Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Năm, 17 tháng 4, 2014

Lý Quang Diệu bàn về Trung Quốc, Hoa Kỳ và thế giới

 Nhà xuất bản: Thế giới

Tác giảG. Allison, R. D. Blackwill, A. Wyne
Dịch giảNguyễn Xuân Hồng
 
ly-quang-dieu-ban-ve-trung-quoc-hoa-ky-va-the-gioi_1_Lý Quang Diệu (Lee Juan Yew) là một chính khách đặc biệt, độc nhất vô nhị trong nửa thế kỷ qua. Là “cha đẻ” và là nhân vật rất có ảnh hưởng ở Singapore trong hơn năm thập kỷ.
Trong các vấn đề quốc tế, không có bất kỳ nhân vật nào được cả một thế hệ các nhà lãnh đạo Mỹ, Trung Quốc và thế giới háo hức “săn lùng”, thường xuyên tham khảo ý kiến và chăm chú lắng nghe bằng “nhà hiền triết” của Singapore.

Lý Quang Diệu bàn về Trung Quốc, Hoa Kỳ và thế giới
 là một tuyển tập các ý kiến của vị “chiến lược gia của các chiến lược gia” này về nhiều vấn đề thời cuộc nổi cộm, như sự “trỗi dậy hòa bình” của Trung Quốc, những lo ngại về vai trò của Mỹ, tương lai quan hệ Trung – Mỹ, chủ nghĩa Hồi giáo cực đoan, sự tăng trưởng kinh tế quốc gia, địa chính trị và toàn cầu hóa…, do các tác giả Graham Allison, Robert D.Blackwill và Ali Wyne phỏng vấn và tuyển chọn.
Một số trích đoạn:
* Các nhà lãnh đạo Trung Quốc có nghiêm túc trong chuyện thay thế Hoa Kỳ trở thành cường quốc số 1 ở châu Á hay không? Hay trên toàn thế giới?
- Lý Quang Diệu: Dĩ nhiên rồi. Tại sao lại không chứ? Họ đã biến cải một xã hội nghèo nàn bằng một phép màu kinh tế để giờ đây trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới – và đang trên đường, như dự đoán của Goldman Sachs (tập đoàn tài chính hàng đầu thế giới), trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới trong vòng 20 năm tới. Họ bám sát vị trí dẫn đầu của Mỹ trong việc đưa người vào vũ trụ và bắn hạ các vệ tinh bằng tên lửa. Họ sở hữu một nền văn hóa 4.000 năm với một dân số 1,3 tỉ người, rất nhiều người trong số đó là những tài năng lớn – một nguồn lực dồi dào và rất giỏi để khai thác. Làm sao họ lại không thể có tham vọng trở thành số 1 ở châu Á, và sớm muộn cũng là trên thế giới, được cơ chứ?
Hiện nay, Trung Quốc là nước đang phát triển nhanh nhất thế giới, tăng trưởng với tốc độ không thể hình dung nổi nếu cách đây 50 năm, một quá trình biến đổi ngoạn mục mà không ai dự đoán được… Người Trung Quốc đặt ra những mong muốn và kỳ vọng của họ. Mọi người Trung Quốc đều muốn một đất nước Trung Quốc giàu mạnh, một quốc gia thịnh vượng, phát triển và giỏi mặt công nghệ như Mỹ, châu Âu và Nhật Bản. Sự thức tỉnh lại ý thức về vận mệnh này chính là một sức mạnh khó cưỡng.
Người Trung Quốc muốn chia sẻ thế kỷ này ngang bằng với người Mỹ.
Ý định của Trung Quốc là trở thành cường quốc lớn nhất thế giới. Các chính sách của mọi chính phủ đối với Trung Quốc, đặc biệt các nước láng giềng, đều phải tính đến vấn đề này. Các chính phủ ấy phải xác định lại vị thế của chính họ bởi vì họ biết rằng sẽ có nhiều hậu quả nếu họ ngăn trở Trung Quốc khi lợi ích cốt lõi của quốc gia đó bị đe dọa. Trung Quốc có thể áp đặt trừng phạt kinh tế chỉ bằng cách không cho tiếp cận thị trường 1,3 tỷ dân có thu nhập và sức mua ngày càng tăng lên của mình.
Khác với các quốc gia đang trỗi dậy khác, Trung Quốc muốn được là Trung Quốc và được nhìn nhận như vậy, chứ không phải chỉ là thành viên danh dự của phương Tây.

