Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Hai, 7 tháng 4, 2014

GIỔ TỔ PHẢI TRANG NGHIÊM


 Nay tính

Kể từ thời săn bắn hai lượm xưa...
Đất nước ta đã độc lập tự do...
Chúng con sống đúng nghĩa cơm no áo ấm.

Không phải tước vỏ cây kết khố, đàn ông hết vào rừng săn muông thú " Cấm săn bắn động vật quý hiếm "
Đàn bà cũng không phải vào rừng đào củ hái lá " Rừng trọc do lâm tặc phá hết rồi "
Giặc ngoại xâm như thằng tàu khựa sợ uy nước nhỏ không dám hó hé " Chỉ lén lút bắt ngư dân, đâm tàu cá của ta ngoài biển...vẽ đường lưỡi bò trên giấy " chứ không dám làm gì hơn...hàng năm chúng phải nộp cho ta hàng hóa giá rẻ " mỗi tội độc hại "

Còn với các nước ở xa thì chúng ta bang giao hòa hảo....chưa có gì xảy ra!
Đây là sự phát huy những truyền thống quý báu mà bao đời cha ông để lại cho chúng con cơ nghiệp này.

Năm 2014 nhờ ơn vua mới chúng con liên tiếp được tăng lương " Quên... và đón nhận bão giá "
Các vụ án oan chung than , tử hình cũng đang ngày được cởi dẫu cởi cũng còn hạn chế vì hông to nên mới tới trên đầu gối
Tham những nhũng cũng diệt được vài ba vụ điển hình âu thế cũng là ghê gớm lắm rồi
Thuở xua đường đi vốn cong nay chung thủy với ông bà nên chúng con cũng cố gắng không để con đường nào thẳng cả vì sợ lỗi đạo bề trên

Nay chúng con cơm ăn no " Còn dư gạo xuất khẩu đi các nước " chỉ còn một ít hộ nghèo thì địa phương đã tổ chức hàng năm vào ngày tết cho mỗi người yến gạo " đỏ lửa ngày xuân "

Quần áo chúng con không phải đóng khố, đã đủ mặc thậm chí còn dư nên chị em bây giờ quấn vải kín mít...ra đường chẳng ai nhận ra. " chỉ trừ số chị em mặc áo hai dây và váy ngắn...số này thì luôn ở những ngôi nhà kín như quán karaoke hay mát xa nên không cần thiết chống nắng.

Hàng năm dẫu thiên tai lụt lội nhưng với tinh thần bầu bí chúng con đã biết ý thức vận động sức mạnh toàn dân đóng góp ủng hộ chia sẽ với bà con các địa phương..." tuy nhiên vẫn bị ăn bớt "

Dịch vụ y tế ngày càng phong phú đa dạng người vào viện không có tiền nộp viện phí thì ra ngoài " Ngành giáo dục thì thật tuyệt vời thầy và trò tỉ thí trong lớp giương cao ngọn cờ thượng võ, bảo mẫy đánh nguội các cháu để nóng mặt báo, quan chức ngành giáo kêu rên nhưng thu nhập khủng không kém nhờ dược dạy thêm triền miên

Còn các ngành nghề liên tiếp được đăng báo với nhiều tin hót bỏng tay...

Tóm lại là đất nước phát triển đến độ không thể tả sao cho hết!
Nay gia chủ con làm mâm cơm thời bão giá kính cẩn dâng lên tổ tiên

Nhẩm tính thu nhập lương tháng khoảng gần 4 triệu đồng..." đã trừ các khoản lại quả " để bảo đảm quyền được sống...

trừ điện, nước, ga và một số khoản khác khoảng cỡ 1,2 triệu
Đóng tiền học vì tương lai con em " quên...cả thầy cô " cũng ngót nghét 1 triệu
Tiền ăn tằn tiện cũng khoảng trên 1 triệu " nếu như nhà không có khách "

Và số còn lại như các khoản khác....nên hàng tháng âm dương khó lường may nhờ có tiền thấu chi ngân hàng lãi xuất thấp nên vẫn sống nhởn nhơ chờ đến ngày phong tỏa tài khoản.

Tính đến ngày hôm nay trong túi cũng còn rủng rỉnh ít tiền kim loại ...nên con ra chợ mua mớ rau muống về tỏ lòng thành kính làm bữa giỗ mời Đức Vua Hùng về dự bữa cơm thân mật với gia đình con để tỏ lòng hiếu kính tổ tiên. " rau không sạch thì cũng không phải lỗi tại con vì rau chưa có dấu kiểm dịch " như động vật...

Đồng thời cảm ơn các vua hiện tại đã chăm lo đời sống cho chúng con được đầy đủ cái ăn và cái mặc.

Kính cáo!


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thảm cảnh nghèo xơ xác khó tin của Thủ tướng Nepal


Một vài năm trước, báo chí thế giới gọi Tổng thống Uruguay là “nhà lãnh đạo nghèo nhất thế giới”. Nhưng có lẽ, độ nghèo khó của ông còn chưa thấm vào đâu so với Thủ tướng Nepal Sushil Koirala.

José Mujica, Tổng thống Uruguay, đi một đôi dép quai hậu giản dị, ngồi cùng với các phụ tá của mình trong một cuộc họp chính phủ.
Khi viết về José Mujica, Tổng thống Uruguay, báo chí thế giới thường lưu ý một số điều khá đặc biệt của ông: tính cách tiết kiệm, lối sống “thắt lưng buộc bụng”, thậm chí thiếu cả những đôi giày nghiêm trang. Tờ BBC từng phong cho ông danh hiệu “vị tổng thống nghèo nhất thế giới”.

Danh tiếng của Tổng thống Uruguay thực sự ấn tượng vì đã thể hiện mối quan tâm chân thành của ông tới sự bất bình đẳng kinh tế giữa các tầng lớp người trong xã hội. Điều đó được minh họa thông qua một bức ảnh gần đây chụp ông Mujica ăn mặc giản dị hơn cả bình thường tại một cuộc họp của chính phủ.

Lối sống thanh đạm của ông Mujica sẽ luôn luôn đáng ngưỡng mộ. Nhưng có lẽ, danh hiệu về nhà lãnh đạo nghèo nhất thế giới có thể sẽ không còn thuộc về ông nữa. Theo truyền thông đưa tin mới nhất, sự xuất hiện của Thủ tướng Nepal Sushil Koirala đang thay thế “ngai vàng” của Tổng thống Uruguay.

Ông Koirala tuyên thệ nhậm chức ngày 11/2/2014. Trước đó, ông từng được biết đến với lối sống vô cùng giản dị. Ông xuất thân từ một gia đình giàu có nhưng đã từ chối thừa kế. Danh tiếng của ông trở nên “nổi như cồn” từ một số hoạt động sau khi nhậm chức.

Ví dụ, tài sản của ông được công bố trên website cá nhân là 3 chiếc điện thoại di động, một trong số đó là một chiếc iPhone và những cái khác đều không còn sử dụng được nữa.

Con số đó không nghĩa lý gì về “sự nghèo khổ” nếu xét đến chiếc ô tô Volkswagen Beetle đã già cỗi của ông Koirala.

Tờ Washington Post cho biết, chiếc xe chỉ đáng giá 1.900 USD khi được kiểm kê trong năm 2010. Ông Koirala đã khai báo trong bản kê khai tài sản của mình rằng ông không hề có bất cứ bất động sản nào. Trước khi thành nhà lãnh đạo đất nước Nepal, ông sống trong một căn hộ cho thuê. Gần đây, ông mới được chính quyền cấp cho một nơi ở chính thức dành cho Thủ tướng.

Lối sống của Koirala xuất phát từ tính giản dị của chính ông. Theo BBC, ông thậm chí đã trả lại 650 USD cho ngân sách quốc gia khi ông nhận được một khoản trợ cấp cho một chuyến công du gần đây tới Myanmar.



