Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Hai, 3 tháng 2, 2014

Lật lại 10 lời tiên tri đã thành hiện thực sau 100 năm


(VTC News) - Vào năm 1900, kỹ sư người Mỹ John Elfreth Watkins đã đưa ra một số tiên đoán sẽ xảy ra với con người. 10 điều trong số đó đã trở thành sự thật.
Không đơn giản như những dự báo thời tiết hay tình hình thế giới mà các phương tiện truyền thông hay đưa ra cho ít ngày sắp tới; người kỹ sư đã đưa ra những tiên đoán trong khoảng thời gian là một thế kỷ.

Tháng 12 năm 1900, khi thế kỉ 20 bắt đầu, John Elfreth Watkins đã viết những lời tiên đoán của mình trên một tạp chí dành cho phụ nữ ở Mỹ là Ladies' Home Journal. Bài viết được đặt tiêu đề: "Những điều sẽ xảy ra trong 100 năm tới". Ông đã nói rằng những tiên đoán đều kỳ lạ và khó tin để trở thành sự thật vào thời điểm đó. Tất cả có 29 chủ đề cũng là những lời tiên đoán đã được đưa ra.

Cho đến tuần trước thì bài báo này mới được lục lại bởi biên tập viên tờ Saturday Evening Post, tờ báo có quan hệ mật thiết với Ladies' Home Journal và cũng là nơi Warkins từng viết bài. 
Lật lại 10 lời tiên tri đã thành hiện thực sau 100 năm
Một bản scan các tiên đoán của kỹ sư Watkins được đăng trên báo năm 1900. 

Dưới đây là những dự đoán đúng của người kỹ sư về tương lai sau 100 năm của loài người kể từ 1900.
1. Máy ảnh kỹ thuật số


Watkins đã không dùng từ 'kỹ thuật số' và cũng không miêu tả cụ thể cách mà chúng làm việc, tuy nhiên ông khẳng định một công nghệ chụp ảnh mới sẽ ra đời. Trong thời điểm đó, một bức ảnh về những gì đang xảy ra tại Trung Quốc phải mất 1 tuần mới có thể xuất hiện trên các mặt báo Châu Âu.

Điều này đã cho thấy được tầm nhìn xa của người kỹ sư, ông cho biết khi đạt đến điều đó thì một cuộc chiến nếu có xảy ra ở Trung Quốc cũng chỉ mất 1 khoảng thời gian rất ngắn để có thể truyền tải về Châu Âu. Trong thời đại của ông, bản thân chụp ảnh đã là một phép màu và việc có thể truyền tải nhanh chóng là một điều vô cùng khó tin.

2. Người Mỹ sẽ tiếp tục phát triển chiều cao

"Người Mỹ sẽ cao thêm từ 3-5cm", đó là những gì ông nói trong các tiên đoán của mình. Thực tế đã chứng minh những gì Watkins nói là đúng.

Năm 1900 chiều cao trung bình của đàn ông Mỹ là 1m70 và đến năm 2000 nó đã đạt con số 1m75. Hiện nay, chiều cao trung bình của nam giới Mỹ là 1m76.
3. Điện thoại di động
"Mạng điện thoại không dây và điện báo sẽ lan tỏa trên toàn thế giới. Một người chồng đang ở giữa Đại Tây Dương có thể dễ dàng trò chuyện với vợ mình tại Chicago và cũng tương tự như thế, người ở Mỹ có thể nói chuyện với người ở Trung Quốc như các cuộc gọi nội địa hiện nay."
 Công nghệ di động chắc chắn đã phát triển vượt xa những gì Watkins mong đợi

Khi đó những cuộc điện thoại quốc tế là điều không tưởng. Sau câu nói này của Watkins 15 năm thì người Mỹ mới có cuộc gọi đầu tiên vượt đại dương của Alexander Bell. Ý tưởng về điện thoại di động thực sự đã trở thành một cuộc cách mạng.


4. Đồ ăn sẵn ra đời

Watkins đã dự đoán về những tiệm bán đồ ăn sẵn như các lò bánh mì trong thời kì của ông. Sau 100 năm, hiện nay hệ thống bán đồ ăn sẵn đã lớn mạnh và phong phú hơn nhiều so với những gì Watkins suy đoán. Chúng ta có thể dễ dàng mua được những bữa ăn nhanh gọn trên đường tại bất cứ đâu.

Chỉ có một điều Watkins đã nhầm về vấn đề này: đó là ông nghĩ những người mua hàng sẽ phải trả lại bát, đĩa cho nhà hàng để tiếp tục sử dụng, nhưng ngày nay những đồ đựng bằng giấy và nhựa đã giải quyết được vấn đề đó.

5. Tăng trưởng dân số chậm

Theo Watkins thì năm 2000 Mỹ sẽ có dân số vào khoảng từ 350-500 triệu dân. Thực tế con số này vẫn còn quá lớn, nhưng ông đã đúng về hướng phát triển của dân số Mỹ.

Nếu vẫn như nguyên tốc độ gia tăng như năm 1900 thì vào năm 2000 Mỹ đã vượt qua con số 1 tỉ dân. Tuy nhiên sau 100 năm dân số Mỹ chỉ tăng 360% và đạt con số 280 triệu vào đầu thế kỉ 21.
6. Hệ thống cây trồng trong nhà kính


Theo kỹ sư sau 100 năm mùa đông hay mùa hè, ngày hay đêm không còn quan trọng nữa. Lúc đó cây trồng sẽ được nuôi dưỡng bằng những đường điện cao áp trong nhà kính. Điện sẽ thúc đẩy quá trình phát triển của cây trồng, giảm được các loại cỏ dại đồng thời còn có khả năng nâng cao sản lượng.

Hiện nay thì những khu vườn kính đã không còn xa lạ đối với một số quốc gia phát triển về nông nghiệp. Tuy nhiên lần đầu tiên việc dùng điện để làm ấm đất, thúc đẩy quá trình nảy mầm của cây là vào năm 1956 tại Anh. Điều này cho thấy Watkins là một người có tầm nhìn rất xa và chính xác.

7. Truyền hình

Watkins cho biết con người sẽ có khả năng nhìn thấy những gì đang diễn ra trên toàn thế giới thông qua một màn hình được nối với các camera thông qua các bảng mạch điện tử. Những phương tiện này cũng có khả năng bao quát rộng lớn mà vào thời điểm đó ông không xác định được.

Thực tế là sau 100 năm con người đã tìm cách tường thuật trực tiếp các sự kiện trên khắp thế giới bằng một bảng mạch điện nối giữa màn hình và camera như Watkins tiên đoán.
Lật lại 10 lời tiên tri đã thành hiện thực sau 100 năm
Chiều cao trung bình, xe tăng và một số phương tiện kỹ thuật đã được kỹ sư Watkins tiên đoán một cách chính xác. 

8. Sự ra đời của xe tăng


Wakins đã miêu tả về những chiếc xe tăng như những phương tiện được trang bị hỏa lực mạnh, có thể di chuyển trên nhiều địa hình và có tốc độ như những toa tàu hỏa năm 1900.

Về xe tăng, ngoài Watkins thì Davinci cũng đã từng mô tả, nhưng những tiên đoán của người kỹ sư đầu thế kỉ 20 là gần sát hơn cả.

9. Hoa quả sẽ ngày càng to hơn

Theo ông, dâu tây sẽ to như quả táo và chúng sẽ được ăn bởi những đứa cháu cũng không kém phần khổng lồ của chúng ta.

Tất nhiên các loại hoa quả đã phát triển hơn rất nhiều trong 100 năm qua, nhưng có vẻ Watkins đã kì vọng quá nhiều vào dâu tây.

10. Tàu hỏa siêu tốc

Watkins nói: "Tàu hỏa sẽ chạy được 2 dặm mỗi phút và có thể đạt đến vận tốc 150 dặm/h"
Đúng như vậy, năm 2000 một đường sắt cao tốc đã được khánh thành có tên Acela Express đã đạt được vận tốc tối đa 150 dặm/h mặc dù vận tốc trung bình thì thấp hơn. Cũng trong năm đó, đã có nhiều đường sắt cao tốc được ra đời và vượt qua được vận tốc 150 dặm/h.

