Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Năm, 1 tháng 5, 2014

những kẻ đốt đền.

Nguyễn Thế Duyên

Giáo sư, anh hùng lao động Vũ Khiêu
Dạo này, khi cái độc quyền về thông tin của nhà nước bị internet cướp mất, chúng ta mới ngã ngửa người ra là trong đám ráo sư quốc doanh có rất nhiều ông có lắm vấn đề cả về nhân cách lẫn tri thức. Nhưng thôi! Đừng bàn đến họ cho tốn thời gian và giấy mực. Trong phần này tôi chỉ xin đề cập đến hai vị hiện đang nổi đình nổi đám trong giới văn chương đó là giáo sư Vũ Khiêu và một ông vô danh tiểu tốt Đỗ Minh Xuân, một kĩ sư cơ khí đang ( Nói như một người nào đó ) lắp ráp lại truyện Kiều bằng C lê và búa.


Với ông kĩ sư Đỗ Minh Xuân, tôi cũng chẳng lấy gì ngạc nhiên cho lắm. Tôi còn gặp một ông đã từng hô to “Kéo cổ Nguyễn Du xuống, ta mới là đại thi hào của Việt Nam” nhưng với ông giáo sư Vũ Khiêu thì tôi đã thực sự ngạc nhiên. Tôi đã tự hỏi : Một người danh đã có, lợi cũng đã có và chắc ông viết lời giới thiệu cho cuốn sách của ngài kĩ sư Đỗ Minh Xuân không phải vì mệnh lệnh của một ai đó thì tại sao lại đi làm cái chuyện này? Tôi chịu không thể trả lời được

Ông Vũ Khiêu nói “Với một tinh thần khoa học rất nghiêm túc”(1).

Vậy thế nào mới là khoa học?

Xét về mặt văn bản chúng ta phải nói rằng “ Một chữ của tác giả ta cũng không được phép sửa đổi”. Đấy không những là khoa học mà cao hơn, nó còn là pháp lý về “Quyền sở hữu trí tuệ”

Văn bản gốc của truyện Kiều do Nguyễn Du viết đã bị thất lạc. Truyện Kiều được lưu giữ cho đến ngày nay là do truyền miệng. Mãi về sau này mới được in thành sách. Trong quá trình truyền khẩu ấy truyện Kiều đã bị sai lạc khá nhiều, do nhớ nhầm. Sau này, khi được in thành sách, truyện kiều vẫn tiếp tục bị sai lạc do tam sao thất bản. Nhưng tất cả sự sai lạc này đều do vô thức tạo nên. Đây là lần đầu tiên sự sai lạc có ý thức xảy ra đối với truyện Kiều.

Chính sự sai lạc này đã làm đau đầu những nhà “Kiều học” Họ đã phải đau đầu, cân nhắc từng chữ, tranh luận với nhau hàng năm trời để cố gắng tìm ra đâu mới là từ mà Nguyễn Du đã dùng. Họ cố gắng đưa truyện Kiều về gần nhất với văn bản gốc. Đó mới là khoa học.

Trên thế giới cũng vậy! Tượng thần vệ nữ người ta tìm thấy thiếu mất hai cánh tay. Các nhà tạo hình trên thế giới hoàn toàn có thể tạo ra hai cánh tay khác để lắp vào bức tượng và bức tượng chắc chắn là sẽ đẹp hơn nhưng họ đã không làm. Tại sao vậy? vì một điều rất đơn giản : Chắc gì hai cánh tay mới làm ấy đã đúng với bản gốc của bức tượng.

Những sửa chữa, tôn tạo để khắc phục sự xuống cấp các di sản văn hóa chỉ được phép làm lại đúng như bản gốc không được phép sửa đổi còn những thứ không có bản gốc thì phải giữ nguyên hiện trạng dù rằng nó chỉ còn là phế tích, mặc dù với kĩ thuật tiên tiến hiện nay người ta hoàn toàn có thể dựng lại hiện trang ban đầu bằng kĩ thuật máy tính

Với một tinh thần “Khoa học một cách nghiêm túc” Ông Vũ Khiêu đã khuyến khích một việc làm ngược lại :Sửa một văn bản mà bao nhiêu người đã cố gắng đưa nó về gần đúng với văn bản gốc thành một văn bản… ( Tôi cũng không biết phải gọi thứ văn bản này là thứ văn bản gì).
Ông còn viết

ông đã có ý tưởng lớn là làm thế nào để phổ cập hóa Truyện Kiều cho quảng đại công chúng, ông gạt bỏ những câu chữ khó hiểu từ tiếng Hán để thay bằng ngôn ngữ thuần Việt trong Truyện Kiều”

Tôi không hiểu ông Vũ Khiêu nghĩ gì khi viết câu này!.

Thứ nhất – Về tính đại chúng của truyện kiều thì đâu cần những người trí thức lùn như các vị phổ cập nó. Thử hỏi trong nền văn học Việt từ trước đến nay có tác phẩm văn học nào mà chin mươi triệu người dân thì nói không ngoa phải có đến sáu bảy mươi triệu người biết đến nó. Có tác phẩm văn học nào mà từ Bắc chí Nam ai ai cũng thuộc một đôi câu như truyện kiều.

Thứ hai: Phải khẳng định rằng truyện Kiều là một tác phẩm đỉnh cao. Nghĩa là nó không chỉ dành cho những người có trình độ thị dân mà còn là cuốn sách dành cho những tác giả.

gạt bỏ những câu chữ khó hiểu từ tiếng Hán để thay bằng ngôn ngữ thuần Việt trong Truyện Kiều”.

Chẳng lẽ ông không hiểu rằng chính những điển tích mà Nguyễn Du đã dùng chính là tinh hoa của truyện Kiều?

Ta thử xét một câu trong truyện Kiều:
Một hai nghiêng nước nghiêng thành

Nếu là một người bình thường, người ta vẫn hiểu được hai cô gái đẹp lắm. Nếu là một học giả họ còn biết cao hơn thế. Khi đọc đến đây họ phải vỗ đùi khen rằng: Sao cụ Nguyễn Du tài thế! Cụ đã dịch được hai câu thơ Đường:

Nhất tiếu khunh nhân thành
Tái tiếu khunh nhân quốc

Mà không ai có thể dịch hay hơn. Thay câu thơ này bằng bất cứ câu nào thì cũng tước bỏ đi cái phần dành riêng cho các học giả. Đồng nghĩa với việc biến một tác phẩm đỉnh cao thành một tác phẩm thị dân.

Ta hãy thử xét một vài câu thơ mà ông kĩ sư đã thay để xem thử ông đã tầm thường hóa truyện Kiều như thế nào khi bỏ đi những điển tích.
Rằng: Nghe nổi tiếng cầm đài,
Nước non luống những lắng tai Chung K
ì

Theo ông Thế Anh thì hai từ Chung Kì ở đây được thay bằng hai từ “Ngưỡng vì”

Nên câu thơ trở thành

Rằng : Nghe nổi tiếng cầm đài
Nước non luống những lắng tai ngưỡng vì.

Thôi được ta cứ hiểu một cách cục mịch như ông Xuân đi thì câu đó có nghĩa “Ta nghe nói nàng nổi tiếng đàn hay ta ngưỡng mộ đã lâu” thế thì hai từ “Nước non” trong câu thơ phải giải thích thế nào đây? Chẳng lẽ là “Cả nước ngưỡng mộ” ? đấy là chưa kể đến hai từ “ ngưỡng vì” Nghe rất “Củ chuối”. Chắc ông kĩ sư cũng chẳng ngu gì mà không tra cứu cái tích của hai từ Chung Kì . Ông biết nhưng ông lại không hiểu.. Khi hiểu hai từ Chung Kì là nói đến Bá Nha và Tử Kì thì câu thơ còn hàm một nghĩa khác không chỉ dừng lại ở cái nghĩa là ngưỡng mộ. Đó là sự khẳng định của Kim trọng “Ta sẽ là người tri âm , tri kỉ của nàng” câu thơ cao vượt lên hẳn vài bậc so với sự ngưỡng mộ thông thường. Và phần này của câu thơ để dành cho những vị học thật chứ không dành cho những người” Học giả”.

(Tôi cũng phải xin lỗi trước là tôi không có quyển sách của ông Đỗ Minh Xuân nên tất cả những từ thay đổi, tôi theo đúng của ông Thế Anh trong bài viết “Tại sao ông Vũ Khiêu lại nối giáo cho giặc”. Nếu có gì sai sót tôi thành thật xin lỗi tất cả mọi người).
Ta thử một câu nữa:

Vâng lời khuyên nhủ thấp cao
Chưa xong điều nghĩ đã dào mạch Tương.

