Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Ba, 6 tháng 5, 2014

Kết quả đào tạo:


Bạn đang học nghành nào ? 

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Khi các nhà thơ nói thật mình mang họ “Thích”

Nguyễn Hoàng Đức

Cuối xuân đầu hạ, khi sự ẩm ướt vẫn còn kéo một vệt dài lê thê buồn bã khó chịu, một chút nắng hạ vừa ửng hồng như muốn chấm dứt không gian sũng nước, tôi có dịp ngồi cùng mấy nhà thơ. Một nhà thơ phủ đầu tôi ngay lập tức: “Mẹ, thơ nước mình nó vậy, người mình nó thế, nhỏ bé, èo uột, lèo tèo, mà ông cứ nhắc đi nhắc lại, đay nghiến làm gì?”

Mấy nhà thơ xung quanh mỉm cười có vẻ thủ thế như sắp thực chứng một vụ trâu bò đánh nhau. Tôi liền vui vẻ bảo: “Vậy tôi hỏi các anh, nếu những đứa trẻ nhà mình còi cọc vì thiếu dinh dưỡng thì mình sẽ chạy chữa liên tục cho nó, hay là biết nó thế cứ để mặc kệ?”

“Nhưng ông nói một lần người ta biết rồi thì thôi, sao lại cứ phải nói đi nói lại cho nặng nề ra?”

“Vậy tôi xin hỏi, nhà các anh quét hôm nay, ngày mai có quét nữa không, hay là thôi? Và những nhà thơ đã được giải một lần tức là lên đời về mặt đẳng cấp rồi, tại sao cứ thích lĩnh giải đi, lĩnh giải lại? Sao không lĩnh một lần là đủ?”

“Vì chúng nó tham!” một nhà thơ buột miệng.

“Như vậy chứng tỏ, giải không phải giá trị thơ mà là kiếm một khoản tiền?”

“Còn gì nữa! Ô kê, ô kê! Trật thế nào được! Nó lè lè ra đấy.”

Và mọi người nói về một nhà thơ chức tước to, trong ban sơ khảo ẵm giải dễ như thò tay vào túi. Trước hết trong ban sơ khảo, anh ta tự gắp cho mình. Đến cuộc họp của ban chung khảo, lẽ ra đã hết nhiệm vụ, anh phải ra ngoài, nhưng anh cứ ngồi ì theo kiểu người nhà, cơ quan chúng mình mà, rồi ánh mắt anh tất nhiên nhìn như điểm xạ vào từng khuôn mặt trong ban chung khảo, xem đứa nào dám không bỏ cho “ông”, y như rằng người ta bỏ cho anh, chỉ trừ có một phiếu của người can đảm.

Rồi người ta lại nói về một nhân vật được chín phiếu khác ở sơ khảo, nhưng vào chung khảo, vẫn cái hội đồng sơ khảo ấy hóa phép thành, thì chín phiếu chỉ còn 2 phiếu. Lý do tại sao? Con kiến, con ong còn biết chăn nuôi để sống, nhân vật này đã không biết rót vốn đầu tư đều đều từ sơ khảo đến chung khảo, thế là vốn mỏng thì phiếu thưa, có gì đâu!

Tại sao có nạn đút mồm đó? Bởi vì nó mở đầu từ một nhà thơ chuyên gia gãi ví khác. Anh này bảo với một số người “nhà mình có đứa ở, dù nó phải quét nhà, lau bàn ghế, nhưng thỉnh thoảng mình cũng phải cho nó vài chục nghìn tiền thưởng. Đằng này, người ta đọc rồi chấm cho mình ẵm giải, chẳng lẽ lại không có đồng uống nước. Thế là, sơ sơ mỗi vị một chiếc phong bì vài triệu.

Than ôi, đúng lúc này, chúng ta cũng nên bình: giá trị văn chương gì mà lại thèm khát tiền thưởng như thứ con ở, thì làm sao cao quí và tinh hoa được. Một kiểu ăn vặt tham bát bỏ mâm, tự mình lại tìm cách gắp cho mình, không thì gắp cho đồng đội mình, để có ngày được gắp trả lại, thì có phải chính là thứ văn học con ở tham lam không?

Lại nói chuyện vào Hội. Một vị quyền chức kia liền nói thẳng: “anh có biết muốn trở thành hội viên phải đóng bao nhiêu không?”

Lại nói chuyện tiền. Mấy nhà văn, nhà thơ kia thành lập quĩ văn học, chỉ trong vài năm thay đến hơn một tá kế toán. Tại sao? Vì họ không thể tuân lệnh các bố già, phải hợp lý hóa vào đó tất cả các khoản từ giải rủng đến nhậu nhẹt ăn chơi đàng điếm. Tôi nhớ lại cuốn “Người Trung Quốc xấu xí” của Bá Dương, ông viết: tất cả các cơ sở kinh doanh của Trung Quốc ở nước ngoài đều phải thuê người phương Tây làm kế toán, để họ không phải chịu sức ép con ông cháu cha, cả nể. Than ôi, cái trình độ sống của châu Á là vậy, hầu như tất cả chứ không phải một hai người, không có nổi một đức hạnh công bình trước tiền bạc.

Trong một cái chợ, người bán rau, người bán cá, người ta rất ít đố kỵ nhau. Đặc biệt người bán phở, cạnh người bán nước, thì càng hỗ trợ cho nhau, bởi vì ăn phở xong mọi người sang uống nước. Trong một cái làng, người bán củi, người bán dao, hay người bán đồ gốm cũng ít đố kỵ nhau vì nghề nghiệp của người này không ảnh hưởng đến người kia. Nhưng trong cái làng thơ người ta đố kỵ nhau một cách khủng khiếp, tại sao, vì mọi người đều chỉ có vài chữ thấp lè tè! Và logic thay, vì quá giống nhau người ta càng cần giải thưởng để nâng mình lên cao hơn người khác. Và trong một xã hội không có nền cộng hòa cùng chế độ dân sự chỉ có sợi chỉ đỏ xuyên xuốt cho việc xếp ghế ngồi từ thấp lên cao, nên nạn cạnh tranh ghế quyền lực lại càng thêm đố kỵ và khốc liệt. Hai bài thơ, hai nhà thơ, sàn sàn bằng nhau, nhưng nếu là hai ghế ngồi ở hai vị trí khác nhau, thì hai bài thơ liền khác nhau ngay.

