Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Tư, 19 tháng 2, 2014

Thăm Thẳm đường về.. ( Chương 21 )




21.
 
            Người ta nói với anh rằng lão già đã ngoài bảy mươi tuổi,Khải không tin. Đó là một người cao lớn, đôi tay dài khác thường, mái tóc đen mượt. Ông ta có hàm răng đều sáng bóng, chỉ có đôi môi mềm màu hồng là hơi run rẩy khi ông ta cười hoặc nói. Đặc biệt giọng nói sắc lạnh như từ một nơi tăm tối nào vọng về. Rất kiệm lời.
            Ông thường đột ngột xuất hiện sau một lùm cây hoặc bức tường nào đó, rồi lại hiến đi ở một chỗ khuất cũng lặng lẽ như khi đến. Suốt ngày con người bí hiểm này ngồi trong nhà đóng cửa. Tất cả cửa ra vào, cửa sổ đều lắp kính, khung cửa là gỗ cẩm lai. Thứ gỗ có hai màu tương phản: đen, trắng. Vân đen lì bóng như sừng. Vân trắng mịn, sáng như ngà voi.
            Đây là dinh thự của một viên Tướng chế độ cũ đã di tản. Bốn bề rào dây thép gai, lớp trong chôn cột bê tông căng lưới chống đạn B40. Giữa hai lớp rào là một lối đi rộng chừng 2m. Từ mười giờ đêm cửa ra vào khuôn viên đóng kín. Đàn chó tây cao lớn như những con bê được thả đi lại canh chừng trong lối đi này. Bên trong hai lớp nhà là những ngôi nhà cấp bốn lợp tôn Mỹ. Chính giữa là ngôi nhà ba tầng kiến trúc theo kiểu Gô - tích. Qua khoảng sân rộng tới một cái hồ nhỏ hình e líp. Xung quanh hồ trông cây cảnh xum xuê. Có những loài cây Khải mới nhìn thấy lần đầu. Nó tạo cho anh cái cảm giác vừa xa lạ, vừa lãnh đạm. Bao bọc khu nhà là vườn cây ăn quả đủ loại của miền nhiệt đới. Xa nữa một đoạn là khoảng đất trống bằng phẳng, chạy ngút mắt. Những nọc tiêu xây bằng gạch cao lớn như ống khói lò gốm xây ngay hàng, thẳng lối. Khi mới đến anh còn không biết nó được dùng vào việc gì. Chỉ khi lão già dẫn ra vườn nói cho biết, Khải mới hay nó là những trụ, nọc tiêu bao quanh. Mỗi một nọc như vậy xây hết hai vạn gạch, dùng xi măng mác cao. Có chừng vài trăm nọc tiêu như thế được xây xong. Tốp thợ trước không rõ vì lý do gì không tiếp tục công việc. Mà công trình của lão mới chỉ bắt đầu. Đấy lầ lý do vì sao Khải có mặt ở nơi này. Tốp thợ của anh sẽ xây tiếp cho đủ một ngàn nọc tiêu theo dự định của lão.
            Lần đầu tiên trong đời Khải thấy một trang trại tư nhân có tầm vóc cỡ này. Vậy chủ nhân của nó là ai, giữa cuộc khủng hoảng kinh tế những năm 80 này lại có tiềm lực lớn như vậy? Như một vùng ốc đảo nằm trên sa mạc. Cả vùng chưa chỗ nào có điện mà nơi lão ở có máy phát riêng vừa để sinh hoạt vừa để phục vụ sản xuất. Ngôi nhà ba tầng, hai tầng đã gắn máy lạnh. Du mưa hay nắng, nóng hay lạnh với lão không thành vấn đề. Phòng làm việc và phòng ngủ của lão lúc nào biểu kế trên dưới hai mươi độ, giữa phòng làm việc kê một cái bàn dài, rộng như kiểu hội nghệ bốn bên. Góc phòng đặt máy bộ đàm, kiểu máy liên lạc của lính thuỷ đánh bộ Mỹ nhưng được sản xuất tại Nhật Bản, chạy bằng pin khô. Từ đây lão có thể gọi đi khắp nơi trong nước thậm chí ra cả nước ngoài. Xung quanh tường nhà kê những kệ xếp đầy sách đủ thứ tiếng: Nga, Anh, Pháp. Sách tiếng Việt chỉ chiếm chỗ một phần rất khiêm tốn.
            Đặc biệt là trên mặt chiếc bàn nhỏ trải khăn trắng kê gần cửa sổ lúc nào cũng có một lọ hoa tươi. Những bông hồng bạch gửi mua từ thành phố lên mỗi ngày được thay một lần. Đây cũng là công việc duy nhất mà người vợ trẻ của lão phải đụng tay tới. Các công việc khác, kể cả nấu ăn, giặt giũ, quét dọn đều do những người giúp việc trong nhà đảm nhiệm.
            Một người trong đội thợ hồ của Khải người vùng này cho anh biết: Lão già là người Huế. Từng là cán bộ đặc trinh hoạt động nội thành Sài Gòn. Vợ con lão hiện ở cả ngoài thành phố. Người vợ trẻ hiện đang ở đây vốn là người yêu của con trai lão. Cô ta có bằng Bác sĩ đang làm việc ở bệnh viện Chợ Rẫy. Được con trai lão “rước” lên đây chăm sóc sức khoẻ cho cha. Một kiểu báo hiếu hiếm thấy xưa nay. Chỉ những kẻ giàu có mới có cách hành xử khác người, hơn đời như vậy. Con trai đang làm Giám đốc hay Tổng giám đốc quái quỷ gì đấy ngoài Sài Gòn. Việc tìm một cô gái khác trẻ đẹp hơn để thế chân cô này chẳng khó khăn gì. Nhưng nó là nỗi sượng sùng mỗi khi chỉ có hai cha con ngồi với nhau. Vì thế con trao lão ít khi lên đây. Năm thì mười họa mới thấy con trai lão lên thăm cha. Hắn thường đi chiếc xe  con màu đen, kính mờ. Khải cũng chưa lần nào được nhìn rõ mặt người này. Một người nghe nói có lối sống hiện đại, rất coi trọng thời gian. Mỗi lần lên hai cha con chỉ nói với nhau vài ba câu. Sau đó hắn đi một vòng quanh trang trại nhìm ngắm khắp lượt. Không nghe thấy hắn chuyện trò nói năng bất cứ câu gì, kể cả với người vợ nhí của cha hắn, hắn cũng lặng thinh. Sau đó hắn dong xe chạy về Thành, không khi nào ở lại qua đêm. Có thể vì sự buồn tẻ ở vùng này. Cũng có thể vì sự tế  nhị đối với bà mẹ trẻ từng là người yêu cũ.
            Chính Ba Tô là người giới thiệu Khải đến làm cho lão già mà anh ta kêu bằng chú Tư. Hai người quen biết nhau từ hồi chưa giải phóng. Lão già là chủ hàng chuyên sản xuất dây kẽm gai phục vụ quân đội còn Ba Tô là Trung sĩ cảnh sát Đô thành. Việc Ba Tô được giảm thời gian học tập là có sự can thiệp của Tư Lành. Khi đó ông đã công khai là một cán bộ có cỡ nằm vùng. Ba Tô thường có câu cửa miệng:
- Ông già số hên. Thời nào cũng vai cha thiên hạ!
Ba Tô còn rỉ tai Khải: “ Ông già một năm đổi máu hai lần. Ông thay hết máu cũ trong người bằng máu con trai. Phải là trai tân chưa có vợ và vô bệnh tật. Năm xưa ông còn định thay tuỷ vì nghe nói thay được tuỷ thì sẽ thọ lâu hơn. Với ông tiền bạc “nâu" vấn đề. Ông chưa thay vì ở bệnh viện trong nước chưa nơi nào làm việc này bảo đảm. Nếu có chỗ tốt thì đã thay rồi..!”.
Chả trách lão đi nhanh nhẹn như thanh niên. Tóc đen tự nhiên Khải từng nhầm là tóc nhuộm. Hàm răng của lão già vẫn đều sin sít dễ bị nhầm là răng giả. Nếu con mắt không còn sáng chắc lão cũng đã thay.
Khải đã từng nghe người ta nói tới chuyện thay lắp bộ phận cơ thể. Nhưng cũng chỉ là nghe để mà nghe chưa được tận mắt chứng kiến khi nào. Ngày còn ở Hà Nội, Khải có lúc gặp từng tốp đông hàng chục người chầu trực ở ngõ B.K. Chỗ đó là cửa sau của Bệnh viện V.Đ nổi tiếng. Những con người trông bề ngoài hết sức thanh cảnh, nhàn nhã nhưng trong túi luôn có cái thẻ màu vàng viết tắt chữ hoa: “T.C.M”. Họ thường có tiếng lóng để gọi nhau là “ dân té me”. Những con người có bộ mặt như thiếu ngủ, xanh dớt. Họ đi từng đoàn cũng áo da, ca táp mới. Bệnh viện quy định hai tháng mới được hiến máu một lần. Nhưng quy định ấy cũng chẳng có ý nghĩa gì. Bởi vì ở các bệnh viện khác họ cũng có một cái thẻ tương tự. Cứ một vòng Hà Nội – Hà Đông, Việt Trì - Thái Nguyên, Nam Định – Hải Phòng… là vừa vặn hết năm. Cho máu trở thành một nghề, một phương tiện kiếm sống chuyên nghiệp. Có một lần Khải cùng ông Võ lên Thái Nguyên thăm một người bạn. Vừa ra khỏi ga hai người gặp một tốp cả nam lẫn nữ ăn mặc lịch sự ra vẻ hào hoa. Trong tốp có một người quen của ông Võ tên là Lâm – Quân. Anh chàng này là học sinh miền Nam ở trường 26-3 gì đó. Một người tóc quăn tự nhiên, môi mọng như con gái, đôi mắt sáng, lúc nào cũng mang theo cây ghi ta cũ. Bây giờ đang là mùa đông. Mùa đông Thái Nguyên đã từng được mô phỏng trong thơ Tố Hữu. Cái rét chết cò. Khải co ro trong cái áo Bu dông cũ đã bị thủng ở hai khỉu tay. Trong khi đó anh ta đầu đội mũ len, người áo len dài tay, bên ngoài khoác Măng tô sau dài chấm gót giày. có cảm tưởng cái rét vùng núi đá chẳng ảnh hưởng gì đến anh ta cả. Vậy mà trong quán cà phê ra mới được một quãng anh ta tự nhiên gục xuống mặt đường. Cả bọn được một phen hú vía vội dìu vào một quán bên đường. ít phút sau anh ta tỉnh lại. Người mà lúc mới gặp Khải ngỡ đâu công tử con nhà giàu, té ra là chàng thất nghiệp chuyên sống nhờ bằng dòng máu của chính mình. Anh ta có bài thơ mà Khải còn nhớ mãi đến giờ, mấy câu:
“ …Cuộc đời là bể khổ
Hạnh phúc là ngọc châu
Lặn mò đáy biển tìm châu
Sợ nửa chừng tan nát – biết đâu…?”
Con người này sau đó trở về Hà Nội, Khải còn gặp lại đôi lần. Anh ta có vẻ ngượng, luôn tìm cách tránh mặt. Nhưng cái bộ dạng giọng nói của anh ta luôn ám ảnh Khải, không hiểu vì sao?
Đến khi gặp lão già gọi “ Chú Tư Lành ” này, nỗi ám ảnh ấy lại trở về “ cũng là cách chia sẻ sức sống ” giữa người trẻ cho người già chung một mục đích duy trì sự tồn tại, kéo dài nó. Nhưng nó cứ se sắt lòng làm sao! Kẻ cho không phải vì mình có dư – mà người nhận không phải quá thiếu. Nó là sự sam sẻ ngược đời của những chênh lệch hoàn cảnh hết sức khác nhau. Tự nhiên Khải nhìn lão già thiếu thiện cảm ngày từ lúc mới gặp. Mặc dù khi ấy lão đón tiếp tốp thợ ân cần và chưa xảy ra điều gì giữa hai bên. Càng về sau lão càng làm anh khó chịu.
Sáng nào lão cũng dậy sớm, chạy một vòng giữa hai lớp rào. Phía sau lão dàn chó lai chạy theo chủ. Chúng giữ khoảng cách đều đặn với lão chừng hai chục bước chân. Khi lão dừng lại chúng cũng dừng lại tức thời, cúi mõm xuống sát mặt đường vẫy đuôi rối rít. Chạy hết vòng lão vào nhà, tắm nước xông hơi. Buồng tắm của lão thiết kế theo kiểu I-ta-li-a ( người vợ bé của lão khoe thế) chứ thực ra Khải cũng chưa bước chân vào đấy. Anh cũng không hình dung được nó như thế nào. Lão tắm chừng hai mươi phút rồi chải đầu, xoa mặt. Công việc nào lão cũng theo một công thức rất tỷ mỉ theo phương pháp dưỡng sinh hiện đại.
Bữa sáng của lão là hai ly rượi thuốc và tô mì vằn thắn theo kiểu Ba Tàu. Sau đó ra bàn uống cà phê, hút một điếu thuốc ba số dẹt. Cũng có hôm buổi sáng lão chỉ ăn cái bánh ngọt có bơ và uống cà phê.
Lão mặc quần áo chỉnh tề như để đến công sở. áo bỏ trong quần, cài khuy cổ. Chỉ thiếu không thắt cavát. Trên con đỉa ở thắt lưng dắt sợi dây bạc nối với chùm chìa khoá thả trong túi quần.
Mặc dù còn rất khoẻ không cần chống gậy, lão vẫn mang theo cái ba tong, chỗ tay cầm bằng sừng khảm trai rất đẹp. Mắt đeo kính mát, lão lặng lẽ ra xem tốp thợ làm. Nếu ưng ý lão lặng lẽ biến mất. Còn không vừa ý lão sẽ chọc cái ba tong vào chỗ thợ làm sai, bắt phải làm lại. Cốt sao xây tròn đều, không được lệch tâm là được. Đằng này lão yêu cầu xây phải thật đều, dầy mỏng một tẹo đều không được. Đã là thợ, ai không biết khi xây tránh không trùng mạch. Nhưng xây trụ tròn đó là điều khó tránh. Thợ đã cố gắng không để trùng hai lớp liền nhưng lão vẫn không thuận tình. Hễ chỗ nào trùng lão bắt tháo ra xây lại. Xây tường đơn bằng cát xi măng vữa rơi là chuyện khó tránh. Không hôm nào lão ra mà không nhắc việc này. Hôm nào hết buổi, nghỉ muộn không kịp vét vữa rơi lão lẳng lặng ghi vào cuốn sổ tay. Lão bảo khi thanh toán hợp đồng lão sẽ nói chuyện việc này.
Kể ra thì lão không cần phải ra chỗ làm, lão đã thuê riêng một người. Người này có trách nhiệm theo dõi kỹ thuật và cai quản vật liệu, Anh chàng có thân hình hộ pháp, ít nói. Anh ta có thể đứng hàng tiếng đồng hồ không cần đổi chân. Anh ta nói với anh em thợ mình từng làm kỹ sư cầu đường Sở Mỹ, là chỗ bà con họ xa với ông chủ. Lão già rất ghét việc thợ vừa làm vừa nói chuyện, cười đùa. Lão bảo: “ Đấy là tác phong nông dân thiếu tính công nghiệp ”. Nên khi có mặt lão không ai hé răng nói một lời. Thợ về vốn là công việc vật vả, phải im lặng như thế thật căng thẳng. Anh nào anh ấy mặt nhoè mồ hôi.
Rất may là lão già chỉ ra xem  như thế chừng hơn tiếng đồng hồ. Sau đó lão về phòng làm việc của lão. Thường có những chiếu Ci tro en bóng lộn từ thành phố lên vào giờ ấy. Những vị to béo, những bà phốp pháp ăn mặc sang trọng đến tìm lão vì một việc gì đấy. Hình như lão già đã về hưu vẫn còn tham mưu, cố vấn cho những cơ quan ngoài thành phố. Đấy là Khải đoán thế, chứ con người bí hiểm này ai mà biết được ông ta còn lo làm những việc gì?
Hết lượt lão già là đến phiên bà vợ trẻ của ông ta. Một cô giúp việc nhà mang chiếc ghế xếp ra chỗ thợ làm cho bà vợ trẻ của lão. Bà ta mặc áo quầy có quai đeo hai bên vai để lộ nửa ngực nõn nà. Chiếc minizíp cao quá gối để lộ đôi chân dài đi tất trắng, rất mỏng. Khi bà ta nằm thườn ra ghế xếp đọc sách không hiểu vô tình hay cố ý để lộ chiếc quần sịp màu hồng. Tay cầm sách mà hai mắt thỉnh thoảng lại nhìn chằm chặp vào cặp đùi, bắp tay cánh thợ. Giàn giáo cao quá đầu, thợ hồ nóng chỉ mặc xà lỏn rộng thùng thình. Từ dưới nhìn lên nhìn lên gần như không mặc gì. Của quý lúc lắc mỗi khi anh thợ day hòn gạch cho nó ăn hồ. Nhiều lần Khải bắt gặp cái nhìn ấy. Khiến bà ta đỏ mặt. Anh không hiểu vì sao một người trẻ đẹp, có chuyên môn cao lại chung sống với một lão già? Bà ta thèm một sức trai là chuyện đương nhiên. Không như vậy mới là chuyện lạ! Mấy lần Khải gặp ánh mắt đắm đuối của bà ta. Phải công nhận đó là đôi mắt đẹp. Ai nhìn vào đó cũng phải nao lòng. Tình cảnh trớ trêu khiến việc xưng hô với bà ta quá khó.
Anh kêu bà ta bằng “  bà ” xưng “ tôi ” thì bà ta không bằng lòng, bà ta nói:
- Trước mặt ông chủ kêu sao cũng được. Nhưng không có ổng kêu vậy tội nghiệp em, anh hai à!
Việc đó làm cho Khải khó xử. Xưa nay anh vẫn quan niệm: “ con thầy, vợ bạn ” là nơi phải giữ gìn cẩn thận. Cho dù bà ta không hẳn là đối tượng như vậy nhưng là nơi mình quan hệ làm ăn. Có gợi tình gợi ý đến đâu anh cũng không để ý. Phức tạp một chút, có thể công sức của bao nhiêu con người hàng tháng trời ra sông ra biển! Thợ thuyền phần đông từ miền Bắc tìm vào. Người ta đi làm cốt kiếm đồng tiền nuôi vợ nuôi con. Công việc nặng nhọc ngày ngày cạn kiệt sức lực. Ai hơi đâu ngó trộm của cấm nhà chùa.
Vậy mà vẫn có kẻ mắt la mày lém . Y người Hải Phòng. Nếu không vì y có tay nghề giỏi Khải đã cho thôi việc. Vì dù sao anh cũng là người có chút quyền hành ở đây. Khải đứng ra nhận việc, ký hợp đồng với nhà chủ, thợ cũng do anh đón về. Đuổi ai, nhận ai anh hoàn toàn quyết định. Nhưng lại nghĩ cùng cảnh áo ngắn, xa nhà, hàng năm không mùi đàn bà, anh lại thôi. Nhưng để y lại lúc nào Khải cũng nơm nớp trong dạ Khải phải nhắc y.