Ở đây ông Xuân thay cụm từ “Đã dào mạch Tương” Thành “Đã chào vầng Dương” nên câu thơ trở thành:

Vâng lời khuyên nhủ thấp cao
Chưa xong điều nghĩ đã chào vầng dương.

Rõ ràng khi thay đổi ba từ này nghĩa câu thơ đã thay đổi hoàn toàn. Ở câu trên câu thơ có nghĩa “ Nghe chưa hết lời khuyên nước mắt nàng đã lại trào ra” Thể hiện một cô gái đa cảm. Ở câu câu dưới câu thơ lại có nghĩa “ Chưa nghe hết lời khuyên nàng đã hớn hở chào đón một ngày mới” Sao tôi lại dùng hai từ hớn hở? Vì cái từ “Chào” mà ông Xuân đã dùng. Thể hiện một cô gái nông cạn và vô cảm. Biến nàng Kiều từ một cô gái đa cảm thành ra một cô gái vô cảm và nông cạn đấy là “Một ý tưởng lớn” của ông kĩ sư cơ khí mà ông Vũ Khiêu đã ca ngợi
Ta hãy xét thử thêm một câu nữa để thấy thay từ thuần Việt cho điển tích câu thơ sẽ ra sao. 
Câu 507:

Phải trò trên bộc dưới dâu

Ông thay bằng “Trên cỏ dưới dâu”. Thoạt nghe có vẻ thuận, Có lý. 

Phải trò trên cỏ dưới dâu

Nhưng nếu xét lại cả câu theo cái nghĩa thuần Việt thì câu này vô nghĩa. Chúng ta không có cái trò nào trên cỏ dưới dâu cả. Muốn câu này có nghĩa đúng như cụ Nguyễn Du viết mà lại thuần Việt thì phải viết là

Phải trò mèo mả gà đồng

Nhưng nếu viết thế thì lấy vần đâu bắt cho câu dưới. Để thuần Việt ông bèn biến một câu có nghĩa nhưng cần kiến thức rộng thành một câu vô nghĩa. Thiên tài! Làm gì mà ông Vũ Khiêu chẳng khen hết lời

Ta tạm dừng phần thay đổi những tích Hán Việt ở đây mà chuyển sang phần thay đổi từ ngữ không phải tích Hán Việt xem thử cái mà ông Vũ Khiêu nói ông đã có ý tưởng lớnnó như thế nào. Câu dễ thấy nhất là câu:

Sè sè nấm đất bên đường.

Ông Xuân sửa là

Se se nấm đất bên đường với lời giả thích (Theo như bài viết của ông ThếAnh)

“.Ông phân tích đó là nấm mồ vừa mới đắp, đất hơi se se, cỏ chưa hồi phục hẳn, nên đang còn nửa vàng nửa xanh.

Tài thật! Xin hỏi ông Xuân thế còn hai câu

Trải bao thỏ lặn ác tà
Ấy mồ vô chủ ai mà viếng thăm

của Cụ Nguyễn Du là chỉ nấm mộ của ai đây?

Còn câu “ Bóng hoa đầy đất vẻ ngân ngang trời”

Ông thay từ vẻ thành từ ve “Ve ngân ngang trời” . Đọc câu này của ông tôi lại sực nhớ đến chuyện Tô Đông Pha sửa thơ của Vương An Thạch

Minh Nguyệt sơn đầu khiếu
Hoàng Khuyển ngọa hoa tâm

Thành

Minh nguyệt sơn đầu khiếu
Hoàng khuyển ngọa hoa âm

Phải bao nhiêu năm sau Tô Đông Pha mới biết kiến thức mình non nớt. Nhưng với từvẻ thành ve thì chúng ta không cần phải lâu đến thế. Chỉ cần đưa mắt đọc lên câu trên

Cửa thiền vừa tiết cuối xuân

Thì ta thấy ngay sự non nớt về kiến thức của ông Kĩ sư họ Đỗ. Tiết cuối xuân nghĩa là vào tháng hai đến tháng ba âm lịch lúc ấy thì đào đâu ra ve. Hay là “Tiếng ve năm ngoái còn vờn ông Xuân” ?

Ta hãy xét đến một từ khó hơn mà lại khó hơn rất nhiều đó chính là từ “Chiếc” của cụ Nguyễn Du thành từ “Đơn” hay từ “Lẻ” của ông kĩ sư cơ khí vì từ này để cảm nhận được cái hay của nó cần phải có một sự mẫn cảm hết sức tinh tế và kiến thức sâu rộng của người thưởng thức

Trong thành ngữ của chúng ta có câu thành ngữ rất hay “Chăn đơn, gối chiếc” Chăn đơn là loại chăn mỏng ( chứ không phải là loại chăn chỉ dùng cho một người ). Nó không đủ ấm vào mùa đông nên chăn đơn hàm chỉ sự lạnh lẽo. Gối chiếc là loại gối chỉ dùng cho một người vì vậy nó hàm chứa một nội hàm cô đơn ở bên trong

Trong ca dao có câu:
Đêm đêm canh giữ phòng không
Chăn đơn gối chiếc lạnh lùng môt thân

Vậy từ “ Chiếc” luôn luôn đi với sự cô đơn. Còn từ đơn muốn chỉ sự cô độc thì lại luôn đi với từ lẻ thành một từ kép” đơn lẻ”.Ở đây phải thấy sự nhuần nhuyễn về tiếng việt của cụ Nguyễn du. Chỉ sự cô đơn bao giờ cụ cũng dùng từ chiếc

Người về chiếc bóng năm canh
Vầng trăng ai xẻ làm đôi
Nửa soi gối chiếc , sửa soi dặm trường.

Thế đấy ! Muốn dùng từ thuần Việt cũng không hề dễ đâu. Phải thuộc, hiểu một cách sâu sắc về ca dao tục ngữ thì dùng từ thuần Việt mới hay và chính xác. Phải đặt cái từ ấy vào trong tổng thể của cả đoạn thơ chứ không thể bạ từ nào thay từ ấy như ông Xuân đã làm.

Truyện Kiều là một tác phẩm đỉnh cao. Một cây cổ thụ được hai ông Vũ Khiêu và Đỗ Minh Xuân bứng đi trồng thay vào đấy là một cây cỏ dại.

Bỗng thấy thương cho cụ Đào Duy Anh quá. Hai kẻ hậu sinh đã hóa vàng cho cụ bằng chính cuốn « Từ điển truyện Kiều » . Ôi ! những nhà văn hóa !
Hà nội 28-4-2014 N.T.D
Rút từ bài: Nhân có kẻ đốt đền vẩn vơ nghĩ về văn hóa
.........................
[1]Với một tinh thần khoa học rất nghiêm túc, ông tìm lại hầu hết các bản Truyện Kiều từ trước đến nay, so sánh các dị bản, tìm đọc hầu hết các bài đã bình luận, phân tích tác phẩm và tác giả Truyện Kiều. Từ đó, ông đã có ý tưởng lớn là làm thế nào để phổ cập hóa Truyện Kiều cho quảng đại công chúng, ông gạt bỏ những câu chữ khó hiểu từ tiếng Hán để thay bằng ngôn ngữ thuần Việt trong Truyện Kiều… Tôi hoan nghênh công phu nghiên cứu của ông Đỗ Minh Xuân và tin rằng cuốn sách này của ông là một đóng góp đáng kể vào việc nghiên cứu Truyện Kiều…” - Vũ Khiêu.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Việt Nam mất 51 năm mới theo kịp Indonesia, 95 năm để theo kịp Thái Lan, 158 năm đối với Singapore.

Thanh Bình
Alan Phan:Tôi chỉ biết nhìn với cặp mắt buồn rầu về một quê hương và dân tộc có đầy đủ điều kiện để “hóa rồng”. 

Báo cáo phát triển Việt Nam 2009 của Ngân hàng Thế giới (WB) công bố đầu tháng này đưa ra những thống kê gây sốc cho những ai đang kỳ vọng lớn vào “con hổ Việt Nam”.
Theo đó, Việt Nam có thể mất tới 51 năm mới đuổi kịp Indonesia và thậm chí 158 năm nữa mới bằng được Singapore về thu nhập trên đầu người.