Chúng ta hãy nghĩ về tài thơ của những nhà thơ, cả đời chỉ loanh quanh cửa văn phòng hội để lách ghế và lách giải, cuối cùng tài năng của họ có bao nhiêu? Văn thơ là công việc của sáng tạo, nhưng vì cả đời đi tìm tem phiếu ưu tiên nên số này quá yếu đuối, đến mức lúc nào cũng câu kết thành dàn đồng ca. Trời ơi, khi đã là dàn đống ca thì làm sao hát đơn ca?! Nhưng bi kịch lại nằm ở chính chỗ này, vì yếu nên người ta cần lực lượng đông, nhưng chính số đông lại nuốt chửng người ta trong vô vị, thế là người ta quẫy đạp đố kỵ nhau từng cái chấm, dấu phẩy để đòi vượt trội.

Trước kia nhà thơ Xuân Sách viết về 100 chân dung các nhà văn, nói chung mỗi người được liệt kê trong một bài tứ tuyệt tổng kết luôn đời văn thơ, đã tạo ra một trận cuồng phong bão tố, giờ chúng ta nghĩ gì, khi chúng ta cần viết về chân dung một số nhà văn, nhà thơ vè vè bu quanh sân bao cấp hưởng sái vinh quang, nói thẳng tên, chỉ thẳng mặt, theo tinh thần khoa học hay chống tham nhũng văn hóa, thì liệu có tạo ra cơn sóng thần không?! Việc một số vụ tham nhũng lớn tại các ngành không phải do các đoàn thanh tra chỉ ra mà do chính nước ngoài như Nhật Bản chỉ ra vụ ở Đường Sắt… Liệu có còn sớm không khi chúng ta bắt đầu phải nêu hẳn tên gọi cho các vụ việc đầu cơ tham nhũng ghế và giải thưởng văn chương?!

Nhìn tình tiết cụ thể thấy văn thơ tem phiếu nước nhà ăn bao cấp kéo dài thật là quá nhỏ bé chẳng có gì đáng kể ngoài vài cái giải, cái ghế gắp cho nhau, nhưng mà lại còn ảo tưởng những giải Nobel thì thật khôi hài. Người chơi bi giỏi thì làm sao trở thành cầu thủ bóng đá. Đan rổ giỏi đâu có thành đóng thuyền giỏi, và bao giờ mới đóng được tầu sân bay? Nghĩa là, người ta phải hiểu người ta đầu tư và sức vóc đang làm cái gì?! Có nhiều nhà thơ còn vỗ ngực phi lý rằng những bài thơ vụn của mình là những lâu đài. Và tât nhiên những lâu đài vụn đó đang nằm bên hàng rào Nobel, chỉ cần tất cả mọi người yêu quí chịu khó đọc và khen thì chúng sẽ thành hiện thực. Than ôi, cái hay, cái đẹp chúng phải được phát lộ tự nhiên chứ đâu có thể cứ kiễng chân mà thành.

Người xưa dạy, biết người biết ta, bách chiến bách thắng. Không biết mình là ai, mình đang làm gì, làm sao có thể đòi mình chiến thắng ở vòng chung kết một giải thưởng cao nhất?! Mấy câu thơ cảm xúc cò con còn đang lo chạy giải quanh hồ Ha-le, với tầm nhìn mong có tiền thưởng của thứ con sen thằng ở, thì làm sao đòi có giải thưởng nhân văn cao ngất của giá trị con người?!

Dù sao xin biết ơn những nhà thơ bắt đầu muốn nói thật, để sự việc trở nên giản dị dễ hiểu hơn nhiều mà không bị những làn sương úm ba la che đậy. Xin cám ơn!

NHĐ 05/05/2014


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Anh Ba Sàm là ai? Trả lời câu hỏi này bạn hãy đọc bài trên báo Tuổi trẻ oline:

Gặp "ông trùm"

