Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Sáu, 11 tháng 7, 2014

Nhịp điệu mơ hồ của ách tắc ( Tiêu đề do NGố đặt lại )


Có lẽ một mùa thu có ý nghĩa bậc nhất trong lịch sử nước nhà đang dạo đầu với khúc ouverture mở màn chăng? Chiều qua lúc uống bia nhà văn Sương Nguyệt Minh bảo "lạ thật năm nay sao mưa mà vẫn cứ oi?" Tôi bảo " bởi vì đó chính là sự ách tắc trong không khí". Người xưa có câu "thiên nhân tương ứng" hay "người buồn cảnh có vui đâu bao giờ". Ở Việt Nam có một chuyện hết sức ứng nghiệm, trước năm 1975, khi đất nước bị phân đôi rõ ràng ở vĩ tuyến 17, thì ở miền Nam hầu như không bao giờ có gió lạnh, nhưng khi đất đai nối liền một dải, xứ Nam đã được thưởng thức rất nhiều đợt gió lạnh từ phía Bắc đổ vào.
Thấy những cơn mưa liên hồi giống mưa ngâu về sớm, một anh bạn tôi muốn đọc lại bài "Hoài niệm thu". Tôi đã hứa! Nhưng chưa thích làm. Bởi lẽ, tôi thích bài "Nhịp điệu thời gian" hơn, theo tôi, bài này khó và tài hơn bài "hoài niệm thu". Thời gian là vấn đề khó nhất của con người cũng như nghệ thuật. Triết gia Kant nói "chúng ta có thể hiểu đôi chút về không gian, nhưng không hiểu gì về thời gian cả". Nhà bác học Einstein đã liên kết thời gian thành chiều thứ tư của không gian, và họa sĩ Dali đã vẽ một bức tranh nổi tiếng là "Chiều thứ tư" với chiếc đồng hồ chảy nhão vắt trên cành cây. Có vài tác giả Việt đã viết về thời gian vài câu thì đều nổi tiếng như "Đáy đĩa mù đi nhịp hải hà" (Buồn xưa, Nguyễn Xuân Sanh).
Vậy tôi xin giới thiệu một bài về chuyên đề khó nhất là Thời gian. Mong rằng nó đủ duyên dáng và khúc triết, khiến các bạn không thất vọng. Cám ơn nhiều! (bài hoài niệm thu xin được đăng trễ hơn).
Poem 4
NHỊP ĐIỆU THỜI GIAN
Nguyễn Hoàng Đức
Tích tạch tạch ...
Thời gian nặng nhọc chuyển mình
Bánh xe đồng hồ
Nhích dần về điểm luân hồi
Không Giờ!
Ngày cũ lặng trôi ấp ủ
Men sáng của bình minh mới
Ôi, thời gian!
Ngươi có phải hư vô
Không buổi khai sinh
chẳng ngày tận thế?
Ngươi là ánh sáng hay đêm tối?
Mà dồn đuổi hoàng hôn đến tận chân trời
Gom nhặt những tia sáng tàn phai như báu vật
dệt tơ cho tấm thảm ban mai
ngập ngừng chân mây luyến tiếc
lòng bóng đêm huyền nhiệm diệu kỳ?
Ngươi là ai?
vừa hiện mình trân trân
vừa giấu mình biền biệt
không chỉ với thiên thu
mà ngay trong khoảnh khắc
ngươi trở mình tại mốc số không
hóa dấu chấm của một ngày tàn
thành dấu ngoặc mở ra
cho mặt trời ló rạng!
tíc tắc... tíc tắc...
ta chẳng hiểu được ngươi
nhưng mà biết
đó là nhịp đập miệt mài
của trái tim vũ trụ
là nhịp thở ngọt ngào của đất mẹ dịu hiền
đang hồi sinh cho từng cây cỏ
là tiếng rỏ của những hạt sương
gấp gáp tắm gội lớp bụi trần
cho những nụ hoa lòng thấp thỏm
sợ mình không kịp nở nụ cười
chào đón nắng long lanh
của ban mai trong trẻo
phầm phập phầm...
nhặt khoan tiếng kim giây
cắt dòng thời gian
tựa mái chèo buông
chém ngọt dòng sông
một khoảnh khắc xén ngang vĩnh cửu
vật lòng lặng lẽ
lấp láy... lấp láy
những vì sao dặt dìu
đôi bàn chân nhấp nháy
chìm trong vũ điệu
mặc vòm trời trầm ngâm khơi vực thẳm
thả hồn xao xuyến
xình xịch... xình xịch...
nhịp con tầu chuyển bánh
băng trên đường ray
buông những thán từ
Tu hu! Tu hu...
từ lồng ngực khát khởi hành
Ôi thời gian!
Ta chẳng hiểu ngươi là ai?
Song thấy rõ
Ngươi là ngày và đêm
Ánh sáng và bóng tối
Là khoảnh khắc sánh vai cùng vĩnh cửu
Là hữu thể bay trên cánh hư vô
Ngươi là bóng câu
vọt qua cửa những ngôi nhà hạnh phúc
là chân rùa
leo dốc đỉnh cô đơn
Ngươi nhẹ lâng lâng
Trên mũ người phong lưu
Nhưng nặng như chì
Trên vai kẻ khó
Ngươi đếm từng khắc
với kẻ yêu đương
nhưng thả trôi năm tháng
mặc những con tim chờ đợi
Ngươi là thiên sứ vui mừng
Bên nôi bé hài nhi
Là địa ngục gớm ghê
cạnh giường người hấp hối
*
Ôi thời gian
Ngươi chảy đi
Tràn qua tất cả
Ngươi là điệu van chuyển mình
dập dình trên những dòng sông duyên dáng
là vũ điệu bao la của biển
dìu những cánh buồm say trên sóng nhạc
là thánh ca của muôn vàn bông tuyết
hát mùa gieo hạt trên những đỉnh mờ sương
là hòa điệu của những bàn chân
tấu cùng mặt đường muốn nhảy
là hành khúc vó ngựa dồn
cuốn lốc trên nẻo đường chinh phạt
là lời thổn thức của ánh trăng e lệ
rót trên môi những kẻ si mê
là hòa âm của muôn vạn côn trùng
tan vào đêm mặc khải
là tiếng reo của những hàng thông bên sóng thủy triều
giữ nhịp thở thiên thu của đất
Ôi thời gian
Bài ca của ngươi là vô tận
nhịp điệu của ngươi là vô biên
ta chẳng rõ ngươi là ai
nhưng biết chắc một điều
ngươi không phải hư vô
bởi lẽ, chẳng bao giờ
ngươi muốn lật nhìn
dòng lịch sử của mình
qua những tờ giấy trắng!
sột soạt... sột soạt...
ngòi bút của ta lại muốn trở mình
hát một bài ca mới
lên giấy trắng tinh khôi.
Hà Nội, đêm 19/12/1996

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Kundera, Milan Hài kịch ở khắp nơi

Bản dịch của Phan Quỳnh Trâm.
Hoàng Ngọc-Tuấn hiệu đính.

MILAN KUNDERA
(1929~)


Lời giới thiệu:
 
Milan Kundera là nhà văn nổi tiếng nhất của Tiệp Khắc (bây giờ có tên chính thức là Cộng hòa Séc, Czech Republic). Thời trẻ, ông học piano từ bố; sau, lớn lên, ông tiếp tục nghiên cứu về nhạc học và có kiến thức sâu rộng trong lãnh vực này. Lên đại học, ông học về văn chương, rồi chuyển sang điện ảnh. Tốt nghiệp năm 1952, ông được giữ lại trường làm giảng viên văn học thế giới trong Khoa Điện ảnh. Dần dần ông đi vào con đường sáng tác, lúc đầu bằng thơ và tiểu luận, sau đó, sang kịch và cuối cùng, thể loại làm ông nổi tiếng nhất là tiểu thuyết. Vở kịch đầu tay của ông, Các chủ nhân của những chiếc chìa khóa, công diễn tại Tiệp năm 1963, nhận giải thưởng quốc gia, và được xem là một thành công vang dội của nền kịch nghệ hiện đại của Tiệp. Mấy năm sau, ông cho xuất bản cuốn tiểu thuyết đầu tay, Trò đùa, được tái bản ngay trong vòng mấy tháng, trở thành một tác phẩm rất ăn khách thời ấy. Nhà thơ Aragon của Pháp cho đó là một trong những cuốn tiểu thuyết lớn nhất của thế kỷ.
 