Mặc dù đã mào đầu rằng công việc dự báo xu hướng tăng trưởng lâu dài là một nhiệm vụ vô cùng khó khăn ngay cả với các nhà kinh tế giỏi, nhưng WB cũng đưa ra những căn cứ rõ ràng để chứng minh cho phán đoán của mình.  

Theo số liệu của WB, năm 2007, thu nhập trên đầu người của Việt Nam là 836 đôla, Indonesia là 1.918, Thái Lan là 3.850 và Singapore là 35.163. Trong giai đoạn 2001-2007, tốc độ tăng trưởng thu nhập trên đầu người (tính theo giá cố định, tức là sau khi đã trừ đi yếu tố lạm phát) tuơng ứng là 6,5%, 4,8%, 4,8% và 4,0% một năm. Với tốc độ này, Việt Nam sẽ cần 51 năm để thu nhập bình quân của người dân theo kịp Indonesia, 95 năm để theo kịp Thái Lan, 158 năm đối với Singapore.  

WB còn đưa ra một cách tính toán nữa là tính bằng đồng đôla. Theo đó, tốc độ tăng trưởng thu nhập trên đầu người tính bằng đôla của các nước Việt Nam, Indonesia, Thái Lan và Singapore tương ứng là 12,5%, 6,4%, 4,9% và 6,0%. Nếu sử dụng các con số này thì thời gian để Việt Nam theo kịp các nước trên sẽ là 15 năm với Indonesia, 22 năm bằng Thái Lan và 63 năm thì ngang với Singapore. Tuy nhiên, những con số tính bằng đồng đôla dễ bị ảnh hưởng bởi những biến động ngắn hạn của tỷ giá hối đoái. 

Nếu tính bằng đồng đôla, GDP trên đầu người của Việt Nam hầu như chắc chắn sẽ vượt qua mốc 1.000 đôla trong năm 2008, về đích sớm hơn 2 năm so với mục tiêu đề ra trong Kế hoạch Phát triển Kinh tế Xã hội 2006-2010. Tuy nhiên, GDP đầu người đáng mừng như trên không có gì ngạc nhiên trong thời điểm đồng đôla bị mất giá. 

Trong thập niên vừa qua, đặc biệt là sau khi đẩy nhanh cải cách kinh tế sau Đại hội Đảng IX năm 2001, Việt Nam đã đạt tỷ lệ tăng trưởng kinh tế rất cao. GDP trên đầu người của Việt Nam tính theo giá cố định đã tăng trung bình 6,5% một năm. Việt Nam xếp thứ 24 trên 139 quốc gia về tăng trưởng GDP trên đầu người tính theo giá cố định (xếp hạng này không tính đến các quốc gia và vùng lãnh thổ có GDP dưới 2 tỷ đôla trong năm 2007). 

Dù tính theo cách nào thì thực tế vẫn cho thấy rằng Việt Nam đang tăng trưởng rất nhanh. Sự tăng trưởng nhanh chóng này là một trong những động lực chính dẫn đến giảm nghèo, một lĩnh vực mà Việt Nam đat được nhiều thành tựu có ý nghĩa. 

Tăng trưởng kinh tế nhanh một phần được duy trì nhờ vào tích lũy vốn lớn. Tính đến năm 2007, mỗi năm Việt Nam đã đầu tư đến 521,7 nghìn tỷ đồng, gần gấp ba lần so với năm 2001, khi các cải cách kinh tế bắt đầu tăng tốc. Chỉ một phẩn con số gia tăng này do giá cả tư liệu sản xuất cao hơn. Việt Nam đang là một trong những nước có tỷ lệ đầu tư cao nhất trên thế giới. Tính theo tích lũy vốn gộp thì trong năm 2007 chỉ có trên 12 trên 139 quốc gia là có tỷ suất cao hơn so với Việt Nam. 

Với những yếu tố đáng lạc quan như vậy, WB không quên cảnh báo vấn đề hiệu quả đầu tư của khối lượng nguồn lực này: Số vốn tăng thêm có được phân bổ cho đúng ngành, đúng hoạt động và đúng dự án hay không.
.......................

Phần nhận xét hiển thị trên trang

chủ tiệm vàng Hoàng Mai dũng cảm đối chất công an



Chị chủ tiệm vàng Hoàng Mai gần chợ Bà Chiểu rất cứng khi cãi tay đôi với công an quận Bình Thạnh. Vụ việc là 1 người vào đổi 100$ tại tiệm vàng này và công an ào vào bắt, đòi khám xét và tịch thu 559 lượng vàng cùng 15.000 USD, 2.300 bath của tiệm vàng này. Theo nhận định của các luật sư, hoàn toàn là sai luật và có dấu hiệu lạm quyền.


Tuổi trẻ
CA Bình Thạnh phải trả số ngoại tệ tạm giữ cho Hoàng Mai
29/04/2014 17:17 (GMT + 7)

TTO – Chiều 29-4, Đại tá Lê Anh Tuấn, Chánh Văn phòng Công an TP.HCM cho biết Công an TP đã yêu cầu Công an Q. Bình Thạnh trả lại số ngoại tệ đang tạm giữ cho tiệm vàng Hoàng Mai.

Được biết, sáng cùng ngày, Thiếu tướng Phan Anh Minh, Phó giám đốc – Thủ trưởng Cơ quan CSĐT Công an TP.HCM đã làm việc với Công an Bình Thạnh, kiểm tra toàn bộ hồ sơ vụ kiểm tra tiệm vàng Hoàng Mai (đường Bùi Hữu Nghĩa, quận Bình Thạnh) và xác định cơ sở để Công an Bình Thạnh đề xuất lệnh khám tiệm vàng Hoàng Mai là chưa vững chắc.

Công an TP đã yêu cầu Công an Bình Thạnh trả lại số ngoại tệ đã tạm giữ, trừ 100 USD là số tiền mà người thanh niên đã đem tới tiệm vàng Hoàng Mai bán, báo cáo UBND quận Bình Thạnh về đề xuất chưa chặt chẽ đó.

Tiệm vàng Hoàng Mai đang bị công an Bình Thạnh lập biên bản thu giữ ngoại tệ, niêm phong vàng

Như Tuổi Trẻ đã thông tin, trưa 24-4, các trinh sát của đội cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ Công an Q.Bình Thạnh ập vào tiệm vàng Hoàng Mai, bắt quả tang một thanh niên bị tình nghi vừa hoàn tất việc mua bán 100 USD với tiệm vàng này.

Bà Nguyễn Thị Thanh Mai (giám đốc công ty xuất nhập khẩu vàng Hoàng Mai) đã có phản ứng mạnh, khẳng định không mua bán gì với thanh niên nêu trên và không ký vào biên bản vi phạm. Ngay trong chiều 24-4, Công an Q.Bình Thạnh công bố quyết định và thực hiện khám xét hành chính nơi kinh doanh của tiệm vàng này, phát hiện ngoại tệ các loại và 559 lượng vàng SJC trong két sắt nên lập biên bản tạm giữ.

Vụ việc kéo dài tới hơn 21g ngày 24-4 mới kết thúc bằng việc công an quyết định tạm giữ 100 USD và các loại ngoại tệ khác tại tiệm vàng, niêm phong tại chỗ số vàng miếng 559 lượng, giao cho bà Mai quản lý.

