Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Hai, 21 tháng 4, 2014

Góc nhìn giới trẻ:

Góc nhìn giới trẻ - Trong cái xã hội mà đa phần chạy theo số đông


Đôi khi tôi muốn phát điên lên, muốn hét to lên với mọi người, đừng như thế nữa, tôi không biết nên nói gì, làm gì để thay đổi tình trạng này và có thể sẽ chẳng ai chú ý đến lời tôi nói, có lẽ đây cũng là lần cuối tôi nói với mọi người, cái cảm giác một mình một suy nghĩ, lạc lõng đến vô vọng, người ta bảo đừng chết ở tuổi 20, tôi đã 22 tuổi, còn rất nhiều thời gian để làm, có hàng tỷ câu hỏi tại sao trong đầu mà không thể trả lời thỏa đáng.
Tại sao những hội chợ triển lãm, hình ảnh đất nước giới thiệu ra nước ngoài lúc nào cũng là nông sản, thủy sản, nguyên liệu thô, lúc nào cũng là hình ảnh áo dài thế? Tôi biết đó là nét đẹp văn hóa đáng trân trọng của Việt Nam, nhưng thực sự tôi tham lam, tôi muốn nhiều hơn nữa, tôi muốn người Việt mình đặc biệt là giới trẻ đừng học chỉ vì muốn kiếm một cái ghế an nhàn lương cao nữa, tôi muốn Việt Nam mình giới thiệu ra được nhiều sản phẩm trí tuệ hơn nữa, sẽ có thật nhiều Giáo sư Ngô Bảo Châu nữa.
Có câu ngạn ngữ, đại ý là: “Nhân cách hình thành nên ý thức, ý thức hình thành nên thói quen, thói quen tạo nên tính cách, tính cách quyết định số phận bạn.” Giá như các bạn đừng nghĩ đến chuyện không qua môn thì đút lót thầy cô, giá như các bạn nghĩ học để lấy kiến thức áp dụng thực tế, tôi đã từng suy nghĩ, nếu lựa chọn giữa một bên là công việc an nhàn lương hàng chục triệu một tháng với công việc mà tôi không yêu thích với một bên cho tôi một nhà thí nghiệm đầy đủ và hiện đại, một nhà sách vô tận cho tôi được nghiên cứu thỏa thích, tôi không ngần ngại chọn phương án 2, tôi sẽ có ít tiền hơn, tôi sẽ ngủ ít hơn, tôi không kiếm được cho bố mẹ nhiều tiền hơn, nhưng tôi thấy hạnh phúc thực sự, và nhất định tôi sẽ làm bố mẹ tự hào về tôi.
Đọc báo tôi thấy nhiều người Việt tài năng được vinh danh ở nước ngoài, tôi thấy thật ngưỡng mộ, điều đó chứng minh người Việt mình rất thông minh, chúng ta hoàn toàn đủ khả năng tiến xa hơn nữa về khoa học công nghệ, bạn có ước mơ, lòng đam mê thì phải làm đến cùng, đừng làm việc gì cũng làm cho xong, cái kiểu đốt cháy giai đoạn, nóng vội muốn kết quả ngay chỉ giết chết ước mơ trong chúng ta.
Có những chuyện người ta nói công khai, trở thành điều quá đỗi bình thường, muốn xin vào ngân hàng phải chạy mấy trăm triệu, muốn xin làm giáo viên cũng phải mấy trăm triệu, muốn vào Sở này Bộ kia cũng phải mấy trăm triệu, bạn có tiền, phải, bạn được nhồi nhét vào một cái ghế yên vị như thế, bạn có cơ hội nhận hối lộ nhiều, cái ghế nào càng chắc, cơ hội ăn đút lót càng cao thì càng cần nhiều tiền để chạy chọt vào, rồi chúng ta đang đào tạo ra một tầng lớp lãnh đạo như thế nào? Tôi không vơ đũa cả nắm, vì thực sự có rất nhiều con người tâm huyết thực sự đang ngày đêm miệt mài cống hiến sức lực và trí tuệ của mình cho đất nước, nhưng thực sự lo sợ trước sự suy đồi đạo đức của một bộ phận không hề nhỏ trong xã hội bây giờ.
Giới trẻ bây giờ thế nào? Một cô ca sỹ, người mẫu nổi tiếng nước ngoài, cả một hội ùn ùn kéo vào bình luận, buông những lời vô văn hóa, tràn ngập bình luận người Việt, còn rất nhiều người, ăn mặc hở hang, phản cảm, phát ngôn gây shock để được nổi tiếng, họ trơ lì với thái độ của người khác, người khác thấy thế cũng bắt chước theo, không cần biết ngày mai thế nào, không cần biết, tất cả quá đơn giản, hàng ngày ra đổ bê tông đường nắng oi ả ai biết đến, hàng ngày lao động cực khổ kiếm vài chục nghìn ai biết đến? Hàng ngày làm việc dưới hầm mỏ nguy hiểm tính mạng ai biết đến? Hàng ngày có những người thầy, người cô lặng lẽ truyền đạt tri thức đến cho những trẻ em nghèo ai biết đến? Tôi ước gì, ai đó chịu khó giành một chút thời gian quan tâm những gì tôi nói, và suy nghĩ thật nghiêm túc, ước gì…
Xin lỗi, đây là lần cuối tôi nói với mọi người về vấn đề này, có thể bạn đọc xong, suy nghĩ nhưng rồi cũng nhanh chóng quên đi trong cái xã hội mà đa phần chạy theo số đông, nhưng tôi muốn nói ra suy nghĩ của tôi, tạm biệt.
Đông Phương

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Vì sao tỉ phú giàu nhất châu Á "chạy" khỏi Trung Quốc đại lục?