Thủ tướng Nepal Sushil Koirala xuất hiện trước giới truyền thông ngày 10/2/2014, khi ông chuẩn bị nhậm chức.

Lối sống thanh đạm của cả ông Mujica và Koirala có vẻ như đã bị ảnh hưởng từ tuổi trẻ cấp tiến của họ. Ông Mujica trước đây là một thành viên của nhóm du kích cánh tả Tupamaros, trong khi ông Koirala đã bị bắt giam khi 30 tuổi vì đã tham gia vào một vụ cướp máy bay.

Nếu xét trên phương diện quyền lực, ông Mujica vẫn hơn ông Koirala trong việc nắm quyền điều hành đất nước. Trong pháp luật Uruguay, Tổng thống là người đứng đầu chính phủ và nhà nước. Tuy nhiên, ở Nepal có cả thủ tướng và tổng thống. Thủ tướng Koirala kiểm soát về mặt chính quyền, còn người đứng đầu nhà nước là Tổng thống Ram Baran Yadav mới nắm trong tay quyền điều hành đất nước.

MINH ANH (lược dịch)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Ông Cù Huy Hà Vũ được trả tự do, đã đến Mỹ


WASHINGTON DC 7-4 (NV) .- Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ được trả tự do trước hạn tù và đã đến Hoa Kỳ để chữa bệnh, theo các sự dàn xếp và điều đình của chính phủ Hoa Kỳ với nhà cầm quyền.

Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ trong lần ra tòa sơ thẩm ngày 4 tháng 4, 2011. (Hình: AP/Photo)

Ông Cù Huy Hà Vũ được đưa thẳng từ nhà tù số 5 ở tỉnh Thanh Hóa ra phi trường Nội Bài để bay đến miền Đông Hoa Kỳ. Một nguồn tin từ Hoa Thịnh Đốn cho biết ông Cù Huy Hà Vũ và vợ là bà Nguyễn Thị Dương Hà đã đến Mỹ lúc 3 giờ chiều, giờ địa phương, hôm Thứ Hai 7 tháng 4, 2014.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Hồ sơ Chu Vĩnh Khang


BÀI 1: CHIẾN DỊCH VỜN HỔ

Chưa có vụ án hình sự xen lẫn chính trị nào qui mô bằng vụ Chu Vĩnh Khang mà Chính phủ Bắc Kinh đang thực hiện, ít nhất trong hai thập niên qua. Reuters (30-3-2014) cho biết, Bắc Kinh đã tịch thu số tài sản trị giá đến 14,5 tỉ USD từ thân nhân và thành phần cánh hẩu của cựu Ủy viên thường vụ Bộ chính trị-cựu Bộ trưởng Bộ công an Chu Vĩnh Khang. Hơn 300 bà con, đồng minh chính trị và cựu viên chức từng làm việc dưới trướng họ Chu cũng bị bắt…

BẺ RĂNG CỌP

Chiến dịch “bẻ răng cọp” với các vụ xét nhà và tịch thu tài sản những người thân cận Chu Vĩnh Khang đã được thực hiện tại Bắc Kinh, Thượng Hải và 5 tỉnh khác trong ít nhất bốn tháng qua. Hàng loạt tài khoản bị khóa; khoảng 300 căn hộ-biệt thự trị giá chừng 1,7 tỉ tệ bị tịch thu; chưa kể nhiều đồ cổ và tác phẩm nghệ thuật trị giá 1 tỉ tệ cùng hơn 60 xe hơi và vàng bạc…
Trong số thân nhân và vây cánh Chu Vĩnh Khang bị bắt có vợ ông – cựu phóng viên truyền hình Cổ Hiểu Diệp; cậu con trai (từ cuộc hôn nhân trước) Chu Bân; cựu chủ tịch PetroChina và Tập đoàn dầu khí quốc gia Trung Quốc (CNPC) Tương Khiết Mẫn; cựu Thứ trưởng công an Lý Đông Sanh… Hơn 20 cận vệ, thư ký, tài xế của Chu Vĩnh Khang cũng bị câu lưu… Ký Văn Lâm, một tay chân thân tín của Chu Vĩnh Khang, bất ngờ bị rớt khỏi ghế Phó chủ tịch tỉnh Hải Nam. Ký từng làm việc cho Chu khi Chu là Bộ trưởng tài nguyên đất đai vào cuối thập niên 1990; sau đó đương sự theo Chu đến Tứ Xuyên làm thư ký riêng khi Chu ngồi ghế bí thư tỉnh ủy, rồi đến đầu những năm 2000 lại theo Chu về làm tại Bộ công an. Cuối năm 2010, Ký được chuyển đến Hải Nam… Một nhân vật có số phận tương tự Ký Văn Lâm là Diêu Mộc Căn (bị hất khỏi ghế Phó chủ tịch tỉnh Giang Tây)… Danh sách viên chức gặp “họa” (liên quan Chu Vĩnh Khang) từ sau Đại hội đảng Trung Quốc lần thứ 18 vào tháng 11-2013 còn rất dài: Quý Kiến Nghiệp, Phó bí thư Nam Kinh; Liêu Thiểu Hoa, Ủy viên thường vụ Quý Châu; Trần Bách Hòe, phó chủ tịch Ủy ban chính pháp Hồ Bắc; Quách Hữu Minh, Phó chủ tịch tỉnh Hồ Bắc; Đồng Danh Khiêm, Phó chủ tịch Ủy ban chính pháp Hồ Nam; Nghê Phát Khoa, Phó chủ tịch tỉnh An Huy; Chu Trấn Hoành, Ủy viên thường vụ Quảng Đông… Riêng Chu Bân, đương sự đã bị “vịn” vào tháng 9-2013 sau khi trốn sang Singapore...
Sự kiện thời sự nổi bật đầu tiên liên quan “đại án Chu Vĩnh Khang” là vụ xử trùm xã hội đen Lưu Hán, vốn từng “làm ăn” với Chu Bân, diễn ra hạ tuần tháng 3 và đầu tháng 4-2014… Đây chắc chắn là sự kiện “đệm” chuẩn bị “cơ sở pháp lý” để đưa Chu Bân ra tòa. Thực tế thì chiến dịch chặt đứt vây cánh Chu Vĩnh Khang đã được thực hiện hơn một năm qua. WantChinaTimes (1-1-2014) cho biết, việc viên chức cấp cao tỉnh Tứ Xuyên Lý Sùng Hy bị đánh “rớt đài” (sau khi bí thư tỉnh ủy Tứ Xuyên Lý Xuân Thành bị hạ bệ) là có ít nhiều liên quan Chu Vĩnh Khang. Năm 2003, với tư cách Phó bí thư tỉnh ủy kiêm trưởng ban kỷ luật đảng ủy, Lý Sùng Hy nắm một dự án khai thác khoáng sản tại 10 địa điểm ở địa phương trị giá 535 triệu tệ (88,4 triệu USD). Kẻ được Lý Sùng Hy móc nối đứng sau dự án này là trùm giang hồ Lưu Hán...

TẠI SAO CHU VĨNH KHANG BỊ “ĐÁNH”?