* Chiến lược của Trung Quốc để trở thành số 1 là gì?
- Người Trung Quốc quyết định rằng chiến lược tốt nhất của họ là xây dựng một tương lai hùng mạnh và thịnh vượng, và sử dụng đội ngũ lao động đông đảo có học vấn và kỹ năng ngày càng cao để đẩy mạnh thương mại và kiến tạo tất cả những thứ khác. Họ sẽ tránh bất kỳ hành động nào làm ảnh hưởng đến mối quan hệ với Hoa Kỳ. Việc thách thức một cường quốc mạnh hơn và ưu việt hơn về công nghệ như Hoa Kỳ sẽ làm hỏng “sự trỗi dậy hòa bình” của họ.
Trung Quốc đang theo đuổi một cách tiếp cận phù hợp với những ý tưởng trong bộ phim truyền hình SSự trỗi dậy của các cường quốc” (The Rise of Great Powers), do Đảng sản xuất để định hình cho quá trình thảo luận về vấn đề trên trong giới tinh hoa Trung Quốc. Sai lầm của Đức và Nhật Bản là ở chỗ hai nước này tìm cách thách thức trật tự hiện tại. Người Trung Quốc không ngu ngốc, họ tránh sai lầm này…
Tổng sản phẩm quốc nội (GDP), không phải GDP bình quân đầu người, chính là điều có ý nghĩa về mặt sức mạnh…
Trung Quốc sẽ không sớm đạt tới đẳng cấp của Mỹ về mặt năng lực quân sự, nhưng lại đang nhanh chóng phát triển các phương tiện không tương ứng để thách thức sức mạnh quân sự của Hoa Kỳ. Trung Quốc hiểu rằng sự tăng trưởng của mình tùy thuộc vào hàng nhập khẩu, bao gồm cả năng lượng, nguyên liệu thô và lương thực…
Trung Quốc cũng cần những tuyến đường biển mở. Bắc Kinh rất lo lắng về sự lệ thuộc của mình vào eo biển Malacca và đang nỗ lực chấm dứt sự lệ thuộc này.
Người Trung Quốc tính toán rằng họ cần 30 đến 40, có lẽ là 50 năm hòa bình và yên ổn để bắt kịp, xây dựng hệ thống của họ, thay đổi nó từ hệ thống cộng sản chủ nghĩa thành hệ thống thị trường. Họ phải tránh những sai lầm mà Đức và Nhật Bản đã mắc phải. Sự cạnh tranh quyền lực, ảnh hưởng và các nguồn tài nguyên của những nước này đã dẫn tới hai cuộc chiến tranh khủng khiếp ở thế kỷ trước…
Sai lầm của người Nga là đầu tư quá nhiều cho chi tiêu quân sự và quá ít cho công nghệ dân sự. Cho nên nền kinh tế của họ sụp đổ. Tôi tin giới lãnh đạo Trung Quốc đã học được rằng nếu anh cạnh tranh với Mỹ bằng vũ khí, anh sẽ thua. Anh sẽ tự phá sản. Cho nên, để tránh điều này, hãy cúi đầu và mỉm cười, trong 40 hoặc 50 năm.
Để cạnh tranh được, Trung Quốc tập trung vào giáo dục thế hệ trẻ, lựa chọn những người giỏi nhất trường vào khoa học và công nghệ, tiếp theo là kinh tế, quản trị kinh doanh và tiếng Anh.
* Liệu có phải Hoa Kỳ đang trong giai đoạn thoái trào?
- Hoàn toàn không. Hoa Kỳ đang trải qua một giai đoạn gập ghềnh với những khoản nợ và thâm hụt, nhưng tôi tin chắc rằng Hoa Kỳ sẽ không bị tụt hạng xuống vị trí thứ hai.
Về mặt lịch sử, Hoa Kỳ đã chứng tỏ được khả năng đổi mới và tồn tại rất mạnh mẽ. Sức mạnh của nước Mỹ không phải chỉ có lối tư duy đã thành nếp mà là ở khả năng bao quát, sáng tạo và thực tiễn; sự đa dạng của những trung tâm xuất sắc có khả năng cạnh tranh trong việc phát minh và tiếp nhận những ý tưởng và công nghệ mới; một xã hội thu hút được nhân tài từ khắp nơi trên thế giới và đồng hóa họ thành người Mỹ một cách dễ dàng; và một ngôn ngữ tương thích với một hệ thống mở và rõ ràng là ngôn ngữ chung của giới lãnh đạo về khoa học, công nghệ, sáng chế, kinh doanh, giáo dục, ngoại giao, và cả những người vươn lên vị trí đứng đầu trong xã hội của họ trên toàn thế giới.
Mặc dù hiện nước Mỹ đang đối mặt với giai đoạn vô cùng khó khăn về kinh tế, nhưng sức sáng tạo, khả năng mau phục hồi và tinh thần đổi mới của nước Mỹ sẽ cho phép họ đương đầu được với những vấn đề cốt lõi của mình, vượt qua chúng và lấy lại khả năng cạnh tranh.
Trong hai hoặc ba thập kỷ tới, Mỹ sẽ vẫn là siêu cường duy nhất. Hoa Kỳ là quốc gia năng động về kinh tế và mạnh về quân sự nhất trên thế giới. Nước này chính là động lực cho tăng trưởng toàn cầu thông qua sự cải cách, năng suất và sức tiêu thụ của mình.
Hiện nay và trong vài thập niên tới, chính Hoa Kỳ sẽ giữ vai trò nổi bật trong việc định ra những quy tắc của cuộc chơi. Không có vấn đề lớn gì liên quan đến hòa bình và ổn định của quốc tế lại có thể giải quyết được mà không có vai trò lãnh đạo của Hoa Kỳ, và không một quốc gia hay nhóm nào có thể thay thế Mỹ làm cường quốc toàn cầu.
Phản ứng của Hoa Kỳ trước các vụ tấn công khủng bố ngày 11/9 đã chứng tỏ sự xuất chúng của nước Mỹ. Cú sốc đó đã làm thay đổi thái độ của người Mỹ về cách thức giải quyết những mối đe dọa khủng bố nhằm vào xã hội của họ. Washington không hề do dự sử dụng sức mạnh khổng lồ của mình để thay đổi những quy tắc của cuộc chơi nhằm săn lùng và tiêu diệt những kẻ khủng bố và những kẻ bảo trợ cho chúng.
Trong vài thập kỷ tới, Hoa Kỳ sẽ là một đế chế thực sự. Cho dù bạn là người Phi, Nam Mỹ, Ấn Độ, Philiipines, Trung Quốc hay Triều Tiên thì người Mỹ đều để bạn làm việc cho họ ngay tại Mỹ và trong các tập đoàn đa quốc gia của họ ở nước ngoài… Trong suốt tiến trình lịch sử, tất cả các đế chế thành công đều biết đón nhận và dung nạp vào dân tộc mình những chủng tộc, ngôn ngữ, tôn giáo và nền văn hóa khác.
Trong 10, 15, 20 năm tới, Hoa Kỳ sẽ vẫn là nền kinh tế đổi mới và mạnh dạn nhất nhờ công nghệ hiện đại của họ, cả trong các lĩnh vực dân sự và quân sự… Mỹ sẽ dần đánh mất điều đó trong 30, 40, 50 năm nữa trừ phi Mỹ có thể tiếp tục thu hút nhân tài, và đó chính là cuộc đấu cuối cùng, bởi vì Trung Quốc và các nước khác đều đang tiếp nhận phần nào những gì Mỹ đã làm được để thích ứng với hoàn cảnh của họ, và họ cũng sẽ tìm kiếm những người tài và xây dựng nền kinh tế mạnh bạo, sáng tạo của riêng họ. Và cuối cùng, lúc này chính là kỷ nguyên không thể dùng các cuộc đấu quân sự giữa các nước lớn được nữa, bởi vì bạn sẽ hủy diệt lẫn nhau, mà cần có các cuộc đấu kinh tế và công nghệ giữa các cường quốc.
* Nền quản trị hiệu quả có cần “người giám hộ” không?
- Với Singapore, thách thức cơ bản vẫn chưa thay đổi: trừ phi chúng tôi liên tục có rất nhiều người có năng lực cao để đảm nhận cương vị Thủ tướng và Bộ trưởng, nếu không điểm đỏ nhỏ bé Singapore sẽ trở thành một chấm đen tí xíu…
Để tìm được những con người có năng lực, tận tụy, chính trực và sẵn sàng cống hiến giai đoạn sung sức nhất của mình, và dám vượt qua quá trình bầu cử đầy rủi ro, chúng tôi không thể trả lương thấp cho các vị Bộ trưởng và nói rằng phần thưởng duy nhất của họ chính là sự đóng góp của họ cho lợi ích chung được.
Chúng tôi không đưa Singapore từ thế giới thứ ba lên thế giới thứ nhất bằng việc săn lùng những vị bộ trưởng sẵn sàng hy sinh tương lai con cái của mình khi phải gánh vác nhiệm vụ phục vụ công chúng. Chúng tôi có một quá trình rất thực dụng, không đòi hỏi người có năng lực phải từ bỏ quá nhiều vì cộng đồng. Chúng tôi không hạ thấp Singapore xuống thành một quốc gia bình thường khác ở thế giới thứ ba bằng việc né tránh vấn đề trả công cho các bộ trưởng với mức lương cạnh tranh.
Người ta nói con người nghĩ cho bản thân? Nói một cách trung thực thì bạn có tin rằng một gã không học hết tiểu học lại biết rõ kết quả lựa chọn của mình khi gã trả lời theo bản năng câu hỏi về ngôn ngữ, văn hóa và tôn giáo không? Nhưng chúng tôi thì biết kết quả. Chúng tôi sẽ chết đói, chúng tôi sẽ bị xung đột sắc tộc. Chúng tôi sẽ tan rã.
Để có một chính phủ tốt, bạn phải có những con người giỏi trong chính phủ. Suốt 40 năm qua, tôi đã quan sát thấy rằng ngay cả với một hệ thống chính phủ kém nhưng có những con người giỏi giang thì người dân vẫn có một chính phủ tạm ổn với mức tiến bộ kha khá. Mặt khác, tôi đã thấy nhiều hệ thống chính quyền lý tưởng bị thất bại.
Hai nước Anh và Pháp đã viết hơn 80 bản hiến pháp cho các thuộc địa khác nhau của mình. Chẳng có gì sai với các bản hiến pháp, các thiết chế, vấn đề chi tiêu và các cán cân cả. Thế nhưng xã hội lại không có những nhà lãnh đạo vận hành được các thiết chế đó, và cũng không có những con người tôn trọng các thiết chế đó… Các nhà lãnh đạo thừa kế những bản hiến pháp này không đủ khả năng đảm đương công việc, và đất nước của họ thất bại, và hệ thống của họ sụp đổ trong cảnh bạo loạn, đảo chính và cách mạng.