                - Nếu mày không chịu được hôm nào về thành phố, ăn bánh trả tiền khỏi lằng nhằng, phức tạp khổ lây cả bọn. Y cười hô hố.
- Thôi đi cha, mấy động quỷ đó con lạy cả nón. Nát nhèo nheo, khô khồng khộc báu gì. Thằng này con nhà lính nhưng tính nhà quan. Không “ ăn” thì thôi “ ăn” là phải ngon. Khải đã định tống cho Y một cái vào miệng. Nhưng nhìn thân thể chắc nịch của Y anh cũng có ý gờm. Không khéo sinh chuyện to trong lúc anh đang cần tiền. Chỉ ít ngày nữa là Khánh Hà “ Nằm bếp ”. Còn đủ thứ phải lo…
 Nhưng Y là người khéo xoa dịu. Y ghé tai Khải mà rằng:
                  - Ông anh yên tâm đi. Thằng này ăn vụng biết cách chùi mồm, của nó nó cũng biết giữ, ông lo làm gì cho mệt người. Khải không ngờ trong đội thợ xây của anh, anh chàng nào trông ngon mắt đều bị bà ta “ nhắm ” gần hết. Một kẻ có ý dè chừng như anh cũng không thoát ra ngoài vòng ngắm.
Hôm ấy lão già có công chuyện ngoài thành phố không về. Tầm mười giờ đêm có tiếng gõ cửa. Khải chưa kịp hỏi việc chi, bà ta cầm tay lôi đi tuồn tuột: “ anh Hai sửa giùm cái vòi nước nhà tắm, không hiểu sao tắc hoài à!” Khải đã định từ chối khéo để mai ban ngày ban mặt làm. Bà ta làm bộ vùng vằng : “ Tui chuyên tắm giờ này, để mai chịu sao nổi. Nếu anh Hai không chịu giúp thì thôi vậy” Miệng nói vậy nhưng bà ta không buông tay. Mùi nước hoa đắt tiền sực nức khiến anh nao nao. Khải miễng cưỡng bước theo. ở đây đã lâu nhưng đây là lần đầu tiên anh bước chân vào chỗ này. Mọi khi thợ thuyền tắm ngoài khu giếng đào, có nhà tắm nào rộng rãi như thế này. Bồn tắm to như cái giường nằm bằng sứ trắng bong. Những vòi nước đủ kiểu sáng loá mắt. Bà chủ chỉ cho anh một vòi bị tắc. Nghe bà ta khoá trái cửa Khải đã có ý ngờ ngợ. Khi anh tháo chiếc vòi ra thì thấy bên trong một cục giẻ. Khải lôi ra, vòi lại chảy như cũ. Rõ ràng là có ai đó đã làm việc làm việc này. Bỗng dưng không có chuyện giẻ chui vào vòi nước như vậy. Trước lúc làm, Khải quần áo dài treo trên mắc, vì sợ ướt nên lúc này anh còn độc chiếc quần đùi. Chỉ còn mỗi một việc vặn trả lại cái vòi vào chỗ cũ là xong. Anh thấy có cái gì nhồn nhột trên lưng. Một bàn tay mềm mềm len dần xuống xoa quanh bụng, rồi lần xuống mé chun quần. Khải chợt hiểu ra chuyện gì. Anh định ngăn bàn tay ấy lại. Không hiểu sao anh như không điều khiển được bàn tay của mình. Bàn tay kia túm lấy phần con đực của anh, mơn trớn. Chiếc vòi nước chưa kịp lắp rơi xuống nền đá, nước chảy tứ tung. Người kia kéo anh xoay hẳn lại. Người ấy trên mình không còn mảnh vải. Cảm giác hoang mang đờ đẫn Khải không nghĩ được gì lúc ấy. Những cái hôn bỏng rát lên mặt lên cổ cả vào chỗ không nên hôn. Khải có cảm giác như mình đang bị một con thú ăn thịt. Không khéo còn bị cắn nát cái phần vừa rơ ráy vừa quý hoá của mình. Anh thoáng rùng mình. Người đàn bà hổn hển:
            - Đừng sợ anh Hai! Đừng chối bỏ tội nghiệp em mà!
Khải như Từ Hải chết đứng! Anh buông thòng tay, mắt nhắm lại mặc người kia làm gì thì làm. Có tiếng khóc nức nở. Cô gái buông anh ra. Cô vẫn trần truồng như thế, hai tay ôm gối. Đầu cô gục xuống, mái tóc dày đen mượt xoà xuống nền nhà. Chưa bao giờ Khải thấy một cái nhìn như thế. Một cái nhìn vừa ham muốn vừa giận dữ, vừa nồng nàn lại vừa nanh ác. Khiến cái áo Khải đang cầm trên tay rơi xuống sàn nhà. Khải lúng túngđịnh nhặt lên. Bất ngờ cô đạp vào chân anh. Vào lúc khác thì đạp như thế không hề húng gì. Không rõ vì sao Khải ngã ngồi bệt xuống đất. Cô gái chồm lên, tóc cô phủ trùm lên mặt khiến Khải không nhìn thấy gì. Đôi bầu vú nóng bỏng của cô úp lên mặt Khải đến ngộp thở. Khải đã làm phận sự của con đực một cách vô ý thức. Không phải lần đầu tiên chung đụng với đàn bà, Khải có cảm giác mình như con gấu bông trong tay cô bé ưa nghịch ngợm. Cô ta xoay ngược, xoay xuôi chồm lên như ngựa phi nước đại. Khải mệt lử. Có cảm giác mình đang trôi dạt về một nơi nào tối tăm xa xôi nào đó. Trôi rất nhanh lại rất nhẹ nhàng… Cho đến lúc cô thở hổn hển, ôm cứng lấy anh, co người một lúc lâu.
            Hai người buông nhau khi bốn bề im ắng, không một tiếng động. Khải mặc quần áo thật nhanh lui về phòng. Anh nằm miên nam cho đến sáng. Không buồn, không vui mà tự nhiên nước mắt tràn hai bên má. Vì thân phận mình hay vì bị kẻ khác giới xem như là đồ vật. Cuối cùng anh phải tự trấn anh mình: Rằng mọi việc không quan trọng đến thế. Chẳng qua mình chưa quen kiểu sinh hoạt chụp giựt của thời bây giờ  mà thôi. Dẫu sao nó cũng xảy ra rồi. Mà đâu phải lỗi tại mình. Khải sực nhớ đến nụ cưới khả ố của gã người Hải Phòng: “ Thích chết cho chết luôn ”.
            Sáng hôm sau Khải mới để ý thấy trong túi áo mình có một cục tiền. Thì ra người này ưa sòng phẳng. Như mười năm sau người đời có câu cửa miệng: “ không ai cho không và lấy không của ai cái gì ”. Cái gì cũng có giá của nó. Số tiền bằng cả tháng phơi nắng làm thợ hồ. Nhưng so với sự việc vừa rồi nó là cái giá khốn nạn. Và cái chất khốn nạn trong con người mình không phải là không có chút nào. Đểu thật!
            Khải không nhớ ở đâu đó, anh đã gặp đám trẻ con đầu trân, chân đất vừa đi vừa hát một bài đồng dao:
“ Ngày xưa quả báo thì trầy
Ngày nay quả báo ở ngay nhỡn tiền…”
Khi ấy anh không để ý lắm. Những đám trẻ lang thang với đủ trò nghịch ngợm, đủ vẻ lôi thôi lếch thếch bề ngoài. Chúng vừa nghêu ngao vừa kiếm sống. Những bài ca, câu nói học từ người lớn hay tự chúng nghĩ ra nhiều vô kể. Anh chỉ coi đó là cách chúng tự mua vui, tự an ủi mình trong lúc không cửa không nhà. Bọn trẻ đâu đã có ý thức? Sau này Khải mới biết đấy là ý nghĩ vội vàng rất chủ quan của mình. Nhiều khi những trò con nít lại là điềm báo trước. Không ít các câu sấm đã từ - lũ trẻ phát ra. Người ta có thể xem xét các trò chơi ý thích con trẻ để liệu đoán tương lai. Khi chúng say mê súng đạn, thích các trò bắn giết giả tưởng là y như rằng sau đó có chiến tranh, loạn lạc. Còn lúc chúng mê say thổi sáo thả diều là điềm báo thanh bình, vận nước đang lên… Hình như vạn vật và mọi sự trên thế gian này có một mối dây ràng buộc. Có một mã số liên kết nào đó mà nhìn bề ngoài khó nhận ra. Các dữ liệu đều đã có sẵn, cái mới xuất hiện cũng phải theo một lôgíc nào đó không phải rời rạc, phi lý như nhiều người lầm tưởng.
Sau cái đêm bất ngờ trong nhà tắm, Khải nghiệm ra rằng:
Hình như những việc làm tăm tối, bất nghĩa đều có hậu quả không hay. Mới hôm trước Khải nhận được tin nhà. Lão Quảng vô mao dẫn một cô gái còn khá trẻ tìm mua đất mua nhà ở nơi anh đang ở. Lão khoe đào được hũ bạc trên gò mả hủi nên mới có tiền để đổi đời. Để lại con vợ vừa thô lỗ vừa luộm thuộm trên đất Bắc, lão dứt áo ra đi. Cô gái đi cùng với lão là dân phe tem phiếu ở chợ Hoà Bình. Chính cô là người dắt mối để lão bán những đồng bạc cho một người Tàu ở chợ Hàng Bè. Cô này chồng đi tù mãi đâu trên cổng trời vì tội buôn thuốc phiện. Hai người đoạn tuyệt quá khứ rắp tâm làm lại cuộc đời. Lúc mới gặp, Khải suýt nữa không nhận ra, nếu lão không cười không để lộ hàm răng bịt đồng. Lão ăn mặc y hệt một gã cao bồi Chi-Ca-Gô: áAo phông, quần bò, đội mũ phớt, mắt diện kính đen. Sau này Khải có được nghe người ta kể ông Đặng bên Tầu cũng ăn mặc y như thế khi ông muốn tỏ rõ cho thế giới biết quyết tâm đổi mới của mình. Đổi hết từ dưới lên trên, từ trong ra ngoài. Nghe chuyện này bỗng dưng Khải lại nhớ ra bộ dạng của Quảng vô mao. Mặc dù giữa hai chuỵên chẳng liên quan gì đến nhau.
Lão Quảng huyên thuyên nhiều chuyện những Khải không để ý lắm. Điều mà anh quan tâm là mẹ anh vẫn khoẻ. Bé Hà vẫn đi học như mọi ngày. Các nghi án xảy ra từ việc mâu thuẫn giữa Sinh Béo và lão Chỉ Đen cũng nguôi dần. Chuyện ở làng quê là thế. Lúc đầu cứ như lửa bỏng, dầu sôi rồi sau chìm dần vào quên lãng. Con người ta luôn phải đối diện với hiện tại. Công sức đâu mà lần bới mãi những việc đã qua.
Khi Khải hỏi lão làm sao mà biết anh ở đây? Lão nói:
- Tao hỏi bà già cho xem thư mới biết chú ở đây. Tưởng chú vào đây làm gì, chứ thợ xây ngoài Bắc bây giờ cũng không thiếu việc. Không biết thiên hạ giấu ở đâu mà mãi đến tận bây giờ mới chịu tòi ra, đua nhau làm nhà. Nhưng đã vào đến trong này phải kiếm việc gì làm ra tiền chứ? Ba cọc ba đồng thế này thì bao giờ mới hết nghèo?
Khải không giấu:
- Cái khó bó cái khôn anh ạ. Không có vốn có tính việc gì cũng chỉ là tính suông. Tính xong bỏ đấy.
- Hay là chú mày bỏ quách cái việc này đi! Bây giờ đang vụ hạt tiêu, anh em mình gom mang về chợ lớn. Mỗi chuyến cũng được vài chỉ. Chú mày yên tâm đi, vốn anh cấp. Bao giờ khá trả anh!
Quảng vô mao là con người bợm bãi. Nhưng cũng có cái tốt của anh ta là lão hào phóng, không keo kiệt. Khải tin là anh ta nói thực. Nhưng buôn bán là phải có mối. Quen trung thổ, quen mặt hàng, nắm được mức lên xuống ngoài thị trường… Tóm lại phải có kinh nghiệm, có kiến thức… Không phải cứ hễ muốn là làm được ngay. Chưa nói đến cái duyên, cái nghiệp của từng người. Khối anh nghiên cứu thị trường chán ra rồi, vốn hàng tỷ đồng mà vẫn gãy. Lại có người làm như đùa vẫn nên ăn. Tốt nhất là lãnh vực nào mình chưa hiểu mấy, chớ bước chân vào. Biết cưỡi ngựa thì hãy cầm cương kẻo có ngày gãy cổ.
Khải cũng không muốn lão ta mất lòng. Dù sao đó cũng là ý tốt của lão. Anh chỉ nói với lão chót nhận hợp đồng không thể bỏ dở. Lão cũng không nài ép, chỉ bảo:
- ờ thì tuỳ chú mày. Tao nghĩ muốn có anh có em làm ăn nó vững hơn. Mình là kẻ chân nâng, một tay khó vỗ. Tao xem vài chỗ, thấy đất này có khi không bằng ngoài mình, nên quyết định không mua nữa. Chạy lấy vài chuyến có khi tao xuống miền Tây. Thấy người ta nói lúa ở dưới ấy mọc tự nhiên. Chả phải cấy hái gì mà gạo dẻo, cơm thơm. Cá ở dưới sông phải rẽ ra  thuyen mới đi được. Đi một chuyến cho biết, rồi sau sẽ tính!
Nhìn nét mặt, Khải biết lão đang nói những lời chân thực. Anh đã suýt buột miệng: Đó chẳng qua là chuyện hão. Ai đó giàu óc tưởng tượng sáng tạo ra làm quà cho người sẵn óc tưởng bở. Thôi cứ để lão đi, rồi sẽ biết. Không nên làm mất hứng thú của lão làm gì. Đôi khi ảo tưởng, ngộ nhận là nguồn sữa ngọt, là chí hướng của người đời. Nó giúp cho số đông nào đó quên đi nghiệt ngã hàng ngày. Lão Quảng chỉ ở chơi chưa đầy một ngày. Chiếc xe gắn máy như con cào cào to lớn lại đưa lão và cô ả nhân tình kia đi. Nhưng nó để lại tâm trạng bâng khuâng không biết vì cớ gì trong lòng Khải. Khiến anh không tập trung đầu óc vào công việc được. Gợi lại dĩ vãng, sực nhớ tới hiện tại, nhớ đến khao khát thời trai trẻ hay nỗi nhớ nhà? Khải cũng không rõ nữa. Mà có lẽ là tất cả những cái đó trộn lẫn thành cảm xúc rất khó tả.
Mọi khi trước lúc bắt tay vào công việc anh thường kiểm tra lại giàn giáo. Mối buộc nào lỏng lẻo thì xiết chặt lại, tấm ván nào cập kênh thì kê lại. Xong xuôi đâu đó mới đón bắt gạch, kéo hồ lên, bắt đầu vào việc.
Nhưng hôm nay đầu óc anh như để đâu đâu. Mọi cảnh vật xung quanh như được tạo ra từ ảo giác. Như không có thật. Khi lão già ra để nhận mặt cân trong lúc người giúp việc giao thịt cho cánh thợ anh cứ thấy nó khôi hài, ti tiện thế nào đó. Mỗi hôm lão cấp cho đội thợ xây hai cân thịt ba dọi không thừa không thiếu một ly một lai nào. Cử chỉ đó khiến Khải không thấy khó chịu mà chỉ thấy buồn cười. Con người lão dù có chăm sóc đến đâu, một năm thay máu đến mấy lần cũng khó sống ngoài trăm tuổi, tiền của chất như thế, lão để ý tới việc vặt vãnh ấy làm gì? Ngay cả cô vợ trẻ măng lão không giữ được cho riêng mình thì keo kiệt vài lạng thịt có ý nghĩa gì? Lão chưa từng làm thợ hồ nên lão chưa biết. Thợ có ý tốt với nhà chủ thường tiết kiệm cho chủ nhà số tiền không nhỏ. Ngược lại nếu trái ý họ không thiếu gì cách đốt tiền của lão mà lão không thể nào kiểm soát nổi. Lão là người giàu mà không sang… Khải vừa đón gạch vừa nghĩ lan man như thế. Đột nhiên nghe tiếng rắc rất nhẹ rồi sàn giáo chao đảo. Khải không kịp nhận ra điều gì, anh cùng chồng gạch trên giáo đổ rầm xuống bãi đất. Có cảm giác mình hệt như con nhái bị quăng từ trên cao. Khải choáng váng không cảm thấy gì nữa…
Khi tỉnh lại Khải thấy xung quanh mình rất đông người. Anh đang ở trong dãy lán dành cho đám thợ. Người ta đặt anh nằm trên chiếu chăn mỏng có lẽ được dùng làm cánh lúc đưa anh vào. Khải co chân định ngồi dậy. Cả hai chân tê dại nặng như hai cục bê tông không thể nào điều khiển được. Đầu óc anh vẫn rất tỉnh táo. Khải lấy tay sờ đầu, sờ cổ xem có bị đau ở đâu không. Bàn tay anh đỏ nhoè máu. Đầu anh bị sứt một miếng ở sau gáy chỗ ấy bây giờ có cảm giác rất xót, như thoa muối vào vậy. Một lão có cái đầu và khuân mặt từa tựa trái dưa hấu đặt nghiêng trên cổ nói:
- Cũng may cậu ấy không bị gãy xương, chỉ bị sưng tấy nghỉ vài ngày là khỏi.
Người khác vặn lại:
- Ông căn cứ vào đâu mà bảo không gãy?
- Bà cụ tôi ngoài Thanh Hoá chuyên trị gãy xương. Tôi nhìn qua tôi biết mà.
- Mắt thường nhìn thấy làm sao được? Vẫn phải đưa anh ấy xuống bệnh viện chiếu chụp xem thế nào.
Lão mặt dưa, môi mỏng cũng đỡ lời:
- Thì tôi có bảo không nên đi đâu. Cũng chỉ tại cậu ấy. Thợ bây giờ đông rồi, cậu ấy chỉ cần cai quản công việc là được. Đằng này không chịu, cứ một mực cùng làm với anh em. Vừa làm lại vừa lo chả trách sơ sẩy.
Người ta đỡ anh ngồi tựa vào vách. Khải nhờ người kéo thử bên chân. Đau buốt lên tận óc, nhưng đã có cảm giác. Sợ nhất nó tê cứng không cảm thấy gì. Có lẽ khi rơi xuống chồng gạch đè lên chân anh. Lại thêm những tấm ván nặng nên chỗ bắp chân Khải sưng vù, đỏ cứng lên.
Vợ chồng lão già cũng đã có mặt. Lão già nói:
- Mọi người xem có cần đi bệnh viện tôi kêu người nhà đưa đi?
Mọi người nhao nhao nên đưa đi nhưng Khải gạt đi nói không cần. Anh chỉ xoa bóp vài hôm se khỏi. Lão già boả cô vợ trẻ:
- Em vô trỏng lấy chai dầu ngâm mật gấu ra cho cậu ấy thoa. Thức này công hiệu liền à!
Tốp thợ quay lại chỗ làm. Lão già chắp tay sau lưng cũng đi sau. Lão lắc thử mấy chỗ dàn giáo rồi nói lớn:
- Các chú cẩn thận nghe. Suýt nữa sẩy ra chuyện không lành cho tui rồi đó. Tôi khoán việc nhưng các chú phải làm sao cho đặng mà vẫn an toàn chớ!

