Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Bảy, 19 tháng 4, 2014

Dùng quyền bá đạo để hành đạo "Quy kết úp sọt"- Bạn đọc thử xem mấy chuyện này có gì sai không? Mà mấy nhà văn nhớn bảo sai, có vấn đề:

Truyện thứ nhất   A
25/8/ 013       


Mình ghét nhất là lặp lại, dù bất cứ là chuyện gì. Thế nên lần này, chuyến đi Tây Bắc, mình chọn con đường theo hướng khác. Không theo hành trình các lần trước: Hà Nội, Hòa Bình, Mai Châu..
 Ông Trần và ông Triệu lúc đầu có vẻ còn lưỡng lự, sau rồi một phần do ngại sự lúng túng khi về Hà thành nhốn nháo không quen, một phần chưa từng đến điểm tập kết, chưa biết đường đi thế nào, cũng đồng tình. Ba người sẽ qua ngả Thu Cúc, Minh Đài, ngang qua vườn quốc gia Xuân Sơn sang Phù Yên, Bắc yên.. Đỗ ở ngã ba Kò Nòi, rồi lộn xuống Châu Mộc.
Ai đã từng qua đây hẳn biết đó là con đường hiểm trở, khó đi. Phải men theo đèo Lũng Lô quanh năm mây mù che phủ. Kể cả khi tiết trời đã vào mùa hanh khô,  đỉnh đèo vẫn lãng đãng cơn mưa.
Không thể không nhắc mấy chục cây số quanh co đường lò xo vượt đèo Chẹn. Mấy mươi năm trước thổ phỉ, tặc khấu thường rình rập,  cướp của giết người hay xảy ra, an ninh cực kỳ không đảm bảo.
Cũng là con đường bọn maphia, ma túy, buôn gỗ lậu thường hay qua lại. Khu “tam giác đen”: Nghĩa Lộ, Yên Bái, Sơn La một thủa chính là chỗ này.
Con Đèo này còn có tên nữa gọi là đèo “Đẹn”. Người xưa kinh nghiệm rằng đàn bà con gái qua đây khó sinh nở. Đẻ con hay bị đẹn. Thai nhi khó giữ, có sinh ra hay bị “đẹn”chưa chắc đã nuôi được.  
Đường đi hàng chục cây số vẫn thưa thớt bóng người. Chỉ nhìn thấy xa xa trên sườn núi đá lờ mờ vài nóc “nhà chuồng” của người Khơ Mú, người Mông. Rất hiếm khi thấy những ngôi nhà sàn của bản người Thái đông vui, sung túc.
Vẫn là rừng đại ngàn, nhiều loại gỗ quý. Chim chóc thú rừng nhiều vô kể. Không hiếm và khó tìm. Thợ săn thỉnh thoảng vẫn bắn được hươu nai, hổ báo. Cao hổ bán còn rẻ hơn cao xương ngựa bây giờ. Còn phong lan rừng có chỗ chờm ra cả lối đi, chỉ cần ngồi trong xe, thò tay ra là  với được. Lại muôn màu muôn vẻ, “hồ điệp”, “thạch thảo”, “đuôi chồn” bảo là lan quý so với nhiều chủng loại hồi ấy chả là cái chất quái gì!
Mình có một kỷ niệm buồn mấy chục năm trước, một nghi án không hồi phân giải, một lần qua đây. Chuyến xe đặc cách xuyên qua rừng âm u vắng bóng con người. Lúc đó tâm sự vừa hoang mang vừa buồn,chẳng để ý mấy cảnh vật xung quanh. Lại lâu ngày chỉ nhớ loáng thoáng. Không có nhiều ấn tượng để so sánh. Nhưng rõ ràng cảnh vật đổi khác rất nhiều.
Không cần nhìn, nhắm mắt lại cũng biết. Tiếng xe. Tiếng phố thị. Cả tiếng hàng rong rao bán trên đường.
Mở mắt ra lại càng ngỡ ngàng. Rừng đại ngàn năm xưa hầu như hoàn toàn biến mất. Họa chăng chỉ còn sót lại vài ba đám ở những nơi chênh vênh hiểm trở, người ta không thể khai thác. Hai bên đường bạt ngàn nương ngô, bẹ đã chuyển màu vàng. Ngô miên man, tít tắp. làm như chỉ toàn ngô là ngô dưới gầm trời, lên mãi tới đỉnh non cao. Áp lực dân số tăng cao lấn át rừng.
Đã có nhiều dự án “tái cấu trúc, bảo vệ rừng” vẫn chưa thành hiện thực. Những vạt rừng trồng xem ra có vẻ ngơ ngác, lạc điệu chưa ăn nhịp với núi rừng cũ của miền tây. Người ta kể đã có đợt nhà nước phải dùng đến máy bay trực thăng rải hạt giống cây, mong phục hồi rừng vô cùng tốn kém, mà hậu quả kể như con số không.
Có một ẩn số chung cho toàn xứ sở cần giải đáp.  Đó là dân trí, dân sinh cho người dân sống dựa vào rừng. Chừng nào bài toán này chưa được giải, công cuộc tái thiết rừng bảo vệ rừng vẫn còn nan giải. Đời sống người dân còn khó khăn, người dân chưa hiểu rõ, hiểu đúng giá trị của rừng với môi trường, sinh thái, chừng đấy rừng vẫn còn lâm nguy! Muốn giữ được rừng, tái cấu trúc lại rừng, ngoài việc tuyên truyền ý thức bảo vệ rừng ra, việc trước tiên là cái ăn cái mặc cho đồng bào các dân tộc. Hợp với tập quán, phong tục của họ.
Chưa bao giờ ở Việt Nam lực lượng Kiểm Lâm mục đích là nhằm bảo vệ rừng, kiểm soát và ngăn chặn nạn phá rừng được chính quy, trang bị đầy đủ như hiện nay. Hầu hết các địa bàn có rừng đều có trạm kiểm soát. Cả một hệ thống đồ sộ từ dưới lên cao, chuẩn mực và bài bản, tiêu tốn ngân sách nhà nước số tiền thuế của dân đóng góp không nhỏ. Vậy mà rừng mỗi ngày mỗi cạn kiệt, tiêu hao dần mòn. Còn chưa kể đến việc tiếp tay, bao che, chống lưng cho các việc làm sai trái của lực lượng này cho lâm tặc. Nói hết sẽ là câu chuyện buồn, khiến người ta bi quan. Nhưng cũng không thể bỏ qua, quay mặt nhìn ra chỗ khác, lẩn tránh hiện thực.
Cần có cái nhìn tỉnh táo, khách quan của người thầy thuốc. Đừng sợ đắng, sợ đau, người bệnh mới mong khỏi bệnh.
Người ta không chuẩn bị từ cái gốc, nặng lo phần ngọn. Đừng đổ tất cả lỗi lầm của “mặt trái kinh tế thị trường”, ý thức của người dân. Căn nguyên sâu xa nhất vẫn là bát cơm, manh áo, sự học của dân mà ra. “Đói thì đầu gối phải bò” Câu ngạn ngữ này cho đến thời điểm hiện nay vẫn giữ nguyên giá trị. Nhà nước có cấm đoán thế nào chăng nữa, người dân vẫn phải lo cái ăn cái mặc hàng ngày. Vẫn đốt rừng làm nương. Vẫn khai thác gỗ trái phép để lo cho con ăn học, chạy theo tiện nghi của lối sống đề cao vật chất đang là cơn sốt li bì bao trùm đời sống cộng đồng.
Chưa kể đến đám “đại gia bạch tuộc” bòn rút tài nguyên rừng mà ở tỉnh nào cũng có. Đây mới là tác nhân ghê gớm nhất, “ác tinh” nặng nề, khốn nạn nhất của rừng.
Phải tính đến chuyện giúp người ta xóa đói giảm nghèo bắt đầu bằng cách nào? Từ những việc cụ thể như thế nào? Thực ra chuyện này chỉ như thò tay vào túi áo với sự quan tâm của toàn xã hội. Nếu nó không phải từ trên trời rơi xuống, mà từ những nhu cầu bé nhỏ, thiết thực.

Mình có anh bạn quê Trạm Tấu kể cho nghe công cuộc xóa đói giảm nghèo ở quê anh. Nhà nước cấp không cho dân làng mỗi nhà một cái ti vi. Mỗi xóm một máy xay  xát giã gạo. Có nơi đầu tư cả thiết bị chạy năng lượng mặt trời!
Chuyện không thể tin được: Ti vi dân mang về vất ở góc nhà vì không có nguồn điện. Máy xát gạo chạy được đôi ba lần, bị “e” dầu không có thợ biết sửa, lại đắp chiếu bỏ đấy, người ta lại giã gạo bằng tay. Còn thiết bị năng lượng mặt trời vẫn nguyên đai, nguyên kiện như khi mới chuyển về.Thậm chí hòm bao bì đã mục nát mà chưa  có “tí điện” nào!
Lại nữa, chuyện trẻ con đi học đúng là câu chuyện “bây giờ mới kể”! Con cái đi học bố mẹ hàng tháng đến ủy ban nhân dân xã lãnh tiền, như kiểu lãnh “lương học” mà con trẻ vẫn bỏ học không chịu đến trường vì đường xá đi lại khó khăn, trường lớp sơ sài, nắng thì nóng, mưa thì dột. Nhớ nhà, nhớ cha mẹ, thiếu người làm là hiện tượng, là nỗi khổ phổ biến của con trẻ vùng cao!
Mình tin là bạn nói thật. Khi anh bảo: “Ngoài thị trấn không nói. Làng người H’Mông hầu như làng nào cũng buồn, cũng vắng. Con trai ngoài ba mươi tuổi đã lọ khọ như ông cụ vì nghiện từ ngày trước, uống rượu “thì” bây giờ. Có khách đến nhà, cứ cho chồng nó “ăn rượu”, muốn ngủ với vợ nó cũng được. Nó yếu, “bất lực” từ lâu rồi, có làm gì được đâu mà giữ?
Đàn bà người H’Mông xưa có tiếng là thương chồng, thủy chung nhất mực, mà bây giờ nhiều vợ chồng không ở với nhau được trọn đời, trọn kiếp. Con gái mới mười ba, mười bốn tuổi đã bỏ nhà đi đâu không biết?
Vận động giải thích mãi cũng thế thôi!” ! Đúng là “Chảy máu chất gái” ở vùng cao đã trở thành vấn nạn. Mình nghĩ mà buồn cho câu chuyện của bạn, mặc dù khi kể anh vẫn hồn nhiền cười nói như chẳng có chuyện gì!
Người H’Mông ngày trước sống nhờ trồng và buôn bán cây thuốc phiện. Nhà nước cấm là chuyện đương nhiên và nhất thiết phải làm. Nhưng chuyển đổi thói quen này bằng canh tác trồng cây khác, xem ra còn lắm vấn đề.
Liệu có cần và nên bắt đầu từ con đường  đi, ánh sáng điện, trang sách học, bát cơm ăn, viên thuốc uống khi có bệnh hàng ngày?
     Những thứ mà ở thế kỷ hai mươi mốt này, không nói các nước văn minh hiện đại nữa, ngay Việt Nam mình, đâu  có còn là việc quá khó khăn??