Nếu một dân tộc đánh mất hẳn niềm tin vào các thiết chế dân chủ của mình bởi vì họ không tìm thấy người đủ năng lực điều hành họ, cho dù hệ thống đó rất tốt, thì dân tộc đó sẽ suy tàn. Cuối cùng, chính người dân mới vận hành hệ thống để cho nó đi vào cuộc sống.
Rất cần thiết phải bồi dưỡng một thế hệ ở trên đỉnh của xã hội, sao cho thế hệ ấy có đủ phẩm chất cần thiết để dẫn dắt và đem lại cho người dân cảm hứng và động lực để đi tới thành công. Nói tóm lại, chính là tầng lớp tinh hoa… Tất cả những người có tiềm năng phát triển rực rỡ phải được như vậy. Đó chính là mũi nhọn trong xã hội, những con người để gửi gắm tốc độ tiến bộ của chúng ta.
… Không có cách nào để vận hành một đất nước tốt hơn là dùng người giỏi nhất cho công việc khó khăn nhất.
* Nền văn hóa Ấn Độ tạo ra những hạn chế gì cho triển vọng lâu dài của họ?
- Ấn Độ không phải là một quốc gia thực sự. Thay vào đó, đây là 32 quốc gia riêng rẽ có vẻ như được sắp xếp dọc tuyến đường sắt của người Anh. Người Anh đến, chinh phạt, thiết lập chế độ cai trị (Raj) ở đây, hợp nhất sự cai trị của họ một mớ hỗn độn gồm 175 thành bang do các ông hoàng cai trị, và cai quản họ bằng 1.000 người Anh và vài vạn người Ấn Độ được nuôi dạy để hành xử giống như người Anh.
Tôi phản đối một xã hội không có ý thức phát huy tối đa để vươn lên hàng đầu. Tôi phản đối một xã hội phong kiến trong đó việc bạn chào đời đã quyết định địa vị của bạn trong một trật tự tôn ti có sẵn. Một ví dụ cho mô hình xã hội đó chính là hệ thống đẳng cấp ở Ấn Độ.
Ấn Độ là một nền văn minh lâu đời. Nehru và Gandhi có cơ hội làm cho Ấn Độ những gì tôi đã làm cho Singapore do uy tín rất lớn của họ, nhưng họ không thể phá bỏ nổi hệ thống đẳng cấp. Họ không thể phá bỏ được những thói quen.
Hãy thử xem ngành công nghiệp xây dựng ở Ấn Độ và Trung Quốc, bạn sẽ thấy sự khác biệt giữa một bên là hoàn thiện mọi thứ còn bên kia là chẳng hoàn thành gì cả, mà chỉ nói…
Một phần lý do là Ấn Độ là một quốc gia đa dạng – đó không phải là một dân tộc, mà là 32 dân tộc khác nhau nói 330 phương ngữ khác nhau… Tầng lớp trên ở Ấn Độ cũng ngang bằng với bất kỳ nơi nào trên thế giới. Những trí thức Bàlamôn, vốn là con cái của các tu sĩ, thông minh và khôn ngoan chẳng khác gì bất kỳ ai bạn thấy trên thế giới, nhưng họ vấp phải những chướng ngại như nhau. Và cũng vì, trong hệ thống đẳng cấp của họ, nếu bạn là một người Bàlamôn và bạn kết hôn với một người không phải Bàlamôn, đẳng cấp của bạn sẽ bị tụt xuống, cho nên yếu tố di truyền của bạn bị đông cứng trong một đẳng cấp nhất định.
Một công chức trung bình ở Ấn Độ vẫn xem mình cơ bản là một quan chức chứ không phải người phục vụ. Một quan chức trung bình ở Ấn Độ không chịu chấp nhận rằng việc trục lợi và làm giàu là sai trái. Quan chức trung bình ở Ấn Độ không mấy tin tưởng vào cộng đồng kinh doanh của Ấn Độ. Họ xem những doanh nhân Ấn Độ như là những kẻ cơ hội chỉ biết vơ vét tiền và không đem lại sự phồn thịnh cho đất nước, và càng tệ hơn nếu những doanh nhân đó là người nước ngoài.
* Đâu là những bài học cần lĩnh hội từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu?
- Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu có nguyên nhân do những dư thừa của hệ thống các quy định tự do và niềm tin cho rằng một thị trường hoàn toàn tự do sẽ cho phép cải tiến mạnh mẽ và phân bổ vốn cho những doanh nghiệp có lãi nhất với lợi nhuận cao nhất. Một khi Giám đốc Cục Dự trữ liên bang quyết định không cần phải điều tiết các yếu tố phát sinh và giám sát chúng thì ngòi nổ đã được châm. Một khi bạn thấy rằng bạn có thể trộn lẫn rất nhiều tài sản tốt và xấu thành một mớ và chuyển rủi ro của mình vòng quanh châu Âu và những khu vực khác của thế giới thì bạn sẽ bắt đầu thứ gì đó giống như mô hình Ponzi (trò vay tiền của người này để trả nợ người khác) vốn tất yếu phải đi đến kết cục vào một thời điểm nào đó…
Công việc kinh doanh của một người trong một thiết chế tài chính là tạo ra lợi nhuận lớn nhất cho chính mình, cho nên việc đổ lỗi cho các chủ ngân hàng và những người tìm kiếm lợi nhuận chẳng có ý nghĩa gì cả. Bạn cho phép có những quy định này và họ hoạt động theo đúng những quy định ấy.
Trước khi có cuộc khủng hoảng kinh tế hiện tại, thế giới không phản bác quan điểm đồng thuận của Washington cho rằng mô hình kinh tế Anglo-Saxon là hiệu quả nhất để phân bổ các nguồn lực tài chính nhằm tạo ra lợi nhuận cao nhất. Tuy nhiên, mô hình thị trường Hoa Kỳ không còn được xem là lý tưởng nữa. Trung Quốc tự tin rằng tốt hơn là chính phủ nên nắm quyền kiểm soát và quản lý nền kinh tế của mình. Trung Quốc giờ đây cũng sẽ chậm lại trong việc mở cửa các thị trường vốn đã bị đóng của mình để tránh những dòng ngoại hối đầu cơ quá lớn chảy vào và chảy ra.
Chỉ có những quốc gia lục địa lớn với dân số đông đảo như Trung Quốc và Ấn Độ mới có thể xốc dậy sức tiêu thụ nội địa của mình để tránh bị ảnh hưởng quá nhiều bởi tình trạng suy thoái kinh tế hiện tại.
* Các cá nhân, công ty và quốc gia phải làm gì để thành công trong một thế giới toàn cầu hóa?
- Tại hội nghị CEO toàn cầu của Forbes về doanh nghiệp, công nghệ và lãnh đạo kinh doanh trong thế kỷ 21, tôi từng tự hỏi mình khác biệt giữa các nhân tố này trong quá khứ và ở hiện tại là gì.
Những gì đã thay đổi, và thay đổi vượt xa những gì ta nhận ra, chính là công nghệ. Công nghệ đòi hỏi các doanh nhân và lãnh đạo công ty phải nghĩ và hành động mang tính toàn cầu. Họ không thể né tránh việc hợp tác hoặc cạnh tranh với nhau ở tầm quốc tế.
Thách thức lớn hiện nay là điều chỉnh theo sự thay đổi mang tính kiến tạo trong cán cân kinh tế toàn cầu. Sẽ có một sự biến cải mạnh mẽ trong vài thập kỷ tới khi Trung Quốc cạnh tranh được đầy đủ trong nền kinh tế thế giới với tư cách một thành viên của WTO. Và Ấn Độ sẽ không chịu đứng ngoài.
Con đường đi tới của chúng ta là nâng cấp trình độ giáo dục, kỹ năng, kiến thức và công nghệ của mình. Học tập suốt đời là điều tất cả mọi người phải làm trong nền kinh tế tri thức này, với công nghệ đang thay đổi một cách mau lẹ. Những người không được giáo dục kỹ càng và không thể đào tạo lại để giỏi về máy tính, hoặc học những kỹ năng mới và tiếp thu kiến thức mới sau mỗi chu kỳ 5 đến 10 năm sẽ thấy rất khó kiếm được việc làm trong các nhà máy, bởi vì những nhà máy như vậy sẽ không mang lại lợi nhuận ở Singapore.
Để thành công, Singapore phải là một trung tâm toàn cầu, có khả năng thu hút, giữ chân và tiếp nhận nhân tài từ khắp nơi trên thế giới. Chúng tôi không thể cầm chân những công ty lớn ở bên ngoài liên minh tại địa phương. Cho dù chúng tôi có thích hay không thì họ vẫn cứ thâm nhập vào khu vực. Lựa chọn rất đơn giản. Hoặc chúng tôi có một hãng hàng không hạng nhất, một hãng vận tải biển hạng nhất và một ngân hàng hạng nhất, hoặc chúng tôi đi xuống.
Một trong những việc chúng tôi làm trong những năm trước là khuấy động trào lưu ở thế giới thứ ba bằng cách mời các tập đoàn đa quốc gia, và chúng tôi đã thành công. Giờ đây, chúng tôi phải khuấy động trào lưu ở thế giới thứ ba theo hướng dân tộc chủ nghĩa. Chúng tôi phải có tầm nhìn và thói quen quốc tế. Nhân tài của chúng tôi phải được bồi dưỡng để theo kịp với những tiêu chuẩn của thế giới bằng việc tiếp xúc và tương tác với những người nước ngoài giống họ. Một số người giỏi nhất của chúng tôi đã bị các tập đoàn hàng đầu của Mỹ thu hút mất. Đây chính là một phần của thị trường toàn cầu.
Trong một kỷ nguyên của những thay đổi công nghệ nhanh chóng, người Mỹ đã cho thấy rằng các quốc gia với số lượng khởi nghiệp đông nhất, đặc biệt trong ngành công nghệ thông tin, vốn luôn thử thách nguồn vốn của các nhà tư bản, sẽ thắng trong giai đoạn tiếp theo này… Nhật Bản, Hàn Quốc và các nước Đông Á khác phải chấp nhận một số thay đổi văn hóa cơ bản để cạnh tranh trong một thị trường toàn cầu hóa. Những dân tộc mà văn hóa giúp họ hấp thu người tài từ các nền văn hóa khác để trở thành một phần văn hóa doanh nghiệp mới sẽ có lợi thế.