Từng là người đổ nhiều tiền của đầu tư vào đại lục ngay từ những năm đầu 1990, ông Lý Gia Thành (Li Ka-Shing), tỉ phú người Hong Kong giàu nhất châu Á, với tổng tài sản hơn 30 tỉ USD, giờ muốn rời khỏi mảnh đất này. 

Ngay từ tháng 8 năm ngoái, tỉ phú Lý đã tìm cách bán tháo các tài sản nắm giữ tại Trung Quốc. Mới nhất là thương vụ chuyển nhượng Trung tâm mua sắm Pacific Place ở Bắc Kinh hồi đầu tháng này, với trị giá 928 triệu USD. Khi tất toán xong, ông Lý sẽ chẳng còn nắm giữ khoản đầu tư tài sản đáng kể nào ở Trung Quốc đại lục.

Một người đầu tư lọc lõi như Lý Gia Thành chắc hẳn không thể trở nên giàu có nhờ bản tính nông nổi và sợ hãi. Vậy hành động của ông cho thấy điều gì? Đơn giản - đó là nguy cơ khủng hoảng tín dụng (credit crunch) mà Trung Quốc phải đối mặt.

Sau nhiều năm thực thi chính sách tiền tệ nới lỏng chưa từng có vốn đặt nền kinh tế vào trạng thái dễ đổ vỡ, chính quyền Bắc Kinh gần đây đã cố gắng kiểm soát tăng trưởng tín dụng. Theo tập đoàn JP Morgan (Mỹ), riêng hệ thống tín dụng chợ đen (shadow banking) hiện đã chiếm khoảng 84% GDP. Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) ước tính, tổng tín dụng tư nhân rơi vào khoảng 230% GDP, tăng 100% so với thời điểm vài năm trước đây. 

Nhìn lại lịch sử, sự gia tăng trong các thông số này gần như luôn là một chỉ dấu báo hiệu một cuộc khủng hoảng tài chính đi liền sau đó. Và giới lãnh đạo Trung Quốc đang nỗ lực hết sức để có thể tiến đến một cú “hạ cánh mềm” cho nền kinh tế. Nếu thành công, thế giới sẽ chỉ thấy được một sự tụt giảm đáng kể trong tăng trưởng toàn cầu, thị trường cổ phiếu, bất động sản, giá hàng hóa. Nếu thất bại, thì tác động lan truyền của nó sẽ rất khủng khiếp. 

Chẳng cần đến những nhà tài phiệt tầm cỡ như ông Lý, mọi người chắc đều hiểu được mức độ ảnh hưởng này. Hãy xem tình hình ở một nước xa xôi là Chile. Đây là nước sản xuất đồng hàng đầu thế giới, với Trung Quốc là khách hàng lớn nhất. Thế nhưng, khi kinh tế Trung Quốc tăng trưởng chậm lại, giá đồng giảm mạnh, kéo theo nền kinh tế Chile tăng trưởng chậm lại, đồng peso giảm 10% so với đồng USD, buộc ngân hàng trung ương nước này phải hạ tỉ giá để thúc đẩy tăng trưởng. 

Mối nguy sẽ lớn hơn nữa khi Trung Quốc buộc phải bán phá giá một lượng lớn trái phiếu nắm giữ để giữ giá đồng nhân dân tệ, gây tác động đến hệ thống tài chính toàn cầu. Rõ ràng, tình cảnh khủng hoảng tín dụng ở nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, nhà sản xuất lớn nhất thế giới, người nắm giữ trái phiếu chính phủ Mỹ nhiều nhất thế giới sẽ gây ra những hệ lụy trên diện rộng. 

Nguy hiểm hơn, đa phần các nhà đầu tư truyền thống hiện không hiểu được rằng, bất ổn ở Trung Quốc sẽ có ảnh hưởng như thế nào đến các danh mục đầu tư của họ. Tác động của nó có thể lớn hơn nhiều so với các chính sách của Janet Yellen (Chủ tịch FED) và Barack Obama cộng lại. Một số nhà đầu tư bảo thủ và luôn biết kiểm đếm số tiền của mình hàng ngày thì có thể nhận ra “thời khắc máu đổ trên đường phố”. Xu hướng đổ tiền vào trái phiếu chính phủ Mỹ chắc sẽ ngưng lại, khi mà Trung Quốc mới chỉ bắt đầu tiến trình bán ra. Có người nói rằng, theo ngôn ngữ của người Trung Quốc, “khủng hoảng” bao hàm “hiểm nguy” và “cơ hội”. Nhưng điều này không chính xác”. Khủng hoảng (Weiji) có thể mang nhiều nghĩa, nhưng nó sẽ được chuyển ngữ chuẩn xác nhất là “nguy hiểm” và “thời điểm then chốt”. 

Đối với giới đầu tư, đây có lẽ đang là thời điểm then chốt và là thời cơ thuận lợi để nhìn lại các khoản tài chính của mình, xem xét bán đi trước khi có đổ vỡ lớn. Người giàu nhất châu Á chắc hẳn cũng nghĩ vậy! 

Theo HT
Báo Tin tức/Sovereignman 

Phần nhận xét hiển thị trên trang

cảnh vợ chồng “bầu Kiên” tại tòa

Khuôn mặt đanh ác và cái nhìn sắc như dao cạo của bác Kiên luôn làm mình khiếp đảm. Nhưng hôm nay nhìn cảnh vợ chồng bác Kiên, mình tự nhiên thấy thương và xót xa cho bác quá. Vợ thì "lạnh lùng, bình thản và không nhìn chồng"; chồng thì hai tay bị còng, lại lòng thòng thêm sợi xích kéo dài tới gót chân, không biết còn dài tới đâu, có ai cầm đầu dây xích kia không, chân bác có bị xích không ? Không hiểu tại sao tội phạm kinh tế mà lại bị xích kinh khủng như vậy.