Trên bề mặt và một cách chưa chính thức, cựu Ủy viên thường vụ Bộ chính trị Chu Vĩnh Khang bị (dư luận) ghép vào tội tham nhũng, lộng quyền và suy thoái đạo đức. Theo TheDailyBeast (12-12-2013), khi còn làm bí thư Tứ Xuyên từ năm 1999-2002, Chu Vĩnh Khang, dù có gia đình, đã bí mật quan hệ với phóng viên truyền hình Cổ Hiểu Diệp (nhỏ hơn 28 tuổi). Khi Cổ Hiểu Diệp mang thai, Chu hứa ly dị vợ để kết hôn chính thức với cô năm 2008. Tuy nhiên, không lâu sau đó, vợ của Chu chết một cách bí ẩn trong một tai nạn xe. Hai tài xế liên quan bị xử hơn 10 năm tù nhưng được thả chỉ ba năm sau. Sau đó, Chu thành hôn với Cổ Hiểu Diệp. Nghi bố đứng sau vụ giết mẹ mình, người con thứ hai của Chu (em của Chu Bân) nhất định cắt đứt mọi quan hệ. Cũng theo nguồn TheDailyBeast, Chu có thể cũng liên can đến loạt vụ giết đối thủ chính trị…
Thời Chu Vĩnh Khang ngồi ghế lãnh đạo Tập đoàn dầu khí quốc gia Trung Quốc (CNPC), Chu Bân đã bỏ túi hơn 10 tỉ tệ (1,6 tỉ USD) từ các dự án chỉ riêng ở Trùng Khánh. Dựa vào cái bóng của cha, Chu Bân tống tiền nhiều doanh nghiệp để ăn “phí bảo kê”. Trong một vụ, Chu Vĩnh Khang đã giúp con trai “giải cứu” một trùm giang hồ sau khi tay này giết một chủ bất động sản khi người từ chối “tái định cư” nhường chỗ cho một dự án. Nạn nhân bị trói vào gốc cây và bị dội dầu sôi vào đầu!
Với tư cách Ủy viên thường vụ Bộ chính trị phụ trách chính pháp, Chu Vĩnh Khang kiểm soát các bộ máy tư pháp, hành pháp và lập pháp với nhân sự lên đến 10 triệu người. “Vương quốc” của Chu, được xem là quyền lực thứ tư, sau Đảng, Chính phủ và quân đội, mạnh hơn cả lực lượng cảnh sát, các cơ quan công tố-điều tra, tòa án, an ninh nội chính…! Với ảnh hưởng bao trùm từ trung ương xuống địa phương của Chu, đặc biệt việc Chu ủng hộ Bạc Hy Lai “giật ghế” của Tập Cận Bình – như nhiều đồn thổi phổ biến, Tập quyết định ra tay. TheDailyBeast cho biết, Tập đưa vụ Chu ra bàn và “xin ý kiến” trước 6 ủy viên thường vụ Bộ chính trị vào trưa ngày 1-12-2013. Sau đó, một nhóm điều tra đặc biệt được cử đến nhà riêng đương sự, thông báo về quyết định của Bộ chính trị cũng như việc Chu lẫn vợ bắt đầu bị giam lỏng…
WantChinaTimes (31-3-2014) thuật thêm, vào hè 2013, Chu biết mình sẽ bị “chơi”, khi đương sự nhận cú điện “mật báo” cho biết ông không được mời đến dự cuộc họp giới lãnh đạo chóp bu của Đảng tổ chức hàng năm tại khu nghỉ mát Bắc Đới Hà (Hà Bắc). Như tất cả cựu ủy viên thường vụ Bộ chính trị, Chu cũng có một biệt thự tại Bắc Đới Hà, gần sát căn biệt thự của Hồ Cẩm Đào. Sau cú điện trên, Chu bắt đầu hoảng. Đương sự cầu cứu Giang Trạch Dân nhưng Giang không tiếp… Suốt từ đó đến nay, Chu Vĩnh Khang vẫn chưa chính thức bị ghép vào bất kỳ tội danh nào. Con hổ bị vây vẫn tiếp tục bị vờn. Trong cuộc họp báo với giới chức Bộ ngoại giao đầu tháng 3-2014 do Thủ tướng Lý Khắc Cường chủ trì được phát lên truyền hình, phóng viên được yêu cầu không được hỏi bất kỳ gì liên quan Chu Vĩnh Khang (Lý Khắc Cường chỉ nói chung chung về chiến dịch đánh tham nhũng, rằng “Bất luận ông ấy là ai, ở vị trí cao như thế nào, nếu phạm kỷ luật đảng, ông ấy phải bị trừng trị, bởi mọi người đều bình đẳng trước pháp luật”).

CHU BÂN

Wall Street Journal (31-3-2014) cho biết, trong cuộc phỏng vấn mới đây tại nhà riêng ở Nam California, mẹ vợ của Chu Bân – bà Mary Zhan Minli (Chiêm Mẫn Lợi) 71 tuổi – nói rằng gia đình họ chẳng làm gì sai và chỉ là nạn nhân của cuộc đấu đá quyền lực “vốn thường thấy trong lịch sử Trung Quốc”. Thập niên 1990, Chu Bân lập gia đình với Fiona Huang Wan (Hoàng Uyển) và sống tại khu biệt lập ở ngoại ô Bắc Kinh. Chu Bân đồng thời đứng tên sở hữu căn nhà mà mẹ vợ sống ở Laguna Woods (California). Vào khoảng thời điểm Chu Vĩnh Khang được bổ nhiệm lãnh đạo Tập đoàn dầu khí quốc gia giữa thập niên 1990, Chu Bân đến Dallas, học Đại học Texas; tốt nghiệp bằng quản trị kinh doanh và thạc sĩ quản trị hành chánh. Chu Bân gặp và cưới Hoàng Uyển trong thời gian này (bố Hoàng Uyển, ông Steve Huang Yusheng, tức Hoàng Du Sanh, đến Mỹ vào thập niên 1980). Cặp Chu Bân-Hoàng Uyển bắt đầu trở về Trung Quốc “lập nghiệp” không lâu trước khi xảy ra sự kiện khủng bố 11-9-2001. Khoảng hơn một năm sau, Chu Vĩnh Khang được bổ nhiệm lãnh đạo một cơ quan mới thành lập: Bộ tài nguyên đất đai rồi tiếp đó làm bí thư Tứ Xuyên và cuối cùng lên Bộ trưởng Bộ công an. Đó là lúc Chu Bân bắt đầu “phất”…
Tháng 4-2004, công ty Kỹ thuật năng lượng Mặt trời mọc được thành lập, với Chu Bân và các anh em vợ là cổ đông lớn nhất. “Mặt trời mọc” nhanh chóng kiểm soát các vụ thầu cung cấp hệ thống kỹ thuật cho các trạm xăng thuộc Tập đoàn dầu khí quốc gia khắp Trung Quốc. Năm 2011, một website thuộc Tập đoàn dầu khí quốc gia Trung Quốc đã đưa “Mặt trời mọc” vào danh sách các nhà cung ứng lớn nhất của họ. Trong khi Chu Bân “khai thác” công nghiệp dầu, cô vợ Hoàng Uyển nhảy vào lĩnh vực sản xuất chương trình truyền hình. Vào buổi tối ngay sau khi xảy ra vụ động đất Tứ Xuyên vào tháng 5-2008, Đài truyền hình trung ương Trung Quốc đã buộc phải dùng “giờ vàng” để chiếu ra mắt chương trình giải trí lớn nhất mà “bà” Hoàng Uyển sản xuất: “Câu chuyện cảnh sát”. Dân trong cuộc cho biết, chương trình truyền hình này được bấm máy dưới sự tài trợ của Bộ công an và được quay tại Trùng Khánh, nơi một cánh hẩu của Chu Vĩnh Khang – Bạc Hy Lai – đang ngồi ghế bí thư. Phần bà mẹ vợ Chiêm Mẫn Lợi, hồ sơ điều tra cho thấy bà có tên trong danh sách cổ đông của hơn 10 công ty…

BÀI 2: “TRIỀU ĐẠI NHÀ CHU”

Thân thế gần như không có gì đáng nói nhưng sự nghiệp Chu Vĩnh Khang thì rực rỡ huy hoàng. Ông đã đi lên rất nhanh trên hoạn lộ và xây dựng được một hệ thống tham nhũng gắn kết với các thành viên gia đình…

