Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Năm, 20 tháng 2, 2014

YẾU KÉM DỄ THẤY CỦA VĂN HỌC ViỆT NAM


Trong kinh tế chúng ta không minh bạch thì có vô số những kẻ hãm tài nhưng tham nhũng giầu sụ, giầu đến mức có thể đánh một ván cờ vài tỉ đồng, mà đấy mới chỉ là cán bộ cấp tỉnh, cấp cao hơn thì không biết cỡ nào?!

Trong học tập nếu không minh bạch có vô số kẻ dốt nát nhưng quay cóp xin điểm vẫn đỗ xuất sắc.

Trong văn học có vô số những kẻ không muốn minh bạch để à uôm ra vẻ văn học là miền đất thánh không phải ai cũng xía vô được, rồi họ còn tự bảo kê mình với luận điệu phải có thiên bẩm mới viết được văn thơ, nhưng mà với cái “thiên bẩm” giả vờ tưởng tượng đó họ lại co cụm cấu kết bè cánh nấp sau các ban biên tập và giám khảo thoải mái tung tác duyệt bài, trao giải thưởng cho nhau, toàn quyền văn học bụng: cho người này là biết viết văn, người kia không có văn. Để tránh tình trạng này kéo dài mãi mãi, kéo cho đến khi tất cả “văn học bụng” kia kiếm xong danh vọng và hạ cánh an toàn, tôi xin nêu rõ vài điểm chính yếu kém của văn học Việt Nam.

Theo đánh giá chung, thì người Việt mới chỉ có thể tạng văn học vui đùa giải trí, thơ mẩu, thơ vụn là chính, chứ chưa yêu văn thơ theo kiểu đó là những văn bản dẫn dắt, định hướng hay thiết lập lối sống cho cuộc đời. Ở phương Tây, có rất nhiều tác phẩm, nhân vật đã trở thành hình mẫu “phát sốt” cho một lối sống mở rộng như phong trào hay xu thế thời đại. Ở ta thì chỉ có mấy câu đối, vài vần thơ bẻm mép ở trên môi.

Cuộc đời cũng như thế giới không thể có nếu không có CON NGƯỜI.

Văn chương không thể có nếu không có NHÂN VẬT.

Cái yếu kém đầu tiên của văn học Việt Nam, chưa nói cái gì sâu xa hay cao siêu, mà cái dễ thấy nhất, đó là: Tình tiết yếu.

Tôi xin lý giải từ thấp đến cao. Mới đây khi ngồi bàn luận với một anh bạn khá trẻ thế hệ 8x, có tên là Quách Đình Đạt, anh bạn này trông sáng sủa thông minh, đã từng du học ở Pháp nhiều năm, thành thạo tiếng Pháp, tiếng Anh. Kiến thức như thế cũng chưa có gì ghê lắm, nhưng cái chính anh bạn trẻ này rất hồn nhiên và thẳng tưng, không có kiểu nói ấp úng nước đôi. Anh ta bảo: “Văn học trước hết muốn hấp dẫn thì tình tiết phải hay hoặc đặc biệt, nghĩa là nó như một bản lề hay cuộc bùng nổ nào đó, dẫn bạn đọc vào một thế giới khác. Một anh chàng gặp một cô nàng, họ hẹn nhau đi uống cà phê, điều ấy chẳng có gì đặc biệt. Nhưng một anh chàng sau khi nghe tin người yêu mắc bệnh ung thư, vẫn quyết định cầu hôn nàng. Đó là một tình tiết khác hẳn”.

Tại sao văn học Việt Nam vắng bóng những cuộc đấu súng, đấu gươm? Vì đó là những cuộc đấu vì danh dự. Người Việt cũng như người Trung Quốc chưa có lối sống trọng danh dự, thậm chí người ta còn thích thú bài học của Hàn Tín lòn chôn thằng hàng thịt để bảo toàn thân thể. Trong một bộ phim của Hồng Kông có cảnh một nữ tu nắm chặt lấy thánh giá rồi quyết định làm chứng dối để cứu vớt một cô gái điếm nghèo nàn trước những kẻ giầu có uy quyền gian ác. Một cảnh như vậy trong văn học Việt Nam  cũng khó mà có nổi. Tại sao? Vì người Việt đâu có giầu đức tin sám hối trước Đấng toàn năng để có thể giằng xé lương tâm thực hiện một quyết định “sáng tạo” như vậy.

