Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Hai, 17 tháng 2, 2014

Nói khoác, Chém gió, Xuất bản mồm

Nguyễn Hoàng Đức

Nước Việt Nam rõ ràng là ngèo đói lạc hậu mức đội sổ thế giới. Có nhiều nguyên nhân, nhưng có một nguyên nhân chính là chúng ta làm thì cực dở, nói thì rõ “hay”. Nói hay ư, chữ “hay” không đúng lắm, vì ngôn ngữ là trí tuệ, mà người Việt trí tuệ cũng như dân trí còn rất thấp, công nghệ chưa làm được một cái kim, trí tuệ mới ở mức văn vần ngâm nga lèo tèo mấy vần thơ cảm tính nên không thể cho là “nói hay” được. Nói cụ thể hơn là khoác lác, nói phét, hay như nhân gian nói là “ăn tục nói phét”.
Nói khoác có đáng yêu không? Dân tộc nào mà chẳng có nói khoác?! Triết gia Aristote nói rằng “Tuổi trẻ thường hay nói dối, vì đó là cách tốt nhất để hy vọng”.
Chà chà, Mọi hy vọng ở đời nói chung là đẹp. Một người nghèo hy vọng mình giầu. Một sinh viên y khoa hy vọng mình làm bác sĩ. Một tu sinh mong mình thành thầy tu. Một học trò thanh học mong mình là ca sĩ. Ở nhiều nước châu Âu, người ta còn có thói quen giới thiệu nâng cấp người khác lên. Chẳng hạn một hạ sĩ thì người ta sẵn sàng nói “anh ấy là sĩ quan”, hoặc một người xinh nhất xóm người ta sẵn sàng nói xinh nhất làng. Sự nói vống đó giống như sự bao dung hào hiệp với người khác.
Ở đời, tuổi trẻ thường hay nói dối, bởi vì tuổi trẻ chưa làm được gì nhiều từ học hành đến công trạng, tiền bạc hay vinh quang, vì vậy người ta thường nói quá lên cái mình có thành cái “mình sẽ có”, thậm chí người ta còn nói tăng số tuổi của mình. Nhưng về già là lúc con người đã đạt được một số thành tựu nào đó, hoặc chín chắn hơn khi nhận ra mình, người ta càng phải ít nói khoác đi. Nhưng trái lại, có không ít người Việt càng già càng bất lực thì càng nói phét. Lúc trẻ còn hy vọng vào mình thì nói phét quả trứng thành con bò, nhưng về già khi chứng trắng tay càng cao thì không ngại nói phét quả trứng nhà mình to hơn dãy núi.
Trên cả sự mặc cảm về chứng bất lực do từ nhỏ ham vui, hát hò, thơ thẩn, trắng tay nên phải nói phét, người Việt nói phét giỏi vì còn khao khát nói phét. Người Việt có câu “Mồm miệng đỡ chân tay”. Nghĩa là, họ chủ trương muốn thoát khỏi lao động nặng nhọc của người làm nông nghiệp thì nên biết nói khoác, từ đó có thể đem lưỡi thay thế tay chân, khỏi phải làm việc mệt nhọc. Trong các làng quê người ta thường xuýt xoa nể phục cha con nhà nào đi làm Mc cho các đám cưới. Cha con Mc vừa xuất hiện đã thấy bà con kiêng nể như thể: đẳng cấp chân tay phải ngước nhìn đẳng cấp của lưỡi. Rồi Mc mở màn “Yêu nhau đứng ở đằng xa/ Con mắt liếc lại bằng ba đứng gần”, lời trôi ra trơn như bôi mỡ. khiến bà con vụng về ấp úng trong ngôn ngữ phải kính nể. Từ niềm tự hào “đỡ tay chân” này, mà không ít người Việt đã thi đua càng nói phét càng tốt mong đến ngày chiếc lưỡi của ta tuyệt đối thay thế tay chân vất vả của ta.
Triết gia Socrate và Platon có nói một phương ngôn giản dị và hay bậc nhất: “Là kim cương nó không bao giờ phải khoe mình là kim cương cả”. Tại sao người ta nói khoác? Nói khoác có nghĩa là “có ít xít ra nhiều”. Người ta là tre nứa thì mới phải nói khoác mình là gỗ đá, là gỗ đá thì nói khoác mình là sắt thép, từ sắt thép mới khoe mình là vàng bạc, từ vàng bạc mới phô mình là kim cương. Nhưng là kim cương người ta chẳng phải khoe mình là gì cả.
Càng thiếu tự tin về mình người ta càng hay khoác lác để che dấu. Có khi rơm rác nhảy một phát khoe mình là vàng bạc. Có khi trong ngày đôi lúc nói khoác, người ta đã nói khoác thường trực cứ mở miệng ra là nói khoác. Nhưng kỳ thực sự khoác lác bôi trơn đó có khác gì mấy anh Mc ở nhà quê chỉ mong đĩa xôi miếng thịt nơi đám cưới hò hát cưới đùa nhí nhảnh.