Tùng Đinh

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Những lời tiên tri rợn người của bà lão mù Vanga


(VTC News) - Bí ẩn đằng sau những lời tiên tri chính xác đến 100% của bà lão mù có tên Vanga về chiến tranh thế giới II, khủng bố ở Mỹ ngày 11/9/2001, thảm hoạ kép động đất và sóng thần năm 2011 ở Nhật Bản…
Lời tiên tri "sấm sét"

Ngày 11/3/2011, cả thế giới dường như bàng hoàng trước thảm hoạ kép xảy ra ở Nhật Bản. Một trận động đất cường độ 9,0 độ Richter kéo dài trong 2 phút với tâm chấn nằm sâu 10 km dưới Thái Bình Dương đã kéo theo dư chấn tạo nên cơn sóng thần cao tới 10 mét tấn công xứ sở hoa anh đào.
Cơn sóng thần khổng lồ này đã quất thẳng vào vùng bờ biển phía Đông Bắc Nhật Bản cuốn phăng đi tất cả mọi thứ nó gặp trên đường và khiến hàng chục thành phố duyên hải ngập chìm trong nước biển. Thêm vào đó, sự rò rỉ phóng xạ từ các nhà máy điện hạt nhân Fukushima I và Onagawa đã đưa nước Nhật bước vào cuộc khủng hoảng tồi tệ nhất kể từ sau Chiến tranh thế giới II với số người chết và mất tích nhiều không thể kể viết.
Thảm hoạ thiên tai đột ngột và khủng khiếp ấy lại càng gây xôn xao thế giới khi có thông tin cho rằng nó đã được báo trước từ một nhà tiên tri mù có tên Vanga. Mặc dù đã mất vào năm 1996, nhưng bà đã đưa ra những lời dự đoán của mình về tương lai, trong đó bà nói về năm 2011 như sau: “Do những trận mưa phóng xạ nên ở Bắc bán cầu, cả động vật lẫn thực vật đều sẽ bị tiêu diệt vào tháng 3 năm 2011”.
Những lời tiên tri rợn người của bà lão mù Vanga
Thảm hoạ kép xảy ra vào tháng 3/2011 đã được nhà tiên tri mù Vanga dự báo trước

Đó quả là những lời tiên tri  nói về thảm hoạ kép ở đất nước Nhật Bản. Và người ta bắt đầu tìm kiếm lại những lời tiên đoán trong quá khứ của bà lão mù này và vô cùng kinh ngạc trước mức độ chính xác của nó.
Vanga là ai?

Bà Vanga tên thật là Vangelia Pandeva Dimitrova (31/11/1911- 11/8/1996), một nhà tiên tri đồng thời cũng là một người chuyên nghiên cứu về thảo dược.
Những bí ẩn về nữ tiên tri mù xuất phát từ một cơn bão ập đến ngôi làng nơi bà Vanga, khi đó vẫn chỉ là một cô bé, sinh sống. Trận lốc xoáy đã nhấc bổng cô bé lên không trung và cuốn tới cánh đồng xa tít tắp.
Sau nhiều nỗ lực tìm kiếm, dân làng thấy Vanga nằm bất tỉnh trong đám đất đá với 2 hốc mắt đã bị lấp đầy vì cát bụi. Và Vanga bị mù từ đó, dù chữa trị bằng cách nào cũng không khỏi. Thế nhưng, may mắn thay, cũng kể từ đó, cô bé 16 tuổi Vanga đã có một “giác quan thứ sáu” vô cùng nhạy bén.
Những lời tiên tri rợn người của bà lão mù Vanga
Khả năng tiên tri siêu việt của Vanga là do bà nhận được thông tin từ những hình nhân xa lạ tới từ hành tinh Vamphim

Theo lời kể của Vanga, bà có khả năng tiên tri siêu việt như vậy là do nhận được thông tin từ những hình nhân xa lạ tới từ hành tinh Vamphim mà người thường không thể nhìn thấy được. Nghe tưởng chừng như rất hoang đường nhưng khả năng tiên tri của bà lại được chứng thực và chính điều đó đã khiến bà trở thành nhà tiên tri đại tài của nhân loại, chỉ đứng sau Nostradamus.
Lật lại quá khứ 

Trong quá khứ, bà Vanga cũng nhiều lần khiến cả nhân loại rùng mình khi tiên đoán chính xác thảm hoạ hạt nhân Chernobyl xảy ra vào năm 1986 hay tàu ngầm nguyên tử Kursh sẽ chìm trong nước vào năm 1980.
Năm 1989, bà lão mù này cũng đưa ra dự đoán về một vụ khủng bố kinh hoàng: “Đáng sợ! Đáng sợ! Những anh em sinh đôi của nước Mỹ sẽ ngã xuống sau khi bị những con chim sắt tấn công”. Lời tiên tri này của bà dần rơi vào quên lãng chỉ cho tới khi hai toà tháp đôi của Trung tâm Thương mại Thế giới tại thành phố New York, Mỹ bị khủng bố tấn công.
Những lời tiên tri rợn người của bà lão mù Vanga
Vụ tấn công khủng bố vào ngày 11/9/2001 ở Mỹ

Trước đó, bà cũng đã từng tiên đoán nhiều sự kiện chính xác một cách kinh ngạc như ngày tháng vua Boris III (vua Bulgary) và lãnh tụ Stalin qua đời. Nhiều người kể rằng Adoft Hitler cũng đã từng đến gặp Vanga. Ông ra về với vẻ mặt tái mét và rầu rì nhưng không ai biết là vì lý do gì. Không lâu sau, Hitler tự tử dưới hầm và Chiến tranh thế giới II kết thúc.
Tiên đoán cho 2014 và 2016

Trước khi qua đời, nữ tiên tri lỗi lạc này cũng đã tiên đoán, đến năm 2014 “đã số người dân sẽ bị mụn nhọt, ung thư da và những chứng bệnh khác về da”. Nhiều nhà phân tích cho rằng đây có thể là hậu quả của hàng loạt chiến tranh hoá học diễn ra ở Syria trong thời gian qua. Tiếp đó, đến năm 2016, “châu Âu sẽ trở nên trống vắng”.
Thuỳ Chi

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Trước thềm năm mới, tản mạn về lòng dân và vận nước


Trần Ngọc Vương
Sông phía Bắc, biển phía Đông / Nếu không dân cũng là không có gì
Đó là hai câu thơ của Phan Bội Châu, nhà yêu nước vĩ đại đầu thế kỷ XX, viết để bày tỏ một nhận thức mới về vị trí của người dân trong lịch sử.

Nói rằng đó là một nhận thức mới, vì trong suốt hàng nghìn năm trước đó, dù ở một số bậc cao minh cũng từng tồn tại một nhận thức đó đây tỏ ra gần đạt tới cấp độ ấy, nhưng trong thực tiễn chính trị của chế độ quân chủ chuyên chế, người cầm quyền đã tìm mọi cách để hạn chế, bưng bít, chứ chưa nói tới việc đào sâu và nâng cao, sự hiểu biết của người dân về vị trí đích thực của mình.

“Dân”, trước hết là “cư dân” (habitants), nghĩa là “người ở nơi đó”. Khi loài người đang ở trong thời mông muội, trong từng cá thể lẫn cả cộng đồng đều chưa nảy sinh ý thức “chiếm đoạt từng mảnh trên mặt địa cầu làm tài sản riêng”, vì thế quyền sở hữu đối với đất đai, lãnh thổ…thoạt kỳ thủy, như K.Marx nhận xét, chỉ xuất hiện một cách ngẫu nhiên, đúng ra, như một quán tính đời sống. Loài người thừa kế quán tính này từ loài vật, không chỉ là “rừng nào hổ nấy” mà còn là “rau nào sâu ấy”, điều mà ngày nay người ta gọi là “hệ sinh thái tương thích”.


