Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Chủ Nhật, 26 tháng 1, 2014

Bố náo bố nếu:

CƠ CHẾ ĐÔNG TÀN LÀM SAO THẤY GIẢI MÙA XUÂN ?


Nguyễn Hoàng Đức
Mùa xuân đang đến qua từng lọn gió nam tinh khôi trở về cùng những cánh chim én tung tăng bay lượn trong bầu trời đã buông rơi giá lạnh. Mùa xuân làm cho sự sống hồi sinh, và tất cả chúng ta như được phục sinh cùng muôn vàn cây cỏ đang bung mầm muôn hoa ngàn tía. Mùa xuân dạy con người điều gì nhiều nhất? Có lẽ đó là vũ trụ đã cải lão hoàn đồng – vạn vật luân hồi trong một chu kỳ khai sinh mới. Nếu không như vậy thì sự sống trên hành tinh là ù lỳ bất động, vạn vật khô cứng héo úa tàn phai xơ xác. Một dòng sông không chảy nước sẽ tù đọng và thối. Triết gia Nietzsche nói “con rắn không lột da sẽ chết”. Như vậy con rắn muốn lớn mà không lột da, tức là cởi tấm áo chật chội của mình thì sẽ không thể nào lớn được, lớp da đó sẽ chính là nhà tù ứ đọng cho thân xác của rắn. Và kỳ diệu thay, thiên nhiên chính là bài học của ông thầy tự nhiên, năm rắn đang lột da để biến thành năm ngựa.

 Vậy mà hãy nhìn xem giải thưởng văn học năm 2013 vẫn rủ nhau lục tục chui vào da của một con rắn già nua. Con rắn có lẽ là con bị nguyền rủa nhiều nhất thế giới. Ngay trong Kinh Thánh, mở màn thời Sáng thế, vì con rắn xui Eva ăn trái cấm mà Chúa Trời nguyền rủa: ngươi phải bò bằng bụng, bị chân của đàn bà dẫm đạp lên, cả đời rúc ráy chui lủi trong xó tối và bụi rậm. Và ác quỉ cũng như thuốc độc được biểu hiện chỉ cần hình con rắn.
Dẫu vậy lợi ích của con rắn rất lớn, vì hình thù nhỏ bé, lại trườn bằng bụng, nên nó dễ dàng trườn vào bóng râm, gầm ghế quyền lực và các giải thưởng. Ở đâu nó cũng bò vào được, ngay cả cung vua, phủ chúa, ngai vàng bò vào ngon ơ?! Ngược lại con ngựa thì hí những tiếng kiêu hùng, xông pha trận mạc trường chinh khói lửa, sẵn sàng mang vinh quang “da ngựa bọc thây”. Nhưng mà ngang trái thay bi kịch của thiên nhiên. Một con lợn đần độn có thể nhai cả trăm con rắn bắt chấp các loại nọc độc. Tại sao? Vì con lợn căn cứ vào tính mục đích của mình, nó thường xuyên hiến thịt và tiết canh cho nhân loại, nên nó không coi cái loại rúc ráy xó xỉnh chỉ được vài lạng ngâm rượu là gì! Nhưng một con ngựa kiêu hùng chẳng hề sợ đại bác, khói lửa lại rùng mình trước con rắn bé hơn mình cả ngàn lần. Tại sao? Ở đời quân tử vẫn ngán tiểu nhân là bình thường, như người Việt nói “không rây với hủi”. Nhà bác học vĩ đại Einstein nói: Không thể chiến thắng bọn ngu vì thế lực của chúng rất đông. Con ngựa kiêu hùng minh bạch là vậy, nó không thể làm sao hiểu được có thứ rúc ráy không cất được tiếng kia, nhỏ xíu mà làm bộ khôn ranh nguy hiểm… và nó ngán như bậc quân tử không dám rây với tiểu nhân?!
Đây là những lời bàn muốn làm quà tặng cho mùa xuân. Giờ đi thẳng vào vấn đề, chúng ta thử xem giải thưởng văn học 2013 có lột được qui mô của “xác rắn” nặng trong tầm một kilo? Trong bài “Giải thưởng Hội Nhà văn năm 2013. Tự làm khó mình? Tác giả Hà Ngân có viết:
Giải thưởng thường niên năm nay người ta thấy phần lớn là những gương mặt hoặc đã quá “nhàu” hoặc lạ hoắc như thể không còn gì để xếp đầy “mâm cỗ tất niên”, nên đành vậy. Bởi lẽ, như luật bất thành văn, cứ đến mùa thứ 5, mùa của giới văn nhân, bao giờ mà chẳng có giải, giống như các cụ nhà ta thường bảo “cỗ nào chẳng có thịt gà”, năm hết Tết đến, không có giải, mất vui. Vì thế, không ít người cho rằng Hội Nhà văn đang tự làm khó mình xem ra cũng có lý.
Méo mó, có hơn không?”
Giải thưởng năm nay được trao cho các tác phẩm: tập truyện ngắn Bãi vàng, đá quý, trầm hương của Nguyễn Trí; tập tiểu luận và bút ký về nghề văn Phút giây huyền diệu của Ma Văn Kháng; tập thơ Những lớp sóng ngôn từ của Mã Giang Lân; …” Và:
Tất cả những người được giải năm nay đều thuộc lớp tuổi U 60, trẻ nhất là Nguyễn Trí (sinh năm 1958), tiếp đến là Nguyễn Văn Thái (sinh năm 1945), rồi đến Mã Giang Lân (sinh năm 1941) và cuối cùng là Ma Văn Kháng (sinh năm 1936). Như vậy, có thể nói, không có gương mặt nào trẻ về tuổi đời được giải năm nay.”

Như vậy có chứng tỏ, giải thưởng chỉ quanh quẩn chui vào lớp da già không chịu lớn của con rắn bé tẹo?
Thời dân chủ khác thời vua chúa là gì? Vua chúa thì cứ cha truyền con nối. Trái lại dân chủ là do dân bầu lên lãnh đạo bằng lá phiếu. Vì thế trong thời dân chủ, tổng thống, thủ tướng mất chức như bỡn chỉ sau vài tuần mất phiếu tín nhiệm của các cử tri. Giải thưởng Hội Nhà văn lâu nay lẹt đẹt quá, đã đến lúc chúng ta được quyền xác định: tài năng của các vị còn thấp kém và thiếu minh bạch lắm, cây xấu làm sao ra quả tốt, các vị chỉ phát hiện ra thơ phân tươi, nhân vật Năm Trì gãi háng, văng đếch vào thơ, hay mấy thành viên hội đồng chịu khó thập thò, đạo văn ngay đầu đề như “Giờ thứ 25” … Đã đến lúc quí vị nên tự hỏi tài năng, nhân cách của mình có tương ứng với giải thưởng? Hay quí vị là “cha truyền con nối” thấy mình được ngồi vào ghế là cứ thế phán truyền?
Để hiểu rõ điều này, chúng ta nên tìm hiểu qua một cây bút “nằm trong chăn lâu ngày” thấy rất rõ các loại rận to bé. Trong bài “Giải thưởng văn chương và những sự bất thường”, tác giả Hoài Nam viết:

Hãy nói về quy trình xét giải. Chẳng cần mất công nhiều lắm, người nào chịu để ý cũng sẽ thấy rằng quy trình xét giải trong các giải thưởng văn chương ở ta khá là nhiêu khê. Các ban bệ và hội đồng thường xuyên chồng chéo. Có hội đồng thơ, hội đồng văn xuôi, hội đồng văn học dịch, rồi lại thêm cả ban văn học an ninh quốc phòng, ban văn học dân tộc và miền núi, ban văn học thiếu nhi. Tác phẩm dự giải không lọt qua hội đồng thể loại này thì có thể chui vào ban văn học đề tài kia, cứ thế nháo nhào. Sự nháo nhào vẫn tiếp tục: sau xét giải ở cấp sơ khảo, là đến cấp chung khảo. Sẽ không có vấn đề gì hết nếu sau cấp sơ khảo, thành phần chấm giải cấp chung khảo là những người khác, những cây bút có thẩm quyền chuyên môn cao hơn, những uy vọng lớn của văn giới. Nhưng trớ trêu, cấp chung khảo thường chỉ là phép cộng giữa một phần vốn có của cấp sơ khảo với một phần là những người không mấy liên quan, nếu không muốn nói là hết sức “á ớ u ơ ngọn bút chì”, trước chính cái tác phẩm mà họ được trao cho quyền đầu phiếu. Với một quy trình xét giải như vậy, cộng với một tiêu chí xét giải như đã nói ở trên, việc tìm ra cho được những tác giả, tác phẩm xứng đáng nhất hầu như bao giờ cũng là mục tiêu khó đạt. Hay nói cách khác, chỉ có thể tìm ra những tác giả, tác phẩm xứng đáng nhất theo sự tùy hứng, theo ý chí chủ quan đồng bóng, thậm chí theo lợi ích của những người tổ chức giải thưởng mà thôi. Còn đối với đời sống văn chương và đối với độc giả, giải thưởng ấy mang rất ít ý nghĩa tích cực.
Nhưng đó vẫn chưa phải hậu quả xấu nhất. Điều đáng nói, và đây chính là dấu hiệu bất thường thứ hai: cung cách chấm giải, xét giải như vậy đã tạo tiền đề để khiến không ít nhà văn – nếu còn có thể gọi họ là nhà văn – đánh mất tư thế đàng hoàng của người cầm bút. Chẳng là vậy sao, khi một tác giả nào đó phải “vận động ngầm”, phải “đi cửa sau”, phải “ngỏ lời nhắc khéo” để xin từng lá phiếu của các thành viên ban giám khảo? Những nhà văn có thực tài và có tư cách không bao giờ “làm ăn” theo kiểu… bầy hầy như thế.”

Có phương ngôn “Không có tiêu chí thì không tìm ra người thắng cuộc”. Nếu không có tiêu chí thì anh chọn người được giải gì? Giả sử như thi người đẹp, người ta qui định trước hết là đàn bà (đàn ông không thể thi), chiều cao, ba vòng đo, rồi thi ứng xử. Thi hát là giọng hay vẫn có người xấu nhất đoạt giải cao nhất. Thi múa thì không cần hát. Nếu hội kia muốn cho giải mấy ông già liền rỉ tai nhau thi râu thì ông già sẽ thắng, thi ngực phồng thì gái trẻ sẽ thắng. Nếu lấy mức phân tươi hay văng tục làm nồng độ mỹ học thì ai đó văng được nhiều phân và tục nhất phải được giải nhất. Và cũng có phương ngôn “không có anh hùng trong mắt kẻ hầu phòng”, nếu chỉ là tư duy à ơi mua vui tiểu nông hát xướng mấy câu thơ cảm xúc lèo tèo lại mang sẵn lòng đố kỵ thì mấy chiếc kèn lá u ơ có đủ tầm phát hiện ra một đại phong cầm không?