Chứng nói khoác hay nói phét là chứng nông nhàn và đặc biệt là đặc sản của lớp người văn hóa âm lịch, hay văn hóa Tầu. Những nhà cải cách Trung Quốc như Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu, Tôn Trung Sơn cho rằng: chỉ có thể là người trí thức trong thời đại mới khi phải mang tâm cảm tiến bộ. Như vậy, đám hủ nho có học biết bao bồ chữ cũng chẳng thể nào trở thành tri thức. Và trong đám bốc phét một tấc tới trời, rồi hứa hão, thất hứa hầu hết là đức sống của đám hủ nho. Chẳng hạn, có một nhà thơ chăn nuôi khoe: “Tôi học võ khi nằm trên giường, tưởng tượng  người ta đánh, tôi né rồi phản đòn. Võ của tôi là Vô chiêu”. Ý anh ta muốn nói: vô chiêu của mình giống “lấy bất biến ứng vạn biến” sẽ chiến thắng tất cả hữu chiêu khác. Có không ít anh âm lịch còn tuyên bố: tôi ngồi đây nhưng sẽ đánh ngã anh dù cách hàng chục mét. Khi được mời thử đi. Thì anh ta lại ba hoa bốc phét về việc mình không thèm làm.
Một anh khác khoe khoang về chim Bằng tức con chim của thần thoại Trung Quốc đầu chạm đỉnh trời đuôi chạm đáy đất. Tôi hỏi “anh đã nhìn thấy chim Bằng bao giờ chưa?” Không cần nghĩ lâu. Anh trả lời:
“Tôi không nhìn thấy chim Bằng, nhưng bay cùng với chim Bằng”.
Trong một lần nói chuyện với một nhóm các nhà thơ tôi hiểu họ khá kỹ. Tôi nói “cả đời tôi nói dối không bằng các anh nói dối trong một ngày”.
Một người có vẻ muốn bật lại lò so: “Anh nói vậy là nói ai?”
Tôi trả lời: “Tùy các anh!” tôi nói vậy hàm nghĩa, nếu anh nào thấy tôi nói sai, tôi sẽ chứng minh liền. Tất cả họ đều im lặng. Sự im lặng đó ít ra tiệm cận sự đồng ý.
Tất nhiên nhiều người không chỉ nói khoác xuông mà còn dùng trí tuệ và nguyên lý để nói khoác. Nhà thơ kia bảo, Lão Tử nói “Trời không làm gì mà làm tất cả”. Ý anh ta muốn biện hộ cho chứng lười nhác vô tích sự của mình.
Tôi liền bảo: Anh chỉ là con người nhỏ bé sao lại dám nghĩ mình là trời để mà học theo trời? Vả lại căn cứ vào đâu mà anh nói “trời không làm gì cả”, chẳng nhẽ Trời không tham gia vào quá trình tạo thiên lập địa ư? Anh ta liền im lặng.
Giờ nói chuyện xuất bản mồm. Khi thấy mọi người bảo cả đời chẳng thấy anh làm gì cho ra tấm món ngoài một hai tập thơ mỏng như tờ rơi mấy chữ lèo tèo? Thế là một thời gian dài tưởng đã cao tuổi anh sẽ chán chứng bốc phét, nào ngờ anh ta lại bốc phét cách liều mình như chẳng có. Anh bảo, ‘tôi đang viết một cuốn sách mới, mà khi viết xong, sách của cả thế giới này phải đốt hết đi!” Nhưng than ôi, bạn bè chờ mãi, 3 năm, rồi 5 năm cuốn sách đó vẫn viết chưa xong, mà chắc chắn nó không thể được viết xong, cũng như không thể dám viết xong.
Một lần khác khi nói về thơ của mình, anh chàng nói “Tôi nói thật, thơ của tôi mỗi câu, mỗi bài là của các Đấng”, ý anh nói, thơ tôi đã được “nhập đồng” của các thần các thánh, thì đừng có ai dám bàn chuyện khen chê. Chắc anh ta không biết chuyện, khi I-rắc chống lại liên quân 28 nước đã tổ chức cầu nguyện để cho Đấng Ala của họ sẽ giúp họ đánh thắng. Họ đâu có hiểu một việc đơn giản: Thánh thần là công lý.
Triết gia Nietzsche nói “chúng ta không nên đón nhận mà phải sáng tạo, chúng ta không nghèo khổ đến mức phải ăn xin sự bố thí của thần thánh”. Sáng tạo là Nhân tạo đó là định nghĩa phổ biến trên thế giới. Sáng tạo mà đòi trở thành manh áo đồng cốt ăn mày thần thánh thì còn gì để nói?! Khi nghe thế, tôi thở dài và hoàn toàn thất vọng về tư cách ăn mày thần thánh của anh ta.
Người Việt nghèo đói khổ sở, giáo dục xuống cấp, dốt nát tràn lan, thơ phú nghệ thuật lèo tèo được chăng hay chớ vì chúng ta ít sống vụ thực như ngô ra ngô khoai ra khoai, rơm ra rơm, ngọc ra ngọc, vàng thau lẫn lộn, mấy bài thơ đồng cốt ăn trộm cũng muốn xí xộ ở tầm Nobel, mấy anh thơ còi không có mỹ học cũng học đòi hậu hiện đại rồi mơ tưởng mình là vĩ đại. Vĩ đại ư? Nhân vật không có, kịch tính không có, mấy ballad vớ vẩn làm sao hóa trường ca được mà đòi xây mộng đóng cầu thang lên thiên giới?
Muốn có một đất nước hùng cường, một nền văn hóa cao cả xin người Việt chúng ta hãy chú tâm sống thực, làm tốt hơn là ba hoa phét lác. Sách đã xuất bản mà chỉ có bé và vừa hy vọng gì vào sách xuất bản mồm? Tiền mặt chưa đủ mua bánh mì để cứu tế đói nghèo. Tiền mồm thì làm được cái gì? Hay lại mong ước thành quả như Mc đám cưới nhà quê xin ít xôi thịt sống cầm chừng?


