thuộc giữa một quốc gia yếu hơn, yêu chuộng hòa bình như VN vào một quốc gia mạnh hơn, luôn có dã tâm xâm chiếm, bành trướng như TQ, đặt trong bối cảnh TQ hạ đặt trái phép giàn khoan 981 trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của VN, là sự thách thức khắc nghiệt nước Việt, phải tìm ra sức mạnh nội lực của chính mình, giảm bớt sự phụ thuộc, là câu hỏi lớn của thời cuộc hiện nay.

Ở hội thảo này, ý kiến phân tích thẳng thắn từ thực tiễn của các chuyên gia kinh tế rất đáng suy ngẫm, dù khá chua xót: Phải chăng, tình trạng kinh tế VN phụ thuộc TQ quá nhiều, do lợi ích nhóm chi phối?

Lợi ích nhóm, khái niệm từ lâu không xa lạ với xã hội.

Theo T/c Cộng sản, ngày 02/7, có lợi ích nhóm tích cực và lợi ích nhóm tiêu cực. Lợi ích nhóm tích cực là lợi ích chính đáng, hợp pháp của một nhóm người. Việc hình thành nó là nhu cầu khách quan, chính đáng, tự nhiên trong xã hội tồn tại nhiều giai cấp, nhiều tầng lớp, nhiều nhóm người với những đặc điểm, hoàn cảnh khác nhau.

Trong khi, lợi ích nhóm tiêu cực là “lợi ích” mà nhóm thu được nhằm vào các “tình huống” hay “phi vụ” nhạy cảm, không lành mạnh, mờ ám, thiếu minh bạch.

Lợi ích nhóm mà hội thảo đề cập, là thuộc nhóm 02.

Chuyển từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường có định hướng, ở góc độ nhân sinh, văn hóa, nước Việt có sự đổi mới cách tư duy và hành động, cung cách quản lý. Từ chỗ coi nhẹ lợi ích con người, xóa nhòa bản ngã cá nhân, sang coi trọng hơn lợi ích này, hài hòa bên cạnh lợi ích Nhà nước, lợi ích tập thể.

Trong khi chưa củng cố nền tảng lý luận vững chắc cho mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN, thiếu vắng hẳn sự quản lý chặt chẽ, khoa học, lại thừa cung cách quản lý lỏng lẻo, trôi nổi, cùng sự bám giữ nặng nề cung cách quản lý xin- cho, khiến cho kinh tế thị trường hiện nay phát triển lộn xộn, rối loạn các giá trị.

Thì rất nhanh chóng, lợi ích nhóm- bản chất là lợi ích cá nhân của một nhóm người liên kết với nhau- làm những điều phi pháp, thiếu minh bạch, lợi dụng cách quản lý tùy tiện để trục lợi, vơ vét của chung, xâm hại lợi ích Nhà nước. Họ cấu kết với nhau, hình thành những cái “vòi bạch tuộc”, bám chắc vào những khe hở quản lý, khe hở luật pháp để làm giàu bất chính.

Như một quy luật, càng nhiều lợi ích nhóm bao nhiêu, kinh tế xã hội càng bất an, kém hiệu quả bấy nhiêu.

Lợi ích nhóm càng giàu lên bao nhiêu, kinh tế xã hội càng nghèo đi bấy nhiêu, bất ổn bấy nhiêu.

Lợi ích nhóm, thực sự như một thứ “nội xâm” đang thách thức vận mệnh sinh tồn và phát triển của nước Việt.

Một bên là lợi ích của quốc gia và một bên là lợi ích một nhóm (người).

Một bên là cần sự làm giàu cho quốc gia, một bên chỉ đục khoét quốc gia, làm giàu cho bản thân mình và nhóm mình.

Một bên là sự chính danh giữa thanh thiên bạch nhật, một bên là liên danh… ma quỷ trong bóng đêm.

Cũng không phải bây giờ, hiện nay mới có lợi ích nhóm.

Theo bài báo trên TCCS, lợi ích nhóm từ lâu có trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt, trong công tác tổ chức, cán bộ với những biểu hiện đa dạng và phức tạp. Nhưng tựu trung lại, nó có 04 “môn phái võ” rất lắt léo trong việc ban hành chủ trương, chính sách về công tác tổ chức, cán bộ; cụ thể hóa chủ trương, chính sách thành các quy định, quy chế, quy trình cụ thể để trục lợi theo kiểu“trên có chính sách, dưới có đối sách”; trong việc chỉ đạo và thực hiện công tác này.

Lợi ích nhóm trong công tác tổ chức cán bộ đã dẫn đến có những ekip cán bộ năng lực yếu nhưng trục lợi cá nhân, trục lợi ekíp… mạnh. Hệ lụy nhãn tiền là ra đời những chính sách không có tác dụng thúc đẩy sự phát triển các ngành, các lĩnh vực, làm tổn hại uy tín Nhà nước.

Hơn 300 văn bản sai sót, vi phạm luật trong số 1.500 văn bản được ban hành, mà Chủ tịch QH từng cho rằng, đó là những văn bản pháp luật sai sót khá nghiêm trọng, ảnh hưởng đến lợi ích nhân dân và doanh nghiệp (theo VnExpress, ngày 12/6/), liệu có liên quan gì đến những ekip sinh nở từ những lợi ích nhóm trong công tác tổ chức, cán bộ không?

Và xét cho cùng, lợi ích nhóm trong kinh tế mà các chuyên gia tham dự tại hội thảo cảnh báo, nó cũng vẫn phản chiếu, là “sản phẩm” của những lợi ích nhóm từ công tác tổ chức, cán bộ mà ra.

Theo chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh, VN đã trao quá nhiều công trình cho nhà thầu Trung Quốc theo hình thức EPC (loại hợp đồng nhà thầu thực hiện toàn bộ các công việc từ thiết kế kỹ thuật đến thi công xây dựng công trình, hạng mục công trình và chạy thử bàn giao cho chủ đầu tư). Con số này là 23/24 nhà máy xi măng; 15/20 dự án nhiệt điện đốt than, giao thông, khai khoáng, cho thuê rừng và đất rừng ở vùng biên giới.  

Ông phải đặt câu hỏi: “Tại sao chúng ta giao quá nhiều dự án cho nhà thầu TQ như vậy. Có bao nhiêu lợi ích quốc gia, bao nhiêu lợi ích cho ai?”.

Còn theo ông Nguyễn Văn Thụ, CT Hiệp hội DN cơ khí VN, tất cả các dự án mà nhà thầu TQ làm tổng thầu EPC đều bị chậm tiến độ có khi đến 03 năm, chất lượng thiết bị kém.

Trả lời VTC ngày 07/7, ông Lê Đăng Doanh nhận xét: Tình trạng nhận đút lót của doanh nghiệp TQ rất phổ biến và nghiêm trọng.

Tỷ như việc TQ xuất lậu vào VN trên 5,2 tỷ USD, tương đương 130.000 tỷ hàng hóa qua biên giới, và VN xuất lậu 5,3 tỷ USD sang TQ theo số liệu của hải quan TQ công bố, là gì, nếu không phải là sự “phối hợp ăn ý”, kẻ tung người hứng giữa các nhóm lợi ích ở hai bên biên giới? Nếu không, khối lượng hàng hóa lớn như vậy, làm sao qua mắt được các cơ quan chức năng? Chả thế, VTC đã giật cái title rất sốc: TQ là bậc thầy đút lót, ắt có bậc thầy nhận hối lộ?

Rõ ràng, lợi ích nhóm, bằng cách này hay cách khác, bằng cửa này hay cửa khác, đang múa gậyvườn hoang trước con mắt quản lý Nhà nước.

Nhưng công bằng mà nói, không phải chỉ có lợi ích nhóm khiến cho kinh tế VN phụ thuộc nặng vào TQ, mà ngay cả cung cách làm ăn, kinh doanh, và tính cách kinh doanh của người Việt cũng khiến cho sự phụ thuộc này nó nhẹ nhàng không chịu nổi. Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan lo ngại rằng quan hệ kinh tế TQ- VN hiện nay quá sâu nhưng lại “rất không bình thường” (Đất Việt, ngày 03/7)  

Dựa trên phân tích 04 điểm thể hiện tình trạng lệ thuộc vào kinh tế TQ ở các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, cơ cấu xuất khẩu, bà Phạm Chi Lan cho rằng, nguyên nhân là do lỗi của chúng ta, không chịu thay đổi cứ hài lòng với việc đi làm gia công, đi làm thuê.

Tính cách làm thuê của người Việt này, đặt trong bối cảnh các DN vừa và nhỏ luôn bị chèn lấn ngay trong nước, các DN lớn và doanh nghiệp FDI (có vốn đầu tư nước ngoài) mất dần động lực. Thậm chí có DN còn đi mua hàng TQ cho nhanh và rẻ. Mà với cách kinh doanh của VN hiện nay chỉ làm được với TQ, vì làm với TQ dễ hơn nhiều so với những nước khác.

Rõ ràng, không chỉ lợi ích nhóm, mà tính cách thụ động, dễ thỏa mãn, và cam chịu của các DN, với nhiều bối cảnh chi phối, đã khiến kinh tế nước Việt chịu cảnh… đi bộ, trong thời đại có đủ các phương tiện giao thông để kinh tế cất cánh.
***

II- Có lợi ích nhóm to lớn, thì cũng có những lợi ích nhóm “be bé” hơn. Có lợi ích nhóm xuyên quốc gia, cũng có nhiều những lợi ích nhóm tọa lạc tại quốc gia.

Nói vậy, bởi rất lạ trong tuần này, ngẫu nhiên báo chí liên tục thông tin về những con đường, đoạn đường hỏng. Đủ mặt “anh tài”. Từ ở Tây Nguyên cho đến đồng bằng, từ miền núi cho tới thành phố, từ t/p HCM ra tận Thủ đô Hà Nội.

