Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Chủ Nhật, 27 tháng 4, 2014

Thủ tướng Hàn Quốc xin từ chức vì vụ chìm phà

Thủ tướng Hàn Quốc Chung Hong-won vừa xin từ chức và nhận trách nhiệm về cách xử lý yếu kém của chính phủ đối với vụ chìm phà Sewol làm gần 300 người chết hoặc mất tích. 


chung-hong-won-3988-1398573035.jpg
Ông Chung hôm nay cúi đầu xin lỗi trong bài phát biểu xin từ chức. Ảnh: AP

"Điều đúng đắn tôi cần làm là nhận trách nhiệm và từ chức. Tôi đã muốn làm điều này từ trước nhưng việc xử lý tình huống là ưu tiên hàng đầu, và tôi nghĩ hành động có trách nhiệm là giúp đỡ trước khi ra đi", Yonhap dẫn lời ông Chung sáng nay nói trong một cuộc họp báo, 11 ngày sau vụ chìm phà Sewol. Đây được coi là một trong những thảm họa hàng hải tồi tệ nhất Hàn Quốc. 

"Việc tôi giữ chức vụ là một gánh nặng quá lớn đối với chính phủ", Thủ tướng Chung nói. Ông cũng nhận trách nhiệm về phản ứng chậm đối với vụ tai nạn giai đoạn đầu và xin lỗi các gia đình nạn nhân vì nhiều vấn đề, "từ việc ngăn chặn tai nạn tới việc xử lý sớm thảm họa".

"Có quá nhiều sai phạm và những hành động sai trái trong các bộ phận của xã hội, tồn tại cùng chúng ta quá lâu, và tôi hy vọng chúng sẽ được sửa chữa để những tai nạn như thế này sẽ không tái diễn", ông Chung cho hay.

than-nhan-sewol-4718-1398573036.jpg
Tại cảng trên đảo Jindo, thân nhân hành khách mất tích trên phà Sewol theo dõi bài phát biểu trên truyền hình của ông Chung. Ảnh: AP
 
Thủ tướng Chung từng bị la ó phản đối và ném chai nước khi đến thăm những bậc phụ huynh có con em mất tích một ngày sau tai nạn. Nhiều người giận dữ về tiến độ cứu hộ chậm và sự thay đổi thông tin thường xuyên của chính phủ, trong đó có lần chính quyền địa phương tuyên bố mọi người đều được giải thoát. 

Phà Sewol chìm trong chuyến đi xuống phía nam, từ cảng Incheon tới đảo nghỉ dưỡng Jeju. Hơn 300 người, hầu hết là học sinh và giáo viên một trường trung học đang đi dã ngoại, đã thiệt mạng hoặc mất tích. Số người chết đến nay lên tới 187. 

Trọng Giáp
 

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Lý Quang Diệu viết về Hoa Kỳ

Biên dịch: Nguyễn Việt Vân Anh | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp

HOA KỲ: Nhiều trở ngại nhưng vẫn giữ vị trí số 1
Cân bằng quyền lực đang chuyển đổi. Về phía châu Á của Thái Bình Dương, theo thời gian Hoa Kỳ sẽ gặp nhiều khó khăn hơn trong việc gây ảnh hưởng. Mọi chuyện sẽ không còn như trước. Địa lí là điểm mấu chốt trong trường hợp này. Trung Quốc có lợi thế hơn vì nằm trong khu vực và có khả năng phô trương sức mạnh dễ dàng hơn ở châu Á. Đối với Hoa Kỳ, gây ảnh hưởng từ cách xa 8.000 dặm là một điều hoàn toàn khác. Sự bất bình đẳng về ý chí, hậu cần và chi phí là rất đáng kể. Chỉ riêng dân số của Trung Quốc, 1,3 tỉ người, so với 314 triệu người Mỹ, cũng góp phần vào khó khăn của Hoa Kỳ. Nhưng sự chuyển giao quyền lực sẽ không xảy ra một sớm một chiều do ưu thế vượt bậc của Hoa Kỳ về công nghệ. Người Trung Quốc dù có thể chế tạo tàu sân bay nhưng vẫn không thể đuổi kịp người Mỹ một cách nhanh chóng về công nghệ tàu sân bay với sức chứa 5.000 quân và đầu máy hạt nhân. Nhưng cuối cùng, những bất lợi của Hoa Kỳ do khoảng cách địa lý dần sẽ mang tính quyết định. Hoa Kỳ sẽ phải điều chỉnh thế đứng của mình và chính sách của họ trong khu vực này.
Chính quyền Obama tuyên bố vào năm 2011 rằng Hoa Kỳ dự định tiếp cận khu vực châu Á-Thái Bình Dương với một trọng tâm mới. Họ gọi đây là Sự Xoay Trục về Châu Á. Trên tờ Foreign Policy, ngoại trưởng Hillary Clinton giải thích tư duy đằng sau chính sách mới này như sau: “Các thị trường mở ở châu Á là những cơ hội chưa từng thấy đối với Hoa Kỳ về đầu tư, thương mại và tiếp cận với các công nghệ tiên tiến… Về mặt chiến lược, việc gìn giữ hoà bình và an ninh ở khắp khu vực Châu Á – Thái Bình Dương ngày càng trở nên thiết yếu đối với sự tiến bộ trên toàn cầu, dù là thông qua bảo vệ tự do hàng hải trên Biển Đông, chống lại việc phổ biến vũ khí hạt nhân ở Bắc Triều Tiên hay đảm bảo sự minh bạch trong các hoạt động quân sự của các nước lớn trong khu vực.” Vào tháng 4 năm 2012, 200 lính thuỷ đánh bộ Mỹ đầu tiên đã được triển khai tới Darwin, Úc trong một phần nỗ lực nhằm tăng cường hiện diện của Hoa Kỳ trong khu vực.
Nhiều quốc gia Châu Á chào đón cam kết mới này từ người Mỹ. Trong nhiều năm, sự hiện diện của Hoa Kỳ là một nhân tố quan trọng giúp ổn định khu vực. Kéo dài sự hiện diện này sẽ giúp duy trì ổn định và an ninh. Kích thước của Trung Quốc có nghĩa là cuối cùng chỉ có Hoa Kỳ – kết hợp với Nhật Bản và Hàn Quốc, đồng thời hợp tác với các quốc gia ASEAN – mới có thể đối trọng lại được nước này.
Tuy nhiên, chúng ta còn phải xem liệu người Mỹ có thể biến ý định thành cam kết trong lâu dài được hay không. Ý định là một mặt, tài trí và khả năng là một mặt khác. Hiện nay Hoa Kỳ có quân ở Úc, Nhật Bản, Hàn Quốc và Guam. (Người Philippines đã không khôn ngoan khi mời người Mỹ rời khỏi vịnh Subic vào năm 1992. Họ quên mất hậu quả về lâu dài của hành động này và bây giờ họ bảo rằng “Hãy làm ơn quay lại.”) Người Mỹ tin rằng họ có sẵn một dàn xếp quân sự trong khu vực cho phép họ cân bằng lại được với hải quân Trung Quốc. Hơn nữa, vì các vùng nước trong khu vực tương đối nông, người Mỹ có thể theo dõi hoạt động của các tàu thuyền Trung Quốc, kể cả tàu ngầm. Nhưng liệu lợi thế này có thể kéo dài được bao lâu? Một trăm năm? Không thể nào. Năm mươi năm? Không chắc. Hai mươi năm? Có thể. Rốt cuộc, cân bằng quyền lực có thể thực hiện được hay không còn phải chờ vào nền kinh tế Hoa Kỳ trong một vài thập niên tới. Cần có một nền kinh tế vững mạnh thì mới có thể phô trương quyền lực – đầu tư xây dựng tàu chiến, tàu sân bay và các căn cứ quân sự.
Khi cuộc chiến tranh giành quyền bá chủ trên Thái Bình Dương giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc diễn ra, những quốc gia nhỏ hơn ở châu Á bắt buộc phải thích ứng với cục diện mới. Thucydides đã từng viết rằng “kẻ mạnh làm những gì mà họ có thể và kẻ yếu phải chịu đựng những gì họ phải chịu đựng”. Các quốc gia nhỏ hơn ở châu Á có thể không phải có một kết cục bi thảm như thế, nhưng bất cứ góc nhìn hiện thực chủ nghĩa nào về sự suy giảm ảnh hưởng của Hoa Kỳ tại Châu Á Thái Bình Dương đều sẽ khiến các quốc gia phải điều chỉnh chiến lược đối ngoại của mình. Người ta sẽ phải quan tâm hơn đến những gì người Trung Quốc thích hoặc không thích khi Trung Quốc ngày càng lớn mạnh về kinh tế lẫn quân sự. Nhưng điều quan trọng không kém là không để cho Trung Quốc hoàn toàn thống trị. Cuối cùng, tôi không cho rằng viễn cảnh người Trung Quốc hất cẳng hoàn toàn người Mỹ ra khỏi Tây Thái Bình Dương có thể diễn ra.
Ví dụ như Việt Nam, là một trong những quốc gia không an tâm nhất về sự bành trướng sức mạnh của Trung Quốc. Đặng Tiểu Bình ra lệnh tấn công miền Bắc Việt Nam vào năm 1979 để trả đũa việc Việt Nam can thiệp vào Campuchia. Đặng phá hủy một vài làng mạc và thị trấn rồi sau đó rút lui, chỉ nhằm đưa ra một lời cảnh cáo với người Việt: “Tôi có thể tiến thẳng vào và tiếp quản Hà Nội.” Đây không phải là bài học mà người Việt có thể quên được. Một chiến lược có lẽ đã được chính phủ Việt Nam bàn đến là làm thế nào để có thể bắt đầu thiết lập các mối quan hệ an ninh lâu dài với người Mỹ.
Tôi cũng cảm thấy rất tiếc rằng sự thay đổi cân bằng quyền lực đang diễn ra vì tôi cho rằng Hoa Kỳ là một cường quốc hoà bình. Họ chưa bao giờ tỏ ra hung hãn và họ không có ý đồ chiếm lãnh thổ mới. Họ đưa quân đến Việt Nam không phải vì họ muốn chiếm Việt Nam. Họ đưa quân đến bán đảo Triều Tiên không phải vì họ muốn chiếm bắc hay nam Triều Tiên. Mục tiêu của các cuộc chiến tranh đó là chống lại chủ nghĩa cộng sản. Họ đã muốn ngăn chủ nghĩa cộng sản lan tràn trên thế giới. Nếu như người Mỹ không can thiệp và tham chiến ở Việt Nam lâu dài như họ đã làm, ý chí chống cộng ở các nước Đông Nam Á khác chắc đã giảm sút, và Đông Nam Á có thể đã sụp đổ như một ván cờ domino dưới làn sóng đỏ. Nixon đã giúp cho miền Nam Việt Nam có thời gian để xây dựng lực lượng và tự chiến đấu. Nam Việt Nam đã không thành công, nhưng khoảng thời gian gia tăng đó giúp Đông Nam Á phối hợp hành động với nhau và tạo dựng nền tảng cho sự phát triển của ASEAN.
Singapore khá thoải mái với sự hiện diện của người Mỹ. Chúng ta không biết Trung Quốc sẽ quyết đoán hay hung hăng như thế nào. Vào năm 2009 khi tôi nói chúng ta phải cân bằng lực lượng với Trung Quốc, họ dịch từ đó sang tiếng Trung thành “kìm hãm”. Điều này làm nổi lên một làn sóng phẫn nộ trong cư dân mạng Trung Quốc. Họ cho rằng làm sao tôi lại dám nói như thế trong khi tôi là người Hoa. Họ quá là nhạy cảm. Thậm chí sau khi tôi giải thích rằng tôi không hề sử dụng từ “kìm hãm”, họ vẫn không hài lòng. Đấy là bề mặt của một thứ quyền lực thô và còn non trẻ.
Trong cục diện đang thay đổi này, chiến lược chung của Singapore là đảm bảo rằng mặc dù chúng ta lợi dụng bộ máy tăng trưởng thần kì của Trung Quốc, chúng ta sẽ không cắt đứt với phần còn lại của thế giới, đặc biệt là Hoa Kỳ. Singapore vẫn quan trọng với người Mỹ. Singapore nằm ở vị trí chiến lược ở trung tâm của một khu vực quần đảo, nơi mà người Mỹ không thể bỏ qua nếu muốn duy trì ảnh hưởng ở Châu Á – Thái Bình Dương. Và mặc dù chúng ta xúc tiến các mối quan hệ với người Trung Quốc, họ cũng không thể cản chúng ta có các mối quan hệ kinh tế, xã hội, văn hoá và an ninh bền chặt với Hoa Kỳ. Người Trung Quốc biết rằng họ càng gây áp lực với các quốc gia Đông Nam Á thì các quốc gia này càng thân Mỹ hơn. Nếu người Trung Quốc muốn đưa tàu chiến đến viếng thăm cảng của Singapore khi có nhu cầu, như là người Mỹ đang làm, chúng ta sẽ chào đón họ. Nhưng chúng ta sẽ không ngả về phía nào bằng cách chỉ cho phép một bên và cấm đoán bên kia. Đây là một lập trường mà chúng ta có thể tiếp tục duy trì trong một thời gian dài.