Nhưng như các công trình nghiên cứu nhân học lịch sử từng chỉ rõ, hầu như không một cộng đồng cư dân nào từ thuở “khai thiên lập địa” cho tới ngày nay chỉ cư trú trên một địa bàn xác định, Ngay khi ở cộng đồng nào đó đã tiến tới trình độ phát triển được một nền kinh tế trồng trọt – một trong những điều kiện và cũng là tiên đề cho lối sống định cư, thì tình trạng du canh du cư vẫn tiếp tục diễn ra, cho dù địa điểm mới không phải, không thể quá xa nơi cư trú cũ. Cũng là kinh tế nông nghiệp, nhưng đối với cư dân lựa chọn lao động chăn nuôi làm nghề nghiệp chính, thì do điều kiện phát triển của vật nuôi, nhất là chăn nuôi đại gia súc quy mô lớn, lối sống của họ thiên về du cư. Khi trên mặt đất chưa hình thành các đường biên giới, thì chưa xuất hiện loại “anh hùng nhất khoảnh” – những thủ lĩnh dựa vào sức mạnh cộng đồng để chiếm cứ và thực hành sở hữu hóa một lãnh địa, một vùng lãnh thổ xác định, như vào thời đại sau.

Các cộng đồng cư dân ở mọi nơi trên khắp thế giới đến một trình độ phát triển nhất định lần lượt thiết định nên các hình thức tổ chức xã hội. Lòng yêu nước, hay thậm chí “chủ nghĩa yêu nước”, được mặc định nội dung là phải thể hiện trực tiếp bằng những phát ngôn “thiết tha, rực rỡ”, có tác dụng truyền đạt tình cảm “yêu nước thương nòi” tới những đồng bào mình, cổ vũ, động viên được họ hành động vì non sông đất nước; lòng yêu nước trong hoàn cảnh đất nước có ngoại xâm phải là sự thể hiện một lòng căm thù cao độ, ngùn ngụt, một sự đối kháng “một mất một còn” với kẻ thù ngoại xâm, và trong tuyệt đại đa số trường hợp, còn cần được chứng tỏ bằng hành động cầm vũ khí chiến đấu kiên cường với chúng và bè lũ tay sai bán nước của chúng, chấp nhận hy sinh tính mạng, “quên thân, quên nhà” để “tận trung báo quốc”; khi tồn tại một tổ chức yêu nước được coi là “chân chính nhất”, thì người được coi là yêu nước phải là người sớm gia nhập tổ chức đó, lực lượng đó và hơn thế, còn cần nhanh chóng trở nên là “yếu nhân” trong tổ chức ấy. Lồng ghép thêm nội dung giai cấp, lòng yêu nước của bất cứ ai trong thời cận hiện đại còn cần phải được chứng thực bằng thái độ, tình cảm và hành vi của “đương sự” đối với quần chúng nhân dân, nhất là đối với những người thuộc tầng lớp dưới, những người mang thân phận “dưới đáy”.

Tất cả những đòi hỏi nội dung ấy của lòng yêu nước hay chủ nghĩa yêu nước đương nhiên đều không sai, nhưng đều là những đòi hỏi, yêu cầu đối với những người xứng đáng ở vị trí đặc biệt, đều là những nhà yêu nước lớn, nói cách khác, đều là những tiêu chí đối với những “vĩ nhân, lãnh tụ” hay chí ít, đối với những “yếu nhân”. Hàng triệu người bình thường sống và thể nghiệm một tình cảm yêu nước giản dị hơn, nhưng phong phú hơn, “vô định” hơn về nội hàm.

Khởi thủy của mọi cảm xúc liên quan tới lòng yêu nước là sự kết nối, những liên hệ mang tính tự nhiên của một cá thể cụ thể với một khu vực địa lý và với một cộng đồng thân tộc - huyết tộc. Nói một cách hình ảnh, tình cảm yêu nước trước hết gắn với một “quê hương”, một nơi “chôn nhau cắt rốn”, gắn với một cộng đồng huyết thống mà trước hết là người mẹ, người cha. Vậy nên ở điểm khởi đầu, lòng yêu nước là một loại tình cảm vừa “tự nhiên nhất”, nhưng cũng “nhân bản nhất”, cao cả nhất giữa mọi loại tình cảm. Văn chương nghệ thuật tự cổ chí kim, từ Đông sang Tây đều thể hiện một thứ tình cảm yêu nước thông qua những “tác thể” như vậy, và trong ý nghĩa ấy, tình cảm yêu nước là một loại cảm xúc mang tính phổ biến, nghĩa là mang tính “toàn nhân loại”.

Với ý nghĩa ấy, mà I. Ê ren bua đã viết những dòng mở đầu của “thiên tùy bút trữ tình, tráng lệ nhất mọi thời đại”: “Lòng yêu nước ban đầu là yêu những vật tầm thường nhất: yêu cái cây trồng trước nhà, yêu cái phố nhỏ đổ ra bờ sông, yêu vị thơm chua mát của trái lê mùa thu hay mùa cỏ thảo nguyên có hơi rượu mạnh…Dòng suối đổ vào sông, sông đổ vào dải trường giang Vônga, con sông Vônga đi ra bể. Lòng yêu nhà, yêu làng xóm, yêu miền quê trở nên lòng yêu Tổ quốc”.

Nhưng điểm khởi đầu ấy vẫn chưa phải là lòng yêu nước hay chủ nghĩa yêu nước. Để hình thành nên thứ tình cảm “được chia sẻ lẫn nhau về cùng một xứ sở, “quê cha đất tổ”, thứ tình cảm củng cố cái đơn nhất trên cơ sở những giá trị chung. Tình cảm ấy dẫn tới chỗ làm bộc lộ ra tình yêu và niềm kiêu hãnh đối với vùng quê cha đất tổ đó.Người yêu nước là người sẵn sàng hy sinh hoặc tranh đấu đến cùng để bảo vệ lợi quyền cho xứ sở”, lịch sử của các vùng đất, các cộng đồng cư dân còn phải kinh qua nhiều nấc, nhiều cung bậc vận động và phát triển để hoàn thiện nội dung của nó.

Tùy thuộc vào diện trường (champ) hoạt động, giao tiếp và quan hệ của từng cá thể mà ở mỗi cá thể như vậy có thể nảy sinh, duy trì, phát triển và hoàn thiện các loại hình tình cảm với quy mô và cường độ khác biệt nhau. Những loại hình tình cảm ấy cũng được phân tầng căn cứ vào nguồn gốc xuất hiện và phạm vi tác động của chúng. Về nguyên lý, những loại tình cảm và cảm xúc nào càng có nguồn gốc tự nhiên sâu xa bao nhiêu thì càng có vị trí, vai trò chi phối đời sống cảm xúc của chủ thể to lớn bấy nhiêu. Trong mọi thứ tình cảm, tình mẫu tử vì thế mới được coi là thiêng liêng nhất, bền vững nhất, mọi cơ chế thuộc về xã hội và tác động của chúng khó gây “sự cố” làm đảo lộn và thay thế loại tình cảm này.

Cũng là “tự nhiên nhất”, xúc động giới tính thì tồn tại phổ biến ở mọi cá thể bình thường trong độ trưởng thành, nhưng tình yêu nam nữ, với tính chất là đỉnh cao và kết tinh của những xúc động giới tính, từ góc nhìn khác, cũng là một trong những thứ tình cảm gây xúc động dai dẳng, mãnh liệt, bất trị nhất, vậy mà cho tới nay vẫn chưa hẳn được mọi người đồng thanh là chắc chắn hiện hữu trong không ít những quan hệ đôi lứa!

Trong quá trình tiến hóa lịch sử, con người với tư cách là một cá thể đơn biệt vốn vẫn chẳng phải “được sinh ra từ không khí”, mà phải gắn bó trực tiếp đương nhiên với ít nhất hai cá thể khác. Khởi đi từ những tình cảm “nguyên thủy” trong khung khổ một gia đình hạt nhân, mà các lý thuyết chính trị - xã hội hay tôn giáo - triết học từ thời cổ đại đã kiến tạo nên những luận đề đầu tiên của các hệ thống lý thuyết nhằm nhìn nhận, giải thích, xét đoán, điều hành, quản lý và cai trị xã hội. Sự xuất hiện theo trình tự kế tục lẫn nhau của các cộng đồng người từ nhỏ đến lớn, từ đơn giản đến phức tạp, từ chủ yếu mang tính chất tự nhiên đến chỗ ngày càng đậm đặc những thuộc tính xã hội - lịch sử cũng đã làm nảy sinh một cách tuần tự những loại xúc cảm hướng tới các cộng đồng, bao gồm cả việc hướng tới cả toàn thể lẫn “phân nhánh” nhằm vào các thành tố riêng biệt của các cộng đồng từ nhỏ đến lớn đó. Trong lịch sử tâm lý tộc người ở nhiều nền văn hóa Âu – Mỹ, niềm hoài hương (nostalgie) là một loại tình cảm cộng đồng đặc biệt, nằm ở vị trí trung gian nhưng lại có sự ổn cố khá lâu bền, thậm chí trở thành cố hữu, siêu cá thể và liên thế hệ.