Chiều 26-4, Công an Q.Bình Thạnh đã tới tiệm vàng Hoàng Mai, tháo niêm phong hơn 559 lượng vàng bị niêm phong, trả lại số vàng trên cho tiệm vàng Hoàng Mai vì cho rằng chủ tiệm vàng đã chứng minh được đó là tài sản riêng của gia đình. Riêng số ngoại tệ hiện vẫn bị tạm giữ.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Tư, 30 tháng 4, 2014

Tổng công tố viên Ukraine: Ông Yanukovich mang 32 tỉ USD khi chạy khỏi Ukraine

 

Tổng công tố viên Ukraine: Ông Yanukovich mang 32 tỉ USD khi chạy khỏi Ukraine
Tổng công tố viên Ukraine Oleg Magnitsky trong cuộc phỏng vấn với báo Anh Financial Times cho rằng ông Viktor Yanukovich và người của mình đã mang theo ít nhất 32 tỷ USD khi chạy đến Nga – đây là thông tin đăng trên trang web của Cơ quan công tố Ukraine.
Ông Magnitsky nhắc lại, theo lệnh của Tổng công tố Liên bang Nga Yuri Chaika, Nga sẽ không trục xuất và giao nộp các quan chức đã bị quốc hội Ukraine phế truất gồm Tổng thống Viktor Yanukovich, cựu Tổng công tố viên Viktor Pshonka và Giám đốc Bộ nội vụ Vitaly Zakharchenko.
Ông Yuri Chaika tuyên bố ông Yanukovich là Tổng thống hợp pháp của Ukraine và không có bất cứ cơ sở nào để xem xét chuyện trục xuất.
“Hiện tất cả các nước đều hợp tác với Ukraine, trừ Nga. Theo thống kê mới nhất, có ít nhất 32 tỉ USD đã bị chuyển đến Nga”, bộ phận báo chí của Cơ quan công tố Ukraine trích lời người đứng đầu.
Theo lời ông Magnitsky, các nước như Áo, Liechtenstein, Thụy Sĩ đã đáp lại lời kêu gọi giúp đỡ của Ukraine tìm lại tài sản bị cất giấu. Cơ quan công tố Ukraine đã chuẩn bị một vài hồ sơ khởi tố hình sự.
Tuy nhiên, đến thời điểm gần chiều ngày 29.4, bài phỏng vấn trên vẫn chưa được báo Financial Times đăng tải.
Hồi giữa tháng 4, Washington thông báo đã gửi đến Ukraine một nhóm các nhà điều tra thuộc FBI, Bộ tư pháp và Bộ tài chính nhằm giúp chính phủ Kiev tìm lại tài sản ở nước ngoài. Một cuộc gặp nhiều bên với sự tham gia của các quan chức Ukraine cũng được tổ chức tại London ngày 29-30.4 nhằm thảo thuận vấn đề này.
Phúc Long (Theo RIA, gp.gov.ua)


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Đài Loan: Một quan chức cấp cao quân đội ngồi tù 20 năm vì làm gián điệp cho Trung Quốc



 -

E-2K, một phiên bản cải tiến của chiếc máy bay cảnh báo sớm Grumman Hawkeye
E-2K, một phiên bản cải tiến của chiếc máy bay cảnh báo sớm Grumman Hawkeye
Một quan chức cấp cao thuộc Lực lượng không quân Đài Loan đã bị kết án tù 20 năm vào ngày 29.4 vì tội tiết lộ bí mật quân sự cho Trung Quốc.
Hau Chih-hsiung, người từng phục vụ tại một căn cứ không quân ở quận Bình Đông, đã bị tòa án tối cao ở thành phố Cao Hùng buộc tội vì đã tiết lộ thông tin mật liên quan đến E-2K, một phiên bản cải tiến của chiếc máy bay cảnh báo sớm Grumman Hawkeye.
Tòa án cũng kết án 15 năm tù đối với Wan Tsung-lin, người trung gian trong các giao dịch với Trung Quốc.
Wan đã điều hành một câu lạc bộ karaoke ở gần căn cứ không quân. Theo hãng thông tấn Trung ương, cặp đôi này đã bỏ túi tổng cộng 1.000.000 Đài tệ (33.300 USD) cho các hoạt động của họ.
Sau khi bị kết án, Hậu đã ngay lập tức bị tước quân tịch.
Đài Loan và Trung Quốc đã do thám lẫn nhau kể từ khi cả hai bị chia cắt vào cuối của một cuộc nội chiến năm 1949. Bắc Kinh vẫn coi hòn đảo tự trị này như một phần của lãnh thổ và đang chờ thống nhất đất nước, thậm chí sử dụng đến vũ lực nếu cần thiết.
Đài Loan bị rung chuyển bởi một loạt các vụ bê bối gián điệp trong những năm gần đây, mặc dù mối quan hệ ấm lên với Trung Quốc dưới thời lãn đạo Mã Anh Cửu.
Trong tháng 9.2013, Phó đô đốc về hưu của Đài Loan đã phải ngồi tù 14 tháng vì tội thu thập thông tin quân sự bí mật cho Trung Quốc, chỉ vài tháng sau khi một cựu Trung tướng bị buộc tội tiết lộ bí mật cho Bắc Kinh.
Năm 2011, một vị tướng quân đội và giám đốc một đơn vị tình báo đã bị kết án tù chung thân vì làm gián điệp cho Trung Quốc, một trong những vụ bê bối gián điệp tồi tệ nhất Đài Loan.
Vũ Kiều 

(Tranh cổ động tại Sài Gòn tháng 4 năm 2014)




Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Ba, 29 tháng 4, 2014

Gì mà ảo diệu với không ảo diệu?

Truyện ngắn của Kinh Bắc

Tôi phục các ông nhà văn quá, họ viết quanh năm suốtháng, bao nhiêu là chữ. Còn tôi chỉ động
suy nghĩ một tí, là lại cứ đau đầ
u và buồn ngủ!
(Câu nói của bố tôi trước lúc được Chúa gọi về.)