MỘT NGƯỜI LÀM QUAN…

Sinh tháng 12-1942 tại Vô Tích (Giang Tô) trong một gia đình nông dân với tên khai sinh là Chu Nguyên Căn, đương sự rời làng năm 15 tuổi và gia nhập đảng cộng sản Trung Quốc năm 1964. Không hiểu vì lý do gì cái tên này đã được đổi thành “Chu Vĩnh Khang” khi Chu lên Bắc Kinh học. Tốt nghiệp khoa địa chất thăm dò thuộc Viện dầu khí Bắc Kinh, Chu khởi đầu sự nghiệp từ công nghiệp dầu. Theo Financial Times (31-3-2014), năm 1967, Chu là kỹ sư dầu khí tại mỏ Đại Khánh (Hắc Long Giang) gần Siberia. Với chính sách thúc đẩy dầu khí làm trụ cột cho phát triển kinh tế của Đặng Tiểu Bình, Chu bắt đầu thăng tiến nhanh, từ dầu bước sang chính trị. Những vị trí đầu tiên mà Chu được bổ nhiệm là thị trưởng hoặc bí thư tại các thành phố liên quan đến công nghiệp dầu chẳng hạn Bàn Cẩm (Liêu Ninh) và Đông Doanh (Sơn Đông). Chính tại Liêu Ninh, Chu Vĩnh Khang “bắt bồ” với Bạc Hy Lai (lúc đó là thị trưởng Đại Liên, thành phố cảng thuộc Liêu Ninh).
Từ 1998-1999, Chu Vĩnh Khang làm Bộ trưởng tài nguyên đất đai, nơi được quyền kiểm soát tất cả đất đai và mỏ khoáng khắp Trung Quốc. Sau đó, Chu làm bí thư Tứ Xuyên. Năm 2002, Chu vào Bộ chính trị; từ năm 2007-2012 làm Ủy viên thường vụ Bộ chính trị (một “thượng tầng chính trị” Trung Quốc với số ủy viên thời điểm đó chỉ có 9 người). Từ 2002-2007, Chu làm Bộ trưởng Bộ công an rồi từ 2007-2012 làm bí thư Ủy ban chính pháp, nơi giám sát tất cả tòa án và lực lượng cảnh sát. Thời Chu, ngân sách an ninh nội chính của Trung Quốc được cấp cao hơn cả ngân sách quốc phòng. Cũng trong thời này, Chu và Bạc phối hợp thực hiện chiến dịch trấn áp tội phạm tại Trùng Khánh đồng thời phát động phong trào “cách mạng đỏ” (ca Hồng, đả Hắc)…
Muốn hiểu rõ hơn về Chu Vĩnh Khang, phải đến Tây Tiền Đầu (Vô Tích), một ngôi làng nhỏ chỉ với hơn 300 dân. Tại đây, theo Wall Street Journal (1-4-2014), lịch sử “nhà Chu” đã được khắc trên 5 tấm bia gia phả bằng đá. Trên đó, không có tên “Chu Vĩnh Khang” mà chỉ có tên “Chu Nguyên Căn”. Tên của Chu Bân cũng được khắc trên một bia (cùng với tên của ba người đàn ông khác cùng thế hệ). Dân làng cho biết, năm 2013, Chu Vĩnh Khang trở về thăm quê, lưu lại chỉ khoảng một tiếng, cùng với lực lượng cận vệ dày đặc.
Ngày 12-2-2014, theo tờ Tài Tân (4-3-2014), một đám tang được tổ chức trong ngôi nhà từ đường của Chu Vĩnh Khang tại làng Tây Tiền Đầu (ảnh). Đó là đám tang của Chu Nguyên Hưng, em trai Chu Vĩnh Khang, chết vì ung thư, ở tuổi 69. Thời gian người anh cả Chu Vĩnh Khang lên Bắc Kinh học, ngôi nhà được giao lại cho hai cậu em. Họ không học hành nhiều nhưng sau này nhờ cái thế của ông anh nên trở thành những nhân vật có thế lực nhất nhì trong vùng. Dịp lễ tết, hàng đoàn xe đậu dài trước cổng nhà họ để “cúng kiếng” cho hai ông em, trong đó có người em út Chu Nguyên Thanh từng làm phó giám đốc Sở tài nguyên đất đai địa phương. Năm 1996, chính quyền địa phương từng có kế hoạch giải tỏa qui hoạch xóa sổ toàn bộ ngôi làng nhưng khi người ta nhìn thấy các tấm bia đá họ Chu thì dự án bị hủy.
Dân làng thuật rằng, hai ông em Chu Nguyên Hưng và Chu Nguyên Thanh phất lên rất nhanh theo đà thăng tiến sự nghiệp của Chu Vĩnh Khang. Có lúc giành độc quyền bán rượu Ngũ Lương Dịch, Chu Nguyên Hưng được dân làng nể sợ đến mức ai muốn tìm việc hoặc lập công ty thì cứ đến gõ cửa đương sự để được giúp. Cũng theo tờ Tài Tân, một viên chức Vô Tích từng chi cho “hai ông Chu nhỏ” 150.000 tệ để “chạy án” một vụ kiện. Một lá thư “gửi tay” của “hai ông Chu nhỏ” cũng có thể giúp học sinh thi rớt đại học được lọt vào trường cảnh sát ở Giang Tô… Ngoài việc kinh doanh dầu khí, vợ của Chu Nguyên Thanh – Chu Linh Anh – cũng tham gia kinh doanh nhiều lĩnh vực khác, đồng thời có “chân trụ” trong một công ty vốn là đối tác của Tập đoàn dầu khí quốc gia chuyên khai thác khoáng sản. Theo WantChinaTimes (5-3-2014), tính đến tháng 6-2011, giá trị các dự án khoáng sản liên quan công ty của Chu Linh Anh lên đến 715 triệu tệ (116 triệu USD). Năm 2010, Chu Linh Anh còn đầu tư 19 triệu tệ (3 triệu USD) vào một đại lý xe Audi...
7g tối ngày 1-12-2013, hơn 10 nhân viên thường phục bất ngờ gõ cửa căn hộ của Chu Nguyên Thanh tại Vô Tích, cách làng Tây Tiền Đầu khoảng 40 phút đi xe. Các thanh tra viên ở đó cho đến 5g sáng hôm sau; và khi họ rời đi, người ta thấy có cả Chu Nguyên Thanh và bà vợ Chu Linh Anh. Cùng lúc, tại làng Tây Tiền Đầu, một nhóm thanh tra chống tham nhũng cũng đến gõ cửa nhà Chu Nguyên Hưng, khi ông này đang thoi thóp chờ chết bởi căn bệnh ung thư xương…
Và gần như trong cùng thời điểm (cuối tháng 12-2013), thanh tra chống tham nhũng cũng đến nhà cậu con trai Chu Bân tại ngoại ô Bắc Kinh, nơi Chu Bân và vợ sống với đứa con gái 5 tuổi. Như kể ở kỳ một, mẹ vợ của Chu Bân – bà Mary Chiêm Mẫn Lợi, dù ở Mỹ – đã tận dụng ảnh hưởng của cậu con rể và ông sui gia để làm ăn tại Trung Quốc. Chiêm Mẫn Lợi từng là cổ đông lớn nhất công ty Beijing Hai Tian Yong Feng Oil Sales (“Bắc Kinh Hải Thiên Vĩnh Phong thạch du tiêu thụ hữu hạn công ty”), thành lập năm 2003 (hai năm sau khi Chu Bân từ Mỹ trở về Trung Quốc). Công ty này được giải thể năm 2009. Tài liệu đăng ký doanh nghiệp cho thấy, Hải Thiên Vĩnh Phong là cổ đông đầu tiên của một công ty khác, Shaanxi De Gan Oil Technology Co (“Thiểm Tây Đức Cam thạch du khoa kỹ hữu hạn công ty”), thành lập năm 2007. Việc thành lập doanh nghiệp lòng vòng như thế hẳn nhiên là cách để tránh bị dòm ngó.
Trả lời phỏng vấn Wall Street Journal, bà Chiêm Mẫn Lợi cho biết mình đến Trung Quốc vài tháng vào năm 2013 và có biết chuyện cậu con rể cũng như ông sui Chu Vĩnh Khang đang bị điều tra. Tháng 10-2013, bức ảnh Chu Vĩnh Khang đến thăm Đại học dầu khí được đăng trên website nhà trường. Đó là một trong những lần cuối cùng Chu Vĩnh Khang xuất hiện trước công chúng. Cuối tháng đó, Chiêm Mẫn Lợi trở về Mỹ. Vài ngày sau, bà kể, đường dây liên lạc với gia đình bà bị “chết” sau một cú gọi bằng dịch vụ trực tuyến Skype. Suốt từ đó, bà không nhận được cuộc gọi nào từ gia đình Chu Bân và cũng không thể gọi cho họ…

CUỘC CHIẾN KHÔNG BAO GIỜ KẾT THÚC!