Lòng yêu nước, hay “duy lý” hơn, chủ nghĩa yêu nước, là một “công đoạn”, một trạng thái tình cảm đặc thù, hướng vào một dạng cộng đồng đặc thù mang tính chuyển tiếp như thế.. Có thể kiểm chứng nhận định đó khi quan sát văn chương của các cộng đồng, các quần thể người có lối sống du cư, hay các cộng đồng người, vì trình độ tiến hóa chưa đạt tới hay do sự trớ trêu của những tình huống lịch sử tạo ra, phải tồn tại trong trạng thái “vô tổ quốc” lâu dài. Từ giác độ khác, lại có thể quan sát thấy tình trạng nhiều những cá thể sống với những cảm xúc phức tạp, khi họ có từ hai “tổ quốc” trở lên để hướng tới về mặt tình cảm.

Để nghiên cứu thành công đề tài chủ nghĩa yêu nước trong lịch sử các quốc gia - dân tộc vừa như một đề tài mang tính lý luận vừa như một bình diện quan trọng của lịch sử tinh thần, giới nghiên cứu còn phải đầu tư nhiều công sức từ việc kiến tạo lý thuyết, mô tả các nền lịch sử tư tưởng chính yếu và điển hình từng hàm chứa nội dung ấy, vừa phải so sánh chúng với nhau. Với những nền lịch sử tư tưởng mà phạm vi tác động chủ yếu là những cộng đồng tồn tại ở trạng thái “tiền quốc gia”, đương nhiên cả từ góc độ lý thuyết lẫn góc độ thực tiễn, trên tọa độ chủ nghĩa yêu nước mà xét, không thể đặt đẳng lập với các nền văn học có lịch sử quốc gia - dân tộc từng tồn tại lâu dài, từng có sự phát triển của loại hình cộng đồng này qua một lịch sử thăng trầm và phức tạp. Việt Nam may mắn là một quốc gia như vây. Tình cảm yêu nước hay “chủ nghĩa yêu nước” trong đời sống tinh thần của các cộng đồng đã phát triển tới quy mô đế chế đương nhiên không hề giống với loại tình cảm đó, biệt sắc tư tưởng đó trong đời sống tinh thần của các cộng đồng có cách thức tồn tại “khiêm tốn, giản dị” hơn: “chủ nghĩa yêu nước kiểu đế chế” (patriotism imperial) là cả một hệ vấn đề hết sức phức tạp, không thể tiếp nhận và bình luận theo hướng tích cực một chiều.

Trong truyền thống Đông Á, giữa các học thuyết – tôn giáo khác nhau có sự hình dung khác nhau về mối quan hệ giữa nhà nước – bộ phận cầm quyền và cư dân. Trên những nét đại thể, có thể nói là Phật giáo không hình thành rõ những luận điểm về mối quan hệ giữa dân và nước. Chủ trương hướng tới một xã hội “tiểu quốc quả dân” (nước nhỏ dân ít) cai trị bằng một nền chính trị “vô vi” cũng không cho phép tư tưởng Lão Trang có được một sự hình dung phong phú, đa dạng về mối quan hệ giữa người dân và cộng đồng quốc gia – dân tộc. Chỉ Nho giáo và Pháp gia là có hệ thống khi trình bày một lý luận chính trị - xã hội, đủ sức trở thành hệ tư tưởng. Điểm chung nhất giữa Pháp gia và Nho giáo là cùng độc tôn ngôi vua chuyên chế, coi đó là quyền lực trần thế tối cao, là đại diện cho cả thần quyền thay Trời trị dân, quản lý Thiên hạ. Trong nền học vấn truyền thống bởi nhiều lý do khác nhau Nho giáo được truyền bá rộng rãi nhất và phần lớn những ý tưởng về mối quan hệ giữa bộ ba Vua – Dân – Nước trở thành công thức thuộc “nằm lòng” là xuất phát từ kinh điển Nho giáo.

Cả Khổng Tử, Mạnh Tử và các bậc triết Nho khác đều mặc nhiên thừa nhận địa vị “bất khả tư nghị” (không được bàn luận) về địa vị tối thượng của ngôi vua chuyên chế. Nhưng ở giai đoạn hình thành, Nho giáo còn “chừa chỗ” cho dân, cho họ có những quyền nhất định. Theo Khổng Tử và Mạnh Tử, để được thay trời trị dân, người cầm quyền phải có Đức, thậm chí là những “Đức lớn” (Đại Đức). Tuy ngôi vua là do Trời chọn, nhưng “Trời không thân riêng ai, chỉ giúp người có Đức”. Khi người cầm quyền, mà tột cùng là Vua Thiên tử, không thể hiện đủ năng lực và Đức hạnh, thì Trời sẽ bày tỏ cho người cầm quyền đó những dấu hiệu trách phạt (“ trưng, triệu”), nếu người cầm quyền không tỏ ra hối lỗi, mức độ “cảnh cáo” sẽ được thể hiện ra ở mức cao hơn: những tai họa quy mô lớn, như dịch bệnh, mất mùa, thiên tai…Nếu người cầm quyền vẫn chưa tỉnh ngộ, thì sẽ xảy ra loạn lạc, “cách mạng”. Nhưng “cách mạng”. theo nguyên nghĩa của kinh điển Nho gia, là việc Trời đổi Mệnh, thay người, thay dòng họ cầm quyền, chứ không phải là sử dụng biện pháp lật đổ của sức mạnh quần chúng. Nhà nho, đặc biệt là Mạnh Tử, thể hiện một tinh thần thân dân quyết liệt, tuy đó không phải là tư tưởng dân chủ. Không phải nhà nho đề cao con người bình thường, (thứ nhân, thất phu thất phụ) nhưng với tư cách là một nguyên khối, dân trong nhãn quan Nho gia là một thực thể hồn hậu, bí ẩn, trong nhiều tình huống họ có thể bày tỏ cả “ý trời”. Chính vì vây, từ rất sớm, các triều đại chuyên chế đã cho những ông quan (bài quan) về các địa phương, sưu tầm ca dao, dân ca, làm hình thành nên những bộ vựng tập văn học dân gian nổi tiếng. Kinh Thi là một sản phẩm như vậy. Mục đích việc sưu tầm Thi là để “đạo đạt dân tình, bổ sát thời chính” (thấu tỏ được lòng dân, bổ khuyết cho nền chính trị đương thời).

Trên thực tế, các ông vua chuyên chế, nhất là vua sáng nghiệp, biết rất rõ rằng họ phải trả giá như thế nào để có được Thiên hạ. Hán Cao tổ, một người xuất thân hèn kém và tính tình lỗ mãng, đã không ngần ngại mắng thẳng vào mặt vị đại diện cho “quần Nho” đang tha thiết khuyên ông theo đuổi nền “văn trị” : “Nãi ông mã thượng nhi đắc thiên hạ, an sự Thi, Thư?” – Ông mày đây ngồi trên lưng ngựa mà được thiên hạ, liên quan gì tới Thi, Thư. Cũng không thấy có ông vua chuyên chế nào khi lâm vào những bước đường cùng đã được “Mệnh Trời” che đỡ, cứu vớt thành công cả, nếu đó không phải là những “thế lực trần gian” và công sức của những bề tôi mẫn cán, sự hy sinh của thuộc hạ dưới quyền. Nhưng về mặt tư tưởng, mọi chế độ chuyên chế đều cần có những lý thuyết để giải thích, biện chính và làm điểm tựa tinh thần cho tính chính đáng của quyền lực mà họ đang nắm giữ! Khi đang cầm giữ quyền lực, mọi triều đình chuyên chế đều tìm hết mọi phương cách để tô vẽ cho triều đại của họ, và khi quyền lực đó đã bị đánh đổ, triều đại mới thay thế, thì như một quy luật, triều đại mới này lại ra sức tố cáo, phủ định tiếp tục cái triều đại cũ ấy, giết chế nó một lần nữa trong ý thức, trong tinh thần dân chúng.