10294308_668196333245769_7030390294527617278_n1. Hôm rồi, có anh bạn nhà báo thân thiết đến bảo ông viết cho tôi cái truyện ngắn. Mình than trời từ hồi bị cái bệnh đau cột sống phải nghỉ việc đến nay, gần như không cầm bút nữa. Giờ biết viết gì?!… Hơn nữa viết lách là một phản xạ. Ngày nào cũng viết như người làm báo, thì chữ ra đều lắm, ý tứ tuôn trào. Nhưng một thời gian dài buông bút, thậm chí còn ít nghĩ, ít nghe ít đọc, thì có muốn “quay đầu”, cũng khó “đến bờ” được. Lâu không viết, ngọn bút nó trơ đi, hay cái đầu – chỗ tư duy sáng tạo ấy – nó cùn nhụt  mất rồi.
Mình nhớ cái năm nào, sau tháng Tư bảy lăm, hay ngồi cà phê hè đường chỗ góc Pasteur – Nguyễn Du với mấy anh em văn nghệ đủ loại cũ, mới. Trong đám có thằng Long “cận”, chuyên viết truyện ngắn. Thằng này một vợ hai con, mà chẳng có nghề nghiệp gì, nên nó bảo chỉ còn cách là viết truyện gửi các báo kiếm tiền cho vợ đong gạo. Song bọn mình biết thừa là nó buồn vì chẳng làm gì ra tiền, nên phải viết, và lấy sự viết nháo nhào ấy để chữa cả cái sự buồn. Cứ xong một truyện, gửi báo, có khi chờ hàng tháng mới có kết quả, được vài đồng còm. Đó là chưa kể, trường hợp truyện không được đăng mà toà soạn chẳng thèm có vài chữ trong cái mục “hộp thư bạn đọc”, gọi là để phúc đáp cho tác giả biết rằng “kế hoạch làm kinh tế gia đình” của y đã bị phá sản.
Long cận viết nhanh lắm. Mà lạ! Anh em ngồi đông thế, la nói tùm lum chuyện, ồn ào như chợ vỡ; mà nó vẫn bình thản viết. Cứ nhoay nhoáy chữ. Thỉnh thoảng nó nhấp ngụm cà phê, rít hơi thuốc hay góp một đôi câu với bạn bè. Xong lại thì thụp viết, đều đều chữ, không bị đứt mạch.
Có lần mình hỏi thằng Long, mày viết những gì mà liên tù tì thế. Trong lúc bọn thằng Hà “thối”, thằng Thương “còm” thì cứ luôn mồm kêu là không có gì để viết. Lại nữa, ngồi hè đường giữa tiếng ầm ào xe cộ, huyên thiên đủ chuyện sao mày vẫn ung dung viết, không bị chia trí à? Nó đáp, viết truyện là kể chuyện bằng cây bút thay vì bằng mồm. Mà chuyện thì đâu chả có, cứ nhặt hết, rồi chọn ra. Như mày đang nói đang hỏi tao này nọ, đấy là chuyện. Cứ tường thuật lại thôi. Nhưng cái “bí kíp” của nó là phải tìm kiếm trong đó những chi tiết, tình tiết hay ho, vui vui hoặc gay cấn, lãng mạn – như tình yêu chẳng hạn… để “chêm” vào, tạo kịch tính, có gút có mở vân vân. Thế là thành cái truyện ngắn. Còn như muốn dài, thì… kéo nó ra!
Nghe nó nói như đùa, mình chả hiểu gì. Nhưng cái thằng hay quá! Trong hai ba năm nó viết cả truyện người lớn lẫn trẻ con, được đâu hơn hai chục cái, và đã có chút tiếng tăm. Trong giới văn nghệ anh em bắt đầu kêu nó là nhà văn. Sự cầm bút giải buồn hay đỡ đần một chút cho vợ của Long cận, có vẻ như đang dần mở ra con đường đi vào “văn học sử”, thì bỗng dưng nó biến mất, không ai còn thấy tăm hơi đâu cả. Mãi sau này mới nghe phong thanh rằng Long cận sống cực quá, gia đình thiếu thốn mọi bề nên nó đưa vợ con với bà mẹ già trên bảy mươi tuổi đi kinh tế mới ở Lộc Ninh. Mình cứ nhớ nó mãi. Nhưng nhớ hơn cả là một hôm ngồi nhậu ở cái nhà hàng gì hồi xưa tên Continental trên đường Đồng Khởi với mấy người bạn. Mình hơi say, bíu vai hoạ sĩ Đức hỏi ông này sao thằng Long cận nó viết nhanh quá, chữ nghĩa cứ tuôn ra ào ào, còn thằng Thuần mỗi lần viết một bài báo mất cả ngày. Ông Đức bảo tại vì cái ruột thằng Long nó đầy chữ, còn ruột thằng Thuần toàn cứt. Câu chửi này thâm quá, lại đểu! Dân Quảng Nam không nói bụng, mà kêu là ruột; nghe rất buồn cười.
Cái bài học sáng tác đầu đời ấy là của Long cận, để rồi sau này mình cũng theo đó mon men lẻn vào lĩnh vực truyện ngắn. Nhưng quả thực, không biết có phải còn do năng khiếu, hay thiên bẩm thế nào, chứ viết khó quá. Mà lại còn viết nhanh nữa, thì chịu. Mình viết cứ như đánh vật, khổ sở lắm. Thành thử cứ mỗi khi cầm bút, lại nhớ thằng Long.
Như bây giờ đây, đang ôm đầu ngẫm nghĩ xem sẽ viết cái gì. Thế là hình ảnh thằng bạn cố tri ngày nảo ngày nao lại hiện về. Nhưng không phải cái thằng ốm o thê thảm hồi xưa, suốt ngày lom khom hí hoáy viết truyện kiếm cơm. Nó giờ to béo, trắng trẻo và về tư tưởng thì vô cùng yêu nước – bởi nó là Việt kiều. Mà “thuộc tính” của người Việt định cư ở nước ngoài, theo “quy định”, hết thảy là yêu nước.
Năm tám mấy, nó kể nhưng mình quên mất, sau khi mẹ nó chết chôn ở đồi K. 57 xã Lộc Tấn, huyện Lộc Ninh, nó đưa vợ con vượt biên. Chuyến đi thành công đã giúp làm thay đổi không chỉ cuộc sống vợ chồng nó, mà còn đổi đời cho cả hai đứa con để chúng có một tương lai dễ chịu. Năm hai nghìn lẻ năm, lần đầu vợ chồng Long cận về Việt Nam. Nó tìm mình dẫn đi nhậu và nói cho mày năm trăm đô xài chơi, chứ tao biết mày chẳng làm ăn mẹ gì và số tiền mọn này cũng không đủ cho mày làm vốn. Nó còn thăm mẹ già mình, cho bà hai trăm nhưng lúc này cụ lẫn quá, có còn biết đô điếc là gì. Có lần không biết mê mẩn thế nào mà cụ hỏi thằng con mình rằng thế thằng Tây có còn hay đi càn không. Rồi thì ông Lý Tựu – là ông Lý trưởng của cái làng quê nghèo khó quanh năm của mình ở tận ngoài Bắc – có còn hay đánh bà Ba (bà vợ thứ ba của ông ấy) không. Chao ơi là buồn, thương cho một kiếp người! Mẹ già mình thời son trẻ là cô gái đẹp nhất nhì của phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh đấy chứ. Thế mà trăm tuổi rồi, tàn phai, lẩn thẩn, sống như cái bóng hiu hắt của ngọn đèn chỉ còn chút dầu cạn.
Mình hỏi Long cận về cái đoạn bỏ viết ngày xưa, lên Lộc Ninh làm rẫy. Có phải do nghèo, khổ quá mà đi. Nó trả lời cũng đúng một phần là cái nghèo. Còn chính thì do nó dần cảm nhận được rằng có sự không ổn trong cuộc viết lách, văn nghệ văn gừng. Nó bảo mình, mày nhớ thằng Thành học với tao ở Chu Văn An thời ông Quế “gù” làm hiệu trưởng không. Thành là thiếu uý Hải quân, đang đưa tàu sang Phi Luật Tân sửa chữa thì Giải phóng. Vài tuần sau ngày ba mươi tháng tư, nó cùng nhiều người khác đấu tranh đòi về nước và được thoả mãn. Tụi nó về Việt Nam bằng chuyến tàu “Việt Nam Thương Tín” nổi tiếng lúc đó, với khoảng ba ngàn người “tự nguyện hồi hương”. Vừa vào đến cảng Cam Ranh thằng Thành bị đưa thẳng lên trại cải tạo Xuân Phước, Nha Trang đúc gạch sáu năm bảy tháng liền. Những cục gạch nó làm ra có số phận như những cái truyện ngắn của tao vậy. Vuông chằn chặn, láng lẫy song chẳng có hồn vía chi hết, mà thậm chí, còn rất buồn nữa!
Thằng Long ở chơi hơn tháng, đi đây đi đó thăm thú gần khắp các tỉnh miền Nam, nhưng tuyệt nhiên không ra Bắc, không về thăm Hà Nội là quê gốc của dòng tộc nhà nó. Nó nói ra đấy làm gì, chỉ thêm tủi. (Tại sao?…). Nhưng mình chẳng hỏi. Ai chả có tâm sự riêng.