Điện ảnh, theo từ của Bách khoa thư là “kịch màn ảnh” hiện nay đang là môn nghệ thuật hùng hậu hấp dẫn và uy quyền bậc nhất. Căn cứ vào chữ “kịch” của nó, điện ảnh là thứ bản mềm của văn học. Kịch đó đòi hỏi phải có nhân vật. Nhân vật muốn hấp dẫn thì phải có những tình tiết đáng giá. Đó là cái văn học Việt Nam cực kỳ yếu ớt. Yếu ớt từ già đến trẻ. Cụ thể, những ông vua bà chúa của truyện ngắn từ đó leo lên tiểu thuyết mi ni ba xu đã thất bại cháy vốn nặng nề vì không có được tình tiết. Truyện của lớp trẻ ngày nay như trò lắp ráp vội vàng trên điện thoại di động hay laptop, nhân vật nhạt nhẽo, tình tiết hiếm khi đi ra khỏi bản thân để trở thành “văn học được khách thể hóa”.

Về mặt học thuật. Có hai đẳng cấp viết văn:

1-     Kể chuyện: Theo Bách khoa, được dùng tên có gốc Latin là “Recite”, có nghĩa, kể lại, tường trình. Chuyện kể, cổ nhất là ngụ ngôn của các dân tộc, luôn có ông thánh bà tiên, các con vật biểu tượng cao với những tình tiết đắt giá. Con sói xin thò một chân vào chuồng của con thỏ là một tình tiết hay.

Văn học Việt Nam có bao nhiêu tình tiết hay đây? Hay nó hiếm đến mức hàng nghìn các nhà thơ viết trường ca không có nổi nhân vật? Dăm mười năm hiếm hoi mới sinh ra nhân vật thì người này dại đến già, chẳng biết làm gì vẫn còn ngồi gãi háng? Đó có phải thất bại gần như tuyệt đối của nền thơ Việt? Thất bại đến mức, gần đây, theo các nhà thơ phản ánh, hầu hết các nhà thơ đều muốn tự gọi mình thành nhà văn. Nhà văn là ai? Mới đây CLB sáng tác thơ chui xuyên Việt đã trao giấy chứng nhận nhà thơ cho bất kỳ ai nộp 150 nghìn đồng cộng với 2 bài thơ đi chép cũng được. Sau khi có giấy chứng nhận là nhà thơ rồi, số này tất nhiên lại tự xưng mình là nhà văn. Trời ơi, thật là một cú bắc cầu ngoạn mục, lấp liếm ăn gian. Ở đời, cái bếp khác cái nhà. Cái bếp to mấy cũng không được gọi là nhà vì chức năng nấu ăn của bếp. Cái nhà bé mấy dù bị ám khói do đun nấu cũng không phải là cái bếp vì chức năng sinh hoạt của nó. Nhà văn khác nhà thơ nhiều lắm. Nhà văn là lao động nghệ thuật, hì hục viết. Nhà thơ ở Việt Nam chủ yếu mới chỉ có sinh hoạt vui thú trà dư tửu hậu vần vèo. Tư duy hai bên khác hẳn nhau. Một đằng tiệp cận trà sát thẳng thừng với cuộc đời. Một đằng chỉ thích ẵm nựng với mấy câu khen bùi tai giành cho vài câu lèo tèo cảm xúc ngọt như đường.

2-     Sáng tạo, hay Kiến tạo: Theo Bách khoa nó có tên gốc Latin là “Compose”. Trong từ sáng tạo này nó mang ý nghĩa của từ Kiến trúc hay Thiết kế. Nó bao gồm chữ Pose: tức là đặt để, từ này biết thành danh từ vị trí như Position. Nó được ghép với chữ “Com” – có nghĩa là Cùng nhau. Vậy hiểu theo nghĩa đen: Sáng tạo là lắp đặt mọi vật thành một tổ hợp lớn. Mọi vật lớn ở đời như lâu đài, máy bay, hay tác phẩm đều là sự lắp đặt từ nhiều bộ phận riêng lẻ. Có một câu nói của triết gia Hegel: Tất cả mọi vì kèo phải ăn khớp với cột. Đấy muốn lắp đặt một tòa nhà, người ta phải lắp đặt mọi vì kèo theo hướng vuông góc với cột.