Hệt một cuộc liên hoan gặp gỡ của những con đường… “hư hỏng”.

Do đặc thù, giao thông đường xá vốn là một lĩnh vực ngốn rất nhiều nguồn tài lực, vật lực, nhân lực. Nhưng tốn kém đến gấp 03 lần, so với giá thành làm đường xá các nước, theo chính lời Bộ trưởng KH và ĐT Bùi Quang Vinh tại một hội nghị bàn về Luật Đầu tư công (VTC, ngày 13/3) mà lại thường hỏng trước thời hạn, hỏng trước thời gian bảo hành, thì chuyện đó chỉ có thể xảy ra ở VN?

Con đường hỏng, hay thực chất là… lương tâm con người hỏng, dù biện bạch bằng bất cứ lý do nào?

Cái sự hỏng của các con đường và hỏng lương tâm cùng trách nhiệm của con người VN cũng rất đa dạng, rất có “bản sắc” khác nhau.

Tỷ như đoạn đường Quốc lộ 14 (dự án nâng cấp, mở rộng đường HCM, đoạn qua Tây Nguyên), trong đó có gói thầu đầu tư theo hình thức BOT (hợp đồng xây dựng- kinh doanh- chuyển giao, được ký giữa cơ quan Nhà nước có thẩm quyền với nhà đầu tư để  xây dựng, kinh doanh công trình kết cấu hạ tầng trong một thời hạn nhất định. Hết thời hạn, nhà đầu tư chuyển giao không bồi hoàn công trình đó cho Nhà nước).

Không chỉ chậm tiến độ (được khởi công từ tháng 9/2013, dự kiến hoàn thành vào tháng 10/2014, nhưng đến nay, mới thi công được 8,4% so với hợp đồng, chỉ đạt 30,5% so với tiến độ được giao), chủ đầu tư QL 14 đoạn qua Đắk Lắk còn vòi vĩnh 30% tiền “lại quả” với đối tác xây lắp dự án (VietNamNet, ngày 06/7).

Trước đó cuối tháng 05, hàng loạt con đường hỏng và đội tiền tổng mức đầu tư tăng gấp 02 lần so với dự toán ban đầu của các con đường, đã được báo chí chỉ mặt, chỉ tên. Nào dự án QL19 B, đoạn qua t/p Cần Thơ, đầu tư 455,6 tỷ đồng, vừa hoàn thành, đã phải chi sửa chữa 8,5 tỷ đồng. Dự án tuyến metro Bến Thành – Suối Tiên dài gần 20km, tổng số vốn của công trình này ước tính khoảng 1,1 tỉ USD, đã tăng lên 2,4 tỉ USD.

Dự án đường sắt đô thị Cát Linh - Hà Đông ( Hà Nội) bị đội vốn gần 100%. Tổng mức đầu tư của dự án là 552,86 triệu USD, được điều chỉnh lên 891 triệu USD, tăng thêm 339 triệu USD so với tổng mức đầu tư được phê duyệt trước đó.

Dự án tuyến đường sắt đô thị Nhổn – Ga Hà Nội cũng tương tự. Dự án này ước tính tăng gấp 1,5 lần so với dự toán ban đầu năm 2006, (vốn đầu tư dự kiến ban đầu là 783 triệu euro, nay đã điều chỉnh tăng thêm 492 triệu euro). Theo Bộ GTVT, chỉ trong vòng 3 - 6 năm qua, tổng mức đầu tư của các dự án qua quá trình thực hiện đã tăng trung bình 180% so với tổng mức được duyệt (100%)….

Rồi câu chuyện 80,9 tỉ đồng và 10,6km đường, vừa xong đã hỏng của gói thầu số 11, dự án bảo trì QL 05 (đoạn từ km 94 đến km 104+600) qua địa phận từ ngã ba Sở Dầu (quận Hồng Bàng) đến khu vực cảng Đình Vũ (quận Hải An, Hải Phòng) hằn lún tạo nên những rãnh như ruộng bậc thang.

Điều kỳ tài, nhiều chuyên gia chỉ thẳng có chuyện "đi đêm" trong các dự án đội vốn, đấu thầu..., nhưng lãnh đạo ngành GT vẫn tin tưởng: Kết quả kiểm tra cơ bản cho thấy việc đấu thầu các dự án là tương đối minh bạch (Đất Việt, ngày 25/5).

Nhưng minh bạch gì mà Bộ trưởng GTVT cứ giống như “Triệu Tử Thăng” tả xung hữu đột, chỗ này “trảm” một tướng, chỗ kia yêu cầu dừng ngay việc thu phí vì đường quá xấu, giữa “ma trận” lợi ích nhóm lớn, bé.

Kỳ tài nhất, có lẽ phải thuộc về cái vỉa hè “quý tộc” thuộc đoạn đường mệnh danh đắt nhất hành tinh, đoạn Ô chợ Dừa- Hoàng Cầu của Thủ đô Hà Nội. Tính ra 500 m đường ngốn hết 500 tỷ đồng, mỗi mét đường ở đây ngốn 01 tỷ đồng.

Trong con mắt chuyên gia, lát vỉa hè là chuyện của mấy ông thợ, đâu phải đòi hỏi kỹ thuật cao siêu gì, tham quan nước ngoài nước trong gì, vậy mà mỗi cm vỉa hè ở đây, ngốn 10 triệu đồng. Chuyện vô lý mà có lẽ chỉ cái vỉa hè lẫn các cơ quan chức năng, các ngành các cấp quản lý con đường này mới biết rõ nhất, tiền đi đâu về đâu.

Và còn những con đường nào đã hỏng, đang hỏng và sắp hỏng, đã có tên và chưa có trong danh sách, còn đứng sau… cánh gà, chưa đến lúc thể hiện mình?

Cái sự hỏng, lún của các con đường có thể khác nhau, nhưng ông chủ đích thực của tất cả con đường đắt giá tiền, rẻ chất lượng ấy là ai, nếu không phải là Đồng tiền? Ông chủ ấy, đủ sức sai khiến lương tâm, trách nhiệm các “nô tỳ”: Chủ đầu tư, chủ dự án, đấu thầu, thiết kế, thi công, giám sát, nghiệm thu, tất tần tật, theo kiểu bắt cởi trần phải cởi trần/ cho đô la mới được phần…đô la!

Những tuyến đường quốc lộ hỏng, lún, xuống cấp, và con đường lớn của nước Việt đứng trước vô vàn thử thách khắc nghiệt, đang cần gì?

Chắc chắn những con đường đó không mong muốn sự tồn tại của các nhóm lợi ích ma giáo, ma quái, đủ kiểu, đủ hình thái.

Nhưng phép thần “quản lý công khai, minh bạch, và pháp luật thượng tôn” khi nào sẽ thực sự có hiệu nghiệm? Để cuối cùng, cái Ác thua cái Thiện, để người nghèo được hưởng hạnh phúc và xã hội thanh bình, như trong các câu truyện cổ tích tuổi thơ?


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Ngày này năm xưa:

Vị Xuyên không bao giờ bị quên lãng

12/07/2014 08:17 GMT+7
TT - Cách đây hai năm, tôi có dịp lên Hà Giang viếng nghĩa trang liệt sĩ quốc gia Vị Xuyên. Nghĩa trang tọa lạc ngay bên đường, cách TP Hà Giang 18km, nhưng mặt trước nghĩa trang bị cây che phủ quá kín tới mức chúng tôi phải tìm đi tìm lại ba lần mới gặp.
Tuyệt đại đa số ngôi mộ ở đây đều là mộ những liệt sĩ hi sinh trong trận đánh chống quân Trung Quốc xâm lược ngày 12-7-1984 tại Thanh Thủy, Vị Xuyên.
Thời điểm ấy, ở Vị Xuyên, Thanh Thủy, năm 1984, trận đánh kinh hoàng ấy rất ít người Việt Nam được biết. Sư đoàn chủ lực 356 gần như bị xóa sổ, sau đó đã giải thể. Đó là một nỗi đau ghê gớm không chỉ cho các chiến sĩ sư đoàn 356, mà cho tất cả người Việt Nam yêu nước. Đó là trận đánh mà chúng ta bị tổn thất rất lớn, cho tới bây giờ, rất nhiều hài cốt liệt sĩ của chúng ta còn nằm lại ở vùng núi Đất (Thanh Thủy). Trong trường ca Đám mây hình người thợ săn và con chó viết về dân tộc Mông tôi mới hoàn thành, có đoạn:
Thanh Thủy bây giờ là cửa khẩu
đêm cú kêu khắc khoải liên hồi
tôi dừng lại bên sườn núi Đất
một nỗi đau bầm ứ trong đầu
mây gấp gáp hành quân về lối cũ
mây bay như vết chém ngang người
Tôi nghĩ, “vết chém” ấy, tất cả những người lính Việt tham gia trận đánh này đều cảm nhận rõ tận trong da thịt mình. Ngày 12-7 năm nay, kỷ niệm 30 năm trận Vị Xuyên, Thanh Thủy, hàng nghìn cựu chiến binh từng tham chiến ở mặt trận này năm 1984 đều tự tìm về nơi họ từng trần thân trước đạn pháo quân thù. Lòng dũng cảm, sự hi sinh vô bờ bến của họ dù chưa được nhắc tới đúng mức, nhưng sẽ không bao giờ bị quên lãng.
Tổ quốc và nhân dân Việt Nam đã và sẽ ghi nhớ mãi những đứa con từ 30 tỉnh thành trong cả nước đã góp máu xương mình giữ từng tấc đất Thanh Thủy, Vị Xuyên. Những nỗi đau của các anh, các liệt sĩ, các thương binh, những cựu chiến binh cũng là nỗi đau của chúng tôi, dù xin các anh tha lỗi, ngày các anh tham chiến chúng tôi không được biết. Mãi sau này, rất nhiều năm sau, qua các nguồn thông tin rải rác và chắp vá, chúng tôi mới được biết về trận đánh bi hùng, về sự hi sinh khó tưởng tượng của các anh:
xin cho ta
ngày trở lại nơi này
thắp nén hương nghèn nghẹn khói bay
rót vài ba chén rượu
lên những nấm mộ buồn
chiều mưa tuôn
ta ngược đường Thanh Thủy
nơi lũ giặc phun lửa đốt các anh thành tro bụi
thành sương khói
thành mây ôm đỉnh núi
thành nỗi đau vạn thuở
trời ơi!
Vâng, hàng nghìn người lính bộ đội Cụ Hồ ngã xuống chỉ riêng trong ngày 12-7-1984, để giữ Thanh Thủy bây giờ vẫn là đất Việt Nam. Giữ lại được từng tấc đất của Tổ quốc theo đúng nghĩa đen, chúng ta đã phải trả giá máu đến từng ấy! Có một đêm, tôi cùng một người bạn Hà Giang lên cửa khẩu Thanh Thủy. Đêm khắc khoải cú kêu, núi Đất in lên nền trời một bức tường sẫm lớn. Tôi như nghe hồn các liệt sĩ nói gì với chúng tôi, trong im lặng.
THANH THẢO