ó
ó   ó

Bao nhiêu ngày hiểm nguy gian khó của mình, Khải vẫn như có bàn tay che chở nâng đỡ vô hình. Đó là quà tặng của số phận mà thường khi anh không nghĩ đến. Nếu không có nó chắc anh không còn tồn tại đến ngày hôm nay. Năm mười lăm tuổi một lần Khải cùng một bọn tắm ao. Đám trẻ tắm táp thì ít, bày những trò tinh quái thì nhiều. Gọi là ao chứ đúng ra chỗ đó phải gọi là hồ. Nó phải rộng đến hàng mẫu, Hợp tác xã năm nào cũng thả cá và cũng không năm nào cá không mất trộm. Tổ bảo vệ đã tìm đủ cách rình nhiều đêm mà vẫn không ngăn cấm được kẻ trộm cá. Thời ấy có câu mà trong lòng ai ai cũng thuộc:
" Chính sách em học đã thông
Nhưng vì đói quá xin ông một nồi "
Không biết ai sáng tác ra nó, nhưng nghe vừa bi vừa hài. Một người nào đấy nghĩ ra một sáng kiến: Mỗi nhà xã viên phải góp một bó tre gai cùng năm cái cọc vót nhọn. Người ta đóng cọc xuống đáy ao rồi dùng dây thép cột những bó gai vào. Cách làm này hạn chế được phần nào bọn trộm cá đêm.
Cũng chính sáng kiến ấy khiến Khải suýt mất mạng. Bây giờ phìa sườn sau lưng Khải còn vệt sẹo dài. Dấu vết của đầu cọc xiên từ dưới lên.
Buổi trưa trời nắng, bọn trẻ leo lên ngọn cây sung to vươn ra mặt hồ. Cả bọn trần truồng nhảy từ cành cây xuống, mọi khi chúng vẫn làm như thế gọi là chơi trò nhảy dù. Người lớn đóng cọc khi chúng đến trường. Chỉ sát vài phân nữa là cái cọc xiên từ dưới lên. Khải sẽ không khác con cá lóc người ta xiên để đốt rơm. Máu loang đỏ mặt hồ. Vết xước cả tháng mới khỏi nhờ cậu lành da. Cả một thời gian dài, đêm nằm Khải còn mê sảng…
Lần khác khi ấy Khải đã gần ba mươi tuổi. Người ta vẫn có câu " Ba mốt bước qua, ba ba bước lại " để nói cái đại hạn của mỗi đời người. Khải là đội trưởng thợ xây, xây tường trại giam. Tường xây bằng đá hộc. Bốn góc có bốn chòi canh. Cổng ra vào cuốn vòm xây bằng gạch. Tường xây đá có cái khó là phải lấy phẳng ở cả hai mặt. Công việc chọn đá, ghè để lấy mặt phẳng là công việc khó khăn, nặng nhọc. Lại thêm vôi vữa ăn tya. Dầu ngón chân ngón tay nào cũng bị vữa ăn mòn rớm máu. Nhưng rồi công việc cũng được hoàn tất từng phần. Chỉ còn một chòi canh cuối cùng còn chưa xây xong. Mà ngày lễ lớn lại sắp đến. Ông quản giáo nhắc Khải bằng cách nào cũng phải xong trước ngày kỷ niệm lấy thành tích. Ai đã làm qua nghề thợ hồ chắc đều biết. Ngay cả tường xây gạch đến độ cao nào đó phải ngưng lại gọi là cho tường nghỉ. Xi măng mới kịp đông cứng đảm bảo an toàn. Nếu cứ tiếp tục xây cao mãi lên, tường còn non ắt đổ. Huống hồ tường xây đá thời gian nghỉ chờ chết xi phải lâu hơn. Vì độ nhám của đá và độ hút ẩm của đá không như gạch.
Tường đá xây cao tới tám mét rồi, may chưa xẩy ra chuyện gì. Đáng lẽ phải dừng lại một thời gian mới được xây tiếp. Nhưng theo lệnh vẫn tiếp tục đổ một tấm bê tông ở góc tường rồi xây chòi cao nữa lên. Khải đã trình bày, quản giáo không nghe. Ông ta vừa được chuyển từ chân khoác súng dài sang mang súng ngắn làm quản giáo nên tinh thân rất hăng, lại không biết gì về xây dựng. Khải đành nhắm mắt làm, mong sao đừng xẩy ra chuỵên gì. Anh đã có ý chọn trong đội những người nhanh nhẹn khéo léo giỏi tay nghề để lên giáo cao làm. Khải cũng cùng lên với họ. Anh để ý từng mối lạt buộc, từng tấm ván ghép làm giáo mà tai nạn vẫn xảy ra. Bức tường xây ép cứ phụng phịu như được đắp bằng bùn. Bốn bề im ắng đến nỗi nghe rõ tiếng giọt mồ hôi rơi trên đá. Phần chòi canh xây bằng gạch - không đến nỗi khó lắm. Chỉ độ nửa giờ nữa là xong, chỉ còn chờ để đóng mái. Có tiếng chim cắt kêu thất thanh trên bầu trời. Không ai bảo ai đều nhất loạt ngửng lên. Một giải mây trắng toát trải ngang nền trời u ám. Rồi sầm một cái như tất cả sụt xuống một cái hố sâu thăm thẳm. Khải có cảm giác mình giống như viên đạn vừa bắn ra khỏi nòng. Sau đó không còn biết gì nữa.
Năm người trên giàn giáo hôm ấy anh là kẻ sống sót duy nhất. Cả một góc tường xây bằng đá sụp đổ. Mấy người kia bị đá gạch vùi lấp phải đào bới đến gần tối mới lôi ra được. Mặt mũi họ nhừ nát, không còn nhận diện được nếu không còn dấu vân tay trong hồ sơ của những người kém may mắn. Những chuyện này Khải được nghe kể lại. Còn khi ấy anh cũng bất tỉnh, không biết gì nữa. Khải bị bắn văng ra bãi cỏ dùng làm sân bóng phía ngoài trại. Anh rơi trúng đống cát người ta vừa chuyển đến vài ba ngày, chỉ cách đấy mấy bước chân là nền đất cứng. Mà rơi xuống đất thì … Còn mấy lần cũng hiểm nguy không kém. Lần Khải bị dồn đuổi trên tàu. Anh đã nhảy đại xuống vệ đường xếp lô nhô đá hộc. Tưởng cầm chắc cái chết thì chỉ bị chầy sước hai cùi tay…
Bây giờ nằm đây những ám ảnh cũ lại có dịp trở về. Anh không biết mình nên buồn hay nên vui? Trò chơi số phận thật éo le lắm nỗi. Thượng đế thích đùa - Còn những gì nữa đây? Dẫu sao cũng cảm ơn trời. Cám ơn bàn tay vô hình nào đấy chở che, nâng đỡ anh. Khải thấy nóng ran, cay xè quanh mi mắt. Cuộc đời xét cho cùng cũng là đáng sống. Khải thoáng nôn nao nỗi nhớ nhà. Ước gì giây phút này anh được ở bên mẹ, như ngày còn ấu thơ…