Một tác phẩm sáng tác văn học đúng nghĩa luôn phải bao gồm các nhân vật rồi các tình tiết, chúng phải được lắp đặt hoàn hảo với nhau. Chính vậy tác giả mới mang vai trò của một kiến trúc sư. Giới văn học Anh mới đây phát hiện văn hào vĩ đại bậc nhất thế giới Shakespeare chủ yếu viết lại những vở kịch của người khác. Vậy thì cái vĩ đại của ông nằm ở tổ hợp kiến trúc nhiều hơn là sáng kiến. Tại sao với hầu hết các nhà văn Việt Nam, cốt truyện rồi nhân vật, rồi tình tiết lại trở thành một thách thức không thể vượt qua? Chúng ta hãy nhớ, hầu hết các truyện thơ dài có nhân vật như Truyện Kiều, Lục Vân Tiên, hay Tống Trân – Cúc Hoa, Lưu Bình – Dương Lễ của thơ hay sân khấu kịch hát Việt Nam là phải lấy của Tầu. Có phải đơn giản chỉ vì: các tác giả Việt yếu ớt về lý trí từ đó không thể lắp đặt và kiến trúc thành tác phẩm lớn được. Than ôi, có bao giờ rèn luyện về lý trí đâu mà đòi có lý trí, chưa học đã lo biện hộ “không có thiên bẩm thì học mấy cũng không thành tài”. Chúng ta nên chắc chắn, nhạc sĩ dù có thiên bẩm bao nhiêu, nếu không học không bao giờ sáng tác được giao hưởng. Ít học thì chỉ có viết mấy đoản ca bé tẹo.

Nhân vật muốn có tư tưởng thì phải đối thoại và hành động. Nhưng lý trí đã yếu nhà văn ta lấy đâu ra tư tưởng? Một cô  Thị khát uống nước rồi đi tiểu, đấy không phải là hành động mà là Sinh hoạt. Rồi cô thập thò chờ đợi, rồi tình ái, rồi rửa ráy, thậm chí kể cả nhớ nhung sụt sùi, đó vẫn chỉ là sinh hoạt. Văn học Việt chủ yếu mới dừng ở sinh hoạt, có rất ít tư tưởng và hành động.

Bài đã tạm dài, tôi xin rút lại: Cái yếu hiển nhiên của văn học Việt Là mì không người lái, tức thơ không có nhân vật. Kể cả một số truyện ngắn của các tác giả trẻ, nhân vật rất nhợt nhạt. Viết văn mà không có nhân vật khách thể hóa tư duy của bản thân thì có khác gì tự sướng?! Ngay đó là cái yếu về tình tiết, nó chủ yếu là sinh hoạt chứ không phải thời khắc mang tính quyết định của tư tưởng. Tư tưởng là gì? Tất nhiên nó nằm trên não và không có mùi của thức ăn theo kiểu giá áo túi cơm được. Một khi chúng ta không bao giờ ưu tư về những thứ lý tưởng như tự do, bình đẳng, bác ái, thì tư tưởng chỉ là thứ bị dạ dầy che lấp mà thôi. Cái yếu về tình tiết là rất cụ thể, mong rằng những nhà văn yếu kém nên nhận ra điều đó để vượt qua chứ không nên à uôm tưởng bở xây lâu đài kính cho mình rằng đó là tài năng theo cách của riêng ta. Văn học cũng như nghệ thuật nếu không đạt đến giá trị phổ quát nó mãi mãi chỉ là thứ ẻo lả màn the nhếch nhác nghèo nàn chỉ đáng nấp sau chiếc ri-đô. Như vậy thì bàn gì đến tầm quốc gia và thế giới?

NHĐ   

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nhân sự lùm xùm gây đây của hội văn gừng, đăng lại bài này:

NGHỀ VĂN KHÔNG SANG TRỌNG

THÌ NGHỀ NÀO HƠN?