**
..Chiều hôm trước ba anh em được đãi cơm một nhà hàng mới mở, trên con phố mình mới đến đây lần đầu. Ông nhà văn già từng qua ngành an ninh chả hiểu sao lại chọn nhà hàng này? Quán có tên rất lạ : “Mạnh Hoạch quán – Gà sạch”?
Chủ quán là một doanh nhân trẻ, có công ty “ẩm thực” liên tỉnh. Ở tỉnh nào cũng biển hiệu đề tên như thế cả.
Giới trẻ bây giờ giỏi làm ăn, ít đọc sách chăng?
Sau này mình mới biết ý nghĩ này của mình là một sai lầm.
Lúc vào mâm anh chàng thay mặt chủ quán đến chúc rượu. Nhân tiện mình hỏi y về chuyện này.
Chàng ta kể vanh vách “Mạnh Hoạch” là ai, từng bảy lần bị Gia Cát Lượng bắt rồi lại tha, cuối cùng mới chịu quy thuận Lưu Bị thời Tam Quốc như thế nào? Hóa ra anh chàng cố ý đặt tên nhà hàng như vậy, chả hiểu có dụng ý gì? Hay là muốn học tập nghĩa cử phục quốc của Việt Vương Câu Tiễn thời Chiến quốc xuân thu. Nếm mật nằm gai, nếm cả cứt miễn rằng được việc? Hay dở đã nhiều người bàn. Chẳng nên “tham” luận làm chi cho thêm mệt, phải không bạn?
Lại còn cái tên đường, tên phố cũng còn lắm vấn đề. Đây là con đường mới mở từ ngày cơi nới thị xã bé nhỏ này lên thành phố rộng rãi như ngày hôm nay.
Đã có Lê Lợi 1 rồi, lại Lê Lợi 2, Lê Lợi 3? Chả nhẽ không còn tên nào nữa sao, hay tiện đâu đặt đấy?
Vinh danh người anh hùng dân tộc đánh đuổi giặc Minh cứu nước rất là nên làm. Không có nghĩa cứ “tiệm tiến” đặt tên như thế. Nó thành ra mất hay, thêm khó quản lý hành chính địa dư. Vừa khô khan vừa khó hiểu!
Lúc ngồi trên xe mình đem thắc mắc này hỏi ông Trần. Ông vốn là nhà giáo dạy sử, cổ kim đông tây làu làu. Lịch sử nước Nga, nước Mỹ, nước Trung Quốc qua các thời đại như thế nào, ông rõ như lòng bàn tay.. vậy mà ông cũng chịu chết, không hiểu ý tứ cái “dị danh” ấy ý tứ ra làm sao, vì sao mà có?
Thiếu gì tên danh nhân, anh hùng dân tộc, tên địa danh, lại lấy cái tên quái gở của thủ lĩnh “Nam man”, từng cai quản một vùng suốt tỉnh Vân Nam, Quảng Tây Trung quốc bây giờ để đặt tên cho một nhà hàng mới khai sinh?
Sao không đặt tên cho con đường mới, con phố mới này là “Lan Khai”? “Nhà văn đường rừng”  sinh ra ở đây, gắn bó với quê hương mình, có những đóng góp đáng kể cho văn hóa, văn học nước nhà?
Ông giáo kiêm nhà văn lảng sang chuyện khác. Nhân nhìn thấy góc núi sạt lở một đống đất đá choán ngang đường, ông nói:
 “Mô hình Trung Quốc không phải cái nào cũng hay cả. Thậm chí nếu áp dụng ở ta có cái sẽ có tác dụng rất tai hại. Nhưng riêng kinh nghiệm làm đường miền núi của họ rất hay. Không hiểu ở ta sao chưa có ai nghiên cứu, áp dụng thử?” Mình hỏi ra làm sao? Ông rằng: “Người ta bây giờ không xẻ núi mở đường như ngày trước. Phàm là đường rừng, cứ “kẻ chỉ”, bắc “cầu cạn”, vượt mà đi, kiểu như “Cầu vượt” của ta ở những nút giao thông”. Mình nói: “Như vậy tốn kém lắm?”. “Tất nhiên là đầu tư ban đầu rất tốn kém. Nhưng xét về mặt tổng thể lâu dài lại là ưu điểm, giảm chi phí hơn rất nhiều”. Ông dẫn giải cho mình nào là giữ được môi trường không bị xâm hại. Rừng cây chịu ít ảnh hưởng. Không có nạn sạt lở núi tắc đường. Khi duy tu và bảo dưỡng đỡ vất vả. vv
Mình không phải là nhà đầu tư. Kiến thức về giao thông đường bộ chỉ hạn chế trong cái khung tàm tạm của điều lệ “Giao thông đường bộ”. Nói thực ra, chỉ là thằng mù ngắm voi, nên chẳng thể tranh luận với ông về việc này!
Còn dùng đến óc tưởng tưởng thì mình hình dung tham gia giao thông theo cách khác. Hoặc là dùng đường hầm như con đường xuyên biển bắt chước người Anh, người Pháp từ thế kỷ trước. Hoặc dùng đường không, cứ bay nhảy trên mấy từng trời. Phương tiện lớn như máy bay yêu cầu cảng hàng không phức tạp mình không nói.
Chỉ cần một kiểu xe bay cỡ nhỏ lên xuống bất kỳ chỗ nào là khắc phục được chuyện đi lại vất vả của khách bộ hành. Ý tưởng này của mình liền bị ông Triệu bác bỏ. Ông xuất thân từ nhà báo “chuyển” sang làm văn nên cơ chế, chính sách luôn là cái ưu tiên hàng đầu trong ý nghĩ. Ông bảo: “Điên à? Nói như ông nhà nước quản lý mọi mặt sẽ ra làm sao? Chưa nói đến an toàn lãnh thổ, biên giới quốc gia. Chỉ quản lý trong nước, cơ quan chức năng làm cách nào để quản lý xã hội khi mà vù một cái là “đương sự” cất cánh biến mất?. Chính phủ có ba đầu sáu tay, “huyền diệu” thế đâu mà nói như vậy?
Mình bảo ông đừng có lo bò trắng răng! Nhà nước vẫn có cách quản lý. Khi xưa xuất cảnh ra nước ngoài khó khăn là thế, bây giờ ra vào lãnh thổ dễ hơn rất nhiều, vẫn quản lý tốt có sao đâu?
Ông lại nói: “Nhưng mờ “Khắc nhập, khắc xuất” vẫn có nơi chốn quy định, kiểm soát vẫn duy trì được. Còn kiểu như đằng ấy nói, búa xua khắp nơi, có mà loạn”.
Mình ngẫm cũng phải. Mà thực ra mình chưa nghĩ sâu vào chuyện này. Thế nào chẳng có một cơ chế mới? Có cái gì sinh ra ở đời mà không có cách khả ứng, đối phó được bao giờ đâu? Nhưng mà thôi. “Chuyện con cá dưới sông”. Có tranh luận “Đến rằm tây đen” cũng chẳng thể kết thúc!
Đã được nửa chặng đường.
Đây đó phơi ra những hồ nước rộng hai bên đường. Hỏi lái xe anh ta bảo “Không phải hồ của thủy điện Sơn La. Đây là hồ chứa nước của những thủy điện nhỏ tư nhân”.
Năm 2005 mình có lên dự khởi công thủy điện Mường La. Nhưng chưa khi nào mình lại nghĩ có những thủy điện “mi ni” tư nhân làm như thế này.
Đúng là “nhà nước và nhân dân cùng làm” hay và tài thật!
Chuyện thủy điện lợi hại, tác động đến môi sinh, xã hội như thế nào không phải câu chuyện bàn ở trang này. Có lẽ phải ít năm nữa mới có thể được chứng kiến, hiểu sâu và cặn kẽ hơn!






 Truyện Thứ hai

Xe đang chạy ngon trớn, bỗng dưng chựng lại..
Một gã trung trung tuổi vẫy xe, theo kiểu lạ lùng!
Gã không đứng bên trái, cũng không bên phải. Chắn ngay giữa đường. Bác tài gân mặt đã nổi lên, rần rật. cặp lông mày trợn ngược báo hiệu trước một cơn tá hỏa..không rõ vì sao, tự dưng cặp lông mày giãn ra, những đường gân trở lại trạng thái hài hòa?
Hẳn là ông ta đang định vung ra một câu chửi rất tục, kịp dừng lại.. thôi. Cử chỉ này khiến mình chú ý đến kẻ vừa lên xe.
Hẳn đây là một “nhân dân” quan trọng. “Nhân” này lẳng lẳng lên xe như sự mặc nhiên phải thế, chả cần trình bày, chào hỏi với ai. Cách ăn mặc của y thật chẳng thể đoán được y là đẳng cấp, giai tầng nào trong xã hội?
Y mặc chiếc áo màu gạch non, màu áo cảnh sát giao thông vẫn mặc, cộc tay, có đủ hai túi ngực. Bên bả vai cánh tay phải có phù hiệu màu xanh chữ đỏ : “Bảo an Setu cutes”. Mình chả hiểu ngoài hai chữ tiếng việt ra, mấy chữ tiếng anh kia có ý nghĩa quái gì? ”Biểu hiệu” nhà nước hay công ty quỷ nào trang bị cho y, hay là y tự chế? Chịu!
Đang thời có nhiều nhân viên đặc biệt, “công tác ngầm”, sự chưa hiểu biết của mình và cả số đông “nhân xã” như vậy, âu cũng là sự ”phình phường”!
Nhìn kỹ khách mới lên có cái trán của người quen đeo gùi, bộ ngực thợ “kéo cưa lừa xẻ”, cánh tay có bắp của ngư dân biển. Cơ nào cơ nấy cuồn cuộn, săn chắc. Nếu là cán bộ, mình đoán tay này nếu có làm “nhiệm vụ” hay “công tác” chi đó thì chủ yếu nhờ vào hai cánh tay hơn là  nhờ vào cái đầu.
Nhất là đôi mắt một mí, bên trên vạch đậm đám lông mày dài và hơi bị rối không toát ra thông điệp nào. Chút tinh quát che phủ bên ngoài chút đờ đần giả tạo. Mình chưa từng được nhìn vào đôi mắt kiểu như thế bao giờ..
Thoảng nghĩ: “Cũng là gặp gỡ ngẫu nhiên. Trong cái thế giới “xà bì” này, sức đâu để tâm đến những chuyện dửng dưng?”
Mình quyết định không chú ý đến hành khách vừa lên.
Một hai giờ nữa, anh đường anh, tôi đường tôi. Có gì đâu để ý nhau cho thêm mệt xác, sau cuộc hành trình trong gió mưa một ngày như thế này?

Ông Triệu có riêng cái số đào hoa. Khác hẳn tôi và ông Trần. Cả xe có nhõn hai em xinh tươi lại cứ xoắn lấy ông mà chuyện. ( Các em ý hình như từng thấy ông xuất hiện trên “tàng hình” vài ba bận). Câu chuyện đang lên đến cao trào của một “ngụ ngôn mới”. Ai nấy mở hết cửa tâm hồn, cười hết cỡ miệng. Sự kiện này làm cho “Bảo an” viên nọ chú ý. Anh ta mở lời làm quen.
Ông Triệu lúc đầu còn giữ kẽ, không mặn mà lắm. Sau rồi “Bảo an viên” “bật mí”:
- Tôi vừa trong Nghệ An ra. Sắp tới có sự kiện trọng đại ở Mộc Châu, xếp lệnh cho phải khẩn trương lên đây ngay!
- Việc gì vậy? – Ông Triệu e dè hỏi, ( có lẽ một phần máu nghệ được khơi gọi?).
- Ra ông không biết có sự kiện mới sắp xảy ra ở địa phương thật này à?
- Không. Quả thực là tôi không biết – Ông Triệu thành thật!
Đang ngồi, “bảo an viên” lập tức đứng lên, như đang trước một cử tọa đông người:
- Tết “Độc Lập” của người Mông  tổ chức nay mai, ông không biết thật sao?
- Không biết..
Bảo an viên bèn một tràng dài. Những là đoàn nghệ sĩ do viên “Bảo vệ” gồm những ai sẽ có mặt trong ngày hội y vừa nói: “Đoàn vừa trong thành phố Hồ Chí Minh ra công diễn phục vụ lễ hội trong ba ngày góp vui cùng với đoàn Xiếc nghệ thuật của Mianma, Đoàn ca sĩ lừng danh Thái Lan và một số nghệ sĩ Hà Nội. Năm ngoái tổ chức cũng to. Mộc Châu pháo hoa bắn sáng cả vùng trời. Tiền treo giải thưởng cho những trò “vui chơi có thưởng” kể cũng vài trăm triệu.. Năm nay có khi quy mô còn hơn.”
Máu “báo” của ông Triệu được kích thích, hỏi:
-  Sơn La là tỉnh khó khăn, kinh phí đâu để tổ chức “hoành” như thế?
Viên “Bảo an”, mủm mỉm cười, vẻ bí mật:
- Cái này khó nói.. mà ông là ai? Lên đây có việc gì, hỏi nhau cứ như hỏi cung vậy?
- Tôi cũng người của “Gió bốn phương”. Trung ương mời lên Mộc Châu chơi, không phải “địch” đâu bố trẻ ạ. Đã nói thì nói rành mạch, lấp lửng kiểu như bố trẻ nghe ấm ức lắm!
- Vậy cứ đến nơi, tìm hiểu sẽ biết. Trên xe nói không tiện, ông thông cảm!
Có tiếng chuông điện thoại. Viên nọ vội xin lỗi nghe máy..
Không rõ đầu bên kia nói gì?
- Sắp đến nơi. Em cứ yên tâm. Sao? Sao?
- Gửi tiền về à? Anh đã rút được đâu? Trên này không có điểm ATM. Với lại súng của anh hết đạn rồi. Chưa biết ngày nay, ngày mai sống bằng cách gì? Em xem có ai ở gần chỗ anh trên này bảo “khâu tạm cho anh mấy mũi”? Thế nào? Không được à?
“Bảo an viên” cau có ngồi phịch xuống ghế. Mặt cau có. Ông Triệu ngờ ngợ điều gì quay sang hỏi:
- Hết tiền thật à?
- Đi gấp quá không kịp gặp thủ quỹ. Cứ nghĩ lên trên này chuyển qua tài khoản, rút thẻ.. Ai ngờ đâu..
Mặt anh ta điêu điêu. Chỉ nghe mấy lời trên đã thấy đầy rẫy rối trá. Cái này là “Ngửi” thấy mùi sự thật. Nhưng mình vẫn thấy băn khoăn. Nào đã lên tới nơi đâu mà biết không chuyển được tiền? Hay là năm ngoái lên rồi năm nay sực nhớ? Mâu thuẫn và nhiều vô lý quá?
Lại gọi điện thoại. Lần này không biết đầu kia nói gì. Thấy “nhân” ấy bảo:
- Thế thì được, đến “khu Gốc Đào” bảo nó mang ra nhớ!