Chúng ta còn liên kết với phần còn lại của thế giới thông qua ngôn ngữ. Chúng ta may mắn được người Anh cai trị và họ để lại di sản là tiếng Anh. Nếu như chúng ta bị người Pháp cai trị, như người Việt, chúng ta phải quên đi tiếng Pháp trước khi học tiếng Anh để kết nối với thế giới. Đó chắc hẳn là một sự thay đổi đầy đau đớn và khó khăn. Khi Singapore giành được độc lập vào năm 1965, một nhóm trong Phòng Thương Mại người Hoa gặp tôi để vận động hành lang cho việc chọn tiếng Hoa làm quốc ngữ. Tôi nói với họ rằng: “Các ông phải bước qua tôi trước đã.” Gần 5 thập niên đã trôi qua và lịch sử đã cho thấy rằng khả năng nói tiếng Anh để giao tiếp với thế giới là một trong những yếu tố quan trọng nhất trong câu chuyện tăng trưởng của Singapore. Tiếng Anh là ngôn ngữ của cộng đồng quốc tế. Đế quốc Anh đã truyền bá thứ ngôn ngữ này ra khắp thế giới, nên khi người Mỹ tiếp quản, đó là một sự chuyển đổi dễ dàng sang tiếng Anh kiểu Mỹ. Đây cũng là một lợi thế rất lớn đối với người Mỹ khi trên toàn thế giới đã có nhiều người nói và hiểu ngôn ngữ của họ.
Khi sự trỗi dậy của Trung Quốc tiếp diễn, Singapore có thể nâng cao chuẩn mực tiếng Hoa trong nhà trường để cho học sinh của chúng ta có một lợi thế, nếu họ chọn làm việc hoặc giao thương với Trung Quốc. Nhưng tiếng Hoa vẫn sẽ là ngôn ngữ thứ hai, vì thậm chí nếu GDP của Trung Quốc có vượt qua Hoa Kỳ, họ cũng không thể cho chúng ta được mức sống mà chúng ta đang hưởng thụ ngày nay. Đóng góp của Trung Quốc vào GDP của chúng ta ít hơn 20%. Phần còn lại của thế giới sẽ giúp Singapore duy trì phát triển và đạt được thịnh vượng – không chỉ là người Mỹ, mà còn là người Anh, người Đức, người Pháp, người Hà Lan, người Úc, vv…. Các nước này giao dịch kinh doanh bằng tiếng Anh, không phải tiếng Trung. Sẽ là rất ngu ngốc nếu chúng ta xem xét chọn tiếng Trung làm ngôn ngữ làm việc tại bất kì thời điểm nào trong tương lai, khi mà chính người Hoa cũng rất cố gắng học tiếng Anh từ khi mẫu giáo cho đến bậc đại học.
Cuộc cạnh tranh cuối cùng
Hoa Kỳ không phải đang trên đà suy thoái. Uy tín của Hoa Kỳ đã chịu nhiều tổn thất do việc đóng quân lâu dài và lộn xộn tại Iraq và Afghanistan cũng như do cuộc khủng hoảng tài chính nghiêm trọng. Nhưng những sử gia giỏi nhìn nhận sẽ chỉ ra rằng một Hoa Kỳ dường như yếu đi và trì trệ đã từng phục hồi ra khỏi những tình huống còn tệ hại hơn. Đất nước Hoa Kỳ đã đối mặt nhiều thử thách lớn trong những thời kỳ chưa xa: cuộc Đại Suy thoái, chiến tranh Việt nam, thời kì trỗi dậy của các cường quốc công nghiệp hậu chiến như Nhật Bản và Đức. Mỗi lần như vậy, Hoa Kỳ đã tìm thấy ý chí và sức mạnh để phục hồi vị trí dẫn đầu cùa mình. Hoa Kỳ đã áp đảo. Nó sẽ thực hiện được điều này một lần nữa.
Thành công của Hoa Kỳ nằm ở nền kinh tế năng động, được duy trì không chỉ bằng khả năng đặc biệt sản xuất ra cùng một thứ với chi phí ít hơn mà còn là liên tục đổi mới sáng tạo – tức là sáng chế ra một mặt hàng hay dịch vụ hoàn toàn mới mà thế giới sớm cảm thấy hữu dụng và đáng khát khao. Chiếc iPhone, iPad, Microsoft, Internet – tất cả đều được tạo ra ở Hoa Kỳ chứ không phải nơi nào khác. Người Trung Quốc có thể có nhiều nhân tài so với người Mỹ, nhưng sao họ không có những phát minh tương tự? Rõ ràng họ thiếu một sự sáng tạo mà người Mỹ sở hữu. Và tia sáng đó cho thấy người Mỹ thỉnh thoảng thể có sáng tạo đột phá thay đổi cục diện, điều cho họ vị trí dẫn đầu.
Thậm chí nếu những người theo thuyết suy thoái đúng, và thật là Hoa Kỳ đang trên đà xuống dốc, ta phải nhớ rằng đây là một nước lớn và cần có một thời gian dài thì mới suy thoái. Nếu Singapore là một nước lớn, tôi sẽ chẳng lo lắng lắm nếu chúng ta chọn chính sách sai lầm, vì hậu quả sẽ xuất hiện chậm. Nhưng chúng ta là một nước nhỏ và một quyết định sai lầm có thể gây hậu quả kinh khủng trong một thời gian ngắn. Mặt khác, Hoa Kỳ như là một con tàu chở dầu lớn. Họ sẽ không thể chuyển hướng nhanh như một chiếc thuyền. Nhưng tôi tin rằng các cá nhân tin vào thuyết suy thoái đã sai lầm. Hoa Kỳ sẽ không suy thoái. So sánh tương đối với Trung Quốc, Hoa Kỳ có thể ít uy lực hơn. Có thể khả năng phô diễn sức mạnh ở Tây Thái Bình Dương của Hoa Kỳ bị ảnh hưởng và có thể Hoa Kỳ không thể sánh với Trung Quốc về dân số và GDP, nhưng lợi thế chính yếu của Hoa Kỳ – sự năng động của họ – sẽ không biến mất. Hoa Kỳ, nếu đem ra so sánh đến giờ, là một xã hội sáng tạo hơn. Và khi mà trong lòng nội bộ nước Mỹ đang có một cuộc tranh luận về việc liệu họ có đang xuống dốc hay không thì đó là một dấu hiệu tốt. Điều đó có nghĩa rằng họ không ngủ quên trên đỉnh cao.
Tại sao tôi lại tin vào thành công về dài hạn của Hoa Kỳ?
Đầu tiên, Hoa Kỳ là một xã hội thu hút đến độ mà Trung Quốc khó lòng bì kịp. Mỗi năm, hàng nghìn người nhập cư đầy tham vọng và có trình độ được cho phép vào Hoa Kỳ, định cư và trở nên thành công trong nhiều lĩnh vực. Những người nhập cư này sáng tạo và thường mạo hiểm hơn, nếu không thì họ đã chẳng rời khỏi quê hương của mình làm gì. Họ cung cấp một nguồn ý tưởng dồi dào và tạo nên một chất men nào đó trong lòng xã hội Mỹ, một sức sống mà ta không thể tìm thấy ở Trung Quốc. Hoa Kỳ sẽ không thành công được đến như vậy nếu như không có người nhập cư. Trong hàng thế kỉ, Hoa Kỳ thu hút nhân tài từ châu Âu. Ngày hôm nay, họ thu hút nhân tài từ châu Á – người Ấn, người Hoa, người Hàn, người Nhật và thậm chí là người Đông Nam Á. Vì Hoa Kỳ có thể dung nạp người nhập cư, giúp họ hoà nhập và cho họ một cơ hội công bằng để đạt được giấc mơ Mỹ, luôn có một nguồn chảy tài năng hướng vào Hoa Kỳ và đổi lại Hoa Kỳ có được công nghệ mới, sản phẩm mới và cách làm ăn mới.
Trung Quốc và những quốc gia khác rồi sẽ phải tiếp thu vài phần của mô hình thu hút nhân tài của Hoa Kỳ phù hợp với hoàn cảnh của mình. Họ phải đi tìm người tài để xây dựng các doanh nghiệp. Đây là cuộc cạnh tranh tối hậu. Đây là thời đại mà chúng ta không còn có các cuộc đua quân sự giữa các cường quốc vì họ biết rằng họ sẽ huỷ hoại nhau bằng cách ấy. Đây sẽ là cuộc cạnh tranh về kinh tế và kĩ thuật và tài năng là nhân tố chính.
Hoa Kỳ là một xã hội thu hút và giữ chân được nhân tài. Họ chiêu dụ được những tài năng bậc nhất từ Châu Á. Hãy nhìn vào số lượng người Ấn trong các ngân hàng và trường đại học của họ — lấy ví dụ như Vikram Pandit, cựu CEO của Citibank. Nhiều người Singapore chọn lựa ở lại Hoa Kỳ sau khi du học. Đó là lí do mà tôi ủng hộ việc cho sinh viên học bổng đi du học Anh, vì tôi chắc rằng họ sẽ trở về Singapore. Ở Anh, bạn không ở lại vì bạn không được chào đón. Và vì nền kinh tế của Anh không năng động như Mỹ, ở đấy có ít công ăn việc làm hơn.