(Đối thoại với GS Trần Đình Sử )
Nguyễn Hoàng Đức
Thân ái chào giáo sư Trần Đình Sử, lâu rồi tôi không được gặp anh, nhưng vừa rồi được đọc GS qua bài có vấn đề “Phê bình kiểm dịch”, thấy nể phục giá sư quá. Dù bài đó, GS vẫn viết theo lối “tân cổ điển mô phạm”, nghĩa là ít xông thẳng ngay vào vấn đề mà bao giờ cũng dàn trận xây xong các hòn gạch móng, rồi mới xây tháp để theo dõi trận đánh. Bài của GS vẫn có cách xây móng đó, nhưng nó đã ào tới cả một luồng gió tươi mới mát mẻ và đem theo cả nội hàm “phê bình kiểm dịch” mạnh mẽ như một trận cuồng phong muốn cuốn đi tất cả lá úa cỏ khô cũ kỹ lỗi thời. Nói thật, từ lâu nay tôi vẫn định kiến các giáo sư nhú lên từ thời bao cấp có cái gì đó khuôn thước ngăn kéo mốc meo mô phạm. Nhưng khi đọc bài của GS, tôi thấy ông đã canh tân “vũ khí” cũ để đem vào một trận đánh mới. Lâu nay không có dịp gặp giáo sư, nên tôi muốn qua bài “Nghề văn không sang trọng” mới của GS, gặp gỡ ông qua trao đổi. Trong phần kết luận ông nói:
“ Văn chương rất cần sự cao quý nhưng không cần sang trọng.”
Nói chung tôi khá đồng tình với hàm lượng bài viết của GS, ông ví nghề văn như nghề nhặt rác để làm cho xã hội thêm trong sạch hơn. Ông khích lệ các nhà văn, nhà thơ nên từ bỏ tính háo danh để dấn thân thực sự vào con đường canh tân xã hội. Đó mới là điều cao quí. Ý tưởng này của ông rất giống ý tưởng của nhà văn, triết gia J.P Sartre, đó là: “Tôi yêu những bàn tay bẩn, vì đó là những bàn tay bắt vào dọn dẹp cuộc đời”. Bàn tay chỉnh sửa tươm tất, bôi phấn quệt mầu chỉ là tay cave ngồi bên hè đợi khách, rồi đếm tiền boa. Bàn tay của nhà văn thì không thể như vậy mà phải cao quí hơn nhiều, như một phương ngôn của Ấn Độ: “Mực của học giả còn hơn máu kẻ tử đạo”.
Tôi cho rằng: cao quí và sang trọng cũng có nghĩa đồng tâm và đồng nhất khá lớn. Chẳng hạn người Tầu có câu: Làm giầu một đời, làm sang ba kiếp. Người Do Thái cũng nghĩ vậy, đời cha ông họ luôn lo làm giầu, để đời sau cho con ăn học.
Tất nhiên, tôi hiểu lời nói của giáo sư là cách nói tu từ, để dẫn đến cái ý tứ bên trong, cái thông điệp tinh thần. Dẫu vậy tôi vẫn muốn trao đổi để rõ ràng hơn, hoặc chí ít chúng ta được chuyện trò, nhiều hơn là được phát triển nhận thức. Theo tôi:
Văn học là sang trọng và cao quí bậc nhất!
Bởi các lý do sau:
- Văn học là môn nghệ thuật bằng chữ viết. Mà triết gia kinh viện Aristote có nói: “Học bất cứ cái gì trên đời thì điều đầu tiên cần phải học là chữ viết. Và học chữ viết là mất nhiều công nhất”.
- Triết gia Hegel cho rằng: Thi ca là loại hình nghệ thuật cao nhất bởi vì chỉ có thi ca mới có khả năng triết lý, mà các loại hình khác không thể làm được.Cụ thể hơn, thi ca (chữ viết) có thể đưa ra những khái niệm như “tinh thần”, “bất tử”, “vĩnh cửu”, “bất diệt”, “siêu hình học”, “Thượng Đế”, “ma quỉ”…những môn nghệ thuật khác như hội họa và âm nhạc không thể lột tả được khái niệm đó.
- Triết gia Aristote xác định: Văn chương là cao quí nhất bởi chỉ có văn chương mới có thể bàn đến công lý để minh oan cho con người. Công lý là cái đẹp nhất trong tâm hồn con người, và chỉ có văn chương mới toàn quyền bàn thẳng vào điều đó! Còn hội họa, kiến trúc, âm nhạc thì không bao giờ.Nói thế thì mấy anh nhà thơ vụn, trường ca không cốt truyện chớ có vui mừng hụt. Thi ca bàn đến ở đây, là thi ca như Illiad hay Odyssey… chúng có nhân vật và kịch tính, vừa là thơ, vừa là kịch, vừa là tiểu thuyết.
Văn chương không thể cao quí nếu như người ta chỉ tập làm văn như nhà thơ Xuân Diệu viết:
“Nghề xếp chữ ôi nghề con trẻ
Dăm câu vui đắp đổi mấy câu sầu”
Văn chương sang trọng và cao quí khi nó mang tầm tư tưởng, mà tư tưởng của loài người thì không thể đi ra ngoài những công lý, bình đẳng, tự do, bác ái, lập hiến, Thượng Đế, tôn giáo, tín ngưỡng… Nhưng đây lại là thứ rất thiếu và rất yếu của văn học Việt Nam, thành ra văn chương nói chung vẫn là bài ca nhì nhằng hát xướng vần vèo. Tôi đã từng viết đại ý: muốn ăn ra nhà hàng, muốn mua thịt thì ra chợ, muốn nghe nhạc đến nhà hát, muốn chữa bệnh đến bệnh viện, muốn tìm kiếm tín ngưỡng đến nhà thờ… nhưng muốn cứu rỗi tâm hồn thì còn gì lớn hơn văn chương?!
Cứu rỗi tâm hồn, chợ không làm được, bệnh viện cũng không, nhà hát cũng không, chỉ có văn chương mới khả dĩ làm chu toàn việc đó. Vậy thì văn chương với sứ mệnh cứu rỗi tâm hồn con người lại không cao quí và sang trọng hàng đầu sao?!
Mấy lời bộc bạch cùng giáo sư. Chúc giáo sư luôn mạnh khỏe, viết nhiều hơn để anh em được đọc và trao đổi lại. Cám ơn nhiều!
NHĐ