Cũng như phần lớn giới cầm bút và trí thức Tiệp thời bấy giờ, ông tham gia vào cuộc nổi dậy mùa xuân 1968, lên tiếng đòi hỏi tự do và dân chủ. Phong trào ấy bị Nga xua quân dẹp tan. Sau đó, Kundera bị đuổi ra khỏi trường đại học; tất cả sách của ông đều bị loại trừ ra khỏi các thư viện; và ông không còn được phép xuất bản bất cứ thứ gì trong nước nữa. Năm 1975, Kundera được trường Đại học Rennes ở Pháp mời dạy. Năm 1979, chính quyền Tiệp tước quyền công dân của ông. Hai năm sau, 1981, ông xin vào quốc tịch Pháp.
 
Lúc đầu, Kundera sáng tác bằng tiếng Tiệp. Từ năm 1985, sau khi sống ở Pháp được 10 năm, ông bắt đầu tự tin đủ để tự hiệu đính lại tất cả các tác phẩm được người khác dịch ra tiếng Pháp trước đó. Từ năm 1993 trở đi thì ông viết thẳng bằng tiếng Pháp.
 
Hiện nay, Kundera không những nổi tiếng tại Tiệp hay tại Pháp mà còn khắp thế giới. Một số tác phẩm của ông cũng đã được dịch sang tiếng Việt và tên tuổi của ông cũng trở thành rất quen thuộc với độc giả Việt Nam. Ngoài việc ngưỡng mộ tài năng của ông, chúng ta còn có thể chia sẻ với ông nhiều quan điểm về việc viết lách, về văn chương, về thân phận của các dân tộc nhỏ và khép kín với thế giới bên ngoài, do đó, hầu như lúc nào cũng bị ngộ nhận.
 
Phan Quỳnh Trâm

_________

HÀI KỊCH Ở KHẮP NƠI
[kỳ 1]

Viết cho dịch giả
Hẳn tôi ở trong một tình thế khá oái oăm. Tôi viết tiểu thuyết bằng tiếng Tiệp. Nhưng từ năm 1970 tôi không được phép xuất bản sách trong nước tôi, và vì vậy không có ai đọc tôi bằng ngôn ngữ ấy cả. Sách của tôi trước hết được dịch sang tiếng Pháp, được xuất bản tại Pháp, rồi tại các quốc gia khác, nhưng bản gốc vẫn còn nằm lại trong ngăn kéo của tôi như một thứ ma trận.
Vào mùa thu năm 1968 tại Vienna tôi gặp một người đồng hương, vốn là một nhà văn, người đã quyết định vĩnh viễn rời bỏ Czechoslovakia. Ông biết điều ấy có nghĩa là sách của ông sẽ không còn được xuất bản ở đó nữa. Tôi nghĩ ông ấy đang tự tử dưới một hình thức nào đó, và tôi hỏi liệu ông có sẵn sàng để chỉ viết cho các dịch giả trong tương lai, liệu vẻ đẹp của tiếng mẹ đẻ không còn có ý nghĩa gì với ông nữa chăng. Khi tôi trở lại Prague, tôi có hai điều ngạc nhiên chờ sẵn: ngay cả khi tôi không hề ra nước ngoài sinh sống, tôi cũng đã bị buộc, từ lúc ấy trở đi, chỉ viết cho các dịch giả. Và, có vẻ như nghịch lý, tôi cảm thấy chính điều đó đã mang lại cho tiếng mẹ đẻ của tôi thật nhiều điều tốt đẹp.
Với tôi, sự cô đọng và trong sáng là những gì làm cho ngôn ngữ trở thành đẹp đẽ. Tiếng Tiệp là một ngôn ngữ sống động, nhiều hàm ý và giàu cảm giác, nhưng để được như thế, đôi khi nó phải đánh mất sự khúc chiết, sự mạch lạc và chính xác hợp lý. Nó giàu chất thơ, nhưng khó chuyển tải tất cả ý nghĩa của nó đến một độc giả ngoại quốc. Tôi rất lo không biết tôi có được dịch một cách trung thực hay không. Khi viết hai cuốn tiểu thuyết cuối cùng, tôi đã có sẵn một dịch giả tiếng Pháp trong đầu. Tôi đã buộc mình — thoạt đầu một cách tự phát — viết những câu văn tỉnh táo hơn và dễ hiểu hơn. Một cuộc tẩy trần của ngôn ngữ. Tôi rất mê thế kỷ thứ 18. Vậy thì càng tốt hơn nữa nếu những câu văn tiếng Tiệp của tôi phải soi chiếu một cách cẩn thận vào tấm kính trong sáng của ngôn ngữ Diderot.[1]
Goethe có lần đã nói với Eckermann là họ đang chứng kiến ngày tàn của nền văn học quốc gia và sự khai sinh của một nền văn học thế giới. Tôi tin rằng, từ thời của Goethe trở đi, một nền văn học chỉ nhắm đến độc giả ở trong nước là đã lỗi thời và không thể hoàn thành chức năng căn bản của nó được. Mô tả thân phận con người trong một cách thế khiến chúng trở thành bất khả tri nhận ở ngoài biên giới của bất cứ riêng một đất nước nào thì cũng là một cách chơi khăm độc giả của chính nước ấy. Làm như vậy, chúng ta không cho họ nhìn xa hơn mảnh vườn sau nhà của họ, chúng ta trói họ vào một chiếc áo chật chội và hẹp hòi của tính chất địa phương. Không được xuất bản tác phẩm của mình trong đất nước của mình là một bài học tàn nhẫn; nhưng tôi nghĩ, đó cũng là một bài học hữu ích. Trong thời đại này, cuốn sách nào mà không thể trở thành một phần của nền văn học thế giới thì chúng ta phải xem nó là không hiện hữu...

Trung Âu
Với tư cách một nhà văn Tiệp Khắc tôi không thích bị đóng khung trong nền văn học của Đông Âu. Đông Âu chỉ là một thuật ngữ chính trị thuần tuý được sử dụng chưa tới ba mươi năm. Xét trên truyền thống văn hoá, thì Đông Âu là Nga, trong khi Prague lại thuộc về Trung Âu. Rủi thay, những người Tây Âu lại không biết về địa lý của chính họ. Sự thiếu hiểu biết này có thể là một tai hoạ nghiêm trọng, như nó đã từng được chứng minh trong quá khứ. Hãy nhớ đến Chamberlain vào năm 1938 và những lời phát biểu của ông về “một quốc gia nhỏ bé mà chúng ta biết rất ít”.
Các quốc gia ở Trung Âu đều nhỏ và quá khép kín đằng sau hàng rào của những ngôn ngữ không ai biết và ít người nghiên cứu. Và dù vậy, chính phần lãnh thổ đó ở Châu Âu, trên năm mươi năm qua, đã trở thành một thứ trọng điểm nơi lịch sử đã tiến hành những cuộc thí nghiệm lạ thường, đối với cả mỗi con người cho đến các quốc gia. Và sự kiện những người sống ở Tây Âu vốn chỉ có những quan niệm cực kỳ đơn giản, chưa bao giờ nhìn nhận vấn đề một cách đúng mực để nghiên cứu những gì đang diễn ra cách những mái nhà êm đềm của mình vài trăm cây số, tôi xin lặp lại, có thể là tai hoạ nghiêm trọng đối với họ.
Từ vùng Trung Âu này đã nẩy sinh một vài xung động văn hoá quan trọng, mà nếu không có chúng, thì chúng ta không thể hình dung được thế kỷ của mình: phân tâm học của Freud; nhạc phi cung thể của Schönberg; tiểu thuyết của Kafka và Hašek, vốn đã khám phá ra một thế giới văn học tân kỳ và cái thi tính mới mẻ của loại tiểu thuyết phi tâm lý; cuối cùng, là cấu trúc luận, vốn được khai sinh và phát triển tại Praque trong thập kỷ 20 để rồi trở thành một thứ thời thượng ở Tây Âu ba mươi năm sau đó. Tôi lớn lên với những truyền thống này và có rất ít điểm chung với Đông Âu. Xin thứ lỗi nếu như tôi day đi day lại mãi với những chi tiết địa lý buồn cười này.