Nhật Bản và vùng Đông Á là những xã hội gắn bó với nhau và vị chủng. Họ không dễ đón nhận người nước ngoài vào xã hội của mình. Chắc chắn đã phải có một thay đổi căn bản trong quan điểm văn hóa trước khi Nhật Bản và các nước Đông Á khác có thể cạnh tranh với Mỹ, quốc gia nhờ có lịch sử khác biệt nên rất dễ đón nhận người của các nền văn hóa và tôn giáo khác vào đội ngũ doanh nghiệp của mình.
Cách mạng số hóa và sự hội tụ của thông tin liên lạc, máy tính và truyền thông đòi hỏi chúng ta nhiều hơn là chỉ thuần túy sao chép những cải tiến phần mềm của các nước phát triển. Thế hệ trẻ mạnh dạn của chúng ta phải có không gian và tầm vóc để tạo ra những lĩnh vực kinh doanh cho riêng họ.
Chính phủ phải tạo điều kiện cho các quỹ vốn đầu tư mạo hiểm. Chúng tôi đã đi theo một cách tiếp cận an toàn. Giờ đây, giới trẻ tài năng của chúng tôi phải không cần đến một mạng lưới an toàn khi họ tự mình đi tới. Nhiều người sẽ vấp ngã, nhưng họ phải tự đứng dậy và tiếp tục cố gắng.
Quá trình mở cửa này có thể làm cho xã hội của chúng tôi thêm phóng túng. Thách thức khốc liệt nhất sẽ là bảo vệ được những giá trị chúng tôi yêu mến. Nếu bạn muốn phát triển trong thế giới hiện đại, bạn không được phép sợ hãi.
Công nghệ và toàn cầu hóa tạo ra một sân chơi bằng phẳng hơn. Vì hàng hóa và dịch vụ có thể được sản xuất hoặc chế tạo ở bất kỳ đâu nên điều này làm giảm những lợi thế cạnh tranh truyền thống của vị trí địa lý, khí hậu và tài nguyên thiên nhiên. Tất cả các quốc gia có thể khai thác công nghệ thông tin, giao thông đường không và gia nhập cộng đồng thương mại toàn cầu về hàng hóa và dịch vụ. Điều đó giúp lấp đầy khoảng cách giữa các nước có lợi thế và các nước kém lợi thế.
Nhưng một nhân tố “X” vẫn là một biến số quan trọng, đặc biệt cho các nước đang phát triển: đó là vai trò lãnh đạo có đạo đức. Một chính phủ trong sạch, hiệu quả, duy lý và có khả năng dự báo chính là một lợi thế cạnh tranh.
* Các giá trị đóng vai trò gì trong việc thúc đẩy tăng trưởng và cạnh tranh?
- Bên cạnh những thước đo kinh tế tiêu chuẩn về năng suất và sức cạnh tranh, còn có những nhân tố vô hình như văn hóa, tôn giáo, và những đặc điểm sắc tộc và đặc tính quốc gia khác ảnh hưởng đến kết quả…
Để có một nền kinh tế hiện đại thành công, tất cả dân số phải được giáo dục. Chính sức sáng tạo của giới lãnh đạo, thái độ sẵn lòng học hỏi từ kinh nghiệm ở đâu đó, triển khai những ý tưởng mới nhanh chóng và quyết đoán thông qua một hệ thống dịch vụ công hiệu quả, và thuyết phục đa số người dân rằng rất đáng tiến hành những cải cách mạnh mẽ, mới quyết định sự phát triển và tiến bộ của một quốc gia.
Tinh thần đổi mới và doanh nghiệp còn quan trọng hơn cả khả năng công nghệ. Trong một thời đại của những thay đổi công nghệ đáng kinh ngạc, thì chính những cá nhân kinh doanh luôn sẵn sàng nắm bắt lấy các cơ hội mới, những người sáng tạo ra các ý tưởng và lĩnh vực kinh doanh mới, mới luôn vượt lên phía trước. Những doanh nhân bình thường có thể kiếm sống bằng việc là những người ăn theo giỏi, nhưng những phần thưởng lớn luôn thuộc về những người đổi mới và biết kinh doanh.
Bạn tạo ra các doanh nhân của mình từ đâu? Có phải từ tầng lớp cao nhất? Ở Singapore rất thiếu những tài năng kinh doanh. Chúng tôi phải bắt đầu thử nghiệm. Những việc dễ – chỉ cần có một bộ óc mới tinh để tiếp nhận kiến thức và đào tạo được – chúng tôi đã làm rồi. Giờ đến phần khó khăn. Để làm cho những bộ óc có học thức và giỏi tính toán trở nên cách tân hơn, năng suất hơn, quả thật không dễ. Nó đòi hỏi phải thay đổi nếp nghĩ, đòi hỏi có một tập hợp những giá trị khác hẳn.
Những thói quen đem lại năng suất cao ở đội ngũ nhân công chính là kết quả của những giá trị được cấy sâu vào họ ở nhà, ở trường học và ở nơi làm việc. Những giá trị này phải được củng cố qua thái độ của xã hội. Một khi đã hình thành, giống như một ngôn ngữ mà xã hội sử dụng, các thói quen có xu hướng trở thành một chu kỳ tự tái tạo, tự duy trì…
Tôi rất ngạc nhiên khi thấy rằng 55% lực lượng nhân công của chúng tôi vẫn thừa nhận rằng họ sợ bị các đồng nghiệp ghét bỏ vì làm việc tốt. Chừng nào thái độ này còn tồn tại thì sẽ không thể khuyến khích được thành tích cao do những tiêu chuẩn còn thịnh hành của những nhân công kém cỏi. Những nhân công giỏi hơn sẽ ngại trở thành những đầu tàu. Thái độ này rất tiêu cực.
Người Singapore phải hiểu rằng lợi ích nhóm của họ sẽ tăng lên nếu từng người lao động cố gắng đạt được thành tích cao nhất, và do đó khích lệ đồng nghiệp làm tốt hơn nữa, qua chính tấm gương là mình. Không có cách nào tốt hơn là ví dụ của chính bản thân những người quản lý và những lãnh đạo cấp cơ sở. Những quan niệm lỗi thời rằng người quản lý là những kẻ bóc lột nhân công đã không còn phù hợp trong môi trường công nghiệp hiện nay. Lỗi thời không kém là những quan điểm quản lý rằng các nhà hoạt động nghiệp đoàn là những đối tượng chuyên gây phiền phức. Đây là những nếp nghĩ của quá khứ. Đây là những khuôn mẫu cần loại bỏ nếu chúng ta định xây dựng mối quan hệ tin tưởng và hợp tác giữa bộ phận quản lý, nghiệp đoàn và người lao động.
Chúng tôi đã tập trung vào những vấn đề thiết yếu ở Singapore. Chúng tôi dùng gia đình để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, cụ thể hóa hoài bão của một người và gia đình anh ta thành kế hoạch. Chẳng hạn chúng tôi tìm cách cải thiện trẻ em thông qua giáo dục. Chính phủ có thể tạo ra một bối cảnh trong đó người dân có thể sống hạnh phúc, thành đạt và thể hiện bản thân, nhưng cuối cùng chính những gì người dân làm với cuộc sống của họ lại quyết định thành công hay thất bại về kinh tế.
Chúng tôi đã rất may mắn có được nền tảng văn hóa này gồm niềm tin vào tiết kiệm, làm việc chăm chỉ, đức hiếu thảo và lòng trung thành trong các đại gia đình, và trên hết, thái độ coi trọng học vấn và hiếu học.
Dĩ nhiên, có lý do khác nữa cho thành công của chúng tôi. Chúng tôi có thể tạo ra được tăng trưởng kinh tế bởi vì chúng tôi tạo điều kiện cho những thay đổi nhất định trong khi đi từ một xã hội nông nghiệp lên xã hội công nghiệp. Chúng tôi có lợi thế vì biết rõ kết quả cuối cùng sẽ như thế nào nhờ nhìn vào phương Tây và sau đó là Nhật Bản.
Ngôn ngữ và văn hóa đều phải thay đổi để giúp một dân tộc giải quyết được những vấn đề mới. Trên thực tế, sức mạnh của ngôn ngữ và văn hóa tùy thuộc vào khả năng linh hoạt của những nhân tố này trong việc giúp người dân thích ứng với các điều kiện đã thay đổi. Chẳng hạn, tiếng Nhật và văn hóa Nhật ở một thế kỷ trước kể từ giai đoạn Phục hưng Minh Trị năm 1868 đã phát triển và thay đổi đáng kể để đáp ứng những nhu cầu mới. Người Nhật thành công trong việc tiếp thu khoa học và công nghệ phương Tây bởi vì họ linh hoạt và thực dụng đối với ngôn ngữ và văn hóa của mình. Họ vay mượn những ý tưởng và thiết chế phương Tây mới mẻ. Họ giới thiệu nền giáo dục phổ thông, tạo ra hệ thống quốc hội lưỡng viện, đưa ra các bộ luật, và cải tổ quân đội cùng hải quân theo mô hình của Đức và Anh. Họ tự dung nạp các từ ngữ phương Tây, làm gia tăng sức mạnh của tiếng Nhật.
* Nhân công thời nay cần nắm giữ những năng lực cốt lõi gì?
- Không như nhân công ở thời đại máy móc lặp đi lặp lại, nhân công của tương lai phải phụ thuộc nhiều hơn vào kiến thức và kỹ năng của chính mình. Họ phải quản lý được những hệ thống điều khiển của chính họ, giám sát bản thân và nhận lấy trách nhiệm tự nâng cấp. Họ phải có tính kỷ luật đủ để suy nghĩ độc lập và tìm cách vươn lên mà không cần ai theo sát sau lưng.
Nhân công trong nền kinh tế mới không thể hài lòng với việc giải quyết vấn đề và hoàn thiện thêm những điều đã biết. Họ phải mạnh dạn và cải tiến, luôn tìm kiếm những cách thức mới mẻ để làm việc, tạo ra giá trị gia tăng, lợi ích gia tăng.
Ngày nay, vì năng lực trong tiếng Anh không còn là một lợi thế cạnh tranh nữa, nên nhiều quốc gia đang cố gắng dạy trẻ em tiếng Anh.
Nếu ai đó muốn thành công, họ sẽ cần nắm vững tiếng Anh, bởi vì đó là ngôn ngữ của kinh doanh, khoa học, ngoại giao và học thuật.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