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tướng Phạm Quý Ngọ: Sự “bất thường” ở một cái chết bình thường


Vụ Dương Chí Dũng sẽ ra sao? Sao ông ấy ra đi vào thời điểm này? Đình chỉ vụ án “làm lộ bí mật Nhà nước” không?… Những câu hỏi không phải tự dưng xuất hiện
Nhiều người biết tướng Phạm Quý Ngọ mang trọng bệnh từ lâu. Những chuyến xuất ngoại điều trị, những nỗ lực hết mình của bác sĩ trong nước cuối cùng cũng không cứu được ông. Đôi mắt vị tướng sinh năm 1954 của ngành Công an nhắm lại giữa một buổi tối Hà Nội tê tái, ẩm mưa phùn và ào ào gió.
Chuyến đi của ông tới miền vô cực cũng là lẽ thường tình của sinh-lão-bệnh-tử. Nhưng, chỉ vài phút sau khoảnh khắc tiễn biệt ở A11 Bệnh viện 108, các diễn đàn mạng, báo điện tử tràn ngập thông tin về ông. Dường như có một sự bất thường về cái chết không đường đột ấy.
Ông có uy tín lớn trong ngành, là lãnh đạo của một bộ quan trọng, là ủy viên Trung ương Đảng… nhưng chắc chắn không đủ khiến dư luận xôn xao bởi một chuyến rời xa cõi tạm.
Cái chết bình thường của tướng Ngọ bỗng trở nên bất thường với hàng tá những câu hỏi. Vụ Dương Chí Dũng rồi sẽ sao đây? Sao ông ấy lại ra đi vào thời điểm này? Đình chỉ vụ án “làm lộ bí mật Nhà nước” không?… Những câu hỏi ấy không phải tự dưng xuất hiện.
Vụ Vinalines – nơi ông làm trưởng ban chuyên án – như là một định mệnh, bước ngoặt lớn cuối đời vị tướng Công an. Lời khai của Dương Chí Dũng cuốn ông và cả xã hội vào một cuộc khủng hoảng niềm tin. Người tin vào tố cáo của cựu chủ tịch Vinalines thì mất niềm tin trầm trọng ở tướng Ngọ nói riêng và công cuộc chống tham nhũng nói chung. Người tin vào sự trong sạch của ông lại nhìn thấy một âm mưu ẩn nấp đằng sau lời khai chấn động từ Dương Chí Dũng.
Còn mỗi người dân, họ không biết ai đúng ai sai, không biết tin vào đâu giữa ngồn ngộn những ý kiến, quan điểm, giữa cả núi thông tin chính thức và cực đoan. Ông ra đi trong bối cảnh ấy, khi những ngờ vực về lời khai của Dương Chí Dũng còn bỏ ngỏ. Tất cả đã tạo nên một sự bất thường ở một cái chết rất bình thường.
Ai đã có lỗi, ai đã gây nên bất thường ấy? Dĩ nhiên, không phải những công nhân đang nhễ nhại dầu mỡ trong xưởng máy, không phải nông dân đang cứng ngắc đôi chân dưới ruộng sâu lạnh buốt, không phải những chiếc lưng còng miệt mài bên bàn phím công sở…
Oan khuất của ông đã không kịp minh chứng. Ông chẳng còn cơ hội tự làm điều đó cho mình. Tội của ông, nếu có, cũng chẳng kịp trả cho sòng phẳng với đời, trước lúc xuôi tay nhắm mắt.
THEO GDVN


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Camera Giấu kín - Tây bán hàng rong

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Cái giề đây???

TIN ĐẶC BIỆT: TIẾT LỘ TẬP CẬN BÌNH SẼ DẪN TRUNG QUỐC ĐI ĐÂU



Tin độc quyền: 
Think-tank Bắc Kinh tiết lộ phương lược của Tập Cận Bình 
khiến người ta sáng mắt sáng lòng
独家:北京智囊透露习近平令人耳目一新的治国方略
http://boxun.com/news/gb/china/2014/02/201402200131.shtml#.UwV4bM7JS1s
2014年2月20日


Ủng hộ Tập Cận Bình là ủng hộ chính mình

Trong Hội nghị Bắc Đới Hà năm 2013, Tập Cận Bình nói, ĐCS TQ năm 2013 giống như tình trạng Quốc dân đảng năm 1948, nếu như không cải cách triệt để, thì sẽ mất lòng người, mất nước. Ông ta còn nêu rằng, thối nát tư pháp là thối nát lớn nhất. 