Chúng tôi xuống ở ngã ba Cò Nòi nơi có tượng đài chiến thắng hồi chín năm. Viên “Bảo an” cũng xuống.
Lại phải chuyển xe một lần nữa mới về đến Mộc Châu.
Tôi bảo ông Trần và ông Triệu đứng cho “Chộp” một pô làm kỷ niệm. Hàng năm hàng đời các ông ấy mới lên đến đây, chẳng phải như mình “đi lên, đi xuống” năm ba bận.
Không ai mời, viên kia cũng ghé vào đòi chụp. Đúng là đồ dở hơi con dơi dơi bay loạng quạng, thích chụp ảnh! Nhưng đuổi y ra khỏi khung hình không nỡ, đành “Chộp”! ( Thêm đoạn chú thích dưới bức ảnh như sau: “Nhân viên công vụ đang gọi về trung tâm”. Mà có có công vụ mẹ gì? Đùa tý như mọi sự đùa đang xảy ra. Ai không thích thì thôi, nhóa)

Vào quán gọi nước uống, viên cũng thản nhiên bóc một lon nước, như cùng đoàn. Mình đã cảm thấy khó chịu. Không phải vì tiếc lon nước, vì cái gì đó không rõ rệt ề con người này. Nhìn kỹ anh ta chả có đồ đoàn gì ngoài bộ quần áo mặc trên người. Ngay đến cái nón đội đầu cũng không luôn. Chả nhẽ lại có “công ty vệ sĩ” nào có loại nhân viên bụi bặm kiểu này sao? Lúc ở trên xe mình nghe rõ y khoe với ông Triệu “lương tháng mười lăm trệu”. Sao lại đi đôi giày như vừa nhặt được ở đâu thế này?
Thực ra anh ta là hạng người nào? Trộm cắp, lừa đảo, nạn nhân của đợt suy thoái trầm trọng, kéo dài? Có hàng ngàn doanh nghiệp sụp tiệm, hàng trăm kiểu giám đốc công ty vỡ nợ đang lẩn trốn con nợ đến kỳ? Hay chỉ đơn giản là một gã dở hơi lang bang nay đây mai đó, ăn chực ngủ nhờ?
Chưa có thời kỳ nào ngoài đường gặp nhiều nhân vật như ngày nay. Nếu là người cầm bút, khỏi phải mất thời gian “đi tìm nhân vật”. Hàng ngày hàng giờ “Nhân vật” lù lù ngay trước mũi mình.
Lạ một cái văn đàn vẫn phẳng như tờ, không một chút áy náy nhân duyên. Chưa thấy nỗi đau thổ lộ đúng tiếng kêu của nó? “ Chuyện lạ phố phường” của Thiệp chưa là cái gì. Thời ông ấy viết, diễn tiến câu chuyện còn chậm, chưa nhanh, chưa chóng mặt như bây giờ! Có lẽ cái tâm, cái tài của người cầm bút thời nay hạn chế. Hoặc “các anh ta” hoang mang bối rối trước các câu chuyện đời sống mỗi ngày!
MÌnh không cần đoán nữa. Lên chuyến xe xuống Mộc Châu được một quãng, “Bảo an viên” lộ rõ nguyên hình khi anh lơ xe hỏi tiền vé?
Viên bảo xuống đến khu “Gốc đào” sẽ có người ra trả tiền! Lơ xe không nghe, viên ấy rút trong túi ra đưa cho anh cái thẻ ATM nói là sẽ chuộc lại vào ngày hôm sau, ngay trên đường này.  Lơ bực:
- Không! Tôi chỉ nhận tiền mặt. Ai biết thẻ của ông thật giả thế nào, còn nhiều ít bao nhiêu tiền?
Lại bốc máy. Lại gọi. Đầu kia không có tín hiệu.
Ông Trần từ đầu nghe rõ câu chuyện, hỏi lơ tiền của tay kia bao nhiêu? “Tám mươi ngàn đồng”. Ông lẳng lặng đưa cho lơ, không quên đòi cái vé.
Yên ổn rồi.
“Bảo an viên” cứ ôm lấy ông chồng khóc như cha chết. “Đời này kiếp này, con biết lấy gì trả nghĩa bố ơi”. Ông Trần chả biết vì giận hay vì ngượng trước của chỉ của viên, gạt tay y ra: “Mày đúng là thằng điên. Không có tiền mà dám lên xe của người ta. Bận sau đừng có dại thế nhé”!
Mình quên, không nói rõ ngay từ đầu: Ông Trần là một nhà thơ. Thế mà có kẻ bảo: “ Phàm là bọn nhà thơ chỉ vần vè, vớ vẩn, vô tích sự. Thường là lũ ích kỷ chỉ biết yêu mình và bủn xỉn hạng nặng”.
Đúng là thiên hạ có một số kẻ nhầm, đáng lên án! Nhà thơ Việt Nam đâu có như vậy?
Nếu họ không có lòng trắc ẩn, chút từ tâm, có gì để viết? Và họ còn viết lách gì được nữa? Phải không bạn?

****





Truyện thứ ba

Lúc đầu mình cứ ngỡ gã còn trẻ, chỉ trên dưới tuổi “băm” là cùng. Thân hình rắn chắc, cao lớn. Khác hẳn món con trai người Mông mình từng gặp thường thấp bé, nhẹ cân. Có anh có vợ con rồi người vẫn choắt cheo như học sinh tiểu học. ( Người ta đổ cho Người Mông lấy vợ lấy chồng thường hay cận huyết thống. Mình nghĩ điều này có can hệ ít nhiều, nhưng không phải tất cả. Có lẽ do chế độ dinh dưỡng kém, lao động vất vả hàng trăm năm nay mới là cái nguyên do tạo nên vóc dáng hình hài. Kiểu như dáng người hơi đổ về phía trước bởi thường xuyên leo dốc cao, bàn chân thô và to để bám đất.. Tính cách có chút e dè vì chưa quen chỗ đông người vv..)
Nhưng Lầu A Sang khác hẳn:
Khuôn mặt rám nắng, đôi mắt hắn to, sáng và lồi, mũi sư tử, hơi gồ lên, bóng ở quãng giữa. Nhất là cặp môi hơi dày, tươi tắn tự nhiên, khi nào cũng như đang hoặc sắp cười.
Gã hát, thanh điệu vút cao, mượt mà nghe cứ mê mẩn cả người. Giọng cao át gần hết cả bè đông đảo hát theo.
Còn rượu thì thôi, khỏi nói. Bữa rượu nào xong cũng cắp một chai mang theo về phòng. Động tác này nhắc mình nhớ đến một người bạn vong niên, đúng hơn là là một người anh kết nghĩa, giờ đã ra người thiên cổ. Ông ý vui. Đời luôn chả có cái gì đáng gọi là quan trọng. “Quan trọng nhất là cái tình con người ta sống với nhau khi qua cuộc đời này”. Ông ấy mình rất quý. Vài kẻ nào đó diễu nhại cái tật “hay rượu” của ông mình rất ghét và chẳng khi nào đồng tình.
Cảm tình về cái “sự hát” đối với  Lầu A Sang, ( tên gã ) chỉ là cảm tình ban đầu.
Gặp gã, phong cách y hệt ông anh, “bạn” mình như thế mình lại càng mến hơn. Cứ như thể quen nhau từ kiếp trước, duyên nợ thế nào rồi!
 Càng ở thêm với gã ngày nào, càng cảm thấy quý  tính bộc bạch, cởi mở và sự thông minh, hóm hỉnh của gã. Nếu có nhầm cũng chỉ duy nhất chuyện nom gã còn quá trẻ so với tuổi trời có thực của hắn. Nom gà hóa quốc là cái nhìn của những kẻ thích “nghĩ bằng tim” như mình.

Có một nhà “Dân tộc học” gần đây nói với mình: “Người ta có nhiều ý kiến chủ quan khi cho rằng chỉ số thông minh ( IQ ) của người Mông và một số dân tộc khác so với người đa số có chút kém hơn. Đó là ý kiến sai lầm. Chẳng qua ở môi trường đời sống khó khăn, thiếu cơ sở vật chất, mặt bằng dân trí thấp cộng với hạn chế khung cảnh giao thông, giao lưu khó khăn nên trình văn hóa thấp. Nếu được đào tạo chăm sóc bài bản, họ sẽ không thua kém dân tộc nào. Thậm chí có mặt còn hơn”. Mình hỏi cụ thể, ông ta nói: “ Nghiên cứu gần đây cho biết: Chỉ số IQ của người Do Thái là 102, người Trung Quốc là 96, người Việt là 97..Trong khi đó người H’Mông là 97.5!
Đúng là những con số biết nói, thay cho những kết luận vội vã mang tính hàm hồ.
Câu chuyện với “nhà” này mới chỉ cách đây ít ngày. Gặp gã trong chuyến đi Tây Bắc lần này mình có ý quan sát xem điều ông chàng kia nói có đúng hay không?
Các công trình nghiên cứu ngày nay, lắm cái rất buồn cười. Động cơ thì nay vì cái này, mai vì cái khác nhiều sai lạc bởi cái “động” của các nhà “Nghiên”, một số thiếu đứng đắn.  Chỉ qua vài câu chuyện, ở với nhau vài ngày, mình đã “đọc” được qua gã kết luận của ông “Nghiên “ này là trung thực, vô tư!
Gã bảo hắn người Trạm Tấu, một huyện cực tây bắc tỉnh Yên Bái. Một huyện nhiều rừng Pơmu, thảo quả mà lại đặc biệt nghèo, đặc biệt khó khăn, vô số những cái đặc biệt khác nữa.. Dân cư vùng này quá bán là người H’Mông cư trú. Một vùng thuốc phiện trồng bạt ngàn và thổ phỉ nhiều như muỗi mấy mươi năm trước kia. (Giờ thì muỗi cũng ít bởi môi trường hanh khô Trạm Tấu. Thổ phỉ không còn lấy một tên nào! )
Hỏi chuyện gia đình, Lầu nói nhà có bảy anh em trai. Ông bố là một trong “Tứ đại” của tỉnh Y.B. Các anh em khác đều làm ngành tư pháp, an ninh cả. Có ông sắp sửa lên tướng phụ trách an ninh cả vùng Tây bắc.
- Sao mày không theo nghề nòi của gia đình, vừa lương cao, vừa có quyền có chức, theo đòi văn nghệ vớ vẩn, ít tiền này làm gì?
Gã cười, hỏi lại mình. Mình tắc.
Ờ thì cái nghiệp. Có phải cái gì thích cũng đều có được cả đâu? Có cái được lại không thích thì sao?
Rượu rồi gã mới kể. Quả thật có một thời đi học rồi làm an ninh. Nhưng bản tính ham vui, bốc đồng nên không trụ được lâu.
Một lần “nể” bạn áp tải chuyến pơ mu về xuôi, không may bị bắt, ra khỏi ngành. Sẵn có năng khiếu âm nhạc, đi học rồi thành nhạc sĩ như ngày nay!