Những quốc gia nhỏ
Những quốc gia lớn đang bị ám ảnh với ý tưởng về sự thống nhất. Họ thấy sự tiến bộ trong sự thống nhất. Ngay cả thông điệp của Tổng thống Carter đến với những cư dân ngoài hành tinh cũng chứa đựng một đoạn văn bày tỏ sự hối tiếc là thế giới đã được chia thành nhiều quốc gia và niềm hy vọng là nó sẽ kết hợp lại trong một nền văn minh duy nhất. Như thể sự thống nhất là phương cách chữa trị mọi bệnh tật. Một quốc gia nhỏ, trong nỗ lực duy trì chính sự tồn tại của nó, đấu tranh cho quyền được khác biệt. Nếu sự thống nhất chính là sự tiến bộ, thì những quốc gia nhỏ, tự bản chất, phản-tiến bộ trong ý nghĩa tinh tế nhất của từ này.
Các quốc gia lớn làm nên lịch sử, các quốc gia nhỏ nhận được những ơn phước của nó. Các quốc gia lớn tự xem mình là chủ nhân của lịch sử và vì thế không thể làm gì khác ngoài cách đối xử nghiêm túc với lịch sử, và với chính họ. Một quốc gia nhỏ không nhìn thấy lịch sử như sở hữu của mình và có quyền không đối xử nghiêm túc với nó.
Frank Kafka là một người Do Thái, Jaroslav Hašek là người Tiệp — cả hai đều là thành viên của một dân tộc thiểu số. Khi Đệ Nhị Thế Chiến nổ ra, Châu Âu bị phủ chụp bằng một cơn bộc phát của chủ nghĩa dân tộc hiếu chiến, vốn không tha cả Thomas Mann và Apollinarie. Chúng ta có thể đọc thấy trong nhật ký của Kafka: Đức đã tuyên chiến với Nga. Đi bơi vào buổi chiều. Và đến khi, vào năm 1914, nhân vật Schweik[2] của Hašek nghe nói Ferdinand đã bị giết, ông hỏi Ferdinand nào — là người thợ học việc ở tiệm cắt tóc kẻ có lần đã uống dầu xức tóc, hay là Ferdinand, người chuyên thu gom cứt chó trên vỉa hè?
Người ta nói rằng sự vĩ đại của cuộc sống chỉ được tìm thấy khi cuộc sống tự vượt qua chính nó. Nhưng nếu toàn bộ cuộc sống thăng hoa đó là lịch sử — mà lịch sử lại chẳng thuộc về chúng ta — thì sao? Chẳng lẽ chỉ còn cái công sở phi lý của Kafka? Chỉ còn sự điên rồ trong quân đội của Hašek? Như vậy thì cái vĩ đại, cái trọng lực, và cái ý nghĩa của tất cả những điều đó nằm ở đâu? Nhà văn thiên tài của những dân tộc thiểu số đã khám phá ra một thế giới không có trọng lực và sự vĩ đại. Ông đã khám phá sự kỳ dị (grotesqueness) của nó. Ý niệm của Hegel về lịch sử — khôn ngoan và thăng tiến, như những nữ sinh chuyên cần, càng ngày càng ở cao hơn trên nấc thang của sự tiến bộ — đã bị Hašek và Kafka chôn vùi một cách kín đáo. Trong ý nghĩa đó, chúng ta là những kẻ thừa kế của họ.
Sự hài hước của người Prague chúng tôi thường khó hiểu. Milos Forman bị những nhà phê bình chỉ trích vì trong một bộ phim của ông, ông đã khiến cho khán giả cười ở chỗ họ không nên cười. Cười không đúng chỗ. Nhưng chẳng phải nó chính là ý nghĩa của mọi thứ? Hài kịch ở đây không phải chỉ để đơn giản nằm ngoan ngoãn trong ngăn kéo được dành riêng cho những vở hài kịch, những trò giễu và những màn giải trí, nơi những “tinh thần nghiêm túc” sẽ giam hãm nó. Hài kịch ở mọi nơi, trong mỗi chúng ta, nó đồng hành cùng chúng ta như cái bóng của chúng ta, nó ở ngay cả trong sự bất hạnh, nằm chờ chúng ta như một vực thẳm. Nhân vật Joseph K.[3] mang tính khôi hài vì sự vâng lời có kỷ luật của anh ta, và câu chuyện của anh lại càng thêm bi thảm vì điều đó. Hašek cười ngay giữa những cuộc tàn sát khủng khiếp, và do đó những cuộc tàn sát ấy lại càng trở nên không thể chịu đựng được. Bạn thấy đó, có một sự an ủi trong bi kịch. Bi kịch cho chúng ta một ảo tưởng về sự vĩ đại và ý nghĩa. Những người đã trải qua những cuộc đời bi thảm có thể nói về nó với niềm tự hào. Những người không có chiều hướng bi thảm, những người chỉ biết đến những hài kịch của cuộc sống, thì không thể có ảo tưởng về bản thân họ.
Khi tôi đến Pháp, điều khiến tôi kinh ngạc nhất là sự khác biệt trong tính hài hước của mỗi nước. Người Pháp vô cùng hài hước, dí dỏm và vui vẻ. Nhưng họ nghiêm túc đối với bản thân và thế giới. Chúng tôi buồn hơn nhiều, nhưng chẳng nghiêm túc đối với bất cứ điều gì cả.

[còn tiếp]
 Văn chương dấn thân
Cả quãng đời tôi ở Czechoslovakia, tôi đã chống lại việc giảm thiểu văn chương thành một thứ công cụ để tuyên truyền. Thế rồi tôi thấy mình ở phương Tây chỉ để khám phá ra là nơi đây người ta viết về văn học của cái được gọi là các-quốc-gia-Đông-Âu như thể nó không là gì hơn một công cụ tuyên truyền, dù là theo hay chống Cộng sản. Tôi phải thú nhận là tôi không thích chữ “phản kháng”, nhất là khi nó được áp dụng trong nghệ thuật. Nó là một bộ phận khắng khít của chính sự bóp méo mang tính ý thức hệ và chính trị hóa khiến cho tác phẩm nghệ thuật trở nên què quặt. Những cuốn tiểu thuyết của Tibor Dery, những cuốn phim của Miloš Forman — chúng có hay không có tính phản kháng? Chúng không thể nằm lọt vào một phạm trù như vậy được. Nếu bạn không thể xem nghệ thuật đến với bạn từ Prague hay Budapest trong cách thức nào khác hơn cái mã chính trị ngu xuẩn này, bạn đã giết chết nó một cách tàn bạo không kém gì những kẻ giáo điều theo chủ nghĩa Stalin cả. Và bạn không thể nào nghe thấy được tiếng nói thực sự của nó. Tầm quan trọng của thứ nghệ thuật này không nằm ở chỗ nó kết tội chế độ chính trị này hay kia, mà ở chỗ, bằng sức mạnh của kinh nghiệm xã hội và nhân sinh mà ở đây người ta không cách gì tưởng tượng nổi, nó cung cấp một lời chứng thực mới về những hoàn cảnh nhân sinh.
Nếu “dấn thân” theo ý của bạn là văn học phục vụ cho một tín điều chính trị nào đó, thì để tôi nói thẳng với bạn rằng thứ văn học đó chỉ là sự thỏa hiệp thuộc loại tồi tệ nhất.
Một nhà văn luôn luôn thèm khát được như một võ sĩ quyền Anh hay một nhà cách mạng. Hắn khát khao hành động và mong mỏi được tham dự một phần trực tiếp trong đời sống “thực tế”, làm cho tác phẩm của hắn phục vụ những mục đích chính trị tức thời. Sự bất thoả hiệp của tiểu thuyết, tuy vậy, lại không nằm ở việc nó gắn bó chặt chẽ với một dòng chính trị cấp tiến, đối lập, mà ở chỗ nó trình bày một thế giới quan khác biệt, độc lập và độc đáo. Bằng cách đó, và chỉ bằng cách đó, tiểu thuyết mới có thể tấn công vào những quan điểm và thái độ thủ cựu.
Có những bình luận gia bị ám ảnh bởi con quỷ của sự đơn giản hoá. Họ giết sách bằng cách quy giản nó thành một sự diễn dịch chính trị đơn thuần. Những người đó chỉ quan tâm đến cái gọi là “những-nhà-văn-Đông-Âu” chừng nào sách của họ bị cấm. Đối với họ, có những nhà văn chính thống và có những nhà văn phản kháng — và chỉ thế thôi. Họ quên rằng bất cứ thứ văn chương đích thực nào cũng vượt qua kiểu đánh giá đó, vượt qua thứ Ma-ni giáo[1] đó của sự tuyên truyền.
Có những tình huống lịch sử mở tâm hồn người ta ra như cách bạn mở một hộp cá mòi. Không có chiếc chìa khoá do lịch sử gần đây của đất nước tôi trao cho, tôi đã không thể, chẳng hạn, khám phá ra trong tâm hồn của Jaromil[2] sự tồn tại đáng kinh ngạc cùng lúc của một Nhà Thơ và của một Tên Chỉ Điểm.
Chúng ta đã quen thói quy trách nhiệm cho tất cả mọi điều lên những “chế độ”. Điều này khiến chúng ta không nhìn thấy rằng một chế độ chỉ vận động theo những cơ chế vốn đã tồn tại bên trong chính chúng ta... Sứ mệnh của tiểu thuyết không phải là để bêu riếu những thực tế chính trị hiển nhiên mà là để vạch trần những sự kiện ô nhục ở tầm cỡ nhân chủng.