Từ lâu, trong nhận thức về triết học lịch sử, nhiều nhà triết học và nhà tư tưởng đã khẳng định rằng quần chúng nhân dân là chủ thể quan trọng nhất làm nên lịch sử. Trong tinh thần hào hứng của hoặc một thứ chủ nghĩa dân túy, hoặc nương theo đà của những ngọn sóng cách mạng được tạo nên bởi một lực lượng quần chúng đông đảo được giải phóng, không ít người đã hồn nhiên và thành thực tin tưởng, giải thích mệnh đề đó một cách duy cảm, rằng tất cả các thành tựu của các nền văn minh, mọi di sản tinh thần và vật chất của nhân loại có được đều là nhờ “bàn tay, khối óc” thậm chí “máu mỡ” của nhân dân, của quần chúng. Nhân dân trở thành đối tượng của sự ngợi ca, sự khẳng định vô điều kiện. Tuy nhiên, khi tôi bắt đầu ngồi vào máy gõ những dòng đầu tiên của bài viết này, thì một thông tin buồn, cực buồn trên báo chí đã khiến tôi ngập ngừng mãi, cơ hồ không tiếp tục suy nghĩ được nữa: ở Thành phố Biên Hòa tỉnh Đồng Nai, khi một chiếc xe chở bia bị nạn lật nghiêng, hàng nghìn két, thùng bia đổ xuống đường, thì hầu như ngay lập tức, rất nhiều người đang tham gia giao thông , không ai bảo ai, đã lao vào “hôi của” , bất chấp lời cầu xin, khóc lóc của người lái xe bất hạnh kia, thậm chí, có báo còn đưa tin rằng khi người lái xe níu tay một số người van xin, anh này còn bị đánh. Hàng trăm người giành giật nhau tìm chút lợi cỏn con trên nỗi bất hạnh của đồng bào, đồng loại mình! Thực chất đây là hành vi ăn cướp, vì “hôi” phải được sự đồng ý của người chủ! Dĩ nhiên, đa số người tham gia vụ “hôi của” này là người đã trưởng thành. Ôi, “nhân dân” đã ra nông nỗi này sao?

Tôi hiểu, rằng nhận thức về vai trò của nhân dân làm nên lịch sử cần phải được thích nghĩa theo một tinh thần toàn diện hơn, chu diên hơn lối tuyên truyền dân túy, mỵ dân. Tất cả mọi sự kiện, biến cố trong lịch sử, kể cả những biến cố thảm họa do con người tạo ra, hỏi có biến cố nào không được tạo nên bởi những lực lượng xã hội nào đó đi tiên phong, và không bao giờ vắng mặt cái gọi là lực lượng quần chúng của họ! Lịch sử cần được hiểu, được tính tới cả ở tất cả các mặt âm bản của nó, những tai ách và tổn thất, những sự suy thoái và thất bại… và như vậy, quần chúng nhân dân há không chịu trách nhiệm, há rằng họ “vô can” trước các biến cố âm tính này?

Một nhận thức thấu triệt, tỉnh táo và toàn diện về vai trò của nhân dân đối với lịch sử , hơn bao giờ hết, cần phải được xác lập ở những thời điểm mang tính bước ngoặt của các trạng thái xã hội. “Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách”. Phải, Khổng Tử từng khẳng định như vậy, nhưng cũng cần nhớ thêm rằng, là một nhà tư tưởng quân chủ kiên định, Khổng Tử không thể tưởng tượng đến một mô hình tổ chức xã hội không có vua, không có một vị “quốc chủ”. Thức nhận đó ở ông mạnh mẽ đến nỗi khi vào triều, đi qua trước ngai vua, dù là ngai trống, Khổng Tử cũng “biến sắc mặt, run rẩy sợ hãi”. Nguyễn Trãi cũng từng nói rằng cả một thời gian dài ông mang tâm sự của một Khổng Tử khi rơi vào tình thế đã ba tháng không có vua để thờ, một Mạnh Tử bề tôi cô đơn lo hoạn nạn không có vua bên cạnh! (“Trọng Ni tam nguyệt vô quân niệm; Mạnh Tử cô thần lự hoạn tâm”).

Trong thiết chế dân chủ, một trong những nỗ lực “tập làm quen” của nhiều người là tự làm chủ, tự quyết và tự trở thành. Mọi chính đảng nhân danh dân chủ và cách mạng đều có bổn phận thực hành dân chủ và hơn thế nữa, rèn luyện cho quần chúng “của mình” thực hành dân chủ. Nếu không có được một định hướng quyết liệt để mọi người dân hiểu dần ra và từng bước làm theo những yêu cầu dân chủ, thì “nhân dân” lại tự phát rơi trở lại tình trạng vô chính phủ, lại băn khoăn vô định, lại bị các thế lực khác lôi kéo, như đã từng xảy ra không cưỡng lại được trong lịch sử!

Ở thời đại ngày nay, khi thực thể xã hội quan trọng nhất chi phối đời sống của tuyệt đại đa số người dân vẫn là các quốc gia - dân tộc hoặc quốc gia - đa dân tộc, khi nội hàm của khái niệm “cosmopolis” (công dân toàn cầu) chỉ mới liên quan tới một tỷ lệ rất hạn chế những người đang sống trên trái đất, thì quần chúng nhân dân vẫn là chủ thể tối hậu làm ra lịch sử của các quốc gia – dân tộc ấy, nói cách khác, vẫn là người cuối cùng quyết định “vận nước”. Vấn đề vô cùng to lớn đặt ra đối với mọi chủ thể cầm quyền ở các quốc gia - dân tộc chính là việc tổ chức sức mạnh của khối quần chúng ấy như thế nào cho hữu hiệu. Mà tổ chức quần chúng hữu hiệu chính là làm cho họ thấy được một cách minh bạch nhất có thể, rằng đi theo chủ thể quyền lực ấy, thì lợi ích thực sự, hạnh phúc thực sự của họ được đảm bảo như thế nào?

Làng Võng cuối năm Quý Tỵ
T.N.V
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thầy phong thủy dự báo kinh tế năm Giáp Ngọ