Viết trên Viện chính sách Trung Quốc (17-3-2014), Andrew Wedeman, giáo sư chính trị học Đại học bang Georgia, cho biết, từ năm 1997 đến 2012, Viện kiểm sát nhân dân tối cao Trung Quốc đã kết án 550.000 cá nhân với các tội danh tham nhũng hoặc vô trách nhiệm trong đó có vụ Trần Lương Vũ năm 2006 và Bạc Hy Lai năm 2012. Quả là tình trạng tham nhũng Trung Quốc đã trở thành căn bệnh ung thu di căn. Số vụ án tham nhũng và viên chức vô trách nhiệm được Viện kiểm sát nhân dân tối cao tiếp nhận đã tăng từ 34.326 năm 2012 lên 37.551 năm 2013. Tỉ lệ viên chức từ cấp quận đến cấp tỉnh liên quan tham nhũng đều tăng. Tính đến thời điểm hiện tại, đã có 8 viên chức cấp tỉnh và cấp bộ bị kết tội tham nhũng, so với 5 vào năm 2012. Ủy ban thanh tra kỷ luật đảng cho biết tỉ lệ đảng viên đối mặt với một hình thức kỷ luật nào đó đã tăng đến 13,3%...
Chẳng đời chủ tịch Trung Quốc nào mà không hô hào chống tham nhũng. Thời Giang Trạch Dân, Thủ tướng Chu Dung Cơ từng nói ông chuẩn bị sẵn 100 cỗ quan tài với 99 cỗ dành cho quan tham và một cỗ cho mình. Năm 2006, phát biểu trước Ban phòng chống tham nhũng trung ương, Hồ Cẩm Đào đã nêu tội lạm quyền của nhiều viên chức Đảng dẫn đến xáo trộn xã hội và tạo ra phản kháng quần chúng. “Cái quả bom nổ chậm ấy chôn trong xã hội có thể dẫn đến loạt vụ nổ, đưa đến bất ổn đồng thời làm tê liệt bộ máy nhà nước” – Hồ Cẩm Đào nói…
Vấn đề ở đây rõ ràng không chỉ là phương pháp chống tham nhũng mà còn phải là sự mạnh tay thay đổi hệ thống đào tạo và bổ nhiệm viên chức vốn tồn tại từ thời Mao Trạch Đông. Chừng nào mà điều này chưa thực hiện, mọi chiến dịch “đánh hổ” hay “diệt ruồi” đều chỉ dừng ở mức xử lý vụ việc hoặc cá nhân cụ thể nào đó chứ không phải giải quyết được cái gốc căn nguyên. Làm thế nào có thể chống tham nhũng khi có trường hợp chính thanh tra điều tra tham nhũng lại dính vào đường dây “chạy án” tham nhũng?! Chống tham nhũng, trong nhiều trường hợp, lại là “phương tiện” để trừ khử nhau trong các cuộc đấm đá nội bộ. Làm thế nào có thể chống tham nhũng khi mà quyền lực có thể được mua và bán với những cái giá rất cụ thể được định bằng vị trí cụ thể?! Làm thế nào có thể chống tham nhũng khi vẫn tồn tại các nhóm lợi ích gắn kết nhau bằng quyền lợi và quyền lực?! Diệt hổ hay ruồi gì thì cũng phải chấn chỉnh hệ thống đi đã, từ quản trị hành chính công nói riêng đến hệ thống chính trị nói chung!

Mạnh Kim

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Mấy điều tâm sự

...cùng các đồng nghiệp hội viên trong Hội Nhà văn Việt Nam
images
Nhà thơ Bùi Minh Quốc