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tin này vui hay buồn đây?

Hàng nghìn người xếp hàng dài để... xin việc sau Tết

Hải Trịnh - theo Trí Thức Trẻ 

(Soha.vn) - 50.000 ứng cử viên tại hội chợ việc làm ở Trịnh Châu đã xếp hàng dài từ sáng để chờ nộp đơn dự tuyển.

Ngày 15 tháng 2 năm 2014, tại Hà Nam, Trịnh Châu, tỉnh Hà Nam đã khai mạc hội chợ việc làm trong hai ngày tuyển dụng tại Trung tâm Triển lãm Quốc tế. Những người xin việc đã xếp thành hàng dài hàng trăm mét như một con rồng dài từ sáng sớm. Theo thống kê tạm thời, có gần 50.000 người xin việc đã đến vào buổi sáng hôm đó.
Hàng nghìn người xếp hàng dài để... xin việc sau Tết
Hàng nghìn người xếp hàng dài để... xin việc sau Tết
Tranh thủ đọc thông tin tuyển dụng của các công ty
Hàng nghìn người xếp hàng dài để... xin việc sau Tết
Hàng nghìn người xếp hàng dài để... xin việc sau Tết
Dòng người xếp hàng dài hàng trăm mét để chờ nộp đơn xin việc
Hàng nghìn người xếp hàng dài để... xin việc sau Tết
Những người đi tìm việc cùng chia sẻ thông tin tuyển dụng
Hàng nghìn người xếp hàng dài để... xin việc sau Tết
Một nhân viên tuyển dụng ăn mặc như Huyền Trang đang phát tài liệu cho những người xin việc.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

bài của đồng chí Vương Chí Nhờn:


Độc đáo với bất cứ giá nào !