Một lí do tại sao Trung Quốc sẽ luôn kém hiệu quả hơn trong việc thu hút nhân tài chính là ngôn ngữ. Tiếng Hoa khó học hơn tiếng Anh nhiều. Nói tiếng Hoa rất khó nếu như không học từ nhỏ. Đây là ngôn ngữ đơn âm tiết và mỗi từ có tới 4 hay 5 thanh. Khi mà bạn không biết tiếng thì bạn không thể giao tiếp. Đây là một rào cản rất lớn. Đây là kinh nghiệm bản thân tôi. Tôi đã vật lộn trong suốt 50 năm và đến giờ mặc dù tôi có thể nói tiếng Hoa và viết theo kiểu bính âm (pinyin), nhưng tôi vẫn không thể hiểu được tiếng Hoa một cách thành thục như người bản ngữ. Đấy là tôi đã rất cố gắng. Trung Quốc trở nên hùng cường vào tương lai không thay đổi sự thật cơ bản là tiếng Hoa là một ngôn ngữ cực kì khó học. Có bao nhiêu người đến Trung Quốc, ở lại và làm việc ngoại trừ những người Hoa, người Châu Âu và người Mỹ trở thành những chuyên gia nghiên cứu Trung Quốc? Người Trung Quốc cố gắng truyền bá ngôn ngữ của mình ra nước ngoài bằng việc xây dựng các Viện Khổng Tử trên toàn thế giới, nhưng kết quả không được tốt lắm. Người ta vẫn đến Hội đồng Anh và những cơ sở của Hoa Kỳ. Chính phủ Hoa Kỳ thậm chí không cần phải cố gắng. Một thời họ có Trung tâm Dịch vụ Thông tin Hoa Kỳ, nhưng đã bị đóng cửa vì không cần thiết nữa. Đã có hàng loạt ấn phẩm, chương trình truyền hình và phim ảnh làm công việc đó. Nên về quyền lực mềm thì Trung Quốc không thể thắng.
Một nguồn lực khác mang lại sức cạnh tranh cho Hoa Kỳ là nhiều trung tâm xuất sắc cạnh tranh lẫn nhau khắp cả nước. Ở bờ Đông có Boston, New York, Washington, và ở bờ Tây có Berkeley, San Francisco, và ở miền Trung nước Mỹ thì có Chicago và Texas. Bạn sẽ thấy sự đa dạng và mỗi trung tâm lại cạnh tranh với nhau, không ai nhường ai. Khi người Texas thấy rằng mình có nhiều dầu mỏ, James Baker – cựu ngoại trưởng Hoa Kỳ và là người Texas – đã cố gắng thành lập một trung tâm ở Houston để cạnh tranh với Boston hoặc New York. Jon Huntsman, cựu đại sứ Hoa Kỳ ở Singapore và Trung Quốc và là bạn của tôi, là một ví dụ khác. Gia đình ông có tiền sử bệnh ung thư tuyến tiền liệt. Vì vậy khi ông thừa hưởng gia tài từ cha, ông mang những nhà khoa học giỏi nhất trong lĩnh vực ung thư tuyến tiền liệt về quê nhà ông là bang Utah để nghiên cứu vấn đề này.
Mỗi trung tâm tin rằng mình tốt như các trung tâm còn lại, chỉ cần tiền và nhân tài, điều có thể kiếm được. Không ai cảm thấy phải tuân theo Washington hay New York. Nếu bạn có tiền, bạn có thể xây dựng một trung tâm mới. Bởi vì khía cạnh này, có sự đa dạng trong xã hội và một tinh thần cạnh tranh cho phép sản sinh ra những ý tưởng và sản phẩm mới hữu ích dài lâu. Trung Quốc thì lại chọn một cách tiếp cận khác. Người Trung Quốc tin rằng khi trung ương  mạnh thì Trung Quốc sẽ giàu mạnh. Đây là một thái độ cứng nhắc, yêu cầu mọi người phải tuân theo một trung tâm duy nhất. Mọi người phải hành quân theo cùng một điệu trống. Ngay cả Anh và Pháp đều không thể cạnh tranh với Hoa Kỳ về mặt này. Ở Pháp ai là nhân tài cuối cùng đều vào các viện đại học nghiên cứu lớn. Ở Anh thì đó là Oxbridge (Đại học Oxford và Đại học Cambridge). Những quốc gia này tương đối nhỏ, gọn vì vậy cũng đồng bộ hơn.
Kể từ cuối thập niên 1970 cho đến thập niên 1980, Hoa Kỳ mất vị trí dẫn đầu nền công nghiệp về tay những nền kinh tế mới phục hồi như Nhật Bản và Đức. Họ bị vượt mặt về đồ điện tử, thép, hoá dầu và ngành công nghiệp xe hơi. Đây là những ngành công nghiệp sản xuất quan trọng huy động nhiều nhân công, kể cả những người lao động phổ thông được các công đoàn bảo vệ. Ở một số nước châu Âu, các công đoàn chống đối các cải cách lao động bằng việc đe dọa tiến hành các hành động công nghiệp có thể mang lại tổn thất nghiêm trọng trong ngắn hạn. Nhưng ở Mỹ điều ngược lại đã xảy ra. Các tập đoàn áp dụng những biện pháp thay đổi khó khăn nhưng cần thiết. Họ giảm qui mô, giảm biên chế và cải tiến năng suất qua việc sử dụng công nghệ, trong đó có công nghệ thông tin (IT). Nền kinh tế Hoa Kỳ trỗi dậy trở lại. Các doanh nghiệp mới được mở ra để giúp các công ty tối ưu hoá hệ thống IT của mình, như là Microsoft, Cisco và Oracle. Sau một khoảng thời gian điều chỉnh đầy đau đớn, các công ty có thể tạo ra nhiều việc làm mới trả lương tốt hơn. Họ không thích thú với nhưng công việc lỗi thời mà Trung Quốc, Ấn Độ hay Đông Âu có thể làm được. Họ thấy được một tương lai mà của cải không phải được tạo ra bởi việc chế tạo đồ dùng hay xe hơi, mà bằng sức mạnh trí óc, sức sáng tạo, tính nghệ thuật, kiến thức và bản quyền trí tuệ. Hoa Kỳ đã trở lại cuộc chơi. Họ giành lại được vị trí là nền kinh tế phát triển nhanh nhất trong các nước đã phát triển. Tôi thật sự khâm phục sự năng động và tin thần khởi nghiệp của người Mỹ.
Bạn tiếp tục chứng kiến điều đó ngay lúc này đây. Người Mỹ vận hành một hệ thống gọn gàng hơn và có sức cạnh tranh hơn. Họ có nhiều bằng sáng chế hơn. Họ luôn cố gắng tạo được thứ gì đó mới hoặc làm điều gì đó tốt hơn. Tất nhiên, điều này cũng có một cái giá của nó. Chỉ số thất nghiệp của Hoa Kỳ lên xuống như một cái yoyo. Ở thời kì suy thoái, chỉ số thất nghiệp từ 8 đến 10 phần trăm là chuyện hiển nhiên. Kết quả là một tầng lớp dưới hình thành. Giữa những xa hoa, lấp lánh, các cửa hàng đẹp đẽ ở New York, bạn cũng có thể dễ dàng thấy người Mỹ vô gia cư nằm trên vệ đường. Họ không có gì ngoài tấm áo khoác thân và miếng thùng carton để nằm ngủ. Một số người, kể cả nhà kinh tế học đoạt giải Nobel Paul Krugman, đã lên án khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn ở xã hội Mỹ.
Điều này có chấp nhận được không? Tôi không thể nói được. Có những tổ chức tôn giáo và từ thiện giúp đỡ. Một số thành lập những quán ăn tình thương cho người thất nghiệp, vv…. Nhưng mà bạn không thể vừa muốn có chiếc bánh trong tay, vừa muốn ăn nó. Nếu bạn muốn tạo nên sự cạnh tranh mà Hoa Kỳ đang có, bạn không thể tránh được việc tạo nên khoảng cách đáng kể giữa tầng đỉnh và tầng đáy, và không thể tránh khỏi việc tạo nên một tầng lớp dưới. Nếu như bạn chọn một nhà nước phúc lợi, như châu Âu sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai, bạn tự nhiên sẽ không còn năng động.
Cuối cùng, Hoa Kỳ có một nền văn hoá tôn vinh những người dám tự làm tự chịu. Khi họ thành công, họ được ngưỡng mộ như là một nhà khởi nghiệp tài năng và có được sự công nhận và vị trí xã hội họ đáng được hưởng. Khi họ thất bại thì điều này được coi là một giai đoạn tạm thời, tự nhiên và cần thiết để rốt cuộc thành công. Vì vậy họ có thể đứng lên và bắt đầu lại. Nền văn hoá này khác với Anh, một xã hội tĩnh hơn – nơi mà mọi người biết vị trí phù hợp của mình. Nước Anh rất mang tính châu Âu về điểm này. Người Anh từng có nhiều khám phá vĩ đại – máy hơi nước, máy kéo sợi và động cơ điện. Họ cũng có nhiều giải Nobel khoa học. Nhưng rất ít khám phá trong số này của họ trở nên thành công về mặt thương mại. Tại sao lại như thế? Những năm dài của 2 thế kỉ đế chế đã hình thành một xã hội nơi mà giới thượng lưu cũ và những quý tộc có ruộng đất được kính trọng. Giới nhà giàu mới bị xem thường. Các sinh viên trẻ ưu tú mơ ước trở thành luật sư, bác sĩ và trí thức – những người được ngưỡng mộ vì trí tuệ và đầu óc của họ hơn là lao động cực nhọc hoặc lao động tay chân. Hoa Kỳ thì lại khác, là một xã hội mới không có khoảng cách tầng lớp. Mọi người đều ngưỡng mộ việc làm giàu – và muốn trở nên giàu có. Đây là một động lực rất lớn để tạo nên các công ty mới và của cải. Thậm chí ở các công ty của Mỹ, người trẻ có tiếng nói lớn hơn ở các cuộc họp, và sức trẻ của họ được định hướng để giúp công ty trở nên sáng tạo hơn.
Vấn đề nợ
Nước Mỹ mà tôi biết
Hỏi – Đáp
Download phần còn lại của nội dung văn bản tại đây: Ly Quang Dieu viet ve Hoa Ky.pdf
- See more at: http://nghiencuuquocte.net/2014/04/27/ly-quang-dieu-ve-hoa-ky/#sthash.L6uHudcz.dpuf