Cặp từ “Chiến sĩ – Nghệ sĩ” là tôi mạn phép mượn tên một bài của nhà văn cách mạng Nguyễn Khải viết lúc gần cuối đời đăng trên báoVăn Nghệ số 17, 18 ngày 29.4/5.5.2007 (về cái danh xưng “nhà văn cách mạng”, “văn học cách mạng” rồi một dịp khác sẽ phải bàn cho ra lẽ nội hàm của hai chữ “cách mạng”, ở đây tôi cứ dùng theo các nhà lý luận chính thống). Rõ ràng là cố ý, Nguyễn Khải đặt “chiến sĩ” lên trước “nghệ sĩ”, ngược hẳn với các văn kiện của đảng cầm quyền, của Hội Nhà văn và các nhà lý luận chính thống suốt bao năm ròng vẫn luôn tung hô và truyền giảng: “Nghệ sĩ – Chiến sĩ”. Trong bài viết, qua người thật việc thật là chính mình và bậc đàn anh Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Khải chua chát thú nhận rằng: từ cái phần đời chiến sĩ rất đẹp chiến đấu (với một niềm xác tín chân thành) cho những giá trị nhân văn cao quý trong quá khứ thời chiến, đến thời bình thì tự đánh tụt hạng đời mình thành một thứ công chức tẻ nhạt thảm hại, dù hàng ngày vẫn trưng ra cái nhãn hiệu “Nghệ sĩ – Chiến sĩ”, dù nắm giữ cương vị lãnh đạo (Tổng thư ký và Phó tổng thư ký) Hội Nhà văn, một tổ chức kế thừa và phát triển truyền thống chiến đấu vì dân vì nước của Văn hoá Cứu quốc ra đời trước Cách mạng Tháng Tám 1945 mà Nguyễn Đình Thi là thành viên nòng cốt chủ trì sáng lập.
Khá đông các nhà văn trong Hội Nhà văn Việt Nam (cả sáng tác lẫn nghiên cứu) và bạn đọc của mình hầu như đều đinh ninh rằng cái phạm trù “Nghệ sĩ – Chiến sĩ” chỉ ra đời cùng với Văn hoá Cứu quốc và Cách mạng Tháng Tám 1945. Thậm chí không ít người còn nghĩ rằng đó chỉ là một lực lượng văn học đặc thù sản sinh bởi thời chiến chuyên về loại văn chương “xông lên xốc tới”. Tôi thì thấy khác.
Ngược thời gian về tận cội nguồn xưa nhất của văn chương Việt mà ngẫm, trong phạm vi hiểu biết hạn hẹp của tôi thì, bản Tuyên ngôn Độc lập đầu tiên của quốc gia Việt, thật kỳ lạ mà như là không thể khác, đã được tuyên bằng một tiếng thơ chiến đấu cất lên ngay giữa trận tiền:
 Nam quốc sơn hà Nam đế cư
 Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
 Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư
Bản dịch thơ (của Lê Thước – Nam Trân):
Sông núi nước Nam vua Nam ở
Vằng vặc sách trời chia xứ sở
Giặc dữ cớ sao phạm đến đây
Chúng mày nhất định phải tan vỡ.
Tuyên ngôn Độc lập đồng thời cũng có thể là Tuyên ngôn Thơ, cuộn sôi hồn Nước, ươm chứa cả cái mệnh Thơ, mệnh người – thơ, luôn hoà quyện sắt son với mệnh Nước và số phận con người suốt trường kỳ lịch sử, không bao giờ được thiếu vắng cái chất chiến đấu, chất chiến sĩ.
Cái hồn ấy, cái mệnh ấy, không ngừng hun đúc qua Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Cao Bá Quát, rồi Nguyễn Đình Chiểu:
Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm
Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà
(Xin phép ghi chú thêm cho khỏi hiểu lầm: chắc rằng chúng ta không bao giờ qui giản cái chữ “đạo” của cụ Đồ Chiểu vào một thứ tư tưởng xơ cứng, thô thiển)
Rồi Thạch Lam (viết năm 1937):
Đối với tôi, văn chương không phải là một cách đem đến cho người đọc sự thoát ly trong sự quên, trái lại văn chương là một thứ khí giới thanh cao và đắc lực mà chúng ta có để mà tố cáo và thay đổi một cái thế giới giả dối và tàn ác, làm cho lòng người được thêm trong sạch và phong phú hơn”.
Cũng năm 1937, tuyên bố “một quan niệm về văn chương”, Trương Tửu viết:
Không có gì giúp người cầm bút đủ tự hào để phấn đấu, đủ can đảm để thắng, đủ an ủi để ngã, bằng nhận thấy rằng trong các công trình phá hoại và kiến thiết vinh quang nhất của xã hội loài người, bao giờ nhà văn cũng đứng mạnh dạn vào hàng ngũ tiên phong. Bao giờ nhà văn cũng vui vẻ, hăng hái giữ nhiệm vụ tên lính cảm tử phất cao ngọn cờ tranh đấu, dắt xã hội chạy tìm những chân trời mới và đẹp trên con đường gay go của hạnh phúc.
Mỗi khi hai lực lượng thuận và phản tiến bộ xung đột nhau, báo tin những dông tố hãi hùng, nhà văn, nhờ một linh khiếu – một trực giác – đặc biệt, lập tức dẫn đạo tư tưởng của đoàn thể đi vào cuộc tranh đấu và không bao giờ quên ủng hộ mặt trận nào hy sinh để làm toàn thắng lý tưởng và hạnh phúc. Giờ phút ấy nhà văn hòa vận mạng mình vào vận mạng của xã hội tương lai, viết bằng chữ máu vào trang giấy sáng sủa của thế kỷ một lời tiên tri, loài người sắp đi thêm được một bước”.
Tôi đã dẫn Trương Tửu hơi dài, bởi không muốn bỏ sót chút gì trong tuyên ngôn rất quan trọng này của ông, mà có lẽ cũng là của văn chương Việt hiện đại. Tôi chưa thấy nhà văn Việt Nam hiện đại nào như Trương Tửu đã nêu lên sớm đến thế, rành mạch và hùng hồn đến thế cái sứ mệnh lớn lao đến thế, gian truân khổ ải mà cũng cao sang đến thế, đáng say mê đến thế của người Nghệ sĩ – Chiến sĩ. Sau vụ Nhân văn – Giai phẩm, một vụ chế độ toàn trị đàn áp hàng trăm trí thức văn nghệ sĩ có tư duy độc lập, Trương Tửu (cùng Phan Khôi, Thuỵ An) bị “khai trừ vĩnh viễn” khỏi Hội Nhà văn Việt Nam, một tổ chức mà cả ba nhà văn ấy đều là thành viên sáng lập. Hai chữ “vĩnh viễn” trong thông báo kỷ luật bộc lộ tất cả sự hằn học thảm hại của kẻ “ra đòn” đối với Trương Tửu (cùng Phan Khôi, Thuỵ An). Nhưng họ làm sao có thể khai trừ nổi Trương Tửu (cùng Phan Khôi, Thuỵ An) ra khỏi văn học Việt Nam? Làm sao có thể khai trừ nổi cái phẩm chất, khí phách, bản lĩnh chiến sĩ ra khỏi con người nhà văn? Bất chấp mọi hành vi chụp mũ chính trị độc ác, mọi thoá mạ xúc phạm hèn hạ, mọi đoạ đày dai dẳng triền miên, Trương Tửu đã giữ vững cái phẩm chất, khí phách, bản lĩnh ấy đến trọn đời. Trương Tửu đã thắng. Lẽ phải đã thắng. Cái thế lực độc ác và dối trá của chế độ toàn trị đã phải lùi một bước trước sức mạnh của lẽ phải muôn đời. Hội Nhà văn Việt Nam đã phải khôi phục hội tịch cho cố nhà văn hội viên Trương Tửu (tạm bỏ qua chưa xét đến động cơ thầm kín của việc phục hồi, chắc không hoàn toàn là thực tâm muốn gián tiếp sửa sai).
Rồi đây các “Nghệ sĩ – Chiến sĩ” (bao gồm cả sáng tác lẫn nghiên cứu) trong Hội Nhà văn Việt Nam hẳn sẽ phải đào sâu vào cái tình trạng tụt hạng giá trị mà Nguyễn Khải đã gắng can đảm tự phơi bày lúc gần cuối đời. Nhiều năm qua, và cho đến nay vẫn thế, các “Nghệ sĩ – Chiến sĩ” ra sức lẩn tránh không dám nhìn thẳng vào cái sự thật thê thảm này. Hình như tự nhiên có một sự thoả thuận ngầm từ Ban lãnh đạo tối cao đến Hội đồng lý luận phê bình văn học nghệ thuật trung ương, Đảng đoàn Liên hiệp các hội Văn học Nghệ thuật cùng các cơ quan ngôn luận dưới quyền đều nhất loạt cố ý lờ tịt, lẩn tránh chuyện phẩm chất “chiến sĩ” trong danh hiệu “Nghệ sĩ – Chiến sĩ”. Sao vậy? Sự thể đã quá rõ: vì thực chất phần lớn các vị công chức, quan chức (dán nhãn “cán bộ lãnh đạo”) đã phản bội cái phẩm chất chiến sĩ nơi chính bản thân mình từng hiện ra (có vẻ) rất đẹp của một thời hăng say trong sáng.
Đà Lạt 02. 04. 2014
B.M.Q.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thời đại công nghệ số, sách điện tử và tương lai văn học