ó
ó   ó

ở xứ này có nhiều cái tạm bợ. Con người cũng lắm kẻ nay ở mai đi. Hôm trước Khải có nghe người ta nói bà vợ ông Bảy Bình bỏ chồng theo trai. Theo đúng cái anh chàng làm mướn cho nhà mình. Khải không tin. Anh đã từng đến nhà ông Bảy. Một con người giàu có, thể lực ở vùng này. Nhà ông xe lớn xe con có đôi ba chiếc. Vườn nhà ông rộng cả chục héc ta. Đồn rằng mùa tiêu, mùa điều ông bán hàng bạc phải đo bằng thước. Ông chỉ lấy những tờ bạc mới, phẳng phiu. Cứ một phân đếm đủ mọt ngàn hai trăm tờ. Mức độ giàu sang chẳng kém gì dinh cơ của lão già mà anh đang làm đây. Ông lại hơn hẳng lão già ở sự rộng rãi hào hoa. Trong nhà ông không mấy lúc vắng tiếng đờn ca, sáo thổi. Ông bận đi họp suốt ngày. Nhưng bà vợ trẻ ở nàh chăm nom khách. Bà từng là ca sĩ phòng trà. Từ ngày cải tạo công thương nghịêp bà theo ông về đây. Ông đi tập kết khi về vợ con đã bị giặc giết không còn sót một người. Lấy bà này đã mấy năm rồi ông chưa được đứa con nào.
Khải cũng biết sơ sơ người làm công nhà ông Bảy. Anh chàng đẹp trai người Cần Thơ nhưng nói giọng Sài Gòn. Anh ta nói trước ngày anh học trường Luật. Thế thờ thay đổi, anh chấp nhận làm công cho nhà ông Bảy. Bản tính ông Bảy trọng thụ trí thức. Ông luôn tỏ ra có lòng trắc ẩn, thông cảm với những hoàn cảnh éo le. Một con người như thế thật hiếm có trong thời củi quế, gạo châu này. Vậy mà bà vợ nhẫn tâm vơ hết vàng vòng, cậy cả két sắt ôm sạch của bỏ đi. Cái anh chàng cao ráo, tóc xoăn nói giọng Sài Gòn kia đưa bà vượt biên. Không biết họ có tới được bờ ảo vọng không? Hay lại đắm chìm giữa đại dương sóng gió?
Nghe câu chuyện của người mà Khải thấy như chính mình bị xúc phạm. Cảm thương ông cán bộ già có tấm lòng đẹp gặp phải con người tráo trở vô nhân.
Anh cho là đó là chuyện hiếm, chỉ xảy ra ở đất này. Mảnh đất nhiều năm chịu tác động của văn hoá Mỹ. Của lối sống hiện sinh, thác loạn. Khải không ngờ rằng chuỵên đó lại đang muốn lặp lại với chính mình. Từ sau cái đêm ở nhà tắm tâm tư anh nhiều lúc như rối loạn. Vừa là cảm giác ham muốn vừa nỗi hối hận day dứt, dày vò. Khải đã cố gạt nó ra khỏi tâm trí mình nhưng nó hễ có dịp lại len lỏi trở lại. Nó khiến anh bứt dứt không yên. Khải muốn đi khỏi đây để tránh xảy ra sự rắc rối, nhưng lại không đi được. Không phải anh ham muốn tình cảm lạ lùng người đàn bà kia đem lại. Đơn giản là công việc còn rất lâu mới xong. Khi đó anh mới nhận được tiền công thanh toán của mình và anh em trong đội. Trước ông chủ chỉ tạm ứng để đủ sinh hoạt hàng ngày. Điều đó đã được ghi rõ ràng đầy đủ trong bản hợp đồng. Không thể thay đổi. Bỏ đi lúc này nghĩa là với hai bàn tay không. Mà Khải không muốn thế. Không dễ gì kiếm được công việc vào lúc này. Cuộc sống sau hậu chiến người ta lo miếng ăn còn chưa xong. Có mấy người sẵn tiền để xây cất, dù rằng ai cũng mong mỏi?
ở lại, xem ra cũng không đơn giản. Từ hôm anh bị ngã giáo không mấy lúc bà chủ vắng mặt ở phòng anh. Những người khác ra chỗ làm cả. Khải chân đau không thể ra ngoài. Cách chăm sóc kỳ quái của bà chủ khiến anh phát hoảng. Bề ngoài bà ta là bác sĩ, chăm sóc người làm bị thương, chẳng có gì là không chính đáng. Nhưng thực ra anh là con đực thảm hại trước con cái đói khát, thèm ăn một cách khốc liệt. Bà ta lau chùi buộc lại vết thương cho anh. Cửa ngoài đã được đóng kín, xung quanh vắng vẻ. Khải giống như con gấu nhồi bông bị dựa vào tường. Anh ngồi như thế trong lúc bà chủ thở hổn hển trong những tư thế quái gở ngược đời. Bà ta gì, miết xoay sở cho đến lúc mái tóc, khuân mặt bà đẫm mồ hôi. Xong việc bà ta trở lại ngoan hiền, dịu dàng rất lạ lùng. Khải ở vào thế kẹt. Anh mới hiểu người đàn ông bị quấy rối tình dục là như thế nào. Trước đây Khải không tin. Anh nghĩ trong chuyện này người đàn ông mới là người chủ động chứ không phải là ngược lại.
Khải thấy nhức nhối ê chề, không còn ham muốn. Anh mong sao chóng khỏi bên chân đau để lại đi làm. Để trách gặp phải những trận sóng thần bất đắc dĩ bà chủ nhà hiến tặng. Nói đúng hơn bà ta đang " nhắm " anh từng ngày.
Hình như bà ta nhận ra ý nghĩ ấy của anh. Một hôm bảo:
- Cưng không vừa lòng sao? Hương chăm cho cưng lành bệnh rồi sẽ đưa cưng về miền Tây. Sống ở nơi khô khát này, cực không chịu nổi cưng tính sao?
Khải lắc đầu:
- Tôi nghĩ bà đang ở chốn địa đàng đấy. Trời đất này kiếm đâu ra một chỗ giàu sang, sung sướng như ở đây?
Bà ta cười ngặt nghẽo:
- Địa đàng ư? Thiên đang mù loà, què quặt thì có. Hương thất vọng lắm rồi!
- Thì đâu có ai ép. Bà hoàn toàn tự nguyện cơ mà?
Bà ta chớp chớp mắt rồi sụt sịt:
- Cưng không thấu hiểu được đâu. Chuyện rất dài. Nhưng tóm lại tình duyên của tôi nó là cuộc phi luân, vô nhân tính và hoàn toàn giả dối. Nếu sau này cùng nhau, tui sẽ kể cưng nghe…
Bà ta lau nước mắt, mau chóng đi ra ngoài, như thể trốn chạy điều gì đó. Sự thực chăng?
Không. Khải không thể là người làm công người nhà ông Bảy. Vướng vào cuộc đời Khánh Hà đã là nan giải lắm rồi. Anh không thể phiêu lưu tình ái thêm được nữa. Phải tìm một lối thoát nếu như còn muốn sống cuộc sống của một con người. Khải nghĩ như thế.



Phần nhận xét hiển thị trên trang

Bài cũ của bác Văn Chình:

Ngồi với Đỗ Chu một chiều Hà NộiPDF.InEmail
Văn Chinh   

Đỗ Chu nổi tiếng hầu như suốt cuộc chiến tranh chống Mỹ. Hết chiến tranh, trên định cho ông đi học biên kịch điện ảnh ở Liên xô vì muốn nền điện ảnh non trẻ của chúng ta có một nhà văn xuất sắc phục vụ. Nhưng cấp trên nữa lại bảo đã là nhà văn thì chỉ có viết văn, chứ lại cứ muốn lái nhà văn vào việc nọ việc kia, thì có khác gì bắt vũ nữ múa tay trong…bị? Thế là ông về Hội Nhà văn, không làm gì khác, ngoài ăn rồi cứ ngồi viết văn.
Và thế rồi đã 35 năm qua người ta quen có một Đỗ Chu ở Hội, quen đến mức thật khó hình dung ở cơ quan Hội lại không có Đỗ Chu ra ra vào vào, không nắm một chức vụ cụ thể, nhưng thật quan trọng. Quan trọng đến mức, có người đã nói, không có Đỗ Chu thì cơ quan Hội Nhà văn sẽ giông giống một Bộ, một Tổng cục nào đó. Vì vậy, trước khi ông về hưu, tôi đã ngồi với ông, suốt một buổi chiều Hà Nội…
Văn Chinh: Thưa ông, nghe ông trò chuyện thì đã nghe nhiều, nhưng nghe một Đỗ Chu với ít nhiều xao xuyến khi nhận thông báo chuẩn bị nghỉ hưu thì chưa. Hôm nay, tôi đến gặp ông tại nhà riêng để làm một buổi toạ đàm nho nhỏ, nghĩa là cùng ông trò chuyện đôi điều chung quanh đời sống văn học hôm nay.
Đỗ Chu: Thế ông thử gợi ý cho tôi xem thế nào chứ chung quanh đời sống văn học bây giờ có bao nhiêu vấn đề phải bàn?
Văn Chinh: Vâng, tôi thấy có mấy vấn đề bức xúc, nhiều đồng nghiệp của chúng ta thường bàn với nhau; có khi đã viết lên báo, có khi chưa, nhưng trong câu chuyện hàng ngày hình như bàn với nhau cũng nhiều. Ví dụ như nhiều năm về trước, nền văn học của chúng ta đã có nhiều những Hoài Thanh, Chế Lan Viên, Xuân Diệu …từng nồng nhiệt giới thiệu Phạm Tiến Duật, Thanh Thảo, Nguyễn Duy…và sau đó không lâu thì họ đã thành những tác giả chững chạc. Ông có thấy rằng hiện văn học ta đã khan hiếm những người có thể đứng ra nhận xét, giới thiệu tác giả trẻ. Bây giờ tìm được những người như cụ Hoài Thanh, cụ Chế, cụ Diệu xem chừng muốn khó. Nom ra, có chăng cũng chỉ còn một vài người, trong đó có ông, tôi trộm nghĩ thế. Các cụ đã đi ráo cả, văn đàn bây giờ lắm lúc cá mè một lứa, chẳng ai chịu ai?Đỗ Chu:  Các cụ ta có câu “giầu con út, khó con út” là thế, đáng lo ngại thật. Mỗi chúng ta hình như đều đang nghe thấy một vẻ gì như là sự cuối mùa.
Văn học cách mạng thật sự nở rộ và trở thành một lực lượng lớn, có đủ tư cách đảm đương một phần việc hệ trọng trong sự nghiệp giải phóng dân tộc. Thế hệ chúng tôi may mắn lớn lên vào đúng mùa. Được đón nhận và nhào nặn. Chẳng cứ gì các anh Duật, Duy hay Thanh Thảo mới được khen ngợi. Trần Đăng Khoa bẩy tám tuổi đầu cũng đã được cả nước xôn xao chào đón. Dạo đó hầu như năm nào cũng có một vài cây bút đầy triển vọng được kể ra. Mọi người chờ đợi ở nhau, công kênh nhau xem như đó là một biểu hiện cho tính ưu việt của chế độ ta. Đã có nhiều bài đăng trên báo hùng hồn trích cả lời Các Mác: “CNXH không sinh được tài năng, nhưng nó có thể nuôi dưỡng đào tạo những tài năng!” Bây giờ ngồi đây nhớ lại những khuôn mặt trẻ ở thời điểm lịch sử đó, thì muốn hay không, tưởng mỗi người đều phải thấy nên hàm ơn nhiều đời sống. Cứ như tôi, tài năng có là bao, đóng góp cũng có là bao, chẳng qua cũng là theo anh theo em mà đi mà viết. Giữa một cuộc chiến tranh khổng lồ, bề bộn, ngổn ngang, rất nhiều hy sinh, rất nhiều đói rét, ấy vậy mà mình lại được phân công làm một công việc cầm bút muốn sao cũng vẫn được xem là nhàn nhã. Tất nhiên việc gì chả có những gian nan riêng của nó, có điều cái góc cô đơn kia cần phải được ôm kín trong lòng, nuốt nó vào lòng.  Những lời khen của các bậc đi trước là nguồn động viên rất quý, nhưng bản thân chuyện đó trước sau vẫn chỉ là động viên mà thôi. Các nhà văn, người cầm bút trở thành vững chãi đều phải qua một giai đoạn dài từng trải, vừa học hỏi vừa sáng tạo một cách công phu, ai tính chuyện đi tắt, mưu mẹo vặt, toan bỏ qua chuyện đó thì trước sau gì đều cũng sẽ lụi. Cụ Đỗ Phủ đời Đường từng nói: “Vinh hoa địch huân nghiệp/ Tuế mộ hữu nghiêm sương” có nghĩa rằng, anh hưởng cái vinh hoa quá đáng so với những công lao đóng góp thì rồi ra về già ắt sẽ phải chịu nhiều sương giá. Cho nên anh em trẻ bây giờ cũng chả nên chờ đợi lắm, hát được thì cứ hát lên, hoa đến kỳ nở thì cứ tỏa hương, nó có chờ ai khen nó?
Văn Chinh: Dư luận nhìn nhận Đỗ Chu là một nhà văn đổi mới có thành tựu. Không ồn ào, nhưng mà có thành tựu: Những Mảnh vườn xưa hoang vắng (1989) Một loài chim trên sóng (2002) Tản mạn trước đèn (2004) rồi Thăm thẳm bóng người (2008,) nghe nói lại sắp làm xong một tập nữa. Cặm cụi âm thầm trong công việc viết của mình, hẳn ông phải có nhiều nghĩ ngợi. Xin ông cho ý kiến về văn học đổi mới,  tính ra chúng ta đã bước vào giai đoạn này hai mươi năm có lẻ rồi.
Đỗ Chu:  Vâng. Quả là có nghĩ ngợi, thường xuyên nghĩ ngợi và hầu như tất cả chúng ta ở mọi khu vực xã hội cũng đều nghĩ ngợi. Nghĩ nhiều, nói  nhiều, chỉ làm là còn ít. Ngay bản thân tôi cũng vậy. Suy cho cùng, đổi mới là một quá trình tìm kiếm chính bản thân mình, trở về với chính mình. đấy là một đòi hỏi có ý nghĩa quyết định. Một cuộc lên đường tìm kiếm đòi hỏi nhiều dũng khí, nhiều trung thực và sẽ không bao giờ dễ dàng. Nó là công việc của tài năng và trí tuệ, ở đây mọi nông nổi khéo mồm chỉ làm nhiễu thêm tình hình mà thôi. Nguyễn Minh Châu là nhà văn đi tiên phong mở đường trong những năm đầu đổi mới. Những truyện ngắn của anh ấy kịp để lại trước lúc qua đời đã thật đáng để được xem là niềm kiêu hãnh của văn học nước nhà. Đó là một nhà văn ôm cây kèn lớn, một sớm kia bước ra đường. Nhà thơ Trần Anh Thái trong tập “Trên đường” in mấy năm về trước tôi đọc thấy thích mấy câu:
 Không có ai đốt lửa trước con đường
Chỉ có niềm hy vọng cháy lên.
Sức mạnh bàn chân ở nơi thẳm sâu trắc ẩn
Ngân nga nơi dấu chân tổ tiên
Nơi những câu chuyện buồn không dứt.
Đi! Đứng lại là đắm chìm là hoang mang cay đắng
Là tiếng vọng hoang mang lạnh buốt cõi người.
Không có bờ sóng vỗ vào đâu?
Giữa bóng tối lê thê
Mặt nước buồn tênh, ao hồ không gợn sóng
Có tiếng vọng lặn sâu vào đáy thời gian.
Gió rầm rì, mặt nước lao xao, chợt ngời lên
Đất đang xanh ở nơi lửa mới lụi tàn”.
Đây có thể xem là tuyên ngôn về thơ của thế hệ trẻ thời đổi mới.
Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh, Vàng Anh, Nguyễn Quang Lập và rất nhiều người nữa đều đã có những đóng góp đáng kể, tôi hy vọng sự chững lại của họ mấy năm gần đây chỉ là một sự chuẩn bị kỹ lưỡng hơn để có những bước vạm vỡ trong thời gian tới. Một đời cầm bút của ai cũng vậy, rất nên có những khoảng lặng minh triết. Khoảng mươi năm lại đây, trong đời sống văn học ta đã có một sự xuất hiện không dễ thấy, đấy là trưởng hợp chị Nguyễn Ngọc Tư  Mũi Cà Mau. Xưa nay hình như vẫn thế, các giá trị lớn đều biết tìm cho mình một cách xuất hiện thật giản dị, hoàn mỹ và thuyết phục. Rất nhiều các cây bút trẻ giờ đây vẫn đang tiếp tục tìm tòi để có thêm nhiều tác phẩm mới, tất nhiên cũng nên thành thật với nhau, vẫn biết trẻ là hiện thân của cái mới, ấy vậy mà nhiều khi tưởng mới hoá ra mới đấy mà vẫn cũ đấy. Trên vai họ những năm tháng này đang gánh trọng trách cho tương lai của văn học đất nước. Đây là một đòi hỏi lớn. Thách thức lớn.
Có thể còn vụng dại, nhưng trong các trang sách của mình nếu tầm nhìn hạn hẹp, cái tâm lại không sáng, thiếu cân bằng, thì biên độ dao động của con lắc sáng tạo rất khó đạt đến rộng lớn. Sự ra đời của các tác phẩm non yểu cho dù ồn ào đến bao nhiêu cũng sẽ sớm bị quên lãng. Bởi một nhẽ dễ hiểu, vì nó nhạt. Nhạt là căn bệnh khó chữa nhất.
Nhân bàn về đổi mới, nhiều năm nay tôi cứ trăn trở chung quanh một câu hỏi về một sự thật đã diễn ra trong lịch sử nước nhà ở nửa cuối thế kỷ XX. Không biết nên phải hiểu từ lúc nào mà chúng ta đã bước từ chủ nghĩa dân tộc vào CNXH, rồi từ lúc nào từ Dân chủ Cộng hoà thành XHCN? Vì đâu mà có rất nhiều khái niệm hết sức hệ trọng bỗng nhiên bị đánh tráo. Bên dưới lòng yêu nước liệu còn có những gì đang nhân danh nó và đang được nó ngụy trang?
Nhìn lại, không biết tại làm sao khi chúng ta học những cái tồi tệ của thiên hạ thì dễ thế, mà đến khi cần học những cái tốt đẹp thì khó quá. Rồi lại không biết bởi đâu mà khi người ta không ra gì, khi người ta mù mịt đảo điên thì người ta sẵn sàng kết anh em với mình, còn tới khi người ta tỉnh táo ra một chút là y như rằng người ta có ý khinh rẻ mình thì phải.
Văn Chinh: Mấy tháng gần đây chúng ta đã bước vào chuẩn bị cho Hội nghị dịch thuật quảng bá văn học Việt Nam ra quốc tế, trong đó có việc làm các tuyển tập truyện ngắn và thơ. Xin ông cho một ý kiến chung về việc này?
Đỗ Chu: Những công việc ấy là của ông Hữu Thỉnh, của anh em đang công tác quanh Hội, Nhà xuất bản Hội Nhà văn; các Hội đồng văn xuôi và thơ, và sau cùng là các vị BCH. Riêng tôi, một nhà văn chỉ vài ngày nữa là nhận sổ hưu, xin được nói vài lời thảng thốt thế này.
Nước nhà thống nhất đã trên ba chục năm, tổ quốc đã hoàn toàn độc lập vậy mà đến tận hôm nay ta mới có cơ hội tiến tới các tuyển tập truyện ngắn và thơ Việt Nam thế kỷ XX. Dẫu sao đây cũng là một sáng kiến đáng vui mừng. Vui mừng vì nó là một việc trước sau gì rồi cũng phải làm.
Có thể hình dung văn học Việt Nam nói chung, ở thế kỷ này bao gồm ba dòng chính. Một là văn học trước 1945, hai là văn học cách mạng, ba là văn học vùng tạm bị chiếm kể cả chống Pháp và chống Mỹ. Có nhiều cách làm tuyển văn học VN của thế kỷ, nói nhiều vì nó có nhiều cách nhìn nhận khác nhau, ở đây cần nói luôn cho rõ ràng: Chúng ta làm các tuyển tập này theo cách nhìn của Hội Nhà văn Việt Nam ở những năm đầu của thế kỷ XXI; lấy dòng văn học cách mạng làm nòng cốt, trong khi vẫn thấy cần phải dành cho hai dòng kia một vị trí không thể thiếu, bởi vì nếu thiếu những đại diện xứng đáng của nó thì muốn sao cũng chưa thể xem đấy là một tuyển tập truyện ngắn, một tuyển tập thơ Việt Nam một thế kỷ. Hoàn toàn có thể xoá sổ một triều đại, một chính thể, nhưng không ai dám và cũng không thể xoá sổ cả một dòng văn học. Điều đó đồng nghĩa với sự thô thiển đáng lo ngại, vì như thế là rất thấp một cái nhìn văn hoá. Bởi lẽ trên những cánh đồng văn học dẫu thế nào chắc chắn vẫn phải có những mảnh tinh thần thuần Việt, những mảnh hồn văn học Việt Nam cao quý không được phép bỏ quên.
Thế kỷ XX là một thế kỷ nước nhà phải trải qua những dặm đường nhiều gian nan. lịch sử dân tộc đã diễn biến dưới nhiều hình thái vừa hào hùng vừa đau đớn, đó là một thời bi tráng, hoàn cảnh ấy đã chi phối trực tiếp và khốc liệt đến sự hình thành và tồn tại của các dòng văn học, khiến từng dòng đều có mang tính khu biệt tất yếu. Giờ đây chúng ta chỉ có thể nhìn lại và đánh giá đúng những giá trị trong mỗi dòng văn học đó với một cách nhìn biện chứng với lịch sử, với trí tuệ sáng suốt và tình yêu dân tộc chân thật sâu sắc.
Để tiến tới các tuyển tập toàn bích nhất thì công việc hôm nay hãy chỉ nên nhìn là những bước đi đầu tiên, như thể đây chỉ mới là một cách thử hình dung về các tuyển tập mà thôi.
Hình như để có một tuyển tập truyện ngắn và thơ thật chững chạc như chúng ta hằng mong mỏi thì vẫn phải chờ có thêm thời gian, xem thế đủ thấy đây quả là một công việc hệ trọng, một mơ ước không thể vội vàng và chẳng dễ dàng chút nào. Nhưng cũng chính vì thế mà mỗi nhà văn Việt Nam giờ đây đều cảm thấy ấm lòng khi được biết trong không khí hội nhập và phát triển chung, đã đến lúc chúng ta bắt tay vào khởi đầu cho một công việc nhiều ý nghĩa, đó là các tuyển tập thơ và truyện ngắn thế kỷ XX. Việc này nếu làm chu đáo thì có thể được xem là một cuộc gọi hồn cho văn học nước nhà.
Tôi cảm ơn Đỗ Chu rồi sửa soạn đồ nghề. Trông ra, chiều Hà Nội đã chạng vạng. Đây là thời điểm cư dân bắt đầu lo về nhà, lo bữa ăn cho cả nhà – cái thời khắc của sống thật và tình cảm.
Trên đường về, tôi cứ tự hỏi, có nên chép nguyên vẹn những điều Đỗ Chu nói, vì nó dễ động chạm? Rồi tự nghĩ, như ai đó đang mà cả ở chợ cóc kia nói, đã mấy giờ rồi mà giá cả còn trên trời như thế nữa? Vâng, khi sắp chết người hiền hay nói những câu đúc kết và nghiêm chỉnh. Khi sắp nghỉ hưu, người ta cũng rất hay nói thật và nghiêm chỉnh. Vậy thì hẵng cứ chép nguyên vẹn, nghe được đến đâu thì nghe, bằng không thì hãy xếp nó ở đâu đó, ngẫm nghĩ về lâu về dài. Văn chương cũng không thể là chuyện vội vàng, không thể xong ngay một lúc…


Phần nhận xét hiển thị trên trang

“ Quốc gia ngu ngốc và lạc hậu”