Phần nhận xét hiển thị trên trang

" CNXH mang màu sắc Trung Quốc" và một phần của nó:

China: Lian Wah Square shopping mall in Bejing
Bút lông anh vẽ trên da...



Can you believe this is happening in China? 
This is in China...!!! Lian Wah Square shopping mall in Bejing.












Can you believe this is happening in China? You would think China is the last place for you to see this. China may still be communist but certainly it has opened up more than the west in this case! Where can you see this in the Shopping Mall in the west ? China has certainly changed!


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Bảy, 26 tháng 4, 2014

Bắc Triều Tiên Vùng Đất Nói Thầm (2013)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

khi đối mặt với một cuộc xung đột sắp xảy ra với Mỹ", KCNA đưa tin.


kim-jong-un-canh-bao-trieu-tien-san-sang-cho-cuoc-xung-dot

Nhà lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-un. Ảnh: AFP/KCNA

Trước nghi ngờ từ phía Hàn Quốc và Mỹ về một cuộc thử nghiệm vũ khí hạt nhân lần thứ tư của Bình Nhưỡng dựa trên những dữ liệu hình ảnh vệ tinh, ngày 26/4, cơ quan truyền thông của Bình Nhưỡng cho biết: nhà lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-un ra lệnh cho lực lượng quân đội nước này phải luôn luôn sẵn sàng cho “một cuộc xung đột tiềm tàng với Mỹ”.
Theo báo cáo sau chuyến thăm kéo dài 2 ngày của Tổng thống Mỹ Barack Obama tại Hàn Quốc, ông Obama đưa ra lời cảnh báo Triều Tiên sẽ phải đối mặt với những lệnh trừng phạt cứng rắn hơn nếu tiếp tục thực hiện cuộc thử nghiệm hạt nhân.
Kim Jong-un nắm quyền chỉ huy tối cao lực lượng vũ trang gồm 1,2 triệu binh sĩ của Triều Tiên. Ông Kim thường tới thăm quân đội đồng thời đưa ra những mệnh lệnh “hướng dẫn” binh sĩ luôn chuẩn bị sẵn sàng.
Trong chuyến thăm của mình, nhà lãnh đạo thường khen ngợi và tặng binh lính những món quà như súng hoặc ống nhòm với ngụ ý cần phải cảnh giác cao độ. Tuy nhiên, ngày 25/4, theo kênh truyền thông KCNA của Triều Tiên, trong một chuyến thăm quân đội, Kim Jong-un đã lên tiếng mắng nhiếc những binh lính vì kỹ năng chiến đấu rời rạc của họ.
NÊN ĐỌC
"Chỉ huy tối cao Kim Jong-un cho biết việc quan trọng nhất bây giờ là công tác chuẩn bị cho chiến đấu, khi đối mặt với một cuộc xung đột sắp xảy ra với Mỹ", KCNA đưa tin. Phương tiện truyền thông nhà nước của Triều Tiên thường xuyên đưa ra lời cảnh báo rằng nước này đang trên bờ vực của chiến tranh.
Chỉ tay vào một bản đồ, ông Kim ra lệnh cho đơn vị quân đội thiết lập vị trí bắn và lực lượng pháo kích phải bắt đầu diễn tập, KCNA cho biết nhưng không cung cấp vị trí chính xác.
Cũng theo KCNA, Kim Jong-un cho rằng: Tâm trí của các sĩ quan chỉ huy và binh lính bị sao nhãng và không có tinh thần sẵn sàng cho một cuộc chiến.  "Quân đội có thể làm những công việc phụ để cải thiện điều kiện sống đồng thời xây dựng một quốc gia giàu có và mạnh mẽ. Tuy nhiên, họ phải luôn luôn ưu tiên cho việc chuẩn bị chiến đấu", nhà lãnh đạo nói.
Phát biểu tại Seoul hôm thứ Sáu sau khi dữ liệu hình ảnh vệ tinh cho thấy Bình Nhưỡng đang tiến hành chuẩn bị cho một vụ thử hạt nhân thứ tư, ông Obama cảnh báo rằng sẽ tăng cường các biện pháp trừng phạt cứng rắn hơn nếu Triều Tiên không hủy bỏ cuộc thử nghiệm.
Triều Tiên đã tiến hành ba vụ thử hạt nhân trước đó vào các năm: 2006, 2009 và 2013.
Hôm 25/4, Bình Nhưỡng cũng cho biết chính phủ nước này đang tạm giữ một công dân Mỹ tên là Miller Matthew Todd, 24 tuổi từ ngày 10/4 vì "hành động thiếu suy nghĩ" trong quá trình nhập cảnh.
Video liên quan: Kim Jong Un gọi Jang Song Thaek là “cặn bã” và cảnh báo nước Mỹ


    Phần nhận xét hiển thị trên trang

    Thảm họa Trécnôbưn và khủng hoảng hạt nhân Phưcưsima

    Nhan 25 nam tham hoa Trecnobun: Bai hoc ve an toan hat nhan chua bao gio cu

    Một phần tư thế kỷ đã trôi qua kể từ khi xảy ra thảm họa nổ lò phản ứng hạt nhân tại nhà máy điện nguyên tử Trécnôbưn (Chernobyl) ở Ucraina (26/4/1986), song những bài học về an toàn hạt nhân chưa bao giờ mất đi tính thời sự của nó. Đặc biệt trong bối cảnh trận siêu động đất gây sóng thần lịch sử xảy ra ngày 11/3 vừa qua tại Nhật Bản đã gây ra cuộc khủng hoảng hạt nhân tại nhà máy điện hạt nhân Phưcưsima (Fukushima) số 1 càng khiến bài học về an toàn hạt nhân trở nên đắt giá hơn bao giờ hết.