-“Lâu lâu đi “trại” sáng tác thế này ông anh giai trước khi đi vẫn triệu về tỉnh dặn dò mọi nhẽ cứ làm như mình còn bé lắm. Nhưng được cái ông ấy hay cho tiền, nên có khó chịu một chút vẫn phải đến”.
Người Mông con trai anh nào chả ham vui? Lại trực tính, hay tin người, vi phạm này nọ là cái dễ mắc phải.
Mình quen đến mấy ông “sĩ” “khu Thái Mèo”. Có ông “thơ sĩ” tương đối nổi tiếng, diện ưu tiên tộc người có vài ngàn người. Ông này lớ khớ thế nào dính cả án thuốc phiện. May chỉ tạm giam mấy tháng, nhờ sự can thiệp của ông nhà thơ nhớn ở trung ương, không thì bóc lịch dài dài.
Dù sao nhà nước vẫn phải nghĩ đến tài năng hiếm hoi nơi khỉ ho cò gáy, vùng sâu vùng xa. Đào tạo một kỹ sư, một bác sĩ người dân tộc ít người, đã không phải dễ. Nuôi dưỡng một “tâm hồn thơ” nơi cuộc sống muôn vàn khó khăn này càng khó gấp nhiều lần!
Trường hợp của Lầu cũng không ngoại lệ. Có thể một “sĩ” người Kinh mắc các chuyện ấy đều giấu như mèo giấu cứt. Sống để dạ chết mang đi chứ không bộc lộ với người khác, lại là người mới quen, dễ như Lầu.
Chỉ riêng chuyện này mình đã phục gã rồi.
Làm người dám nhìn nhận công khai cái tật, cái hạn chế của mình không phải ai cũng có can đảm như vậy.
Văn giỏi, thơ hay nhưng giả tạo chưa chắc đã bằng người lỡ dại mà không cần tránh chối như Lầu!
Nhìn thân thể rắn rỏi của gã chắc ai cũng nghĩ anh chàng ăn ngủ, tập tành đều đặn mới được thế. Những ngày ở đây tôi cứ thắc mắc Lầu ngủ vào lúc nào?
Buổi tối Lâu thức rất khuya. Không viết hay đọc cái gì đấy, thì cùng với anh bạn làm “sưu tầm văn hóa dân gian” chuyện suốt đêm.
Những câu chuyện của gã thật ấn tượng. Về một quốc gia của người Tam Miêu thời xa xưa bên này sông Dương Tử, sau này vong quốc, con cháu phải di dời xuống phía nam, rồi tới nhiều quốc gia khác. Bây giờ khắp thế giới, chỗ nào cũng có hậu duệ Tam Miêu cổ. Ngày tết Độc Lập bây giờ đúng ra nó là tết “Tìm bạn” có từ lâu đời của người Miêu Việt tứ tán. Ly loạn muôn nơi, người Mông có một ngày hẹn tìm gặp nhau.
Ngẫu nhiên trùng vào tết độc lập mùng 2 tháng 9. Nhà nước nâng thành ngày hội hàng năm của Người Mông tổ chức tại Mộc Châu bây giờ. Quy mô còn rộng hơn cho cả các dân tộc khác. Có năm đoạn đường số 6 qua Mộc Châu tắc đường, len chân đi bộ rất khó trong ngày này.
Lầu còn kể cho tôi nghe về tấm bia kỷ niệm bài thơ “Tây Tiến”, cái hang một vị lãnh đạo ở trong những ngày “Điện Biên Phủ trên không” chỉ đạo chống chiến tranh phá hoại. Rồi chuyện một dạo đời sống gặp khó khăn, gã từng theo một người địa phương ở đây sang Lào buôn chó. Nói chung các mặt hàng khác, Lào gần như bên ta nếu không nói là đắt hơn, chỉ có chó là rẻ. Mỗi chuyến đi xe máy về trong ngày cũng kiếm đôi triệu mỗi người.
Hỏi thăm, bây giờ biên phòng phía Lào không cho mang chó qua biên giới như trước. Lầu cười: “ Bây giờ mình cũng hết buôn chó rồi”.
Ừ thì gian nan có độ, phải đâu khổ mãi suốt đời, mình cũng mừng cho gã.

Gần đến ngày lễ hội, Lầu sáng nào cứ ăn sáng xong là mất hút. Có hôm không về cả  cơm trưa. Cái áo của người Mông vạt sau rất ngắn, chỉ dưới bả vai một chút luôn mặc trên người. Cây sáo cài cổ áo nom rất điệu nghệ, Gã tự nhiên, tươi tỉnh như đang ở nhà mình. Lại rất lắm bạn. Chốc chốc lại có anh Mông nào đó xa lắc xa lơ gọi về. Anh thì ở Điện Biên, anh mãi trong Đắc Nông. Có người gọi về từ bên Mỹ. Mình quả thật khâm phục tài chơi bạn của Lầu.
Sáng mùng 1 tháng chín, tự nhiên lầu nổi hứng rủ đình đi chơi phố huyện. Không phải đến nơi đang đông đúc mở hội chợ, đến một nơi hơi khuất phía sau, khu phố cũ ngày trước. Có một anh bạn nào đó vừa bẫy được một con chim ưng khá lớn muốn để lại cho Lầu.
Nghe nói thế mình rất háo hức.
Hồi bé ở quê mình từng xem người ta giả chết bắt quạ như thế nào? Có hôm người bắt quạ phải nằm phơi nắng gần ngày trời trên bãi cát ven sông Hồng. Ông ta phải đặt một con chó con bị chết có mùi ngay dưới chân để quạ thấy mùi. Rồi phải kiên nhẫn chịu đựng khi bầy quạ dạo lượn chán chê, ỉa cả lên đầu để thám thính chúng mới chịu đỗ xuống. Bấy giờ người ấy mới giật sợi giây cho lưới ụp xuống. Thịt quạ không ai ăn, vì tanh và hôi, nó quý ở cái mật. Mật quạ có khi giá trị còn hơn cả mật gấu, chữa được nhiều bệnh.. Bắt quạ là thế, nhưng bẫy chim ưng như thê nào mình chưa được nghe, được thấy khi nào?

Hai anh em đi tắt con đường nhỏ phải qua một con suối. Thấy mình đi giày còn đang lúng túng, Lầu ghé vai bảo cõng qua luôn. Chỉ cử chỉ này thôi mình đã thấy cảm động. Gã làm như một điều tự nhiên, chẳng chút gượng gạo.
Đi qua mấy ngôi nhà vô chủ, tường rêu mốc meo bên cạnh có cây đào ra hoa trái mùa. Lầu đưa Ipon bảo chụp cho gã mấy kiểu.
Mình ngỡ gã thích hoa đào, hóa ra không phải. Hóa ra chủ nhà là một người quen, cả hai vợ chồng dính án ma túy đều bị tử hình. Nhà bỏ không mấy  năm rồi. Mặt gã người Mông rầu rầu. Đi cả quãng dài không nói câu gì, khác hẳn bản tính mình biết về gã mấy ngày nay.
Tự nhiên gã thở dài: “ Chim chết vì mồi, người chết vì tham”. Không mắc cái án ấy ngôi nhà này đâu có lạnh lùng như thế?”
Ý tứ triết lý ra phết, đâu phải chỉ sôi nổi bề mặt như mình nghĩ về người ta? Lại thêm tiếc cho cây đào hiếm quý, ra hoa vào mùa này mà chẳng có ai thưởng lãm vì vắng chủ!

Hóa ra “mục đích chim” định hướng của Lầu chỉ là chuyện phụ. Bạn Lầu muốn nhờ anh ta xem giúp mấy đồng bạc mới mua từ hội chợ về. Đấy là đồng bạc có niên hiệu năm “ông cụ”, 
( 1890). Anh ta bảo sẽ mang về Hà Nội bán cho nhà bảo tàng. Thể nào cũng có tiền. Nhưng không biết thật giả ra sao?
Đây là lần đầu mình thấy thử bạc kiểu này. Lầu để đồng bạc lên đầu ngón tay giữa, thổi mạnh một cái, đưa vội lên tai nghe, bảo: “được, không phải của giả”. Không làm như mình từng thấy là cho vào miệng cắn thử, hoặc thả xuống sân gạch, sân xi măng để xem tiếng.
Hỏi đến chim ưng, bạn Lầu dẫn ra sau nhà xem. Chụp ảnh chán mới hỏi giá. Chủ chim hét cả chục triệu bạc, mình tròn mắt, Lầu vẫn thản nhiên như không.
Anh ta bảo cần một con như thế mang về Trạm Tấu.
Lầu có nghề luyện chim ưng chuyên dùng cho đi săn. “Chim, thỏ rừng mà gặp chim ưng luyện tốt chả cần dùng đến viên đạn nào. Bây giờ ở đâu nhà nước súng đạn quản cũng rất chặt, lấy đâu ra súng?”
Ngoài thú mê âm nhạc, Lầu rất thích đi săn. Dòng máu Mông giỏi võ, ưa săn bắn, nếp sống hoang sơ vẫn rất đậm trong huyết quản.
Gã bảo trại xong gã sẽ ra tìm, đem con chim về.
Thật là “châu về hợp phố”, cười rưng rưng, sưng cả môi!

Còn mấy câu chuyện nữa về gã trai này. Nhưng chỉ nên thoang thoảng thế chút. Nói nữa, hỏng, phải không bạn?
=======





Phần nhận xét hiển thị trên trang

Cái gì cũng có thể xảy ra:

BÁ ĐẠO

Ngành giáo dục đang cải cách đủ thứ, trong đó có cải cách cách ra đề thi văn. 1 tờ báo tỉnh vừa có bài về vấn đề này, có phỏng vấn mấy người. Trưa nay đi đám cưới mình ngồi với ông phát biểu phỏng vấn ấy, mình chọc: ông là GV, là hiệu trưởng, chứ biết gì thi cử mà nói...

Lúc ấy mình chưa đọc những đoạn văn sau đây (Đọc xong cấm cười nhé):

Đề: Tả ông nội

Nhà em có nuôi một ông nội, ông nội suốt ngày chẳng làm gì cả chỉ trùm chăn ngủ, đến bữa ăn ông ló đầu ra hỏi: Cơm chín chưa bây?

Đề: Miêu tả về bố

Bố em có một hàm răng vàng, hàm răng vàng luôn chỉ bảo em những điều hay lẽ phải.

Đề: Tả cây chuối

Nhà em có cây chuối rất to, chiều nào em cũng leo lên cây chuối ngồi hóng mát. Khi em leo lên, cành chuối rung rinh.

Đề: Tả người thầy em yêu quý nhất

Thấm thoắt đã ba mùa hoa ban nở, thầy giáo phải tạm biệt chúng em để về xuôi. Cả làng cả bản đứng tiễn thầy vô cùng ngậm ngùi. Riêng em đứng nhìn theo thầy cho đến khi thầy xa dần, xa dần, đến khi nhỏ bằng con chó em mới quay lại bản.
 Ảnh minh họa
Đề: Tả anh bộ đội
Anh bộ đội cao khoảng 1,20 m, súng AK dài 1m rưỡi.

Đề: Tả buổi chào cờ đầu tuần

Sáng thứ hai tuần nào cũng vậy, trường em lại tổ chức chào cờ. Đầu tiên là thầy hiệu phó phụ trách lao động lên mắng mỏ một tí. Sau đó đến lượt thầy hiệu trưởng lên mắng. Khi thầy hiệu trưởng mắng, cái cục ở cổ thầy cứ chạy đi, chạy lại.

Đề: Tả cây bàng

Ở cạnh nhà em cách một quán phở có một cây bàng. Cây bàng đã sống trên 10 năm nên nó đã già và nó đã biến thành cây đa.

Đề: Em hãy tả một con vật mà em yêu thích nhất

Nhà em có một con chim chích bông, nó nhỏ và xinh, lông nó màu vàng óng, em thấy nó không ngừng nhảy và mổ mồi. Em rất yêu con gà của ông em.