2. Lấy chai rượu Làng Vân của anh bạn ngoài Hà Nội gửi vào hôm tết ra, rót một chung lấy hứng tìm… đề tài.
Vậy mà cũng phải cạn đến nửa cút, mới sực nhớ ra câu chuyện hồi còn đi học, với nhân vật là thằng Minh “ngủ”. Hay viết chuyện này chăng? Có một tí tuổi thơ, một chút tình nghĩa thầy trò, bè bạn cùng cái cung cách giáo dục, học hành ngày xưa. Những năm sáu mươi, bảy mươi của thế kỉ hai mươi. Chưa phải là cổ xưa, song cũng đã lâu lắm rồi, để thành kỷ niệm khó quên trong đời. Như câu văn đề ở tấm bia trước mộ vua Hàm Nghi, bên Pháp: “Le temps efface tout n’efface pas le souvenir” (thời gian xoá bỏ tất cả nhưng không xoá bỏ được kỷ niệm. Đại khái. )
Năm đệ lục (tức lớp bảy bây giờ), mình mới bắt đầu để ý tới thằng Minh ngủ vì nó là đứa hầu như không bao giờ thuộc bài, không bao giờ làm bài cho về nhà và rất hay ngủ trong lớp. Không phải là ngủ gật, mà nó ngủ đàng hoàng một giấc say sưa cứ như đang nằm ở nhà hay chỗ nào khác, chứ không phải đang giờ học, ngồi trong lớp học. Thế mới lạ!
Thầy Vũ giáo sư Anh văn, đã mấy lần phải nắm chặt hai bàn tay thành quả đấm, rồi phùng mang trợn mắt lên bảo nó Minh ơi là Minh, thế này thì mày không học hành gì được đâu, hỏng cả đời đấy con ạ. Nhưng thây kệ. Nó vẫn cứ không làm bài, không thuộc bài và vẫn…ngủ! Thầy Lê dạy toán thì có lần cho nó hai cái tát rất đau bởi cái kiểu chứng minh hai tam giác bằng nhau, của nó: Ta lấy hai tờ giấy cắt hai tam giác ABC và DEF, xong ta xếp chồng chúng lên nhau, nếu thấy chúng vừa khít nhau tức là hai tam giác ấy bằng nhau vậy. Thật đến mấy ông Fields cũng phải cười đến nẻ ruột ra mà chết!
Ngoài cái tội lười và dốt, Minh ngủ còn là đứa ở bẩn. Người nó luôn toát ra cái mùi khăm khẳm, không ai biết là mùi gì. Khi nó ngủ đầu nằm nghiêng trên bàn, môi miệng toè loe, rớt dãi ứa ra hai bên mép, trông rất sợ. Cô An dạy môn Công dân – giáo dục, là một phụ nữ đẹp, dáng vẻ sang trọng, quí phái; đặc biệt cô rất sạch sẽ. Trước khi vào lớp, cô đứng trước cửa ngửi ngửi, hít hít nếu nghe mùi gì lạ, khó chịu là cô bắt cả lớp làm vệ sinh xong mới học. Thế nên cô rất hãi thằng Minh ngủ. Mỗi lần kêu lên trả bài, cô đều bắt nó đứng dang xa. Cô nói cái cậu này sao mà hôi hám quá. Thế trước khi đi học không tắm rửa gì à. Có lần chắc mùi nó kinh khiếp hơn mọi ngày, nên cô phải vừa đuổi nó ra xa, vừa bịt mũi nghe nó sụt sịt trả bài.
Ấy vậy mà cũng chính do cô, mà cả lớp mình mới biết được hoàn cảnh của cái thằng bạn vô cùng đáng thương ấy. Số là một hôm cuối buổi học, cô An nói trưởng lớp rằng ban đại diện phải tổ chức đi thăm nhà cậu Minh này xem thế nào, chứ sao lại có một học trò lười biếng và ở bẩn như vậy. Đến tìm hiểu rồi về nói với tôi, tôi sẽ có cách giải quyết.
Bọn mình theo lời cô tìm tới nhà Minh ngủ. Mẹ nó, một người đàn bà ốm o, trông cũng luộm thuộm và bẩn thỉu như thằng con hay ngủ của mình, mếu máo than thở nào là em nó mồ côi cha, tôi một mình đầu tắt mặt tối lam lũ nuôi các con… Ấy, thằng Minh mới mười ba tuổi đầu nhưng sau nó còn ba đứa nữa, vân vân…
Nghèo quá, mẹ con thằng Minh thuê cái nhà bé tẹo nền xi măng, vách gỗ tạp, mái lợp lá dừa nước trầm đơn ở cuối một con hẻm lầy lội bùn đất. Hình như cái khu vực tăm tối, vô cùng nhớp nhúa mất vệ sinh này là một phần của xóm gà, vùng Gia Định.
Chuyến đi này bọn mình có đứa nào hỏi han gì đâu, mẹ thằng Minh cứ ồn ào bỗ bã kể tuốt tuồn tuột mọi điều. Và rồi, cái nguyên nhân của sự hay ngủ trong lớp cùng mùi hôi hám ớ lợ của Minh ngủ được sáng tỏ từ lời “khai” của mẹ nó. Hằng ngày cứ trong khoảng từ hai ba đến bốn năm giờ sáng là thằng Minh đi giã giò thuê (giã thịt heo làm giò lụa, hay còn gọi chả lụa). Tuy phải thức khuya dậy sớm như vậy, lại lao động vất vả, nhưng Minh ngủ lại không ngủ bù được bởi tình trạng chật chội, nóng bức trong cái căn “chòi đạp” của mình, cùng với nếp sinh hoạt “dậy giặc” của hàng trăm cư dân lao động nghèo, thất học xung quanh khiến nó luôn chìm trong trạng thái dật dờ, nửa tỉnh nửa mê cho đến khi vác cặp đi học. Minh ngủ cứ ngủ hoài trong lớp là vì thế!
Cái trường mình là trường xưa, hình như xây từ thời Pháp. Phòng học nào ở tầng một cũng có hai cửa sổ lớn và hai cửa ra vào to rộng, luôn lộng gió. Sân trường đầy cây phượng vĩ và điệp. Các dãy nhà học đều lợp ngói đỏ, tường quét vôi vàng, đẹp cổ kính. Chính vì vậy, trường lớp đã là nơi chốn cực kì tĩnh lặng, lý tưởng để thằng Minh ngủ mỗi ngày, khi vào học.
Tất cả những gì tai nghe mắt thấy về gia đình thằng Minh, được Ban đại diện lớp tường trình đầy đủ với cô An. Song lúc này lại rơi vào thời điểm cuối niên học, nên mọi việc lỡ dở cả. Còn bước sang năm học mới thì không thấy thằng Minh đâu nữa. Thầy Hậu giám thị bảo mẹ cậu Minh xin cho cậu ấy nghỉ để đi làm nuôi các em. Nghe thế mọi người hơi buồn một chút, rồi lại quên ngay. Dẫu sao những năm tháng ấy bọn mình vẫn còn là những đứa trẻ ham chơi hơn ham học, phá làng phá xóm chứ đã biết thế nào là cái tình cảm sâu sắc, vui buồn của anh em bè bạn chung trường, chung lớp.
Thằng Minh nghỉ học, nhưng câu chuyện về nó thì chẳng những chưa chấm dứt, mà còn nảy ra một cái “hậu kỳ” rất lạ lùng, ngạc nhiên và đáng kể…
…Khoảng vài ba năm trước, chắc hai nghìn lẻ tám thì phải, mấy tay bạn cũ trường xưa tìm mình bàn việc thành lập nhóm cựu học sinh lớp đệ thất hai, niên khoá sáu hai sáu ba. Bọn nó ngại không dám làm cái hội ái hữu cựu học sinh trường, vì cái trường mình học mang tên một ông cố đạo lừng danh, sợ có khi gây dị ứng chăng? Trong câu chuyện nhắc kỷ niệm về trường, về thầy cô giáo như thầy Sáu “lùn”, thầy Tiến “sói”, thầy Giám có người anh em song sinh giống thầy in hệt; rồi cô Dung cô Oanh, và cô Thanh Dân quanh năm lúc nào cũng thấy mang bụng bầu… Về phía học trò, hai nhân vật được nêu danh đầu tiên là thằng Minh ngủ và thằng Tốt xóm Chùa. Cái thằng Tốt này cũng học hết năm đệ lục thì bỏ, đi làm thợ sửa xe lề đường. Có lần mình bị xì lốp xe đạp ở dưới dốc cầu Trương Minh Giảng, định dắt tìm chỗ vá thì gặp đúng ngay nó. Hồi này nó đen đủi gầy còm, và trông già quá. Vá xong thằng Tốt không lấy tiền. Lúc mình sắp đi nó nói thiệt ngộ, mày sao tới đúng lúc quá, ít bữa tao nghỉ rồi. Đi đăng lính biệt động quân. Đù mẹ, làm cực thấy mồ tổ, mà tiền không bao nhiêu. Đi lính cho nó khoẻ, được bay nhảy (?!… ). Từ đó tới nay, bặt tin thằng Tốt xóm Chùa. Mình lâu lâu lại nhớ nó, thắc mắc không biết nó còn sống hay chết rồi. Mà nếu còn sống thì giờ này ở đâu, làm gì? Có khá không, hay… vẫn sửa xe!