 Lâu nay tôi không phải là khán giả thư­ờng xuyên của chuyên mục Gặp nhau cuối tuần trên VTV3 , ấy vậy mà nhân ngẫu nhiên đ­ược vợ con rủ xem chư­ơng trình mang tên Hội ơi là hội (tối 30-3 -2005), lại thấy phục sát đất .
 Chuyện kể về một làng nọ làm hội .

 Làm nh­ư thế nào ? Nói nôm na là không có cũng vẽ ra mà làm . Tính chuyện bắt ch­ước ngư­ời khác. Ai đó đạo văn , đạo nhạc thì ở đây ngư­ời ta sẵn sàng đạo hội .
 Thấy các làng khác có chọi trâu chọi gà thì nghĩ ra việc …chọi lợn .
Phỏng theo lối đấu bò ở Tây Ban Nha, ng­ười ra đấu ngồi xổm trên mặt đất tay cầm miếng vải đỏ khiêu khích lợn , tay kia cầm cái gì na ná nh­ư cái khiên để tự che đỡ .
 Không ai là nhịn c­ười nổi !
Ngay sau tiếng cư­ời , cố nhiên , màn kịch cũng luôn tiện làm cho ng­ười ta đau lòng. 
Con ng­ười ở đây hiện ra trong một tình trạng thảm hại :
-- Mang quá khứ ra để làm thư­ơng mại .
--Kiếm ăn với bất cứ giá nào.
-- Ma mãnh đủ kiểu .
-- Nhân danh một mục đích tốt đẹp, tự cho rằng có gian dối một tí rồi thần phật cũng tha bổng cho hết .

    Nghĩ lại thì chẳng qua cái sự làm liều nghĩ ẩu ở đây đ­ược bắt đầu từ một nguyện vọng có vẻ rất chính đáng . Đó là muốn gây ấn t­ượng với ng­ười .
 Song do chỗ trong thâm tâm thừa biết mình kém sẵn , và không bao giờ có thể bằng ng­ười , nên chỉ còn cách tạo ra sự độc đáo . Rồi nhận ra đây là ngón võ có vẻ hiệu quả , ng­ười ta còn hùa nhau nâng nó, cái sự độc đáo ấy , lên thành lý luận : sùng bái nó , cho nó là quan trọng nhất trên đời , và lo đi tìm nó bằng đ­ược , -- kể cả đến lúc bí , phải dùng tới cách tầm th­ường nhất , và bản thân thư­ờng lên tiếng chống đối mạnh mẽ nhất , đó là nhập khẩu những cái cực kỳ xa lạ từ n­ước ngoài .

 Chỉ cần độc đáo là có giá trị, cái lầm lỡ tai hại ấy , kỳ lạ thay, lại đang lan tràn nh­ư một căn bệnh .
 Trong việc này bọn tôi cũng có một ít kỷ niệm . Hồi đó là vào khoảng đầu những năm sáu m­ươi , một số thanh niên mới tập viết cũng có cái lối đi tìm bằng đ­ược sự độc đáo để gây ấn tư­ợng .
 May mà các bậc đàn anh đã sớm nhắc nhở .
 Còn nhớ nhà thơ Xuân Diệu từng giảng rất hay về chuyện này.
Với lối nói riết gióng của mình , ông bảo nên nhớ là hai con lợn khác nhau cũng mỗi con một cá tính , nghĩa là chẳng con nào giống con nào; vậy đừng có lẫn cá tính với cá tật … Sự độc đáo chỉ đáng ghi nhận khi nó là dấu hiệu của một giá trị chân chính .
 Nói cho vui , không chừng cái làng Cự Phách trong ch­ương trình Hội ơi là hội đã ăn phải đũa bọn tập tọng học nghề chúng tôi mấy chục năm tr­ước .
Trong bụng ­ước có một Xuân Diệu để nhắc nhở. Song lại nghĩ , một khi cả làng cả nước bây giờ đã mê muội vậy, chắc ông Xuân Diệu có tái sinh cũng phải giơ tay đầu hàng !