Cái chết của tiểu thuyết
Kể từ thập kỷ hai mươi, hầu như mọi người đều đã viết lời ai điếu cho tiểu thuyết — những nhà Siêu Thực, những nhà tiền-vệ người Nga, và nhà văn Malraux, người đã tuyên bố rằng tiểu thuyết đã chết từ lúc Malraux ngừng viết tiểu thuyết, vân vân và vân vân. Thế có lạ không? Chẳng ai nói về cái chết của thơ cả. Vậy mà, kể từ thế hệ vĩ đại của các nhà Siêu Thực, tôi không hề biết đến một tác phẩm thơ nào thực sự lớn lao và cách tân. Không một ai nói về cái chết của kịch nghệ. Không một ai nói về cái chết của hội hoạ. Không một ai nói về cái chết của âm nhạc. Tuy vậy, kể từ Schönberg, âm nhạc đã từ bỏ truyền thống hàng ngàn năm dựa trên hệ thống chủ âm và dựa trên nhạc cụ. Verese, Xenakis... Tôi rất thích họ, nhưng liệu đó có còn là âm nhạc? Cách gì đi nữa, chính Varese thích nói về cơ cấu của âm thanh hơn là âm nhạc. Vì vậy, âm nhạc có thể đã chết suốt nhiều thập kỷ rồi, nhưng không ai nói về sự suy tàn của nó. Họ nói về cái chết của tiểu thuyết, mặc dù đây có thể là loại hình nghệ thuật ít chết nhất trong tất cả.
Nói về sự cáo chung của tiểu thuyết là một mối bận tâm cục bộ của những nhà văn Tây Âu, đặc biệt là người Pháp. Thật ngớ ngẩn khi nói về nó với một nhà văn đi từ vùng châu Âu của tôi, hay từ châu Mỹ La-tinh. Làm sao người ta có thể lầm bầm về cái chết của tiểu thuyết trong khi trên kệ sách của họ có cuốn Trăm năm cô đơn của Gabriel García Marquéz? Ngày nào còn có một kinh nghiệm nhân sinh không thể mô tả được ngoại trừ trong một cuốn tiểu thuyết, thì ngày ấy mọi phỏng đoán về sự hết thời của nó chỉ là những biểu hiện của sự rởm đời. Dĩ nhiên, có thể đúng khi nói rằng tiểu thuyết ở Tây Âu không còn đem lại nhiều kiến quan thâm thúy mới mẻ và rằng để nhận được những kiến quan ấy chúng ta phải nhìn sang phần bên kia của châu Âu và nhìn sang châu Mỹ La tinh.
Tôi đoán rằng tất cả những lời nói về cái chết của tiểu thuyết là do thứ tư duy mang tính cánh chung luận [3]của các nhà tiền-vệ. Được thúc đẩy bởi những ảo tưởng có tính cách mạng, những nhà tiền-vệ mơ mộng về việc thiết lập một thứ nghệ thuật hoàn toàn mới, một kỷ nguyên hoàn toàn mới. Bạn có thể xem điều đó tương tự với tinh thần câu nói nổi tiếng của Marx về thời tiền sử và lịch sử của nhân loại.[4] Từ quan điểm này, tiểu thuyết hẳn là thuộc về thời tiền sử, trong khi lịch sử sẽ được thống trị bởi thi ca, trong đó tất cả những thể loại trước kia sẽ hoà tan và biến mất. Thật là đáng kinh ngạc khi ta thấy thứ quan niệm mang tính cách chung luận này, mặc dù hết sức phi lý, lại được rất nhiều người chấp nhận và trở thành một trong những sáo ngữ phổ biển nhất của kẻ đua đòi đương đại. Hắn khinh miệt tiểu thuyết, hắn thích nói về “văn bản” hơn. Theo hắn, tiểu thuyết là cái của quá khứ (thời tiền sử của chữ nghĩa), mặc dù trên thực tế sức mạnh lớn nhất của văn chương trên 50 năm qua đã nằm trong chính lãnh vực đó — cứ thử lấy Robert Musil, Thomas Mann, Faulkner, Céline, Pasternak, Gombrowicz, Gunter Grass, Boll, hay những người bạn quý của tôi, Philip Roth và García Marquéz, làm ví dụ.
Tiểu thuyết là một trò chơi với những nhân vật được tạo ra. Bạn trông thấy thế giới qua những đôi mắt của họ, và do đó bạn trông thấy nó từ nhiều góc độ khác nhau. Các nhân vật càng khác biệt nhau bao nhiêu, thì tác giả và độc giả càng phải bước ra khỏi chính mình và cố gắng hiểu bấy nhiêu. Ý thức hệ muốn thuyết phục bạn rằng chân lý của nó là tuyệt đối. Tiểu thuyết trình bày ra cho bạn thấy mọi thứ đều tương đối. Ý thức hệ là một trường học của sự bất khoan dung. Tiểu thuyết dạy cho bạn lòng khoan dung và sự tri cảm. Thế kỷ của chúng ta càng nặng tính chất ý thức hệ bao nhiêu, thì tiểu thuyết lại càng sái niên đại bấy nhiêu. Nhưng nó càng sái niên đại bao nhiêu, thì chúng ta lại càng cần nó bấy nhiêu. Ngày nay, khi chính trị trở thành một tôn giáo, tôi xem tiểu thuyết như là một trong những hình thái cuối cùng của chủ nghĩa vô thần.
Khi còn là một đứa bé, tôi từng lý tưởng hoá những người trở về từ nhà tù chính trị. Thế rồi tôi khám phá ra rằng hầu hết những kẻ áp bức đã từng là những nạn nhân. Phép biện chứng của đao phủ thủ và nạn nhân của hắn rất phức tạp. Sống như một nạn nhân thường là cách luyện tập tốt nhất để trở thành một đao phủ thủ. Khát vọng trừng phạt sự bất công không chỉ là một khát vọng thuần tuý và giản đơn hướng đến công lý, mà còn là một khát vọng trong tiềm thức hướng về một hành động tội ác mới...
Jacob[5] hiểu rõ điều này khi ông nghĩ về những người khác. Hắn không hiểu nó trong tương quan với chính bản thân hắn. Vì vậy tất cả chỉ cần một phút sơ sẩy, khi lý trí của hắn thiếp đi, và sự căm ghét trong tiềm thức của hắn đối với con người, sự thù hận bị dồn nén của hắn, vùng lên chiếm ngự lấy hắn, và hắn giết chết một cô gái vô tội. Một con người càng cao quý bao nhiêu, thì cái bóng của sự ác độc bị dồn nén bên trong càng đen tối bấy nhiêu.
Một cuốn tiểu thuyết đúng nghĩa luôn luôn đứng bên ngoài hy vọng và tuyệt vọng. Niềm hy vọng không phải là một giá trị, mà chỉ đơn giản là một sự giả định vô bằng cho rằng mọi điều sẽ trở nên tốt đẹp hơn. Một cuốn tiểu thuyết cho bạn một cái gì đó tốt hơn hẳn niềm hy vọng. Một cuốn tiểu thuyết cho bạn niềm vui. Niềm vui của tưởng tượng, của tự sự, niềm vui đến từ một trò chơi. Đó là cách tôi nhìn một cuốn tiểu thuyết — như một trò chơi. Một trong những nhân vật trong Bữa tiệc giã từ [6] thỉnh thoảng có một vầng hào quang trên đầu. Một tên lang băm phụ khoa chữa bệnh cho các phụ nữ bằng cách tiêm tinh dịch của chính hắn và trở thành cha của nhiều đứa trẻ. Tôi đang nghiêm túc, hay đây chỉ là một trò đùa? Đây là một trò chơi...
Dĩ nhiên, để trò chơi có giá trị, nó phải được chơi và phải nhắm về một cái gì đó nghiêm túc. Nó phải là một trò chơi với lửa và ma quỷ. Trò chơi của tiểu thuyết kết hợp cái nhẹ nhàng nhất và cái khó khăn nhất, cái nghiêm túc nhất và cái khinh khoái nhất.