Đề: Tả con trâu (của một học sinh thành phố)

Nhà em có nuôi một con trâu. Nó đáng yêu lắm. Hàng ngày, mẹ xích nó ở góc hiên. Trên cổ nó có đeo một cái nơ màu hồng thật xinh xắn. Nó ăn rất ít cơm. Nó có khuôn mặt trái xoan thanh tú.

Đề: Tả một buổi học

Tùng tùng tùng, tiếng trống vang lên báo hiệu đã đến giờ vào lớp. Không còn cảnh nô nghịch, chạy nhảy nhốn nháo nữa. Các bạn, ai ai vào vị trí của người đó. Sách vở để ngay ngắn trên bàn. Cô giáo bước vào lớp. Học sinh đứng dậy chào cô. Cô mặc chiếc áo dài hoa rất đẹp. Tóc cô thẳng mượt thả đến ngang lưng. Cô đặt chiếc cặp đen lên bàn và cất tiếng dịu dàng: "Hôm nay có ai đóng tiền không?"

Đề: Tả con lợn nhà em 
Con lợn nhà em đầu tròn như quả bóng da, người nó hình cái hộp các-tông còn cái đuôi thì giống cái chân chống xe máy!


Đề: Tả đêm giao thừa

Em bước ra sân để chuẩn bị thắp hương giao thừa. ánh trăng tròn vằng vặc soi rõ khu tập thể, làm những chiếc lá sáng lên loang loáng…

Đề: Tả con gà trống nhà em

Chú trống choai nhà em lớn nhanh như thổi, càng lớn chú càng giống gà mái...

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Đứa con của biển

Truyện ngắn Trần Trung Đạo
Sống chết là một định luật, một chiếc cầu mà ai cũng phải đi qua. Giọt sương mai trên thảm cỏ non. Chiếc lá khô rơi trong buổi chiều vàng. Mọi tạo vật, từ con người cho đến một giọt sương, một chiếc lá, đều có sinh và có diệt”. Chị Hà đọc đâu đó. Mới hôm nào đây, chị đã dùng để an ủi ông láng giềng Paul, khi bắt gặp ông cụ đứng ngẩn ngơ bên cửa sổ trong một buổi chiều.
(Ảnh "Koh Kra victims, nạn nhân hải tặc Thái Lan tại 
đảo Koh Kra" do nhân viên Cao Ủy Tỵ Nạn LHQ chụp).
Bà Karen, vợ ông, qua đời năm trước đó. Hẳn nhiên không phải cụ Paul không biết đến lẽ mất còn của tạo vật, nhưng như cụ Paul trả lời chị Hà: “Hiểu biết bao giờ cũng dễ hơn chịu đựng”. Thiếu cụ bà Karen, ông sống như một người mất bóng, suốt ngày lay hoay như tìm kiếm chính mình. Không ai biết ông bà gặp nhau từ bao giờ nhưng không thấy họ có con cái gì. Thỉnh thoảng một người bà con hình như ở xa lắm, ghé thăm.
Thế giới của ông bà cụ là căn nhà trệt hai phòng ngủ và khu vườn nhỏ sau nhà. Những bụi hoa huệ vàng được trồng dọc hàng rào. Chiếc ghế dài cũ và những câu chuyện họ thì thầm với nhau, có thể được lập đi lập lại cả trăm lần. Dù sao khi cụ bà Karen mất, một nửa thế giới của cụ Paul cũng chết theo. Những bụi hoa dọc hàng rào không ai chăm sóc. Cụ Paul, từ đó, ít ra ngoài. Thỉnh thoảng, cụ vịn song cửa nhìn ra khu vườn trống, chiếc ghế cũ lẻ loi, những bụi hoa huệ bị mưa xoi bật gốc. Cũng qua cánh cửa đó, có lần chị Hà bắt gặp hai giọt nước mắt già nua lăn trên đôi má nhăn nheo của cụ Paul.

Trong “cul-de-sac” gần biển này chỉ có chừng chục ngôi nhà, nối nhau thành một vòng tròn chung quanh một sân cỏ nhỏ. Từ xóm nhà đi bộ dọc con đường hẹp cắt ngang đồi thông, chừng 5 phút là đến biển. Hầu hết gia đình là người sinh ra hay định cư lâu năm trên xứ nầy, ngoại trừ mẹ con chị Hà, một người Mỹ gốc Việt. Chồng chị thất lạc trên đường vượt biển. Chị sinh đứa con trai đầu lòng ở trại tỵ nạn Thái Lan. Tháng 12 năm 1980, người phụ nữ hai mươi bảy tuổi, ẵm đứa con trai mới sáu tháng bước xuống phi trường quốc tế Logan, thuộc thành phố Boston. Không cha mẹ, anh em. Không bà con thân thuộc. Những năm đầu mẹ con chị Hà sống trong căn phòng do một hội từ thiện thuê dùm ở Dorchester. Nhờ có căn bản sư phạm từ trước, chị học tiếng Mỹ khá nhanh. Sau khi hoàn tất khóa cán sự y tế tại một trường huấn nghệ, chị xin được một việc làm tại bệnh viện thành phố Boston. Chị ít khi ra ngoài. Khi đi chợ mua sắm, chị chẳng buồn trang điểm như cố tình làm cho mình già hơn và xấu đi. Nhưng làm sao che giấu được thân hình thon nhỏ, làn da trắng mịn màng, khuôn mặt tròn và đôi mắt đen nhưng rất buồn của của một cô gái Việt còn trong tuổi thanh xuân. Chị đã đóng cánh cửa sổ nhìn ra khu vườn đời chị, dù nơi đó lá mùa thu vẫn đẹp, hoa mùa xuân vẫn nở, tiếng ve vẫn reo vang trong mỗi độ hè về.

Chị Hà không thích ở thành phố. Khi dành dụm đủ số tiền cần thiết để ứng trước, chị mua căn nhà nhỏ ở quận Plymouth, một vùng ven biển, cách Boston chừng 20 dặm về phía nam. Chị nghỉ việc ở bệnh viện và tìm được một công việc khác tại một trung tâm y tế dành cho người già ở gần nhà. Năm đó, chị Hà ba mươi tuổi. Một phụ nữ trẻ đẹp và đầy sức sống, chị có thừa khả năng để xây dựng cho mình một gia đình mới trong cuộc đời mới. Nếu bảo chị không thích người đồng hương thì chị có thể kết hôn với người xứ khác. Nhưng chị vẫn một mình với đứa con thơ, sống trong tháng năm trầm lặng. Hẩm hiu nhưng ấm cúng. Đứa con trai của chị là niềm vui, là hy vọng, là tất cả quá khứ, hiện tại và tương lai của chị góp lại. Một ngày của chị bắt đầu với việc đưa con đến trường, đi làm ở viện dưỡng lão, dạy con làm bài tập, dạy con học thêm tiếng Việt và ra biển ngồi đọc sách. Và cứ thế, ngoại trừ những khi mưa bão và mùa đông giá rét, một ngày của chị Hà bao giờ cũng chấm dứt bằng những giây phút rất riêng tư bên bờ biển. Ngay cả những khi không đọc sách, chị vẫn ra ngồi như thế. Im lặng như để lắng nghe tiếng thì thầm vọng về từ một nơi xa xôi.

Chị gần gũi với biển đến nỗi đứa con trai chị cũng được đặt tên là Biển. Hàng xóm gọi nó Ben, theo âm Mỹ không có dấu. Khi mẹ con chị Hà mới đến, hàng xóm láng giềng, vốn quen với sự yên tĩnh, ít nhiều cũng có phản ứng khó chịu, nhưng dần dần họ quen đi. Tiếng khóc, tiếng cười của đứa bé không còn báo động sự ồn ào, không còn mang đến sự phiền toái, trái lại báo hiệu một sự sống đang đâm chồi. Thằng bé mang niềm vui đến thôn xóm nhỏ vốn thiếu vắng tiếng cười.

Lê Văn Biển hay Ben Le, lớn nhanh như thổi, trông kháu khỉnh với nước da ngâm đen và mái tóc phía trước hơi quắn lại. Trong “cul-de-sac” nhỏ này, mọi người, nhất là ông bà Paul, cưng và xem Biển như là con chung. Ngày sinh nhật 11 tháng 6 mỗi năm của thằng bé trở thành ngày hội của xóm. Mỗi người đóng góp một món đồ chơi, một chùm bong bóng. Năm nào cũng thế, bà Karen tự tay làm chiếc bánh sinh nhật thật to cho Biển. Biển học bơi rất sớm và cũng bơi rất giỏi. Bất cứ khi nào rảnh rỗi là cu cậu tuôn ra biển, phơi mình trên cát, trên sóng. Biển học giỏi và rất ngoan. Nếu ai hỏi thằng bé mơ ước gì khi khôn lớn, nó không ngần ngại chỉ con tàu đang chạy ngoài khơi, và mơ ước được trở thành thuyền trưởng.

Năm lên 7 tuổi, lần đầu tiên Biển muốn biết về ba của nó: “Thằng Chris có ba, tại sao con không có?” Chị Hà không giấu con: “Ba của con chết trên đường vượt biên từ khi con chưa ra đời”. Thằng bé thắc mắc: “Tại sao?” Chị không biết phải giải thích sao khác hơn với một đứa bé bảy tuổi, ngoài việc trả lời: “Tai nạn. Ba con chết trong một tai nạn trên biển”. Biển hỏi đuổi: “Tai nạn gì hở mẹ, mấy chiếc tàu tông nhau?” Chị Hà vuốt mấy sợi tóc quăn của con, âu ếm: “Không phải. Con còn nhỏ, mai mốt con lớn hơn mẹ sẽ kể thật chi tiết về tai nạn này cho con nghe”. Chị lấy trong xấp giấy tờ cũ, nhận từ Việt Nam, tấm hình đen trắng của một thanh niên chừng hai mươi tuổi đang ôm cây đàn guitar đứng dựa vào tường và bảo: “Đây là hình của ba con”. Biển nhìn chăm chăm vào tấm hình đen trắng, đưa lên đưa xuống, lật ngang, lật dọc, cố tìm một nét quen thuộc, một chút liên hệ với người trong ảnh mà từ lâu nó không biết. “Con giống ba không?” thằng bé hỏi. Chị lại gật đầu: “Giống chứ, nhưng con giống mẹ nhiều hơn”. Biển không chịu: “Con giống ba nhiều hơn vì da và tóc của ba cũng giống như của con”. Chị Hà cười, định giải thích vì tấm hình đen trắng chứ không phải vì da và tóc, nhưng lại thôi. Thằng bé không hỏi thêm nhưng từ đó, nó cũng dần dần biết buồn tủi khi bọn thằng Glen, thằng Chris có ba đưa đi xem đánh baseball, basketball còn nó thì không. Chị Hà an ủi con. Sinh nhật của Biển, chị mua cho thằng bé hai món quà, thay vì một. Chị bảo món quà sau là quà của ba. Chị đưa Biển đi chơi baseball với đám thằng Glen, thằng Chris. Nhiều khi chị phải ngồi hàng giờ, có khi đến khi trời sập tối, bên sân cỏ để đợi con.

Thằng Chris, đứa bé mà Biển hay đem ra làm ví dụ, là con của anh Brian, người đàn ông góa vợ, ở cách nhà chị Hà chừng hai dặm. Anh tình nguyện giúp chị Hà đưa đón Biển mỗi lần tập dượt vì hai đứa bé cùng chơi chung một đội bóng thiếu nhi. Chị từ chối mặc dù nhiều khi phải xin nghỉ việc sớm để đưa đón con. Ơn nghĩa sẽ dẫn đến lệ thuộc, chị nghĩ thế. Chị biết Brian rất tử tế, lịch sự và dĩ nhiên, có cảm tình riêng với chị. Một lần bên bờ biển chị suýt xiêu lòng khi Brian tha thiết tỏ tình. Nhưng chị đã dừng lại được. Những ngày lễ, Brian thường mời mẹ con chị đến nhà, hay cùng đi ăn với bố con anh, nhưng chị Hà thường tìm cách từ chối. Vợ của Brian, không biết mất vì bịnh gì, để lại cho anh đứa con trai 3 tuổi. Brian là một nhân viên quản trị trung cấp, làm việc cho một công ty tài chánh. Mỗi khi đi công tác xa về, ngoài việc mua quà cho thằng Chris, Brian không quên mua một món quà dành cho Biển. Anh không dám mua tặng chị Hà vì ngại chị lại sẽ từ chối như nhiều lần trước đó. Rồi Brian cưới vợ lần nữa. Vợ anh là một người làm cùng hãng. Đám cưới diễn ra linh đình. Thằng Biển được nhờ làm em bé cầm hoa đi trước cô dâu chú rể. Chị Hà cũng được mời và có mặt. Brian giới thiệu chị Hà với vợ rất ân cần và trịnh trọng. Hai gia đình từ đó gần gũi hơn. Trong những ngày lễ, vợ chồng Brian đến thăm mẹ con chị Hà, và ngược lại chị Hà cũng đáp lễ mỗi khi có dịp.