Còn thằng Minh ngủ; lúc nhắc tới nó thằng Thịnh “béo” vỗ bàn nói mẹ kiếp, cái thằng học hành đếch ra gì ấy mà giờ ngon lắm. Anh em hỏi sao, Thịnh kể chỗ xóm nhà lá thằng Minh ở có một tay Việt cộng nằm vùng, hành nghề chạy xích lô máy. Sau bảy lăm y xuất tướng, ra nắm chánh quyền. Vì ở kế nhà, biết thằng Minh dân lao động nghèo, làm mướn, trốn lính… là thành phần “cơ bản”, nên lão ấy “xây dựng” nó thành cốt cán ở phường, làm bí thư đoàn thanh niên. Công tác phường gần mười năm, chắc nó chán, nên trong một đợt đưa dân đi kinh tế mới nó xin ở lại lâu dài, bám trụ với bà con. Rồi cái địa phương nơi thằng Minh đưa dân tới, vốn rất thiếu cán bộ nên họ đề nghị nó nhập cư luôn để vừa được thêm “cán bộ có trình độ” (?!), vừa giao nó trông coi cái làng kinh tế mới đó.
Là đảng viên, lại xung kích vào nơi “vô vàn khó khăn”, sống “hoà đồng với quần chúng nhân dân” nên Minh ngủ được lãnh đạo đánh giá cao, đưa vào diện “cán bộ quy hoạch”, nghĩa là thuộc loại “cán bộ nguồn, kế thừa vân vân. ” (nhưng đồng thời một yếu tố rất quyết định cho cái sự thăng quan tiến chức nhanh chóng của Minh ngủ là thầy ruột của nó, ông cán bộ chạy xích lô máy ngày xưa, giờ làm bí thư quận; mà cái quận này lại kết nghĩa với cái huyện chỗ thằng Minh đang đứng chân, do vậy nó vẫn được đàn anh “quan tâm” nâng đỡ, đẩy lên vù vù).
Thịnh béo kể tiếp, tao là dân phá sơn lâm. Năm đó “phá” tới cái huyện của thằng Minh ngủ, nơi nó đương kiêm chức Phó Chủ tịch phụ trách tài mậu. Hai thằng gặp nhau thiệt hết sức bất ngờ, mừng quá. Sau thời gian dài “làm việc” đôi bên và tâm sự, lần hồi Minh ngủ thổ lộ tâm can. Nó nói mày biết rồi đấy, tao con nhà nghèo, nghèo tận mạng và cũng bởi nghèo nên học dốt, bị bọn bây chế nhạo hoài. Còn cái nghề giã giò của tao nữa, ai cũng khi dễ. Nhưng tao đâu có bất mãn hay uất ức, phẫn nộ gì. Cuộc sống thì phải có người này người kia, nhiều hoàn cảnh mới thành xã hội chớ. Bởi vậy tao yên phận, nghỉ học làm lụng phụ má tao nuôi mấy đứa em. Ai dè tới cuộc Giải phóng, rồi thằng cha Sáu Minh (chả cũng tên Minh như tao) tới nhà kêu tao ra “công tác”, chả nói là “thoát ly”. Làm năm bảy tháng được vô đoàn. Sáu Minh nói biết rành tao từ hồi nhỏ, thương tao cực khổ, gia đình thuộc thành phần “giai cấp vô sản” vân vân, rồi chả biểu tao khai lý lịch tham gia cách mạng trước bảy lăm, là cơ sở của chả, cho dễ “cơ cấu” sau này. Chắc do cái vụ “khai man” đó, nên mới công tác đâu chừng hai năm mà tao nắm bí thư phường đoàn, vô đảng, kế có chân trong chi uỷ nữa… Từ thằng làm mướn giã giò, dốt học không nổi phải nghỉ ngang, giờ người ta gọi tao là anh Bảy (tao thứ hai trong nhà, nhưng kết nghĩa huynh đệ với Sáu Minh nên tao lấy thứ bảy), kêu đồng chí Bảy, đồng chí bí thư (đoàn) này nọ. Có khi họp hành tao còn chỉ đạo lũ đoàn viên – thanh niên, la mắng phê bình tới lui, cũng ngon lành! Còn dân trong phường, bất kể ai, hễ không là cán bộ đảng hay cán bộ nhà nước là tao đều phải có trách nhiệm “giáo dục”, giác ngộ cách mạng cho họ… Đó, mày thấy có phải tao được đổi đời không? Đổi tới cả tỉ lần chớ không chỉ “chăm phần chăm” đâu. Vậy rồi lần lần tao mới khôn ra, có ý thức kiểu như học hành khó khăn quá không kham nổi, lao động thì cực nhọc mà tới chừng nào mới ngoi đầu lên được (mày coi mấy thằng công nhân hãng xưởng giờ, thì biết tụi nó khổ cỡ nào). Chỉ có con đường làm chánh trị là mau “có ăn” nhứt! Mà hễ làm chính trị thời phải “khéo léo”. Tổ chức là không thể giỡn mặt được. Lãnh đạo còn hơn cha mẹ. Phải phục tùng tuyệt đối, không khi nào trái lệnh. Đại khái gọi dạ – bảo vâng…
Thịnh béo lắc lắc cái đầu, nói cái thằng lành như đất, dốt như bò, không học hành chi cả mà làm tới Phó Chủ tịch một huyện (còn bây giờ, nó là Tổng giám đốc một công ty kinh doanh cấp tỉnh, nhưng hoạt động đủ thứ ngành nghề khắp cả nước); vợ nó không đẹp, nhưng có hai đứa con du học Úc. Còn cái nhà nó, tụi bây chưa thấy đâu. Một cái “huyla” trên khuôn viên hơn một công đất, có hồ bơi… Tao hỏi nó, anh em mày nói thiệt tao nghe, mày mới học lớp bảy – mà vô lớp cũng chỉ ngủ, chứ biết gì – thì làm sao làm việc, quan hệ giao tiếp, chỉ đạo này kia. Nó cười hệch, nói đã có nghị quyết. Cái chi cũng từ nghị quyết mà ra. Có điều phải học cho thuộc, đặng nói lại…
Trong lúc thằng Thịnh béo phun mấy câu kết rằng tao cũng sợ nó luôn, và đúng là đời người có số cả, thì mình nghe như có tiếng nấc nghẹn của ai đó. Ngó lại, té ra thằng Sơn. Thằng này học giỏi, có mấy cái bằng đại học song vẫn cứ nghèo thê thảm, bị vợ con móc máy, chê lên chê xuống. Chắc nó buồn vì thân phận của nó so với thằng Minh ngủ, mà hồi còn đi học, ngồi chung lớp chắc chắn nó không coi thằng này ra gì (trong chuyện học hành). Thằng Sơn rầu rĩ nói Thịnh à, hình như Minh ngủ vẫn là đứa dễ thương. Nghe mày kể tao thấy nó có vẻ là thằng sống trung thực. Thịnh béo cười khì; ừ, nhưng chắc chỉ với lũ đồng môn tình xưa nghĩa cũ như bọn mình thôi, chớ với thiên hạ, thằng này “khéo” lắm. Tao đồ rằng, có khi chỉ ít năm nữa, nó sẽ vô trung ương cho mà coi!
3. Nếu nói mỗi con người đều có số mệnh, thì tử vi thằng Minh ngủ ắt có hai sao Tuần, Triệt chặn đầu (?), làm ra một cái đại hạn trong thời niên thiếu của nó. Tuần, Triệt đương đầu, thiếu niên tân khổ. Tới năm một chín bảy lăm giải phóng miền Nam, thì có lẽ đồng thời cũng chấm dứt đại hạn mười năm, tức vào quãng ngoài hai mươi tuổi. Do vậy nó phất chăng?
Trong sĩ số lớp thất hai (rồi lục hai, v. v. ) năm xưa đó, giờ trừ bọn lưu lạc xa xứ hoặc chết chóc mất tích ra thì tổng còn lại hơn ba mươi đứa. Bọn mình họp bầu ra một ban đại diện để điều phối sinh hoạt như thu nguyệt liễm, niên liễm, hỗ trợ quan hôn tang tế, tổ chức tiệc tùng gặp gỡ hàng năm… Nhưng trên cả cái ban đại diện ấy, về danh nghĩa, là thằng Minh ngủ với chức “Chủ tịch danh dự”. Tuy phong chơi vậy chứ đâu phải hội hè chính thức hay tổ chức xã hội gì, nhưng vẫn cho thấy một thực tế là thằng Minh “có giá” và nó đứng trên hết cả bọn. Mà cũng đúng thôi, bởi mấy thằng vẫn mang tiếng là khấm khá hơn cả trong anh em như thằng bác sĩ Bách, thằng kỹ sư Chương, thằng Mạnh giáo sư nếu đem so với Minh ngủ, thì chỉ đáng xách dép cho nó. Họp mặt lần nào ngoài các khoản đóng góp theo quy định như người khác, nó còn tự nguyện lãnh thầu món “thức uống”. Mà đây mới là phần nặng đô nhất, toàn rượu Tây bia Đức cả. Đứa nào xây sửa nhà hay cưới gả cho con cái nó đều mừng cái phong bì dày cộp. Như lần thằng Dũng (đóng) “giày” đi nhậu té xe gẫy mất nửa hàm răng, mồm sưng vếu không nhai không nói được, ai hỏi chỉ ú ớ. Thế mà Minh ngủ đến rút bóp cho năm triệu gọi là để “thuốc thang”, thằng Dũng bật ngay dậy, nói cảm ơn. Thật còn hơn thuốc thánh chữa bệnh tử. Cổ nhân nói không sai. Có tiền là có lễ nghĩa, đạo lý và được thiên hạ kính trọng. Nghèo quá làm sao thi hành được chữ lễ, chẳng hoá ra tiểu nhân! Phải chăng “Lễ không xuống đến thứ dân”, là muốn nói người dân thường, do nghèo mà không giữ được lễ?