05/09/2004 22:51 (GMT + 7)
TT - Anh là cựu sĩ quan an ninh, là chàng thám tử tư đầu tiên của nước CHXHCN VN, là giám đốc một doanh nghiệp kinh doanh loại dịch vụ độc nhất VN... nhưng hình như cả ba mẫu người này đều không ăn nhập với bề ngoài của Nguyễn Hữu Vinh, giám đốc Công ty Điều tra & bảo vệ-V.
Blogger Anh Ba Sàm tức Nguyễn Hữu Vinh trong một lần tác nghiệp.
Đó là người đàn ông tầm thước, nhỏ nhẹ và giản dị trong trang phục, cử chỉ. Anh nói hình thức tuy không hợp; tuổi đời, suy nghĩ và cảm nhận có đổi khác nhưng máu thám tử trong mình lúc nào cũng hừng hực như thời niên thiếu.
Giấc mơ thời niên thiếu
Sinh năm 1956 tại Hà Nội trong một gia đình cán bộ công chức, những ngày đầu làm quen với sách, truyện, với anh, sau văn học là những tác phẩm trinh thám. Chất lãng mạn, kiêu bạc của họ làm anh ngưỡng mộ.
Ám ảnh đó theo Nguyễn Hữu Vinh đến tuổi trưởng thành. Cậu học sinh lớp chọn Trường cấp III Chu Văn An ngày đó đã nộp hồ sơ thi vào Trường Công an trung ương (nay là Đại học An ninh), mặc dù đủ điểm đi nước ngoài. Ra trường, Vinh trở thành một sĩ quan an ninh. Sau những lăn lộn thực tế, điều tra, hỏi cung những tên tội phạm, Vinh tích lũy thêm nhiều kiến thức, kỹ năng đấu tranh, khai thác.
Số phận đưa đẩy, Vinh chuyển sang công tác tại Ban Việt kiều. Và gần đến tuổi “tứ thập nhi bất hoặc”, Vinh nhận thấy rằng mỗi môi trường sống hay làm việc, dù khó khăn hay thuận lợi cũng đều cho anh những kinh nghiệm, bài học quí báu. Vấn đề là anh phải nhìn ra nó. Thời gian công tác ở Ban Việt kiều đã cho Vinh những trăn trở mà trong cương vị một công chức anh không thỏa mãn được.
Đó là những Việt kiều bao năm lưu lạc nay muốn về quê tìm lại những người máu mủ của mình nhưng không biết làm cách nào. Nhiều người phiêu bạt xứ người nay có chút lưng vốn muốn về nơi chôn nhau cắt rốn để lập nghiệp nhưng không biết lựa chọn đối tác tin cậy.
Những năm tháng trong ngành an ninh đã giúp Vinh tin rằng nếu yêu nghề thì không cần một đặc quyền nào anh cũng có thể bảo vệ được sự thật. Anh nuôi khát vọng sẽ tự mình làm điều đó. Anh muốn tìm rõ những bí ẩn luôn che mờ mỗi số phận, mỗi con người. Anh quyết định xin nghỉ việc, theo học luật, ngoại ngữ để chuẩn bị dấn thân vào khát vọng của riêng mình.
Khi thám tử vào đời
Năm 1999, qua tâm sự với người bạn từ nước ngoài về, Vinh có ý tưởng mình sẽ làm thám tử tư. Thời thế tạo anh hùng, đúng thời điểm đó Luật doanh nghiệp ra đời. Các công dân VN có thể kinh doanh bất cứ thứ gì nếu pháp luật không cấm. Với đời sống hiện nay, thị trường của thám tử không hạn hẹp. Nghề này không đòi hỏi vốn lớn... Vinh quyết định thành lập công ty thám tử tư.
Để chắc chắn, Vinh đến một luật sư khá nổi tiếng thuê đăng ký kinh doanh. Luật sư đồng ý và hẹn 10 ngày sau nhận giấy phép. Sau đó, luật sư cho biết Sở Kế hoạch - đầu tư Hà Nội đang nghiên cứu vì ngành nghề này chưa từng có mặt ở VN. Vinh tìm đến Sở Kế hoạch - Đầu tư và được biết không chỉ có một hồ sơ xin thành lập công ty thám tử tư mà là hai. Hồ sơ kia là của chính ông luật sư Vinh thuê.
Cán bộ sở nói theo quy định, sau hai tuần nhận hồ sơ chúng tôi phải trả lời. Nhưng thám tử tư là nghề chưa có trong danh mục nghề nghiệp ở VN. Sở có công văn xin ý kiến bộ. Bộ nói nên tham khảo Bộ Công an. Đó là lý do chậm trễ... Với tình hình này, Vinh biết sự ra đời của công ty sẽ còn nhiều trắc trở. Hình như cảm nhận được khát vọng và lòng chân thành của Vinh hay là trong số có quí nhân phù trợ, hay trong rủi có may mà ông trưởng phòng đăng ký kinh doanh đã tư vấn cho Vinh.
Ông nói: “Tôi thấy trong danh mục nghề có loại dịch vụ điều tra và bảo vệ. Anh đăng ký chỉ hoạt động trong lĩnh vực dân sự và kinh tế thì tương đồng với loại nghề này. Anh nên đổi tên doanh nghiệp thì thuận lợi hơn...”. Mừng như bắt được vàng, Vinh chấp nhận ngay. Làm lại hồ sơ lấy tên công ty điều tra & bảo vệ.
Vinh thêm gạch ngang và chữ V, “đa nghĩa” - anh cười bảo khi có người thắc mắc. Bảy ngày phấp phỏng đợi mong, cuối cùng trời cũng chiều người. Còn bộ hồ sơ công ty thám tử tư của ông luật sư nọ thì không biết đang nằm ở đâu.
Vinh quyết định không đi thuê trụ sở mà đặt công ty tại nhà. Vừa rộng và không tốn kém, vừa kín đáo. Về bộ máy ban đầu một mình Vinh phải sắm các vai giám đốc, kế toán, nhân viên... Nhiều đêm khách hàng gọi đến, Vinh vùng dậy cố lấy giọng tỉnh táo như nhân viên trực ban để trả lời, rồi tư vấn... Tuyển nhân viên khác thì dễ nhưng nguồn thám tử ở đâu? Tiêu chí nào? Những đơn hàng ban đầu Vinh cân nhắc rất kỹ mới nhận. Anh kêu gọi bạn bè hỗ trợ.