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Ngu vừa vừa thui!



Không nên dùng địa danh TQ đặt tên cho khách sạn
Trên địa bàn thành phố Vinh hiện có hai khách sạn được đặt tên theo các địa danh nổi tiếng của Trung Quốc là Bắc Kinh và Thượng Hải. Cả hai đều là khách sạn hạng 3 sao, tọa lạc dọc tuyến đường bắc – nam qua trung tâm thành phố.
Khách sạn Bắc Kinh ở tp Vinh
Khách sạn Thượng Hải ở 26 đường Lê Lợi, thuộc địa phận phường Hưng bình. Khách sạn Bắc Kinh [Beijing hotel] tọa lạc ở 110 đường Mai Hắc Đế, thuộc công ty cổ phần Phương Bắc.

Chuyện đặt tên cho các công trình văn hóa, các các khu phố, đường phố, các vườn hoa, công viên… là một việc quan trọng vì nó thể hiện truyền thống, bản sắc văn hóa của cả cộng đồng, phạm vi nhỏ là một địa phương, phạm vi lớn là quốc gia – dân tộc; Đồng thời nó phản ánh nhận thức, tình cảm và ý chí không chỉ của các tổ chức, cá nhân liên quan trực tiếp mà là của cả cộng đồng. Không phải ngẫu nhiên mà trên thế giới rất ít khi người ta dùng địa danh, hoặc danh nhân của nước ngoài để đặt tên cho các công trình của quốc gia mình, trừ những trường hợp đặc biệt, rất hãn hữu vì ít nhiều có liên quan hoặc nhằm thể hiện một quan điểm chính trị ở thì hiện tại. Tại thành phố Vinh, nếu chúng tôi không nhầm thì hiện tại chỉ có hai danh nhân nước ngoài được dùng để đặt tên đường phố. Đó là V.I. Lê Nin và Hermann. V.I. Lê Nin là lãnh tụ của quốc tế cộng sản; Hermann Gmeiner là nhà từ thiện và là người sáng lập tổ chức quốc tế làng trẻ em SOS.

Nói chuyện xa hơn, sau khi Nhật đảo chính Pháp (9/3/1945) và Chính phủ Trần Trọng Kim được thành lập (4/1945) Hà Nội được trao cho người Việt quản lý về mặt hành chính. Bác sĩ Trần Văn Lai (1894-1975) được mời về làm Đốc lý Hà Nội. Ông đã thực hiện việc đổi tên đường phố và các công viên ở Hà Nội, trong đó các tên phố phường xưa của Hà Nội được trả lại tên cũ bằng tiếng Việt, các phố mang tên người Pháp được mang tên các danh nhân Việt Nam như Ngô Quyền, Đinh Tiên Hoàng, Lý Thái Tổ…các lãnh tụ khởi nghĩa chống Pháp như Hoàng Hoa Thám, Phan Đình Phùng, Nguyễn Thái Học…các nhà yêu nước như Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu…các nhà thơ nổi tiếng: Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Đoàn Thị Điểm…

Khách sạn Thượng Hải ở tp Vinh

Tóm lại, chuyện đặt tên phố, tên các công trình văn hóa hoặc dịch vụ không bao giờ và đừng bao giờ cho là câu chuyện đơn giản; Nó không thể là câu chuyện của một người, một nhà mà thể hiện tri thức, nhận thức, tình cảm và ý chí chính trị, tình cảm của cả cộng đồng xã hội.

Bởi vậy, trở lại với việc đặt tên của hai khách sạn Bắc Kinh và Thượng Hải ở thành phố Vinh, thiết nghĩ, là không hay, không nên. Chúng ta cần rút kinh nghiệm, kể cả các ông chủ lẫn các nhà quản lý. Nếu thủ tục không quá phức tạp thì tốt nhất là nên đổi tên khác, nếu quá phức tạp thì từ nay về sau dứt khoát không lấy các địa danh của Trung Quốc để đặt tên cho các công trình ở thành phố Vinh cũng như trên địa bàn cả nước, bất kể hình thức sở hữu nào, kể cả của nước ngoài.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Đọc mẩu này của NHĐ, buồn hết cả chân tay!

Vỡ quẻ và đánh rơi lá bài xì

Nguyễn Hoàng Đức

Ngày 7/05/2014 Trung cộng chơi khăm người đồng chí tiểu đệ “bốn tốt”, “mười sáu chữ vàng” của mình, đúng ngày kỷ niệm đại lễ 60 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, bằng cách dùng ngót trăm tầu cả quân sự lẫn cảnh sát biển quần thảo vây quanh rồi đâm thẳng vào mấy con tầu của Việt Nam. Đây là một sự kiện lớn chưa từng thấy kể từ xung đột chiến tranh trên toàn cõi biên giới Việt - Trung tháng 2/1979.

Người Trung Quốc có câu “Giết vua, giết cha không phải việc xảy ra trong một ngày”. Nghĩa là gì? Những việc tày đình như vậy đâu có thể là việc ngẫu hứng xảy ra trong chốc lát, mà đó là những việc phải được hoạch định âm mưu từ rất lâu và chờ thời cơ. Và việc tày đình, tầu Trung Quốc đâm tầu Việt Nam đâu chỉ là va chạm ngẫu nhiên mà được lập trình từ lâu lắm rồi. Nhưng mà than ôi, sự lập trình đó lại là một nghịch lý giả trá vô cùng đắng cay. Đó là thiết lập bao nhiêu đường dây nóng, lúc nào cũng hảo hảo, hết bốn tốt lại đến mười sáu chữ vàng, rồi xí xóa những vụ cắt cáp tầu Bình Minh, đoàn to đoàn bé nườm nượp ghé thăm nhau úy lạo, chào rước linh đình trên tinh thần anh em đại ca và tiểu đệ kiểu phong kiến Tàu, đại ca thì thay bố, tiểu đệ thì ngoan ngoãn “làm em ăn thèm vác nặng”…

Nhưng lá bài xì đã rớt, phơi ra toàn thể trong thời công nghệ thông tin này, và ngay chính hệ thống thông tin của nhà nước cũng đã phải chính thích loan tin chứ không quanh co giấu nhẹm được về vụ tầu Trung Quốc đâm tầu Việt Nam ngày 07/05. Lá bài đó phơi ra những gì?

1- Tầm nhìn tham lam thiển cận. Cái tình cảm đồng chí gỉa trá, đã phơi lộ, hóa ra cũng chỉ là những tiểu nhân của hạng buôn thúng bán mẹt chỉ ham cái lợi trước mắt mà không thấy được tình nghĩa lâu dài.

2- Đồng minh đỏ đổ vỡ. Chỉ còn vài nước Việt, Triều, Lào, Trung, Cu là mô hình cộng sản. Nghĩa là chỉ còn vài mống cùng ngồi chung thuyền, vậy mà Trung Quốc gầm ghè ăn thịt Việt Nam, là cách mà đồng minh hiếm hoi cộng sản cũng đã cắn xé nhau chỉ vì vụ lợi.

3- Bản chất cộng sản lộ mặt. Lãnh đạo Trung Quốc, Việt Nam tuy miệng nói “cộng sản” hay “xã hội chủ nghĩa” nhưng thực tế họ gửi con sang Mỹ và châu Âu ăn học. Như vậy, rõ ràng quan điểm cộng sản của họ chỉ là môi miệng. Và Việc Trung cộng đâm tầu Việt cộng đã chứng tỏ: cái vụ lợi còn lớn hơn cái lý tưởng cộng sản của họ.

Sự việc xảy ra, hoàn toàn quẻ đã vỡ rồi. “Vỡ quẻ” là một từ rất đặc biệt của người Trung Quốc. Xưa kia, mỗi khi vua làm việc gì quốc gia đại sự lớn thường xem quẻ bói – để hỏi việc trời. Quẻ không phải lúc nào cũng hiện, trong giai đoạn mà chính quẻ cũng là ý trời còn chưa ngã ngũ. Nhưng khi quẻ hiện, thì việc trời đã định. Nhưng khi vỡ quẻ thì còn khủng khiếp hơn nhiều. Chúng ta hãy hình dung một người vỡ mụn, cái mụn đỏ ửng cương cứng nóng rát khó chịu bỗng đến lúc mưng mủ chín, và nó vỡ ra khiến cơ thể được giải thoát nhẹ nhàng thanh thoát.