Sau sinh nhật mười tuổi của Biển không lâu, chị Hà ngã bịnh. Bác sĩ khám phá một cục bướu nhỏ trong tử cung chị và cần phải được cắt bỏ ngay. Khi điền giấy tờ đồng ý giải phẫu, chị Hà mới biết rằng mình không có ngay cả một người thân thích ở Mỹ. Chị không lo đến mình bằng lo cho tương lai của Biển. Chị là chỗ dựa duy nhất của thằng bé. Không có chị đời nó không biết sẽ ra sao. Chị Hà hoảng sợ khi nghĩ đến điều bất hạnh có thể xảy ra. Chị mời vợ chồng Brian đến bịnh viện để nhờ anh chị làm người bảo trợ Biển cho đến khi Biển được mười tám tuổi, nếu chị gặp phải chuyện bất trắc. Vợ chồng Brian xúc động nhận lời. Bịnh của chị không có gì trầm trọng. Mổ xong vài hôm, chị bình phục và tiếp tục cuộc sống với con trong căn nhà nhỏ.

Hai mươi hai năm trôi qua. Chị Hà đã già đi nhiều theo thời gian. Cô gái Việt Nam hai mươi bảy tuổi, mới ngày nào ẵm đứa con còn đỏ hỏn, đặt chân lên nước Mỹ, bây giờ đã là một bà mẹ năm mươi tuổi. Biển cũng thế. Anh chàng không còn là cậu bé suốt ngày phơi mình trên cát nhưng đang là sinh viên năm chót ngành hàng hải của trường đại học Boston. Có lần Biển đưa về nhà một cô gái tóc vàng, giới thiệu với mẹ là bạn gái. Chuyện con trai có bạn gái là chuyện bình thường, chị Hà chỉ mong Biển đừng vì thế mà xao lãng việc học hành.

Vợ chồng anh hàng xóm Brian đã ly dị nhau. Lần nầy Brian không cưới vợ khác, và cũng không tìm đến chị như lần trước. Anh quyết định dọn nhà đi tiểu bang khác. Thằng Chris, con trai anh, vừa học xong trung học thì đăng lính. Anh không có con cái gì với người vợ sau, nên anh chẳng còn gì phải bận tâm lo lắng. Trên đường ra phi trường, Brian ghé nhà chào chị Hà. Lần đầu tiên sau bao nhiêu năm quen biết, chị Hà lịch sự và tha thiết, choàng tay ôm nhẹ Brian. Chị nói nhỏ: “Chúc anh đi bình an và thành công, có dịp nhớ về thăm, tôi vẫn ở đây”. Brian xúc động: “Tôi sẽ không bao giờ hiểu được Hà”. Chị Hà cười nhẹ: “Vâng, anh sẽ không bao giờ. Chúng ta sống trong cùng một xóm nhưng hai thế giới tâm linh xa cách. Tôi chẳng biết nói sao hơn. Xin lỗi anh vậy”.

Cụ bà Karen chết trước cũng đã để lại một khoảng trống tinh thần và cả vật chất, không có gì bù đắp được trong đời sống của cụ Paul. Sức khỏe của cụ, vì thế, ngày càng giảm sút. Chị Hà rất lo cho người láng giềng gần gũi của mình. “Không chừng cụ Paul cũng sẽ ra đi”, chị than thầm. Thật vậy, buổi hẹn với bác sĩ lần đó kéo dài lâu hơn. Buổi chiều, xe cứu thương không đưa cụ trở về như thường lệ. Bác sĩ giữ cụ lại bịnh viện và khoảng tuần sau thì cụ chết. Người bà con ở xa lại đến dọn nhà, cắt cỏ. Vài tuần sau, một tấm bảng “Nhà bán” được cắm trước sân.

Ngày ra trường của Biển đã đến. Trong mọi ý nghĩa, đối với chị Hà, là một ngày trọng đại. Bao nhiêu năm nay chị chờ đợi một ngày này. Chị thầm nghĩ “nếu bây giờ chị có giải phẩu thêm lần nữa, và ngay cả có chết đi, thì cũng không phải lo lắng như mười năm trước”. Chị dự tính rất nhiều ngạc nhiên dành cho Biển. Mẹ con sẽ tổ chức một chuyến đi nghỉ hè xa, Paris hay London chẳng hạn. Anh Brian thường nhắc những cảnh lạ khắp nơi mà chị chưa bao giờ dám mơ tưởng tới. “Bao nhiêu lâu rồi nhỉ?”. Chị nhẩm tính thời gian hai mươi năm mẹ con chị sống hẩm hiu trong “cul-de-sac” vùng ven biển Plymouth nầy. Buổi sáng lễ ra trường, chị đến trường đại học rất sớm và chọn một chỗ ngồi tốt nhất để có thể thấy rõ con mình trong lễ phục tốt nghiệp màu đen, sắp hàng chờ nhận lãnh văn bằng. Chị Hà hãnh diện và cảm động ứa nước mắt. Không ai biết đó là những giọt nước mắt mừng vui hay đau xót của một bà mẹ đã hy sinh cho con suốt hai mươi hai năm. Biển nhận văn bằng xong, chầm chậm bước xuống lễ đài. Chị Hà đứng dậy dang tay chờ, nghĩ rằng Biển sẽ đến trong vòng tay trìu mến của mẹ. Chị mơ một ngày được nghe ba tiếng “Cám ơn mẹ” từ chính miệng Biển cất lên. Một sự trả ơn đơn giản nhưng quý giá nhất mà mọi bà mẹ cần được trả. Ngày đó sẽ là hôm nay. Chị nghĩ thế. Chị vẫn dang tay chờ nhưng Biển đã mất hút trong đám bạn bè nhộn nhịp. Quảng trường vắng dần. Mọi người đang lần lượt ra về. Chị Hà nóng ruột đi về phía cuối hành lang tìm con. Ở đó, dưới chân cầu thang, Biển và cô bạn gái tóc vàng, đang hôn nhau thắm thiết. Thấy chị, họ buông nhau ra. Cô gái tóc vàng vồn vã: “Hôm nay là một ngày đáng nhớ của hai đứa tôi. Tôi muốn bà cùng chia sẻ”. Chị Hà đáp: “Vâng. Tôi biết. Hôm nay cũng là ngày ý nghĩa nhất đối với tôi nữa”. Chị đang nghĩ về ngày tốt nghiệp kỹ sư hàng hải của đứa con trai duy nhất của chị. Cô gái tiếp: “Thế thì tốt quá. Chúng tôi định mùa hè này sẽ cưới nhau”. Chị Hà ngạc nhiên: “Cái gì?” Cô gái đáp: “Xin lỗi. Tôi tưởng là bà đã biết trước rồi. Ben đề nghị sáng nay và tôi đã nhận lời. Chúng tôi chưa chọn ngày nhưng có lẽ mùa hè này thôi. Sau đó chúng tôi phải về miền Nam coi sóc hãng xưởng của ba tôi”. Chị Hà quay sang Biển, hỏi bằng tiếng Việt hơi nặng giọng: “Có đúng thế không Biển?” Biển nhìn xuống chân, không đáp. Không đáp có nghĩa là thừa nhận. Đứa con trai duy nhất sắp sửa cưới vợ mà chị Hà không hề hay biết. Chị giận dữ bước xuống cầu thang không nhìn lại.

Ngồi trên chiếc ghế xếp cũ bên bờ biển, chị Hà ôm mặt khóc. Chị khóc không phải chỉ vì giận Biển nhưng khóc nhiều hơn cho cuộc đời hẩm hiu cô độc của mình. Hai mươi hai năm. Cuốn phim dĩ vãng đau lòng của cuộc đời chị một lần nữa chiếu lại.

Tất cả bắt đầu từ một buổi chiều khi chị Hà nhận được mảnh giấy nhỏ với hàng chữ: “Anh đã trốn trại và đang tá túc tại nhà một người quen ở Chu Hải. Em ra Chu Hải gấp ngày mai. Đừng cho ai biết. Hỏi nhà ông Đản. Khang”. Chị Hà mừng đến phát khóc. Khang còn sống và bình yên. Năm năm dài từ mùa bão lửa 1975, chị Hà thêu dệt giấc mơ đoàn tụ với người yêu bằng sợi chỉ hy vọng vô cùng mong manh. Nhiều lần chị Hà cố xua đi ý tưởng rằng Khang đã chết ngoài mặt trận hay đã vượt biên ra nước ngoài. Dì Thanh, vợ kế của ba chị Hà, thường bảo: “Coi thử trong trường có thầy nào chưa vợ thì cô chọn một thầy, đừng chờ đợi thằng Khang làm gì vô ích. Nó không chết thì cũng có vợ và ba bốn đứa con rồi”. Không. Khang của chị không chết. Khang của chị chưa có vợ và không có ba bốn đứa con. Khang vẫn sống và đang tìm chị. Anh chàng sinh viên khoa học gốc miền Trung, dạy kèm toán lý hóa lớp mười cho chị ngày nào, vẫn còn sống. Anh chàng nghệ sĩ với cây đàn guitar cũ, mỗi chiều dưới giàn hoa giấy bên hiên nhà, đắm đuối nhìn cô nữ sinh Trần Thị Thu Hà mà hát: “Nầy người yêu người yêu tôi ơi, bên kia sông là ánh mặt trời…” vẫn còn sống.

Sáng hôm sau, như lời dặn trong thư, chị Hà thu xếp vài đồ đạc cá nhân và đi tìm nhà ông Đản ở ấp Chu Hải, ngoài Bà Rịa. Chuyến xe Sài Gòn Vũng Tàu đến trễ vì bị xét nhiều lần. Khi chị tìm ra nhà ông Đản thì trời đã tối. Ông dắt chị Hà đến một chòi lá ngoài ruộng, ở đó, Khang bằng da bằng thịt đang chờ đợi chị. Hai kẻ yêu nhau cuối cùng đã gặp lại nhau trong biển đời dâu bể. Họ trao cho nhau chiếc nhẫn cỏ làm tin trong chiếc chòi lá mục. Không có mặt trời rực rỡ bên sông như ngày xưa Khang thường hát, nhưng ít ra họ đã sống sót. Trong chiếc chòi lá ngoài vườn nhà ông Đản, họ hứa cùng nhau, dù thu vàng hạ đỏ hay nắng dãi mưa dầm, sẽ dìu nhau đi hết cuộc đời còn lại.

Khoảng ba giờ sáng, ông Đản ra chòi gọi hai người dậy, đưa ra ngoài sông và gởi họ cho chuyến vượt biên sắp khởi hành. Ông không đi vì đứa con trai ông, bạn tù của Khang, vẫn còn ở trong tù.

Chiếc ghe vượt biên quá nhỏ. Chiều dài chỉ mười một mét và chiều ngang vỏn vẹn một thước rưỡi. Dù nhỏ bao nhiêu thì đối với Khang, một tên tù trốn trại, không còn là điều chọn lựa. Dĩ nhiên chị Hà cũng thế. Đời của chị đã thuộc về Khang. Dù phải chết trên biển cả họ cũng sẽ không ân hận vì ít ra sẽ được chết bên nhau trong chung thủy vợ chồng.