Ông ta sẽ đi theo con đường dân chủ, pháp quyền, kinh tế thị trường, làm mạnh quân đội nhưng không tranh bá với Mĩ và Nga: Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, nông dân có sở hữu tư nhân về đất đai. 

Đây là phương lược trị quốc hoàn chỉnh của Tập Cận Bình mà boxun.com độc quyền tiết lộ trên toàn cầu)

Phóng viên boxun.com thường trú tại Bắc Kinh đã tiến hành phỏng vấn một thành viên Think-tank có quan hệ mật thiết với tầng cấp cao Trung Nam Hải, ông nói, dân tộc Trung Hoa đã đi đến ngã tư - phát triển sinh tồn hoặc đi vào tai họa, ở thời khắc then chốt này, nhân dân cả nước cho đến cả thế giới chỉ có ủng hộ Tập Cận Bình, thì Trung Quốc mới có thể vượt qua được mối nguy cơ trước mắt, điều này không chỉ liên quan đến sự phục hưng của dân tộc Trung Hoa, mà còn là thời khắc xem thế giới có thể vượt qua được tai họa hay không...

... Nhân vật này qui gọn tín điều trị quốc của Tập Cận Bình là: "Một giấc mơ, bốn sách lược, xây dựng hệ thống trị lí nhà nước pháp quyền dân chủ hiện đại". 

Xin trích một vài ý chính trong bài:

Nhân vật này nói với PV boxun.com:

- Một giấc mơ chính là: Tiếp tục theo đuổi giấc mơ phục hưng dân tộc Trung Hoa vĩ đại, người dân được sống một cuộc sống hạnh phúc đầy thể diện, chính nghĩa, tôn nghiêm.

- Bốn sách lược chính là: 

1) Con đường dân chủ;
2) Con đường pháp quyền;
3) Con đường theo hệ thống thị trường hoàn toàn;
4) Xây dựng nền ngoại giao và quân sự lớn mạnh, nhưng không tranh giành nhất nhì trên thế giới.
...


Phần nhận xét hiển thị trên trang

NHÀ THƠ DƯƠNG SOÁI VÀ ‘GỬI EM Ở CUỐI SÔNG HỒNG’