David Wertime   

Lời lẽ châm biếm tự nhắm vào mình khi Trung Quốc phê phán Hoa Kỳ; nhưng có lẽ không chỉ có tự châm biếm?
“ Hoa kỳ thực ra chỉ là một  làng quê khổng lồ và kém phát triển” – một  tiểu luận luận ẩn danh trên trang web hóa ra  lại  khơi mào cho sự châm biếm nhằm chính Trung Quốc
. Cờ của Trung Quốc và Mỹ trong cuộc gặp ngoại giao tại Bắc Kinh ( Reuter)
Trước chuyến thăm ngoại giao của Ngoại trưởng Hoa Kỳ Hilary Clinton tới “Vương Quốc ở trung tâm thế giới” một luận điệu phê phán đầy mỉa mai đã lan tỏa như virut trên Sina Weibo, một mạng xã hội của Trung Quốc, với hơn 44 ngàn lượt chia sẻ và 5400 lời bình trên Twitter . Luận điệu này không rõ nguồn gốc và tác giả đã phê phán một cách bỡn cợt nước Mỹ như một quốc gia ngu ngốc, thô sơ và ấu trĩ. Tưởng rằng có thể làm các độc giả Mỹ bị xúc phạm, nhưng chẳng bao lâu sau khi được ra mắt, bài viết đó thực sự đã trở thành một sự phê phán sắc sảo và có tác dụng ngược lại đối với Trung Quốc.
Tờ Tea Leaf Nation đã dịch những phần lý thú và rôm rả nhất ( chúng thường có mặt trong đa số các bài luận ) và xin mời các độc giả thưởng thức.
Đừng đi Mỹ, một quốc gia ngu ngốc và lạc hậu
Tôi từng ở Mỹ một thời gian dài và giờ đây thì thấy hối hận vì sự lựa chọn này. Chúng ta đã bị mụ mẫm  bởi truyền thông Phương Tây luôn luôn làm cho ta nghĩ rằng Hoa Kỳ là một đất nước hiện đại. Nuôi hy vọng học tập khoa học tân kỳ của Mỹ để về phục vụ quê hương , tôi đã bằng mọi nỗ lực để theo đuổi “ siêu cường” đó, thế nhưng kết quả lại thật đáng thất vọng !
  1. Hoa Kỳ thực ra chỉ là một cái làng nông nghiệp khổng lồ kém phát triển. Ở trường trung học các thầy giáo vẫn dạy rằng công nghiệp càng phát triển thì môi trường lại càng bị xâm hại. Ví dụ như trong một thành phố công nghiệp bạn phải thấy ống khói khắp nơi, các xí nghiệp to khắp nơi và bụi cũng khắp nơi. Đó mới là biểu tượng của công nghiệp hóa ! Thế còn Hoa Kỳ thì sao ? Đố bạn tìm ra các ống khói, thảng hoặc mới thấy một vài cái nho nhỏ nhưng lại là thứ để trang điểm cho nhà dân. Thay vào đó là những dòng sông và hồ nước sạch khắp nơi nơi và chẳng có các nhà máy giấy và luyện thép nơi bờ sông. Không khí trong lành và sạch là biểu tượng của một xã hội thô sơ và đó không thể là dấu tích của công nghiệp hóa !
  2. Người Mỹ chẳng hiểu gì về kinh tế. Các tuyến đường cao tốc tỏa đi mọi phương, có lẽ là đến mọi làng xóm, tuy nhiên khó tìm ra nổi một trạm thu phí ! Thật là một sự phung phí khủng khiếp cơ hội kinh doanh ! Khó có thể cưỡng nổi ý định của bản thân là xúc một ít  xi măng để xây vài trạm thu phí và chắc chắn là chỉ trong vòng một tháng tôi sẽ có đủ tiền để mua một căn nhà trông ra Đại Tây Dương.  Ngoài ra, bên lề đường cao tốc bạn có thể thấy những mặt hồ tĩnh lặng còn hoang dã . Chính quyền để mặc cho lũ chim cư ngụ và vẫy vùng thỏa sức mà không nghĩ tới việc thiết lập  vườn cảnh quan trông ra hồ để kiếm bộn tiền. Rõ là người Mỹ không có cái đầu làm kinh tế.
  3. Ngành xây dựng Hoa Kỳ quả là quá thô sơ. Ngoài một số lượng nhỏ các thành phố lớn   ( mà bạn đã biết) thì không có những tòa tháp bê tông và gạch chọc trời…Tôi sợ rằng hình như Mỹ không có các tòa nhà bằng gạch. Hầu hết nhà cửa làm bằng gỗ và vài thứ vật liệu lạ khác. Sử dụng gỗ thô sơ để xây nhà thì dường như những kiến trúc ngoại bang này còn chưa qua thời phong kiến trước khi có nhà Thanh !
  4. Lối tư duy của người Mỹ ngây ngô và lạc hậu. Khi mới tới Mỹ tôi thuê một cái xe kéo chở hành lý giá 3 đôla , nhưng lại không có tiền lẻ. Một người Mỹ thấy tôi có nhiều đồ nên đã trả 3 đồng đó và thuê xe cho tôi. Người Mỹ thường cởi mở và hỏi xem tôi có cần giúp đỡ gì không. Ở nước tôi, đã qua thời của Lôi Phong vào những năm 50 và 60 thế kỷ trước cho nên bây giờ thì cái lối cư xử đó quả là quá lạc hậu ! ( Lôi Phong là thanh niên thời phong trào thi đua cộng sản Mao , người từng được nêu gương sáng về đạo đức hy sinh bản thân ). Trở lại thời kỳ đó, con người ta rất đạo đức giả , nhưng bây giờ thì chúng ta không theo lối mòn đó nữa. Chúng ta tiến hành mọi việc giờ đây một cách trần trụi và đó mới là hiện đại hóa ! Bởi vậy lối tư duy của Mỹ lạc hậu hơn chúng ta vài thập kỷ và không có dấu hiệu nào cho thấy rằng họ có khả năng đuổi kịp chúng ta.
  5. Người Mỹ không biết ăn thịt thú rừng. Có một đêm tôi lái xe đi cùng một bạn học đến thành phố khác và bất thình lình mấy con nai Sika ( một giống nai đốm có nguồn gốc từ Nhật Bản – ND ) nhảy xổ ra. Anh bạn cùng lớp lập tức phanh gấp và đổi hướng để tránh tai nạn. Hình như là trường hợp kiểu này thường xảy ra khi mà sự va chạm với một con nai cũng đủ để làm vỡ tan chiếc ô tô. Chính phủ Mỹ không biết quản lý chuyện này như thế nào…Và người Mỹ quả thực không biết ăn thịt thú rừng, họ cũng không có cả quán ăn chuyên thịt thú rừng, rất ít  khẩu vị đối với thú rừng thơm ngon bị giết thịt như hươu , nai và kém hứng thú bán sừng hươu nai để kiếm những khoản tiền lớn! Người Mỹ sống cùng động vật hoang dã hàng ngày và còn đưa ra những biện pháp để bảo vệ chúng. Đó quả thật là một xã hội sơ khai.
  6. Người Mỹ không biết tự trọng. Các giáo sư ở trường đại học Mỹ không có bộ dạng hoành tráng (架子) ; họ không hề có cái phong thái của những giáo sư đạo mạo. Nghe nói rằng vị giáo sư D ___là một giáo sư về tâm lý học nổi tiếng, thế nhưng trong giờ giải lao thì ông ta lại ăn bánh quy trong phòng làm việc với các sinh viên của mình, bàn luận về bộ phim “ 21 “ và nữ nghệ sĩ Trung Quốc Trương Tử Di (Ziyi Zhang). Ông ta không hề có cái vẻ đường bệ của một nhà khoa học , cho nên tôi thực sự cảm thấy thất vọng. Ngoài ra, các nghiên cứu sinh sau tiến sĩ chẳng bao giờ đưa học vị “ Ph.D” lên danh thiếp của họ và họ không biết cách thể hiện ra ngoài vị thế của mình. Những người được đào tạo bởi các giáo sư kiểu như vậy sẽ chẳng thể nào biết cách đi đứng, nói năng nếu như họ trở thành những quan chức chính phủ…Có vẻ như các công chức Trung Quốc còn biết cách thu hút sự kính trọng của người dân; ngay cả một vị  thủ trưởng một văn phòng không mấy quan trọng ở nước tôi còn tỏ ra đường bệ hơn cả Tổng thống Hoa Kỳ. Không có gì phải ngạc nhiên khi người ta nói công dân hạng nhất ở Trung Quốc chỉ xứng với công dân hạng ba ở Mỹ.
  7. Học sinh tiểu học Hoa Kỳ không có những hoài bão cao cả.Ngay từ thuở ban đầu các học sinh tiểu học không hề có ý định để trở thành quan chức…Chẳng hề có lớp học của các Tổng thống , các Bí thư tương lai hoặc các Ủy viên hội đồng mà tôi từng tham dự khi còn nhỏ. Sau giờ học thường là không có bài tập về nhà và bạn không có cách nào ngay cả việc nhắc tới chuyện đó khi liên hệ tới bài tập về nhà của học sinh tiểu học Trung Quốc. Trường học (Mỹ - ND) quan tâm quá nhiều đến dạy dỗ đạo đức cho trẻ em , làm cho những đứa nhỏ hướng tới để trước tiên là trở thành những công dân đủ tư cách thực thụ, sau đó mới là tiếp thu những lý tưởng có ý nghĩa dài lâu. Trở thành người công dân đủ tư cách ư ? Quả là một quan niệm cổ lỗ sĩ.
  8. Người Mỹ hay làm ầm ĩ mỗi khi phát hiện ra một bệnh tật nho nhỏ. Đầu tiên là họ hẹn gặp bác sĩ, sau đó bác sĩ kê đơn. Một số người lại còn phải theo lời khuyên của một dược sĩ có bằng cấp nữa . Khi mua thuốc họ lại phải tự mình tới hiệu thuốc để lấy chúng mà mọi việc diễn ra không chóng vánh như ở Trung Quốc…Tôi không hiểu tại sao lại phải tách bạch riêng việc khám bệnh với việc mua thuốc …thay vì tách riêng lợi nhuận khỏi trách nhiệm. Rõ ràng là các bệnh viện Hoa Kỳ không có khái niệm về phương pháp kiếm tiền ! Sao không nói cho bệnh nhân tên thuốc luôn đi ? …Như thế họ sẽ độc quyền việc bán thuốc và tăng giá thuốc lên 8 hay 10 lần. Có biết bao nhiêu cơ hội kinh doanh tốt mà họ không biết tận dụng. Rõ ràng là kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa là thứ đã chết rồi.
  9. Ý kiến công chúng Mỹ là thứ dở hơi. Nhiều lúc tôi đã mất kiên nhẫn vì sự ngu dốt và xuẩn ngốc của họ. Chẳng hạn như khi họ biết là Trung Quốc có các đài truyền hình và báo chí thì họ đã hỏi tôi một cách ngu dốt rằng: “Trung Quốc cũng có báo chí cơ à?!“ Đó quả thực là một sự sỉ nhục; chúng ta không chỉ có các tờ b áo bằng tiếng Trung được Bộ Tuyên truyền cho phát hành một cách tỷ mỉ, kỹ lưỡng; khi nhìn vào các tờ báo của chúng ta cũng chẳng khác gì nghe quốc ca, không hề giống với các tờ báo của Hoa Kỳ chứa một mớ lộn xộn ý kiến quần chúng, thậm chí dám lăng mạ đích danh Tổng thống..( ở Trung Quốc) chúng tôi không bao giờ đăng tin các vụ sì –căng- đan liên quan tới các lãnh đạo; bởi vì sau đó ai sẽ còn muốn làm lãnh đạo nữa ?...
  10. Người Mỹ về phương diện tinh thần là trống rỗng.Điều mà tôi không thể chịu nổi đó là : đa số người Mỹ nói câu cảm tạ trước mỗi bữa ăn và họ nguyện cầu một cách ngây thơ “ Chúa phù hộ cho nước Mỹ”. Thật là buồn cười; nếu như Chúa phù hộ cho nước Mỹ thì tại sao nước Mỹ lại bị lạc hậu , thô sơ và đơn giản đến như vậy? Cầu Chúa Trời phỏng có ích lợi gì không? Thực tế hơn là nên dành thời gian cầu nguyện đó mà đi lễ thủ trưởng của bạn! Đó mới là cái cách thời thượng…
  11. Người Mỹ không có khái niệm thời gian. Với bất kể thứ gì, họ đều đứng vào hàng để chờ đợi…Người Trung Quốc chúng ta thông minh hơn, các bạn hẳn đã thấy đấy. Không quan trọng đám đông như thế nào,chúng ta vẫn có  kỹ năng chen vào đâu đấy , và điều đó giúp cắt giảm khối thời gian mà lại tránh mệt mỏi do phải đứng chồn chân !. Nếu ai đó biết cách đi cổng sau thì còn tiết kiệm nhiều thời gian hơn nữa. Những người Mỹ cổ hủ hoàn toàn không biết làm điều này.
  12. Cửa hàng ở Mỹ thật vô nghĩa : bạn vẫn có thể trả lại hàng sau khi mua vài tuần mà không có lý do gì . Sao lại có thể trả lại hàng hóa cơ chứ khi mà không cần thuyết phục tôi dù chỉ trong chốc lát ?...
  13. Nước Mỹ không an toàn, 95% nhà dân quên lắp đặt lưới, cửa ra vào , cửa sổ chống trộm; điều kỳ lạ nữa là tất cả lũ trộm cắp móc túi đi đâu mất tiêu rồi ?
  14. Người Mỹ vốn nhút nhát và yếu đuối. 95% lái xe đều không dám vượt đèn đỏ…mặc dù 99% người lớn ở Hoa Kỳ đều sở hữu xe ô tô và phương pháp lái xe của họ thì rất lạ: có bao nhiêu là xe trên đường thế nhưng bạn không thể nghe thấy một tiếng còi xe, phố xá thật im lìm tĩnh lặng như thể không phải là phố nữa. Không thấy sự năng động ồn ào của một thành phố thủ phủ cấp tỉnh ở Trung Quốc.
  15. Người Mỹ thiếu xúc cảm. 95% nhân viên không nghĩ về việc phải làm gì cho tiệc cưới của cấp trên cho nên họ chẳng bao giờ tìm cớ để quan tâm , chăm sóc lãnh đạo của mình; ở Trung Quốc liệu có chuyện quần chúng bỏ qua cơ hội chăm sóc thủ trưởng của mình không ? Nói theo cách khác, ai ở Trung Quốc lại dám làm điều này ? Hãy nhìn xem chúng tôi có bao nhiêu là tình cảm.
  16. Người Mỹ không nhạy cảm.99% dân Mỹ đi học rồi kiếm việc làm, thăng tiến và hoạt động mà không biết về sự cần thiết phải đưa “ hồng bao” ( phong bì chứa đầy tiền mặt) để đi lối sau…
  17. Hãy nhìn vào bức hình ở trên, điều này là đủ lý do để chúng ta coi thường nước Mỹ ! Trong khi đang săn đuổi Bin Laden thì Obama và các thuộc cấp của ông ta đang chăm chú vào màn hình truyền hình ảnh trực tiếp do vệ tinh đưa về trong phòng Tình huống của Nhà Trắng. Cảm tưởng của tôi là :
  •  
    1. Các thuộc cấp Hoa Kỳ không tôn trọng lãnh đạo của họ một cách đúng mức và thậm chi còn dồn ép vị Tổng thống đáng trân trọng của họ phải nép mình ngồi trong góc nhà. Obama đáng thương, thật không bằng cả anh trưởng thôn của Thiên triều Trung Hoa ( 天朝).
  •  
    1. Căn phòng Tình huống của Nhà trắng đúng là một thứ huênh hoang khoác lác. Nó vừa bé lại không được trang trí nội thất khác thường, đúng là không tương xứng với phong cách của một cường quốc. Một căn phòng cơ quan cấp thị trấn của Thiên triều ( Trung Quốc- ND) có lẽ còn to hơn , sang trọng hơn rất nhiều.
    2. Không có các đĩa hoa quả hoặc nước giải khát, không có…thuốc lá đắt tiền…và đó mà lại là nền kinh tế số 1 thế giới ư, ha , ha !