CẦN PHÁT HUY ĐẦY ĐỦ CHỨC NĂNG XÃ HỘI CỦA VĂN HỌC NGHỆ THUẬT

(Phát biểu tại cuộc gặp gỡ của Tổng Bí thư  Nguyễn Văn Linh với nghệ sĩ, ngày 7-10- 1987)
NGUYÊN NGỌC
Kính thưa đồng chí Tổng Bí thư,
Thưa các đồng chí
Từ sáng hôm qua đến giờ, nhiều đồng chí đã phát biểu rất sâu sắc về những vấn đề quan trọng. Tôi nhất trí với nhiều ý kiến trong số đó. Vì thời gian có hạn, tôi xin không nhắc lại những ý kiến đã nhất trí, chỉ nói thêm về một số vấn đề các đồng chí trước chưa nói, hoặc một số khía cạnh chưa được nói tới trong các vấn đề các đồng chí trước đã nêu ra.
Tôi nghĩ trong hai cuộc kháng chiến vừa qua, văn học nghệ thuật ta đã làm tròn xuất sắc nhiệm vụ của mình. Cùng với các ngành khác, văn học nghệ thuật đã góp phần xứng đáng tạo nên sức mạnh tổng hợp của dân tộc, của Đảng để đánh thắng kẻ thù. Từ đó, cùng góp phần quan trọng xây dựng, phát triển và khẳng định những giá trị tinh thần và đạo đức mới tốt đẹp cho con người, cho xã hội. Về phần bản thân mình, văn học nghệ thuật ta cũng đã có một bước trưởng thành lớn về nhiều mặt, trong đó có lẽ đáng chú ý hơn cả là sự trưởng thành về đội ngũ…
Những điều này không còn gì phải bàn cãi nhiều. Tuy nhiên mặt khác cũng cần thấy rõ rằng trong suốt thời kỳ kéo dài hơn 30 năm ấy, văn học nghệ thuật nước ta đã phát triển trong những điều kiện hết sức khắc nghiệt của chiến tranh. Cho nên tất yếu có những hạn chế không thể tránh khỏi, những hạn chế ấy đã để lại những dấu vết hằn sâu. Ví dụ: do điều kiện chiến tranh, trong văn học nghệ thuật đã thường quen chỉ nói một chiều. Chỉ nói thắng lợi không nói thất bại; chỉ nói bằng thành tích, không nói tổn thất; chỉ nói sự đúng đắn, không nói sai lầm… tuy ai cũng biết rằng mỗi thắng lợi trong cuộc chiến tranh đều đã phải trả giá bằng biết bao nhiêu tổn thất hy sinh, thất bại và cả sai lầm cay đắng…
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, lật đổ một chế độ xã hội cũ, chúng ta mong muốn bắt tay xây dựng một xã hội mới tốt đẹp. Nhưng lập tức chúng ta bước ngay vào chiến tranh chống ngoại xâm, cuộc chiến ấy cực kỳ ác liệt và kéo dài. Điều kiện chiến tranh buộc chúng ta hầu như lúc nào cũng phải giải quyết ngay những việc cấp bách nhất, còn những việc lâu dài, cơ bản thì cứ phải gác lại. Trong công tác tư tưởng cũng vậy. Trong văn học cũng vậy. Ví dụ như, trong giáo dục, trong văn học nghệ thuật, suốt mấy mươi năm chúng ta đã nói rất nhiều, rất đậm về tình đồng chí, quan hệ đồng chí, điều ấy là đúng và tốt quá. Song ta lại chưa kịp, chưa có thời gian… và cũng quên không nói về một cái sơ đẳng hơn, nhưng cũng gốc gác hơn của con người là tình bạn… Hoặc chúng ta đã nói nhiều, sâu về đất nước, về Tổ quốc, về Đảng, về nhân dân, về kẻ thù…, nhưng gần như đã quên hẳn một thời gian rất dài không nói gì với các cháu bé của chúng ta về cha mẹ, về gia đình… Trong việc xây dựng tư tưởng, tình cảm, nhân cách cho con người, chúng ta vừa đạt được những tầm rất cao, lại vừa có sự hụt hẫng ở một số mặt gốc rễ, cơ bản, lâu bền. Có thể nói chừng nào đã có xu hướng “thực dụng” ở đây. Đó là một sự phiến diện không nhỏ.
Điều kiện khắc nghiệt của chiến tranh cũng dẫn đến khuynh hướng đồng nhất tất cả với chính trị. Cả giáo dục, cả văn học nghệ thuật, thậm chí cả những phạm trù khoa học như sử học, đạo đức học, tâm lý học… đều nhất loạt bị đồng nhất với chính trị.
Cuộc chiến tranh giải phóng ác liệt đặt lên hàng đầu sự mất còn của toàn dân tộc. Số phận của toàn dân tộc lấn át hết mọi quan hệ khác. Trong văn học nghệ thuật điều ấy cũng in dấu rõ: cái chung, cái cộng đồng, cái toàn dân tộc là quan trọng nhất; cái riêng hầu như chưa được biết đến, nói đến. Chưa có quyền của cái riêng…
Tất cả những điều trên đây là dễ hiểu, có tính lịch sử, là đương nhiên của một “thời kỳ văn học nghệ thuật chiến tranh”. Chỉ có điều, khi chuyển sang thời kỳ khác, thời kỳ xây dựng hòa bình, tức là trở lại cuộc sống bình thường, lâu dài, hàng ngày… của một đất nước, một xã hội, nếu chúng ta không kịp nhận ra và kịp thời khắc phục những hạn chế có tính lịch sử trước đây, thì những hạn chế đó sẽ trở thành những nhược điểm, thậm chí những khuyết điểm sai lầm, cản trở sự phát triển của văn học nghệ thuật.
Tiếc thay, vừa qua chúng ta đã phạm đúng điều này trong sự lãnh đạo văn học nghệ thuật. Thật ra, từ gần 10 năm trước đây, có người cũng đã thấy và chỉ ra. Nhưng liền bị quy chụp là “phủ nhận thành tựu”, là ảnh hưởng đủ thứ quan điểm tư tưởng sai trái này nọ. Và những ý kiến trăn trở ấy bị dập đi…
Theo tôi, chúng ta đã chậm trễ mất khoảng mươi năm. Trong văn học nghệ thuật mươi năm có thể là cả một thế hệ! Thế mới biết lỗi ở chỗ này không nhỏ.
Đấy là một trong nguyên nhân dẫn đến tình trạng nghèo nàn trong văn học nghệ thuật vừa qua như đồng chí Tổng Bí thư nhận xét.
Một nguyên nhân khác, theo tôi, là đẻ ra từ hệ tư tưởng bao cấp nặng nề thống trị trong suốt thời gian rất dài, kể cả “bao cấp về tư tưởng”. Có những thời kỳ dài, tôi xin nói một cách hình ảnh, cứ hàng quý đến kỳ anh tuyên huấn cấp dưới lại khăn gói lên tuyên huấn cấp trên, lĩnh một ít tư tưởng do cấp trên cấp phát cho, về để tiêu dùng cho mình và đơn vị mình trong suốt quý. Hết quý, lại đi lĩnh suất khác. Nếu chẳng may đến kỳ rồi mà giao thông trắc trở chưa đi lĩnh được suất tư tưởng mới thì đành lúng túng ngồi chờ vậy, chẳng thể tự mình nghĩ ra được và dám nghĩ ra cái gì khác. Bởi đã quen: quyền suy nghĩ là quyền của cấp trên!
Tôi e rằng tình trạng này đến nay cũng chưa hết hẳn đâu.
Trong văn học nghệ thuật, tình trạng này cũng nặng nề. Mãi gần đây, một hôm tôi được chứng kiến một nhà văn có tên tuổi hẳn hoi và đang giữ một cương vị khá quan trọng trong bộ máy lãnh đạo văn học ta, lên chỗ Ban Văn hóa văn nghệ Trung ương của đồng chí Trần Độ, nằng nặc đòi: “Trung ương phải chỉ đạo cho chúng tôi nên xây là chính hay chống là chính chứ! Lúc này văn học nên ca ngợi cái tốt là chính hay đấu tranh chống tiêu cực là chính? Phê bình đấu tranh đến mức nào? Tỷ lệ như thế nào?… Yêu cầu Ban của Đảng phải chỉ đạo cho chúng tôi!…”. Riêng tôi, hôm ấy, tôi nghĩ: nếu tự anh không biết được trước cuộc đời hôm nay anh cần ca ngợi cái gì, đấu tranh chống cái gì, anh yêu ai ghét ai, anh phải yêu như thế nào và ghét như thế nào… thì anh còn là nhà văn cái nỗi gì!
Quả thật thói quen chỉ có thể, chỉ được phép suy nghĩ điều cấp trên đã suy nghĩ, thói quen chỉ được, chỉ dám và chỉ biết suy nghĩ theo phép cấp trên đã thống trị lâu dài trong xã hội ta. Mọi cái “lạ” đều phải kiêng kỵ. Tình trạng đó tất nhiên làm khô cằn mọi sự sáng tạo, trước hết là sáng tạo văn học nghệ thuật.
Anh Huy Cận có nói những quan niệm thô thiển, hẹp hòi, cứng nhắc trong lãnh đạo, theo anh, ở các cấp ủy địa phương đã cản trở nhiều sự sáng tạo văn học nghệ thuật. Tôi nghĩ khác. Ở nước ta hiện nay, số lượng văn nghệ sĩ làm việc ở trung ương đông hơn ở các địa phương nhiều. Nếu sự thô thiển, hẹp hòi, cứng nhắc chỉ có ở các cấp ủy địa phương như anh Huy Cận nói, thì làm sao giải thích tình trạng nghèo nàn hiện nay của văn học nghệ thuật ta, không chỉ nghèo “ở các địa phương”? Phải tìm ở chỗ khác.
Tôi nghĩ rằng trong sự lãnh đạo văn học nghệ thuật, chúng ta có sai ở một số vấn đề quan trọng cơ bản và sai ở ngay trong “hệ chính thống”, chứ không phải ở bộ phận, ở cục bộ, ở địa phương. Tôi chỉ xin tập trung nói về một vấn đề theo tôi là nóng bỏng nhất và cũng là vấn đề cơ bản, lâu dài: Vấn đề chức năng xã hội, hay là vai trò vị trí xã hội của văn học nghệ thuật.
Nhiều đồng chí đã nói về các vấn đề cơ chế, chế độ, chính sách, về sự đối xử với các văn nghệ sĩ v.v… Tôi nghĩ những điều đó đúng, cần nói, cần giải quyết. Nhưng có lẽ dẫu sao những cái đó cũng chỉ là hệ quả tất yếu của những cái quan trọng hơn: ấy là quan niệm về chức năng xã hội của văn học nghệ thuật.