--------------
Dịch từ bản tiếng Anh, “Comedy is everywhere”, trong Index on Censorship (1977) 6:3.
 
_________________________
[1]Ma-ni giáo (Manichaeism) là một tôn giáo thần bí cổ đại tin thế giới là một cuộc chiến đấu triền miên giữa cái thiện và cái ác, giữa tinh thần và vật chất. Trong triết học, từ Ma-ni giáo được sử dụng để chỉ tinh thần nhị nguyên về phương diện đạo đức. {PQT}
[2]Tên một nhân vật chính trong cuốn Life Is Elsewhere (“Đời sống ở nơi khác”) của Kundera. {Chú thích của Index on Censorship}
[3]Cánh chung luận (eschatology) là một bộ phận của thần học Thiên chúa giáo tin vào ngày tận thế với những hình ảnh quen thuộc như cái chết, sự phán xét, thiên đường và địa ngục. {PQT}
[4]Trong lời tựa của cuốn Kritik der politischen Ökonomie (“Phê bình Kinh tế Chính trị”), viết năm 1859, Marx cho rằng sự ra đời của hệ thống xã hội tư sản đã kết thúc “thời tiền sử của xã hội loài người” (die Vorgeschichte der menschlichen Gesellschaft). Câu nói này đã được trích dẫn rất nhiều và trở nên nổi tiếng. {HN-T}
[5]Tên một nhân vật trong cuốn The Farewell Party (“Bữa tiệc giã từ”) của Kundera. {Chú thích của Index on Censorship}
[6]The Farewell Party (“Bữa tiệc giã từ”) là nhan đề bản dịch tiếng Anh của Peter Kussi (New York: Alfred A. Knopf, 1976). Đúng ra, nhan đề nguyên tác tiếng Tiệp của Milan Kundera là Valčík na rozloučenou (“Bài luân vũ giã từ”), xuất bản năm 1972. Bản dịch tiếng Pháp của François Kérel (Paris: Éditions Gallimard, 1976) cũng mang nhan đề là La valse aux adieux(“Bài luân vũ giã từ”). Gần đây, bản dịch tiếng Anh của Aaron Asher (New York: HarperPerennial, 1998) cũng mang nhan đề Farewell Waltz (“Bài luân vũ giã từ”). {HN-T}


-----------
Đã đăng:
Hài kịch ở khắp nơi [kỳ 1]  (tiểu luận / nhận định) - Kundera, Milan
... Không được xuất bản tác phẩm của mình trong đất nước của mình là một bài học tàn nhẫn; nhưng tôi nghĩ, đó cũng là một bài học hữu ích. Trong thời đại này, cuốn sách nào mà không thể trở thành một phần của nền văn học thế giới thì chúng ta phải xem nó là không hiện hữu... [Bản dịch của Phan Quỳnh Trâm / Hoàng Ngọc-Tuấn hiệu đính](...)
 
Dẫn nhập cho một biến trạng  (tiểu luận / nhận định) 
... “Cầu cho chết tiệt hết những kẻ nào tự cho phép mình viết lại những gì đã được viết! Cầu cho chúng bị thiến và cầu cho người ta cắt đứt hai tai của chúng đi!” ... [Bản dịch Hoàng Ngọc Biên] (...)
 
Một bài học lịch sử nho nhỏ  (tiểu luận / nhận định) 
[Nhận định của Milan Kundera về Jaroslav Seifert] ... Cái quốc gia nhỏ bé, bị chà đạp và tàn hại này - làm sao nó còn có thể chứng tỏ sự hiện hữu của mình? Sự chứng tỏ ấy ở đó ngay trước mắt chúng tôi: đó là nhà thơ, biểu hiện rõ ràng của tinh thần một nước, vinh quang duy nhất của những kẻ không quyền lực... [Bản dịch Diễm Châu] (...)


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Lê Vĩnh Tài 12 mảnh truyện về một lớp học làm thơ

1.

Hạ Xanh không phải là tên nàng. Đó là tên một lớp học làm thơ. Tôi từng học ở đó, nên tôi có thể tả lại nó, một cách chính xác.
Lớp học hình tam giác, có cạnh đáy bằng mười hai bước chân, chiều cao tôi không thể đếm, vì không lẽ tôi lại chúc đầu xuống đất?
Ai cũng biết diện tích hình tam giác bằng đáy nhân cao chia hai, nhưng ít ai nhận ra là lớp học rộng hơn phòng giam. Phòng giam thường có cạnh chỉ một hay hai bước chân.
Hàng ngày tôi học làm thơ ở đó. Thầy giáo dạy về Emily Dickinson.
Có lần một gã hàng xóm râu ria nói với tôi rằng hãy đọc thơ của vợ lão, một cô giáo chuyên luyện thi môn văn vào lớp 6. Lão nói: “Nó sẽ gợi cho anh nhớ đến Emily Dickinson.”
Vì thế nên đôi khi nghe thầy giáo giảng bài, tôi bị buồn nôn.

2.

Dĩ nhiên tôi vẫn thích Emily Dickinson.
Không còn ai làm thơ nữa, nhưng tôi vẫn học làm thơ, vì không biết học gì khác.
Có lần thầy giáo ra một đề bài: Em hãy làm một bài thơ tả lần đầu tiên gặp nàng.
Tôi nhớ, lần đầu tiên trời mưa.
Tôi tạt vào hiên nhà bên đường trước, sau đó ít lâu nàng nép vào. Tôi nhích vào, nhường chỗ cho nàng.
“Lạnh quá,” nàng nói.
“Ừ, lạnh,” tôi nói.
“Em học Sư Phạm Văn, chuyên về lý luận và ngôn ngữ.”
“Anh học Y Khoa, chuyên về vi phẫu.”
“Em đùa thôi, em làm tiếp thị bia Tiger.”
“Anh đùa thôi, anh làm bảo kê cho các em tiếp thị.”
Tôi và nàng đã gặp nhau như thế.
Thầy giáo đọc bài thơ tôi kể chuyện mình, nói: “Vậy cái gọt bút chì của em còn dùng được không?” Tôi nói: “Bút chì của em rất nhọn.” Thầy giáo cười, ánh mắt rất khả nghi.