Vỡ quẻ bao giờ cũng mang hai yếu tố chính: Ý trời và Lòng dân. Cũng như thiên sự và nhân sự. Triết gia Hegel được coi là cha đẻ của môn lịch sử hiện đại với lý thuyết định mệnh (ý niệm tuyệt đối) cho rằng: Lịch sử không chỉ dẫn dắt chúng ta mà còn đề xuất những hướng đi cho chúng ta. Có nghĩa là con người không thể thoát được định mệnh của lịch sử.

Người Trung Quốc có câu “Thiên tác nghiệt do khả vị, tự tác nghiệt bất khả hoạt” – có nghĩa là: Trời làm hại ta còn xoay xở được, chứ chính ta gây nhân xấu ta không cách gì tránh được kết quả. Vậy thì việc tầu Trung Quốc đâm tầu Việt Nam là kết quả tất yếu của tất cả những gì hai bên đã chơi xỏ nhau nhưng ngoài miệng vẫn cứ hảo lớ, hảo lớ. Đồng chí cộng sản anh em một nhà. Nhưng than ôi, họ đâu có cần biết chủ nghĩa cộng sản là cái gì, ngoài thứ lý do “giữ tượng ăn oản”. Mâu thuẫn của họ nói dễ hiểu là cùng lợi ích tranh giành thì cắn nhau, có thế thôi. Việc Trung quốc đâm tầu làm vỡ quẻ, sẽ hiện ra những quẻ gì:

1- May mắn thay cho dân Việt Nam, được Trung Quốc đâm vỡ nhọt để thấy rõ ai là bạn ai là thù. Và xu hướng thân Mỹ sẽ mạnh hơn bao giờ hết.

2- Trung Quốc đã chứng tỏ một nước cờ hạ sách của đám vũ phu muốn dùng cơ bắp lấy thịt đè người. Việc này ngay cả Trung Quốc có thắng trận đi nữa vẫn là một sự thua cuộc giống một kẻ mang dùi đục đi hỏi vợ. Cả ASEAN, rồi cả thế giới sẽ thấy rõ tham vọng bá quyền của Trung Quốc mà tránh xa.

3- Trung Quốc dù to, dù đông, nhưng kìa bên cạnh là Ấn Độ dân sắp vượt Trung Quốc, rồi Nhật Bản là những người thiện chiến bậc nhất trên biển, Trung Quốc cậy to mồm thế thôi, nhưng một lính hải quân Nhật nhẹ nhàng ăn gỏi 5 lính Trung quốc, tại sao? Vì đi biển là nghề chuyên nghiệp của người Nhật. Và lịch sử đã từng chứng minh, Nhật Bản chiếm Trung Quốc bằng tầu nhẹ như chinh phục một huyện thị. Rồi Tân Cương đang sôi như chảo lửa… Đây chính là lúc mà Liên Xô đã từng gặp và tan rã. Cũng đã đến lúc siêu nhà nước của Trung Quốc phải tan rã. Thời chiến quốc sẽ quay lại với họ. Lúc đó các nước lân cận sẽ ăn thua lẫn nhau, thì châu Á và thế giới mới có được bình an.

4- Trò chơi “song phương” của Trung Quốc và Việt Nam phá sản tuyệt đối. Chúng ta thử hình dung cách chơi song phương của Tàu và nước ta vớ vẩn thấp kém thế nào. Một trận đấu bóng diễn ra mà không có trọng tài thì làm sao đấu. Gặp lỗi gì, hai bên lại xúm lại bàn cãi nhưng theo tiêu chí “đại ca luôn luôn thắng”. Trình độ chính trị của Trung Quốc hoàn toàn chỉ là thứ đại ca đường phố, rồi kéo bè cánh lập phường hội. Việt Nam cũng chỉ là một “Trung quốc nhỏ” với vô số các nhóm canh ty lợi ích hiện thời.

Quẻ đã vỡ, khi đó con người bị sự kiện dẫn mũi chứ không thể làm chủ được tình hình. Quẻ này nói chung phơi ra sự ấu trĩ và đạo đức giả của cả hai phía. Và đó là cơ hội thật rõ ràng cho nhân dân hai nước nhìn rõ khuôn mặt của thứ lãnh đạo bang hội đường phố tham vặt. Hiện nay cả Trung Quốc và Việt Nam đang là những quốc gia lạc hậu nhất thế giới, bằng chứng là các quốc gia đã dùng thẻ dân sự, chỉ còn vài nước như Trung Quốc, Việt Nam. Triều Tiên là vẫn dùng chế độ hộ khẩu. Cứ cái gì làm cho dân sướng và hạnh phúc thì người ta không làm. Cứ cái gì khổ để quản lý được dân nhiều nhất thì họ làm. Để làm gì? Để bảo vệ mấy cái ghế ăn trên ngồi trốc của họ và con em mình, cũng như những nhóm lợi ích. Nhân dân chỉ có mỗi một nguyện vọng tha thiết làm sao quốc gia được sống trong ánh sáng của pháp luật, chứ không phải ánh sáng ngẫu ứng tùy tiện của các buổi họp kín, rồi đem nghị quyết của những nhóm lợi ích ra áp dụng. Nhân dân cần xã hội dân sự đó là con dường tất yếu của nhân loại dân chủ. Chứ mỗi người dân không thích phải khoác áo lính suốt đời trong trại lính. Cám ơn lịch sử đã điểm giờ G. Và dù sao cũng nên cám ơn thứ chính trị cơ bắp của Trung Quốc đã húc tầu làm vỡ cái mụn đã mưng mủ của định mệnh lịch sử.

NHĐ 09/05/2014

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tìm thơ hay như ngắm hoa đào tháng bảy!



Ba gạch đầu dòng trước khi đi ngủ
(Họ Trần với tiếng thở dài)
T------------------------
1.
- Mấy người biết tôi họ Trần quê Nam Định kêu sao không đi họp gặp gỡ Tran Club. Tôi chỉ biết cười. Thực ra họ Trần nhiều người được khen là giỏi. Nh
iều người cũng tưởng là mình giỏi thật. Chỉ ghét một cái là họ có tật mải mê rong chơi, mê gái và thi ca quá chẳng làm được gì cho đất nước nó mạnh lên, Tàu nó đỡ bắt nạt. Thế mà là hậu duệ của Trần Hưng Đạo à. Buồn thật.

- Thôi ai thì còn được chứ cái anh chàng bạn tôi họ Trần này được đi học nước ngoài đến Tiến Sỹ Vật Lý mà gõ vào " Sciencedirect " chẳng thấy tên tuổi hay công trình gì cả. Gõ vào Google thì có nhưng lại toàn thơ. Khổ thật

- Thấy tôi kêu ca mãi, hắn thôi làm thơ. Tưởng dành thời giờ nghiên cứu về vật liệu vỏ xe tăng tiếp cái luận án TS năm xưa thì hắn lại quay ra viết văn xuôi. Trời ạ

2.
Hậu Trần Thi Gia với Tản văn “Mỹ nhân và tiếng thở dài Thi Ca”
( trần sỹ kháng)
******************
(Có-nhiều-chỗ-dài-không-hợp-FB-thay-bằng"....lan-mam...."--đỡ-phải-đọc)-TĐT

Hà Nội xưa gọi là Kẻ Chợ.

Đã là chợ thì người ta đến đây để Buôn Là Chính. Và tự nó hình thành ra nhiều Loại Chợ với các loại buôn khác nhau mà nay ta gọi là “Thương Trường”. Nói thế để thể hiện người nói là kẻ “Có chữ”. Nhưng thực ra riêng trong bụng ta hiện nay thì chẳng còn chữ nào. Có được chữ nào, ta đều đưa bán quách hết. Để lấy tiền Nuôi Cái Nghiệp dở hơi. Đó là Nghiệp Thi Ca. Phần thể xác thì có phàm nhân nuôi. Phần hồn thì có Loài Mỹ nhân chăm sóc. Thế mà Ta lúc nào cũng đói khát trong Huyền Giới ảo Mộng Thi Ca. Ta thương ta đã có một thời ở một Đại Thiên Nào đó. Huyền Giới của Ta sang trọng vô cùng. Ngày ngày cầm kỳ thi hoạ. Đêm dong chơi thưởng nguyệt thơm hoa. Chỉ tiếc là ta không thể nhớ. Bởi ta đang mang một thể xác của phàm nhân nơi Cõi Dục này chăng (Cõi Dục của Đại thiên Thế Giới Ta Bà, hiện ta đang sống, có sáu tầng Trời. Tính từ thấp lên cao đó là Trời Tứ Thiên vương; Trời Đạo Lợi; Trời diệm Ma; Trời Đâu Xuất; Trời Hoá lạc và Trời Tha Hoá Tự Tại Thiên. Trời Tứ Thiên Vương có ba tầng Trời nhỏ. Đó là Trời Hằng Kiều; Trời Trì Mang và Trời Kiên Thủ. Trời Đạo Lợi có 33 tầng Trời con. Một ngày ở Trời Hoá Lạc Tự Tại Thiên bằng 1600 năm ở tầng Hằng kiều nơi Ta đang sống. Một kiếp ở đây có thọ mạng đến 6000 năm)

Thể xác Ta Hạ Giới chúng sinh nuôi
Bằng phàm phẩm hay bằng gì Ta đâu cần biết
Còn Siêu linh hồn Ta do Loài Mỹ nhân bất diệt
Tháng năm chăm chút mỹ sắc và thơm hoa

Ta thảnh thơi thả hồn trong cung ngọc điện vàng
Ta tấn phong nàng Đệ nhất Thi Ca Huyền Nữ
Những Thiên khí tuyệt đỉnh hồn ta, ta trao em giữ
Để nàng sinh cho ta những Bất Tử Thi ca....(lanman).....