Đã đến lúc chính những người chấm giải phải bị chấm lại. Và không thể có ban giám khảo được chăng hay chớ văn học bụng muốn chấm thế nào thì nên thế đó. Chúng ta hãy nghe tác giả Hà Ngân viết (bài nt):

Thiết nghĩ, một hội nghề nghiệp có uy tín và đã ra đời cách đây gần 60 năm (1957) như Hội NVVN cho đến nay vẫn chưa có bất kỳ một bộ tiêu chí nào làm cơ sở khoa học cho sự định giá tác phẩm văn chương. Nếu có bộ tiêu chí thực sự khoa học để đánh giá tác phẩm cũng như công khai quá trình xét chọn tác phẩm, thì chắc chắn sẽ giảm thiểu đến mức tối đa sự ỉ eo, đàm tiếu của dư luận về những áp lực từ lợi ích nhóm, từ những việc tiêu cực (nếu có), từ quan hệ thân sơ, những lá phiếu cảm tính và nhất là sự tắc trách trong khâu đọc và thẩm định tác phẩm.”

Anh sáng tạo, anh đề cao cảm xúc thế nào đó là việc của anh, nhưng khi muốn thẩm định người khác, anh không thể dùng văn học bụng tùy tiện cảm tính mà đánh giá. Không có tiêu chí của lý trí thì chỉ là cách quần sắn móng lợn à uôm ao chuôm nhảy đại vào văn học, rồi leo lên bục lĩnh giải cả người xét giải lẫn người nhận giải vẫn chỉ là chân dính bùn đội vương miện cỏ tươi mà thôi. Vương miện này không bao giờ bằng vàng mà nó sẽ héo trong một vài tháng. Và việc các cây bút trong biên chế  cán bộ viết văn, xã viên làm thơ được giải vẫn đói giải. Tại sao? Vì giải trên đầu đã héo nên muốn đội vào cái khác. Giải thưởng như vậy có khác gì đồ chơi tập trận của đám trẻ trâu?!
NHĐ  25/01/2014

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Đại gia Lê Ân vẫn chưa dám thử “siêu giường”


Sau gần 2 tuần chờ giấy tờ từ vương quốc Anh gửi sang để làm thủ tục thông quan, đại gia Lê Ân đã đưa được 10 kiện hàng liên quan đến chiếc giường đắt nhất thế giới ra khỏi sân bay Tân Sơn Nhất (TP.HCM).
Đại gia Lê Ân trong căn phòng trưng bày siêu giường
Sáng 22.1, đại gia Lê Ân cho phóng viên Một Thế Giới biết, chiếc giường Hoàng gia Anh được xem là đắt nhất thế giới mà ông đặt mua đã về đến Làng du lịch Chí Linh (Vũng Tàu) lúc 19 giờ ngày 21.1. 
Các bộ phận của chiếc “siêu giường” được đóng gói trong 10 kiện hàng, được 2 chiếc xe tải chở về.


“Kiện hàng to phải đến 20 người khiêng, còn kiện nhỏ 10 người khiêng mới được. Tôi đã đưa hết vào nhà trưng bày 10 kiện hàng, chờ nghệ nhân của hãng Savoir Beds (Anh) bay sang vào ngày 25.1 hoặc 26.1 mới dám mở ra xem”, ông Lê Ân cho biết.

Theo đại gia 75 tuổi, nhà sản xuất đã yêu cầu ông thuê thêm một nhóm thợ mộc tại địa phương để cùng nghệ nhân của hãng lắp giường. 

Dự kiến ngày 29.1 giường lắp ráp hoàn chỉnh, ông Lê Ân tiễn nghệ nhân về nước, cho nhân viên nghỉ Tết và mở cửa Làng du lịch Chí Linh vào mồng 2 Tết để đón khách vào tham quan, chiêm ngưỡng chiếc giường có 1 không 2 ở Việt Nam.

Để mua được chiếc giường đắt nhất thế giới này, ông đã chuyển sang Anh 184.000 USD. Tiền thuế nhập khẩu chiếc “siêu giường” sẽ phải đóng là 1,45 tỉ đồng.

Hàm Yên


Phần nhận xét hiển thị trên trang

VỚI VĂN CAO Mùa xuân với khát vọng bình thường

VỚI VĂN CAO

Mùa xuân với khát vọng bình thường

Ng. Đức  
Mùa xuân với khát vọng bình thường
Tình cờ, anh bạn Bùi Quang Minh mời chúng tôi đến nhậu bình thường. Trong một khoảnh khắc bình thường – nhưng lại mang một số biến cố của lịch sử dồn dập đến như tiên tri và định mệnh.

Chúng tôi gồm bốn người. Một người bạn chợt đưa ra một chủ đề đặc biệt, khi nhắc tới bài hát “Mùa xuân đầu tiên” của Văn Cao, bài hát được sáng tác ngay cuối năm 1975 – đất nước thống nhất và được phát lần đầu tiên vào Xuân Bính Tí 1976 (nhưng ca khúc bị phê bình là không đúng đường lối, không phục vụ thể chế, vì thế bản nhạc đã bị cấm phát hành. Nhưng các chương trình Việt ngữ tại Moskva vẫn phát bài hát, nên Mùa xuân đầu tiên đã không bị lãng quên. Năm 2000, tức 5 năm sau khi Văn Cao mất, bài hát cùng các tác phẩm khác của Văn Cao mới được biểu diễn trở lại).

“Mùa bình thường, mùa xuân theo én về
Mùa bình thường mùa xuân nay đã về
Mùa xuân mơ ước ấy đã đến đầu tiên
Với khói bay trên sông
Gà đang gáy trưa bên sông, một trưa nắng cho bao tâm hồn.
Rồi dặt dìu mùa xuân theo én về
Người mẹ nhìn đàn con nay đã về
Mùa xuân mơ ước ấy đang đến đầu tiên
Nước mắt trên vai anh, giọt sưởi ấm đôi vai anh
Niềm vui phút giây như đang long lanh.
Ôi giờ phút yêu quê hương làm sao trong xuân vui đầu tiên.
Ôi giờ phút trong tay anh đầu tiên một cuộc đời êm ấm.
Từ đây người biết quê người
Từ đây người biết thương người
Từ đây người biết yêu người…”


Đây là một bài hát khiến tôi xúc động mỗi khi nghe lại. Tôi nghĩ, tại sao những điều bình thường và bình dị lại rực rỡ trong mùa xuân đầy hào quang đến vậy. Tôi hỏi anh bạn có muốn nói gì không?Anh bạn nói: “Tôi ấp ủ và thao thức mỗi khi mùa xuân đến”. Một Văn Cao, qua thời kỳ Nhân Văn Giai Phẩm, khao khát một giấc mộng bình thường, rất đỗi bình thường, trong nghĩa đen của nó.

Tôi hỏi bạn, bạn ấy nói: “Tôi không thể bình luận như một nhà phê bình âm nhạc”, nhưng đó thực sự là những điều tâm niệm từ khi tôi cất tiếng chào đời.
Anh Minh nói: “Giai điệu thực sự mang âm hưởng của nhạc Pháp, đầm ấm và chân thành. Tuy nhiên, một mùa xuân hơi buồn, da diết, thương nhớ ai”.
Tôi- Nguyễn Hoàng Đức, từng nghe rất nhiều lần bài này. Tôi thực sự cảm động. Nhưng chợt dâng lên trong hồn những điều mang tính “nghịch lý”, tại sao trong ngày xuân trọng đại, Văn Cao lại sử dụng cụm chữ “mùa bình thường”?!

Được biết rằng, sau gần 30 năm biệt tăm không sáng tác một bài hát nào do từ tháng 7/ 1958, Văn Cao phải đi “học tập chính trị” tại Tây Bắc cho đến ngày đất nước giải phóng. Tôi chợt nhận ra, rằng: Văn Cao (con người đã vướng Nhân văn Giai phẩm), khi đất nước “đổi đời, đổi nước, đổi mùa xuân”, mà vẫn dám hạ 3 chữ “mùa bình thường”. Tại sao?

Người Anh có câu: “No news is the good news” – Không có tin gì là một tin tốt lành. Rằng chúng ta khi tỉnh dậy không có gì đột biến, nghĩa là cuộc sống vẫn bình yên. Chúng ta vừa ngủ dậy cùng cô vợ. Cô ta dậy soi gương và trải tóc bình thường rồi làm mọi việc giống như mọi ngày. Đó là một việc tốt lành! Giả sử vào một buổi sáng khác, cô ta la lên: “Ơ, cái nốt gì trên mặt em thế này…?” Đó là một biểu hiện lo lắng của sức khỏe. Và cũng chính là một dấu hiệu của bất an.

Chúa trước khi bị đóng đinh trên thập giá, có nói với các môn đệ rằng: “Thầy để lại bình an cho các con”. Có nghĩa bình an là món quà lớn nhất Chúa muốn để lại cho mọi người. Cũng có nghĩa là các môn đề dù phải dấn thân giữa một xã hội còn đầy bất công thì họ vẫn còn bình an, chân vẫn còn chân, tay vẫn còn tay, đầu vẫn còn đầu. Cuộc sống của họ vẫn còn được sống. Nhưng sự bình an Chúa hứa không bao hàm cả việc trả giá nếu phải dấn thân truyền đạo. Nhưng bình an Chúa hứa mang một dự phóng vươn tới vĩnh cửu rằng ta đã để lại hạt men bình an cho các con và muốn giữ được hạt men đấy phải trả giá thách thức để nuôi dưỡng nó. “Biển Thái Bình Dương có tên là Pacific, rộng nhất và ít cồn cào nhất, đó là Thái Bình. Nó bình an được cũng bởi vì nó rộng nhất và sâu nhất".