Có mặt tại phiên tòa từ sáng sớm, bà Đặng Ngọc Lan - vợ bị cáo Nguyễn Đức Kiên (bầu Kiên) luôn thể hiện sự lạnh lùng, bình thản. Vợ 'bầu Kiên' mặc chiếc áo sơ mi trắng, quần jeans và thường xuyên đeo kính đen khi các phóng viên tìm cách tiếp cận.
Khi phiên tòa hoãn và các bị cáo được dẫn giải ra xe thùng, bà Lan cũng có mặt tại sân tòa, nơi gần chiếc xe chở chồng là 'bầu Kiên'. Tuy nhiên, trong khi bầu Kiên mỉm cười trước ống kính phóng viên thì bà Lan thể hiện một thái độ trái ngược.

Vợ 'bầu Kiên' vẫn đeo chiếc kính đen và thường xuyên cúi đầu xuống, không dám nhìn chồng bước lên xe thùng chở bị cáo.

Bà Đặng Ngọc Lan bên trong phòng xét xử

Và ở bên ngoài sân tòa, cạnh xe thùng chở bầu Kiên

Bầu Kiên mỉm cười trước mặt vợ và các phóng viên trước khi lên xe thùng

Theo Hoàng Nguyễn, Báo Công lý

Bà Đặng Ngọc Lan - vợ "bầu" Kiên
Bà Đặng Ngọc Lan và ông Nguyễn Đức Kiên từng là một cặp đại gia nổi danh trên thương trường trước khi ông Kiên lâm vào vòng lao lý.
đại-gia, vợ-đẹp, bóng-hồng, Thủy-Tiên, Hà-Tăng, Ngọc-Lan, bầu-kiên, Nguyễn-Đức-Kiên
Ông Kiên từng giữ chức Phó chủ tịch HĐQT Ngân hàng Á Châu (ACB) và cương vị lãnh đạo của cả chục tổ chức tài chính, doanh nghiệp khác như: Chủ tịch HĐQT Công ty Thể thao ACB, Chủ tịch HĐQT Công ty Thiên Nam, Phó chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần dịch vụ Du lịch Chợ Lớn, Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng giám đốc Tập đoàn Tài chính Á Châu và là Phó chủ tịch Công ty cổ phần Bóng đá chuyên nghiệp Việt Nam, Chủ tịch Câu lạc bộ bóng đá Hà Nội...
Trong phiên tòa xử bầu Kiên ngày 16/4, vợ ông - bà Đặng Ngọc Lan cũng đến tham dự và thu hút được sự chú ý của báo giới.
Bà Đặng Ngọc Lan có hơn 17 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực tài chính, đã tham gia vào nhiều dự án phát triển và đầu tư quan trọng tại Ngân hàng Á Châu. Từ những kinh nghiệm được tích lũy trong quá trình công tác.
Bà đã góp phần cùng HĐQT trong việc xây dựng chiến lược phát triển của VIETBANK. Hiện nay, Bà là Phó ban Kiểm toán nội bộ, Ngân hàng Á Châu, thành viên HĐQT VIETBANK.
đại-gia, vợ-đẹp, bóng-hồng, Thủy-Tiên, Hà-Tăng, Ngọc-Lan, bầu-kiên, Nguyễn-Đức-Kiên
Bà Đặng Ngọc Lan đến phiên tòa sáng 16/4 xét xử chồng mình.
Năm 2012, Cơ quan điều tra Bộ Công an đã khởi tố bị can, bắt tạm giam đối với ông Nguyễn Đức Kiên để điều tra vụ án gây thiệt hại kinh tế lớn xảy ra tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Á Châu (Ngân hàng ACB) và một số đơn vị khác tại Hà Nội, TP HCM. Đồng thời ông cũng bị điều tra về tội Kinh doanh trái phép theo điều 159 Bộ Luật Hình sự.
Sau khi tiến hành điều tra, Bộ Công an quyết định khởi tố thêm ông Kiên về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Cố ý làm trái các quy định của nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng, trốn thuế. Bầu Kiên bị bắt là một tin tức gây chấn động dư luận lúc bấy giờ.
Bà Ngọc Lan luôn sát cánh bên cạnh chồng trong bất cứ hoàn cảnh nào. Có mặt tại phiên tòa xét xử chồng mình sáng ngày 16/4, bà Ngọc Lan ăn mặc khá giản dị, bà có mặt tại tòa từ khá sớm, lặng lẽ ngồi theo dõi diễn biến của phiên tòa.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Quân đội Mỹ đã bắn hạ máy bay MH370? Tin vit!


(TNO) Mỹ đã bắn hạ máy bay mất tích MH370 một cách vô tình hoặc cố ý, và bây giờ Mỹ muốn che đậy sự thật, theo một bài viết trên trang tin OpEdNews.com (Mỹ)
Một máy bay của hãng Malaysia Airlines - Ảnh: Reuters
Theo bài viết trên trang tin OpEdNews.com (Mỹ) ngày 18.4 của học giả, nhà dịch thuật Mỹ John Chuckman, Mỹ có hàng loạt vệ tinh do thám tân tiến chụp ảnh bề mặt trái đất mỗi ngày, nhưng Cục Tình báo Trung ương Mỹ (CIA) không muốn bất kỳ ai biết được khả năng thật sự của những vệ tinh này.

Ngoài ra, quân đội Mỹ cũng có những radar hiện đại nhất thế giới được đặt tại một căn cứ bí mật ở rạn san hô vòng Diego Garcia trên Ấn Độ Dương.

Ông Chuckman đặt nghi vấn, với hệ thống radar như vậy thì MH370 không tài nào bị điều khiển chuyển hướng để né được radar của Mỹ.

Máy bay Boeing 777-200 (MH370) của Malaysia Airline, chở 239 người, đã mất tích một cách bí ẩn kể từ ngày 8.3 sau khi cất cánh từ sân bay quốc tế Kuala Lumpur để đến thủ đô Bắc Kinh của Trung Quốc.