    Trong bối cảnh những lo ngại về an toàn hạt nhân đang gia tăng, nhiều nước trên thế giới đã phải xem xét lại chiến lược phát triển loại năng lượng này. Nhiều quốc gia cũng đồng loạt xem xét lại độ an toàn của các lò phản ứng vì đa số nhà máy điện hạt nhân trên thế giới hiện nay có cơ chế hoạt động tương tự Phưcưsima - tức là thế hệ lò phản ứng hạt nhân thứ hai, được xây dựng vào những năm 70 của thế kỷ trước. Chỉ một số ít nước có lò phản ứng hạt nhân thế hệ thứ ba với độ an toàn cao hơn, chẳng hạn như Pháp, song về mặt kỹ thuật cũng không khác biệt nhiều so với thế hệ trước. Điều đáng lưu ý ở đây là cho dù mức độ rủi ro cao, song năng lượng hạt nhân lại là nguồn năng lượng khó có thể thay thế nếu xét về trung hạn. Theo ước tính của Cơ quan Năng lượng Thế giới (IEA), tới năm 2050, nhu cầu sử dụng điện của thế giới sẽ tăng gấp ba lần so với hiện nay. Mức tăng nhu cầu khổng lồ này không thể được đáp ứng đủ bằng các nguồn năng lượng sạch như gió và Mặt Trời. Bên cạnh đó, các nguồn nguyên liệu truyền thống để sản xuất điện như than và nước đang ngày càng cạn kiệt. Vì vậy, điện hạt nhân vẫn là sự lựa chọn trong tương lai gần. Hiển nhiên, việc nâng cao mức độ an toàn của các nhà máy điện hạt nhân là yêu cầu cấp bách và không thể trì hoãn.
    Những ngày qua, nhân 25 năm ngày xảy ra thảm họa tại nhà máy điện nguyên tử Trécnôbưn, thủ đô Kíep của Ucraina đã chứng kiến hàng loạt hoạt động dồn dập, với các hội nghị quốc tế, hội thảo ... với sự tham dự của các nhà lãnh đạo thế giới và các chuyên gia trong lĩnh vực năng lượng hạt nhân, nhằm mục đích giúp cộng đồng quốc tế rút ra những bài học cần thiết để tăng cường an toàn hạt nhân trong tương lai, phát triển các kế hoạch khẩn cấp về phòng ngừa và phản ứng, nâng cao nhận thức và sự tham gia của công chúng trong những trường hợp khẩn cấp về hạt nhân.
    Phát biểu tại Hội nghị quốc tế về sử dụng năng lượng hạt nhân an toàn và đổi mới, Tổng Thư ký Liên hợp quốc (TTK LHQ) Ban Ki Mun (Ban Ki-moon) đã kêu gọi cộng đồng quốc tế tư duy lại trên phạm vi toàn cầu về an toàn hạt nhân. Ông Ban Ki Mun nhấn mạnh thảm họa hạt nhân Trécnôbưn ở Ucraina cách đây 25 năm và sự cố rò rỉ hạt nhân tại nhà máy điện hạt nhân Phưcưsima số 1 của Nhật Bản vừa qua đã cho thấy tác động của tai nạn hạt nhân là không biên giới. Thế giới cần đảm bảo chắc chắn rằng sử dụng năng lượng hạt nhân vì các mục đích hòa bình với độ an toàn hạt nhân cao nhất. TTK LHQ kêu gọi rà soát lại mọi chi tiết của các quy chế an toàn hạt nhân; các nước phải ứng dụng tiêu chuẩn cao nhất về phòng ngừa tai nạn hạt nhân, cho phép giám sát độc lập tại các nhà máy điện hạt nhân và đảm bảo mức độ minh bạch cao nhất để giành được lòng tin của người dân. Các nhà máy điện hạt nhân phải được xây dựng đảm bảo chống được động đất, sóng thần, cháy nổ hoặc lũ lụt.
    Ông Ban Ki Mun cũng kêu gọi các nước sử dụng năng lượng hạt nhân cần nỗ lực tăng cường hợp tác với Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA), sử dụng cơ quan này của LHQ để chia sẻ kinh nghiệm và bí quyết về các vấn đề an toàn hạt nhân. Do IAEA hiện tại thiếu quyền lực để giám sát thực hiện các tiêu chuẩn an toàn hạt nhân, ông nhấn mạnh cần tăng cường quyền hạn của IAEA và ủng hộ IAEA triệu tập hội nghị cấp bộ trưởng 151 thành viên, thảo luận về các vấn đề an toàn hạt nhân vào tháng 6 tới để rút ra bài học từ khủng hoảng hạt nhân Phưcưsima.
    Hiện thế giới đang ưu tiên nghiên cứu phát triển các nhà máy điện hạt nhân thế hệ mới dựa trên việc đúc rút những bài học đắt giá từ thảm họa hạt nhân Trécnôbưn và sự cố hạt nhân Phưcưsima. Đó là phải phát triển hạt nhân hòa bình trên những nguyên tắc hoàn toàn khác, với việc xây dựng các nhà máy điện hạt nhân có độ an toàn tự nhiên, trong đó lò phản ứng sẽ được bảo vệ trước sự cố nghiêm trọng bằng quy luật tự nhiên, chứ không chỉ bằng các thiết bị kỹ thuật. Lò phản ứng thế hệ mới có khuynh hướng tiến tới chu kỳ khép kín, tức là có khả năng đốt cháy phần lớn chất thải để đáp ứng 4 tiêu chuẩn chính. Đó là tiết kiệm tài nguyên; tiết kiệm về chu kỳ nhiên liệu; hạn chế chất thải phóng xạ; hạn chế sự phổ biến vũ khí hạt nhân. Bên cạnh đó, các lò phản ứng không được bố trí quá gần nhau, dẫn đến việc vụ nổ tại một lò phản ứng cản trở công việc tại những cơ sở bên cạnh. Và điều quan trọng không kém là công tác đào tạo nhân viên nhà máy điện hạt nhân làm việc trong điều kiện xảy ra sự cố nghiêm trọng. Yếu tố con người ở đây cần được coi trọng hơn bao giờ hết nếu lưu ý rằng nguyên nhân gây ra thảm họa Trécnôbưn, bên cạnh các lỗi cố hữu trong thiết kế của lò phản ứng, còn do lỗi của những người điều hành - họ chủ ý bỏ qua các biện pháp phòng ngừa, các rào cản an toàn và sự phối hợp chặt chẽ với nhau.
    Thảm họa Trécnôbưn và khủng hoảng hạt nhân Phưcưsima một lần nữa gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh việc bảo đảm an toàn cho các nhà máy điện hạt nhân không phải là trách nhiệm của riêng quốc gia hay cá nhân nào. Bản tuyên bố được thông qua tại Hội nghị quốc tế với chủ đề "25 năm thảm họa Trécnôbưn. An toàn cho tương lai" đã kêu gọi các nước nhanh chóng tham gia Công ước về an toàn hạt nhân và kiểm tra độ an toàn của các nhà máy điện nguyên tử trong tình trạng giả định xảy ra biến cố hoặc thiên tai. Tuyên bố cũng nhấn mạnh sự chung tay hợp tác và trao đổi kinh nghiệm tiên tiến giữa các nước trong việc vạch kế hoạch, bố trí, xây dựng và đưa vào hoạt động các cơ sở năng lượng nguyên tử sẽ góp phần nâng cao độ an toàn của những cơ sở này./.