Tháng Chín bắt đầu mùa biển động nhưng ghe chạy bốn ngày đầu không có chuyện gì trở ngại. Ghe đi về hướng đông. Không còn lo sợ việc tàu công an biên phòng chận bắt. Tuy nhiên, ngày thứ năm thì ghe chết máy. Chiếc la-bàn của hướng đạo sinh thường dùng trong những trò chơi, không xác định được vị trí của chiếc tàu, đang ở đâu và sẽ trôi dạt về đâu. Anh tài công không sửa được máy ghe, đành phó mặc cho định mệnh, đúng hơn là cho gió mưa, đưa đẩy chiếc ghe đến đâu thì đến. Ghe trôi dần về hướng nam. Thực phẩm hết. Nước uống cũng hết. May mà trời không có bão lớn. Nếu không, chỉ cần một cơn sóng mạnh cũng đủ để lật cả chiếc ghe đang chơi vơi trên biển cả. Những người còn sức khỏe thay phiên nhau tát nước. Thỉnh thoảng có một cơn mưa. Những người ngồi trên sàn ghe căng tấm ny-lông để hứng nước và chia nhau thấm giọng. Về đêm, biển đen như chiếc miệng con cá mập khổng lồ chuẩn bị nuốt chửng đoàn người đang trong cơn đói khát. Những đám mây đen đầy đe dọa đang vần vũ bay về. Qua ngày thứ sáu, chẳng còn ai đủ sức dù chỉ để khóc than hay cầu nguyện. Tiếng cầu kinh, tiếng niệm Phật cũng im bặt. Trong những điều im bặt, có cả tiếng khóc của đứa bé bị sốt trong đêm đầu khi ghe vừa ra khỏi cửa. Một người nào đó từ hầm ghe nói vọng lên: “Thôi chị buông cháu ra. Cháu nó đã đi lâu rồi”. Giọng một người đàn bà cãi lại: “Ai bảo thế. Con tôi mạnh khỏe thế này mà nỡ xấu mồm xấu miệng như rứa. Ngủ đi con, mẹ thương”. Tội nghiệp bà mẹ. Đứa bé đã chết từ lâu. Bà mẹ ôm xác đứa con hai tuổi suốt hai ngày đêm mà không nói, đúng ra là không dám nói, một lời. Bà mẹ không muốn nhìn cảnh người ta ném xác con hai tuổi của bà xuống biển. Mọi người đều kiệt sức. Không ai còn đủ sức để chia buồn hay khuyên nhủ bà. Vả lại, lát nữa đây, biết ai sẽ chia buồn ai. Không nói ra, trong lòng mấy chục người trên chuyến hải hành vô định này, cũng đang nghĩ đến cái chết.

Và cứ thế, ngày thứ bảy, ngày thứ tám lần lượt trôi qua trong đói khát và chờ đợi. Vài chiếc tàu biển đi ngang, xa tít ngoài khơi. Những người đàn ông vội vã tẩm dầu vào áo quần đốt lên làm tín hiệu. Không có một tín hiệu trả lời. Những chiếc tàu biển không thấy hay thấy mà không quan tâm cứu vớt.

Ngày thứ mười. Trong lúc chị Hà đang thiu ngủ thì tiếng Khang vọng xuống. “Có tàu đánh cá Thái Lan tới. Mấy bà, mấy cô trốn xuống hầm hết”. Hầm ghe quá nhỏ. Bước đâu cũng đạp phải người. Một số đàn bà lấy dầu máy bôi vào mặt. Cuốn tóc cao để giả làm đàn ông. Úp mặt vào lườn ghe không dám nhìn lên. Những câu chuyện về hải tặc được nghe kể nhiều lần từ những người đi lọt viết thư về, làm mọi người run sợ khi liên tưởng tới số phận mình. Nắp hầm bị ai đó mở tung. Ánh sáng rọi vào, soi rõ những khuôn mặt ngâm đen của đám thợ đánh cá Thái Lan. Chiếc ghe vượt biển bị chúng kéo buộc vào ghe đánh cá bằng sợi dây thừng lớn. Từng người, bất kể đàn ông, đàn bà hay con nít đều bị kéo lên khỏi miệng hầm. Tất cả phải cởi áo quần để chúng khám xét. Nữ trang, đồng hồ, tiền bạc đều bị chúng cướp sạch. Chúng khám xét từng ngăn tàu, đâm thủng những thùng dầu, thùng nước uống, chúng nghi ngờ có dấu tiền đô, vàng bạc. Số phụ nữ, khoảng hai chục người, từ các bà mẹ năm sáu mươi tuổi cho đến mấy em bé chỉ hơn mười tuổi bị dồn vào một góc. Đàn ông, con nít bị đẩy xuống dưới hầm ghe. Một tên hải tặc cầm súng đứng trên miệng hầm ghe, trong khi hai tên khác cầm dao chặt cá lớn bảng đứng chặn hai đầu. Khám xét xong. Chúng thảo luận với nhau bằng tiếng Thái. Không hiểu bọn hải tặc bàn nhau những gì, chỉ nghe tiếng chúng cười sặc sụa. Một tên, có vẻ chỉ huy, liếc nhìn về phía đám phụ nữ đang đứng. Hắn chầm chậm bước tới, nhìn kỹ mặt từng người. Mỗi khi hắn chỉ vào ai thì hai tên hải tặc đàn em kéo cô gái bất hạnh đó ra khỏi nhóm. Người thứ sáu và cũng là người cuối cùng là chị Hà. Chị sợ hãi bật khóc. Mấy cô gái kia cũng khóc thét lên. Một bà mẹ bước ra, quỳ xuống sàn ghe vừa lạy vừa khóc, xin tha cho con gái mười lăm tuổi của bà. Nước mắt và những lời van xin của bà mẹ không lay động được tâm hồn của những con người không còn một chút lương tri. Bọn hải tặc cuốn dây để kéo chiếc ghe lại gần hơn. Chúng đẩy chị Hà và năm cô gái cùng số phận sang tàu đánh cá. Một tên đưa dao chặt đứt sợi dây thừng. Hai chiếc ghe từ từ xa nhau. Bên kia, chị Hà còn nghe tiếng Khang gào lên, trong đau thương, bất lực.

Sau suốt buổi chiều tàu chạy về hướng nam, nhóm chị Hà sáu người được đưa đến một hòn đảo san hô. Bọn hải tặc ra lệnh họ bước xuống tàu. Hai cô gái không bước nổi. Cô gái nhỏ tuổi ngã quỵ lên một bụi san hô. Những mũi san hô nhọn như chông đâm vào đùi cô, da thịt tướt ra, máu chảy đỏ cả đùi. Chị Hà và những cô gái còn sức, gắng gượng dìu nhau lên đảo. Sáu người ngồi trong một hang đá cách xa bờ, ôm nhau khóc. Một tên hải tặc ghé ngang, ném cho họ một hộp giấy đựng cơm trắng và thùng nước uống nhỏ. Hắn chỉ vào miệng ra dấu. Chị Hà chia mỗi người một nắm cơm và chuyền tay nhau thùng nước. Không ai dám ngủ, hoang mang, lo lắng nhìn nhau, liên tưởng đến một điều bất hạnh không tránh khỏi. Đúng vậy. Khoảng nửa khuya, nhiều tiếng chân nặng nề đi về phía hang đá. Hàng chục tên hải tặc trở lại. Ngọn đèn biển lẻ loi trên đảo soi bóng đám hải tặc đang đi tới như những bóng ma trơi. Chúng vực chị Hà và năm cô gái dậy. Kéo tay từng người ra ngoài bãi cát. Một cô gái vừa cất tiếng khóc đã bị một tên hải tặc đánh mấy bạt tai. Chúng hãm hiếp chị Hà trước. Những mủi kim đâm đau buốt vào da thịt chị. Chị nhắm mắt, không khóc thành tiếng nhưng nước mắt cứ tuôn theo cơn đau đang chạy dài vào tận mỗi tế bào. Bọn hải tặc say sưa, điên cuồng, man rợ trên thân thể của những cô gái Việt Nam yếu đuối. Và cứ thế chúng thay phiên nhau hãm hiếp từng cô gái. Tiếng cô bé mười lăm tuổi bị thương thét lên trong đau đớn. Không ai nghe. Không có Chúa và Phật. Trên cù lao san hô ngoài vịnh Thái Lan chỉ có tiếng khóc của sáu con chim non Việt Nam và tiếng cười man rợ của bầy ác điểu Thái Lan. Sau vài giờ, bọn hải tặc ra đi, bỏ mặc sáu cô gái với thân thể lõa lồ nằm ngất xỉu trên cát. Gần sáng họ cố lê lết đến gần nhau, giúp nhau lau những vết máu còn đọng lại trong thân thể trầy trụa và dìu nhau đi tìm chỗ nằm qua đêm. Đây chỉ mới là đêm đầu tiên trong chuỗi ngày khổ nhục dài vô tận.

Buổi sáng, chiếc tàu hải tặc lại ra khơi. Chị Hà và một cô gái gắng gượng đi vòng quanh đảo, với hy vọng mong manh tìm được một nơi để trốn. Hòn đảo thật ra chỉ là một cù lao nhỏ trồi lên giữa vịnh, chung quanh toàn là san hô nhọn, nhìn ra xa chỉ thấy mịt mờ mây nước tận chân trời. Không ai biết nơi này là đâu, hòn đảo này tên gì và ngày mai, đêm mai, đời họ sẽ ra sao. Cũng từ những hốc đá đó, chị Hà biết rằng nhóm chị không phải là những người đầu tiên bị bắt vào đây. Rơi rớt trong các hốc đá là những mảnh áo quần rách tả tơi còn dính máu, dấu tích của những chống cự, đấu tranh, cưỡng bức, hành hạ. Nhiều nơi còn có cả tên tuổi, địa chỉ, chuyến ghe, ngày ra đi và bến bãi khởi hành của người bạc hạnh. Một chỗ ghi: “Em là Lê Thị …, phường … thị xã Bạc Liêu, ai đọc được xin báo dùm cho mẹ là bà Phan Thị … biết”. Một chỗ khác: “Tôi là Nguyễn Thị …., địa chỉ ….Cách Mạng Tháng 8, Quận 10, Sài Gòn, bị bắt vào đây ngày 15 tháng 2 năm 1978. Ghe tôi có 74 người, vào đây còn sống được 21 người. Ai đọc được tin này làm phước báo cho gia đình tôi biết”. Và cứ thế, trong mỗi hốc đá, mỗi mặt bằng, đều có dấu vết của những người phụ nữ Việt Nam bất hạnh bị bắt đến trước, bị hãm hiếp trước, và có thể đã chết trước.

Buổi chiều, khi nhóm chị Hà lay hoay chưa tìm ra một cách trốn thì chiếc tàu đánh cá Thái Lan lại trở về. Chúng đem cho nhóm chị một thùng cơm, một ít cá khô mặn và một thùng nước. Chị Hà lại chia thành sáu phần và khuyên mọi người cố gắng ăn để sống. Cô bé mười lăm tuổi, có bà mẹ quỳ van xin bọn hải tặc, không ăn uống được. Sau một đêm bị hiếp dâm tập thể cô bé kiệt sức. Vết thương do mũi san hô nhọn đâm vào đùi cô bé hôm qua cũng bắt đầu nhiễm trùng. Chân cô sưng đỏ. Cô bé sốt. Miệng không ngớt gọi “mẹ ơi” trong mê sảng. Chị Hà ngồi bên cạnh cô bé, thầm nghĩ, nếu đêm nay bọn hải tặc quay lại đây hành hạ lần nữa như đêm qua, cô gái này sẽ chết. Sau vài phút suy nghĩ, đắn đo, chị Hà đứng dậy đi về phía cuối bãi, nơi chiếc tàu đánh cá đang thả neo. Đám hải tặc ngạc nhiên nhìn chị, có tên bật cười hô hố. Chị Hà chỉ về phía hang đá. Đám hải tặc nhìn nhau, bàn tán, cuối cùng một tên đứng dậy đi theo chị. Chị Hà đưa tên hải tặc đến chỗ cô bé bị thương ở đùi và chỉ vào trán cô gái. Hắn nhìn vết thương sưng đỏ và sờ vào trán đang bị sốt của cô bé. Hắn không nói gì, ra dấu cho chị đưa cô bé vào phía trong hang, rồi bỏ đi.