Người Việt có câu “Đoản hình tức tiếng” nghĩa là Hình bé thì tiếng the thé, còn hình lớn thì tiếng ấm êm. “Con chó thức đêm ngủ ngày vì đêm phải trông trộm còn ngày được ngủ yên”. Nhưng Văn Cao đã mơ ước đến một giấc mơ chưa có nghĩa rằng trong ánh sáng chói chang nhất vẫn có những bóng đen rình rập và ám ảnh con người. Và ông đã ước mơ buổi trưa đó là một buổi khải hoàn bình thường như ánh sáng mà không phải mang ác mộng như người Trung Quốc nói “Đêm dài lắm mộng”. Như ông viết “Một tia nắng trưa cho bao tâm hồn”.
Giấc mộng bình thường của Văn Cao khiến chúng tô rưng rưng cảm động và suy nghĩ. Tâm hồn ông thật rộng lớn và bất an. Nó không khác gì chim bị bắn nhìn thấy cành nào cũng cong. Và ngay cả ánh sáng giữa trưa hè cũng sợ phải nhìn ra ác mộng. Và giấc mơ bình thường của ông được hát lên giữa một mùa xuân trăm hoa đua nở, vạn vật sinh sôi, cảm thấy xa hoa làm sao. Một cái bình thường thật xa hoa! Một giấc mơ thật bình thường dường như khó với như là lý tưởng. Giá chúng ta được sống bình thường trong giấc mơ thái bình, không phải lo gì về những điều vi hiến, bất hợp hiến, thiếu vắng sự bình an khiến những người bình thường phải nơm nớp lo lắng.
Đó là điều chúng tôi như trùng xuống và rơi vào thông cảm với Văn Cao. Ông là một con người rất phi thường nhưng chỉ ôm ấp một giấc mộng bình thường như món quà Chúa để lại cho nhân gian, đó là bình an. Một nền bình an phi bút mực nhưng được khắc dấu không nguôi trong tâm hồn rằng: Con người ta phải biết sống công lý và yêu thương thì mới đi đến được nền bình an đó. Sự bình thường của ông là một bình thường ao ước. Một sự bình thường phải trả giá bằng chính sự trải nghiệm mất mát của đời ông. Có phương ngôn rằng Không có cái gì giá trị mà không phải trả giá. Ao ước sự bình thường của ông liệu có giống ao ước của nhiều người. Nếu không giống thì tại sao nhiều thế hệ lại hát lên lời ca “bình thường” say mê như thế???


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nguyễn Hoàng Đức - kẻ mộng du giữa đời thường



 

Sương Nguyệt Minh
Nguyễn Hoàng Đức có hai con người trong ông: Một thông minh, sắc sảo, hùng biện, tranh luận gắt chói đến tận cùng lý tính, với sống đời sống thường nhật rất đỗi thật thà, xuề xòa, hồn nhiên cảm tính. Hai, là kẻ mộng du, ảo tưởng khoác sau lưng nặng trĩu hành trang nguyên lý sang trọng sục sôi phiêu du đến những khoảng không “chân chẳng bén đất cật chẳng bén trời”. Tôi nghĩ: Chính cái chân trời của lý tính luôn ngự trị trong tư duy và cõi mộng tưởng kỳ vĩ của ông cộng với mặc cảm thân phận không được công nhận danh tính đã làm nên cái đặc sắc mang tên Dị nhân Nguyễn Hoàng Đức – kẻ mộng du giữa đời thường.
1. “Nhà triết học số 1 châu Á?”
Ngườita kể rằng: Nguyễn Hoàng Đức được ở bên Đức cha Nguyễn Văn Thuận (một trong nhữngngười được đề cử bầu Giáo hoàng) 4 năm. Qua 4 năm, ông Đức từ một cán bộ an ninh trở thành con chiên ngoan đạo của Chúa, được Chúa giao trọng trách khai sáng đám văn nghệ sĩ u mê. Ông Đức bỏ việc nhà nước, bỏ hết cả mọi danh hiệu hư vinh… chỉ làm mỗi một việc học tiếng Anh, tiếng Pháp, đọc các trước tác Triết học,Thần học, Văn chương – Nghệ thuật và… viết. Từ dạo ấy, ông không còn là con người bình thường nữa. Ông nhìn mọi người bằng con mắt thương cảm như một bề trên nhìn chúng sinh đang lầm than, u mê cần phải khai sáng bằng Triết học, Thần học.Trong ông có một kho tàng tri thức của nhân loại được tích hợp từ các vĩ nhân: Aristotle,Descartes, Kant, Hegel, Nietzsche… và Kinh Thánh…Ông luôn lấy các vĩ nhân làm chuẩn và bỗng dưng thấy cái đám nhà văn Việt Nam thấp bé, mỏng manh, lọ mọ.
Tôi gặp Nguyễn Hoàng Đức lần đầu trong Trại viết tiểu thuyết Hội Nhà Văn cuối năm 2007 ở Quảng Bá, dù trướcđó đã từng đọc nhiều triết luận văn chương của ông ở Tạp chí Sông Hương, Cửa Việt và những bài luận về đàn bà về tình yêu ở báo Phụ nữ và chuyên san “Hạnh phúc gia đình”.


Hôm ấy, tôi bỡ ngỡ, lạ lùng đến mức cảm thấy ông “đột ngột xuất hiện như một niềm kinh ngạc” giữa đời thường. Trong bữa cơm, tôi chứng kiến một trận thư hùng có một không hai về triết học giữa Nguyễn Hoàng Đức và nhà thơ Đỗ Minh Tuấn. Ông Đức xuất kho nhà triết học Aristote thì ông Tuấn dẫn ra Nietzsche. Ông Tuấnlôi Khổng Tử, Mạnh Tử dậy thì ông Đức bác luôn phương Đông không có triết học, còn tư tưởng thì lìu tìu không tính, rồi ông khai quật Descartes, Kant, Hegel…

Không khí tranh luận bỏng gắt hừng hực bốc hơi, Nguyễn Hoàng Đức hiên ngang tuyên bố: Ở Việt Nam không có đối thủ triết học để tranh luận cùng ông; có nghĩa là ông đẩy nhà thơ Đỗ Minh Tuấn xuống hàng sau ông và sau bao nhiêu bậc thì ông không nói rõ. Bữa ấy, tôi chêmvào: “Giáo sư Trần Văn Giàu nói rằng: Bản thân mình và đồng nghiệp chỉ là người nghiên cứu, giảng dạy triết học, ở Việt Nam chỉ duy nhất có Trần Đức Thảo là nhà triết học mà thôi”. Tôi dẫn ra các tác phẩm của Trần Đức Thảo tiên sinh như: “Hiện tượng học và chủ nghĩa duy vật bịên chứng” và “Nghiên cứu nguồn gốc ngôn ngữ và ý thức” được phương Tây công nhận đánh giá là kiệt xuất và đưa vào Từ điển triết học thế giới. Nguyễn Hoàng Đức liền lôi phắt chuyên luận triết văn “Ý hướngtính văn chương” dầy 640 trang của mình ra bảo: “Tôi đập nát bét. Tôi đập nát bét”. Sợ quá! Chẳng hiểu ông đập bét tôi hay đập nát nhà triết học Trần ĐứcThảo? Nghĩ nhanh mới biết mình dại, và tôi ân hận, lẽ ra cứu bữa cơm rượu ngon chỉ bằng cách dẫn các nhà triết học cổ đại Socrate, Platon…tầm nhân loại thì may ra “Nhà triết học số 1 châu Á” mang tên Nguyễn Hoàng Đức mới đối thoại.
Hôm đó, ông hùng biện phân tích“Ý hướng tính văn chương” bao gồm 6 chương. Ông đi từ bản tính sáng tạo của con người qua chân lý, đến Thượng Đế, rồi hạ xuống con người, đến siêu hình học, và văn chương cứu rỗi con người, đến phương tiện của tư duy và văn chương – chính là chữ nghĩa. Ông bảo vệ đến cùng luận điểm: ở Việt Nam ông không có đối thủ triết học, dù cơm có nguội, canh có lạnh thì mặc kệ canh cơm. Khi căng khi chùng, có lúc lớn tiếng đến mức các mâm bên cạnh tối tăm mặt mũi như gặp bom B52 trút xuống Hà Nội mùa đông đỏ lửa năm 1972. Ai cũng thấy kì lạ, dường như gác đũa, há hốc miệng nghe và rồi ù tai chẳng hiểu ông nói gì, và mình thu nhận được kiến thức gì trong cái mớ triết học mênh mông của ông. Ngay cả khi ấy, tôicũng nhận ra một nỗi buồn cô quạnh của ông khi ông nói mãi, giải thích mãi mà cái đám chúng sinh người trần mắt thịt chúng tôi không chịu hiểu ra, không nhìn thấy một Hy mã lạp sơn triết học đang ngồi lù lù trước mặt. Từ lúc đó, tôi cũngkhông gắp thức ăn được nữa, chỉ làm mỗi việc… châm tửu hầu ông mải mê thăng đồng chia cắt, định giá, so sánh văn hóa Đông - Tây và sắp đặt nền triết học thế giới một cách rất lành mạnh, đáng yêu, chân thành và nồng nhiệt.