    Phần nhận xét hiển thị trên trang

    Mấu thật!

    Vâng, Tôi Hải Phòng!
    (Soha.vn) - Với mỗi mảnh đất, quê hương đều có những nét khiến cho con người ta cảm thấy tự hào. Điểm khác biệt là ở chỗ họ có nhận ra được nó hay không! Nhớ khi còn bé cũng lên Hà Nội, nhưng lúc đó chưa dậy thì, râu ria 1 số nơi chưa có nên nhìn con gái Hà Nội có khác gì nhìn con cún vàng nhà mình đâu…
    Sáng nay uống cafe, thấy 1 em gái chân dài váy ngắn, vạch mồm vén môi 1 tý là đủ thứ phun ra, lúc sau lại nhận được điện thoại của con em gái là dân Hải Phòng gốc nhưng đang làm trên Hà Nội: Bọn trong công ty cứ bắt em làm chủ tịch công đoàn, em là nhân viên quèn mà em nói chúng nó nghe răm rắp chả kém gì giám đốc… Tự dưng có hứng viết 1 chút về người Hải Phòng.
    1. Gái Hải Phòng

    Lần đầu tiên biết là gái Hải Phòng đẹp là khi học lớp 12, bố đưa lên Hà Nội để sơ tuyển năng khiếu thi vào Kiến Trúc, ngồi sau xe máy của bố mà mắt đảo như bi, đầu quay như gụ… xem gái Hà Nội có gì khác với gái Hải Phòng không… Nghe văn thơ ca nhạc nói về gái Hà Nội mãi rồi bây giờ có dịp. Nhớ khi còn bé cũng lên Hà Nội, nhưng lúc đó chưa dậy thì, râu ria 1 số nơi chưa có nên nhìn con gái Hà Nội có khác gì nhìn con cún vàng nhà mình đâu…

    Tưởng nó thế nào, thua xa mấy con bé nhan sắc trung bình yếu lớp mình, thất vọng tràn trề… hóa ra mấy cô bạn lớp mình mà đưa lên Hà Nội có khi đắt chứ chả chơi. Rồi sau đó lên Hà Nội học, tiếp xúc nhiều hơn với gái Hà Nội, có nhiều đứa xinh, nhưng nhìn chung nó cứ thế nào ấy. Chả phải nịnh bợ gì ai nhưng không địch được con gái quê mình.

    Chả phải là ngẫu nhiên năm 1992 Hải Phòng có Vũ Thu Sang đoạt giải GƯƠNG MẶT ĐẸP NHẤT – MISS CARLBERG trong đợt thi hoa hậu báo Tiền Phong, cùng đợt với Hà Kiều Anh. Năm 1993 Hải Phòng có Kim Oanh là hoa khôi thể thao. Năm 1996 có Vũ Minh Thúy Á hậu 2002, và 2004 có Phạm Mai Phương và Nguyễn Thị Huyền… Còn em Á hậu Ngọc Oanh làm MC – đăng quang năm 200… lẻ mấy ý, không rõ.

    Á Hậu Ngọc Oanh – quê tại Hải Phòng

    Đi làm xa nhà, tôi có dịp tiếp xúc với nhiều em gái Huế, miền Tây, Sài Gòn… nói chung mỗi nơi có một vẻ riêng, người ta khi nhắc đến 1 vùng đất nào đó kiểu gì cũng phải lấy hình ảnh 1 cô gái ra để làm đại diện. Công bằng mà nói, con gái Huế nhìn chung không đẹp, nước da trắng nhưng không hiểu sao lại không hề mịn, đường nét cũng không sắc lắm… Trái hẳn với hình ảnh sông Hương núi Ngự nên thơ. Ấn tượng duy nhất với con gái Huế là năm 1998, khi nhà trường cho kiến tập kiến trúc cổ tại Huế, buổi tối nghe ca cổ trên thuyền sông Hương. Đột ngột em ca sĩ trên thuyền mình xinh lộng lẫy, nhìn mặt quen quen… Trời ạ, đó là ca sĩ Vân Khánh được khá nhiều người biết đến. Cái thành phố này nghèo quá e nhỉ, ca sĩ có tiếng như em mà phải hát trên thuyền với thù lao bèo bọt.

    Người ta cũng hay nhắc đến con gái miền Tây. Phải nói là con gái miền Tây đẹp đến nao lòng, nước da nõn nà, tóc dài và đôi mắt ngây thơ trong trắng, đến nỗi nhìn vào tôi chỉ muốn làm cho nó vẩn đục ngay lập tức… Tôi cứ tự hỏi cái miền đất gần đường xích đạo nhất Việt Nam này tại sao nắng nhiều mà con gái trắng vậy. Có lẽ miền Tây là xứ hoa trái quanh năm, con gái miền Tây cứ uống nước dừa, ăn cây trái nên da dẻ đẹp hơn bất kỳ một loại vải vóc quần áo nào. Chỉ có điều, các em thường ít học và cứ ngây ngây thơ thơ như hột cơm nguội – Một bông hoa đẹp mà chẳng có mùi hương.

    Còn ở Hà Nội, con gái bây giờ đẹp hơn xưa nhiều, nhưng tôi cam đoan nếu những con thiên nga ấy mà bỏ hết make up, những bộ quần áo style, nhất là lúc vừa ngủ dậy thì không ít trong số họ cũng chỉ là những chú vịt con xấu xí mà thôi…

    Nhà thơ Trần Đăng Khoa đã từng viết : "Tôi thấy cô gái nào cũng đẹp, có cô nhìn đằng trước đẹp, có cô nhìn đằng sau đẹp, có cô phải… nhắm mắt lại mới thấy đẹp".

    Cũng có 1 câu danh ngôn: “Không có phụ nữ nào xấu, chỉ có phụ nữ không biết làm đẹp”. Câu nói hay quá nhưng hơi mang tính an ủi. Có khác gì: “Chả có cô nào ế, chỉ có những cô không thể lấy được chồng!”

    Quay lại Hải Phòng sau 1 thời gian đi làm xa, con gái Hải Phòng vẫn vậy, 1 vẻ đẹp không cầu kỳ và hào nhoáng, nhưng đủ để người ta phải nhớ. Những buổi chiều đi làm về, ngắm những cô nữ sinh cấp 3 đạp xe trên đường Trần Phú rợp bóng cây với tiếng cười và giọng nói trong veo giấu sau mái tóc bồng bềnh… cũng thấy xốn xang kỳ lạ. 

    Thành phố Hải Phòng không hầm hố, không náo nhiệt như Hà Nội và Sài Gòn. Hình như con người Hải Phòng nói chung và con gái Hải Phòng nói riêng cũng vậy, chả cần phải kiểu cách, tô vẽ làm gì nhiều… có những cái trang điểm vào có khi lại làm hỏng nó đi. Cứ hồn nhiên, vô tư và dữ dội nếu không, chả còn là con gái Hải Phòng.

    Nếu con gái nhiều nơi ngọt ngào như cốc nước đường, thì con gái Hải Phòng như 1 cốc nước chanh… Sẽ là ngọt đến nhàm chán khi uống 1 cốc nước đường nhưng nếu thêm vài lát chanh vào chắc chắn thú vị. Phải hơi nhăn mặt vì vị chua se se nhưng sẽ phải nhâm nhi đến giọt cuối cùng… Trừ khi, bạn cho quá nhiều chanh. Cái vị CHANH ấy, cũng chính là cá tính con gái Hải Phòng, dám nói, dám làm, dám chịu… Sẵn sàng va chạm.