Nhiều kẻ sỹ sa vào nẻo tối, chuyển sang lối buôn chất xám. Buôn chất xám thì giàu nhanh nhất, bởi đầu tư ít, mà hưởng lợi nhiều. .....(lanman)....

....ta chỉ muốn nói trong bối cảnh “Chập chọang hoàng hôn” của KH, kẻ sỹ thành kẻ đi buôn thì phất lên làm giàu rất nhanh. Đã đi buôn thì thành kẻ đi buôn, đâu còn kẻ sỹ nữa. Ta rất đắc chí với hai câu thơ của ta trong Tiểu thuyết thơ “Càn Khôn nốt lặng dở dang” ở Chương “Giấc mơ”:

Làm kẻ sỹ thì thôi danh vọng
Có Danh rồi kẻ sỹ hỏi còn đâu.

Ta muốn nói vào vấn đề chính của Đất Kẻ Chợ này trong những thập kỷ cuối của thế kỷ 20 và những năm đầu của thập kỷ 21, Chợ “Chất Xám” cũng ồn ào lắm. Nhận thức được sự ngô nghê và chậm chạp của các nhà đương chức trong việc đưa Tri Thức thành hàng hoá”, Kẻ Sỹ nhảy sang thành Kẻ Buôn Chất Xám và đều trở thành ông chủ này bà chủ nọ. Xúng xính áo quần, lên xe xuống ngựa, hào nhoáng thì thôi rồi, mà tâm hồn thì khô kiệt. Nghĩ cũng đáng thương....(lanman)....

Ta lại thương cho câu thơ của Ta nói về Kiếp của Kẻ Sỹ làm quan trong cảnh chập choạng hoàng hôn của Thời mạt Pháp này:

Kiếp nào mũ áo bon chen đứng
Cay đắng trông lũ sẻ dỡn chim bằng
Kiếp nào trúc chịu khom lưng chậu
Ngao ngán hoàng hôn đẫm lệ trăng.
Kiếp nào
Góc biển chân mây nhẹ
Đắm đuối yêu,
Nguyệt ngượng mặt trời ghen
Kiếp nào
Say quá nàng thơ giận
Đoạ đày Ta tình yêu của em.....(lanman)....

Nhà trời nhìn thấy chúng sinh hạ giới xây nhà cao đến mức sắp chọc đến đít của mình rồi. Nhìn xuống đít mình mà kinh hãi. Trời này sợ thì phải kêu lên Vua trời khác cao hơn. Vua Trời tầng Hằng Kiều thì tấu lên Vua Trời Trì Mang. Vua Trời Trì Mang lại tấu lên Vua trời Kiên Thủ”. cứ thế mà kêu lên mãi. Nhưng ai giải quyết cho đây. Một ngày ở thượng giới bằng mấy trăm năm ở hạ giới. Trên ấy các Ngài giao ban một giờ thì Hạ Giới đã đi qua mấy trăm năm đi qua. Thế là chết cả nút. Vua Thượng Thiên lại phải lệnh cho các Thánh cấp dưới xây cho thêm vài địa ngục nữa. Bởi vì Luật Nhân – Quả không bỏ sót ai. Chúng sinh thì lòng tham không thể tính đếm. Thước nào mà đo được. Tội nhân thì nhiều, Địa ngục tất phải lắm. Kể ra Trời cũng phải bỏ ra khá nhiều tiền, hơi xót đấy.......(lanman)....

Ta đi ra bốn cửa ngõ thủ đô Hà Nội, cái đập vào mắt ta là đất đai phì nhiêu đã biến mất, những dự án chung cư trầm mặc, lạnh giá, điêu tàn không bóng người đã hiện ra.

Ta lại thương câu thơ của ta:

Không còn những cánh đồng phì nhiêu màu mỡ
Chỉ thấy nham nhở bê tôn cuối tận chân trời
Hồn ta đã lạnh đông điêu tàn của đá
Trước mặt ai nham nhở những khóc cười....(lanman)....

Ta lại thương cho mấy câu thơ của ta:

Cứ bao lăm một lần
Ta lại có một cơn mơ khác
Để quên đi cơn mơ đau đớn bao năm ta vừa trải qua.
Em đã từng có ta
Và ta đã từng có em – Thiên Đường xây trong Hoang mộng
Em đi rồi
Em mất ta hay ta đích thực mất em
(Trích từ tiểu thuyết thơ “Càn Khôn Nốt lặng dở dang” Chương “Giác Mơ”)

Ta xót xa và thương mẹ ta bị thằng con mất dạy mang tiền ra để xây biệt thự cho chuột ở. Còn mẹ ta thì hiên đất nhà tranh, đôi khi còn tả tơi rách nát.

Ta lại thương mấy câu thơ ta:

Rã rời mưa phên đất,
Vật vã liếp nát chiều
Mếu máo đêm nhà dột
Cụt ngọn cây vái trời

Mưa rơi bao giờ tạnh
Lạnh cóng bóng mẹ ngồi
Tiếng thở dài nghẹn ngực
Của mẹ tôi mẹ ơi.

Đưa con đi muôn nơi
Những đêm trời vô vọng
Ỳ ầm trầm luân sóng
Ở đâu đó không lời...
...............(lanman)....

Kẻ không có học thường gọi mỹ nhân là “Chân dài”. Buôn nghề này cũng “Phất lắm”. Nhà hàng khách sạn mọc lên như nấm. Ta thương câu thơ của ta trong buổi loạn ly:

Nham nhở phố trụi trần cao ốc
Ướt xanh đêm đau mái tóc thề
Đưa em về nghiêng trăng Phố Phái
Tương tư mòn lối đế đô xưa.

Nhưng biết làm sao được. Ông chủ thì nhiều, trọc phú cũng lắm. Cướp ra tiền mà không xài thì có mà điên. Vậy thì phải có một dịch vụ “Để các ông chủ, những kẻ đi buôn” thể hiện và hưởng thụ. Đó là Lầu Xanh. Thời nay ít kẻ dùng “Bồ Nhí” vì nó lôi thôi. Tốt nhất là “Ăn bánh trả tiền”. Không xả tiền vào đó thì xả đi đâu cho hết, mà làm tiền để mần chi. Đấy là lý luận và phương thức cuộc sống thường nhật của các ông chủ lắm tiền. Tiền từ đâu thì không cần biết.

Ta là thi sỹ nên thường cảm thấy cô đơn, trống vắng trong lòng. Nên mượn chén rượu để khoả lấp nhưng cơn sầu muộn đang dấy lên trong lòng. Vậy nên ai mời rượu là ta có mặt ngay. Nhưng Ta đến không phải để ăn mà để nhìn người khác ăn.

Ta nhìn người khác ăn với các trạng thái khác nhau để mà sợ.

Ta sợ hết thập loại chúng sinh ở Cõi Dục này. Sợ rồi vẫn phải lấy chất liệu để sau đó có cái gì mà viết chứ. Thi sỹ mà không đồng hành với chúng sinh thì lấy đâu ra chất liệu để mà viết. Không viết thì Thi sỹ hỏi còn đâu. Ta nhìn chúng sinh ăn để sợ, sợ để viết như thế nào, Ta kể chuyện về ẩm thực cho các ngươi nghe.

Ta trước đây thời còn ô trược về thân xác và nghiệp chứng lại thâm trọng. Công đức của ta thì mỏng. Ta chỉ biết lo xa mà không biết hoạ gần. Ta là đại diện cho loại Chúng sinh thời Mạt Pháp vậy. Ta thường nói, đấy là cái thời Ta Còn Vô Minh. Bạn nhậu của ta chính là bản thân minh. Có nghĩa là Ta Tự Nhậu Một Mình. Pháp Độc nhậu (PĐN) không phải do ta tham ăn tục uống, không dám mời bạn bè mà tự nghĩ ra. PĐN là để Ta tự thưởng thức những hương vị riêng của những chất liệu cấu thành sản phẩm đó. Ta thưởng thức nó đến từng nguyên tử. Chứ thưởng thức đến Phân tử là còn xoàng. Những lúc độc ẩm như vậy, không ai nói chuyện để quấy phá dòng tư duy của ta, Quy Trình Công Nghệ Ăn (QTCNĂ) mà ta tự đặt ra và để tuân thủ nó. Mà ở Nhân Gian Quy Trình công nghệ Ăn thì vô lượng, ai mà liệt kê nổi. Bản thân một người đã có thể thay đổi quy trình ăn nhiều lần trong một ngày. Thế mà Ta cứ nhai nhải nói với Thiên Hạ rằng, QTCNĂ của ta là độc nhất, là Khoa Học nhất. và Nhân Loại phải định hướng tới QTCNĂ này. Ta nhai đi nhai lại mãi đến mức mấy bà vợ khó tính của ta và bầy con ẻo ợt do chẳng may phải sinh ra ở thành phố của ta cũng phải tin rằng, ta đang lừa đảo và thành công trong sự lừa đảo ấy. Buổi đầu Ta lừa đảo được chính mỗi mình ta. Sau đó ta lừa đảo được mấy bà vợ và mấy bầy con. Cuối cùng ta lừa đảo được cả Thiên Hạ. Thiên Hạ không phải toàn ngu cả. Những đứa con nào không tin, ta bao vây mọi đường, kể cả những hành vi tồi tệ và vô liêm sỷ nhất. Để chúng phải tin ở lời ta nói. Đấy là con đường Chinh phục của Ta. Kinh Phật dạy: Không được chinh phục. Nếu chinh phục sẽ có kẻ bất phục. họ sẽ tìm cách chống đối. Kết quả của sự chống đối sẽ dẫn đến chém giết và tạo thêm nghiệp chướng. Tạo nghiệp chướng thì muôn đời trầm luân. Làm sao thoát khỏi Tam Giới, Đạt đến Đạo Giải Thoát được. Kẻ trí trong Thiên hạ ngày nay cũng có nhiều người tự tu hành và đạt Đạo Giải Thoát về mặt Tri Kiến. Tức là nhìn mà không nhìn, nghe mà không nghe. Đấy không phải nhìn mà nhắm mắt lại, nghe mà bịt tai lại. Về vấn đề này Ta sẽ giảng thêm cho kẻ hữu duyên ở dịp khác.