TSYG  15.2.14
Dương Soái vừa tự hào lại vừa chạnh lòng với cái việc lúc nào người ta cũng chỉ biết tới anh như là tác giả có duy nhất một bài thơ hay Gửi em ở cuối sông Hồng.
Dẫu cái tên Dương Soái rất… tướng soái, lại thêm việc anh làm thơ với hình ảnh anh lính trận mạc nhớ người yêu ở đầu ngọn sông Hồng, thế cho nên ai cũng tưởng Dương Soái một đời là lính chiến.
Thật ra thì Dương Soái - hiện là Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật Yên Bái - vốn là công nhân địa chất, 11 năm mưa đi tìm quặng ở Hoàng Liên Sơn (cũ). 11 năm ấy, anh “cũng kiếm được khoảng 30 bài thơ”.
Sau 11 năm trò chuyện với từng vỉa tầng quả đất vừa già nua vừa tươi mới, Dương Soái làm phóng viên chiến trường trên mặt trận biên giới Lào Cai, hồi tháng 2/1979. Anh đi gần như trọn vẹn cuộc chiến tranh biên giới vùng Lào Cai, tận mắt nhìn thấy sự khốc liệt của chiến tranh. Bài thơ Gửi em ở cuối sông Hồng đã bật ra từ hoàn cảnh đó.
Giữa hai trận đánh, anh ngồi trong căn nhà lá ở Phố Lu (là nhà khách của huyện) và làm… thơ. Anh viết trong tâm trạng của một người mong manh sinh tử ngoài mặt trận, muốn gửi tình yêu thương tha thiết ấy về với người hậu phương.
Trong tâm trạng của một người yêu gửi một người yêu (thực tế, lúc bấy giờ, người vợ trẻ và gia đình Dương Soái cũng đang ở Duy Tiên, Hà Nam - cuối sông Hồng). Anh viết, khi anh nhớ tới những lá thư viết vội, viết dở, hoặc không kịp viết gì của những người lính trẻ ngoài mặt trận bỏng rát kia.
Dương Soái trăn trở nhiều với thơ. Cho nên, cái buổi sáng nghe cô bạn bên trường Sư phạm nói: “Bài thơ Gửi em ở cuối sông Hồng của anh được nhạc sỹ Thuận Yến phổ nhạc, Đài Tiếng nói Việt Nam vừa phát hay lắm”, Dương Soái rất phấn chấn. Đó là vào năm 1980.
Từ đó, tên Dương Soái đã thêm một lần đóng đinh với Gửi em ở cuối sông Hồng, nhất là trong cái góc làng văn nghệ vốn vẫn lặng lặng với mây núi Hoàng Liên Sơn, nơi anh sống và công tác. Độ ấy, liên tục thính giả yêu cầu nhà đài phát lại bài Gửi em ở cuối sông Hồng.
Không ngờ khoảng một năm sau, anh Sum - Người Mường, Giám đốc Nhà máy Thủy điện Thác Bà (Yên Bái) gọi điện mời Dương Soái tới nhà uống rượu. Dương Soái đến, mới ngã ngửa ra, khách là vợ chồng nhạc sỹ Thuận Yến.
Vừa lên nghỉ mát ở hồ Thác Bà, nhạc sỹ Thuận Yến nóng lòng hỏi ngay địa chỉ thi sĩ Dương Soái để cảm ơn và nói lời tri kỷ. Lần đầu tiên hai tác giả Gửi em ở cuối sông Hồng gặp nhau và uống rượu. Nhạc sỹ trân trọng và chu đáo vô cùng với tác giả bài thơ Gửi em ở cuối sông Hồng.
Bây giờ ngồi bàn lại câu chuyện Gửi em ở cuối sông Hồng, Dương Soái thầm cảm ơn nhạc sỹ Thuận Yến, người đã nhuận sắc cho bài thơ được đi vào lòng người yêu thơ, yêu nhạc.
Rằng, thơ Dương Soái viết “Anh ở Lào Cai, nơi con sông Hồng chảy vào đất Việt”,đấy là cái tình rất cụ thể của người chiến sỹ ở mặt trận Lào Cai bỏng lửa năm 1979, nhưng khi ông Thuận Yến phổ nhạc: “Anh ở biên cương, nơi con sông Hồng chảy vào đất Việt”, tự dưng bài thơ phổ quát hơn, thơ bay rộng hơn trên khắp dải biên cương từ địa đầu Lũng Cú tới cực mũi Cà Mau.
Hình như có những nhiều “hạt sạn” vui vui, và tính cục bộ trong một cuộc chiến ở một vùng phên giậu trong bài thơ đã được Thuận Yến “sửa sang” rất kỹ.
Đến những đoạn như sau trong bài hát thì hoàn toàn không phải là của Dương Soái: “Em ở phương xa/ nơi con sông Hồng chảy về với biển/ ở trên anh đầu nguồn biên giới/ Cuối dòng sông nơi ấy em chờ./ Em ở phương xa/ cách mười sông ba núi bốn đèo”.
Nhưng, cũng có những câu thơ hay nguyên bản của Dương Soái mà những người chỉ nghe nhạc thôi sẽ chưa có dịp được thưởng thức, khi người lính từ trên chốt chiến đấu xuống mặt nước nơi con sông Hồng chảy vào đất Việt, chàng ước ao: “Giá chúng mình còn cái thuở dung dăng…/ Anh thả lá thuyền xuôi về dưới ấy/ Em ra sông chắc là em sẽ thấy/ Chỉ nỗi nhớ chúng mình đủ ấm mọi mùa đông”.
Những câu thơ ấy đẹp và da diết đến day dứt lòng.

                              ĐỖ DOÃN HOÀNG – Tiền Phong 27/4/2006
Nhà thơ Dương Soái


GỦI EM Ở CUỐI SÔNG HỒNG

Anh ở Lào Cai
Nơi con sông Hồng chảy vào đất Việt
Tháng Hai, mùa này con nước
Lắng phù sa in bóng đôi bờ

Biết em năm ngóng, tháng chờ
Cứ chiều chiều ra sông gánh nước
Nên ngày ngày cùng bạn bè lên chốt
Anh lại xuống sông Hồng cho thoả nỗi em mong

Đài báo gió mùa, em thương ở đầu sông
Đỉnh đồi cao chiến hào anh gặp rét
Biết màu màng đồng quê chưa cấy hết
Tay em ngập dưới bùn, lúa có thẳng hàng không?

Giá chúng mình còn cái thuở dung dăng...
Anh thả lá thuyền xuôi về dưới ấy
Em ra sông chắc em sẽ thấy
Chỉ nỗi nhớ chúng mình đủ ấm mọi mùa Đông.