Vụ thì hợp tác cùng công ty luật, vụ thì với công ty sở hữu trí tuệ, vụ thì cùng một số anh em xưa cùng học ngành công an nay làm trong những ngành nghề khác... Mỗi vụ việc lại có nhiều công đoạn, mỗi công đoạn sẽ có cộng tác viên riêng. Qua đó, từng bước Vinh tìm nhân viên cho mình...
Sang phần đối ngoại. Công việc ban đầu là giám đốc đi làm nhân viên tiếp thị. Dịp ấy cứ ai mời đám cưới, hội nghị, sinh nhật... dù bận mấy Vinh cũng đến. Gặp bạn bè, họ hàng, người quen, quan khách... Vinh đều gửi tờ rơi tự in (vì chưa có tiền thuê in), danh thiếp giới thiệu mình là thám tử tư. Ai có nhu cầu cứ đến thám tử. Mặt khác Vinh đăng ký dịch vụ giải đáp qua bưu điện, hợp tác với các trung tâm tư vấn gia đình, tư vấn pháp lý và anh em báo chí... để tất cả các đầu mối này đều thông với mình.
Thế là ngay từ cái tên đã hấp dẫn, nhu cầu xã hội lại cao, cộng với những thành công liên tiếp, uy tín của công ty thám tử cứ thế vang xa. Chưa đầy một năm sau gần như ngày nào công ty cũng có khách hàng.
Tâm nguyện thám tử
Nguyên tắc thám tử của Vinh là tuyệt đối giữ bí mật cho khách hàng, không bao giờ chống lại khách hàng và chỉ nhận những việc thuộc quan hệ dân sự, kinh tế. Là người thiên về tư duy logic nhưng Vinh thừa nhận hình như cuộc sống cũng có sự sắp đặt bí ẩn của nó. Đó là câu chuyện về đơn hàng đầu tiên, khách hàng đầu tiên trong đời thám tử của Vinh.
Chiều đông, chiếc xe hơi sang trọng đưa đến công ty một người đàn ông áo choàng, cặp da lớn. Ông nói: “Tôi là giám đốc khách sạn H ở quận Ba Đình, muốn thuê anh tìm đứa cháu đích tôn chín tháng tuổi đã bị mẹ nó đưa đi sáu tháng nay không tin tức. Không cần ký hợp đồng mà tôi đem theo camera và máy ghi âm lưu lại cuộc làm việc này. Ta cùng niêm phong, xong việc cả hai cùng hủy...”.
Ông ta trình bày: con trai ông là gã phong tình, quyết kết hôn cùng cô tiếp viên tỉnh lẻ trong quán hát. Mâu thuẫn ngay sau ngày cưới, chúng xô xát, vợ nó ôm thằng con trai sáu tháng tuổi đi mất tích để moi tiền gia đình ông... Ông nhấn mạnh việc quan trọng không kém chuyện tìm cháu là phải có được chứng cứ con dâu ông hành nghề mại dâm để sau này tòa xử ly hôn sẽ giành quyền nuôi con cho gia đình ông. “100 triệu vụ này. OK?”.
Vinh nghĩ: tìm một cô gái quán hát lại có con nhỏ rất đơn giản. Tìm chứng cớ một ca ve hành nghề còn đơn giản hơn. Nhưng câu chuyện có những vấn đề không rõ ràng. Thứ nhất, cô gái ôm con đi nhằm gây sức ép moi tiền nhà chồng là lý do không thỏa đáng vì theo ông khách, từ khi đi đến giờ cô không liên lạc, 
không để lại bất cứ thông tin gì để móc nối với gia đình ông.
Thứ hai, việc không ký hợp đồng, xóa sạch cam kết và yêu cầu phải có chứng cứ để nêu trước tòa kèm theo một khoản tiền kếch sù mà một doanh nhân tinh ranh như ông bỏ ra có nghĩa là thám tử phải làm một việc xứng đáng. Đó là dàn dựng cảnh mua dâm đưa đối tượng vào bẫy quay phim, ghi âm. Việc đầu tiên là phải tìm sự thật.
Tìm một cộng tác viên vào vai khách làng chơi đến quán hát xưa cô gái thường lui tới. Sau vài ngày, Vinh biết cô gái đang thuê nhà ở Láng Trung và làm tiếp viên ở một quán hát trên đường Bưởi. Tiếp cận, khai thác. Kết quả: gia đình nhà chồng đối xử tàn tệ, lăng nhục, không xin việc và không đưa tiền. Chồng nghiện hút và nặng thói trăng hoa. Cô quyết lìa bỏ địa ngục đó...
Thám tử Vinh báo lại tình hình cho thân chủ (trừ địa chỉ) và nói: “Chúng tôi chỉ nhận việc tìm cháu nhỏ. Việc tìm chứng cớ mẹ cháu thì không thể”. Cuộc thương lượng của hai bên lập tức kết thúc. Vinh mất ba triệu đồng và nhiều ngày tìm hiểu, bỏ qua 100 triệu của ông bố chồng nhiều quỉ kế.
Vinh nói anh đã không thể bịt tai với tiếng khóc xé lòng của đứa bé xa mẹ khi chưa biết nói; không thể dập vùi, chà đạp lên chút lành lặn cuối cùng của một thân phận đã ở đáy cùng xã hội.
Nghề thám tử luôn bị đặt giữa ranh giới của tình người và tiền. Chỉ một cái tặc lưỡi, một phút vô tâm bạn sẽ có một khoản tiền lớn mà vẫn hợp pháp, không ai trách cứ được bạn, trừ tấm lòng. Vụ việc đầu tiên đó đã trở thành câu chuyện truyền kỳ cho anh em công ty và cũng là nguyên tắc bất biến của các thám tử. Một nguyên tắc chỉ có lương tâm mới kiểm soát được.
Còn rất nhiều người chưa tin rằng VN có thám tử tư. Khi gặp Vinh, người ta ngỡ rằng anh là ông tổ của nghề này ở VN. Vinh cười và bảo: “Máu thám tử của dân mình đã có từ xưa. Tôi chỉ là người nối gót”. Anh đã cho chúng tôi địa chỉ của một trong những thám tử tư đầu tiên ở VN đã có mặt cách đây gần nửa thế kỷ. Đó là ông Lê Văn Lương, quê tại thôn Kim Thượng, xã Kim Bình, Kim Bảng (Hà Nam).
TRÂM ANH












































































































































