Jonathan Franzen
Trần Ngọc Hiếu
Writer Jonathan Franzen
Nhà văn Jonathan Franzen
 1. Năm 2012, giải Oscar đã tôn vinh một bộ phim ngược dòng – The Artist (Người nghệ sĩ) của đạo diễn Michel Hazanavicius. Gọi The Artist là bộ phim ngược dòng bởi trong khi nhiều tác phẩm cùng thời tận dụng những lợi thế công nghệ, tìm cách thỏa mãn khán giả bằng nhiều kỹ xảo, nhiều hiệu ứng thì Michel Hazanavicius lại quay về làm một bộ phim câm, đen trắng, theo đúng phong cách của điện ảnh thời kỳ đầu. Qua câu chuyện về một ngôi sao thời kỳ phim câm, The Artist đã tái hiện lại một giai đoạn bước ngoặt của nghệ thuật điện ảnh, từ hình thái phim câm sang phim có tiếng nói. Dĩ nhiên, trong nhận thức của George Valentin, ngôi sao phim câm do nam diễn viên Jean Dujardin, người đồng thời cũng nhận tượng vàng Oscar cho vai nam chính xuất sắc nhất, sự ra đời của phim có tiếng nói là một mối đe dọa đối với điện ảnh, làm điện ảnh mất đi vẻ đẹp nguyên thủy của nó. Nói tóm lại, phim có tiếng nói không thể được thừa nhận như là điện ảnh đích thực.
George Valentin đã dốc toàn bộ tài sản của mình để làm một bộ phim câm hoành tráng, với niềm tin rằng nó đủ sức đánh bại những bộ phim có tiếng nói. Nhưng ông đã thất bại. Khán giả vẫn ùn ùn kéo đến xem những bộ phim có tiếng nói dù chúng chỉ nói những câu chuyện có vẻ như tầm thường. Có khán giả, phim có tiếng nói đã đánh bại phim câm và biến những ngôi sao phim câm không thích nghi được với môi trường nghệ thuật mới thành những biểu tượng quá vãng.
Câu chuyện The Artist kể lại cũng là tình thế mà nghệ thuật hiện đại thường xuyên phải đối mặt: nghệ thuật có cảm giác bị thương tổn bởi chính sự phát triển của khoa học kỹ thuật. Các thành tựu của khoa học công nghệ có khả năng chiều chuộng các giác quan của con người, làm thay đổi cách và cái người ta nhìn, nghe, đọc, từ đó ảnh hưởng đến cảm xúc, đến cách người ta tiếp nhận và kỳ vọng ở nghệ thuật. Chúng vừa có khả năng mê hoặc con người và đồng thời cũng bởi thế, vừa có khả năng bắt con người phải phụ thuộc vào chúng. Điều này dễ khiến các hình thái truyền thống của nghệ thuật e ngại khoa học kỹ thuật làm tha hóa công chúng của mình. Nghệ thuật hiện đại chủ nghĩa phản ứng thời đại kỹ trị bằng nhiều hình thức: hoặc bảo vệ sự tồn tại của mình theo đường lối bảo thủ giống như George Valentin hoặc liên tục tạo ra những chất vấn, mỉa mai, giễu nhại chủ nghĩa kỹ trị cùng lúc với việc phơi bày những nguy cơ phi nhân mà nó có thể đem đến.
Sự kháng cự của nghệ thuật trước khả năng thao túng đời sống con người của khoa học kỹ thuật, đến thời điểm này, vẫn là một thực tế. Một tâm lý technophobia (“sợ kỹ thuật”) tồn tại ở nhiều nghệ sĩ, trong đó có những tên tuổi lớn, nhất là khi chứng kiến công nghệ số đã và đang không ngừng cải tạo môi trường vật chất và không gian tinh thần của con người một cách sâu sắc. Con người đang sống trong một thế giới bị màn hình hóa, không gian kỹ thuật số và không gian vật chất phân mảnh con người cùng lúc, ranh giới giữa ảo và thật trở nên nhập nhằng, luôn có khả năng chuyển hóa lẫn nhau, can thiệp lẫn nhau. Văn học cũng không được miễn trừ trước những tác động này của công nghệ số, thậm chí cái nền tảng tưởng chừng như bất di bất dịch của nó – trang giấy – nay cũng bị lung lay. Từ trước đến nay, hai hoạt động cơ bản nhất tạo nên sự sống của văn học là đọc và viết đều bắt đầu từ trang giấy. Những vận động, những thể nghiệm, cách tân, dù phá phách, nổi loạn đến đâu, hầu như cũng không diễn ra bên ngoài không gian vật chất nền tảng của văn học là trang giấy. Nhưng màn hình máy tính, với sự tiện dụng và nhiều tính năng của nó, đã xuất hiện như một khả thể khác. Nhiều nhà văn đã nhìn thấy sự bành trướng của thế giới màn hình vào trong vương quốc của hoạt động đọc-viết mà trang giấy xưa nay vốn độc quyền như là dấu hiệu của sự bất an. Trong số đó có nhà văn người Mỹ, Jonathan Franzen.
2. Jonathan Franzen sinh năm 1959, thường được nhắc đến như một tiểu thuyết gia quan trọng của văn chương đương đại Hoa Kỳ. Năm 2001, cuốn tiểu thuyết The Correctionscủa ông đã được trao giải thưởng Sách quốc gia (National Book Award), vào chung kết giải Pulitzer cho thể loại hư cấu và đồng thời cũng được đề cử cho giải thưởng văn chương quốc tế IMPAC. Năm 2010, với sự ra mắt tiểu thuyết Freedom, ông được tạp chí Time khẳng định là “Tiểu thuyết gia vĩ đại của văn chương Mỹ”. Bên cạnh tiếng vang từ những tiểu thuyết, Franzen còn là một cây bút tiểu luận sắc sảo với một giọng điệu châm biếm cay đắng không khoan nhượng. Một trong những chủ đề mà Franzen thường xuyên tấn công quyết liệt chính là chủ nghĩa tiêu thụ công nghệ (technocosumerism) và các hình thức truyền thông đại chúng. Sách điện tử, đối với Franzen, chính là dấu hiệu sự xâm thực của chủ nghĩa tiêu thụ công nghệ vào văn học và điều này hàm chứa những nguy cơ không thể xem thường đối với tương lai của văn học và rộng hơn là văn hóa. Franzen đã thẳng thừng đưa ra cảnh báo này trong bài thuyết trình của mình tại Festival Văn chương và Nghệ thuật Hay tổ chức tại thành phố Cartagena, Columbia tháng 1-2012.
Theo tường thuật trên các báo TelegraphThe Guardian – hai tờ báo chính bảo trợ thông tin cho Festival này, Jonathan Franzen đã không ngần ngại dùng những từ ngữ rất mạnh để công kích sách điện tử: “sách điện tử đang làm xói mòn các giá trị”, thậm chí, sách điện tử đang “phá hoại xã hội”. Theo Franzen, sách điện tử, và rộng hơn thế là thời đại số hóa này, đang hủy hoại một cảm thức có ý nghĩa đặc biệt, cần thiết đối với con người và thế giới của mình: cảm thức về sự cố định. Franzen diễn giải quan điểm ấy khá mạch lạc:
“Có thể sẽ chẳng ai quan tâm đến số phận của sách giấy 50 năm sau, kể từ bây giờ, nhưng tôi thì có. Khi đọc một quyển sách, tôi đang cầm trên tay một vật thể đặc biệt, trong một khoảng không gian và thời gian đặc biệt. Thực tế là khi tôi lấy quyển sách ra khỏi kệ thì nó vẫn nói cùng một điều, một câu chuyện ấy mà thôi… Có những người làm việc tận lực chỉ để làm sao ngôn từ thật chính xác, đúng như cách mà họ muốn. Và họ chắc chắn cấu trúc ngôn từ này sẽ được bảo đảm nếu họ in nó ra bằng mực, trên giấy. Một màn hình luôn đem đến cho ta cảm giác ta có thể xóa bỏ nó, thay đổi nó, dịch chuyển nó. Vì thế, một người sùng kính văn chương như tôi, màn hình không đem lại sự yên tâm về một điều gì đó cố định.”
Đối với những độc giả nghiêm túc, Franzen cho rằng “cảm quan về sự cố định luôn là một phần của kinh nghiệm”. “Mọi thứ khác trong đời ta đều lỏng, đều khả biến nhưng ở đây, ở văn bản này, mọi thứ không đổi,” ông nói tiếp. “Liệu 50 năm nữa, sẽ còn có độc giả nào vẫn nuôi cảm giác ấy? Có ai còn khao khát về một cái gì đó cố định, bất biến, không thể thay đổi? Tôi không có khối cầu pha lê để tiên tri. Nhưng tôi sợ rằng thế giới này sẽ khó khăn nếu như không có sự bảo đảm về một sự cố định như thế. Sự tùy tiện, ngẫu nhiên được thế giới số cho phép quá đà này không tương thích với một hệ thống công bằng và chế độ tự trị giàu tính trách nhiệm.”
Luận điểm của Franzen cho thấy: sự thay thế trang giấy bằng màn hình đồng nghĩa với việc văn chương phải chấp nhận một hình thức tồn tại phi cấu trúc, phi trật tự, ở đó, công nghệ số cho phép người đọc – giờ đây, đúng hơn phải gọi là người tiêu dùng – được phép ứng xử với tác phẩm của nhà văn – giờ đây, có tính chất như một vật, thậm chí một thứ hàng hóa – một cách tự do, tùy tiện. Hơn cả văn chương, thế giới bị số hóa, bị màn hình hóa này là một thế giới phi nền tảng, mọi thứ đều trơn trượt, đều có thể được tạo ra, thêm thắt và xóa bỏ trong khoảnh khắc. Trong thế giới ấy, những ý niệm về đạo đức, trách nhiệm, sự công bằng không thể được thiết lập bền vững. Con người phải chấp nhận một thế giới hỗn mang bởi chính những thành tựu của khoa học công nghệ.
3. Cùng với sự phê phán sách điện tử, Franzen cũng tấn công trực diện nhân tố được xem là đã cải tạo triệt để đời sống đương đại: mạng internet và hàng loạt những tiện ích phái sinh cùng với nó: các mạng xã hội, các hình thức thương mại điện tử, thư tín điện tử… Walter Berglund, nhân vật trong cuốn tiểu thuyết Freedom, dường như mang chính nỗi bức bối của tác giả: “Đó là những gì khiến tôi không thể ngủ được vào ban đêm,” Walter nói, “Tình trạng phân mảnh hóa này. Vì vấn đề tương tự xảy ra ở mọi nơi. Giống như internet, truyền hình cáp – không có bất cứ trung tâm nào, không có một sự đồng thuận chung nào, chỉ có hàng tỉ những tiếng động vo vo làm mất tập trung… Tất cả những thứ có thật, những thứ chân thực, những gì thật thà, đều đã chết sạch.”
Trong tiểu luận “What’s Wrong With the Modern World?” (Điều gì không ổn với thế giới hiện đại), Franzen thẳng thắn bày tỏ: cái thế giới mà công nghệ nuốt con người vào trong thực tại ảo mà nó tạo ra, nơi con người biến mất ngay khi họ đang bận rộn facebook hay sử dụng twitter, cái thế giới mà các cơn sốt công nghệ khiến con người thường xuyên rơi vào tình trạng cả thèm chóng chán… là cái thế giới gây nghiện, cái thế giới không ngừng náo động, không dành một góc yên tĩnh, khuất lấp nào cho cái cá nhân. Cái thế giới đó không phải là không gian lý tưởng của văn chương. Franzen đã phân tích chủ nghĩa bá quyền của nền thương mại điện tử mà Amazon có thể ví như một đề quốc và cho thấy chủ nghĩa bá quyền ấy có thể hủy hoại những nhân tố quan trọng tạo nên cảnh quan đa dạng của văn chương. Ông viết: “Amazon muốn một thế giới mà ở đó các cuốn sách hoặc là được các nhà văn tự xuất bản hoặc được xuất bản bởi chính Amazon, với những độc giả phụ thuộc vào những bình luận trên Amazon để chọn lựa sách, với những tác giả tự chịu trách nhiệm quảng bá cho sách của mình. Trong thế giới ấy, những hot blogger, những kẻ chơi twitter, của những kẻ quyền lực ảo trên mạng lại là những kẻ ăn nên làm ra với tiền được trả để họ bầu chọn năm sao cho những cuốn sách. Nhưng điều gì sẽ xảy ra đối với những người muốn trở thành nhà văn  không thể chịu nổi sự hời hợt, nông cạn của những hành vi tương tác xã hội bằng hình thức blogging hay twitting như thế? Điều gì sẽ xảy ra với những người muốn giao tiếp ở chiều sâu, giữa cá nhân với cá nhân, trong sự yên tĩnh và cố định của trang sách in, với những người mà nhân cách của họ được hình thành một phần trong tình yêu với những nhà văn sáng tác ở cái thời mà việc xuất bản còn đảm bảo sự kiểm soát chất lượng bằng những hình thức nhất định và uy tín của nhà văn không phải là sự tự phô trương?”
Rất cực đoan nhưng không phải nỗi lo ngại của Jonathan Franzen không nhận được những chia sẻ từ những người cùng thời. Bằng một giọng điệu điềm tĩnh hơn, Chad.W Post trong bài “Reading in the Age of Screens” (Sự đọc ở thời đại màn hình) trên trang điện tử Publishing Pespectives  cũng cho rằng: rất có thể thời đại màn hình sẽ là thời kỳ may mắn của các thể loại văn chương giải trí, theo khuôn mẫu, có thể đọc nhanh. Nhưng văn học nghiêm túc lại luôn là thứ văn học phá vỡ khuôn mẫu, đòi hỏi một lối đọc chậm, kỹ lưỡng, nó không có nhiều không gian trong môi trường thương mại điện tử, người ta sẽ rất khó tìm được thông tin về nó trên các kênh thông tin rộng rãi. Thời đại số hóa phải chăng là thời đại mà những thứ văn chương nghiêm túc phải chấp nhận một địa vị ngoại vi, thiệt thòi?
4. Jonathan Franzen là người không chấp nhận một thứ chủ nghĩa chiết trung ba phải. Những phát biểu của ông về sách điện tử, về thời đại số hóa gây nên nhiều phản ứng trái chiều. Có người không ngần ngại nói thẳng quan điểm của Franzen là thứ quan điểm yếm thế của một kẻ mắc bệnh sợ công nghệ hoặc cho rằng ông không hiểu đúng về công nghệ, về sách điện tử. Có nhà văn sẽ chống lại thứ định kiến về công nghệ, về thời đại số, tìm cách để văn chương có thể hòa giải, thậm chí tận dụng những thành tựu của khoa học kỹ thuật, để mở rộng những khả năng của mình. Có người lại cho rằng chẳng nên bi quan quá. Bản thân Franzen thực ra đã tự cho phép mình lạc quan hơn người ta nghĩ. Trước nguy cơ sách giấy có thể tuyệt chủng trong 50 năm tới, bất chấp tất cả những nỗ lực bảo vệ nhiệt thành của Franzen, ông vẫn thấy chẳng có việc gì để không vui vẻ cả. Rất khiêu khích nhưng đồng thời lại rất có lý, ông nói, thật may, mình đã không sống đến thời điểm đó để chứng kiến điều này: “Một trong những điều an ủi của cái chết là nó khiến ta có thể nghĩ rằng, ‘Ừ, đó sẽ không phải là vấn đề của ta nữa…Nói một cách nghiêm túc, thế giới đang thay đổi nhanh chóng đến nỗi nếu được sống thêm 80 năm nữa, tôi thực tình sẽ không hiểu nổi làm thế nào người ta có thể chịu đựng được thế giới này về mặt tâm lý.”
(Bài viết được tổng thuật dựa trên những tài liệu sau:  Alison Flood, “The E-books are Corroding Values”,http://www.theguardian.com/books/2012/jan/30/jonathan-franzen-ebooks-values; Jonathan Franzen, “What’s Wrong With the Modern World?”, The Guardian, 13-09-2013,  Chad.W.Post, “Reading in the Age of Screens”, http://publishingperspectives.com/2011/02/reading-in-the-age-of-screens/ )