Nhưng thơ ngây đâu còn ở chúng mình
Khi Tổ quốc trao anh lên tuyến đầu chặn giặc
Khi biên cương trong anh đã trở thành máu thịt
Đạn lên nòng anh giữ trọn nguồn sông

Nỗi nhớ cho em chưa viết được đôi dòng
Đạn quân thù bỗng cuồng điên vào thị xã
Xe tăng thù nghiến mặt sông êm ả
Nhịp cầu thù chặt đứt chờ mong

Bão lửa này mang sức mạnh hờn căm
Phá cầu thù, xé vụn xe tăng giặc
Giữa dòng sông nghìn xác thù ngã gục
Máu giặc loang ố cả một vùng

Thì hỡi em yêu ở cuối sông Hồng
Nếu gặp dòng sông ngàu lên sắc đỏ
Là niềm thương anh gửi về em đó
Qua màu nước sông Hồng, em hiểu chiến công anh.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Tư, 19 tháng 2, 2014

nhìn Campuchia sản xuất ôtô điều khiển bằng smartphone ?


Tờ TTXVN đưa tin, ôtô "Angkor EV 2014" lấy tên ngôi đền cổ Angkor của Campuchia này được điều khiển bằng điện thoại thông minh và thẻ căn cước tần số rađiô (RFID) có trang bị hệ thống GPS, có vận tốc tối đa 60km/giờ và do nhà sáng chế Nhean Phaloek địa phương thiết kế bằng điện thoại thông minh và thẻ căn cước tần số rađiô (RFID).
Chiếc xe "Angkor EV 2014" tại buổi lễ ra mắt ở tỉnh Kandal
Công ty Phát triển Heng của Campuchia giới thiệu loại ôtô điện tự chế mới điều khiển bằng smartphone. Trong khi đó ngành chế tạo, sản xuất ô tô Việt Nam lại tỏ ra thua kém khi không thể sản xuất được ốc vít, dây điện... khiến nhiều dự án đầu tư của các tập đoàn hàng đầu thế giới phải rời bỏ Việt Nam.

Đây được coi là thành tựu lớn của ngành chế tạo còn non trẻ của Campuchia, đất nước vốn phụ thuộc nhiều vào hàng hóa nhập khẩu từ nước ngoài, đặc biệt là từ Trung Quốc, Thái Lan...

Việt Nam có thấy xấu hổ ?

Còn tại Việt Nam, thời gian vừa qua Madaz rồi đến Ford đã từ bỏ những dự án từ 700 triệu đến 1 tỷ USD sản xuất ô tô ở Việt Nam vì không thể tìm mua các linh kiện đơn giản như ốc vít, dây diện hay đồ nhựa.

Các dự án đó được chuyển sang các nước lấn cận sản xuất rồi nhập khẩu xe về Việt Nam với giá đắt.

Hiện, số doanh nghiệp nội làm công nghiệp hỗ trợ rất ít. Các doanh nghiệp cung cấp linh kiện, bán sản phẩm hiện nay chủ yếu là các doanh nghiệp Nhật Bản, Hàn quốc đang đầu tư vào Việt Nam, tiếp theo là các doanh nghiệp Đài Loan, cuối cùng mới là các doanh nghiệp Việt Nam với một tỉ trọng ít ỏi.

Nhiều nhà đầu tư phải rời bỏ Việt Nam vì không thể tìm mua các linh kiện đơn giản như ốc vít, dây diện hay đồ nhựa.

Sau 20 năm hoạt động, số doanh nghiệp sản xuất linh kiện không phát triển, tỷ lệ nội địa hoá chỉ đạt tới 5 – 10% và giới hạn vào các linh kiện kỹ thuật thô sơ như ắc quy, dây điện, các chi tiết nhựa đơn giản,...

Theo Tổ chức Xúc tiến Thương mại Nhật Bản (Jetro), hiện nay tỷ lệ thu mua các nguyên liệu đầu vào và phụ tùng cho sản xuất mà các công ty Nhật Bản đang phải mua tại Việt Nam vẫn còn thấp, chỉ đạt 28%, trong khi đó tỷ lệ này ở Indonesia là 43%, ở Thái Lan là 53% và ở Trung Quốc là 61%.

Tại Triển lãm Việt Nam - Nhật Bản lần thứ 5 về công nghiệp hỗ trợ diễn ra ở Hà Nội vào đầu tháng 9 vừa qua, Toyotatham gia với một gian trưng bày các sản phẩm muốn tìm kiếm nhà cung cấp trong các lĩnh vực hàn, dập, đúc, nhựa và các chi tiết cao su.

Nhưng mục đích này đã không đạt được và đây là lần thứ 5 liên tiếp Toyota thất bại trong việc tìm kiếm nhà cung ứng linh kiện thông qua triển lãm.

Theo thống kê cho thấy, Việt Nam hiện mới chỉ 210 doanh nghiệp tham gia ngành công nghiệp phụ trợ ô tô và chủ yếu sản xuất các loại phụ tùng đơn giản, có hàm lượng công nghệ thấp, như gương, kính, ghế ngồi, bộ dây điện, ắc quy, sản phẩm nhựa...

Thu Phương 


Phần nhận xét hiển thị trên trang