Phần nhận xét hiển thị trên trang

    Phuocbeo's Blog: Sẽ có một Điện Biên Phủ khác!?

    Phuocbeo's Blog: Sẽ có một Điện Biên Phủ khác!?: >> Kiện cái gì ở Hoàng Sa? >> Hành động xung quanh HD-981 >> Biển Đông, Việt Nam và Trung Hoa những trò chơi chính trị ... Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Hai, 5 tháng 5, 2014

Giọt rượu cuối ( Lưu Quốc Hòa )

.
KÍNH VIẾNG HƯƠNG HỒN NHÀ VĂN NGUYỄN DANH KHÔI, BẠN VĂN THÂN YÊU CỦA TÔI - TRƯỚC TUẦN TỨ CỬU.
( Viết lúc 22 h đêm 4/9 đến 3h đêm 5/9 tại trại sáng tác văn học Tuyên Quang)
--------------

NHÀ VĂN NGUYỄN DANH KHÔI(NAM ĐỊNH) TRƯỚC LÚC TỪ TRẦN 3 THÁNG
Nắng loang lổ trên con đường dẫn vào phố huyện. Một con phố giáp biển Lâm Quất. Con đường cấp phối hầm hập cái nóng buổi chiều và những bóng cây xanh cảnh xệch xạc đổ bóng xuống nền đường. Gió biển thổi ràn rạt nên càng làm cái bóng ấy vật vã, tả tơi. Cuộc chơi đầy may rủi của nghề trồng cây cảnh đã vào hồi kết. Những cây xanh bạc tỷ bữa nọ người ta giữ lại để hóng giá, giờ chuẩn bị đốn đi làm củi…Ông bạn láng giềng “tháu cáy” chơi ác quá. Đất này đang hư gia bại sản vì trò đùa giết nhau không gươm không giáo.
Một bóng người cũng xệch xạc, quầy quả đi trên đường. Đầu anh ta đội cái mũ “dạ tá” bộ đội. Cái áo “bay” Liên xô cũ và cái quần lính tuột gấu.
Giá chống gậy thì tốc độ di chuyển trên đường sẽ khá hơn. Anh ta không chống gậy nên bước đi vẹo vọ, có lúc ngoằn ngoèo hình sin, nhấp nhô trên đường. Có lúc “một tiến hai lùi” bả thả. Nói vậy ta cũng biết anh ta say khướt khượt. Đi để mà đi. Vô định hoang hoải trong cơn say nhập nhòa. Nắng hay mưa bất cần. Cứ biết rằng: Say là đi tìm bạn. Mấy thằng bạn cùng viết văn, cùng một thời lính trận, thoát chết trở về.
Anh ta là Khối. Nguyễn Danh Khối. Khối vẫn đùa với bạn lúc say: Tao là thằng Khối. Bỏ chữ I ngắn đi rồi thêm chữ N vào đấy là thằng Khốn. Thằng Nguyễn Danh Khốn. Đọc ngược là Khốn Danh Nguyễn. Mẹ nó chứ! Khốn vì danh. Người ta có danh để lòe thiên hạ mới ăn tiền. Cái danh Nhà văn lòe được đếch ai trên cõi đời này. Càng có danh lại chuốc thêm họa để bán vợ đợ con vì cái danh hàng mã. Mà đời cũng đáng buồn thật. Cùng mang cái danh hàng mã , phận mỏng cánh chuồn mà lắm thằng cũng chẳng biết thương lấy nhau, đá nhau oanh oách để ngã quay đơ ra, thân tàn ma dại.
Khối vừa đi vừa lẩm bẩm: Mẹ kiếp! Đi mãi sao chưa tới nhà thằng Mai nhỉ?. Thằng Mai giờ này đi gõ đầu trẻ thì phải. Kệ xác nó, không gặp thì đến nhà thằng Lã. Thằng Lã vừa làm nhà văn, vừa làm nhà văn, vừa hát cung văn. Vừa gảy đàn tỳ bà, vừa cấu mông đàn bà. Tóc nó xoăn như mì tôm, miệng nó chum chum như thôi lửa. Rượu vào là nó cởi trần cho thoáng để khoe cái xương chả chìa bám vào thành bụng lép kẹp…Thằng Lã là con càng cạc đực. Con càng cạc đậu trên cây xoan cây mít đớp sương ông Giời thả xuống mà sống qua mùa. Thằng Lã thì đớp rượu trần gian để viết văn, để hát cung văn. Hát cung văn để kiếm gạo nuôi con chứ viết văn chỉ chuốc cái khổ vào thân. Không khổ thì không viết được văn. Không viết được văn thì hen tắc cái giọng hát cung văn…Bố khỉ cái đời, nhiêu khê thật.
Khối có ba người bạn gần và có mấy bạn xa, cũng là dân thơ văn đàn sáo đa đoan. Mỗi năm gặp đâu vài lần còn chỉ gặp trên điện thoại. Ốp oáp mấy câu thì máy tắt phụt vì hết tiền. Không có bạn thì còn đâu nỗi sướng mà viết văn. Khổ thế đấy. Thôi thì đi tìm thằng Mai, thằng Lã mà chơi. Hai thằng này bận bịu lắm. Nó mải kiếm cơm nuôi vợ con, có thì giờ đâu mà lang bạt kì hồ như Khối.
Ba anh hay rượu lại là ba cây bút ở phố huyện ai cũng biết mặt biết tên. Họ cùng là hội viên của một hội văn chương một tỉnh có từ trường thi họa vua biết mặt, chúa biết tên. Ngày nào họ cũng tụ tập để uống với nhau vài ba chén. Họ say với nhau chứ chẳng nhiễu nhương với đời, chẳng hạch sách vợ con. Ba gã đàn ông như cái kiềng ba chân, tựa vào nhau để viết. Họ thường vặc nhau, quá khích thì thượng cẳng chân hạ cẳng tay với nhau. Người ta đấm đá nhau vì sinh tồn cơm áo. Ba ông Giời hành lại lại tự hành nhau bởi cái dấu chấm, dấu phẩy giời ơi đất hỡi. Họ xông vào nhau như gà chọi. Trong ba con gà chọi ấy, con nào thua trận là bỏ chạy. Có nghĩa là họ đuổi nhau chạy rình rịch trên đường. Thiên hạ cứ tưởng họ đuổi được nhau thể nào cũng có kẻ đầu rơi máu chảy, thịt nát xương tan. Nhưng đuổi được nhau thì cả ba ôm nhau để …khóc. Khóc hinh hích một hồi lại tiếp tục vặc nhau.
- Tao đã bảo rồi. Chùa Chuông phải viết chữ chuông là xê hát. Mày viết tê e rờ thì thành Truông Bồn trong Quảng Bình à?. Đặt dấu chấm câu chỗ ấy là hỏng, hỏng bét bèn bẹt thằng khỉ ạ. Câu văn cứ như thằng vận quần đùi đi dự đại hội.
- Kệ bố tao! Tao thích như thế. Tao học chưa xong lớp 7 thì vào lính chứ có học đại học Sư phạm như mày đâu mà thông làu ngữ pháp hở Mai. Sao mày hay cà khịa tao thế?
- Nhà văn là người đẻ ra chữ, sáng tạo ra nghĩa lí cho cái đời này thì phải chuẩn mực hơn mấy thằng viết thư tán gái. Viết văn mà khoe cái bằng này bằng nọ là đồ hợm đời. Chả có cái bằng nào hết. Chả có ông thày nào dạy hết. Chỉ có mỗi ông Giời bà Đất dạy. Ông Giời bỡn cợt tròng vào cổ thì thành định mệnh tai ương. Lí của mày là cái lí cù nhầy.
- Tao vả vào cái mồm mày bây giờ! Biết rồi, cứ càm ràm mãi. Biết mà không làm được mới đau. Ở đời này có vô số cái biết mà không làm được.
Cuộc ẩu đả ấy là của Mai với Lã.
Khối thì khác. Đuổi nhau một thôi. Vồ được nhau là anh phượt ra, chống chân gọng bừa mà thở. Chum mỏ vào mà thở. Tiếng thở pho pho, phun phút như huýt sáo. Khối nhìn hai thằng bạn cãi nhau mà cười buồn. Chả biết can rán cách nào. Anh quoài tay lên cổ gãi nhanh nhách. Gãi chán lại xòe bàn tay tụ lại từng đám muối. Thè lưỡi nếm thấy mặn chát! Lạ thật! Muối ở đâu ra thế này?. À! biết rồi. Gió biển, sóng biển tung cái mặn mòi từ khơi xa vào cơn gió. Cơn gió cõng vị mặn bậu vào người và tích lại thành muối. Cũng như cuộc đời này. Bao số phận Người quoăng quật tích lại thành những số phận, vừa đớn đau, vừa hoan lạc. Làm nên những cung bậc bổng trầm ở thế gian.
Nhìn hai bạn văn, bạn rượu ỏm nhả với nhau. Tức khí, Khối đấm thùm thùm vào hai cái lưng rồi gào lên:
- Im mồm tất cả đi! Im đi! Về thôi!...tao thấy những lí luận cao siêu của chúng mày phun ra nhạt thếch. Đời đơn giản ấy mà, văn chương lại càng đơn giản, việc đếch gì mà kêu gào la lối cho nhọc xác. Viết văn cũng như làm tình với đàn bà. Là cái mệt nhọc trong sung sướng. Sung sướng trong cái mệt nhọc.
-----------
Khối là anh lính pháo thủ thời chiến tranh. Làm lính phơi mặt nhìn lên trời bắn máy bay rồi thành sỹ quan kỹ thuật. Hết chiến tranh về phố huyện lấy vợ đẻ con rồi làm táp nham bao công việc kiếm sống. Người ta xong việc là lăn khếnh ra cho khỏe. Khối lại hành xác mình bên cái bàn gỗ mộc mà viết. Nét mặt chau chau, lúc tủm tỉm cười, lúc ướt nhòe hai com mắt. Anh sống không biết giấu mình. Trái tim và khối óc như cái hàn thử biểu trước cuộc đời. Cái miệng thì nhếu nháo cười nhưng cái mắt hấp hem lúc nào cũng trực khóc. Người ta bảo Khối là kẻ dị biệt trên cõi đời. Buồn vui táp vào con người anh nhạy cảm như làn da thiếu nữ trước ái tình. Anh sống hồn nhiên đến tội nghiệp và trải lòng với buồn vui cuộc đời cũng trong vắt, không vụ lợi lấy lòng ai.
Khối viết bao nhiêu chuyện về đời lính trận. Những kẻ thành danh và cả những kẻ thân bại danh liệt anh phơi ra trên trang văn. Bao nhiêu trang viết dung dị về làng quê mang vị mặn mòi, ngang tàng của dân vùng biển…Độc giả nhìn anh với ánh mắt vừa biết ơn, vừa thương hại. Anh như hòn đá thô nháp lấm lem mà những nhà khảo cổ vừa móc lên từ đất. Thô nháp, cũ kĩ. Nằm ục ra dưới nắng gió đất trời.
-------------