Theo Hà Thu VNExpress 31 Jan 2014

Các ngành liên quan đến kim loại (Kim) và nước (Thủy), như ngân hàng, tài chính, vàng sẽ chịu một số tác động từ bên ngoài. Trong khi những công việc liên quan đến đất (Thổ) như bất động sản lại cần kiên nhẫn nếu muốn thành công.
Năm Giáp Ngọ hay năm Ngựa Gỗ có can Giáp thuộc mạng Mộc và chi Ngọ thuộc mạng Hỏa. Nhà nghiên cứu phong thủy nổi tiếng của Singapore – Kenny Hoo cho biết, ngôi sao Thịnh Vượng sẽ vẫn hiện hữu trong năm Giáp Ngọ. Các ngành công nghiệp liên quan đến gỗ (Mộc) và lửa (Hỏa), như dầu cọ, cao su, găng tay, giáo dục, lốp xe, dầu mỏ, điện, năng lượng, nhà hàng, giải trí sẽ có cơ hội kinh doanh tốt. Vì thế, nếu có kế hoạch và quản lý tốt, các ngành này sẽ có một năm ăn nên làm ra.
Trong khi đó, các ngành liên quan đến kim loại (Kim) và nước (Thủy), như ngân hàng, tài chính, thép, vàng, ôtô, du lịch, đồ uống, ngư nghiệp sẽ chịu một số tác động từ bên ngoài. Còn những ngành liên quan đến đất (Thổ), như bất động sản, xây dựng, khai mỏ lại cần kiên nhẫn, nỗ lực hơn, hoặc tái cấu trúc danh mục đầu tư nếu muốn thành công.
Đầu năm 2014, thị trường chứng khoán và bất động sản có thể giảm nhẹ. Tuy nhiên, miễn là nghiên cứu thị trường tốt, đổ tiền vào các công ty danh tiếng hay chọn bất động sản có phong thủy tốt, nhà đầu tư sẽ vẫn thành công.
Nửa đầu năm, giá bất động sản và giá thuê địa ốc giảm nhẹ do cung tăng. Giao dịch nhà đất tại một số khu vực sẽ giảm mạnh, đặc biệt là với tòa nhà văn phòng và chung cư cao tầng. Chỉ đến quý III, giá cả mới ổn định. Vì vậy, những người muốn đầu tư vào bất động sản sẽ có nhiều lựa chọn tốt hơn trong năm nay.
Giá vàng, sắt, đồng, thép và các sản phẩm liên quan đến kim loại, dầu mỏ sẽ bất ổn trong năm nay. Tỷ giá có xu hướng biến động và lạm phát lên cao. Lãi suất ngân hàng sẽ vẫn được duy trì ở mức thấp, sau đó mới dần tăng lên.
Các chuyên gia phong thủy cũng dự đoán năm 2014, tốc độ phục hồi của Trung Quốc sẽ tiếp tục dẫn dắt kinh tế thế giới. Trong khi đó, kinh tế Nhật Bản, Ấn Độ và Indonesia sẽ phải đối mặt với nhiều thách thức lớn. Tiếp tục kích thích nhu cầu trong nước là nhiệm vụ chính của các quốc gia này. Tuy nhiên, Ấn Độ và Nhật Bản có thể sẽ phải tìm nhiều cách để duy trì nhu cầu này về sau.
Bên cạnh đó, dù kinh tế châu Âu và Mỹ đã có dấu hiệu cải thiện, họ vẫn còn rất nhiều việc phải giải quyết năm 2014. Nợ công lớn, thất nghiệp cao triền miên sẽ là hai vấn đề cần ưu tiên. Căng thẳng chính trị và khủng bố sẽ gây sức ép lên quá trình phục hồi của Mỹ và nhiều nước trên thế giới.
Năm nay, các chuyên gia khuyên mọi người không nên thực hiện bất kỳ một thay đổi lớn nào ở phía Bắc của nhà ở hoặc văn phòng. Khí âm (biểu trưng cho sự kém may mắn và bệnh tật) sẽ trú ngụ tại đây và không nên bị quấy rầy.
Màu ảnh hưởng mạnh nhất trong năm Giáp Ngọ là xanh lá cây. Sơn tường phía Bắc của nhà ở hay văn phòng bằng màu xanh, hoặc kết hợp với đỏ, tím sẽ đem lại năng lượng tích cực và tài lộc dồi dào cho năm 2014.
Thầy Phước Lộc xem quẻ đầu năm Giáp Ngọ


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thất nghiệp, cử nhân “trốn” Tết gia đình

Hầu hết chúng ta đều có thể chứng kiến và cảm nhận thấy sự băng hoại của cả một xã hội cũ trong cái hào nhoáng mới hình thành. Con người Việt đã thay đổi quá nhiều, đức tính thành thật trong giao tiếp hàng ngày gần như đã mất. Các giá trị tinh thần được đánh giá dần dần bằng các thước đo vật chất.

Có nhiều dấu hiệu cho thấy lý tưởng thanh niên thế hệ mới đang bị lung lay không có chỗ dựa. Người ta có thể vội vàng phán xét nhóm người tuổi trẻ hôm nay chỉ sống vội, ồn ào, theo đuổi vật chất, và gần như vô cảm. Nhưng thật sự họ là những người cô đơn nhất. Một đất nước có thống kê chỉ rõ tuổi trung bình là 24, và 65% dân số dưới tuổi 35, nhưng lại ít chú ý chăm sóc giới trẻ nhiều tiềm năng đó qua giáo dục và phát triển tinh thần.
Hiện trạng của đất nước không tạo được cảm hứng hay nuôi dưỡng các ý tưởng phục vụ, cống hiến cho thế hệ trẻ hôm nay. Tương lai với họ như thiếu chắc chắn, vì các giá trị dân chủ, công bằng và nhân ái cần thiết cho một xã hội hiện đại đều thiếu vắng. Ngay cả sự tiến bộ kinh tế, điểm sáng của hai mươi năm qua, cũng đang trở thành mong manh tạm bợ.
Tăng trưởng đã chậm lại rõ rệt từ vài năm nay do sự bế tắc chính sách, điển hình nhất là do sự chi phối của các bè nhóm vì lợi ích riêng tư. Đồng thời phẩm chất cuộc sống đi xuống, nhiễm độc môi trường và thức ăn trở thành mối đe dọa trực tiếp hàng ngày cho đời sống của mọi giai tầng xã hội. Trên tất cả, nền kinh tế bị đe dọa sụp đổ từ 2 năm nay, khi quả bong bóng bất động sản và hệ thống ngân hàng có thể vỡ bất cứ lúc nào với mức nợ xấu quá mức chịu đựng, nếu không có các biện pháp, chính sách thích hợp cấp thời. Nợ xấu khổng lồ làm tê liệt hệ thống tín dụng ngân hàng và gánh nặng nợ công lớn không kém hình như đang được đẩy cho các thế hệ tương lai gánh chịu, với sự dồn món nợ công hiện tại thành những món nợ lớn tương lai qua giải pháp phát hành trái phiếu công dài hạn.
Nhiều người bàn đến các giải pháp kinh tế xã hội ngắn hạn. Nhưng trong con mắt chuyên viên, khó có thể có một ‘quick fix’ (sửa chữa nhanh) hay ‘a sugar high’ (một ảo tưởng), mà phải là những thay đổi thể chế và chính sách kinh tế cơ bản dài hạn, tái lập các giá trị nhân văn căn bản qua giáo dục và hướng dẫn cho tuổi trẻ.
Thế hệ trẻ không thể không biết và thờ ơ với viễn ảnh tương lai đó. Thiếu niềm tin, họ đang trả lời bằng sự chán chường những giá trị sống hiện tại, dồn đam mê đời sống vào các mác xe máy đắt tiền và những chiếc điện thoại smartphone thời trang, bảy tỏ nhiệt huyết và khí phách của tuổi trẻ đơn giản bằng các cuộc đua xe tốc độ hay, khá hơn, diễn tả lòng yêu nước bằng cổ vũ chiến thắng bóng đá cuồng nhiệt trong các trận ‘thư hùng’ với các đội quốc gia láng giềng. (Viễn Du Trần Bảo Nam) 

Có những bạn trẻ “trốn” Tết gia đình, ở lại thành phố kiếm thêm tiền chi tiêu.
Áp lực vì thất nghiệp, có những cử nhân không về quê ăn Tết mà tiếp tục “bám” thành phố giam mình trong phòng trọ hoặc tranh thủ làm thêm mưu sinh.
“Trốn” Tết gia đình
Dịp Tết, dãy phòng trọ trên đường Dương Quảng Hàm (Q. Gò Vấp, TPHCM) không nhộn nhịp như mọi ngày nhưng vẫn còn nhiều phòng còn người ở lại. Bên cạnh những bạn sinh viên xa nhà còn có 3 anh chị cử nhân chưa kiếm được việc làm cũng không về quê Tết này.
Trong đó có hai người tốt nghiệp ngành Tài chính ngân hàng của một trường ĐH lớn của thành phố. Nguyễn Đức Tân, một trong hai người này từng đi làm ở ngân hàng, thất nghiệp gần 2 năm nay sau đợt cắt giảm. Có gia đình hỗ trợ tiền bạc nên Tân không khó khăn về tài chính như nhiều người khác. Nhưng thất nghiệp kéo dài, Tân thấy thiếu tự tin khi đối diện với người thân.
Năm ngoái, Tân về quê ăn Tết khi vừa nghỉ việc, đã không mấy vui vẻ khi gia đình, bạn bè hỏi han tình hình công việc. Nên năm nay cậu quyết định không về quê đón Tết.
Cạnh phòng Tân, ông anh tên Đạo, quê Phú Yên, tốt nghiệp ngành Quản trị kinh doanh đã hai năm “trốn” gia đình, ăn Tết ở thành phố do túng tiền đi lại, quà cáp. Từng về quê xin việc nhưng bất thành, Đạo trở lại thành phố, có nửa năm nằm chờ việc phải mượn tiền bạn bè chi tiêu.
Chờ hoài không được, Đạo đi bán hàng rong ở chợ đêm, chạy xe ôm… mà rồi đụng đâu cũng túng trước hụt sau. Khoản nợ cũ chưa trả, cuối năm Đạo còn khất chủ nhà hai tháng tiền phòng.
Ở lại mấy ngày Tết, Đạo nhận việc chăm cây cảnh cho một gia đình đi du lịch nước ngoài, cậu hy vọng kiếm đủ tiền để trả tiền trọ. Tết với Đạo chỉ mấy gói mỳ hoặc có tiệc nào trong xóm trọ thì cùng sà vào chung vui.