Chính quyền Malaysia tuyên bố MH370 đã bị điều khiển chuyển hướng sau khi biến mất khỏi màn hình radar, rồi rơi xuống nam Ấn Độ Dương, không ai trên máy bay sống sót, và tất cả thiết bị thông tin liên lạc máy bay với mặt đất đều bị tắt.

Nhưng đến nay vẫn chưa phát hiện được mảnh vỡ nào hay hộp đen của máy bay MH370.

“Tôi không cần biết máy bay MH370 bị không tặc hay phi công lái máy bay tự sát, nhưng máy bay không thể lọt qua được tai mắt tình báo quân sự Mỹ”, ông Chuckman cho biết.

Theo ông Chuckman, có khả năng quân đội Mỹ đã bắn hạ MH370 và đang cố che đậy sự thật.

Và thậm chí khi các mảnh vỡ máy bay MH370 nếu được tìm thấy dưới đáy đại dương, quân đội Mỹ cũng có thể tự tin rằng khó ai có thể tìm ra chứng cứ cho thấy Mỹ bắn hạ MH370, ông Chuckman nhận định.

Trước đó, Tiến sĩ Kevin Barrett, một học giả Mỹ nổi tiếng về thuyết âm mưu, cho biết ông tin rằng CIA biết chính xác chuyện đã xảy ra với máy bay mất tích MH370, nhưng che giấu sự thật.

Quân đội Mỹ từng bắn nhầm máy bay dân sự

Ông Chuckman cho rằng có ít nhất 4 vụ quân đội Mỹ bắn máy bay dân sự, và chỉ thừa nhận một vụ một cách gián tiếp.

Vào ngày 3.7.1988, máy bay Airbus A300 B2-203 (chuyến bay 655) của hãng hàng không Iran Air đã bị bắn hạ ở Ấn Độ Dương bởi tên lửa từ tàu tuần dương Mỹ USS Vincennes, khiến 290 người chết trong đó có 66 trẻ em, theo tờ The New York Times (Mỹ).

Vụ bắn hạ máy bay này xảy ra ngay trong không phận của Iran giữa lúc xảy ra chiến tranh Iran - Iraq.

Thuyền trưởng và thủy thủ đoàn USS Vincennes nhận diện nhầm máy bay Airbus A300 B2-203 (khi nó chuyển hướng) là chiến đấu cơ F-14 Tomcat đã phóng tên lửa bắn hạ máy bay này.

Mãi đến 8 năm sau, Mỹ và Iran mới đạt được thỏa thuận bí mật dàn xếp vụ việc này.

Mỹ chịu chi 61,8 triệu USD bồi thường cho gia đình các nạn nhân, nhưng không hề công khai xin lỗi hay nhận trách nhiệm.

Phúc Duy
(Thanh niên)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Ôi Tân Cương!


Lương Kháu Lão
xinjiang_466x262Tôi từng mơ có một lần đặt chân đến Tân Cương, nơi có những thành quách đền đài hoành tráng, nơi có những thảo nguyên bao la, những cánh đồng cỏ rộng tít tắp phía chân trời, nơi những người dân du mục chăn thả những đàn cừu đàn ngựa và cất cao tiếng hát ngợi ca quê hương tươi đẹp, nơi có những cô giái Duy Ngô Nhĩ có dáng người châu Á nhưng lại có đôi mắt đẹp sâu thẳm và huyền bí của người châu Âu, những cô gái mà ngày đã lâu lắm rồi, khi còn bé, tôi đã chen chân đi xem đoàn ca múa Duy Ngô Nhĩ sang Việt Nam biểu diễn và tôi còn nhớ mãi động tác lắc cổ điển hình của họ, những chiếc cổ trắng ngần lắc qua lắc lại mềm mại như không có xương.
Nhưng tôi chưa có dịp đến Tân Cương vì nghe nói nơi đó đang không yên ổn. Người dân tộc ở Tân Cương trong đó có người Duy Ngô Nhĩ bị người Hán đè nén áp bức đồng hóa từ đời này sang đời khác, đến đời cộng sản thì càng ngày càng khắc nghiệt và cuộc vùng dậy của họ cũng ngày càng mạnh mẽ. Những tin tức về những cuộc nổi dậy, những cuộc đàn áp chết nhiều người từ Tân Cương dội về làm cả thế giới lo ngại.
Ở đâu có áp bức ở đó có đấu tranh, ông tổ của chủ nghĩa Mác đã “dạy” như vậy và người dân Tân Cương đã thực hiện đúng như vậy và họ đã bị đàn áp và tàn sát dã man. Họ phải rời bỏ quê hương dắt díu nhau hàng ngàn cây số để tìm đất sống cho dù sự sống phải đổi bằng cái chết. Sự việc vừa xảy ra ở cửa khẩu Bắc Phong Sinh tỉnh Quảng Ninh (*) chỉ là một trong rất nhiều câu chuyện bi thương của dân tộc Duy Ngô Nhĩ, một dân tộc rất yêu tự do và phóng khoáng, một dân tộc rất hiền lành đã bị biến thành hung dữ và khi hết đường lui, họ chỉ có con đường tự sát. Khốn nạn thay! Một dân tộc đang bị xóa sổ bởi những người đồng loại cùng một Tổ quốc.
Ôi! Đã sang thế kỉ thứ 21 rồi mà sao con người còn đối xử với nhau như loài cầm thú vậy. Chúng ta hãy thử đặt địa vị của mình là một người Duy Ngô Nhĩ, mình sẽ sống ra sao khi bị khinh rẻ, bị ruồng bỏ, bị đàn áp, bị đánh đập, bị giết chết như giết một con chó. Hãy xem những tấm hình các xác chết đặt trên các xe ba gác ở cửa khẩu Bắc Phong Sinh trước khi bàn giao cho phía Trung Quốc thì thấy họ ăn mặc rách rưới đói khát đã bao ngày nay để lê được bước chân tha hương đến đất Việt Nam thì có thể hiểu được họ ở cuối con đường sống rồi. và nếu còn sống mà bị trả về Trung Quốc họ sẽ bị tra tấn cho đến chết vì thế có thể giải thích vì sao họ sẵn sàng tự sát sau khi manh động không thành.
Vấn đề sắc tộc luôn là vấn đề nóng của thế giới. Chủ nghĩa khủng bố cực đoan đang làm đau đầu các nhà cầm quyền từ Mỹ, Nga đến Trung Quốc. Chủ nghĩa li khai đang là những thùng thuốc súng luôn sẵn sàng bùng nổ ở khắp nơi trên hành tinh này. Đức chúa Jesu, Đức Phật Thích Ca Mầu Ni, Thánh A La đều dăn dạy con người điều thiện, sống trong vòng tay thương yêu của đấng tối cao nhưng sao con người luôn lấy đạo giáo làm vũ khí để giết nhau. Từ hàng ngàn năm nay đã thế và hôm nay vẫn thế.