2. Dâng hiến văn chương - nghệ thuật…cái gì cũng nhất.
Nguyễn Hoàng Đức coi thường ra mặt và chê ỏng chê eo nền thơ Việt Nam: “Thơ Việt có thể nói có đến 80% là giành cho các cụ già, tổ hưu, hay giám đốc đã làm xong công việc kiếm quyền kiếm tiền, giờ quay sang kiếm tí danh thơ”. Ông bảo: “Thơ Việt là lời hát ru à ơi của những hàm răng móm.” Ông mắng các nhà thơ: “Họ không có lý tưởng tự do, bình đẳng bác ái lại chui ra từ tem phiếu. Hơn 90% là vô thần! Tri thức công nông binh về tráng men văn hóa ở trạm cấp cứu Nguyễn Du, còn lại là các cụ tổ hưu đã hết sắc hương!” Ông không coi thơ Đường là hay, toàn là những bài tả cảnh tả tình, khá hơn thì nói được cái chí của người quân tử, và đặc biệt toàn những bài lẻ tẻ, ngắn tũn; không thể gọi là những binh đoàn chữ mà tác giả là thống tướng cầm cây gậy chỉ huy. Thơ với ông phảilà trường ca Illiad, và Odyssey của Homer, hay Thần khúc của Dante dài 100 khổ, gồm 14 226 câu thơ. Và ông đã đạt được những điều đó bằng tinh thần sục sôi,không mệt mỏi của mình. Nói có sách mách có chứng, Nguyễn Hoàng Đức nhễ nhại khuân ra xếp cả đống thơ, và chứng minh quyển nào cũng dạt dào tư tưởng: Kẻ hành hương từ đời đến thơ là trường ca mỹ học dài nhất thế giới. Trường ca Đợi... chuyến đò đã lỡ tất nhiên cũng là một bài thơ tình dài nhất thế giới.Điệu kèn cô đơn là tập thơ mang thông điệp tự do tư tưởng… dài nhất thế giới. Thế giới cũng chưa có Trường ca Thần học nào dài hơn Trường ca Thần học “Ngước lên cao” củaông.
Thơmới cũng chẳng là cái đinh trong mắt ông: “chỉ là một cảm xúc vừa phải” và ông gạt sang một bên. Còn đại thi hào Nguyễn Du thì ông cho là đạo văn của ThanhTâm Tài Nhân. “Không có “Đoạn trường tân thanh” thì có Truyện kiều không?” Ông hỏi tôi và ông truy bức tôi phải trả lời ngay: có hay không? và không được kèm theo chữ… nhưng. Vì theo ông câu trả lời rất dễ, cái cần thiết không chỉ trình độ mà còn phải có bản lĩnh to lớn nhất. Theo ông, nhà thơ là phải có nhiều bài, nhiều câu nhiều tập và phải biết viết Trường ca. Không biết viết trường ca coi như chỉ là nhà thơ hạng hai, cũng như nhà văn như Sương Nguyệt Minh chưa in tiểu thuyết thì trong mắt ông cũng chỉ đáng là nhà văn hạng hai hạng ba. Ông bảo: Mộtcâu thơ hay, một bài thơ hay cũng chỉ là túp lều xinh xắn. Trường ca mới là lâuđài đá xanh uy nghi, hùng dũng.
NguyễnHoàng Đức chê văn xuôi Việt không có tư tưởng. Ông bảo: “Tắt đèn, Số đỏ, Chí Phèo, đều là những tác phẩm cóchuyện gay cấn.” Ông đọc Nguyễn HuyThiệp gần hết, nhưng Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Lê Lựu thì chưa. “Nỗi buồnchiến tranh” của Bảo Ninh thì ông mới đọc mấy chục trang. Còn tôi, ông hạ mình “ban phước lành” đọc cho một truyện ngắn Dị Hương đã là quá may mắn; tất nhiên đó làviệc làm bất bình thường đối với ông. Tôi bảo: Ông là “nhà lý luận phê bình hàng đầu thế giới” không đọc tác phẩm mà dám cả gan định giá nền văn học hiện đạiViệt Nam. Ông nói tỉnh bơ, chân thành, không có ý cao ngạo: “Nhìn cánh én là biết cả mùa xuân”.
NguyễnHoàng Đức viết một chuyên luận về truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, và theo ông: Sau khi in chuyên luận ấy thì Nguyễn Huy Thiệp xệp như con dán, ông coi như làm xong nhiệm vụ vinh quang thay thời gian là lấp đất chôn xong văn chương Nguyễn Huy Thiệp. Ông Thiệp không còn lý do gì tồn tại trong tư duy của “nhà lý luận văn học hàng đầu thế giới” mang tên Nguyễn Hoàng Đức. Theo Nguyễn Hoàng Đức, ông đã giải huyền thoại Nguyễn Huy Thiệp và ông cũng quả quyết: “Sau bài của tôi, bữa tiệc của Nguyễn Huy Thiệp chỉ còn là bữa ăn tươi”. Tôi bảo: “Truyện ngắn ôngThiệp vẫn in đều đều, còn cái tiểu luận của ông đòi xóa sổ hộ khẩu văn chương ông Thiệp, thì chẳng ai nhớ và chẳng ai in”. Nguyễn Hoàng Đức bảo: “Không phải bây giờ mà sau này lịch sử văn học phải ghi công tôi đã xóa sạch văn chương Nguyễn Huy Thiệp, Trần Đăng Khoa và cả nền văn học mậu dịch tem phiếu”.
NguyễnHoàng Đức luôn bảo người tranh luận đề xuất một nhà lý luận giỏi nhất Việt Nam để ông thách đấu. Đưa ra người nào ông cũng bác thẳng thừng, coi họ là lọ mọ, lìu tìu. Ông bảo: “Gọi là có máu mặt như Trần Mạnh Hảo và Đông La hùng hổ ở đâu, chứ gặp tôi, tôi lừ mắt một cái là cóm róm ngay. Tung hoành ngang dọc gì cũng chỉ từ vĩ tuyến 17 trở vào, chớ dại có vượt sông bến Hải ra bắc”. Lúc nào ông cũng ngong ngóng mong Trần Mạnh Hảo, Đông La chạm đến ông là ông vác trùyra xới. Ở lĩnh vực triết học, đến như Trần Đức Thảo còn dưới cơ ông thì khôngcòn ai đáng để ông đối thoại. Trong “Ký ức lộn xộn về nhà Triết học số 1 châuÁ”, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều viết: “Một lần gặp Trần Mạnh Hảo, nhà phê bình mà theo Nguyễn HoàngĐức là nhà phê bình “cả vú lấp miệng em” nhất Việt Nam, Nguyễn Hoàng Đức chỉtay vào mặt Trần Mạnh Hảo, tuyên bố: “Nếu ông bước vào sới triết học thì tôichỉ đập một nhát là nát bét đầu ngay”. Tôi đem chuyện này hỏi Nguyễn HoàngĐức, ông gật đầu xác nhận với tinh thần bừng bừng thách đấu.
NguyễnHoàng Đức chê Mạc Ngôn không xứng đáng đoạt Giải thưởng Nobel và ông viết hẳn một bài dù chưa hề đọc Mạc Ngôn. Theo ông, Mạc Ngôn được Giải thưởng là do Trung Quốc chạy giải. Cả quốc gia chạy giải thưởng Nobel cho Mạc Ngôn. Vì Trung Quốc chưa hề có triết học, chưa hề có tư tưởng, văn chương thiếu hai điều đó thì văn chương không lớn. Nhìn hạt cát biết sa mạc, mùa xuân văn học Trung Quốc đã đì đẹt như thế thì cánh én Mạc Ngôn cũng không bay qua Vạn lý Trường Thành đến với tưtưởng nhân văn nhân loại.
Trongtư duy của Nguyễn Hoàng Đức, thước đo giá trị văn chương nghệ thuật trước hết là phải dầy dặn, đồ sộ. Sách in là phải có gáy dầy, sách đóng ghim mỏng tang dù hay, ông cũng không thèm để mắt. Hấp dẫn dở hay thế nào tính sau, cứ phải dầy, cứ phải dài, cứ phải đồ sộ đã. Sau đó là tư tưởng, không có tư tưởng chỉ là thứ bèo bọt mua vui ở chốn hề chèo. Gia tài văn học của Nguyễn Hoàng Đức khá đồ sộ,chỉ tính cuốn tiểu thuyết Xứ lưu đầyhơn 2000 trang, tiểu thuyết Ngưỡng cửa làm người4000 trang chưa in, và sẽ rất khó in;nhưng ông đã nhận phần tiểu thuyết dầy nhất, dài nhất Việt Nam.
Có thể nói: Sang nhất, dầy nhất,dài nhất…, cái gì cũng nhất… cũng là nét đặc sắc mang tên dị nhân Nguyễn Hoàng Đức.