3.

Tôi vẫn thường mang theo một hộp cơm, một chai nước lọc, một chiếc khăn mặt. Vào lớp học làm thơ, tôi thích ngồi bàn đầu.
Thầy giáo giảng:
- Thơ là sự vang rền.
- Thơ là cuộc đua, còn khó hơn thi đại học.
Tôi nói: “Hèn gì thơ của thầy không ai hiểu. Chữ của thầy chỉ là những xác chết.” Thầy giáo nghiêm mặt: “Không đùa trong lớp học.”
Tôi: “Dạ.”

4.

Có lần tôi phát hiện một bài thơ của thầy giáo đăng trên báo “văn nghệ quê nhà” hay “văn nghệ nhà quê” gì đó, giống hệt bài thơ tôi nộp cho thầy khi thi tuyển đầu vào.
Tôi nói với thầy: “Em không quay cóp.”
Thầy giáo cười: “Chân lý trên đời luôn bất biến. Em phát hiện nó theo kiểu lý thuyết, còn thầy thì theo kiểu thực hành. Em trông cũng khá, nhưng thật ra em chỉ là đứa lý thuyết suông.”
Tôi hỏi thầy: “Thực hành là chép thơ người khác à?”
Thầy cười, hai mắt nheo lại, độ lượng.

5.

Vào ngày mở ra vụ án đạo thơ, thẩm phán, kiểm sát viên và luật sư đều là thầy giáo. Nghe đâu trước kia thầy còn làm cả Công An nữa.
Tôi hỏi: “Thầy không biết hoá trang, kiểu như đeo mặt nạ hay râu giả à?”
Thầy nói: “Em đừng đùa với lửa, cả bộ luật bản quyền dày cộp này là do tôi soạn đấy. Chúng ta cần tiết kiệm, cả nhân lực và vật lực.”
Thầy cũng giải thích thêm: sở dĩ lớp học làm thơ rộng hơn phòng giam cũng là do kinh phí.

6.

Trong vụ án đạo thơ, thầy đã thắng. Thầy vẫn tiếp tục dạy tôi làm thơ. Thầy viết rất nhiều thơ lên bảng cho tôi học. Thầy viết bằng phấn màu. Đẹp rực rỡ.
Riêng thơ của thầy thì thầy không bao giờ chép lên bảng nữa. Thầy nói: “Thơ của thầy không thể chép bằng phấn.”
Tôi hỏi: “Vậy thơ thầy chép bằng gì?” Thầy đáp: “Bằng máu.”
Tôi hỏi: “Sao lại có máu? Máu ở đâu ra? Thầy bị xử bắn à? Khi bị bắn thầy có hô muôn năm ba lần không?”
Thầy nói: “Mày bị thần kinh à?”
Tôi im.

7.

Thầy giáo nói: “Những thứ thầy đang dạy cho em không phải để làm nhà thơ. Nếu muốn làm nhà thơ, em cần làm đơn xin vào hội Văn Nghệ, thầy sẽ ký giấy giới thiệu.” Ngưng một chút, thầy nói: “À quên, em nhớ ghi rõ: chi hội Văn Học, không họ lại kết nạp nhầm vào chi hội Múa hay Biểu Diễn.”
Vì thế, kiến thức thơ ca của tôi theo thầy khá chắp vá và hỗn loạn. Thầy nói: “Vậy cũng không sao.”
Thầy cũng không bình giải thơ. Đọc xong một bài thơ, thầy hay la lên: “Khiếp, Vang Rền Thế...”
Tôi hỏi: “Thầy ơi, em muốn biết cách viết một bài thơ vang rền?”
Thầy nói: “Nếu biết, tao đã viết rồi, còn chờ mày à?”
Vì thế, tuy hàng ngày vẫn mang hộp cơm vào lớp học làm thơ, đã làm đơn vào chi hội Văn Học, đã là nhà thơ, tôi vẫn không biết cách làm một bài thơ vang rền như thế nào?
Tôi kể lại toàn bộ câu chuyện với nàng. Nàng nói: “Vang Rền? Hay là tiếng hú của Ma Quỷ? Em nghĩ trong lớp của anh có một con ma. Em biết về ma cà rồng. Nó chỉ toàn hút máu người khác làm máu của mình.”

8.

Cũng vì kiến thức thơ ca của tôi “khá chắp vá và hỗn loạn”, thầy nói tôi nên đến nhà thầy buổi tối để học thêm. Thầy cũng nói: “Thầy biết em nghèo và ham học, nên lấy tiền tượng trưng thôi. Tượng trưng và Siêu thực là hai môn thi bắt buộc cuối học kỳ đấy. Thi cử là nhiệm vụ chính trị, chúng ta không thể làm việc tuỳ hứng được. Thầy không thể là người vô trách nhiệm.”
Tôi: “Dạ.”
Thầy hay hỏi tôi đủ thứ ở nhà thầy, cả chuyện yêu đương của tôi. Thầy nói đó là thầy đang Tư Vấn. Nhưng tôi biết thầy hoang tưởng. Có khi thầy sùi cả bọt mép mà không biết. Tôi im nghe là chính. Lệ phí thầy thu cũng chấp nhận được.
Tôi biết học làm thơ theo chương trình nâng cao của thầy rất dễ sinh bệnh tâm thần. Tôi bấm vào google thấy số người bệnh tâm thần trên cả nước hiện đã lên đến 12 triệu người.
Nhưng nàng nói: “Không phải cứ mắc bệnh là thành nhà thơ.”
Tôi mách lẻo lại thầy, thầy cười: “Đó, không như thơ ca, bệnh học là điều rất khó giải thích. Cũng như tôi không thể giải thích tại sao tôi lại thích bạn gái của em hơn cả em.” Thầy cười tít mắt vì câu đùa thông minh của mình.
Tôi mách lẻo lại nàng, nàng nói: “Thằng lưu manh.”
Tôi nói: “Đừng hỗn.”

9.

Thế nhưng nàng không giận. Nàng biết tôi yêu thơ chân thành. Tôi tiếp tục làm thơ về “mỗi sáng tắm một lần”, “bình sữa có thể có 2 ống hút”... Nàng nghĩ vậy là tôi có yêu trẻ em. Chắc tôi muốn có con với nàng. Có lúc nàng thì thầm: “Anh nhạy cảm quá.” Nàng nói: “Sau này anh nhớ dạy con toán cộng và cách nói nhanh như súng bắn với giọng hơi khào khào giống như anh nha.”
Vì thế nên nếu bạn muốn làm thơ, bạn cứ đến lớp học của tôi. Tôi sẽ lắng nghe bạn.
Bạn hãy kể cho tôi câu chuyện của bạn, có thể là chuyện tình dục và chuyện bạn tính sai ngày, bạn đổ nợ. Tôi biết nhiều người mang mối hận vì bị bỏ rơi sau lúc đó. Nhưng thành ca sĩ Lệ Rơi thì không ổn. Bạn có thể khóc, vì chết rồi có ai khóc nữa được đâu.
Bạn cũng đừng nghĩ thơ là trò vớ vẩn.
Bạn sẽ biết mình cần làm thơ về cái gì. Nhiều khi hứng lên, bạn làm ngay tại lớp học luôn đấy chứ. Nhưng tôi sẽ nói: “Không nên làm vậy. Bạn nên ra về, và ngồi một mình, ở quán xá, ở bến xe, ở bệnh viện, ở nhà trọ... ở đâu đó, và bắt đầu làm thơ.
Lớp học không đủ ánh sáng, nên nếu bạn làm thơ thì bạn sẽ cận thị, mù màu hay đau mắt.
Bạn nên làm thơ ở một nơi nhiều ánh sáng hơn.
Chỗ này, là chốn linh thiêng vang rền của thầy giáo, lúc nào ông cũng lảm nhảm: “Mày nên bỏ ý định như thế đi.”
Thế nên nếu bạn làm thơ, bạn sẽ bị nghẹt thở.
Bạn cứ làm thơ, nhưng ở chỗ khác.
Bạn sẽ kể câu chuyện của bạn. Dù câu chuyện có mơ hồ đến đâu, nó vẫn là nước mắt của sự lầm lỡ, và nàng sẽ nghe. Tuy nhiên, bạn nên cẩn thận, nàng rất ghét trò “chương hồi” nếu bạn cứ lặp lại mãi một giọng. Nàng sẽ nói: “Đó là biểu hiện của sự bất tài.”