Thất nghiệp, không về quê, nhiều cử nhân giam mình trong phòng trọ ngày Tết.
Mấy ngày Tết ở lại thành phố, Nguyễn Thị B. – cựu SV một trường đại học tại TPHCM ôm hoa lên trung tâm thành phố bán dạo. B. thất nghiệp cả năm nay, sống tạm bợ với công việc gia sư buổi tối, ngày đi phát tờ rơi. Cuộc sống một mình ở thành phố thiếu thốn đủ đường, muốn về thăm quê chỉ có cách xin tiền bố mẹ nhưng gia đình B. thuộc diện khó khăn, đến khoản nợ gia đình vay mượn ngân hàng đi học nhiều năm qua chưa trả nổi.
“Con bận trực Tết!”
Không có việc làm, nhiều cử nhân cố “bám” thành phố với những công việc tạm bợ, điều kiện sống hết sức chật vật. Thế nhưng không phải ai cũng có thể chia sẻ với gia đình về tình cảnh thực sự của mình. Nhiều cử nhân giấu nhẹm thực tế cuộc sống khó khăn ở thành phố do không muốn bố mẹ lo lắng hay thất vọng về mình.
Như Nguyễn Thị B., bố mẹ không biết công việc thật sự của cô mà tưởng con gái đang làm việc tại một siêu thị. B. “đóng vai” một người có công ăn việc làm đàng hoàng, thu nhập tạm ổn. Để bố mẹ khỏi thắc mắc vì sao Tết không về, B. đành viện lý do… bận trực. B. còn vay tiền người bạn gửi về biếu Tết để bố mẹ yên tâm.
Thanh Thúy, cử nhân ngành Xã hội học cũng từng nộp hồ sơ xin việc khắp nơi, cũng đi làm ở một vài chỗ mà chưa tìm được công việc ổn định. Khi thấy tình hình công việc không khả thi, Thúy làm đủ việc như chạy bàn, gia sư… Và hiện tại Thúy đang làm công nhân tại một công ty sản xuất giày da.

Công việc ở phố bấp bênh nhưng vì áp lực từ sự kỳ vọng, nhiều cử nhân giấu gia đình về công việc thực sự của mình.
Bố mẹ ở quê nghĩ Thúy làm cho một tổ chức phi chính phủ, không nghĩ con mình tốt nghiệp ĐH đi làm công nhân. Cũng như nhiều cử nhân khác, Thúy chịu áp lực rất lớn từ kỳ vọng học ĐH phải đổi đời của gia đình khi bước vào giảng đường.
Sống trong “vỏ bọc” đó, Thúy trở nên ngại đối diện, tiếp xúc với mọi người. Chỉ duy nhất cô bạn cùng quê biết tình cảnh của Thúy. Cô bạn có ý cho Thúy mượn tiền để về nhà nhưng Thúy lắc đầu. Về tốn kém, công việc bao năm bấp bênh thành ra Thúy muốn “trốn”. Hơn nữa, người bạn của Thúy việc ổn định hơn nhưng cuộc sống ở phố cũng rất khó khăn.
“Nhìn mọi người sum vầy mà tao muốn khóc quá mày ơi. Tao không nghĩ Tết ở Sài Gòn lại buồn đến thế này , nhớ nhà nên đi đâu cũng không vui”, trước giờ giao thừa Thúy nhắn tin cho cô bạn – là người duy nhất cô có thể chia sẻ.
Không chỉ Thúy, có lẽ còn không ít bạn trẻ ra trường chưa có việc làm, không về ăn Tết gia đình đang trải qua những ngày nghỉ không mấy nhẹ nhàng vì nhớ nhà và canh cánh nỗi lo công việc trong năm tới. Trong năm qua, cả nước có khoảng 10 vạn sinh viên ra trường đang thất nghiệp, chưa kể những cử nhân đang làm đủ việc như bán hàng rong, phụ hồ…
THEO DÂN TRÍ


Read more: http://www.ttxva.net/that-nghiep-cu-nhan-tron-tet-gia-dinh/#ixzz2sLEAFyuB


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tết con không về: Nỗi lòng tết xa quê của người họa sĩ tàn tật


Anh Tâm đang vẽ tranh bằng miệng tại Trung tâm Chắp Cánh.
Suốt hơn 20 năm đón tết xa quê, anh Đỗ Minh Tâm (SN 1973, quê Thanh Hóa, hiện là thành viên của Trung tâm Chắp Cánh, phường Bình Hưng Hòa A, quận Bình Tân, TPHCM) mong có một ngày về thắp nén nhang cho cha me, tổ tiên, nhưng ước mơ của anh cứ thế xa dần đối với một người tàn tật như anh.
Cho con tạ lỗi cùng cha mẹ trên chiếc xe lăn
Kể về hoàn cảnh của mình, anh nói mới 4 tuổi anh đã xa cha mẹ ruột rồi được ông Đỗ Văn Dung (SN 1929) và bà Đỗ Thị Niêm (SN 1928, ngụ tại xã Xuân Hòa, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa) nhận về làm con nuôi. Do còn nhỏ, họ tên cha mẹ ruột bây giờ anh không còn nhớ nữa.
“Bị tai nạn chưa được bao lâu thì cha nuôi mất. Nghe tin, tôi như rã rời tay chân. Không muốn để mẹ già ở quê bận tâm, tôi cắt đứt toàn bộ liên lạc với gia đình. Suốt hơn 20 năm chưa được về quê, bất ngờ tháng 6 vừa rồi nhận tin mẹ mất, tôi xin trung tâm cho phép về để tang cho mẹ”. Chịu tang xong, tạm biệt quê hương thân yêu, anh mong có ngày sớm quay về.
Một trong số nhiều tác phẩm của người họa sĩ tàn nhưng không phế.
Khai trong hồ sơ tại trung tâm là “tứ cố vô thân”, nhưng trong không khí sum họp của những ngày tết đang đến, nỗi nhớ nhà, nhớ quê lại trào dâng trong lòng người con xa xứ. Tuy sống trong tình thương của những tấm lòng nhân ái và anh em cùng cảnh ngộ trong mái ấm, nhưng anh vẫn thấy thiếu một cái gì đó.
Nhớ nồi bánh chưng, nhớ phút giao thừa, nhớ những kỷ niệm ngày tết nơi quê nhà… Tất cả nỗi nhớ đó, anh dồn nén bấy lâu, nay muốn chuyển những lời chúc tốt lành đến những người thân còn lại ở quê.
Vượt lên số phận bằng mối lương duyên với hội họa
Ngồi trên chiếc xe lăn bằng điện với chiếc ống được nối trực tiếp từ thận ra một chiếc bình, anh kể lại câu chuyện trớ trêu của cuộc đời trong căn phòng nhỏ của Trung tâm Chắp Cánh.
Năm 1992, anh Tâm nhập ngũ vào Lữ đoàn 955, Vùng 4 Hải quân. Những năm đi lính, anh thường xuyên cùng đồng đội vận chuyển hàng ra các đảo thuộc quần đảo Trường Sa. Ra quân chưa được bao lâu, anh cùng đồng đội cũ lên tỉnh Đắc Lắc lập nghiệp.
Năm 2001, khi ước mơ gần thành hiện thực, bỗng một tai nạn bất ngờ ập đến với anh. Bị chấn thương cột sống cổ, rồi bị liệt tứ chi, anh nằm ly bì ở bệnh viện. Những đồng tiền tích lũy ngày nào cũng không đủ chi phí thuốc men. Bị hành hạ bởi những cơn đau không dứt, anh mong sao mong sao có được một ngày không bị vết thương hành hạ.
 Suốt hơn chục năm rồi, cuộc sống anh gắn liền với chiếc xe lăn,
Anh Tâm kể, nhiều lúc đang ngồi trên xe lăn mà mồ hôi toát ra như tắm vì những cơn đau không dứt. Chấn thương cột sống cổ kéo theo lục phủ ngũ tạng của anh cũng bị hư hết. Ngày qua ngày, những cơn đau lại cứ hành hạ anh, cuộc sống anh bắt đầu làm quen với chiếc xe lăn, tương lai tối mịt.
Thương người bạn chí tình trong lúc nguy nan, một đồng đội đã chuyển anh về Bệnh viện Chấn thương-Chỉnh hình TPHCM để điều trị. Suốt hai năm trời, các bác sĩ tại đây đã cố giành giật sự sống của anh từ tay ''Thần chết''. Bệnh tình có phần thuyên giảm, nhưng khả năng lao động của anh bị mất hoàn toàn, anh bắt đầu suy sụp về ý chí khi nghĩ về bản thân, nghĩ về bạn bè.
“Những ngày nằm trên giường bệnh là những ngày tôi mất hết ý chí, lòng tin vào cuộc sống. Từ một người khỏe mạnh, bỗng chốc trở thành một người tàn phế, mọi hoạt động đều phải nhờ vào người khác, tôi thấy cuộc đời của mình như đã kết thúc”.
Được sự động viên của những người cùng cảnh ngộ và các bác sĩ tại đây, dần dần anh thay đổi suy nghĩ theo hướng tích cực hơn. Thấy người bệnh nhân tuy tàn tật nhưng vẫn có niềm tin vào cuộc sống, một vị bác sĩ đã chuyển anh về Trung tâm Chắp Cánh để anh có cơ hội được chăm sóc tốt hơn.
“Đầu năm 2006, được một thầy ở trung tâm nhận vào lớp vẽ tranh. Thấy mình không làm được việc gì thì buồn chán nên tôi tham gia. Những ngày đầu, ngậm cây cọ vào miệng để vẽ thì cọ liên tục rơi, màu dính vào người… tôi muốn bỏ cuộc. Đến một ngày, thầy cho tôi ngậm một cây bút chì buộc vào một cây tre, bảo tôi vẽ khuôn mặt một cô gái lên trang giấy trắng. Nhìn bức phác họa của tôi, thầy nói “em sẽ thành công, hãy cố gắng nhiều hơn”. Từ đó, được sự động viên, dạy bảo, chỉ dẫn tận tình của thầy, tôi dần dần nắm được những nguyên lý cơ bản rồi kết duyên với hội họa lúc nào không hay”.
Không phụ sự cố gắng của anh, năm 2008, một tác phẩm của anh đã giành được giải nhất trong triển lãm tranh của người tàn tật diễn ra tại Nhật Bản. Thành công nối tiếp thành công, năm 2010, tác phẩm sơn dầu mang tên “Bước ngoặt” của anh đã giành được giải nhất trong cuộc thi sáng tác “Người khuyết tật và việc làm” do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội tổ chức.
Cuối năm 2013, bức tranh anh vẽ lại chuyến hàng đầu tiên ra đảo Núi Le (thuộc quần đảo Trường Sa) thời còn tại ngũ đã lọt vào vòng chung kết gồm 40 tác phẩm tự họa của giải The Dogmaprize 2013.