Nửa khuya, bọn hải tặc lại đến. Một tên cầm đèn pin đi trước. Như đêm qua, chúng kéo từng người ra ngoài bãi, tiếp tục hành hạ một cách man rợ. Chị Hà không khóc. Chị nằm im như một xác chết. Đêm nay chị cảm thấy bớt đau hơn bởi vì trí óc chị chỉ tập trung vào cô bé. Chị van vái chúng đừng hành hạ cô. Cũng may, tên cầm đèn pin, chính là tên đi theo chị hồi chiều, đã dặn trước đồng bọn hãy tha cho cô bé. Hắn đem theo đèn pin cốt để nhận diện cô. Và cứ thế, ngày thứ ba, thứ tư, mỗi đêm đều có bọn hải tắc ghé qua.

Đến ngày thứ năm, bọn chúng không trở lại. Nhưng chị Hà cũng hoàn toàn không còn biết gì nữa. Không ai trong sáu cô gái còn ý thức gì về những sự việc chung quanh. Sáu thân thể lõa lồ, nhầy nhụa đang nằm chờ chết. Chỉ có chết mới không biết thế nào là đau đớn. Chết là một lối thoát thanh thản nhất trong lúc này. Chị Hà thiếp đi trong cơn mê.

Khi tỉnh dậy, chị thấy mình nằm trong một căn phòng bệnh viện. Một bác sĩ người Mỹ, khoảng ngoài 60 tuổi, có đôi mắt hiền từ, đang đứng bên cạnh. Bình nước biển treo trên góc giường. Ông tự giới thiệu bằng tiếng Việt khá thành thạo, tên ông là John Breston, làm việc thiện nguyện giúp người Việt tỵ nạn tại Thái Lan từ hai năm nay. Ông bóc cho chị một múi cam. Chị đưa tay trái cầm lấy. Chỉ khi đó, chị mới biết mình sống sót. Ông biết rất rõ chị từ đâu tới nhưng không nhắc gì về những chuyện đau lòng đã xảy ra. Chị nhìn chung quanh nhưng không thấy có ai quen. Chị hỏi ông về số phận của năm cô gái đồng cảnh ngộ, nhất là cô bé mười lăm tuổi. Bác sĩ Breston cho chị biết sau khi được tàu hải quân Thái Lan cứu vớt, họ đã được chuyển đến nhiều bịnh viện khác nhau. Mọi người đều đang dần dần bình phục. Chị Hà nằm trong bịnh viện gần một tuần lễ, trước khi được chuyển về trại Panat Nikhom để lo thủ tục định cư. Chị hỏi thăm văn phòng Cao Ủy và những chuyến tàu đến cùng một thời gian với chị nhưng không một ai biết gì về Khang, cũng như số phận chuyến tàu khởi hành từ Chu Hải.

Khoảng hai tuần sau khi xuất viện, chị Hà lại phải trở vào bịnh viện. Chị nghĩ có thể chỉ là một cơn sốt nhẹ. Bác sĩ Breston, sau khi khám sức khỏe, thử máu, dặn chị Hà ngày mai trở lại. Sáng mai, khi chị đến, Bác sĩ Bresten mời chị vào phòng riêng. Ông lật hồ sơ bệnh lý của chị, nhìn chăm chú vào mắt chị và nói nhỏ, thật nhỏ, như chỉ để một mình chị nghe. Chị Hà không tin những gì bác sĩ Breston nói là sự thật. Ông đưa chị coi kết quả thử nghiệm. Chị Hà vừa coi xong là ôm mặt khóc. Như một người cha hiền từ, Bác sĩ Bresten bước tới đặt tay lên vai chị và an ủi: “Khóc đi. Hãy khóc nhiều như cô cần được khóc. Nhiều khi không có phương thuốc nào tốt hơn là nước mắt”. Một hồi lâu, khi nước mắt giúp vơi dần cơn đau xót, chị lấy hết can đảm nói: “Phải bỏ nó đi, bác sĩ ạ”. Chị cay đắng nói tiếp: “Đó là di sản của một tội ác”. Chị Hà kể lại một cách chi tiết hành trình vượt biên mà chị và năm cô gái đã trải qua. Bác sĩ lắng nghe một cách trang trọng và cảm thông. Cuối cùng ông chậm rãi: “Vâng, điều đó tùy ở cô. Trong tư cách bác sĩ, tôi sẽ làm theo quyết định của cô, mặc dù như một con người, tôi không hẳn đồng ý như vậy”. Không đợi chị Hà phản ứng, ông tiếp: “Bởi vì, làm thế nào cô biết đó là di sản của một tội ác? Và dù có đúng đi nữa, di sản đó không thể là tội phạm khi nó chỉ là một bào thai”. Ngừng một chút ông giải thích: “Năm cô gái trong cùng chuyến của cô đã được chuyển sang nhiều trại khác nhau để bảo vệ quyền riêng tư và an toàn cho tương lai họ. Chuyện của cô ở đây không ai biết. Chúng tôi, thậm chí, cũng có thể đưa cô ra ngoài trại, sống với một nhà bảo trợ, sau khi sinh xong và nghỉ ngơi, chúng tôi sẽ giúp cô hoàn tất thủ tục định cư”. Chị Hà thắc mắc: “Còn đứa bé?” Bác sĩ đáp: “Đứa bé vô tội. Chúng tôi sẽ có người lo lắng cho nó. Hội thiện nguyện sẽ tìm cho nó cha mẹ nuôi để nuôi dưỡng nó nên người. Nó có thể không biết quá khứ của cha mẹ đã sinh ra nó nhưng chắc chắn sẽ có một tương lai tốt đẹp như bất cứ đứa trẻ nào khác trên thế giới”. Chị Hà mềm lòng trước sự tha thiết, tình thương người, tính thuyết phục trong lý luận của bác sĩ và bản tánh hướng thiện tự nhiên của chị, nên chấp nhận đề nghị của ông.

Bào thai mỗi ngày một lớn. Đêm đêm chị nằm lắng nghe tiếng cựa của đứa bé sắp chào đời và thương cho số phận bất hạnh của con như thương lấy chính cuộc đời khốn khổ của chị. Đứa bé sẽ không biết cha và cũng sẽ không biết mẹ. Làm sao một con người có thể “sống xứng đáng như mọi đứa trẻ khác trên thế giới”, như lời ông bác sĩ nói, nếu sinh ra không cha mẹ, không quá khứ? Và khi giao nó cho hội từ thiện, chị sẽ làm gì với cuộc đời còn lại của mình? Chị sẽ về đâu trong trái đất nầy? Chị không thể về lại Việt Nam để sống với bà vợ kế của ba. Khang có thể đã chết. Cho dù Khang còn sống đi nữa, chị cũng không nên gặp lại Khang. Gặp lại để làm gì. Bên kia sông không phải là ánh mặt trời như Khang thường lý tưởng hóa mà là bóng tối, là lỡ làng, khinh rẻ. Người duy nhất trên đời này, cùng cảnh ngộ bất hạnh như chị không ai khác hơn là đứa bé đang nằm trong bụng chị. Bác sĩ Breston nói đúng một điều: đứa bé hoàn toàn vô tội. Chị đưa tay vuốt ve chiếc bụng tròn như để xin lỗi và hứa với con: “Mẹ sẽ sinh con ra, sẽ ẵm con đi một nơi thật xa, ở đó sẽ không ai biết đến mẹ con mình. Mẹ sẽ nuôi con nên người. Chúng ta sẽ sống với nhau. Con có thể sẽ không bao giờ biết đến quá khứ của cha mẹ con, nhưng con sẽ có tương lai bởi vì con có mẹ”. Buổi chiều ngày 11 tháng 6 năm 1980, thằng bé cất tiếng khóc chào đời trong một bịnh viện nhỏ ở Bangkok. Mẹ nó cũng khóc, và ngay cả khóc nhiều hơn nó. Bác sĩ John Breston bảo chị đặt tên con. Chị đáp: “Hãy đặt tên nó là Biển, bởi vì nó là con của biển”. Chị giữ lại họ Lê, là họ của Khang để làm kỷ niệm. Sáu tháng sau, đích thân bác sĩ John Breston lái xe đưa mẹ con chị Hà ra phi trường đi Mỹ định cư.

Hai mươi hai năm sau. Hai mươi hai năm chị sống trong âm thầm và chịu đựng. Chị không muốn ai biết về mình. Hai mươi hai năm chị sợ hãi và trốn tránh con người. Hai mươi hai năm, sáng nay là lần đầu tiên chị giận dữ với con ngay trước mặt người vợ chưa cưới của nó.

Tại sao? Chị tự hỏi. Tại sao chị có thể phản ứng như thế được nhỉ? Chị đã hy sinh hai mươi hai năm, tại sao chị lại không thể hy sinh một lần chót vì hạnh phúc của con? Lẽ ra chị nên vui khi thấy con trai duy nhất của chị sắp sửa có một gia đình, một người vợ do chính nó chọn lựa. Lẽ ra chị nên vui khi đã làm xong lời hứa với chính mình hai mươi hai năm trước. Đúng thế. Chị chưa sống trọn vẹn với lời hứa của mình. Chị hối hận về thái độ khắt khe của mình ban sáng. Chiều nay, nếu Biển trở về nhà, chị sẽ xin lỗi con. Biển ngoan lắm, chắc chắc nó sẽ vui và tha thứ cho mẹ. Chị thầm hứa sẽ không buồn, không rơi nước mắt khi tiễn con đi về California với vợ. Còn đời chị? Chị cười chua chát. Chị làm gì có cuộc đời riêng. Cô giáo viên Trần Thị Thu Hà đã chết trong một đêm trăng khuyết trên đảo san hô năm đó. Chị Hà vội vã đứng dậy để về gặp con.

Một người đang đứng chờ sau lưng chị từ lâu. Chị quay lại, thì ra đó là Biển: “Bạn con đâu?” Chị hỏi trong lo lắng. Biển đáp: “Cô ấy về California một mình rồi. Chúng con đã chia tay nhau”. Chị Hà thắc mắc: “Tại sao?” Biển không nói, bước tới ôm chầm lấy mẹ: “Mẹ. Mẹ tha thứ cho con. Con xin lỗi mẹ. Khi mẹ ra về con mới hiểu ra rằng con có thể sống không có Linda nhưng không thể không có mẹ”. Chị Hà cảm động đến rơi nước mắt. Chi vuốt mái tóc hơi quắn của con: “Con tôi thật sự trưởng thành rồi”. Hai mẹ con ôm nhau khóc. Lần đầu tiên trong đời mình, chị Hà khóc vì hạnh phúc, một khái niệm mà hơn hai mươi năm chị chưa từng nghĩ tới. Tháng sau, Biển được nhận làm kỹ sư cơ khí hàng hải cho một hãng tàu buôn lớn ở Boston. Hai năm sau Biển lập gia đình với một cô gái Việt Nam hiền hậu. Chị Hà đặt tiền ứng trước để mua tặng vợ chồng Biển ngôi nhà của cụ Paul, để làm quà cưới cho con. Và sau đó không lâu, khu nhà yên tĩnh vùng biển, lại lần nữa vang lên tiếng khóc trẻ thơ, báo hiệu một sự sống vừa mới ra đời để nối tiếp cuộc vận hành biến diệt không cùng của thời gian và vũ trụ.

Trần Trung Đạo

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tôn Trung Sơn dâng nghiên mực đỏ để Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm và Victor Hugo viết chữ lên văn bản

Tam Thánh gồm: Thanh Sơn chân nhân (Nguyễn Bỉnh Khiêm), Nguyệt Tâm chân nhân (Victor Hugo) và Trung Sơn chân nhân (Tôn Trung Sơn). Nguyễn Bỉnh Kiêm là thầy, còn hai ông ngoại quốc thì là đệ tử.


Đến thập niên 1940s thì tư tưởng Việt Nam phát triển đến mức tích hợp như vậy.

1. Đầu tiên, xem một cái ảnh về Tam Thanh ở nước ngoài (ảnh chụp năm 2009, của Huỳnh Ngọc Thu).

Bức tranh Tam Thánh ở một Thánh Thất Cao Đài tại Hoa Kì (2009)

2. Ảnh chụp ở Tòa thánh Tây Ninh (ảnh có thể phóng to nếu bấm vào màn hình). Trạng Trình viết các chữ Hán sau: Thiên thượng, thiên hạ, bác ái công bình. Còn cụ Hugo thì viết tiếng Tây: Dieu et Humanite, Amour et Justice.




3. Ghi chú tại chỗ:

2009


Phần nhận xét hiển thị trên trang