    Viết đến đây tự nhiên nhớ chị Dung Hà, một cô gái Hải Phòng có chất CHANH nhiều quá… thật tiếc. Phải rồi, Hải Phòng có thể sản sinh ra không ít Hoa hậu, á hậu… nhưng cũng có thể sản sinh ra 1 cô gái như chị Dung Hà. Cá tính quá mạnh mà lại đặt trong môi trường chả lấy gì làm tốt. Thương cho chị!

    Văn thơ ca nhạc đầy bài ca ngợi cô gái Hà Nội, Sài Gòn, Huế… hay bất kỳ tỉnh thành nào khác, trừ con gái Hải Phòng. Phải chăng con gái Hải Phòng quá cá tính nên đưa vào thơ nhạc sẽ không còn lãng mạn nuột nà. Ôi các nhà thơ, nhạc sĩ, đôi lúc nghệ thuật cũng chỉ là những lối mòn sáo rỗng mà thôi. Giống như những bài hát về Hà Nội, bài nào cũng Hồ Gươm, hồ Tây, góc phố rêu phong, bầu trời xanh… cứ đem mấy thứ ấy về xào đi xáo lại kiểu gì cũng ra được vài trăm bài hát về Hà Nội.

    2. Trai Đất Cảng

    “Trai đất cảng – Gái thành đô”, đó là câu cửa miệng so sánh của những năm thập kỷ 80. Cái thời mà các em gái Hà Nội “mặt ngơ ngẩn, đầu lẩn thẩn, tay tẩn mẩn” khi chiêm ngưỡng các anh giai Hải Phòng ngang tàng, oai vệ trên những xe cub 50 đời chót “giọt lệ kim vàng”. Cái thời mà khi đi tán gái, 100 lời nói chả bằng làn khói Honda. Cái thời mà nói như ông Đoàn Duy Thành (cựu Chủ tịch Hải Phòng, cựu Phó chủ tịch Hội đồng Bộ Trưởng – tương đương Phó thủ tướng): Hải Phòng chỉ thua Hà Nội 1 chút về văn hóa và thua Sài Gòn 1 chút về kinh tế.

    Đã qua rồi cái thời đó, Hải Phòng giờ đây thua kém Hà Nội và Sài Gòn về nhiều mặt, nhưng cái chất ngang tàng của đàn ông Hải Phòng thì không hề thay đổi. Chả ai lý giải được con cái tính cách đó có từ bao giờ và tại sao lại phải như thế.

    Cổ động viên Hải Phòng trên sân Hàng Đẫy - Hà Nội

    Có người nói Hải Phòng vốn là đất miền biển, quanh năm chịu va đập với sóng gió nên tính cách ngang tàng mạnh mẽ, nhưng nói thẳng là đất nước VN với trên 3000km bờ biển thì biển ở gần như mọi nơi, nhưng cái chất con trai nơi khác đâu giống Hải Phòng đâu.

    Dẫu sao cũng phải nói là trai Hải Phòng dữ dội như biển cả, cái dữ dội thể hiện khác nhau ở mỗi người, khi thích có thể nâng niu như sóng vỗ về, nhưng khi bất cần có thể cuồn cuộn dập vùi không thương tiếc… 

    Nói đến con trai Hải Phòng, người dân nơi khác nghĩ ngay đến những Cu Nên, Minh Sứt, Lâm già, hay be bé 1 tý là Dũng mắt cá. Dũng mắt cá chả phải anh chị có tiếng gì, nhưng năm 1993, khi vào sòng bạc Năm Cam đánh thua hơn 1,6 tỷ. Năm Cam chỉ “lại mặt” 200 ngàn gọi là cho thằng em đi xe về. Dũng không nhận và lẳng lặng bỏ về, 1 lúc sau có 1 chiếc xe du lịch chở 4 người với 4 khẩu súng ngắn cập bến sòng bạc của anh Năm, 4 tên gom được gần 200 triệu trên sới bạc và châm lửa đốt. Vụ này làm Năm Cam rớt "level" trầm trọng trước khi bị bắt lần thứ nhất.

    Trai Hải Phòng ngang tàng, dữ dội là vậy, làm cho nhiều người ghét mà cũng nhiều người quí. Chả sao, thế mới là cuộc sống. Tròn vo để không có ai ghét thì cái sự quý mến đôi khi cũng chỉ là xã giao… Tôi còn nhớ khi đi làm trong Khánh Hoà, đã có 1 cô gái địa phương nói với tôi: “Bắc kỳ vừa đểu vừa điêu” (nhiều người Nam không thích dân Bắc, cũng như nhiều người Bắc không thích dân Nghệ)… Ừ thì đểu đấy, đã mang tiếng rồi thì đây cũng chả sợ,làm cho tới bến luôn. Này thì đểu này… đểu này… hơ hơ… đểu này… hơ hơ… đểu này… Để rồi đến khi về lại Hải Phòng thì được nghe em đọc câu tiếp theo “Mà em biết thế vẫn yêu Bắc kỳ”. Em ạ, câu nói của em nên đổi chữ “Bắc kỳ” thành chữ “Hải Phòng” thôi.

    Sau khi đi làm xa, nghiệm ra là trai Hải Phòng ngoài việc có thể chơi với nhau, chơi với trai Nam Bộ cũng rất khoái. Cái vùng đất mà con người nổi tiếng hào sảng, vô tư, sống nay không lo mai. Dễ hiểu thôi, cái vùng đất này cách đây vài chục năm vẫn còn phải “vạch cá mới thấy nước”, “vén hoa trái mới thấy bầu trời”. Lại chả mấy khi gió bão, họ được thiên nhiêu chiều chuộng quá nên sự lo xa rất ít, có bao giờ đói đâu mà phải lo gì, chơi bời có tiếng, nhậu nhẹt thành thần luôn.

    Cũng hồi học trên Hà Nội, chơi với dân Hà Nội nhiều nhưng chả biết phải nói gì về họ, Hà Nội giờ đây là “nồi lẩu thập cẩm” về tính cách và văn hoá, người tốt, xấu. Ngang tàng như Hải Phòng có, ăn chơi như anh hai Sài Gòn có, hào sảng như trai miền Tây cũng lắm… số lượng mỗi tính cách cứ sàn sàn như nhau mà không trội hẳn. Thôi thì chả biết nói gì. Vì đó là Thủ đô, nơi hội tụ của đủ tinh hoa và cặn bã…

    Trở lại với nội dung trai Hải Phòng, Có lẽ bao năm nữa trôi đi thì cái tính cách vẫn thế thôi, sống chả cần phải lắt léo, tô son vẽ phấn làm gì, xù xì, gai góc thế đấy, nhưng có ai nói là chơi với trai Hải Phòng phải đề phòng đại loại như “Huế mộng, Huế mơ, lơ ngơ là Huế vơ mất dép” đâu, đơn giản vì dân Hải Phòng cũng chả cần phải đề phòng ai nhiều, thích thì chơi, mà chả thích thì… chiều nhau tới bến.

    Xin mượn lời 1 bài hát để thay cho cái kết của bài viết này “Hải Phòng đó, hiên ngang chỉ biết ngẩng đầu”. Sao lại “hiên ngang chỉ biết ngẩng đầu”, có vẻ gì đó hơi gai góc ngạo mạn không nhỉ… Thôi chả sao. Hải Phòng ngạo mạn, dữ dội vậy đấy. Có yêu được thì yêu, còn không đành chịu. Nếu có ai hỏi tôi từ đâu tới và tại sao ngang tàng như vậy. Hoàn toàn có thể tự hào mà nói: VÂNG, TÔI HẢI PHÒNG!


    Phần nhận xét hiển thị trên trang