3. Cô đơn con người, cô đơn thi sĩ.
Nguyễn Hoàng Đức mắc một căn bệnh kỳ lạ, những ngày động trời, từ trường trái đất mạnh lên là máu tươi cứ tứara lỗ chân lông. Khi ấy, ông đau đớn vô cùng, cả đêm thức trắng không ngủ. Triết học, thần học, trường ca dài nhất thế giới… rủ đi hết, đêm đêm ông lặng lẽ ngồi vo những nắm bông trắng thấm máu trên cơ thể mình thả vào thùng rác. Chỉ một ngày sau, thùng rác đã đầy có ngọn bông máu đỏ. Khoảng một tuần thì khỏi, để rồi mỗi khi động trời ông lại chịu khổ nạn một chu kỳ mới. Hết ứa máu, da ông bắt đầu đóng vảy… như vảy rồng, sáng ngủ dậy vảy rụng đầy ga trắng những miếng á sừnghình dạng kích thước khác nhau, vun lại được cả nắm. Ông không đi bệnh viện, ởnhà cũng không uống thuốc và chưa bao giờ ông có ý định tìm thầy thuốc hay đến bệnh viện chữa cho mình. Tôi ái ngại bảo:
“Ông phải đi viện điều trị. Để mãi thế này khổ lắm.”
Ông lắc đầu, quả quyết, khôngmảy may đắn đo:
“Cái khổ của tôi không phải là cái khổ bình thường, mà là cái khổ tuẫn nạn! Tôi đang chịu sự hành xác vìChúa”.
Nguyễn Hoàng Đức đã là con chiên của Chúa hơn hai mươi năm nay. Không tuần nào ông bỏ sót đi lễ nhà thờ. Ở Trại sáng tác vănhọc Sầm Sơn, cuối chiều thứ 7 nào ông cũng gác bút, đi bộ đến nhà thờ quỳ lạy trước Chúa và nghe cha xứ giảng giáo lý. Lòng tin Chúa vững chắc đến mức ông tin Chúa sáng thế ra thế giới khổ đau này và nói điều gì, ông cũng bảo là “ý Chúa”. Trong tiềm thức kì bí mầu nhiệm, ông tin mình là một con chiên được Chúa yêu thương, chỉ có điều Chúa đang còn thử thách, thử thách cũng chính là hành trình được Chúa đưa ông đến đài vinh quang. Và ông tin, một ngày đẹp trời nào đó, ông sẽ khỏi bệnh, ông sẽ được Giải thưởng văn học Nobel. Chúa lòng lành nhìn thấu mọi sự cõi con chiên, Chúa sẽ không bỏ sót ông. Ngày đó không còn xa nữa, hoặc xa lắm cũng chỉ đến lúc cái thế hệ bạn văn, bạn đọc hôm nay tận vong,thay bằng một thứ bạn đọc, bạn văn khác thì mới hiểu nổi tư tưởng của ông. Vì vậy,ông ngồi viết những trang triết luận, những trang văn thơ trong những ngày máutứa đầy mình một cách sục sôi, mà an lành.
Nguyễn Hoàng Đức luôn nói ông cô đơn nhất trong mọi nỗi, mọi người cô đơn. Ông bảo tôi: “Ông có cô đơn bên người thân, hay thất tình, hay cô đơn ngay chính trong ngôi nhà của mình thì vẫn chỉ là nỗi buồn nhỏ bé, lặt vặt, ông vẫn còn người để mà thấy, mà nhìn, mà nghe tiếng người”. Nguyễn Hoàng Đức cũng cô đơn trong thường nhật. Hơn 20 năm rồiông sống đơn lẻ một mình. Một mình một tượng Chúa. Một mình một nhà. Một mình mộtbếp. Một mình một cây đàn piano. Một mình… Cái gì cũng một… để cần mẫn viết nhữngtrước tác khổng lồ cho nhân loại. Chỉ riêng bát đũa là không một mình, bởi thỉnhthoảng ông đãi khách ở nhà. Thời bao cấp đói rách hàn vi, tết đến, điện đóm phập phù lúc có lúc không, ông chỉ đủ tiền mua một cây nến thắp đêm giao thừa, ônghiu hắt buồn cũng như ngọn nến liu riu thương ông mà cháy chậm lại chờ trời sáng. Năm sau, đời sống khá hơn, đêm giao thừa, Nguyễn Hoàng Đức thắp 7 ngọn nến cháy sáng nhảy nhót reo vui, ông cảm thấy mình đang ngồi trước bản đại giao hưởng ánh sáng, nhưng vẫn một mình, hào quang của giao hưởng không át nổi nỗi đơn độctrĩu nặng của người đàn ông bất lực trước hôn nhân.
Khác với người thường chúng sinh như tôi, ông còn một nỗi cô đơn rợp ngợp của kiếp người mang tên: Nỗi côđơn thời đại. Nghĩa thực dễ nhìn thấy là ông vào ra cả ngày đêm, cả tuần, cảnăm không có ai ở bên, đến ăn cũng một mình, ngủ cũng một mình, giao thừa cũng một mình. Võ võ. Đơn độc. Không đảng, đoàn, không hội, nhóm, không làm ở cơ quan nào, sống tự do và viết để sống. Nghĩa ảo là cả dân tộc này, cả thế giới này không ai hiểu được nỗi niềm, tình cảm, suy nghĩ, trí tuệ, tầm vóc khổng lồ của ông. Và đặc biệt, không ai hiểu hết giá trị triết học, thần học, văn thơ… của ông. Ông mang tâm trạng của người: “Ta làMột, là Riêng, là Thứ Nhất. Không có chi bè bạn nối cùng ta”.
Ông luôn luôn cảm thấy mìnhkhông được công nhận, luôn luôn thiệt thòi, luôn luôn đứng ở hành lang. Ông viếtnhiều nhưng được in quá ít, như muối bỏ biển. Ông luôn cảm thấy văn tài bị vùi rập, bị dìm hàng; nhưng ông tin một ngày mai người đời không bỏ rơi ông. Chẳnglẽ ba bộ tiểu thuyết dầy gần 1 vạn trang, với những trường ca dài nhất thế giới phải chờ đến khi ông về với Chúa mới được loại người tối tăm chợt nhận ra vàhân hoan đón nhận? Tôi nói với Nguyễn Hoàng Đức rằng: “Ông chót sinh ra bấtphùng thời. Chúng tôi tối tăm chưa nhận ra cái hay và vẻ đẹp kỳ vĩ tác phẩm củaông thì chính chúng tôi mới có khuyết điểm, mới thiệt thòi, chứ không phải làông”. Tuy nhiên, xuất bản tư nhân đang lấn át xuất bản nhà nước (mậu dịch quốcdoanh như ông nói) vẫn không mặn mà với tác phẩm Nguyễn Hoàng Đức? Bạn đọc thích đọc các bài tranh luận trên internet của ông hơn là tìm đọc sách chuyênluận triết học, thần học và tác phẩm văn chương của ông. Song ông không lấy đó làm buồn. Số ít mới là số quý. Một nhà văn đọc tác phẩm của ông còn quý giá gấpnhiều lần hàng vạn người đọc ất ơ.
Nguyễn Hoàng Đức đọc “Sông Đông êm đềm” của nhà văn Solokhov.Rồi rút ra chân lý: “Thử so sánh, chúng ta thấy, mỗi người đàn ông xứ họ khi rakhỏi nhà đều nhảy lên lưng ngựa, khi hành động, ứng xử, hay tranh luận ngườita đều thể hiện sự trưởng thành, tính mã hiệp của mình”. Ông buồn vì xứ mình người ta ra đường lại nhảy lên lưngtrâu, trâu thì không thể so với ngựa về sự trưởng thành và mã hiệp. Vì thế, có người xa lánh ông, đến tranh luận người ta cũng lảng tránh, không tranh luận với ông, hoặc tranh luận thì “ăn gian”, nước đôi lập lờ, đuối lý thì đánh bài chuồn. Ông buồn. Ông đòi hỏi sự rõ ràng, minh bạch trong tranh luận, không ấm ớ hội tề. Ông đòi người đối thọai “Hãy chứng minh đi!” Cũng như ai đó nói cướp lời, ông bảo:“Tôi xin ông 1 phút”. Nói xong, ông bảo: “Giờ, đến lượt ông. Cho hẳn 10 phút.”
Ông luôn thách đố bất kỳ ai đặt câu hỏi khó nhất thế giới để ông trả lời. Nhưng, cho đến hiện nay, vẫn chưa cóngười đủ tầm tư tưởng và triết học đặt ra câu hỏi thử thách trí tuệ ông. Ông thèm có một sới văn chương cho ông so găng, ông khát một diễn đàn triết học để ông tranh luận. Có đêm mất ngủ, ông muốn dựng nhà triết học Trần Đức Thảo dậy để hỏi:“Từ điển các nhà triết học” đồ sộ dày 2715 trang tiếng Pháp, khổ lớn, giới thiệu thân thế, sự nghiệp các nhà triết học danh tiếng của nhân loại từ thời cổđại đến nay. Có những tên tuổi lớn chỉ được dành cho dăm ba dòng, tệ hơn nữa là tôi - Nhà triết học số 1 châu Á Nguyễn Hoàng Đức thì không được chữ nào ở đó.Nhưng ông - Trần Đức Thảo lại được giới thiệu tới ba trang. Vì sao?” Ơ hay! Ông hỏi thì phải hỏi Bernard và Dorothee Rousset với Ban biên tập quyển sách vĩ đạiấy, chứ sao lại hỏi nhà Triết học Trần Đức Thảo đang dong chơi ở cõi Niết Bàn từnăm 1993!
Tranh luận với Nguyễn Hoàng Đức rất mệt. Đang ở vấn đề A thì ông lấy ví dụ ở mệnh đề B để chứng minh, đang ở mệnh đề B thì ông lấy dẫn chứng ở hệ quả C để giải thích. Ai không tinh ý sẽ bị ông dẫn dắt vào trận đồ bát quái, không có lối ra. Cuộc tranh luận nào, ông cũng là người nói câu cuối cùng. Hầu hết, người ta bỏ cuộc. Bỏ cuộc vì mệt quá, không lại với ông trường thanh đại sức. Bỏ cuộc vì không lý lẽ đấu lại với Đức. Bỏ vì Đức thừa thời gian chỉ để tranh luận, viết bài về một vấn đề triền miên hết thángnày qua năm khác. Bỏ vì… tức giận. Nhưng, bỏ thì bỏ vẫn cứ không ghét hay coi thường ông. Vắng ông là cuộc nhậu mất vui, lại nhớ, lại cầm điện thoại í ới mời ông ra làm… “món nhậu”. Tôi đã chứng kiến nhiều cuộc bia rượu, món ăn trở thành thứ yếu, “món nhậu Nguyễn Hoàng Đức” mới là quan trọng và hấp dẫn.
Nguyễn Hoàng Đức có cái đàn piano cũ nhất Việt Nam, thảng hoặc ông lật nắp đàn lên ngắm, ông có cảm giácnhư đang nhìn trộm công chúa tắm. Đây là cảm hứng của các vĩ nhân cô đơn chơi đàn như một tâm sự, giống Khổng Minh trong Tam Quốc diễn nghĩa mỗi lần chơi đànthì mơ hồ cảm giác như có người nào đang lấp ló nghe trộm. Nguyễn Hoàng Đức yêucái đàn piano như yêu một người đẹp hoàn mỹ. Không ít lần, bần thần vuốt cácphím đen trắng, ông cảm giác được sự minh định phải trái, trắng đen rõ ràng, không mập mờ, giống như con đường chân lý. Ông gõ vào phím trắng là gõ vào tự nhiên, gõ vào đá, gỗ, sắt… Ông gõ vào phím đen bán âm là là gõ vào cái sự nhân tạo, chỉ do con người làm nên, tựa như gõ vào trí tuệ và trái tim để lay động sáng tạo ra văn chương nghệ thuật.
Nguyễn Hoàng Đức chơi đàn thường ngày, ngày nào cũng dành ít nhất là một tiếng đồng hồ ngồi dạo các ngón tay trên phím đàn piano. Cái đàn piano này ông mua từ thủơ hàn vi nghèo khó. Dạo ấy,ông đi phiên dịch cho dầu khí, được ít tiền, thay vì mua được cái nhà cấp 4 diện tích 30mthì ông mua đàn. Cũng là cách chia sẻ nỗi lòng khi không còn bầu bạnđược cùng ai thì gửi tâm sự vào âm nhạc. Chiếc đàn sẽ là người bạn thủ thỉ tâm tình cùng ông. Ông đạp cái xe đạp tòng tọc chở người nghệ nhân lên giây đàn giỏi nhất miền Bắc đi mua piano. Người chủ đàn trố mắt ngạc nhiên nhìn hai gã gầy gò, hốc hác và chiếc xe đạp bó lốp. Không ngã giá một câu, ông gọi hai bác cửu vạn mang đến cái võng và cây luồng, đằng trước buộc lên gác ba ga xe đạp, đằng sau buộc lên phốc tăng một cái xe đạp nữa. Dùng dằng vài tiếng đồng hồ rồi cũng võng cái đàn piano về đến nhà. Hai bác thợ cửu vạn nhận tiền công, còn được ôngchiêu đãi một bản nhạc “Phiên chợ Ba tư” trước khi ra về. Dọc đường bác nọ hỏi bác kia trả lời: “Mày nghe nhạc có thấy thích không?” “Không! Nhức đầu lắm. Cứnhư phèng la đám ma. Nể mà ngồi nghe cho hết bài”.
Nguyễn Hoàng Đức là kẻ dấn thân nghệ thuật. Dù nghèo, đi xe đạp ọc ạch bó lốp, nhưng cứ 6 tháng một lần ông mời nghệ nhân giỏi nhất miền Bắc đến tận nhà “lên giây đàn”. Những thanh đồng trong đàn piano được cân chỉnh chính xác, thanh âm chuẩn mới làm ông có cảm xúcngồi vào đàn. Dạo ấy, ông mới tập đàn, lúc bật bông, lúc như gõ phèng la. Thờibao cấp, mọi người đói, mặt xanh vêu vao, người ta đổ xô trên đường kiếm ăn,Nguyễn Hoàng Đức cũng kiếm ăn, nhưng bằng cách viết báo ngồi ở nhà. Nhọc mệt,thư giãn là lại mở nắp đàn piano tập. Hàng xóm lúc đầu tò mò, trẻ con sang xem,ông ân cần gần gũi tiếp khách, còn cho bọn trẻ nhấn ngón tay mấy cái, thanh âm phát ra, chúng cười ré lên sung sướng. Sau thì tiếng đàn cũng làm phiền họ. Đilàm suốt ngày, chiều tối muốn được thảnh thơi yên tĩnh thì lại bị tiếng đàn hàng xóm tra tấn. Bán rau dưa, cà muối, cá khô suốt ngày phơi mặt bị khói hondaxịt cay mắt… lại bị tiếng đàn của ông hành hạ. Nhiều người lặng lẽ bán nhà chuyển đi nơi khác. Gan dạ thi gan với tiếng đàn của ông nhất là một gã Tổng giám đốclắm tiền nhiều bạc không chịu chuyển nhà. Gã nghe nhạc qua loa thùng ầm ầm vẫnquen tai, nhưng cứ mỗi lần tiếng đàn piano vang lên bản nhạc “Đồng quê” dù lànhỏ nhẹ dìu dặt, gã vẫn cảm thấy như thanh âm xuyên qua tường, xoáy vào tai gã nhứcbuốt đến mức không chịu nổi. Gã sai con mở to loa thùng phóng nhạc rốc hiện đại sang phía nhà Nguyễn Hoàng Đức, chống trả lại cuộc xâm lăng của âm nhạc cổ điển.Mặc, ông không hề hay biết vẫn cứ đắm say mê mải với những tiếng nước chảy rócrách, tiếng vó ngựa dồn dập và những thanh âm cuồn cuộn như mây vần vũ, như bão giông cuồn cuộn… trong cô đơn, không chia sẻ cùng ai. Cuối cùng, gã Tổng giám đốc trọc phú cũng phải mua nhà chuyển đi nơi khác. Mới hay, sống chung đã rất khó,cùng hệ mỹ học thưởng thức cái đẹp lại càng khó hơn.
Có một chuyện thật 100%, khiông chưa mua đàn piano, cô bé nhà bên thường sang chơi thân mật chú cháu đến mức bá vai bá cổ, nhưng khi cứ chiều về, tiếng đàn vang lên trong khoảng không giancăn nhà chật hẹp lọt ra ngoài là cô bé xa lánh, dần dần không bén mảng đến chơi nhà ông nữa. Ông nghĩ rằng: Tiếng đàn đã làm ông sang trọng hẳn lên và cô bé cảm thấy thân phận mình nhỏ nhoi, mặc cảm nên khép mình, lùi xa rồi tránh hẳn. Tôi lại đồ rằng, ông chơi những bản nhạc tình yêu trữ tình lãng mạn nồng nàn như làlời tỏ tình, như là lời mời gọi khao khát khác giới… khiến cô gái mới lớn xaoxuyến e lệ lùi xa. Thêm một câu chuyện nữa 100%, gã thanh niên tóc dài lõa xõa bên nhà ông, tục tằn, chuyên nói tục với ông, nhưng từ khi cây đàn piano ngự trong nhà ông thì gã đằm tính lại, nói năng nhã nhặn và hết xả ra những lời thô lỗ.
Bây giờ, ông là tay pianist nghiệp dư cự phách nhất Việt Nam,chứ không phải gã gõ thùng tôn như thời mới tập đàn. Bây giờ, quây quần quanh nhà ông là những người hàng xóm tốt bụng, yêu nhạc, cứ vài ngày ông bị mệt hoặc đi chơi xa, vắng tiếng đàn là họ lại nhớ nhung, gọi vóng sang: “Chơi đàn đi, ông Đức ơi!”