Bữa đó cưới con gái đầu nhà Khối.
Gió biển thổi phây phây làm những tấm mành che trong hôn trường tự tạo bên dãy phố dài kêu phần phật. Bạn bè đến dự rất đông. Có cả những người không mời cũng đến. Họ đến vì yêu mến gia đình anh và cũng là dịp thỏa trí tò mò về cái gã nhà văn dựng chuyện rồi kể chuyện trên trời dưới đất và trong mỗi câu chuyện ấy, có bóng dáng của họ lặn vào. Trong cái hỗn mang đời sống. Họ đang chen vai thích cánh cùng nhân quần mà mưu sinh vật vã.

Cứ tưởng ông Nhà văn phong tình ngần ngật ấy, trong ngày trọng đại của con mình sẽ rất quan trọng, sẽ hào hoa tỉnh mỉnh. Sẽ nói những lời véo von có cánh. Họ nhầm tất cả. Khối giản dị trong bộ đồ lính ngày xưa. Cái miệng cười nhưng hai mắt mọng lên. Anh thấy cuộc đời này nhân ái quá. Anh thấy hạnh phúc trong tình người. Cái tình chân mộc mà độc giả dành cho một nhà văn mà họ tin mến.
Cỗ bàn, tiệc tùng bày ra mấy dãy bàn. Khối đi lại bắt tay từng người rồi ngồi lại với mấy bạn văn chương.
Từ cuối dãy có tiếng nhôn nhao.
Người ta truyền tay nhau một tờ giấy có mực đen dấu đỏ như chuyền hòn đất quai đê lấn biển. Có một người nào đó, nhờ chuyển đến tay Khối. Tờ giấy ấy là quyết định khai trừ, xóa tên hội tịch anh trong một tổ chức văn chương chuyên nghiệp mà nhiều năm nay anh gắn bó, đi về như ngôi nhà chung đầm ấm. Cái tin ấy như vết dầu loang trong đám cưới rồi tràn ra phố huyện. Bao nhiêu thêu dệt quanh tờ giấy mỏng tang. Người ta đoán già đoán non quanh mấy câu kết tội mập mờ: Vi phạm nguyên tắc tổ chức, phát ngôn bừa bãi làm mất đoàn kết nội bộ, tha hóa đạo đức lối sống của một nhà văn…Ôi! Toàn những câu kết tội tày đình đến nhân phẩm một con người mà bấy lâu nay được ngưỡng mộ.
Cầm tờ quyết định giữa ngày vui trọng đại khi con gái sắp bước lên xe hoa, giữa bao ánh mắt bạn bè và người thân. Khối như rơi xuống chín tầng địa ngục. Tờ giấy mỏng tang ấy như nhát búa bổ vào đỉnh đầu anh, quật ngã anh trước cuộc đời. Thế mới biết câu nói của một văn sỹ nào đấy rất có lý: Muốn giết bọn văn chương ư? Dễ lắm. Chỉ cần làm cho nó buông bút là xong. Là nó đã chết trong khi đang sống.