Bài viết thể hiện văn phong và quan điểm riêng của tác giả

(*)   “…Đành rằng, vẫn biết Hà Nội và Bắc Kinh là hai nhà nước có thể “chia sẻ” với nhau cách đối xử với những người bất đồng với chính quyền. Đành rằng, tiêu diệt một nhóm người có vũ trang thì không ai trách cứ được mình. Nhưng, nếu 16 người vượt biên (có 4 phụ nữ và 2 trẻ em) này không bị đối xử quá lạnh lùng thì người Việt đã không phải đổ máu và bàn tay người Việt đã không phải dính máu người Duy Ngô Nhĩ.”  (Bình luận của nhà báo Huy Đức về vụ xả súng tại cửa khẩu Bắc Phong Sinh – Quảng Ninh ngày 18/4/2014)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

La Viện: 10 bước để Trung Quốc chiếm bãi Cỏ Mây


HỒNG THỦY
Inquirer ngày 3/4 đưa tin, hôm 1/4 Tân Hoa Xã đăng bài phân tích của La Viện, một học giả mang lon Thiếu tướng quân đội Trung Quốc nghỉ hưu, người tự nhận mình là "diều hâu" đã đưa ra kiến nghị cho giới chức Bắc Kinh 10 bước thực hiện chiếm bãi Cỏ Mây (trong quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam, cả Trung Quốc, Philippines và Đài Loan đều yêu sách "chủ quyền").
Vẫn với giọng diều hâu, hiếu chiến và hoang tưởng quen thuộc, La Viện đang cố tình khuấy căng thẳng trong dư luận về Biển Đông để lấp liếm cho các hành động leo thang của Trung Quốc ngoài thực địa khi đưa ra cái gọi là 10 kiến nghị.
Thứ nhất, La Viện đề nghị Bắc Kinh lập tức công bố cái gọi là bản ghi nhớ Philippines đề nghị (cho) đánh chìm chiến hạm cũ của Mỹ tại bãi Cỏ Mây để Bắc Kinh chiếm lợi thế về pháp lý và dư luận.
Thứ 2, Bắc Kinh cần tuyên bố thời hạn tàu Philippines lánh nạn ở bãi Cỏ Mây đã hết, Manila cần nhanh chóng dọn xác chiếc tàu cũ này. Nếu không làm được, Bắc Kinh sẽ "làm giúp" với điều kiện Manila chi tiền. Nếu Philippines không chịu rút, Trung Quốc sẽ áp dụng các biện pháp cưỡng chế (Philippines có thể phát huy "trí tưởng tượng" của họ, ông Viện chú thích).
Thứ 3, La Viện xúi giới chức Bắc Kinh đòi Philippines...trả phí sử dụng bãi Cỏ Mây từ 1999 đến nay, trên cơ sở đó để gây sức ép với Philippines về mặt ngoại giao và dư luận?!
Thứ 4, tiếp tục nhắc lại cái gọi là yêu sách chủ quyền (phi lý, bất hợp pháp) của Trung Quốc với toàn bộ quần đảo Trường Sa, lấy bãi Cỏ Mây làm tâm vạch đường tròn bán kính 12 hải lý và dùng mực đỏ khoanh lên bản đồ để... đánh dấu lãnh thổ, cấm tàu thuyền các nước vào khu vực này?!
Thứ 5, tuyên bố cái gọi là (quy tắc) an ninh hàng không - hàng hải trên Biển Đông, xây dựng trạm quan trắc và điểm cứ hộ hàng không (bất hợp pháp) trên bãi Cỏ Mây.
Thứ 6, sau nhiều lần thông báo ngoại giao không hiệu quả, Bắc Kinh có thể tuyên bố hành động quân sự ngoài bãi Cỏ Mây, báo trước cho Philippines nếu không dọn khỏi khu vực này sẽ phải tự lãnh hậu quả?!
Thứ 7, La Viện tuyên bố nếu Philippines còn "gây sự" ở bãi Cỏ Mây, Trung Quốc sẽ không những tìm cách chiếm quyền kiểm soát bãi Cỏ Mây mà còn đánh chiếm các đảo khác ở Trường Sa hiện Philippines đang đóng giữ.
Thứ 8, các đại sứ quán Trung Quốc ở nước ngoài cần tổ chức họp báo về Biển Đông công bố toàn bộ bản đồ của Philippines từ trước đến nay cũng như các văn bản luật của quốc gia này về Biển Đông.
Thứ 9, Trung Quốc cũng sẽ đưa các phóng viên ra bãi Cỏ Mây để thu thập cái gọi là "chứng cứ phá hoại DOC của Philippines".
Thứ 10, tiến hành chào thầu khai thác tài nguyên (bất hợp pháp) ngoài bãi Cỏ Mây và các vùng phụ cận trên nguyên tắc "chủ quyền thuộc Trung Quốc" hoặc bắt tay với Đài Loan. Nếu Philippines muốn dự thầu, điều kiện phù hợp Bắc Kinh sẽ xem xét?!
Kết thúc cái gọi là 10 kiến nghị, La Viện dẫn lời Tập Cận Bình phát biểu về Biển Đông trong chuyến công du châu Âu vừa qua: Trung Quốc không sinh sự, cũng không sợ sự sinh. Ông Viện cao giọng, một khi Philippines đã gây sự rồi thì hãy để họ gánh hậu quả?!



Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chủ Nhật, 20 tháng 4, 2014

Tệ nạn hay mắc và thường xảy ra, nhất là các hội địa phương ( Đầu đề do CN đặt )

Trần Đình Sử
Tran Dinh Su
GS TS Trần Đình Sử
Bài tham luận về “bi kịch đọc không vỡ chữ” của PGS. TS Nguyễn Thị Minh Thái đọc tại hội nghị lí luận phê bình văn học Tam Đảo 2013 nêu lên một vấn đề thú vị, gây đươc chú ý từ mấy chữ “đọc không vỡ chữ” do chị nêu ra. Cả bài viết có khi chỉ gây ấn tượng do một chữ mới lạ. Viết đến đây, tôi lại vừa đọc bài của nhà văn Hồ Anh Thái, nói về một Minh Thái “tung tăng như cá tươi”, tự nhiên tôi cũng dành cho tác giả nữ nhiều thiện cảm. Trong bài này chị cũng “tung tăng như cá tươi” cho nên hấp dẫn. Câu chuyện “đọc không vỡ chữ” mà chị nêu ra quả thật là một vấn đề hệ trọng, vì vậy, nhân cơ hội này tôi xin bàn rộng thêm về vấn đề đọc hiểu nói chung.
Đọc không vỡ chữ theo tôi có nghĩa là đọc mà không hiểu nghĩa chữ, không hiểu ý nghĩa của văn bản, dẫn đến đọc sai. Làm phê bình mà đọc không hiểu nghĩa chữ, không hiểu văn bản thì khó bàn luận quá. Còn biết nói gì nữa. Tuy nhiên, văn chương là cái đa nghĩa, mà người đọc cũng đa đoan, nhiều góc độ, cho nên câu chuyện “đọc không vỡ chữ” chẳng hề giản đơn chút nào, chỉ nói qua như Minh Thái, coi như là đương nhiên, thì chưa làm sáng tỏ vấn đề được mấy.
Trường hợp đọc mà không hiểu, do lỗ hổng kiến thức nên “đọc không vỡ chữ”. Lấy ví dụ như gần đây một giáo sư Đại học Bắc Kinh tên là Vu Đan, bà này mấy lần đăng đàn lên diễn đàn học giả (“Bách gia giảng đàm” của TV trung ương TQ) giảng về Trang Tử, Khổng Tử. Bà này đã cố thông tục hóa các học thuyết cao xa, khiến người xem bình dân dễ hiểu, thích thú. Nhưng khi giảng đến câu “phụ nhân và tiểu nhân nan hóa”, tức là phụ nữ và bọn tiểu nhân là khó dạy, bà gỉảng hai chữ “tiểu nhân” là trẻ con, rõ ràng là đọc không vỡ chữ, gây phản ứng rất mạnh trong giới học thuật. Tôi nghĩ ngay người Việt Nam cũng biết “tiểu nhân” không phải là trẻ em, vậy mà một “giáo sư” đại học Trung Quốc lại đọc sai được. Hỏi ra bà chỉ là giáo sư truyền thông, tham gia lập chương trình cho nhiều đài truyền hình, còn trình độ văn học thì chỉ là thạc sĩ, chưa nói gì đến triết học. Một trường hợp khác, người ta truyền cho nhau biết, một học giả bậc thầy, khi giảng chuyên đề có chữ “kê tử” có nghĩa là “cái trứng gà”, thì ông lại giảng là “con gà con”. Trường hợp này theo tôi có thể là vô ý, sơ suất mà giảng nhầm, có lẽ không nên coi là không vỡ chữ. Nói chung trong dịch thuật, dịch nhầm, dịch sai, dịch không thoát là hiện tượng khá phổ biến. Các trường hợp này, có người dọn vườn cho là rất quý. Tôi thấy ông An Chi làm rất tốt việc này.
Trường hợp thứ hai, trong văn học có chữ đọc mãi không vỡ, ví như câu thơ “Hai tay chín móng bám vào đời” của Xuân Diệu. Nhiều anh tài của ta đã tham gia bàn luận, mà chưa thấy ngã ngũ. Trường hợp “Đầu súng trăng treo” của Chính Hữu cũng vậy, dù nhà thơ đã có giải thích, mà người đọc vẫn thấy gượng ép. Văn chương có những chữ không chịu vỡ, người đọc tùy cơ mà suy. Nói chung đọc văn học là thường “đọc nhầm”. Một mặt, văn học có tính đa nghĩa, nghĩa của nó vốn không xác định, mã biểu đạt của nhà văn và mã đọc hiểu của người đọc không trùng nhau, ngữ cảnh lúc sáng tác và ngữ cảnh lúc đọc không giống nhau, cho nên, đọc bao giờ cũng lệch, hoặc nói cách khác là vỡ một phương diện, còn các nghĩa khác thì chưa vỡ. Trường hợp này nếu nói là bi kịch thì là bi kịch của giao tiếp, không của riêng ai.