4. Nghi lễ tình yêu.

Nhà triết học số 1 châu Ámang tên Nguyễn Hoàng Đức yêu không dễ. Năm nay, ông đã gần sáu mươi tuổi,nhưng các nàng tuổi 40 rất khó lọt qua mắt ông để mở cánh cửa tình yêu nặng nhưcùm gỗ lim của ông, dù có là hoa hậu quý bà vừa sống đơn thân hay cô gái quá lứa nhỡ thì chưa một lần làm vợ. Vậy thì các bóng hồng tươi xanh tuổi 18 trở xuống mới là cái đích để ông ngắm? Không! “Trẻ ranh” nũng nịu suốt ngày, ông bảo: ở cái tuổi tri thiên mệnh, ông không thể vừa viết những trang triết luận bay bổng về anh hùng mỹ học, vừa dỗ người tình ăn socola; vừa đọc trường ca thần học đầutiên của nhân loại “Ngước lên cao”, vừa thay tã lót cho con. Mẫu hình lý tưởng tình yêu của ông là những cô sinh viên tươi trẻ, nới rộng thêm là các mỹ nữ đơn thân trên dưới tuổi 30, nhưng giới hạn không vượt quá tuổi 35. Tuổi là vậy, nhưng người tình của ông còn phải hiểu biếtthần học, triết học, yêu thích nhạc giao hưởng, biết chơi đàn piano càng tốt vàphải hiểu được công việc lao động văn chương nhọc nhằn cô độc của ông, ít rakhi ông đọc bài thơ vừa mới sáng tác thì lắng tai nghe chăm chú như nuốt từng lời, chứ thờ ơ là nàng đã giết chết cảm xúc sáng tạo của chồng, có nghĩa là hai tâm hồn vênh váo không đồng điệu. Yêu đương cái nỗi gì!
Bạn bè khuyên Nguyễn Hoàng Đứcđừng dây vào cảnh “cha già con cọc”, yêu nhau là đủ, hoặc kết hôn nghĩa chồng vợ tao khang là đủ, họ khuyên ông đừng đẻ con. Đẻ con, sẽ làm nhà triết học lấn bấn vào chuyện sữa bột tã lót bú mớm thì thơ không cất cánh, và tốn thời gian vàonhững việc tầm thường, được đứa con xinh xắn mà mất một cuốn thần học để đời, hay cuốn luận mỹ học tầm nhân loại. Ngược lại, Nguyễn Hoàng Đức coi ái tình phải cay nồng, bỏng gắt như phở có hạt tiêu và ớt, phải bê bết ngàu sủi tinh dịch và nước bọt hôn nhau. Tình yêu hôn nhân phải ngổn ngang, bề bộn tã lót, nhôm nhoam cứt đái và tiếng cười tiếng khóc trẻ con mới đã. Ông là triết học đại tài tầm châu Á, ông rất muốn yêu lấy vợ sinh con với ý nghĩa truyền giống tốt, giốngtinh hoa, giống thiên tài. Tuy nhiên, cho đến giờ phút này, ông vẫn chưa tìm được người phụ nữ của mình để gieo giống. Hỡi những người phụ nữ xinh đẹp vĩ đại! Sao lại bỏ dở một cơ hội vàng ngàn năm có một? Hãy hành động đi! Hãy đến với ông hoàng của văn học Việt, hãy đến với “nhà triết học số 1 châu Á” đi, kẻo các nàng sẽ rơi vào không gian u uất ân hận và tiếc nuối suốt đời.
Một lần tôi hỏi ông:
“Ông già rồi. Sao cứ chịu cảnh ế ẩm đời trai hiu hắt thế?”
Ông ngẫm nghĩ một lát, và thở dài:
“Tôi đã là ông hoàng của vănhọc Việt Nam, hoặc giả chỉ là cái bóng của ông hoàng thì cũng có nghĩa là tôi sẽcó cả ngàn cung tần mỹ nữ. Nhưng, tôi không muốn ái tình nhôm nhoam với hết người này đến người khác. Tôi chỉ chưa tìm được hoàng hậu của lòng tôi. Bởi vì Chúa đang thử thách tôi.”
Nguyễn Hoàng Đức là con ngườidư trí tuệ, thừa tài hoa, nhưng thiếu đào hoa. Ông đẹp trai, mũi cao to và gương mặt đẹp như nhà triết học Hy lạp cổ đại chúng ta thường thấy hiện diện đâu đó ở tranh tượng trong bảo tàng nghệ thuật. Ông cũng thuộc hàng nam tính, trí tuệ tài năng. Cái gì ông cũng hơn đám đàn ông bạn bè. Nhưng, ông không một cánh đào hoa. Các bạn ông đào hoa như rộn rã như máy gặt đập liên hợp, tình yêu cuồn cuộn như thác lũ. Còn ông như con cá trên cánh đồng khô cạn hớp hớp từng giọtsương tình yêu nhỏ xuống từ mái gianh nghèo. Nhưng ông vẫn cam chịu, không một mảnh tình vắt vai. Ông tin một niềm tin vững chắc và hi vọng rằng: Chúa đang sỉ nhục ái tình của ông, và khi Chúa sỉ nhục đến tận cùng con đường đào hoa của ông thì Ngài sẽ mở lòng, giải phóng cho ông khỏi cuộc hành xác chịu nạn thiếu hụt ái tình. Lúc đó, người đẹp bất ngờ xuất hiện như cổ tích, cánh cửa ái tình mở toang ra. Ông sẽ rực rỡ trong ánh hào quang hạnh phúc với người tình và hôn nhân chóng vánh, ông sẽ gieo giống vào hoàng hậu của lòng ông. Nhân loại sẽ đón chờ cuộc tình vĩ đại cũng y như đón chờ hạt giống triết học ông gieo xuống thế gian trở thành đứa con bất tử như sự bất tử của ông. Đó là niềm tin thành thật.
Dù vậy, tôi vẫn nghĩ: Người con gái nào chấp nhận yêu, lấy ông làm chồng sẽ là người phụ nữ vĩ đại nhất hành tinh, nàng hi sinh không phải vì hoàng đế văn chương khổng lồ Nguyễn Hoàng Đức mà chính là nàng hy sinh đời nàng cho một kẻ mộng tưởng đi giữa đời thường– một nhân vật văn học tương lai của nhân loại.
Nguyễn Hoàng Đức quan niệm: Từ tình yêu đến hôn nhân là phải có lộ trình, và vì tình yêu thiêng liêng chứkhông trần tục như tình dục, nên phải có nghi lễ. Cái nghi lễ của ông là câu chuyện thế này xin hầu bạn đọc:
Bạn bè thấy ông đơn thân, tìm hoài vẫn không đứng đầu đứng số, thương lắm vun quén nhiều nhưng chẳng hiểu sao mười cô gái đến thì chục cô đi. Bác sĩ, kỹ sư, tiến sĩ, giáo viên, nhà thơ, nội trợ… đủ cả, nhưng Nguyễn Hoàng Đức vẫn thân đơn bóng chiếc. Tôi cũng nhiệt tình giới thiệu một cô bạn vong niên 28 tuổi xanh là kế toán một công ty, rất say phim truyện tình yêu truyền hình dài tập của Hàn Quốc, đã bắt đầu vào thời đằm thắm. Tôi bảo ông: “Giới thiệu xong là tôi tìm kế “tẩu vi thượng sách” nhường lại không gian huyền ảo cho hai người tự do tìm hiểu. Lần này con cá to. Chớ để sểnh.”Ông Đức hân hoan, sướng lắm! Ông có mặt ở nhân gian nhìn ánh mặt trời trước nàng 23 năm. Có hề chi, nàng đã nghe danh chàng từ lâu, và lòng rất mến mộ.
Tôi đưa nàng đến nhà ông.
Quá bất ngờ! Chúng tôi choáng ngợp bởi không gian huyền ảo lung linh của hàng chục ngọn nến cháy sáng giữaban ngày. Tượng Đức Chúa Jêsus Christ đóng đinh trên cây thánh giá, ảnh Mẹ Maria,các loại ảnh và lịch Thiên chúa giáo, các tượng bán thân Nguyễn Hoàng Đức kích cỡ bằng người thực, và sách triết học, thần học trong tủ với báo chí chất ngổn ngang chung quanh. Tất nhiên còn có cả hoa tươi và cây đàn piano cổ kính phủ chiếc khăn màu hổ phách in hoa văn cách điệu có nguồn gốc từ xứ xở Ba Tư tạo nên không gian dị nhân Nguyễn Hoàng Đức.