Báo Lao Động trân trọng mời bạn đọc chia sẻ cảm xúc, suy nghĩ, tâm tư của người con Tết không về tới người thân thông qua trang web của Báo Lao Động tại laodong.com.vn.
Đây là chương trình phối hợp giữa Báo Lao Động và Kênh VTV6 - Đài THVN.
Các lời chúc, clip do bạn đọc gửi về sẽ đăng tải trong chuyên đề "Tết con không về..." của Báo Lao Động và được lựa chọn phát trong bản tin 18h các ngày từ 30 tháng Chạp đến mùng 3 tháng Giêng trên VTV6.
Nội dung chia sẻ xin gửi về toasoan.laodong@gmail.com. Có thể ghi rõ tên, địa chỉ, điện thoại của người nhận.
Ghi chú: Clip ngắn có thể gửi kèm theo mail. Các clip dài, bạn đọc vui lòng upload lên một trang cụ thể như Youtube, Google Docs, Mediafire... và gửi đường link cho tòa soạn để tải về.
Rất mong nhận được nhiều sự chia sẻ của quý độc giả.
Trân trọng!
Ban TKTS Báo Lao Động điện tử.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chủ Nhật, 2 tháng 2, 2014

Tin hóa vàng

Nguyễn Quang Vinh

Nhà mình thì chưa, nhưng hôm nay đa số gia đình đã làm mâm cúng tiễn chân tổ tiên, kết thúc tết, hóa vàng.

Nay thì điểm vài tin thuộc dạng hóa vàng coi sao.

Bộ trưởng Ngoại Giao, PTT Minh nói rất say sưa và tưng bừng về
những thành tựu ngoại giao nước nhà, đặc biệt là ông- nói theo cách báo lá cải hay viết- ông Minh đã " hé lộ" rằng, Việt Nam số 1 về phiếu bầu vào Hội đồng nhân quyền. Tự hào quá.

Nhưng cũng lúc này, bỗng dưng nhà báo độc lập Phạm Chí Dũng bị chặn lại ở sân bay không cho xuất cảnh vì lý do rất cảm động, sợ anh Dũng qua bển bị bọn xấu lợi dụng nói xấu chế độ. Lý do dễ thương thế nhưng có vẻ như ở ta, rút ra cũng khó mà đút đầu vô cũng không dễ nhỉ? Như thế theo bọn tư bản giẫy mãi chưa chết là vi phạm nhân quyền. Đéo mẹ, vi phạm nhân quyền thế đéo nào được, đó là bảo công dân Việt khỏi bị lôi kéo và lợi dụng hiểu chưa? Hóa vàng tất cả chúng mày.

Có cái số 1 này nữa ít được tổng kết hơi phí, là nước ta là nước duy nhất trên thế giới có mục bầu người nghèo, bầu thôn nghèo, bầu xã nghèo, lại nữa, dành được một suất nghèo là vô cùng gian nan, vô cùng hồi hộp, vô cùng tự hào, vô cùng vinh dự, vô cùng no ấm, nhỉ? Như một suất hóa vàng phải không ta? Khà khà.

Có điều lạ nữa, sao khu vực Quảng Ngãi, Phú Yên cứ liên tục ăn bớt, ăn xén đủ thứ của người nghèo thế nhỉ, cả hàng cứu trợ bão lụt, cả gạo cứu đói tết, là răng, các bạn fb trong đó ( đặc biệt là bạn Thâm Hiểm) mần câu trả lời nguyên nhân thử coi.

Nói không phải mê tín chứ năm nay nhiều nơi, trong đó có quê hương yêu quý của mình, đêm giao thừa phải nói là đốt pháo tứng từng tưng, đốt pháo như không khí trước khi cấm pháo, và không còn thấy ai kiểm tra, không còn đe dọa gì nữa, đốt vô tư, đốt công khai, đà này e tết sang năm cũng mần vài phong cho nó máu nhỉ, cái gì cấm ở nước ta có vẻ như được hiểu là được phép hay sao ấy nhỉ, ví dụ chỗ đái bậy thuận lợi nhất khi đi ở phố là nhè đúng vào chỗ cấm đái bậy, hầy hầy.

Hình như ở Cà Mau ( xin lỗi trước là nhớ không chính xác) năm nay còn có mục tổ dân phố đề nghị mỗi gia đình nộp vỏn vẹn 50 ngàn đồng để địa phương phát ảnh Bác Hồ nhằm lập bàn thờ Bác trước cửa nhà, cái này mình phản đối à nha, mần rứa không phải là tôn trọng Bác đâu là nha, Bác vẫn mong người dân thờ Bác trong tim chứ không mong đặt ảnh Bác ngay trước hiên nhà thế đâu à nha. Coi lại đi à nha. Là đang viết mót theo cách nói của người Nam bộ à nha, có sai đôi chút thì đừng trách nhái tiếng à nha, đầu năm tha thứ à nha.

Năm mới năm mẻ, tin điểm đầu tiên, có chi mần cho một phát lịke hoặc có thời gian mần thêm cho comment à nha. Ha ha.
----------
Đôi khi cũng là ước mơ của năm thì sao ta? Khà khà.


Phần nhận xét hiển thị trên trang