Trường hợp thứ ba “đọc không vỡ chữ” như truyện Cánh đồng bất tận mà chị Minh Thái đưa ra, theo tôi là đã đọc vỡ chữ rồi, nhưng lại theo lối cũ. Cứ theo lí thuyết điển hình được dạy trong các trường đại học mấy năm trước, đặc biệt là những năm sau giải phóng mìền Nam, thì đọc như thế chẳng có gì là không vỡ chữ cả. Nhân vật người Nam Bộ, không gian đồng bằng Nam Bộ, vậy thì người ta có quyền đòi hỏi tác phẩm phải viết cho điển hình đối với người Nam Bộ. Mà như thế thì chỉ được viết cho tốt đẹp. Hình tượng phải phụ thuộc vào hiện thực trực tiếp. Còn nếu theo lí thuyết biểu tượng, mỗi nhân vật là một biểu tượng, mang nội dung ý nghĩa mà tác giả muốn khái quát, thì vấn đề lại khác. Như thế là do sự lạc hậu của lí thuyết gây nên. Trước đó, khi các truyện ngắn của Nhà văn Nguyễn Minh Châu mới viết ra, như Bức tranh, Ngưòi đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Bến quê, Một lần đối chứng, Cơn dông, Khách ở quê ra… Lúc đó nhà văn Hà Xuân Trường “đọc không vỡ”. Ông nói, Nguyễn Minh Châu nhiều ưu tư quá, chỉ mới chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa có một nửa. Có người chê nhân vật của Nguyễn Minh Châu không điển hình, bởi vì “dị biệt” quá. Sau đó có người chỉ ra nhân vật Nguyễn Minh Châu viết về các trường hợp nghịch lí, phi lí, khác với lối nhận thức theo quy luật của văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa, lúc đó sáng tác của ông mới được hiểu đúng. Thêm một ví dụ nữa. Nhà giáo Nguyễn Lộc, một học giả uyên bác, giải thích câu thơ “Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái” của Nguyễn Khuyến là mấy chùm hoa khô năm ngoái còn sót lại trên cây mà nhà thơ Trần Mạnh Hảo la lối lên. Chỗ này anh Hảo nói đúng, nhưng cũng hiểu cho, lỗi này không do một mình giáo sư Nguyễn Lộc phạm. Đọc như thế là do ông quá tin vào lí thuyết chủ nghĩa hiện thực ngây thơ, cho rằng văn học chỉ phản ánh cái gì có thực, không hề quan tâm tới nghĩa bóng. Nếu không thì giải thích hoa năm ngoái bằng cách nào? Phải chê nó là không hiện thực. Như thế thì trái với nhu cầu đề cao nhà thơ. Rõ ràng đọc không vỡ chữ không phải vì nhà phê bình dốt nát, kém cỏi, mà là do kiến thức lí luận một thời thiếu cập nhật. Chỉ nói “đọc không vỡ chữ” chung chung mà không phân tích cụ thể thì không biết giải quyết theo phương hướng nào. Theo cách phân tích của tôi thì phương hướng giải quyết vấn đề là đổi mới lí luận. Rất nhiều lí luận cũ đến nay vẫn tồn tại đương nhiên, hạn chế tầm hiểu biết của nhà phê bình, khiến họ có khi lúng túng trước các tác phẩm, nhất là tác phẩm viết theo cách mới; cũng có khi không lúng túng chút nào mà rất tự tin phán xét. Đây cũng là bi kịch, nhưng không phải vì không vỡ chữ.
Trường hợp thứ tư là đọc vội, đọc nhầm theo lối “ăn nhanh”, “mì ăn liền”, đây là chuyện thường gặp như cơm bữa. Ví dụ như khi tường thuật về các ý kiến đối với phê bình văn học, có nhà văn nêu: “Trần Đình Sử bổ sung thêm rằng, với các khuynh hướng phi sử thi hóa, thế sự hóa và đời tư hóaphê bình văn học Việt Nam đã góp phần “giải thiêng”, “giải huyền thoại”, “biểu hiện chấn thương tinh thần”, và do vậy “có cái chung với khuynh hướng văn học thuộc các nước XHCN trước đây sau cơn biến động lớn”. Thực ra ý kiến của tôi trong đoạn ấy không nói về khuynh hướng phê bình, mà nói về các khuynh hướng trong bản thân văn học: “Văn học sau 1975 có khuynh hướng phi sử thi hóa, thế sự hóa và đời tư hóa. Cách phân biệt khuynh hướng ấy vẫn còn được vận dụng, gắn với quan niệm về sự giải thiêng, giải huyền thoại, khuynh hướng thế tục hóa văn học, khuynh hướng biểu hiện chấn thương tinh thần. Các khuynh hướng ấy có cái chung với khuynh hướng văn học thuộc các nước xã hội chủ nghĩa trước đây sau một cơn biến động lớn.” Từ khuynh hướng văn học đến khuynh hướng phê bình khác nhau lắm chứ, đó là đọc vội viết vội cho nên nhầm, không phải là không vỡ chữ. Nhiều trường hợp khác khi người phê bình muốn đẩy đối tượng bị phê bình vào chỗ bí, đã cắt xén, biến đổi ý nguyên tác để mưu lợi cho mình. Trường hợp này người viết cũng không nhầm, không phải đọc không vỡ chữ.