Minh được anh em quý trọng lắm. Quý thực lòng. Chả biết nó hợm hĩnh, bố láo ở đâu chứ với anh em, như thằng Thịnh béo vẫn khẳng định, là thằng ấy nó ngoan, biết xử với bạn bè.
Chỉ chết cười là thầy Vũ. Hồi năm bốn lăm bốn sáu gì đấy thầy hăng hái tham gia kháng chiến, được tổ chức giao nhiệm vụ ném lựu đạn khách sạn Majestic ở Sài Gòn (chẳng biết để ám sát ai, hay chỉ nhằm gây tiếng vang?). Thầy thực hiện đúng phương án tác chiến, nhưng không biết quả lựu đạn nội hoá của công binh xưởng sản xuất thế nào mà thầy vừa vung tay, thì nó phát nổ, khiến thầy bị hỏng mất một mắt. Từ đó thầy thôi làm cách mạng, đi Tây học rồi trở về làm giáo sư dạy tiếng Anh kiêm dịch giả sách báo. Năm kỉa năm kia, lúc thầy chưa mất mình gặp thầy, nhân nhắc chuyện lớp lang trò choẹt cũ, đến Nguyễn Minh, đứa học trò hay ngủ, thầy nhăn nhó xua tay nói tôi nhớ, tôi nhớ lắm. Ai chứ cái cậu ấy thì tôi không quên được. Khổ quá, học hành thế làm sao nên người. Thì đấy; mới hết năm đệ lục đã nghỉ rồi…
Trời ạ! Giá mà thầy Vũ còn sống đến hôm nay, để mình đưa thằng Minh ngủ đến thăm thầy. Nó sẽ chất thầy lên ô tô con của nó đi dạo, đi ăn và mua biếu thầy ít quà… thì chắc chắn là thầy sẽ ngỡ ngàng, sẽ phải nghĩ lại sự nhận định của mình về chuyện nên người hay không của cái thằng học trò tệ nhất ngày xưa ấy. Vâng; thầy, và cả bọn chúng em nữa, đều không tưởng đến một điều là cách mạng đã “đổi đời” cho nó!
4. Mấy bữa nay chẳng làm được việc gì, cứ đi ra đi vào. Có nằm, thì cũng gác tay lên trán thở dài thườn thượt. Làm mấy cái đề cương, cái nào thoáng đọc cũng hay ho nhưng coi đi coi lại thấy nhạt thếch và vô duyên. Đã thế, hôm thằng Thịnh béo tới nhà bàn vụ đi Cà Mau thăm Bãi Bồi, Đất Mũi cho biết cái “cù ngoéo” cực Nam của Tổ quốc giờ đã ngon lành thực như báo bổ viết chưa, hay vẫn còn lần khân từng bước… Sắp xếp chương trình đi xong, nó nói tao nghe mày định viết truyện mà có nêu vụ học hành thời cố hỉ của thằng Minh, tao e không nên. Mình hỏi tại sao, nó kêu viết làm chi, đọc được nó buồn. Còn nữa, giờ nó đảng viên, làm lớn mà khêu lại vụ nó học dốt học dở này nọ coi chừng người ta nói mày kiếm cớ bươi xấu cán bộ, là sanh chuyện.
Nhiều ý kiến lắm!
Truyện thì chưa có chữ nào, mà hết người này tới người kia nói. Chẳng qua cũng là do mình tìm hỏi tụi nó mấy chi tiết liên quan trường lớp hồi nhỏ, nên bị đồn um. Thằng Thông (nuôi) “vịt” gặp mình giữa đường, chỉ mặt nói lóng rày trông mày giống con thạch sùng quá. Ốm nhom. Tái mét. Bộ “thao thức” dữ lắm hả? Rồi mấy đứa khác nữa. Nào là, ngó (mình) in hệt thằng cha “thai đề” tụi chệt nuôi để hô số; và, ráng viết như… Vũ Trọng Phụng (?!) nghen “em”. Thời buổi này nhiều bọn “Xuân tóc đỏ”, lưu manh cặn bã lắm; chửi cho chết mẹ chúng đi!…
Mình định viết cái truyện về thằng bạn học thời thơ ấu, chứ có “ý đồ” chính trị, xã hội gì đâu mà phê phán, chửi bới ai. Tuy rằng lâu lâu chợt nghĩ tới, hoặc có người nhắc, cũng muốn chửi thề lắm. Thiệt vậy! Chừ đám con hoang ngạo ngược lên đời, quậy tá lả bùng binh thì cái xã hội này rút cục sẽ đi về đâu (?!). Chấm cái dấu hỏi “đâm hơi” vậy thôi, chớ làm sao giải quyết? Đạo đức xuống cấp. Cuộc sống bấp bênh, mệt mỏi. Cầm cây bút còn cảm thấy nặng nề, hơi sức đâu mà bao biện!
…Nghe đủ thứ lời này tiếng nọ riết đâm tức, nói ngang: Đứa mô chót chét chi, kệ nó. Mình viết; cứ viết!
Nhưng đâu được. Vợ mình nghe nói đang tìm đề tài viết truyện, bả nổi điên lên cự nự kêu viết mà ra cơm ra cháo bỏ vô mồm được, hẵng viết. Không thì thôi. Xăng lên giá, cuốn bao nhiêu thứ tăng theo ào ào mà chỉ mình tôi lo toan chạy vạy. Sắp chết đói cả lũ rồi đấy! Cái sự “cảnh báo” đó mới chỉ là “hồi chuông nhắc nhở”, và dĩ nhiên là chưa có ai chết; song nghe sao mất hứng quá. Hết muốn làm việc!
Lại nhớ chuyện ông chú Ba mình, chết mấy chục năm rồi, hy sinh thời chống Pháp. Hồi còn “21 năm xã hội chủ nghĩa miền Bắc”, gia đình lo “chạy công điểm” hợp tác xã đâu có thời gian ra khỏi cổng làng, nói chi chuyện đi tìm mộ. Tới cái năm chín mươi chín mấy, rộ lên vụ “ngoại cảm”, cả họ nhà mình đổ xô chạy chọt thầy thím nhờ vả. Nhiều trận tìm kiếm xa xôi tận miền đồng rừng Đồi Thông – Lang Tạ, Thái Nguyên rồi Tuyên Quang, Bắc Cạn… hao tốn biết bao nhiêu mà kể, nhưng không kết quả gì. Kỳ đó, đâu năm hai nghìn lẻ sáu, cụ trưởng họ nhắn mình về quê gấp vì lần này đón được một nhà ngoại cảm lừng danh, từng tìm đúng hàng vạn mộ, trong đó có hàng trăm mộ thân nhân “các đồng chí lãnh đạo”, nên chắc chắn cuộc truy tìm sẽ… thành công tốt đẹp!
Mà không “tốt đẹp” sao được, khi nhà nữ ngoại cảm hùng hổ dẫn mấy ông già làng họ tộc mình tới một cụm cao ốc gồm hai, ba khối vuông mười mấy tầng ở thị xã X, rồi chỉ vô trong biểu hài cốt ông Ba nhà ta nằm ngay dưới cái nền đất đó… Vậy phải làm sao? Ai nấy ngơ ngác! Chập sau cụ trưởng họ nghiêm chỉnh phát biểu “Ta phải quyết tâm”; ý cụ ấy là đi vận động đào nhà người ta lên! Mình nói đây là chú ruột tôi, có thương nhớ thì tôi để trong lòng, chứ không thể làm như thế được. Dù sao cũng nửa thế kỉ rồi, có khi đào lên chẳng có gì, ngoài đất, lại thêm rách việc.
Ấy vậy mà tới giờ, các vị trong “thường vụ gia tộc họ Nguyễn” của mình vẫn không bỏ ý định tìm hài cốt chú Ba. Bởi vì, cả họ có mỗi mình ông ấy hoạt động cộng sản và là liệt sĩ cách mạng. Còn ông anh cả của ông Ba tuy có công với nước nhưng chẳng được ai quan tâm, bởi lẽ ông là đảng viên Việt Nam Quốc dân đảng, bạn thân ông Nguyễn Thái Học. Năm ba mươi ông Học bị chém, thì ông Cả Đoàn thọ án chung thân, đày Côn Đảo.
Một đàng muốn tìm cho ra bộ xương khô để đem về quê lập mộ cho to, làm sự vẻ vang. Còn mình, không viết được cái truyện ngắn, cũng chả sao. Mai mốt xin lỗi, và khất ông bạn nhà báo thân thiết vào một dịp thuận tiện khác. Còn bây giờ, anh em bè bạn đứa cản, đứa chọc, đứa phê bình góp ý… Mệt quá! Song chủ yếu là vợ. Kinh tế gia đình đang lúc khó khăn rệu rã thì cũng chả yên tâm mà ngồi viết.
Không lẽ để mình bả lo?!…
 Thân thiết gửi bạn chung lớp thất 2 Phan Tấn Hải

Phần nhận xét hiển thị trên trang