Tiễn con lên xe hoa về nhà chồng. Khối vùi trong rượu, trong nước mắt. Bảng hoảng vì mất niềm tin yêu cuộc đời. Trong cơn say. Anh lôi một đống thẻ ra ngắm. Anh thấy nó hợm hĩnh và phù phiến, trơ chẽn với mình. Anh đổ rượu vào đống thẻ xanh đỏ rồi đốt. Cái ngọn lửa xanh lét của cồn trong rượu ma quái cứ uốn lượn nhảy múa sắp bén vào đống giấy con con. Đúng lúc ấy thì Mai và Lã có mặt. Hai người bạn nhanh tay vớt nhúm giấy khỏi chiếc khay và giấu đi. Mai trì triết: Mày là đồ hèn! Gục ngã lúc này là hèn, hèn lắm. Đừng mất niềm tin vào bè bạn, vào cuộc đời. Cái bọn vu oan giá họa chỉ là một nhúm người ác độc chứ không phải là tất cả. Hãy đi bằng chính đôi chân của mình.
Khối đau đớn:
- Tao hiểu! Cái thẻ kia và cả cái danh hàng mã người ta khoác cho mình là điều không mấy ai muốn chọn lựa. Nhưng trót có nó rồi thì phải sống chết với nó. Thà không có thì thôi chứ có mà bị rằng lại vô lí, đấy là điều chúng nó thóa mạ nhân phẩm mình. Chúng nó lấy thịt đè người hèn hạ lắm. Tao có làm hại ai đâu. Tao chỉ bênh vực lẽ phải, bảo vệ chính kiến cho bạn khi tội nó không đáng thế mà bị kết tội rồi rút phép thông công thì uất lắm! Uất lắm mày ạ.
- Quên đi! Quên bố nó đi. Danh hiệu là cái đếch gì. Thế gian này có bao nhiêu thằng lúc nào cũng vỗ ngực xưng tên là “nhà” nhưng với cuộc đời nó nhạt thếch…Bao nhiêu thằng vô danh nhưng như tằm nhả tơ với đời. Thằng cầm bút chỉ có tác phẩm và dư luận. Bao nhiêu giải thưởng nó đang thanh minh nỗ oan cho mày.
Cả ba nâng ly, uống cho vợi nỗi buồn nhưng càng uống Khối càng thấy nỗi buồn thăm thẳm.
----------
Khối vẫn không bỏ bút. Ngày ngày khi xong việc nhà lại chùi tay qua loa rồi ngồi vào bàn viết. Những con chữ vẫn tưng bừng trải lòng trên trang giấy. Khối đối diện với cánh đồng chữ nghĩa trắng lạnh đến rợn người đêm đêm và những cơn say cũng kéo anh về bao hoài niệm cuộc đời chìm nổi. Ba người bạn vẫn quây lấy anh mà khuyến khích.
Thấm thoắt thế mà đã gần chục năm trời. Khối không bước chân vào trụ sở Hội. Chốn ấy với anh đầm ấm bao nhiêu thì bây giờ hoang lạnh bấy nhiêu. Bao gương mặt bạn văn hiện về chập chờn trong cơn say. Họ rất gần và cũng rất xa, rất xa rồi lại rất gần trong anh.
Sức anh yếu lắm rồi. Cái đòn chí mạng cuộc đời cứ như con mọt đục khoét một cây gỗ tạp. Những trận say cũng hiệp sức thêm. Con càng cạc đực đã vào cuối mùa. Có lẽ không phải là con càng cạc. Anh trở thành con ve sầu cánh mỏng kêu ra rả với đất trời đã mãn hạn vòng đời. Chả mấy chốc nữa tàn hơi rụng xuống gốc cây. Hàng đống bản thảo vẫn xếp hàng trong phòng viết. Những con chữ máu thịt được đẻ ra âm thầm nằm im, đau đáu chuyện đời.
Nhiều căn bệnh quái ác xầm xập vây lấy cơ thể làm anh héo mòn. Người ta khuyên anh bỏ rượu nhưng cứ rời cái chai ra anh như người không còn sinh lực. Bao cảm xúc tê liệt, bàng bạc, nhạt nhẽo vô hồn. Những lúc đó anh lại tìm đến rượu, đến bạn cho khuây nỗi niềm. Mai và Lã hiểu điều ấy. Họ đồng cảm với nhau. Đối với một người cầm bút thì tê liệt cảm xúc cũng đáng sợ như cái chết. Con chữ nó bỏ ta, nó chết trước ta thì ta sống cũng ích gì. Không ai muốn đắng cay nhưng cái đắng cay không thể chối từ đã nhập vào người lâu dần lại thành thói quen. Thiếu nó ta hụt hẫng như rơi vào khoảng không vô định. Con chào mào có thói quen ăn ớt cay. Càng cay nó càng hót những tiếng quyến rũ. Cả ba người bạn là những chú chào mào mổ ớt để cất lên giọng hót. Họ có những nỗi niềm riêng mấy ai hiểu thấu. Ngồi đối diện với nhau. Họ lặng lẽ ngắm nhau và biết nguy cơ chả bao lâu nữa sẽ lẻ bạn trong cõi đời. Tất cả sẽ về với đất, người trước, kẻ sau mà thôi. Ông cả bà lớn rồi cũng thế cả. Chẳng ai lớn mả hơn nhau. Cố lớn mả có khi người đời phỉ nhổ là kẻ tham lam những thứ không nên tham.
Khối yếu lắm rồi…Đã cả tuần nay uống rượu khan. Không đủ sức ngật ngưỡng tìm đến nhà bạn. Vợ con nhất quyết bắt đi viện nhưng Khối xua tay. Trong dự cảm, anh biết mình không thể trụ lại với mặt đất đầy duyên nợ đắng cay nên không muốn phiền vợ con, banjv bè. Mai và Lã cũng âm thầm bàn với nhau, chuẩn bị cho bạn ra đi thanh thản. Họ biết sự hỏng nát trong cơ thể bạn đã không còn có cơ hội cứu vãn. Chân tay Khối phát buồn, quờ quạng vật vã. Ánh mắt đã đờ dại. Họ mời Bác sỹ đến thăm khám. Ông Bác sỹ quân đội tóc bạc như cước cầm tay xem mạch. Áp ống nghe xem nhịp tim. Ông quay ra nói nhỏ với mọi người. Tất cả lặng đi. Mệnh đã tận thì chả có thuốc thang nào cứu nổi. Ông vẫy một đứa cháu gái đi thuê bình oxy về và ngồi trực. Chiếc đồng hồ cũng đã đặt đầu giường để biết chính xác cái giây phút Khối trút hơi thở cuối cùng. Mấy ông thày cúng cũng tự động có mặt. Tính đi tính lại mấy lần. Nếu Khối từ trần vào hồi 10 giờ đêm nay thì được hai cái nhập mộ, ra đi mát mẻ lắm.
Khoảng 9 h đêm thì họ quyết định cắt nguồn ô xy trợ thở. Mọi người im lặng chờ cái giây phút vừa mong muốn, vừa không mong muốn ấy diễn ra.
Kỳ lại thay. Khi cái ống cao su rút ra thì Khối hồi lại. Lắp bắp trong miệng nhưng không thành lời. Mai cúi sát mặt bạn nói trong nước mắt:
- Nói đi! Tao đang nghe mày đây, nói đi! Mau lên.
Khối nằm im không nói. Chả biết có phải đắn đo hay sức kiệt không phát âm được. Khối lịm đi như thế qua đêm. Khuôn ngực lép kẹp vẫn nâng lên hạ xuống ngập ngừng. Có lúc không thấy động cựa rồi lại thoi thóp qua lần chiếc áo bay đời lính.
Sốt ruột Lã kéo Mai ra vườn rỉ tai:
- Tao lo nó đi lúc 10 giờ sáng nay thì vào giờ xấu, chẳng được cái nhập mộ nào cả. Những người khi sống bị hàm oan uất hận họ đều chọn giờ không nhập mộ.
Mai ngẩn mặt: Biết sao được. Sinh có hạn, tử bất kì. Có những thứ ta không có quyền lựa chọn…