Họ chào nhau khá thoải mái, cởi mở và xem ra ông cũng rất thích nàng. Tôi hào hứng:
“Xin giới thiệu với em! Anh Nguyễn Hoàng Đức đây là nhà thơ, nhà tiểu thuyết, nhà truyện ngắn, nhà biên kịch, nhà báo, “nhà lý luận phê bình văn nghệ hàng đầu thế giới…”
Gương mặt ông sáng bừng, nhưng dường như tôi chưa làm hết phận sự, ông hân hoan, trân trọng tự giới thiệu tiếp:
“Anh còn là nhà triết học, nhà thần học, nhà mỹ học…”
“Đúng đúng! Em thấy không, Nguyễn Hoàng Đức của chúng ta có duyên nhé, lại rất nam tính, đến anh là đàn ông mà còn mê…”.
Ông Đức cười tủm tỉm rất đángyêu bảo:
“Em đừng nghe Sương Nguyệt Minh. Hắn “dìm hàng” đấy.”
Đột nhiên ông tăng âm lượng giọng nói và hùng biện:
“Thước đo đàn ông là cái đầu triết học thông thái, em ạ. Chứ ông Minh khen anh nam tính là cổ vũ cho khả năng giỏi chuyện giường chiếu…, tình dục. Anh… không chấp”.
Đôi mắt cô bạn gái hơi bối rối,e thẹn. Tôi đưa mắt như muốn bảo Đức: “Ông dịu dàng, âu yếm một chút cho tôi nhờ.Hôm nay, việc trọng đại là… tình yêu, chứ không phải là triết học, thần học”.Nhưng, Đức không để ý đến cái nhìn của tôi, ông đứng phắt dậy, hùng dũng đi đến tủ sách lôi cuốn “Hiện tượng học tinh thần”của Hegel in bằng tiếng Pháp dầy gần 2000 trang và cuốn “Ý hướng tính văn chương” của ông, dầy như viên gạch vồ đặt ra bàn,nói với cô gái mới quen:
“Em thấy không. Đàn ông là phải trí tuệ, khen anh nam tính có họa bằng chê ngầm anh cơ bắp. Con người thằng đànông hơn nhau ở chỗ đẳng cấp trí tuệ, em ạ”.
Tôi nói:
“Ông ơi! Pascal bảo: Con ngườichỉ là một cây sậy yếu ớt trước tạo hóa vô biên.”
Ông Đức bảo:
“Nhà triết học Pascal cũngnói: Con người là một cây sậy, nhưng là cây sậy biết suy nghĩ. Ông Pascal còntriết luận: Nếu cái mũi của Cleopatra dài thêm một chút thì cục diện thế giới sẽthay đổi…”
Gay rồi. Tôi đã vô tình thò bàn tay vào suối nguồn triết học của ông. Nguyễn Hoàng Đức giải thích ẩn dụ“cái mũi của Cleopatra”, ông phân tích tính từ “dài”, ông chứng minh “cục diện thế giới sẽ thay đổi”…Chết mất thôi! Hết triết học Pascal sang Hegel đếnNietzsche rồi quay về “Ý hướng tính vănchương”…
Tôi ngồi bên thò tay giật giật vạt áo ý nhắc nhở ông quay về chủ để tiếp bạn gái. Ông gạt tay tôi bảo với côgái:
“Anh Sương Nguyệt Minh là chúa… “dìm hàng” em ạ.”
Rồi Đức quay phắt lại bảo tôi:
“Bây giờ đến lượt ông nói đi.Cho ông nói về triết học… 30 phút đấy. Không nói được ấy gì. Chết chưa!”
“Ừ. Chết. Tôi đang chết đứ đừđây. Hôm nay là ngày của ông nói chứ không phải tôi.”
Tôi ghé tai Đức thì thào rằngtrọng tâm buổi gặp gỡ hôm nay là cô bạn gái, còn triết văn để hôm khác. Mặt ôngthộn ra, cười gượng gạo rất đang yêu. Tôi kiếm cớ chuồn và hẹn sẽ quay lạitrong thời gian ngắn nhất.
Đúng là Pascal rất có lý khi nhận ra "Con tim có những lý lẽ mà nhiều khi lý trí không thể hiểu nổi". Khoảng gần một giờ sau, tôi chưa kịp quay trở lại nhà Nguyễn Hoàng Đức thì cô bạn gái điện thoại:
“Anh Minh à. Em về rồi.”
Tôi sửng sốt:
“Chết thật! Sao về sớm thếem? Anh nói trước rồi mà. Cái việc tỏ tình thì Đức tồ lắm”.
“Em hết chịu nổi rồi, anhơi!”
“Là sao?”
“Ảnh ấy bảo: Hôm nay, em là khách quý đặc biệt, anh phải đón bằng nghi lễ đặc biệt. Em bảo: Anh đã thắp 28 ngọn nến giữa ban ngày làm nghi lễ đón em rồi. Anh ấy bảo: Đó chỉ mà nghi lễ giáo đầu. Bây giờ mới là nghi lễ chính thức. Nói rồi, anh ấy bước đến cây đàn piano, bảo: Anh sẽ dâng hiến em bản nhạc Sotana The moonlight của Beethoven…”
Tôi cướp lời người đẹp:
“Có phải trước khi đàn, ông ấy phân tích chương một giai điệu chậm rãi, tha thiết như lời than vãn, đánh thức hồi ức tình cảm dịu dàng êm như ánh trăng tan nhẹ trên mặt hồ mênh mông lặng sóng không?”
“Vâng!”
“Rồi ông ấy nói về chương hai ánh trăng chảy mải miết theo dòng sông dài bất tận, báo hiệu một điều khủng khiếp dữ dội sắp xảy ra không?”
“Vâng! Rồi anh ấy phân tích chương cuối ánh trăng tan vỡ trên mặt sóng giông tố, khơi gợi cảm xúc mãnhliệt, dữ dội như con người đang quay cuồng, vật lộn với bão giông đại hồng thủy, với nỗi buồn đau nhưng không tuyệt vọng…”
“Ôi trơ…ời!” - Tôi hét vào ống nghe.
“Đàn xong bản “Sonata Ánh trăng” thì 12h trưa, anh ấy không dừng lại mà dâng hiến cho em tiếp bản nhạc giao hưởng “Định mệnh”.
“Bảngiao hưởng ấy bốn chương đấy. Chơi hết thì… chết đói a?”
“Vâng!Vì thế mà em phải viết mảnh giấy chào rồi kẹp vào quyển triết học “Hiện tượng học tinh thần” của nhà triết học Hegel gì đó, rồi ra về khi anh ấy còn…đang mê mải đàn”.
“Ôigiời ơi là giời!”
Tôichỉ còn biết kêu lên thảng thốt, đầy bất lực vừa giận vừa thương ông. Quên cả ngườiđẹp đang đói bụng ở bên, qua phím đàn piano, ông thả hồn vào “Sotana Ánh trăng”để tỏ tình, nhưng ông mải miết đắm đuối theo dòng chảy âm thanh từ “Ánh trăng”sang “Định mệnh”. Định mệnh thì yêu đương cái nỗi gì!