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Quê Choa: Lê Quốc Quân - chuyện bây giờ mới kể.

Quê Choa: Lê Quốc Quân - chuyện bây giờ mới kể.: Người Buôn Gió Theo blog Yêu quê hương Việt Nam    Hôm nay phiên phúc thẩm xử đã xong được vài ngày. Y án. Tôi để vài hôm suy nghĩ... Phần nhận xét hiển thị trên trang

Lá gan quả báo


M D
Bà Sính ở làng Tò có họ xa với gia đình tôi.
Làng Tò cách làng Hệ một con sông nhỏ, có cái cầu ván bắc qua, hai bờ tre rủ bóng xuống dòng nước xanh ngắt.
Tiếp giáp giữa làng Tò và làng Hệ là một nghĩa trang chung của hai làng. Người ta nói mộ cụ tổ làng Tò phát về quan lộc nên làng ấy thời nào cũng nhiều người làm quan, còn lảng Hệ chỉ quen chân lấm tay bùn. Bởi thế có câu: “Quan làng Tò, bò làng Hệ”, nghĩa là người làm quan bên làng Tò nhiều như bò làng Hệ.
Cụ Sính người làng Hệ lấy chồng làng Tò. Nghe nói trước cụ đẹp gái lắm nên mới lấy được chồng làng Tò, bình thường thì đừng hòng được trai làng Tò để mắt tới. Có lẽ vì vậy nên cụ Sính rất tự hào làm dâu bên ấy.
Nhưng số cụ Sính vất vả. Lấy chồng năm mười tám, chồng đi bộ đội biền biệt, mãi đến năm hai nhăm mới sinh được con trai đầu lòng. Con mới một tuổi thì chồng hy sinh ở mặt trận Điên Biên, cụ một mình nuôi con khôn lớn. Năm 1972, anh Sửu, con cụ, mới 19 tuổi đã xung phong đi bộ đội. Đúng là đất làm quan, năm 1978, mới 25 tuổi, anh Sửu đã làm đại đội phó. Cũng năm ấy anh cưới vợ, rồi lên biên giới phía Bắc, không ngờ đầu năm sau anh hy sinh, để lại đứa con trai vừa lọt lòng cho bà nội nuôi, chị Sửu mất vì bệnh hậu sản…
Do vất vả như thế, nên người cụ Sính quắt lại, hai bả vai mỏng mảnh nhô lên, làm cái cổ thụp xuống như con rùa già. Năm nào về quê sang thăm cụ, tôi cũng nghe cụ thở vắn than dài, hờn trời trách đất, đến não ruột. Nhất là khi nhắc đến thằng cháu nội, cụ bảo van vái thế nào nó cũng chưa chịu lấy vợ, vì còn ham phấn đấu lên cấp lên chức. Cụ sợ mắc tội với tổ tiên bên chồng vì không có người nối dõi. Tôi muốn gặp thắng Kỳ nhưng chưa được, nghe nói nó lả thượng úy công an.
Năm ngoái tôi về đúng ngày giỗ cụ ông, dân làng tới dự rất đông, có cả mấy vị người làng làm quan trên huyện, trên tỉnh đi xe hơi về sang trọng lắm. Một người người đàn ông khoảng gần sáu chục tuổi, tầm thước, mặt mũi khôi ngô nhưng nước da và cặp mắt vàng ệch như người bệnh gan mãn tính chủ trì đám giỗ. Các quan chức săn đón và tỏ ra rất kính trọng ông ta. Cụ Sính chỉ người đàn ông đó nói nhỏ với tôi :
- Nhà Qúy đấy!
Nhìn cụ Sính như trẻ ra mấy tuổi. Cụ mặc áo dài, đội khăn nhiễu, đeo sợi dây cườm nhóng nhánh, miệng cười móm mém tươi đỏ quyết trầu. Hôm ấy sau khi cúng giỗ tiệc tùng xong, mọi người về hết. Thằng Kỳ cũng lên xe về Hà Nội với người đàn ông chủ trì đám giỗ. Cụ Sính khoe với tôi:
- Đám giỗ hôm nay nhà Quý bỏ tiền ra làm đấy!
- Qúy con ai bà nhỉ?
- Con cụ Quyền chứ ai? Làm to lắm, trên Hà Nội kia!
Cụ Sính cho miếng trầu vào cái cối đồng như cái chén uống rượu, nghiền nát, rồi kều vào miệng nhai bỏm bẻm. Hơn tám chục tuổi, ngưởi bé choắt, khuôn mặt tóp teo như trái táo khô, nhưng được cái mắt cụ vẫn tinh, đi lại nhanh nhẹn và chưa bị lẫn. Cụ cứ nhắc đi nhắc lại “nhà Qúy, nhà Qúy” vừa thân thiết vừa tự hào làm tôi phát ghen. Tôi hỏi anh Qúy là ai mà tử tế thế, cụ Sính cười bảo:
- Người ta có đức nên mới thế! Vào đến trung ương rồi vẫn nhớ lúc hàn vi.
Cụ Sính nhổ bã trầu, rồi chậm rãi kể cho tôi nghe chuyện anh Qúy. Thì ra anh cùng tuổi anh Sửu, cùng học một trường, cùng đi bộ đội một ngày, và hai người đều sống sót trong cuộc chiến tranh chống Mỹ. Sau ngày miền Nam giải phóng, Qúy chuyền sang công an, bây giờ đã lên cấp tướng, Sửu vẫn ở bộ đội và hy sinh năm 1979…
Cụ Sính tự hào nói với tôi:
- Nhà Qúy nhận thằng Kỳ làm con nuôi. Nhà Qúy nói cuối năm cưới vợ cho thằng Kỳ.
Tôi mừng cho cụ Sính. Thế là cụ đã có chỗ nương tựa tuổi già. Tôi cảm thấy khâm phục anh Qúy, dù quyền cao chức trọng vẫn không quên người bạn đồng môn, và người đồng chí của mình.
Một năm qua đi tôi mải làm ăn trong Sài Gòn, không để tâm đến chuyện đó nữa.
Cách đây mấy hôm tôi về quê giỗ ông nội tôi. Theo phong tục trước ngày cúng giỗ tôi ra nghĩa trang thắp nhang mộ ông bà tổ tiên, mời các cụ về từ đường dự đám giỗ.
Năm nay rét đậm quá. Mùng năm tháng Chạp mà còn rét cắt da cắt thịt. Bầu trời xám xịt màu chì. Sương dày chụp xuống nghĩa trang tối thẫm không nhìn rõ mặt người, gió rin rít qua các khe mộ chí. Trong đời người lúc kiểm nghiệm cuộc sống minh mẫn nhất là lúc đứng một mình trong nghĩa trang. Những bon chen, hờn oán, những mơ mộng viển vông, những khát vọng, và tuyệt vọng được dung hòa giữa không gian tĩnh lặng lằn ranh hai thế giới. Tôi thắp bó nhang, cắm từng cây trên tửng ngôi mộ và có cảm giác những đôi mắt nhìn mình.
Trong tiếng gió rít hình như có tiếng khóc, tiếng réo gọi tuyệt vọng? Tôi lắng tai nghe, tiếng khóc rõ hơn. Tôi len lỏi qua những hàng mộ, tìm về phía tiếng khóc.
Đi miết tới cuối nghĩa trang, cạnh bờ sông, tôi nhìn thấy một thân hình nhỏ bé đang ngồi cạnh ngôi mộ mới chôn, giữa mấy vòng hoa xác xơ, đốm nhang cháy trên mộ đỏ lập lòe. Tôi đến gần, nhận ra đó là một người đàn bà mặc đồ đen, đầu đội khăn tang. Bà vẫn không hay biết, vẫn ôm ghì nấm mộ, tiếng khóc ai oán như từ dưới lòng đất vọng lên:
- Kỳ ơi! Sao cháu bỏ bà Kỳ ơi!
Như có kim đâm vào xương sống, tôi giật bắn người, và một cảm giác bàng hoàng không thể diễn tả nổi, tôi thét lên:
- Ôi, cụ Sính!
Tôi ngồi sụp ôm gọn cụ Sính vào lòng. Người cụ lạnh băng, nhẹ tênh, như một con búp bê bằng nhựa. Ôi sao lại đến nỗi này hở trời?
Tôi bế cụ vào nhả người quen gần nghĩa trang. Cả nhà xúm vào xoa dầu gió cho cụ, đổ cho cụ vài thìa sữa nóng, cụ tĩnh lại.
Tôi không thể nhận ra cụ Sính một năm vể trước. Cụ đã tóp lại như một trái chanh vắt kiệt nước, tóc bạc trắng, hai hố mắt lõm sâu, hai bàn chân bàn tay rệu rạo những đốt xương lạnh ngắt.
Cụ nhìn tôi, mắt lờ đờ, thều thào:
- Nhà Qúy ác lắm !
Cụ chỉ nói được như vậy rồi cụ khẽ nấc lên ba nấc. Mắt cụ mở to. Tôi lấy tay vuốt mắt cho cụ. Hai con mắt khép lại và hai hàng nước mắt lăn ra hai gò má nhăn nheo của cụ. Cụ ra đi cô đơn trong ngôi nhà người quen làng Hệ nơi cụ sinh ra.
Mấy ngày sau dân làng Tò, làng Hệ đều biết câu chuyện đau lòng về cụ Sính. Thương cụ bao nhiêu mọi người căm ghét ông Qúy bấy nhiêu. Người ta gọi hắn là con quỷ.
Viên tướng công an ấy là bạn đồng môn, là đồng chí của anh Sửu. Hắn bị xơ gan cổ trướng đang chuyển sang giai đoạn ung thư, biện pháp tốt nhất là thay gan. Tay chân của Qúy tình cờ phát hiện thượng úy Kỳ có nhóm máu và các chỉ số sinh học hợp với hắn, thế là kịch bản con nuôi, đám giỗ được thực hiện nhằm mục đích lấy lá gan của Kỳ.
Có thể Kỳ sẽ không chết nếu Qúy chỉ lấy nửa lá gan mà Kỳ đã hiến tặng. Vì tham sống lâu hơn, hắn móc ngoặc với bọn bác sỹ vô lương tâm, đánh cắp gần hết lá gan của đứa “con nuôi”. Kỳ vừa bị suy kiệt vừa bị nhiễm trùng, đã chết ba tháng sau khi hiến gan cho quỷ.
Có một câu chuyên cổ tích Campuchia kể rằng, con quỷ Rat-ta-rít-nom, thường ăn thịt đồng loại. Một hôm, đệ tử cùa Rat-ta-rít-nom mang về một đứa bé, bảo đó là con trai duy nhất của Ro-tor-tha-chạt, kẻ thù của Rat-ta-rit- nom. Con quỷ nói: “ Hãy tha cho đứa bé, để ta còn có kẻ thù mà khẳng định sức mạnh cùa ta! Không nên triệt hạ hết nòi giống kẻ khác!” .
Tôi được biết sau khi ăn cắp lá gan của con người đồng hương, đồng môn, đồng đội mình, cũng là con nuôi, Qúy khỏe mạnh hẳn, mặt mày béo tốt, da dẻ hồng hào và lại được lên cấp lên chức. Càng khỏe Qúy càng lao vào các cuộc làm ăn bẩn thỉu và tàn nhẫn với dân lành hơn, nên bây giờ cái dấu sắc bỗng cong vênh, người ta gọi hắn là Quỷ. Tôi nghĩ luật nhân quả luôn hiện hữu và thế nào con quỷ đó cũng bị quả báo.
Cầu trời cho linh hồn cụ Sính bình yên. Mong cụ linh thiêng giúp chúng con diệt loài quỷ dữ.

Theo BÙI VĂN BỒNG BLOG

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Ngày Xuân nhớ Nguyễn Khải

Ngày Xuân nhớ Nguyễn Khải

Lê Phú Khải

Ngày 15-3-2008 Nguyễn Khải qua đời.

Các báo quốc doanh nhất loạt đưa tin Đại tá nhà văn quân đội Nguyễn Khải đã qua đời. Điện thoại bàn nhà tôi réo liên hồi. Người ta muốn tôi viết bài về Nguyễn Khải. Sự nghiệp văn chương của ông thì cái giải thưởng Hồ Chí Minh đã nói đầy đủ.

Người ta muốn có những “kỷ niệm”, những câu chuyện về cuộc đời, về nghiệp văn của ông để… báo bán chạy hơn. Tôi từ chối. Thấy tôi từ chối đến mấy lần, bà xã nhà tôi bảo: “Thôi thì người ta nhờ, ông viết cho người ta. Ông cũng quen Nguyễn Khải mà”.

Tôi biết viết gì cho báo chí quốc doanh về Nguyễn Khải, nhà văn mà tôi đã từng nghe tiếng thở dài não nề của ông qua năm tháng?