Chợt có một bóng người hối hả, nhớn nhác đi tìm hai người. Mai và Lã đến bên Khối. Ánh mắt Khối hé mở và ánh mắt ấy tự nhiên linh động., cười cợt.
- Cái gì? Mày muốn nói cái gì với chúng tao?
Khối mấp máy cái môi nhợt nhạt: Xé! Xé!.
Mai đưa mắt nhìn Lã. Nó bảo xé cái gì nhỉ ấy nhỉ? Họ chợt nhớ ra cái quyết định khai trừ cách đây gần chục năm Khối vẫn gấp làm tư bỏ trong ví. Cả hai xòe hết tờ giấy đã úa vàng trước mặt Khối rồi xé vụn tơi. Những mẩu giấy lả tả rơi xuống bộ râu nhôm nhoan của bạn.
Khối lại động đậy môi: Hát ! Hát.
Họ biết Khối sắp ra đi. Lã lôi chai rượu và ba cái cốc đặt cạnh nhau thế chân kiềng. Cây tỳ bà trong tay Lã rung lên những âm thanh cung oán ngâm khúc mà trong những bữa rượu họ vẫn hát cho nhau nghe. Khối cố thè lưỡi. Lã lấy ngón tay nhúng vào chén rượu quệt vào đầu lưỡi bạn. Cái lưỡi nhợt lo le nhận vị cay nồng. Lưỡi Khối lại thè ra dài hơn. Lã và Mai dùng thìa, thi nhau đổ rượu vào miệng. Lã nâng đàn hát trong nước mắt. Những giọt nước mắt lã chã rơi vào cốc rượu, rơi xuống phím đàn: Thưở trời đất nổi cơn gió bụi/ Khách má hồng nhiều nỗi chuân chuyên/ Trách ai làm nên nỗi ưu phiền/ Sống để dạ, chết mang theo khắc khoải.
Đầu Khối ngoẹo dần. Lã gào lên: Quên hết đi! Quên hết chuyện đời đi Khối ơi! Trần gian còn bao nỗi đau. Quên đi! Quên hết đi cho nhẹ gánh.
Khối ngừng thở. Cái miệng nhệch ra như cười cợt nhưng mắt không chịu khép.
Kim đồng hồ chỉ đúng 10 giờ…Cái giờ không nhập mộ.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Để hạn chế lao động trái phép?



Trả lời Tuổi Trẻ, bà Chutathip Chareonlar, giám đốc Tổng cục Du lịch Thái Lan (TAT) tại TP.HCM, thừa nhận thông tin này là đúng sự thật. Cửa khẩu Poipet đề cập ở đây được phía Thái Lan gọi là Aranyaprathet, phòng nhập cảnh Thái Lan đã ban hành quy định về việc khách du lịch nước ngoài khi nhập cảnh Thái Lan phải mang theo số tiền mặt tối thiểu là 700 usd hoặc 20.000 baht, và phải trình ra cho hải quan khi làm thủ tục nhập cảnh nếu được yêu cầu. Quy định này mới được áp dụng cho tất cả du khách nước ngoài khi nhập cảnh Thái Lan theo kiểu visa du lịch chứ không chỉ với du khách VN, do ngày càng nhiều người nhập cảnh Thái Lan dưới hình thức visa du lịch để làm việc sai quy định.
Tuy nhiên, bà Chutathip Chareonlar cũng cho biết do số lượng người cầm hộ chiếu VN nhập cảnh vào Thái Lan dưới dạng visa du lịch nhưng thật sự là lao động trái phép (không có giấy phép lao động) ngày càng nhiều, gây khó khăn cho việc quản lý của quốc gia nên phòng nhập cảnh buộc phải nghiêm chỉnh trong việc cấp phép nhập cảnh theo quy định (đặc biệt đối với nhóm du lịch tự túc) chứ không có bất kỳ sự phân biệt đối xử hay miệt thị người VN ở đây. TAT chỉ là cơ quan xúc tiến du lịch trong và ngoài nước, không phải là cơ quan ban hành luật định trên.
Bà Chareonlar cũng thông tin việc yêu cầu du khách phải cầm số tiền 700 USD hoặc 20.000 baht để hải quan chụp lại số xêri được in trên tiền, phòng trường hợp cho người khác mượn lại số tiền đó. Và việc này hoàn toàn trong quyền hạn của hải quan khi làm thủ tục nhập cảnh và du khách nước ngoài (bất kể quốc gia nào) khi được yêu cầu phải tuân theo.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Anh Ba sàm bị bắt rùi, nói thêm nữa lầm giề?

Quê Choa: Đôi lời về Anh Ba Sàm: Gò Cỏ May Theo blog Gocomay's   Anh Ba Sàm “tác nghiệp chéo” với đài TH Hà Nội   (...) Không tốn một đồng xu ngân khố quốc gia,... Phần nhận xét hiển thị trên trang