Đã in Thể thao và văn hoá số ra 6-5-2005
In lại trong Những chấn thương tâm lý hiện đại, 2009

Phần nhận xét hiển thị trên trang

của ngựa..

nàng nhìn chiếc kim giây buôn lậu niên đại một bức tranh
tiếng bầy ngựa xua đuổi con đường tắt chạy vào lịch sử
lửa triệu hồi những con mắt thù tạc trên tường
như giọt mực ký sinh trên mặt nạ giấy bồi
hoa đào trong truyền thuyết ép buộc bị nung chín
 
rạng đông đã trồi lên từ biển
hoàng hôn từng khoan thủng núi đồi
muối cùng cỏ non cho ngựa
là những lời nói của mặt trời trong đêm
và bướm bay ra từ trang sách khép lại ở đùi nàng
gió lớn đã ngừng rồi, các hang lỗ lại im lặng
nơi Trang Tử chống cằm ngồi trầm tư
sợi chỉ đỏ hung hãn lao ra ngoài khung cửa kính vỡ
lầm đường đầu thai những giấc mơ
 
nàng nhận lấy lời chúc tụng từ một đám cưới vừa diễn ra
bốn con ngựa cái ngấu nghiến nhai thời gian
đang âm mưu đẻ ra huyền thoại
gió lớn lại nổi rồi, các hang động tối tăm ồn ào giai điệu
mùa xuân giữ bí mật về cô dâu không còn trinh nữ
nàng nhái lại tiếng rên riết làm quà tặng tân hôn
cùng chiếc bóng phong nhiêu của cái chết
 
lần cuối nàng bước lên bậc thềm thứ năm trong ngôi đền vắng mặt thần linh
ngang qua những đám mây đen mọng nước
một cành dương khô đã tới giờ hoa trổ
 
 

Phần nhận xét hiển thị trên trang

10 ẩn số không lời giải trong lịch sử Việt Nam (2)

(Kienthuc.net.vn) - Trong lịch sử Việt Nam, có những cái chết bí ẩn của các bậc vua chúa khiến cả dân tộc bàng hoàng...

Ai là tác giả bài thơ Nam Quốc Sơn Hà?
Bài thơ Nam quốc sơn hà được xem là bản Tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước Việt Nam, gắn với tên tuổi của danh tướng Lý Thường Kiệt (1019-1105) và thắng lợi trước quân Tống xâm lược tại sông Như Nguyệt. Hiện nay, nhiều người vẫn ngộ nhận tác giả bài thơ là Lý Thường Kiệt. 

 Nhiều người ngộ nhận tác giả bài thơ Nam quốc sơn hà là Lý Thường Kiệt.

Tất cả sử liệu Việt Nam, từ chính sử đến dã sử đều không nhắc đến tác giả bài thơ. Đại Việt sử ký toàn thư chỉ ghi rằng, vào một đêm, quân sĩ nhà Lý chợt nghe thấy có tiếng đọc to bài thơ này được trong đền Trương tướng quân. Trong khi đó, sách Lĩnh Nam Chích Quái cho rằng "Thần nhân tàng hình ở trên không” đã đọc bài thơ. Cũng theo Lĩnh Nam Chích Quái, bài thơ đã xuất hiện từ thời Lê Hoàn chống Tống, và cũng được đọc trên con sông Như Nguyệt.

Nguồn gốc bí ẩn đó đã khiến Nam quốc sơn hà được người đời coi là một bài thơ Thần. 

Một số sử gia thời hiện đại đã đưa ra giả thiết tác giả bài thơ là những bậc đại sư như Khuông Việt hay Pháp Thuận, nhưng tính thuyết phục không cao vì chỉ dựa vào mối quan hệ của các Thiền sư với các vua thời đó.