Ở ta cho đến nay vẫn thống trị hai quan niệm phổ biến về chức năng xã hội của văn nghệ. Một là văn nghệ minh họa. Chức năng phản ánh của văn nghệ được hiểu một cách thô thiển. Đại thể là: Đảng và nhân dân đã làm nên sự nghiệp anh hùng, văn nghệ hãy ghi chép lại đi, để ngợi ca, để cho mọi người biết, để cho con cháu mai sau hiểu. Hoặc cao hơn một chút nữa, thì: cuộc đấu tranh xã hội diễn ra phức tạp như thế đấy. Đảng, Nhà nước đã giải quyết như thế này, thế này… Văn nghệ sĩ hãy theo sát, tìm hiểu và ghi chép lại, trình bày những bài học Đảng đã rút ra được ở đó, một cách văn chương, để mọi người dễ tiếp thu, thấm thía… Văn nghệ là đi sâu chính trị. Chính trị giải quyết. Văn nghệ phản ánh…
Quan niệm thứ hai là: “Văn nghệ xướng ca” (và đương nhiên dẫn đến: “xướng ca vô loài”!). Đại thể: văn nghệ là một thứ trang trí của xã hội. Khi no đủ, vui vẻ, gọi văn nghệ đến giải trí, mua vui. Còn khi mệt, bận, cáu thì văn nghệ liệu mà tránh xa ra, đừng có quấy rầy!…
Vai trò xã hội của văn học nghệ thuật bị hạ thấp. Mọi thái độ đối xử không đúng với nó là bắt nguồn từ đó
Anh Nguyễn Đăng Mạnh có nói đến sự “bí mật”, sự khó định nghĩa của văn học nghệ thuật. Quả có thế thật. Cho đến nay có lẽ vẫn chưa hoàn toàn giải thích sáng rõ được hết tại sao văn học nghệ thuật lại cần thiết đến thế cho con người, đã có mặt từ khi loài người là loài người, và tồn tại mãi với nhân loại như một điều kiện của chính sự tồn tại của loài người. Và hình như xã hội càng tiến lên, đặc biệt ngày nay khi nền văn minh cơ khí càng phát triển thì nhu cầu nghệ thuật của xã hội, của con người lại càng cấp thiết, bức bách hơn.
Phải chăng, trong rất nhiều lý do, có một lý do sâu xa này: nghệ thuật là một phương thức tồn tại của con người giữ cho con người mãi mãi là con người, không sa xuống thành con vật mà cũng không thành những ông thánh vô bổ và vô duyên. Nghệ thuật là sự vươn tới sự hướng về, sự níu giữ mãi mãi tính người cho con người. Cái cốt lõi của nghệ thuật là tính nhân đạo.
Có một thời chúng ta sợ, coi việc nói đến những điều gọi là những “đề tài vĩnh cửu” của văn học nghệ thuật là tối kiêng kỵ, là “phi giai cấp”, là “tư sản”, “xét lại”… Song, mặc dù chúng ta kiêng kỵ và lo sợ, những đề tài như vậy vẫn cứ tồn tại. Có những câu hỏi cứ còn mãi, lặp đi lặp lại mãi, suốt đường dài của lịch sử con người, như những câu hỏi về sống và chết, tốt và xấu, thật và giả, thiện và ác, hạnh phúc và đau khổ… Đó là những câu hỏi quằn quại còn mãi. Chỉ có điều mỗi thời đại, mỗi giai cấp, đến lượt mình lại phải có câu trả lời riêng của mình cho những câu hỏi đó. Giai cấp vô sản và xã hội chủ nghĩa chúng ta cũng phải trả lời những câu hỏi đó, theo cách của ta. Và con cháu ta mai sau, đến lượt chúng, cũng vậy.
Sau năm 1975, có một lúc chúng ta đã ngây thơ tưởng rằng đánh giặc xong chỉ còn nội bộ nhân dân, đồng chí với nhau, mọi quan hệ sẽ dễ dàng tốt đẹp ngay… Mười năm qua có lẽ một trong những sự giác ngộ quan trọng nhất của chúng ta là thấm thía hiểu ra rằng trong xã hội càng tiến lên thì cuộc đấu tranh giữa cái tốt và cái xấu, cái thật và cái giả, cái thiện và cái ác… không giảm, không mất đi, trái lại càng phức tạp, tinh vi, ác liệt hơn. Cái ác dường như cứ càng dữ dội, xảo quyệt… hơn mãi, và không những không biến đi mà chừng như ngày càng mạnh hơn. Trong cuộc vận động quyết liệt đó cái thiện vươn lên, thắng lợi một keo. Cái ác phải lùi lại, có lúc tưởng đã bị tiêu diệt. Nhưng rồi té ra nó chỉ chuyển đổi vị trí. Một bộ phận của cái thiện lại chuyển sang phía cái ác. Cái ác lành mạnh hơn. Và cuộc đấu tranh lại bắt đầu mãi mãi… Ngẫm cho cùng văn nghệ xưa nay chính là cái nôi về cuộc đấu tranh đó.
Trong cuộc đấu tranh ấy, văn nghệ đặc biệt làm một nhiệm vụ cực kỳ quan trọng: nhiệm vụ dự báo xã hội.
Có thể coi văn học nghệ thuật như là một thứ giác quan đặc biệt, là cái ăng-ten nhạy cảm đặc biệt của xã hội. Có những ngày đang nắng chang chang, vậy mà mở cái radio ra cứ nghe rẹt rẹt trên các làn sóng, thì ra gió mùa đông bắc đã ở bên kia biên giới, cơn giông sắp đến. Văn nghệ là cái ăng-ten ấy. Puskin gọi thi sĩ là nhà tiên tri. Gorki thì nói đến Chim báo bão. Còn Nguyễn Du của ta thì viết “Bất tri tam bách dư niên hậu…”.
Dự báo nghĩa là nói cái chưa có, mắt thường chưa thấy, tai thường chưa nghe… Người nghệ sĩ lớn là người có con mắt tinh đời nhìn những thế lực đang hùng hổ thống trị xã hội mà đã sớm đoán và tiên báo sự tàn lụi của nó: nghe những mầm non của cái mới còn rất cô đơn, rất mơ hồ mà dám khẳng định nó sẽ làm chủ tương lai… Nhà văn càng lớn thì khả năng dự báo của họ càng xa, càng dài, càng chính xác. Tôi nghĩ cũng nên nói rõ thêm rằng ngay chính bản thân người nghệ sĩ nhiều khi cũng không tự mình cắt nghĩa rõ được, trình bày rõ được sự “tiên tri” của mình đâu. Nhiều khi đó là một thứ dự cảm. Tâm hồn đặc biệt nhạy cảm của họ rung lên vì những chấn động nào đó mà chính họ cũng chưa hiểu được hết ý nghĩa… Nhà văn nổi tiếng G. G. Marquez có nói rằng không nên đánh giá quá thấp vai trò của nghệ thuật, nhưng cũng không nên đề cao quá đáng vai trò đó “Xưa nay nói cho cùng nghệ thuật cũng chưa bao giờ lật đổ được một chế độ chính trị nào”. Quả là ở châu Mỹ Latinh đau khổ và sôi sục của ông, cho đến nay chưa có chế độ độc tài nào bị văn nghệ lật đổ! Nhưng – ông nói – văn nghệ lại làm một việc rất quan trọng: nó báo hiệu, nó gây men, nó chuẩn bị tư tưởng cho những biến đổi xã hội rộng lớn, những cuộc cách mạng. Trong ý nghĩa đó, nó đi trước. Tôi nghĩ khi nói chức năng phản ánh của văn nghệ là phải nghĩ như vậy. Phản ánh nhưng là nói trước, chuẩn bị tư tưởng trước, chuẩn bị tư duy mới cho xã hội, chứ không phải đi sau, ghi chép, minh họa. Anh Nguyễn Khắc Viện có lần nói: “Nhiệm vụ của kẻ sĩ trong mọi thời là gây dư luận”, có lẽ cũng là trong ý này.
Văn nghệ còn có một đặc điểm là nó “la cà” trong đời sống. Và bao giờ nó cũng là cụ thể, cá biệt, nó nói nỗi đau cụ thể, cá biệt, niềm vui cụ thể cá biệt, số phận cụ thể, cá biệt… Nó sinh động như chính đời sống. Nó là tiếng nói của chính đời sống. Cho nên nó có tính nhân dân, tính dân chủ, gần như là “tự phát” vậy. Văn nghệ chính là sự khát khao mãi mãi vươn tới cái toàn thiện toàn mỹ của con người, nó là “sự không bằng lòng” mãi mãi của con người với thực tại. Văn nghệ có vai trò như tiếng nói thường xuyên sinh động của đời sống kiểm tra nhắc nhở nhằm cải thiện các hoạt động xã hội.
Cuối cùng, từ những suy nghĩ về chức năng xã hội của văn nghệ trên đây, tôi chỉ xin nói về một điểm trong sự đối xử với văn nghệ và văn nghệ sĩ.
Nếu ta công nhận chức năng quan trọng của văn nghệ là dự báo xã hội, thì cũng phải nói rằng đã là dự báo thì bao giờ cũng có ít nhất hai khả năng: dự báo đúng và dự báo sai. Ngay dự báo thời tiết hàng ngày là cái thứ vật chất thấy được, đo được bằng máy móc hẳn hoi… còn lắm khi sai, báo mưa ra nắng, báo nắng ra mưa; huống hồ là dự báo xã hội, dự báo đạo đức. Vậy khi văn nghệ có sai, nên đối xử thế nào?
Có lần tôi được nghe một vị giáo sư già đồng thời là một nhà phê bình văn học nổi tiếng Liên Xô, một người đã lăn lộn và trăn trở gần suốt đời trong thực tiễn văn học Xô viết, nói về vấn đề này. Ông nói: “Nếu quả là một người nghệ sĩ có tài, thì hôm nay họ có thể sai lầm, ngày mai họ có thể là thiên tài”, ông cũng lại nói: “Một người nghệ sĩ có tài, thì khả năng sửa chữa sai lầm ở họ rất lớn”. Tôi nghĩ đó là những lời nói sâu sắc, biểu hiện quan điểm đúng đắn của Đảng Cộng sản đối với vấn đề phức tạp và tế nhị này. Tất nhiên có được cách nghĩ như thế, cũng là trải qua kinh nghiệm 70 năm của văn học Liên Xô đầy thành tựu mà cũng đầy sóng gió, trong đó có cả những kinh nghiệm đã phải trả giá rất đắt, thậm chí bằng máu.
Nhiều đồng chí đã nói: tài năng thì hiếm. Còn cần nói thêm: tài năng nghệ thuật lại có đặc điểm là đơn nhất, không bao giờ lặp lại. Trong nghệ thuật cái gì đã mất là mất hẳn, không thể làm lại, không gì thay thế được. Cho nên đến nay chính chúng ta cũng không thể biết, không thể lường được chúng ta đã đánh mất những gì do những vụ thô bạo đã xảy ra trước đây. Ý nghĩ đó có lẽ cứ còn theo đuổi chúng ta mãi như một món nợ. Hôm nay nói, cũng chỉ để tiếc nuối thêm.
Và mong sao đừng bao giờ chúng ta phạm lại những điều như thế nữa.
Nguồn: Văn nghệ, Hà Nội, số 44 (31-10-1987). Theo tài liệu sưu tầm của Lại Nguyên Ân và Nguyễn Thị Bình.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Đàn ông được tạo ra thế nào ?