10.

Có khi bí đề tài, tôi nói với nàng. Nàng nói: “Hay là anh làm một bài thơ về chàng người yêu cũ của em.” Tôi hỏi: “Anh ta có gì?” Nàng nhớ lại: “Anh ấy có biệt tài hút thuốc lá thở ra bằng mũi.” Tôi thất vọng cho sự tưởng tượng thảm hại của nàng.
Dạo này nhiều người nuôi chim chào mào. Nhiều cái lồng treo lơ lửng khắp nơi. Tôi sẽ viết bài thơ về lồng chim. Nó ngột ngạt vừa đủ, như ý nghĩ mọi người. Và tôi cần sự an toàn khi tự do sáng tạo.
Tôi nói với nàng ý định ấy, nàng nói: Anh lắm trò quá đấy. Tôi gắt: “Này, em ăn nói cũng vừa phải thôi.”
Tôi mang theo một cái lồng chim vào lớp học để khi làm bài thơ còn có mẫu mà mô tả. Tôi nghĩ điều đó không phải đạo văn. Các quyển sách văn mẫu chẳng phải đang bán đầy bến xe và các quán nhậu đó sao?
Hôm đó mẹ của thầy giáo đến thăm thầy. Bà già ngắm mãi cái lồng sơn son thếp vàng, tự dưng nói: “Ngày xưa mình cũng từng trẻ khoẻ đẹp.” Có lẽ bà liên tưởng tốt hơn nàng, nhưng tiếc nuối và khoe khoang lộ liễu như vậy thì khó mà giúp tôi làm thành bài thơ được.
Tôi làm bài thơ để thông cảm với sự mất tự do của con chim. Tôi thì thầm vào tai nó nhưng nó đứng im, không động đậy. Tôi thổi, nó vẫn không động đậy. Tôi hét, nó vẫn không nhúc nhích. Bà già hỏi: “Hết cách rồi à? Thơ là thứ vô phương à?” Tôi không trả lời. Tôi chép bài thơ về sự mất tự do lên bảng, chút nữa thầy giáo sẽ bình và cho điểm. Bà già cười: “Chép lên bảng à?” Bà ngâm nga: “Có một bài thơ nằm im / lim dim / trái tim / gỗ lim / trái sim…” Bà mơ màng như thể màu tím Hữu Loan đang nằm trên bảng. Bà nói: “Có nhà thơ còn thấy trái tim trong quần nữa, cháu nhớ tên ông ta không?”
Tôi nhạt miệng, bỏ ra ngoài vì lớp học cấm hút thuốc lá. Khi hút thuốc và thở ra bằng mũi xong, tôi quay lại thì bà già đã xoá mất bài thơ. Tôi không nhớ mình đã viết gì để chép lại lên đớ. Tôi muốn nói về sự cầm tù, nhưng nó đã bay mất. Tôi muốn nói về sự bay, nhưng nó đã rơi. Tôi ra về, nàng kể: “Hôm nay có một chiếc trực thăng rơi đấy.” Tôi đáp: “Tha hồ tự do, sinh ra là tự do.”
Nàng gắt: “Anh điêu ngoa cũng vừa vừa thôi chứ.”

11.

Có lần, vừa vào lớp, thầy giáo đã gọi tôi đứng lên: “Kể cho thầy nghe câu chuyện anh đang suy nghĩ?”
Tôi á? Suy nghĩ à? Trả lời a? Não tôi phẳng lì. Môi tôi mím chặt. Hai tai nóng như lửa. Bụng căng cứng.
Tôi lục lọi trí nhớ. Phẳng lì phẳng lì phẳng lì.
Tôi nói: “Bài thơ bài thơ bài thơ.”
Thầy giáo ân cần: “Tốt lắm, anh tiếp tục đi.”
Tôi cố lục lọi cuộc đời mình, xem có gì để kể cho thầy.
Thầy giáo nói: “Em cứ bình tĩnh. A, mà em không yêu nước à?”
Tôi chảy nước mũi, chảy cả nước mắt.
Thầy giáo vẫn ân cần: “Biển Đảo Biển Đảo Biển Đảo. Cái ao Cái ao Cái ao.”
Nàng rên rỉ: “Cố lên, anh ôi.”
Tôi oà ra: “Biển ôi Đảo ôi Nước sôi.”
Thầy cười: “Thế chứ. Có tiềm năng.”
Tôi giật mình: “Em không có tiền đâu.”
Tôi viết:
Biển ôi Đảo ôi Nước sôi.
Biển ôi Đảo ôi Nước sôi.
Biển ôi Đảo ôi Nước sôi.
Biển ôi Đảo ôi Nước sôi.
Biển ôi Đảo ôi Nước sôi.
Biển ôi Đảo ôi Nước sôi.
Tôi thu mình trước trang giấy trắng. Tôi thấy bà già quay lại, nhìn tôi cười.
Tôi viết tiếp:
Nàng ôi Mẹ ôi Bà Già xa xôi.
Bà già cười:” Hồi trẻ tôi từng đẹp lắm...”

12.

Có lần, thầy giáo nói: “Nhà thơ không phải là kẻ bắt chước, mà cũng không ai bắt chước chúng ta cả.”
Nàng lại nói: “Về chuyện tiền bạc thì nhà thơ khá bi quan. Anh chưa bao giờ kiếm đủ cho chúng ta một bữa ăn sáng.” Tôi hoang mang: “Thế tại sao chúng ta vẫn sống? Chúng ta có ăn cắp của ai không?” Nàng cười: “Anh hay có những giấc mơ phi lý. Không nên tuỳ tiện, kể cả giấc mơ. Đừng nghĩ cứ nhà thơ là siêu thực tượng trưng trừu tượng lung tung. Ăn cắp không có trong chương trình học, kể cả chương trình học thêm nâng cao nộp tiền và các loại cách tân. Mọi người cần nhận ra căn cước của chính mình chứ không phải ‘căn cước của ẩn dụ’.”
Nghe vậy, tôi đưa cho nàng tấm danh thiếp. Mặt trước ghi: Nhà thơ cách tân, điện thoại số 099 Y XXX XXX. Mặt sau ghi: Sẵn sàng làm bạn với những ai cô đơn. Nàng đọc xong, cười: “Thế anh là trai bao à?”
Tôi bỏ đi, nàng nói với theo: “Em xin lỗi.” Nước mắt nàng chảy ra từ đôi mắt vô hồn của tôi. Tôi tức như mỗi khi không làm được thơ tôi vẫn hay bị thầy giáo cốc vào đầu, hai mắt tôi tối sầm lại.