Công chúa Huyền Trân tư thông với Trần Khắc Chung?
Công chúa Huyền Trân sinh năm 1287, là con gái của vua Trần Nhân Tông và em gái vua Trần Anh Tông. Năm 1306, vua Chế Mân dâng hai châu Ô, Lý (Nam Quảng Trị và Thừa Thiên - Huế ngày nay) cho nhà Trần làm của hồi môn để lấy Huyền Trân. Vua Trần đã đồng ý gả công chúa.

Về Chiêm Thành, Huyền Trân được phong làm hoàng hậu. Một năm sau, bà sinh cho Chế Mân một hoàng tử, đặt tên là Chế Đa Đa. Ít lâu sau Chế Mân băng hà, nhà Chiêm sai sứ sang Đại Việt báo tang.

Theo tục lệ Chiêm Thành, khi vua chết hoàng hậu phải lên dàn hỏa thiêu để chết theo. Vua Trần Anh Tông biết điều này bèn sai Trần Khắc Chung vờ sang viếng tang rồi tìm cách cứu Huyền Trân. Trần Khắc Chung đã bày kế thành công và cứu được Huyền Trân, đưa công chúa về Đại Việt bằng đường biển.

Theo một số nguồn sử liệu, cuộc hành trình về nước của công chúa Huyền Trân đã kéo dài tới một năm, và bà đã tư thông với Trần Khắc Chung trong khoảng thời gian đó. 

Cuốn Đại Việt sử ký toàn thư ghi: "..hai người tư thông với nhau, trùng trình ở trên mặt biển, lâu lắm mới về đến kinh sư. Hưng Nhượng vương Quốc Tảng lấy làm ghét lắm, hễ thấy Khắc Chung liền mắng rằng: ‘Họ tên người này là "Trần Khắc Chung", đối với nước nhà có điều không tốt, có lẽ nhà Trần sẽ mất về người này chăng?’. Khắc Chung thường phải sợ mà lánh mặt..".

Tuy vậy cũng có một số sử gia đưa ra các lý lẽ khác nhau để minh oan cho Công chúa Huyền Trân. Có lẽ, thực hư của câu chuyện này ra sao mãi mãi là một ẩn số trong lịch sử Việt Nam.

Ai là thủ phạm trong thảm án Lệ Chi Viên?
Cho đến nay, vụ án Lệ Chi Viên với cái chết bí ẩn của vua Lê Thái Tông và việc tru di tam tộc quan đại thần Nguyễn Trãi vẫn là đề tài bàn luận sôi nổi của giới nghiên cứu sử học Việt Nam. 

Theo sử sách, ngày 4/8/1442, vua về Lệ Chi (nay thuộc huyện Gia Lương, Bắc Ninh). Cùng đi với Vua có Nguyễn Thị Lộ, một người thiếp của Nguyễn Trãi, khi ấy đã vào tuổi 40, rất được nhà vua yêu quý vì sắc đẹp, văn hay. Tại Lệ Chi Viên, vua thức suốt đêm với Nguyễn Thị Lộ, rồi băng hà.  

Triều đình đã quy cho Nguyễn Thị Lộ tội giết vua. Nguyễn Trãi và gia đình bị án tru di tam tộc và bị giết ít lâu sau đó. Đến năm 1464, vua Lê Thánh Tông đã rửa oan cho Nguyễn Trãi, truy tặng ông tước Tán Trù bá và bổ dụng người con còn sống sót của ông là Nguyễn Anh Vũ.

Sau này, nhiều sử gia đã tán đồng với giả thuyết cho rằng chủ mưu vụ án chính là Nguyễn Thị Anh - vợ thứ vua Lê Thái Tông.

Về động cơ, thứ nhất là do bà đã có sẵn tư thù với Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ. Thứ hai là do thời đó, nhiều người trong triều dị nghị rằng Nguyễn Thị Anh đã có thai trước khi vào cung và Thái tử Bang Cơ không phải là con Vua Thái Tông, sợ Nguyễn Trãi gièm pha nên bà đã sai người sát hại vua rồi đổ tội cho vợ chồng Nguyễn Trãi.