Những lúc dùng “Pháp Độc Nhậu”, ta thường tự ta rót ra chén rượu để trước mặt. Ta tự tách mình ra thành hai. Phần hồn ta một chén, còn phần xác ta một chén. Hồn và xác ta phân thành hai Chủ Thể và chén thù chén tạc với nhau. Người ngoài chỉ thấy tự ta chuốc rượu với mình mà thôi.

Ta đã từng cho chia ngôi “Khách – Chủ”
Để xác và hồn đối ẩm với nhau
Cả hai chăm chăm ngắm ly xanh rượu
Rồi thốt lên: Điều kỳ diệu làm sao

Linh hồn phán: Trong ly xanh có một Huyền Giới
Cuối chân trời đang khóc một thi nhân
Giọt nước mắt đang hoá thành Thi Phẩm
Làm hành trang cho ngọc nữ về trời.

Thể xác nói, Ta chẳng thấy gì đâu
Chỉ có men nồng của Bắc Hà Xứ
Rượu này ủ mấy triệu năm chưa đủ
Rồi chưng lên bằng công nghệ cổ xưa.

Linh hồn than: Đây Cốt Hồn Bản Xứ
Cánh Cửa tim nàng đã khép lại rồi.
Trong tay nàng một Thi Ca khâu vội
Là những mảnh hồn tơi tả của chính Ta.

Khi phân thân như vậy, Ta mới hiểu được phần phàm tục trong ta ưa chuộng cái gì. Còn phần hồn ta cảm nhận được giá trị của tinh thần nào. Cũng có thể đấy chính là sự cảm thụ khác nhau về thế giới bên ngoài của Tục nhân và của Thi nhân vậy. Bài thơ còn có một tứ khác cao hơn, ẩn ở đằng sau. Khi bàn đến “Mỹ nhân và Tiếng thở dài của Thi Ca”, Ta sẽ đề cập đến.

Ta thường không mấy khi nhìn vào mặt người cùng nhập tiệc, mà chỉ nhìn vào chén rượu là chính. Một là để xem trong đó có trăng đang bơi với mỹ nhân không. Hay là Mỹ Nhân đang lẻ loi đơn chiếc. Cái lo to tát nhất của một kiếp Thi Sỹ nơi Hạ Giới là làm sao không để Mỹ Nhân cô đơn. Có thế thôi. Đấy là Thiên Mệnh của Thi Nhân chăng. Đúng rồi, Mỹ Nhân là hồn cốt của Bản Xứ, là Văn Hoá Bản Địa. Mỹ Nhân là Văn Hoá Bản Địa hay Văn Hoá Bản địa đã nhập hồn vào Thi Nhân. Thi Nhân không tôn thờ VHBĐ thì làm gì? Làm Bồi Bút à? Viết nhăng viết cuội à. Viết nhăng cuội rồi ra hàng nước uống nước chè vặt. Đến chè Thái cũng chẳng có mà uống. Thì viết lách “Cái Chi”. Thế thì ngồi đấy mà khóc nhé. Nhưng khóc ra nước mắt hay nước mắt chảy vào trong lại là khác đấy. Phàm nhân khóc, nước mắt chảy ra ngoài, là để nguôi đi cơn đau, vợi đi nỗi nhớ. Còn Thi Nhân cũng khóc. Nhưng nước mắt chảy vào trong. Càng khóc càng đau. Thi Nhân khóc vay than mướn à? Không, Thiên mệnh của Thi Nhân là khóc. Khóc khi nhìn cái Bể khổ mà chúng sinh đang lặn hụp trong đó. Đó là bể Khổ của “Sinh tử Luân Hồi Nơi ngã thú” của Loài chúng sinh vô minh. Nhưng Khóc và Than rồi để mần chi? Lại phải chỉ cho chúng sinh vô minh một con đường sáng. Đấy là bằng mọi cách thoát khỏi “Sinh Tử luân hồi”. Còn Thoát khỏi Sinh Tử Luân Hồi thì về đâu?

Cái đấy Ta sẽ giảng sau.

Ta quay lại chuyện Tìm Mỹ Nhân trong chén rượu. Ta không biết mình tìm trăng hay tìm mỹ nhân trong ly rượu. Loài mỹ nhân như rồng phượng trong Vũ trụ, hiếm thấy lắm, hiếm gặp lắm. Có khi cả đời chẳng thấy. Hai là bớt đau buồn thêm khi nhìn các bộ mặt khác nhau của chúng sinh ở Cõi Dục này. Những bộ mặt đắc chí khi được thăng quan, những bộ mặt hả hê khi hốt được tiền từ những chunhs sinh khác, những bộ mặt méo xệch vì thời buổi suy thoái kinh tế, những bong bóng thổi phồng đã xẹp xuống. Những bộ mặt ngác ngơ vì không biết bấu víu vào đâu. Với những bộ mặt ấy biểu hiện cho những tâm trạng cuối năm người mất tiền, kẻ hốt bạc với các loại biểu cảm khác làm ta buồn.

Ta còn nói với các Mỹ nhân của Ta là Ta còn một cái tài khác. Ta chỉ cần đảo mắt qua các bàn nhậu là biết được Tục khách là ai. Mâm nào tục khách ngôi im không chấm đũa, đấy là các ông chủ hay còn gọi là Con Buôn. Những nét mắt trầm tư toan tính. Những mưu sâu kế hiểm cứ xuất hiện trong não, kéo dài triền miên không dứt ra được để mà ăn. Thật đáng thương.

Những mâm nào ăn nhậu như điên, ăn như chưa bao giờ được ăn, uống như chưa bao giờ được uống. Râu tóc bờm xờm, áo quần mấy năm trời không là mà cũng chẳng giặt. Cũng hôi rình như bộ áo quần của Ta đang diện để đi bát phố vậy. Đấy là mâm của Loài Văn Nghệ Sỹ. Ăn và nói, nói và ăn như là một khả năng thiên phú. Gọi dân dã tý là “Trời Cho”. Cho gì chứ cho ăn thì ai mà Trời không cho khả năng ấy. Vấn đề là có tiền không để mà ăn hay ăn cái gì mới là cần bàn đến. Một bài thơ được nhuận bút vài ba trăm, hay dăm bảy triệu. Là không phải tiền, mà là niềm kiêu hãnh. Niềm kiêu hãnh thì phải sẻ chia. Phải mời được các bạn thơ ra mà ngồi nghe ta bình mới sướng. Thế là gọi điện tứ phương, la cà quán xá ngõ này hay chui rúc ổ nhậu xó xỉnh nọ. La cà năm tháng là nghề của Loài Văn Chương mà. Hết tiền thì về phỉnh vợ, lừa xin được mới đồng, nói là đi đổ xăng. Bình xăng trở về nhà thì vẫn trống, mà bụng thì õng ra toàn bia. Thương lắm thay mấy Mụ Vợ của Thi Gia. Chưa đêm nào được ngon giấc, kể từ khi Núp Bóng Tùng quân. Nửa đêm chồng dậy, mò thuốc hút. Chẳng nhẽ lại hút suông. Kiếp người ngắn lắm, phải có ly cà phê mà nhâm nhi thì thơ mới ra được. Thơ ra thì phải viết, nếu không kiếp sau làm gì có thơ cho Nhân Loại đọc. Tự biện minh được thế là có lối thoát rồi. Lại phải pha cà phê uống tiếp. Lại lạch cạch tiếng khoắng của thìa trong cốc. Có cà phê mà không nghe nhạc thì uổng một kiếp Thi Gia. Ha ha, phải nghe nhạc nữa chứ. Vặn nhạc lên đi, ban đầu thì nhỏ, sau cứ to dần. Giữa đêm thanh vắng. Bên hàng xóm Mụ vợ của ông hàng xóm trở mình, nói lẩm bẩm với chồng trong chăn: Tội cho con vợ của lão nhà thơ ấy. Kiếp trước không biết con bé đó tu thế nào mà kiếp này vớ phải Loài đổ đốn như thế này không biết. Ông chồng nhà láng giềng chép miệng theo. Hỏi vợ nhà còn rượu không, mang sang cho Thi Gia mấy chén, để nó say mà đi ngủ. Rồi lạch xạch một mình, mang rượu sang cùng uống với Thi gia. Đấy là bài lừa đảo vợ của ông láng giềng. Vì có thức thêm cả đêm cũng không ngủ được. Mà vợ chồng thì chẳng biết còn gì để mà nói. Ông láng giềng để lại bà vợ mình nằm suông một mình. Bà vợ ông láng giềng lại chép miệng: kiếp trước mình tu thế nào mà lại vớ phải cái lão chồng chết tiệt thế này không biết. Té ra là bệnh tâm thần cũng lây. Ông láng giềng lây cái bệnh tâm thần của cái Thi Gia. Cái bệnh tâm thần hay lây đó thì nhỏ. Lây Nghiệp chướng mới lớn và đáng sợ hơn. Đấy là cả hai bà vợ đều “Kiếp trước tu đều kém cả”. Thế thì, các Mụ vợ muốn thể hiện mình kiếp trước tu tốt, hay nhất là đừng lấy chồng. Vì thằng chồng nào của mình cũng dở hơi và tâm thần cả. Đấy hình như là quy luật chung của các bà vợ sau khi đi lấy chồng.