12. (tiếp theo)

Tôi đã thành nhà thơ, vào ngày có một chiếc trực thăng rơi sau khi viên phi công đã nhảy dù, bỏ lại hai mươi mốt hay hai mươi hai người trên đó. Nàng nói: “Cứ chờ, rồi cuối cùng chúng ta sẽ có con số chính thức.”
Nàng thì thầm: “Đó chỉ là số lẻ so với số lượng các nhà thơ.”
Nàng nói: “Anh thành nhà thơ rồi.” Tôi vẫn chưa tin. Nàng nói: “Em nộp học phí cho anh rồi, cả đêm qua. Thầy giáo thu học phí khoẻ thật.”
Tôi thành nhà thơ. Nàng nói: “Từ nay anh sẽ kiếm ăn bằng cách tiên tri, không cần phải trộm cắp hay ăn bớt của ai nữa. Mà vậy em cũng đỡ lo.”
Nhưng tôi biết chắc là nàng không hiểu gì về thơ. Bằng chứng là sau khi đọc những bài thơ tôi viết cho nàng, nàng đều đi rút tiền đưa cho tôi, vì nàng vẫn nghĩ đó là những lá thư mượn hay xin tiền.
Lớp học kết thúc, mọi người mở tiệc ăn mừng.
Sau trận rượu, tôi say, nằm bên vệ đường, nôn thốc nôn tháo.
Một vật gì Mềm Mềm Lạnh Buốt chạm vào tôi. Tôi nhìn lên, hoá ra Mềm Mềm Lạnh Buốt là một anh chàng Áo Xanh Lá Mạ. Anh nói: “Làm gì nằm ở đây? Đưa giấy tờ tuỳ thân cho tôi xem.”
Tôi đưa tấm thẻ nhà thơ. Tôi hỏi: “Sao anh cứ Mềm Mềm Lạnh Buốt thế? Tôi có biết một thứ rất mềm, nhưng ướt và ấm áp. Hơi nóng là khác.”
Anh cười: “Tôi sợ sự thô lỗ, tôi thích mềm mại dịu dàng.” Xem xong tấm thẻ, anh nói: “Ô, thế ra tấm thẻ này chẳng có gì liên quan đến công việc hàng ngày của tôi cả. Mà anh dùng tấm thẻ này vào việc gì?”
Tôi đáp: “Kiếm ăn.”
Anh nói: “Tuyệt vời.”
Giọng Áo Xanh Lá Mạ vẫn Mềm Mềm Lạnh Buốt.


Trung Quốc đã thành nhà nước độc tài, quân phiệt ?

Ở Trung Quốc người có thực quyền phải là người nắm được Quân ủy Trung ương (quân đội). Tiêu diệt được Từ Tài Hậu, phó chủ tịch Quân ủy trung ương, chứng tỏ Tập Cận Bình đã kiểm soát hoàn toàn Đảng và quân đội. Khi tất cả quyền lực một quốc gia được tập trung vào một Đảng và một cá nhân, thì cũng là lúc nhà nước đó trở thành nhà nước độc tài, quân phiệt. Điều này càng đặc biệt nguy hiểm khi Quân đội Trung Quốc hiện đã lớn nhất thế giới tính về quân số và đứng thứ hai thế giới về ngân sách quân sựVị thế của Trung Quốc hiện nay không khác gì nước Đức năm 1931-1939 với Đảng quốc xã và Hít Le, dẫn đến chiến tranh thế giới thứ hai 1939-1945. Giờ đây, không chỉ coi Việt Nam là muỗi, Trung Quốc còn một mình ưỡn ngực thách đấu cả thế giới.

“Trảm tướng tham”, ông Tập Cận Bình nắm chắc quyền kiểm soát quân đội
BizLIVE - Khi khai trừ khỏi đảng một cựu phó tham mưu trưởng quân đội, Chủ tịch Tập Cận Bình muốn khẳng định quyền kiểm soát lên giới quân sự Trung Quốc, thường quá chú tâm đến làm ăn kinh doanh hơn là nhiệm vụ quốc phòng, theo RFI.
Tướng Từ Tài Hậu lúc còn đầy uy quyền. Ảnh Reuters
Bị cáo buộc là đã lợi dụng chức vụ để mua bán chức quyền và nhận hối lộ, tướng Từ Tài Hậu ( Xu Caihou ) vừa bị khai trừ khỏi Đảng, một hình thức kỷ luật rất nặng ở Trung Quốc. Hồ sơ vụ án đã được chuyển sang cơ quan kiểm sát quân sự, theo như thông tin của báo chí Nhà nước ngày 30/06 vừa qua.

Cho tới năm ngoái, ông Từ Tài Hậu còn là phó chủ tịch Quân ủy trung ương, cơ quan lãnh đạo quân đội và cho đến năm 2012, ông vẫn là một trong những nhân vật lãnh đạo cao cấp nhất của Trung Quốc, với tư cách ủy viên Bộ Chính trị.

Như vậy, Từ Tài Hậu sẽ là viên tướng cao cấp nhất bị đưa ra tòa từ nhiều thập niên qua tại Trung Quốc. Ông cũng đã là quan chức cao cấp nhất bị thất sủng như vậy trong khuôn khổ chiến dịch chống tham nhũng được chính quyền Bắc Kinh khởi động từ năm 2012.

Theo các nhà phân tích, quyết định truy tố tướng Từ Tài Hậu, mặc dù ông này đang bị ung thư bàng quang ( theo tin báo chí Hồng Kông ), là nhằm gởi một thông điệp cứng rắn đến các lãnh đạo Quân đội Nhân dân Giải phóng Trung Quốc.

Theo nhận xét của ông Christopher Johnson, nhà nghiên cứu thuộc trung tâm nghiên cứu CSIS ở Washington, những cáo buộc về nhận hối lộ để mua quan bán chức cho thấy quân đội không thật sự trung thành với Đảng và không làm tròn nhiệm vụ bảo vệ chế độ.

Ông Johnson nói thêm rằng việc khai trừ tướng Từ Tài Hậu cho thấy ông Tập Cận Bình vẫn kiểm soát hoàn toàn Đảng và quân đội. Hơn nữa, theo Tân Hoa Xã, đích thân chủ tịch Trung Quốc đã chủ trì cuộc họp mà trong đó quyết định khai trừ tướng Từ Tài Hậu đã được đưa ra.

Quân đội Trung Quốc hiện là quân đội lớn nhất thế giới tính về quân số và ngân sách quân sự của Trung Quốc cũng hiện đứng hàng thứ hai thế giới chỉ sau Hoa Kỳ. Ngân sách quân sự này mỗi năm vẫn tăng mạnh, cùng với đà hiện đại hóa nhanh chóng quân đội Trung Quốc.

Theo số liệu chính thức, ngân sách quốc phòng năm 2013 của Trung Quốc là 119,5 tỷ đôla, tăng 11% so với năm 2012, nhưng theo Lầu năm góc, ngân sách này trên thực tế là hơn 145 tỷ đôla.

Theo các chuyên gia, chính việc quân đội được hưởng quá nhiều phương tiện tài chính nên tham nhũng càng dễ nẩy sinh. Rất nhiều tướng tá Trung Quốc trong những năm qua đã lao vào kinh doanh, lợi dụng việc chuyển đổi các xí nghiệp quân sự sang các hoạt động dân sự.

Vào năm 1978, Đặng Tiểu Bình đã từng yêu cầu các sĩ quan-doanh nhân, một là ngưng làm ăn, hai là rời khỏi quân đội.

Nhưng theo chuyên gia về an ninh châu Á Brad Glosserman, những mối quan hệ giữa quân sự và kinh doanh quá chằng chịt, không dễ gì gở ra hết được.

Tham nhũng trong quân đội đã mang tính hệ thống, và những lợi ích chồng chéo nhau đã làm suy yếu khả năng của quân đội Trung Quốc.

Là con trai của một nhà cách mạng lão thành của Trung Quốc, Tập Cận Bình có nhiều uy tín với quân đội so với người tiền nhiệm Hồ Cẩm Đào.

Việc khai trừ tướng Từ Tài Hậu cho thấy ông Tập Cận Bình muốn tăng cường sự kiểm soát lên quân đội, đồng thời cũng nhằm cảnh cáo những ai muốn thách đố quyền lực của ông.

Nhưng theo giáo sư chính trị học Joseph Cheng thuộc đại học City University of Hong Kong, chiến dịch chống tham nhũng kiểu như vậy cũng chứa đựng nhiều nguy cơ.

Lý do là vì nó có thể đụng chạm đến các cựu lãnh đạo, khiến những kẻ cảm thấy bị đe dọa sẽ hợp lực với nhau để gây sức ép lên ông Tập Cận Bình.

Nhưng nếu chiến dịch này thành công, được dân chúng ủng hộ, đây sẽ là một vũ khí răn đe của ông Tập Cận Bình đối với những ai muốn cản đường ông.

Phần nhận xét hiển thị trên trang