Nguyễn Khải bảo tôi: “Nhà văn Việt Nam bị ba đứa nó khinh, thứ nhất là thằng lãnh đạo nó khinh, thứ hai là độc giả nó khinh, thứ ba là đêm nằm vắt tay lên trán… mình lại tự khinh mình!”.

“Mình lại tự khinh mình” thì đau quá!!! Vì thế, tôi không lấy gì làm lạ, không ngạc nhiên tý nào khi đọc bài bút ký chính trị Đi tìm cái tôi đã mấtcủa ông sau ngày ông từ trần ít lâu. Một con người mang tâm trạng suốt đời như thế mà vẫn phải sống, vẫn phải viết để tồn tại thì nhất định sẽ phải để lại một cái gì trước khi ra đi, để “cáo lỗi” với hậu thế. Nguyễn Khải chính là nỗi đau đớn trên hành tinh này của một người cầm bút và nhất định ông phải đi tìm “cái tôi” đã mất ở thế giới bên kia. Theo tôi, bài bút ký chính trị đó là bản án nghiêm khắc nhất, sâu sắc nhất cho tội ác của chế độ toàn trị đối với giới cầm bút ở nước ta thời Cộng sản. Phương Tây đi trước phương Đông về thể chế văn minh, đã đặt tên cho giới nhà văn là “personnel littéraire” trong đó danh từ “personnel” (giới) không ngẫu nhiên mà trùng với tính từ “personnel” (mang tính cá nhân). Cái “pẹc” (personnel) mà Chế Lan Viên hay dùng để ca ngợi cái cá nhân, cái tôi… của nhà văn làm nên sự khác biệt, làm nên cái riêng, phong cách của một cây bút, đã bị chế độ toàn trị biến thành bầy đàn thì còn gì là văn chương chữ nghĩa. Vậy mà cả đời phải cầm bút trong một thể chế bầy đàn như thế, Nguyễn Khải đau là phải. Không đau mới lạ…

  

Nguyễn Khải khi còn ở đường Nguyễn Kiệm, tôi đến chơi, thấy nhà cao cửa rộng, phòng khách sang trọng, tôi khen rối rít. Ông tâm sự, thằng con trai đang làm ngành hàng không, lương mười mấy triệu một tháng, nó bỏ, ông lo lắm. Nó nói hết giờ chỉ ngồi tán gẫu phí sức lực của nó, nên nó ra kinh doanh và giàu có. Căn nhà to tát này là của nó.

Ở cái nhà như cái lâu đài thế mà ông chỉ nói chuyện buồn. Buồn lắm. Ông kể: “Thằng con tôi hay đi mua sách về đọc. Mẹ nó mắng: Sách của bố mày đầy ra đấy, sao không đọc mà phải đi mua. Nó nói: Sách của bố viết không đọc được! Mẹ nó mắng: Không viết thế thì lấy cứt mà ăn à (!)” Tôi nghe đến đấy thấy… choáng quá! Tôi không ngờ Nguyễn Khải có thể nói ra điều đó với tôi và ông bạn tôi là giáo viên Văn, dạy chính những bài văn của ông trong sách giáo khoa. Cái thứ văn nếu “không viết thế thì lấy cứt mà ăn…”! Chính anh bạn này đã đưa tôi đến chơi với Nguyễn Khải ở ngôi nhà sang trọng này. Dằn vặt, đau khổ đến tận cùng nên nhà văn mới thốt ra những lời như thế.

Dịp kỷ niệm 50 năm báo Văn Nghệ của Hội Nhà văn, sau khi tổ chức ở Hà Nội, còn được tổ chức ở TP HCM, tại dinh Thống Nhất. Là cộng tác viên của báo, tôi cũng được mời. Tôi gặp Nguyễn Khải và nói với ông rằng, tôi có đọc trên báo Văn Nghệ một bài mô tả một ông nhà văn nổi tiếng chuyên đi về Thái Bình, viết về Thái Bình… rồi đặt câu hỏi: Vậy mà sự kiện bạo loạn ở Thái Bình xảy ra rung chuyển dư luận trong ngoài nước, không biết trước đó ông nhà văn nổi tiếng kia đã nghe được cái gì, thấy được cái gì mà chẳng thấy ông báo trước được gì… Tôi bảo Nguyễn Khải: “Rõ ràng là người ta chỉ trích anh đấy!”. Nguyễn Khải nghe tôi nói chỉ cười rồi bỏ đi. Anh bạn biên tập viên báo Văn Nghệ trong ban tổ chức buổi lễ đứng ngay cạnh tôi, khi Nguyễn Khải đi rồi, anh bảo tôi: “Bài đó chính Nguyễn Khải viết, ông ấy đến toà soạn năn nỉ bọn tôi đăng. Ông ấy nói: Thôi thì mình chửi mình trước đi, người ta thương, sau này không chửi nữa”.

Ít lâu sau Nguyễn Khải lại dọn về ngôi nhà bảy tầng lầu ở đường Tôn Đản Quận 4. Nhà đó cũng của con trai ông mới xây. Đây là một trong những nhà tư nhân có cầu thang máy sớm nhất ở TP HCM. Ngôi nhà này là văn phòng công ty của con ông. Anh ấy để bố ở trên tầng 7, có sân thượng rộng, thoáng mát. Khi tôi đến, anh chàng bảo vệ công ty mặc đồng phục như cảnh sát, nhìn tôi từ đầu đến chân rồi hất hàm hỏi: “Kiếm ai?” Tôi nói: “Kiếm ông Nguyễn Khải, bố của ông chủ anh”. Y hỏi: “Kiếm có việc gì?” Tôi nói: “Anh báo với ông Nguyễn Khải là, tôi là Lê Phú Khải kiếm ông Nguyễn Khải để… đòi nợ!”. Tay bảo vệ vội vào phòng thường trực gọi điện.

Khi lên đến lầu 7 rồi, tôi bảo Nguyễn Khải: “Tôi đến để đòi nợ bài ông hứa viết cho tạp chí Nghề Báo đây!”. Nguyễn Khải chưa cho tôi về ngay, giữ ở lại ăn trưa và bảo tôi nằm xuống sàn… nói chuyện như mọi lần. Đó là cách tiếp khách quen thuộc của ông. Hai người (nếu là ba người cũng thế) nằm xuống sàn, đấu đầu vào nhau thành một hàng thẳng… mà nói chuyện. Theo Nguyễn Khải thì nằm như thế nói chuyện được lâu, đỡ mỏi lưng.

Hôm đó Nguyễn Khải nói với tôi: “May quá ông ạ! Bữa trước ông Nguyên Ngọc đến đây, nếu nó đưa ông ấy lên phòng khách ở lầu 3 thì tôi xấu hổ không biết chui vào đâu!”. Tôi hỏi: “Vì sao?” Nguyễn Khaỉ trả lời: “Vì ở lầu 3 tôi có treo cái bằng giải thưởng Hồ Chí Minh. Ông Nguyên Ngọc mà không được giải thuởng HCM mà tôi lại được thì xấu hổ quá!” Ngẫm nghĩ một lúc ông nói: “Nguyên Ngọc quyết liệt lắm, tôi không thể có cái quyết liệt ấy. Tôi hèn lắm!”

Nguyễn Khải là thế. Một nhà văn tên tuổi như ông mà nhận mình hèn thì ông không hèn chút nào. Ít nhất ông cũng là một con người chân thực, có liêm sỉ. Bút ký Đi tìm cái tôi đã mất của ông là một áng văn bất hủ. Một “hiện thực muốn có” bên cạnh một hiện thực “không muốn có” là nền văn học hiện thực XHCN xuất hiện ở Việt Nam.... Người ta hay nói đến một “chủ nghĩa hiện thực không bờ bến”… phải chăng…

Nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã đến viếng ông. Khi người ta bảo không còn chỗ trong nghĩa trang thành phố để an táng ông, ông Kiệt đã nói: “Lấy xuất của tôi cho Nguyễn Khải” (!).

L.P.K


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nhảm vô ý thức của cu Phẹt trong ngày tang thương:

SỐNG RỒI.



Các bạn, bọn con bò. Thật là may mắn khi tôi hân hoan báo tin là đã sống đến giờ này. Chứ đéo phải hạnh phúc trong tang gia của nhà anh Ngựa Quý. Tôi đồ rằng giả tôi có chết đi thì khối đứa sụt sùi tiếc thương chứ làm đéo gì có cái hân hạnh mừng vui như anh Ngựa Quý. Nhưng tôi thích cái cách, cái thời điểm mà anh Ngựa Quý ra đi mà theo như bọn khốn nạn bổ báng là đúng quy hoạch. Làm đéo gì có cái chết đúng quy hoạch? Chả qua là số anh Ngựa Quý đến đây là hết, thần chết điểm danh là anh về với mẹ. Thế thôi.

Tôi cũng vừa đào thoát khỏi một cuộc ra đi sau cơn say bí tỉ. Diệu ngon, nhạc hay bạn lại hiền, thêm cả cái lắt nhắt mưa xuân se sắt. Ngồi từ trưa cho đến khi thằng Bôm Bốp đưa về nhẽ phải một hai giờ sáng. Tôi không nhớ là đã uống với những ai và những thứ diệu bia gì nhưng về nhà thì khó thở lắm. Giáo khoa y học gọi là suy hô hấp. Tôi tự cấp cíu bằng cách móc họng nôn ra. Thế là cũng qua một đêm yên ả.

Nhưng đến sáng người như có kim châm lửa đốt. Da bắt đầu mọc những nốt sần đo đỏ, đụng vào thì ngứa điên dại, gãi bật máu vẫn không thôi. Lại tự cấp cíu bằng cách hỏi thằng Gúc. Vẫn chưa tin nên bật máy hỏi đồng chí Trịnh Hít bác sĩ nhi. Nó bảo coi chừng lên sởi, đang có dịch. Lại phải mất công gọi cho mẹ. Bà bảo tất tần tật những bịnh tình phải có để đảm bảo thọ 100 tôi đều đã kinh qua, tỉ như lên sởi, quai bị thậm chí... hắc lào. Hoang mang quá bởi thằng Gúc bảo nóng gan nhưng thằng bác sĩ xịn lại bẩu là lên sởi. Thế là thế đéo nào? Nhưng tôi giật mình nhận ra là tuy thằng Gúc không phải bác sĩ nhưng suy lý của nó viện dẫn vào thân tôi đúng 100%. Còn đồng chí Trịnh Hít là bác sĩ thật nhưng tôi lại quên bố nó đi là có cái đuôi nhi. Nó chỉ bốc bệnh được cho nhi đồng chứ tầm vóc đâu mà chẩn trị được cho trung niên bù bựa. Có phỏng?

Vài người lâu không thấy tôi ngoi lên trò chuyện cũng đánh tiếng hỏi thăm. Tôi thật thà mà kể ra như thế. Nhất loạt đều phán tôi bị nóng gan. Hay nói chính xác ra là quá trình tích lũy diệu bia quá nhiều trong khi thằng gan lọc và đào thải độc tố không kịp. Thảo nào mà cứ thấy nóng rát và người thì phát ban. Y khoa gọi đó là hiện tượng đào thải qua đường đéo gì quên rồi nhưng hoàn toàn là không mong muốn. Định lên viện truyền chai nước giải độc mát gan nhưng nghĩ cảnh lưu trú đâm nản. Tôi bắt vợ đi mua thuốc ta ngoài tiệm uống hỗ trợ, nốc nhiều nước lọc, tích cực đi đái, chăm chỉ uống sữa tươi, quả là có thuyên giảm đi thật nhưng mẩn ngứa lại tăng lên đáng kể. Gãi bằng tay không thỏa, tôi phải dùng dao mà cạo. Bõ hờn nên súng sướng lắm nhưng xong rồi thì lại rát, máu rịn ra như cách người ta chọc kim xăm. Lại phải thấm nước vào khăn tắm mà lau chùi cho tủi phận.

Đâu như hôm qua nghe tin anh Ngựa Quý chết bởi bịnh K gan nên vận vào thân mà run vãi. Ảnh chết là vì đảng vì dân chứ tôi chết vì diệu thì quá nhục và vô tích sự. Lại được mấy thằng bạn đểu đến xóc lọ tinh thần đều nói là gan tổn thương thì khả năng K là rất sớm. Chúng hân hoan cầu chúc cho tôi đồng hành với anh chốn cam tuyền. Đời đang long lanh như cam lồ mà xuống cam tuyền thì hỡi ôi còn cái nước non mẹ gì.

Người chết, bất luận vì lý do hay nguyên nhân gì cũng đáng được tụng ca và tha thứ. Anh Ngựa Quý tôi cũng không loại trừ. Hơn nữa chuyện của ảnh đã đâu vào với đâu. Ảnh có thể là tội đồ hoặc cũng có thể là nạn nhân của một thuyết âm miu, thậm chí là anh hùng lừng lẫy. Xứ này đầy rẫy những chuyện dưới mồ sâu. Khi mà ở đó trắng đen vẫn được những hồn ma che giấu chứ dứt khoát không chịu khai ra với Diêm Vương vạc dầu.

Các anh nghe tôi, bớt diệu bia đi. Gia đình vinh danh, bạn bè đỡ tủi. Có điều các nhà máy bia và các hãng diệu sẽ có chút buồn lòng. Thậm chí nền kinh tế sẽ tăng trưởng âm bởi diệu bia nó kích thích các anh những chi sài vô tội vạ. Nhưng không sao cả, tôi chỉ nói bớt đi thôi chứ có phải tiệt nọc đâu mà lo lắng. Phần tôi khi gần với cái chết thì thấy sự sống đáng giá biết bao nhiêu. Tôi cũng sẽ bớt đi cho đến khi nào Giời không cho uống nữa. Chứ không phải ngại bịnh tình bởi bịnh tình chỉ là cái cớ để thần chết gạch tên trong cuốn sổ mang danh cuộc đời.

Và như tôi đã nói, cái chết là khởi nguồn của sự sống. Nhất là với cái chết của đồng chí Ngựa Quý, anh tôi. Chứ tôi có sống hay chết thì nghĩa lý chó gì. Có phỏng?



Phần nhận xét hiển thị trên trang