Truyền thuyết kể lại rằng khi Thượng đế tạo ra con lừa, Ngài phán: "Ngươi sẽ làm một con lừa có trí tuệ khiêm tốn, làm việc quần quật từ sáng sớm tới tối mịt, thồ những gánh nặng oằn lưng mà chỉ được ăn cỏ. Bù lại những vất vả đó, ngươi sẽ được sống tới 50 năm".
Con lừa trả lời:
- Sống như vậy 50 năm thì thật là khốn khổ. Xin Người cho con sống không quá 20 năm thôi.

Chúa chấp thuận ước nguyện của con lừa. Người tiếp tục tạo ra con chó và nói với nó:

- Ngươi sẽ trông coi nơi ở, bảo vệ tài sản của con người, kẻ sẽ coi ngươi là bạn hữu thân thiết nhất. Ngươi sẽ ăn cơm thừa canh cặn của hắn và sống 25 năm.

Con chó đáp:

- Cảm ơn Người. Nhưng sống kiếp con chó trong 25 năm là một hình phạt quá nặng. Xin Chúa cho cuộc đời con chỉ kéo dài dưới 10 năm thôi.

Lời thỉnh nguyện của con chó được chấp nhận. Thế rồi, Chúa tạo ra con khỉ và bảo nó:

- Ngươi sinh ra làm kiếp con khỉ. Ngươi sẽ đánh đu từ cây nọ qua cây kia, hành động như một gã ngốc. Ngươi sẽ có bộ dạng tức cười, chuyên làm trò cười cho thiên hạ. Tuổi thọ của ngươi là 20 năm.

Con khỉ tạ ơn Chúa rồi than thở:

- Cuộc sống như thế kéo dài tới 20 năm thật là một cực hình. Xin người cho con sống 10 năm thôi.

Chúa nhân từ chấp nhận lời thỉnh cầu. Ngài tiếp tục tạo ra con người rồi phán:

- Ngươi là con người, sinh vật cao cấp duy nhất biết đi trên đôi chân ở trái đất này. Ngươi sẽ sử dụng trí tuệ để làm chủ mọi sinh vật trên thế giới. Ngươi sẽ thống trị địa cầu và thọ 20 năm.

Con người cầu xin:

- Thưa Chúa, kiếp người 20 năm thật quá ngắn ngủi. Xin Người hãy ban cho con 20 năm mà con lừa đã từ chối, 15 năm mà con chó không chịu nhận và 10 năm con khỉ vứt bỏ.

Thế là Chúa chấp nhận lời thỉnh cầu. Ngài cho người đàn ông sống 20 năm làm kiếp con người. Kế đó, anh ta lấy vợ và sống 20 năm kiếp con lừa, làm việc quần quật với những gánh nặng trên lưng. Tiếp theo, khi có con, anh phải sống 15 năm kiếp con chó, trông coi nhà cửa và xơi những đồ ăn thừa mà lũ con để lại. 10 năm cuối đời, anh ta sống kiếp con khỉ, hành động như một gã ngốc để mua vui cho lũ cháu chắt.

Quyết Đại Ka (Sưu tầm)


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Tư, 16 tháng 4, 2014

TRUYỆN KHÔNG ĐẶT TÊN ( tiếp theo )

      Khi tôi đến,lão Đại đã đứng ngoài cửa. Thằng Chuếch cháu lão đang vòng xe quay đầu. Xế hộp của nó cỡ nhỏ, đổi hướng không đến nỗi khó. 
Lão có vẻ vội. Thậm chí không cả mời tôi vào nhà uống miếng nước.
Chợt hiểu: Người giàu cần phải sang, cần tăm tiếng như thế nào?
     Người ta cần giàu, có thể cần một đời, có khi gặp nước, chưa đến nửa đời đã giàu. Nhưng để thành sang có khi tốn đến mấy đời mà vẫn chưa được sang. Điều này cả lão và tôi cùng biết, nên lão mới có chuyến đi này.
Tôi chả là cái gì để làm sang cho lão. Một tên văn xỉ nghèo, gàn gàn dở dở nếu không có tiết mục hồi ký, hồi kiếc của lão, chưa chắc lão đã để ý, quan tâm. Lão đưa tôi mấy lần về quê là có dụng ý riêng.
     Lão bảo: “ Phần đầu chú viết tương đối được. Nhưng có vài chi tiết chưa chính xác. Thí dụ có mấy chỗ chú nhầm, Lốm viết ra Gốm, sai tên địa danh.. Anh muốn đưa chú về để chú tham khảo thêm, viết cho thật chính xác. Kẻo mai ngày người ta đọc nghĩ là không phải viết về anh, mà là một người khác..”
Thực ra việc này tôi có chủ ý riêng của mình. Tôi đâu có phải tên bồi bút khốn nạn, chuyên đi bợ đỡ quan trên với bọn nhà giàu?  Bất chấp tất cả để tô vẽ cho cái cuộc đời vốn đang nhem nhuốc này? Chỉ là cuộc trải nghiệm, trinh sát cuộc sống “ Vì sao nó lại như thế này mà lại không như thế kia”? Có viết gì chăng nữa là do cái tâm, cái muốn của mình, đâu phải vì chút lợi lộc lão hứa hẹn.
Vốn sống dù đúng sai hay dở thế nào mới là cái tôi cần. Không có chuyện hồi ký hồi cót nào ở đây cả. Chỉ là câu chuyện về một con người, một số phận điển hình của cái thời “lá diêu bông” này.
Để khỏi rắc rối và đỡ trình bày, tôi ầm ự cho qua chuyện. Tôi là người viết tự do. Không ai có quyền bắt buộc tôi phải như này như khác, kể cả lão. Mà tôi với lão đâu có ràng buộc gì? Không có hợp đồng hợp tác gì trong việc này. Mặc dù lão có hứa “ Khi nào sách in ra, được nhà nước giải thưởng, anh sẽ thưởng gấp đôi, gấp ba cho chú”. Điều này lão thật vớ vẩn. Tôi đâu phải con trẻ để không hiểu ý tứ của lão? Tôi thừa biết lão rộng rãi như thể nào. Lão đâu phải như người ta “Ăn chơi không sợ mưa rơi”. Dẫu lão có trăm ngàn tỉ thì tất cả những con voi còn sống sót trên hành tinh này vẫn cứ không chui qua được lỗ kim!
Nhưng thôi. Khỏi nói ra điều này. Vừa không cần thiết, lại mất vui mỗi khi gặp nhau. Xét cho cùng điều này cũng chẳng hại gì, còn có cái lợi cho tôi trong công việc. Lão cứ nghĩ theo cách của lão và tôi ngẫm cái sự của tôi cùng một việc như hai mặt của một vấn đề, thì đã chết ai?