Vì sao vua Quang Trung băng hà?
Vào tuổi tứ tuần, giữa lúc chuẩn bị mở một chiến dịch tổng lực để tiêu diệt liên minh Nguyễn Ánh - Pháp, hoàn thành việc thống nhất đất nước; đồng thời nỗ lực giành lại hai tỉnh Quảng Tây, Quảng Đông từ nhà Thanh, hoàng đế Quang Trung đột ngột băng hà. Biến cố này là một trong những nghi vấn lớn nhất của lịch sử Việt Nam. 

 

Theo chính sử nhà Nguyễn, hoàng đế Quang Trung chết vì một chứng bệnh kỳ bí, bắt đầu từ một cơn đột quỵ khiến ông rơi vào trạng thái mê man nhiều ngày. Chứng bệnh này sử gia nhà Nguyễn giải thích như sự trừng phạt của thần thánh dành cho việc quân đội của ông đã xâm phạm các tôn lăng của chúa Nguyễn khi chiếm thành Phú Xuân (Huế).

Nếu gạt bỏ những yếu tố hoang đường và dụng ý chính trị thì những mô tả trongNgụy Tây liệt truyện đã hé mở phần nào nguyên nhân dẫn đến cái chết của vua Quang Trung trên phương diện y học hiện đại. 

Theo giả thuyết của các nhà nghiên cứu ngày nay, nhiều khả năng vị hoàng đế vĩ đại của nhà Tây Sơn đã bị suy sụp bởi một cơn tăng huyết áp đột ngột và qua đời vì tai biến mạch máu não.

Ngoài ra, còn một giả thuyết khác khá hoang đường khác về cái chết của vua Quang Trung, đó là ông đã bị trúng tà thuật từ chiếc áo bị yểm bùa do vua Càn Long của nhà Thanh ban tặng. Một biến thể của giả thuyết này là chiếc áo kể trên đã bị tẩm thuốc độc.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Hoan hô đồng chí lùn (đội nón sắt) Vì không biết tên, đồng chí thông cảm nha!

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thơ trải lòng của Nguyên Khôi


LXQ : Đọc thơ NK mà mắt nhòe đi. Chao ơi. quê hương chúng ta lúc nào - xưa hay bây giờ, ở đâu - cũng đầy những câu chuyện mà người viết ghi lại khiến người đọc suy tư, trăn trở rồi mắt cay sè... Nhờ NK chuyển tói các em trai, em dâu cùng các  chắu lời chia sẻ đầy cảm thông.
xxx
EM TRAI

"Rất tự hào là Trai Đình Bảng
Cá Vậy, Trầm vụt lớn hóa Rồng bay..." (1)
                *
Khôi có hai chú em
Đích thực Trai Đình Bảng
Cường tráng và thật hiền
Mẹ cha đầy hy vọng...
*
Chú Lớn đi "giải phóng"
Lái xe vượt Trường Sơn
B 52 vùi lấp
Đồng đội "bới" được lên
Giải ngũ về ngớ ngẩn
Quanh năm chỉ quanh quẩn
Sống nhờ vợ tảo tần.
*
Chú Út đẹp như trăng
Chống Tàu Mao xâm lăng
Đồn Thanh Lòa  (1) quyết chiến
Xác giặc phơi đầy đồng...
Chiến thắng trở về làng
Tay không , thật khó sống
ra Thủ Đô làm mướn ...
(Giá như xưa hy sinh
Được "Bảng vàng Liệt sĩ"
Không phải sống vật vờ ! ?)...
*
Khôi già, Khôi làm Thơ
Cái "nghề" vô tích sự
Chẳng giúp gì các em
Gặp nhau tràn Lệ nhỏ...
----
(1) trích trong tập thơ "Trai Đình Bảng" nxb Văn Học 1995;
Vậy, Trầm là 2 cái hồ to ở cánh đồng làng Đình Bảng- quê hương Thái tổ Lý Công Uẩn.
(2) Đồn biên phòng ở bên cạnh Hữu Nghị Quan (ải Nam Quan) - Lạng Sơn.
    Quê Đình Bảng, Từ Sơn Bắc Ninh 17-2-2014
     Kỷ niệm 35 nắm Chiến tranh Biên giới Việt Trung

Phần nhận xét hiển thị trên trang