Trường hợp thứ năm, là đọc do định kiến ý thức hệ. Người phê bình có nhu cầu phê phán các học thuyết, tư tưởng tư sản phản động, cho nên, chỉ khai thác những chỗ có thể phê phán. Đó là cách đọc của giáo sư Hoàng Xuân Nhị trong cuốn Phê phán chủ nghĩa xét lại hiện đại trong văn nghệ. Đó là cách đọc của Hồng Chương đối với tác phẩm Vào đời của Hà Minh Tuân, hay cách đọc của Nguyễn Khải đối với tác phẩm Sắp cưới của Vũ Bão. Gần đây, có một PGS , một học giả có tên tuổi, nhưng do nhu cầu phê phán chủ nghĩa hình thức, đã đọc nhầm tác phẩm S/Z của Roland Barthes, biến một viện sĩ hàn lâm Pháp nổi tiếng thành một kẻ làm điều vô nghĩa, vớ vẩn, nhảm nhí. Một thời gian rất dài, do ngự trị quan điểm văn học phản ánh lập trường giai cấp, trong sách giáo khoa, khi giảng đến bài Cô bé bán diêm của nhà văn Andersen, phần lớn giáo viên đều coi đây là tác phẩm tố cáo tội ác của xã hội tư sản bất công, lấy đó để giáo dục học sinh biết ơn chế độ mới, xã hội chủ nghĩa đã xóa bỏ đối lập giàu nghèo. Đây nói chuyện mấy chục năm trước, bây giờ phân hóa giàu nghèo ở Việt Nam đã quá trời rồi. Đọc như thế tất nhiên là không phù hợp với nội dung tư tưởng của thiên đồng thoại của Andersen, ngược lại làm nghèo tư tưởng nhân văn của tác giả. Trường hợp này không phải là không vỡ chữ, mà chỉ do định kiến.
Ở Trung Quốc một thời người ta đề cao nhà văn Kim Dung lên cao chót vót, ở đâu cũng bàn về Kim Dung, chỉ mong ước sao đại lục có được một nhà văn như Kim Dung. Bây giờ thì hạ tông xuống rồi. Cũng vậy người ta thần thánh hóa ông Tiền Chung Thư, một nhà nghiên cứu bậc thầy thực sự, nhưng không phải thánh thần. Nay cũng hạ tông xuống rồi. Lỗ Tấn lúc sinh thời có câu nói nổi tiếng: “Một vĩ nhân sau khi chết sẽ trở thành con bù nhìn”. Lỗ Tấn sau khi chết cũng thế, ai cũng lợi dụng Lỗ Tấn, biến ông thành bù nhìn, lấy ông làm cái khiên che đỡ cho mình, thế là nảy sinh vô vàn “đọc nhầm”. Ông được coi là ngọn cờ văn hóa, tuyệt đối đúng đắn, tuyệt đối kiên định, tuyệt đối không dao động và giàu tính chiến đấu. Sau cách mạng văn hóa, giới trí thức Trung Quốc coi Lỗ Tấn là biểu tượng của sự hoài nghi, đề cao tinh thần hoài nghi của ông. Một số khác xem Lỗ Tấn là biểu tượng của niềm lo âu trăn trở của giới trí thức trước thời cuộc. Lỗ Tấn là một tâm hồn đau khổ nhất của nước Trung Quốc. Xem ra ai cũng đọc nhầm Lỗ Tấn cả.
Trường hợp thứ sáu là do tâm lí. Ông Harold Bloom trong sách Bản đồ đọc nhầm cho rằng những người đi sau (nhà thơ, nhà phê bình…) bao giờ cũng cảm thấy bị người đi trước án ngữ, cản đường, cho nên tìm mọi cách để xuyên tạc, hạ bệ người đi trước để tìm không gian thông thoáng cho mình, do đó mà đọc nhầm, đọc sai là một nhu cầu tâm lí của họ. Đặc biệt là trong tranh luận, khi hai bên đã dựng thành chiến lũy, bên nào cũng cốt bảo vệ ý kiến đúng của mình, tìm cách khai thác sơ hở, thậm chí bịa ra chỗ sai của đối phương nhằm lừa dối dư luận, lúc đó thì đọc nhầm, đọc không vỡ chữ là quy luật. Nói chung đã theo lối đó thì không sao vỡ được chữ của nhau cả. Đó mới là bi kịch đích thực.
Từ các phân tích trên tôi cho rằng nói “bi kịch đọc không vỡ chữ” mà chị Minh Thái nêu lên là một vấn đề thú vị. Tuy nhiên nó chỉ trúng trong một số trường hợp, còn phần nhiều là không đúng, bởi phần nhiều là “đọc nhầm”, như là một quy luật chung của đời sống văn học với rất nghiều nguyên nhân khác nhau. Theo H. Gadamer mọi người đọc đều có thiên kiến, dự kiến ban đầu, dó đó mọi sự hiểu đều là dung hợp tầm nhìn, nghĩa là một cách hiểu khác với nguyên tác, lúc đó trong tôi có anh, trong anh có tôi, không phân biệt rạch ròi được. Mọi sự đọc thế nào cũng có sai lệch. Trong khi đọc có sự đối thoại dự kiến, thiên kiến với văn bản để đạt tới dung hòa. Người trước đọc nhầm, người sau nắn lại, đối thoại lại, đi đến hiểu nhau hơn. Khi cả xã hội biết đọc văn học, biết đối thoại thì không sợ ai bị đọc nhầm. Đọc nhầm còn là cách tạo nghĩa mới cho văn học, nếu nghĩa ấy không có giá trị gì thì xã hội sẽ quên đi, nếu sự đọc ấy có giá trị thì sẽ được lưu giữ, được đối thoại.
Trong sáu trường hợp mà tôi nêu trên, một trường hợp là đọc không vỡ chữ thật, tức đọc sai, đọc không ra, trách nhiệm thuộc về cá nhân người đọc. Trường hợp thứ hai là không thể đọc vỡ vì gắn với một đặc trưng văn học. Còn lại bốn trường hợp là đọc nhầm. Một là đọc nhầm do lí luận cũ; hai là đọc nhầm do vội vàng; ba là đọc nhầm do ý thức hệ; bốn là đọc nhầm do tâm lí “đố kị”. Dù đọc sai hay đọc nhầm đều ít nhiều có ý vị bi kịch, vì thế mong mọi người đọc nên cẩn thận như nơi củi lửa, tăng cường đối thoại để xích lại gần nhau hơn.
Hà Nội, tháng 7 năm 2013.

Phần nhận xét hiển thị trên trang