Ta thì tử tế hơn và khôn ngoan hơn. Khi vợ Ta cắp nón theo chồng, bà mẹ vợ đã dặn dò con gái mọi điều. Nhưng chốt lại, vẫn là đổ trách nhiệm cho con gái mình, sau này đừng trách gì bố mẹ khi lấy chồng là Thi sỹ. Bà nói: Thôi con ạ, con đã quyết tâm lấy chồng văn chương thì mọi thứ phải gánh chịu, kể cả phải nuôi con riêng nó. Ta nói ta tử tế là ở chỗ, ta tôn thờ các bà vợ đều như nhau. Mỗi lần đi ăn nhậu, biết mình sẽ say. Ta viết sẵn mấy địa chỉ, cài lên túi áo trên, lịch sự và cẩn trọng lắm. Trên tờ giấy còn dặn xe ôm mang đến địa chỉ số một. Nếu không ai nhận là chồng mình thì đưa sang địa chỉ thứ hai. Địa chỉ thứ hai không nhận thì mang đến địa chỉ tiếp theo. Nếu mấy bà vợ không ai nhận chồng cả thì mang đến một nhà thằng bạn thơ nào đó. Bạn mình thì chẳng có tiền đâu, nhưng bà vợ thì thế nào cũng có. Vợ bạn sẽ trả tiền xe ôm. Ta tuyệt đỉnh khôn ngoan là chỗ đó. Tự khen mình thì cả năm không hết. Không văn nào tả xiết.

Ta bây giờ mới nói sang Kỳ Duyên của ta. Sự xuất hiện Kỳ Duyên đó vào những ngày giáp tết Giáp Ngọ ở một Địa Giới nào đó, Ta cũng không nhớ rõ.. Đất Kẻ chợ tất nhiên sẽ ồn ào như vỡ chợ. Dùng chữ “Như “ là sai, vì ta đã nói ở trên, nó vốn là cái Chợ. Thời điểm này lại cuối năm, buôn bán lắm, ăn nhậu nhiều, “rửa xui” cũng có. Kẻ sỹ đàn đúm với kẻ sỹ, dân buôn kết hội với dân buôn, thấy mà hoa cả mắt, khi đi qua các nhà hàng.

Ta đã phải dùng quá nhiều chữ để giới thiệu để các Mỹ nhân của ta nhận biết thực trạng của Đất Kẻ Chợ thời nay như thế nào. Là để biết Lịch sử ra đời của Tập Thơ “Mỹ Nhân và tiếng thở dài của Thi Ca” như thế nào. Một “Huyền Giới Tinh Thần thanh cao, trong sáng, thơ mộng, nhân văn và thể hiện sứ mệnh của thi ca” như thế nào. Nó được hình thành và lớn dần lên, nó trở thành “Một Thiên Địa tinh thần xuất thế” giữa Cõi Dục đầy khổ đau của chúng sinh trong Tam giới “Sinh tử luân hồi” như thế nào.

Ta đã dành mất nhiều bút lực cho việc giới thiệu Tập thơ “Mỹ Nhân và tiếng thở dài Thi ca “ của ta để muốn tuyên cáo cho chúng sinh biết “Văn hoá Bản Địa là bất tử, nó sản sinh ra muôn loài, trong đó có Loài Người đáng thương, Loài Mỹ Nhân đáng tôn thờ và Loài Thi nhân đáng gì ta cũng chưa biết”.

Như Ta đã nói, Ta thường được nhiều hạng người cao thấp, lớn nhỏ, hèn sang mời rượu để được nghe ta nói về Ly rượu xanh khác các loại rượu của phàm nhân như thế nào. Thi Ca Thượng Thiên và Thi Ca Hạ giới khác nhau ở đâu. Dòng văn học lưu manh có từ bao giờ v.v và vv. Bữa tiệc cuối năm ấy có một vi GS lại có kèm theo một tý chức sắc ngang với bộ trưởng gì đó. Mâm ngồi hôm đó còn có các giảng viên của nhiều trường đại học, lại chủ yếu là các Mỹ nhân. Ai ai cũng vui vẻ, chỉ còn ta với mảnh hồn xơ xác bởi sự cô đơn, lạc loài trong thế giới nhân gian này.....(lanman)....

Thi gia hôm đó miệng vẫn góp vui nhưng không biết mình đang nói những gì. Miễn là cứ nói, để thiên hạ không chế “Là kẻ sầu rượu” là được. Nhưng bất chợt ta nhận thấy có hai luồng ánh sáng kỳ lạ, sáng rực, nhưng không phải màu trắng hay màu xanh, mà một màu nâu pha với màu đỏ đỏ hay màu tím tím gì đó. Ta không phải hoạ sỹ nên không thể mô tả được bằng ngôn từ. Nhưng ánh sáng phát ra từ đôi mắt ấy triệu năm sau ta vẫn không thể quên. Một ánh nhìn vừa có tính diễu cợt vừa hóm hỉnh nhưng lại rất muốn chính phục và thu hút người khác đang nhìn vào đôi mắt ấy. Sau này, khi ta đi “Mổ xẻ tâm lý ánh sáng từ đôi mắt ấy” để nghiên cứu, Ta mới phát hiện ra. Đấy là đôi mắt của Người Thiên giới mới đầu thai làm người trong kiếp này. Và ánh sáng của đôi mắt thể hiện tâm hồn người này bị nội thương rất nặng. Ta không biết người này bị nội thương từ những kiếp trước mang tải đến kiếp này hay vừa mới bị nội thương do bọn phàm phu tục tửu trong kiếp này gây nên.

Khi bắt gặp đôi mắt ấy, ta chỉ dám nhìn hai lần. Linh cảm của một thi nhân mách bảo ta, là có người “bất Thường” trong bàn tiệc hôm nay. Đấy là một Mỹ Nhân. Lần thứ nhất, khi ta ngước lên nhìn nàng. Ta thấy miệng nàng đang tủm tỉm nửa như cười, nửa như muốn phô với Ta, nửa như nói với chính mình. Ta biết nàng đang dùng Pháp Thần giao cách cảm để nói chuyện với riêng Ta. Ánh mắt nàng không đung đưa liếc tình như mấy Mỹ nhân của ta trước đây. Đôi mắt ấy long lanh ánh sáng, như đang khích lệ, thức tỉnh hay nhắc bảo Ta: Thi nhân không nhận ra em sao? Em đã bao triệu năm trong Vương phủ bầu bạn với Thi nhân. Thi nhân đã quên em hay trốn em để xuống Hạ giới này lêu lổng dong chơi một mình cho thoả thích. Em đã bôn ba bao nhiêu tầng trời. Hôm nay mới tìm lại được Thi nhân. Thi nhân hãy tỉnh lại đi. Em là Nàng thơ của Thi nhân đây mà. Ta lúc ấy co dúm người lại, như kẻ ăn cắp bị bắt tận tay. Ta không dám nhìn lại nàng mà lại nhìn chăm chăm vào ly rượu. Ta hi vọng có một cứu cánh hay một phép nhiệm màu nào đó mách bảo cho ta hay. Nàng là ai.

Sự Ra đời của “Mỹ nhân và Tiếng thở dài Thi ca”

Mỹ Nhân đang là giảng viên của một trường đại học tuy ở Thiên Giới nhưng vẫn trong Ba cõi Sinh tử luân hồi (Gọi là Tam Giới). Xuân sắc chưa đến buổi tàn phai, nhưng cuộc cầm cự đã đến lúc gay go và phải cần đến “Pháp Trụ Nhan” mới được. Mà trong các “Pháp Trụ Nhan” thì chỉ có Thi Ca là Vua của mọi Pháp. Ha ha. Chính vì vậy mà nàng không quản thân gái dặm trường, thân quăng vào cả nơi cát bụi. Bôn tẩu hết tầng trời này đến tầng trời khác để truy lùng Một Thi Nhân đã xổng ra khỏi Huyên Giới của nàng. Nàng đã truy bắt Ta đến tận cùng trời cuối đất. Và tóm được ta trên cái đất đầy mộng mơ và thanh lịch này. Chỉ tiếc rằng Đất Trang An sau thời mở cửa, các quan chức Hà Nội đã biến nó thành một bộ mặt của Chí Phèo vừa đi ăn vạ về.

Mỹ Nhân mà ta nói đây sẽ là chủ nhân của tập thơ “Mỹ nhân và tiếng thở dài của Thi Ca” này. Những bài thơ trong tập thơ này là con của nàng. Ta chưa từng “Vơ cái của người thành cái của mình”. Không có nàng thì không có những đứa con đó. Những đứa con của nàng đã nhiều lần quỳ trước cửa trái tim của nàng để xin được xá tội cho người cha đói khát linh hồn đang tự giam mình trong “Thiên Địa Huyền Giới của nàng”. Người cha của chúng đã ào vào cuộc dời của nàng và phá cánh cửa trái tim nàng. Cánh cửa này đã bao ngàn năm nay im ỉm đóng, trống vắng và quạnh cô. Nàng là “Một Tiểu Văn Hoá Bản Địa” bị lãng quên chăng? Những đứa con của nàng sẽ tự khai về Lý Lịch của mẹ chúng. Cái đấy ta sẽ nói sau.

Và Ta đã ngẩn ngơ suốt cả mùa xuân và chỉ gọi một lần cho nàng để hỏi nàng đã nhận và đọc “Độc Bộ Tản Văn Thế kỷ 21” của ta đăng trên báo Văn Việt số Tết hay chưa.