Phần nhận xét hiển thị trên trang

THỜI ĐẠI CỦA CHÚNG TA


- Thời đại gì mà điện thoại ngày một thông minh và mỏng manh hơn, còn con người thì ngày một ngu đi và béo ị?
- Thời đại gì mà bạn bè ngã thì người ta cười, còn điện thoại rơi thì người ta khóc?
- Thời đại gì mà người ta có thể tự tin làm đủ trò trên màn hình điện thoại, trừ việc nhìn thẳng vào mắt người khác?
- Thời đại gì mà chụp ảnh trong nhà xí trở thành trào lưu không thể chống lại và được đẩy lên thành 1 môn nghệ thuật - thể thao - văn hóa?
- Thời đại gì mà ai nấy đều cô đơn và khát khao tìm nửa kia hấp dẫn hay ho ngực to bụng 6 múi của mình, nhưng rồi họ lại lỡ bước qua nhau như phim Hàn Quốc chỉ vì mải nhìn chằm chằm vào màn hình điện thoại?
- Thời đại gì mà lũ trẻ quan hệ tình dục thì không cần bảo vệ, nhưng điện thoại lại nhất định phải có lớp chống trầy?
- Thời đại gì mà khi điện thoại bị đánh mất, đánh vỡ, chúng ta lo lắng dằn vặt, còn khi những thứ bé nhỏ vớ vẩn hơn bị mất, bị vỡ, chúng ta quá lười để cúi xuống nhặt lên, ví dụ 1 cục tẩy, 1 cái bút và nhiều lúc là một mối quan hệ, hay thậm chí 1 ước mơ?
Ranh ngôn của nàng BooBoo

Phần nhận xét hiển thị trên trang