Tất nhiên là thằng Chuếch không biết chuyện này. Nó có vẻ băn khoăn.

( Còn nữa..)



Phần nhận xét hiển thị trên trang

làm Kiều... mới sướng"

"Đi Tây đổi đời,..

Chúng ta vội vã và nghiêm khắc với mọi thứ vặt vãnh trong khi lại bình thản đến đáng sợ với những đe doạ đang đến gần.
Tương lai vụn vì suy nghĩ vặt
Nhà văn hoá Vương Trí Nhàn từng nói: "Nước nào cũng có gian giảo, Tây, Nam, Chệt, Chà đều có kẻ tốt người xấu. Song nước ngoài người ta gian khéo xảo lớn, còn nước mình gian vụn xảo vặt."
Một đường ống nước cấp cho hàng chục nghìn hộ dân ở giữa thủ đô mà một năm vỡ đến 5 lần vì dùng chất liệu xấu trên nền đất không gia cố. Một con đường sẽ là huyết mạch nối hai trục giao thông chính mà đang thẳng lại uốn cong.
Trong một hội chợ du lịch có tầm quốc tế vừa khai trương, các gian hàng bên trong vẫn chỉ chăm chăm bán tua khuyến mãi, đặc sản địa phương, và khoe tài tỉa dưa hấu.
Chẳng còn lạ nữa việc những con đường cứ đào lên rồi lại lấp xuống, những mục tiêu năm năm bị hy sinh vì lợi ích 1 năm, những đề án mà mục tiêu cứ thay đổi còn nhanh hơn đổi cover facebook.
Đã bao giờ bạn tự hỏi, tại sao chúng ta chả có nổi một công viên mới dù năm nào ra xuân các cơ quan đoàn thể cũng đều nô nức trồng cây.
Đã bao giờ bạn tự hỏi, tại sao những chung cư vẫn quảng cáo là "cao cấp hiện đại" chỉ sau vài năm đã trở thành những miếng vá xấu xí của đô thị.
Đã bao giờ bạn thử hỏi, tại sao sau gần 80 năm, số km đường sắt chúng ta xây mới so với thời thuộc pháp chỉ là 870km. Tính ra mỗi năm trung bình xây mới được 10km.
Vâng, con số đó quả là rất ngắn. Ngắn như những suy nghĩ của đa số người Việt.
Dường như làm gì, người Việt đều có tư tưởng "ăn xổi ở thì".
Chúng ta nên trách cha ông đã nghĩ ra câu tục ngữ đó để nó ám vào đời sống Việt? Hay ta nên trách những người đang sống ngày hôm nay, đã nuôi dưỡng mầm mống kém phát triển của đất nước ngày mai bằng nếp nghĩ, nếp sống tủn mủn, thời đoạn?
kinh tế, doanh nghiệp, tư duy, người Việt
Đường ống nước sạch từ sông Đà về Hà Nội lần thứ 5. Ảnh: Hạnh Thúy
Tư duy nào, số phận ấy
Ngạn ngữ có câu: suy nghĩ tạo ra hành vi, hành vi tạo thói quen, thói quen tạo tính cách, tính cách làm nên số phận. Với tư duy ăn xổi ở thì, chưa hiểu tương lai số phận người Việt sẽ đi về đâu?
Nhiều người nông dân sau luỹ tre làng sẽ chẳng nghĩ gì xa hơn màu xanh của những đồng tiền có thể giúp họ dựng được ngôi nhà tử tế.
Những suy nghĩ như "đi Tây đổi đời", "làm Kiều mới sướng"... đã đi vào không biết bao nhiêu lời ru mà các bà mẹ chân quê hát cho giấc ngủ con mình. (Và thực tế là nhiều đứa trẻ lớn lên từ những lời ru đó, nếu có cơ hội xuất ngoại, sẽ bằng mọi cách bám trụ lại "vùng đất hứa"... ).
Không ít phụ huynh ở những thành phố lớn, đang đầu tư mọi thứ cho con cái, chỉ với mục đích là có một công việc ổn định, thu nhập khá sau này. Mọi ước mơ nằm ngoài tầm nhìn đó đều lãng nhách. Bao nhiêu trong số những ước mơ trở thành hoạ sĩ, ca sĩ, nhà văn... của trẻ không bị cười nhạo bởi định kiến xã hội và lời doạ dẫm của cha mẹ về những "nghề nghiệp chết đói"?
Những thế hệ con trẻ "rập khuôn", lớn lên bằng ước mơ đầy toan tính của cha mẹ chúng liệu có thể tiến xa.
kinh tế, doanh nghiệp, tư duy, người Việt
Đường Trường Chinh bị uốn cong trong quá trình thi công để "né" nhà quan chức. Ảnh: Phạm Hải
Ăn xổi mọi thứ, ở thì mọi đoạn
Có những thực tế đang lặp lại hàng ngày. Mà nếu sống chậm lại, ta sẽ hiểu.
Đó là, chúng ta cố nới từng phân vuông trong không gian sống của mình mà không cần biết nó sẽ thu hẹp khoảng sáng chung của ngõ. Chúng ta cứ vô tư xả rác mà không cần biết nó sẽ cướp đi sự trong lành của các con sông. Chúng ta cứ ung dung phá rừng mà không cần biết có ngày điều đó sẽ làm ra lũ.
Chúng ta có thừa thời gian để tranh luận vô bổ trên những diễn đàn nhưng lại không đủ kiên nhẫn để chờ một nhịp đèn đỏ. Chúng ta có thừa ý thức về chỗ đỗ xe của mình nhưng lại rất đãng trí về không gian chơi của người khác. Chúng ta cho mình cái quyền được nói oang oang trong thang máy nhưng lại đòi người khác phải biết tôn trọng sự riêng tư của mình.
Chúng ta vội vã và nghiêm khắc với mọi thứ vặt vãnh trong khi lại bình thản đến đáng sợ với những đe doạ đang đến gần.
Chúng ta vội vã thoát nghèo, vội vã làm giàu, vội vã hưởng thụ. Nhưng thoát nghèo có hết hèn không, được giàu có thêm sang không, hưởng thụ mà tâm có bình an không, thì chúng ta không mấy khi nghĩ tới.
Liệu có thể hy vọng vào một tương lai bền vững nếu hiện tại được xây bằng tư duy ăn xổi ở thì như thế?


Lê Quang Vũ 
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nhàvăn Nguyễn Quang Vinh:


 · NÓI MỘT CÂU CHO VUÔNG THẾ NÀY:
Đã nói ngọng thì đừng ngụy biện là lưỡi em ngắn, nhé, không có năng lực thì né ra cho người khác làm. Vấn đề không chỉ là lỗi, cái này nó ảnh hưởng tới cả vị thế quốc gia đấy. Các ông cứ gào lên làm Asiad 18 để nâng vị thế Quốc gia mà mỗi mấy chữ thế này còn không nên cơm nên cháo thì vị thế cái gì? Lại còn thanh minh thanh nga, lại còn ngụy biện ngụy biếc, lại còn đổ lỗi. Sao khi chọn Đại sứ Du lịch mà nhìn ra vú to ngực khủng rõ thế.
Nguồn: http://dantri.com.vn/van-hoa/ngong-tieng-anh-tren-phong-nen-cuc-hop-tac-quoc-te-nhan-sai-sot-862736.htm
Phần nhận xét hiển thị trên trang