Thời gian trôi năng nề như một tiếng thở dài. Rồi đến ngày 8 tháng 3, ta với tâm trạng bơ vơ và cô độc giữa Cõi Phàm. Ta nhớ đến ánh mắt như cười như nói và như nhắc nhở có pha chút khiển trách vì Ta chưa nhận ra được nàng đã từng hầu hạ thi ca với ta ở Đại Thiên Thế Giới nào. Ta nhớ đến một tiết tấu sắc màu kỳ lạ của chiếc áo mà nàng đã mang từ Thượng thiên xuống để thức tỉnh hồn Ta. Ta đã gửi cho nàng bốn câu thơ:

Mây lang thang vô định
Không Huyền Giới đi về
Em đâu thể biết được
Trái tim người tái tê

Nàng nói với Ta rằng Ta có một văn phong vừa trào phúng vừa lộng ngôn. Khi Ta viết thì hồn Ta khóc vì nỗi đau nhân thế mà thể xác ta cười vì cái chất giọng ấy. Mỹ nhân của ta nói thì thầm vào tai ta: Đấy là Đặc sản Rất Trần sỹ Kháng đấy, rất đáng yêu. Nhưng không phải ai cũng cảm hết được cái dư vị của Đặc sản đó. Rồi nàng thích chí cười ha ha. Thi Sỹ đã bị Em “Túm” được, nhốt lại và biến thành “Nô lệ” rồi đấy. Ta đọc lại mà hoảng cả hồn:

Nàng cứ giam hồn ấy lại cho Ta.
Và chuộc lại chẳng gì thể nào có đươc
Linh hồn này nguyện thành nô lệ
Trong vô biên khát vọng tim người.

Rồi nàng lại thì thầm mà ta cảm nhận như tiếng nàng đang gào thét: Em đã không quản thân gái dặm trường, quăng thân vào cát bụi, đi hết tầng trời này đến tầng trời khác để tìm Thi nhân. Ở đâu có đàn đúm nhậu nhẹt của Loài văn nghệ sỹ là
Em tìm đến:

Em biết ta lêu lổng khắp muôn phương
Và em đã nhọc lòng dày công truy bắt
Một Thi nhân vừa xổng tù thoát ngục
Từ Tam Giới Luân Hồi Sinh Tử hư vô.

Điều đó cũng chưa tệ lắm. Cùng lắm là bắt trở về thiên Giới là cùng. Cái tệ hơn là đã biến ta thành nô lệ của trái tim nàng:

Nàng không chỉ bắt ta làm tù binh
Nàng hoá phép biến ta thành nô lệ
Em khe khẽ nép vào tên nô lệ ấy
Là để nhốt hồn ta trong trái im em

Và cái cuối cùng ta giác ngộ ra được, là chưa thể ra khỏi Tam giới cho đến giờ phút này:

Ta tưởng mình thoát khỏi Trời Vô Tướng Vô Phiền
Ta tự tại tự do tiêu dao ra vào Ba cõi
Nhưng sáng nay ta giật mình chợt hiểu
Chẳng thể nào thoát khỏi lưới tình em.

(Vô tướng là tầng Trời thứ 13, Vô phiền là tầng thứ 14 và Vô nhiệt là tầng Trời thứ 15, của Cõi Sắc Giới. Lên được một tầng Trời là Giả Thoát đựơc một Uẩn nào đó của chúng sinh. Ví dụ lên tầng thứ 5 là Vô Lượng. Chắc ở đây không còn có khối lượng nữa. Không khối lượng thì không bị chi phối bởi lực vạn vật hấp dẫn. Lúc đó thì Định luật Vạn vật hấp dẫn bị vất ra ngoài).

Thế rồi để an ủi Ta, nàng lại thì thầm: Thi Nhân có khó chịu với “Gông Cùm” không? Nàng khen thực hay giả ta cũng không thể nhận biết. Nàng nói: bài thơ “Thi ca Thiên sứ” của Thi Nhân rất hay. Thể hiện được cả tình yêu với Mỹ Nhân và với Văn Hoá Bản Địa (VHBĐ). Thể hiện được cả Tư tưởng và Thái Độ của Thi Nhân. Em rất và rất thích bài đó.

Ta viết bài Thi ca Thiên Sứ sau khi Mỹ nhân của Ta “Tóm” được ta khi ta đang lêu lổng ở Hạ Giới và quên cả đường về Thiên Giới. Thậm chí là Ta đang sấp ngửa với miếng cơm manh áo cho mấy bà vợ và mấy bầy con của ta nơi tầng Trời Hằng Kiều này. Quên cả việc đi tìm nàng đã thất lạc nơi đâu.

Ta sấp ngửa hằng Kiều hạ Giới
Nơi tham sân xuýt nữa mất em.

Ta vì cái tham sân của chúng sinh mà quên cả đường về, quên cả nhiệm vụ của mình xuống Hạ Giới. Đấy là tính Vô thường và Giả tạm ở Cõi Dục. Khi chúng sinh nhận nhiệm vụ xuống làm việc gì đó. Rồi do căn cơ thể xác làm cản trở, không ai thức tỉnh, là quên ngay, không biết mình là ai ở Cõi này. Và Sống để làm gì. Quên mình và lao vào với một bầy chúng sinh đầy dục vọng. Đến khi nhận biết mình là ai thì đã đánh mất linh hồn rồi. Than ôi, muộn quá. Lúc đó chỉ muốn tìm một Cứu cánh để thoát được cuộc đời phàm tục này. Thi nhân thì thường là tìm Hồng Nhan Tri kỷ (HNTK) để làm cứu cánh. Không biết HNTK đôi lúc lại nhấn chìm Thi nhân vào vào một Huyền Giới khác. Đấy là Huyền Giới của Thi ca (HGTC). Ta cũng không ngoại lệ.

Ta lang thang Hạ Giới đã lâu
Đâu còn nhớ đường về Tiên Giới
Xin Mỹ nhân chở hồn ta theo với
Bởi ta đã chán nhàm Cõi Dục chơi vơi

Em hãy thương một linh hồn rách nát tả tơi
Em nới rộng Huyền Giới em cho ta vào nương náu.
Thi nhân là mây, Mỹ nhân là gió
Em hãy cuốn hồn ta đi, còn đợi đến bao giờ.

May mà nàng có Thiên Mệnh của mình. Nàng xuống tìm Ta để lôi ta ra khỏi cái Tham – Sân – Si của cuộc đời này. Nàng có một trí tuệ siêu nhiên mà ta ngưỡng mộ. Trước đây Ta nhận biết được sự ù ì và chậm chạp của chúng sinh Cõi Dục này. Trái đất mà Ta đang sống nằm ở ống tay áo thứ 13 của Đại Thiên Thế giới. Nơi này heo hút lắm. như ở mù cang chải vậy, vậy nên khó mà giác ngộ lắm....

Em là ai mà tuyệt đỉnh thông minh
Em biết giả ngu để ta không giờ tỉnh
Em cho ta vay cái ngu ngơ chút đỉnh
Ta trả nợ em quằn quại những khát thèm

Ta ước mơ mình thật sự được điên
Nhưng thiên hạ chẳng ai cho điên cả
Chỉ có em yêu kiều trong vất vả
Dỗ dành ta quay lại với thi đàn

Thời gian không trôi nhưng đang héo tàn
Bởi sự ù ỳ của thế nhân Hạ Giới.
Ta ngơ ngác trước cuộc đời vô lối
Tội nghiệp tim em đã hiến Thi Ca

Ta lại nói tiếp sứ mệnh cảu Thi ca. Tiếng thở dài của thi ca thì có ích gì trước nhân loại. còn trước mỹ nhân thì lại càng chẳng có tác dụng gì.

Ta thì nghĩ khác. Thi ca có chức năng khai sáng chúng sinh. Nhiều vị quan niệm rằng. Thi Ca là tự thưởng thức, tự làm khoái mình. Ngay như Đại Tông sư của thi cac Việt nam, Cụ Nguyễn Du cũng đã viết Truyện Kiều bằng hai câu:

Trăm năm trong cõi người ta
Mua vui cũng được một vài trống canh.

Nhưng chỉ hai câu thôi, cũng đưa cho chúng sinh một thông điệp là kiếp người ngắn lắm. ...... Nên nhớ rằng, bọn lừa đảo thường nói dối mà không biết ngượng. Các cụ dạy là vô liêm sỷ. Bởi lừa đảo là một nghề. Nghề biến thành nghệ. Nghệ thuật ấy. Nghệ thuật nói dối buổi đầu thì lừa người ta, sau đó tự mình tin là tưởng thật rồi bám vào cái sự lừa đó. Đấy gọi là bệnh tự kỷ ám thị vậy.

Ta muốn nói đến sự khai sáng của thi ca. Ta đã trích một đọan trong bài “Thi ca và Mỹ Nhân”

Em bây giờ không là những ngày qua
Em đã nhấn chìm Thi Nhân vào biển ái.
Em với thời gian không còn qua lại
Vì Em có quyền năng vô thượng – Tình yêu

Sự kỳ diệu của Thi ca là đưa chúng sinh ra khỏi Tam giới. Chúng sinh thoát khỏi ba Cỗi “Sinh Tử Luân hồi”. Chúng sinh nhận biết được sự vô thường giả tạm ở trong Tam Giới này. Chúng sinh nhận biết Chân Giả của Triết học và Học thuyết. Đấy là phép nhận biệt Chính – Tà. Và thấu hiểu Đạo Nhân – Quả. “Mỹ nhân và Tiếng thở dài Thi ca” đưa Chúng Sinh Ù Ỳ Cõi Dục thoát khỏi Bể khổ Sinh tử Luân Hồi, đến Bờ Cứu Cánh, nhưng không buộc cũng không mở.

Đấy là Sứ Mệnh Thi Ca.

3.
Còn Sứ Mệnh họ Trần ?


http://www.thica.net/category/tat-ca/tran-sy-khang/
 — với Tran Manh Hao và18 người khác.

Phần nhận xét hiển thị trên trang