5. Triết lý mang tên Nguyễn Hoàng Đức.
Nguyễn Hoàng Đức là một con người vừa đơn giản vừa phức tạp.
Sau cái dạo gặp nhau đầu tiênở Quảng bá, bẵng đi một tháng, Nguyễn Hòang Đức gọi điện thoại cho tôi mời đếnnhà riêng ăn tiệc. Hóa ra, “gần nhà xa ngõ”, mười năm chúng tôi ở gần nhau chưađầy 200m mà chưa một lần chạm mặt nhau.
Tôi rụt rè gõ cửa.
Rụt rè là bởi tôi đã nghe ngườita kể về những về những cuộc đón khách kỳ lạ của ông: cuộc linh thiêng, cuộc lộnglẫy, cuộc thần bí và cả những cuộc cười ra nước mắt. Ông gọi với ra, bảo tôi chờ tí. Thì ra, ông đang ghim cà vạt và nghiêng ngó trước gương. Ông mở cửa. Choántrước mặt tôi là một người đàn ông cao lớn lịch thiệp, đóng comple màu be ra dáng chính khách, nhưng cái đầu là của nhà triết học với vầng trán rộng, mũi to và cao, mái tóc hơi dài chải bồng về phía sau. Tôi ngỡ ngàng, nhìn thân mình tôi cao nghều với quần lửng, đi dép lê, mặc áo thun, tay cầm chai rượu quốc lủi Phát Diệm nút lá chuối.
“Ôi! Trịnh trọng quá. Ông vừa đi đâu về hả?” - Tôi ngơ ngác hỏi.
“Không! Tôi vừa sắp tiệc đãi ông”.
“Vẽ. Có hai người mà…”
“Ừ, nhưng ông là khách quý, lần đầu đến nhà nên tôi đãi yến tiệc triều đình...sang nhất.”
Sang nhất! Ôi. Lần đầu trong đời được làm vua.
Ăn cũng phải sang nhất. Ông coi món ăn Việt là lìu tìu, không có món nào ra hồn, không có quốc hồn quốc túy về ăn uống. Ở Nga có rượu Vốt ca, ở Ba Lan có rượu cỏ, ở Pháp có vang booc đô, ở Nhật có sakê…; ở Việt nam thì… quốc lủi, mà rượu làng Vân, rượu Phát Diệm, rượu Bầu Đá, rượu Sán Lùng… cứ lọan lên chẳng có loại nào đại diện cho quốc gia. Còn ăn uống thì rau luộc, thịt luộc, luộc cả con lợn…, chỉ có luộc với chấm. Chả lẽ lại đem mắm tôm,hay dưa khú làm quốc yến?
Tương tự, đàn bầu ngũ cungcũng không thể thi thố với đàn piano của thiên hạ. Ông rất dị ứng với những gìtranh tre nứa lá như sáo, nhị, hồ. Với ông, tất cả phải kì vĩ, hoành tráng,mênh mông, lộng lẫy và… đặc biệt. Đặc biệt như cây đàn ghi ta phải là loại gỗthông mọc trên triền đá chịu khô hạn, bị gió bão, mưa tuyết đánh tơi bời…thìlàm bầu đàn, cần đàn mới tốt, không bị cong vênh, âm thanh chuẩn bốn mùa xuân hạthu đông.
Triết lý “Thành La Mã khôngxây trong một đêm” luôn chỉ đạo tư duy và hành động Nguyễn Hòang Đức. Vănchương thì trước hết phải lấy số lượng làm đầu. Một câu thơ hay, một bài thơ hay… không tính là nhà thơ. Một tập thơ hay mà không có gáy đóng ghim ông cũngcho là mỏng manh yếu ớt lìu tìu. Đã là nhà thơ phải viết trường ca, đã là nhà văn phải có tiểu thuyết, không phải 1 cuốn mà nhiều cuốn, phải lấy thước mét đểđo. Văn thơ phải có tư tưởng chứ kể và tả chỉ là mua vui giải trí, mỹ học thấpbé lọ mọ tăm tối như túp lều tranh tre nứa lá… không chấp. Ông hiên ngang đi giữađường thơ vác cây thập giá triết học, đeo túi cỏ thần học đến lâu đài văn chương kì vĩ bằng đá xanh, bỏ qua mọi ngôi nhà tranh, nhà gỗ chỉ một trận hỏahoạn là thành tro.
Trongcon mắt Nguyễn Hoàng Đức, người Phương Tây nhất là dân du mục đi khỏi nhà là nhảylên mình ngựa nên tính tình phóng khoáng, mã hiệp. Bây giờ, ông đi ra khỏi nhà, không nhẩy lên mình ngựa mà nhẩy lên…ô tô. Ông Đức mua ô tô và đãi bạn (còn gọilà khao) bằng cách mời tôi ngồi lên để ông chở đi 1 vòng quanh nội thành Hà Nội.Ông cảm thấy tự tin vô cùng, bảo: “Từ nay tôi hết lọ mọ rồi, ông ạ”. Tôi phấnchấn chia vui: “Tôi không nghĩ thế, mà đã tính đến cái chuyện ông lấy được vợ từcái xe ô tô này”. Triết lý của ông là: từ cái xe đạp lên xe máy, dù là xedyland hơn 200 triệu đồng thì cũng chỉ là xe hai bánh, chẳng khác gì nhau.Nhưng, xe ô tô, dù là xe cỏ mua rẻ 14 triệu đồng ngang với đồng nát thì vẫn làxe ô tô, nó sang hơn vì nó có… 4 bánh, và bỏ tay lái nó vẫn đứng, chứ xe máy,xe đạp bỏ tay ra là… đổ kềnh.
Nguyễn Hoàng Đức dù là một “triết gia vĩ đại”, một “nhà văn khổng lồ”, một “anh hùng mỹhọc” vác thập giá đi chinh phục đám văn nhân lìu tìu chúng tôi thì ông vẫn phải sống như một con người bình thường. Có nghĩa là: ông phải ăn uống, phải mặc, phảiđi lại, phải mưu sinh. Hàng tuần, ông viết 1 bài báo cho báo Phụ nữ… đủ sốngcho cả tuần, nhưng thiếu tiền đổ xăng, ông lại phải viết 1 bài nữa cho báokhác. Cứ ngừng viết là ông ngừng có tiền tiêu vì ông không có lương. Ông là vĩ nhân, là người theo Thiên Chúa giáo, trước lúc ăn phải làm lễ trịnh trọng. Khicao sang thật cao sang, khi xuề xòa thật xuề xòa đáng yêu. Ông ăn salat Nga, thị thun khói, thịt cừu chiên, thịt ngỗng trời quay, uống rượu mạnh Chivas hũ sàng21 năm…, nhưng ông cũng xài được đồ ăn Việt thứ gì ăn cũng thấy ngon: Lòng lợn mắm tôm. Thịt chó. Chân gà nướng. Đậu phụ luộc…Khi ăn món ăn Tây, ông trịnh trọngkính cẩn làm nghi lễ thưởng thức văn hóa ẩm thực. Khi ăn đồ ăn Việt ông chỉ coilà… nạp năng lượng, đánh no bụng để đủ sức hành trình sáng tạo.
Nhàthơ Đỗ Minh Tuấn gọi Nguyễn Hoàng Đức là: “Anh hề triết học, chàng Đông-ki-sốt văn chương” có lẽ khôngsai. Tôi đã đọc đi đọc lại những dòng chữ ông Tuấn viết: “Đức còn khoe khi Nguyễn Huy Thiệp mời Đức đến nhà dự khánh thành bứctượng Phật của Hồng Hưng, Đức được ngồi mâm giữa cùng các bậc cao nhân như Nguyễn Đăng Mạnh, Hoàng Ngọc Hiến và Hồng Hưng. Đức tự hào: “Thiệp là chủ nhàmà cũng không ngồi mâm giữa. Tôi còn trẻ măng, chưa là gì cả mà đã được ngồingang ngửa với Hoàng Ngọc Hiến…”. Đó là cái triết lý mang tên Nguyễn HoàngĐức: “Tôi phải là người như thế nào thì mớiđược… như thế”. Cũng như ông khoe với tôi: “Ông Minh đã được Hữu Thỉnh gọilà thầy chưa?” “Chưa! Tôi chẳng là gì để ông Thỉnh gọi là thầy”. Ông Đức lôitập thơ Hữu Thỉnh có lời đề tặng: “TròHữu Thỉnh thân tặng thầy Nguyễn Hoàng Đức”, rồi ông bảo: “Tôi phải là người như thế nào thì Hữu Thỉnhmới gọi là thầy chứ.” Vâng! Thưa bạn đọc! Chả là có dạo Nguyễn Hoàng Đứcmột tuần hai buổi đến nhà riêng dạy nhà thơ Hữu Thỉnh học Anh ngữ.
Nhàthơ Nguyễn Quang Thiều có lấy cho ông Đức một vé mời đi dự Ngày thơ quốc tế ởIndonexia. Ông về tặng tôi một cái bấm móng tay và khoe:
“Cảhội trường như chết lặng nghe tôi đọc Trường ca thần học “Ngước lên cao” bằngtiếng Anh, ông ạ”.
“Còngì nữa?” – Tôi hỏi và mừng cho ông.
“Ởsảnh đường có đặt chiếc đàn piano. Không có nhà thơ nào dám mó vào, ông ạ.”
“Gìnữa?”
“Cảsảnh đường như chết lặng nghe tôi đàn piano, ông ạ”
“Còngì nữa?”
“Tôi phải là người như thế nào thì mới được như thế chứ.”
Nguyễn Hoàng Đức có một khát vọng cháy bỏng là được đọc thơ ở chốn đông người như Maiacopxkiđọc Trường ca Lê nin trên Quảng trường Đỏ nước Nga. Ông vẫn chờ đợi một ngàynào đó, và ông hi vọng đứng trên bục vinh quang ở Quảng trường Ba Đình, hay Sânvận động Mỹ Đình đọc Trường ca mỹ học “Kẻ hành hương từ đời đến thơ”. Chờ đếnngày Nguyễn Hoàng Đức hiên ngang đứng ở quảng trường lâu quá, bạn bè thương,các ông họa sĩ Lê Thiết Cương, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều bèn tổ chức cho ôngthực hiện khát vọng đáng yêu của mình. Rượu vang Chi lê và rượu mạnh Chivastrong không gian mỹ học đặc sắc tại galery họa sỹ Lê Thiết Cương, ông đắm đuối,da diết thăng đồng cùng trường ca Thần học “Ngước lên cao”. Hôm sau, ông hỏitôi cảm nhận về buổi đọc thơ, tôi bảo: “Mọi người rất vui. Ông Thiều, ông Cươngđã dành cho ông một món quà quý giá. Ông phải là người như thế nào thì mới đượcnhư thế chứ!” Nguyễn Hoàng Đức cười, nụ cười thỏa mãn chảy dài trên mặt.
Nhà văn Nguyễn Đình Chính đọc xong truyện ngắn “Công lý và trái tim di trú” củaNguyễn Hoàng Đức, ngạo nghễ nói trước mặt cả đám nhà văn ở Trại viết: “Văn chương các ông quanh quẩn chỉ là cái cổng làng, con trâu với bến nước, bụi tre.Còn lâu mới có hòn đảo cô đơn và mặt trời công lý như thằng Nguyễn Hoàng Đứcnhé.” Lạ thay! Chẳng có ai tự ái. Chỉ có người thì lặng im, và kẻ cười ruồi.
Nhà thơ Lương Tử Đức nói về ông: “Nguyễn Hoàng Đức đã dấn thân và cô đơn trên con đường lý trí để thực hiện sứ mệnh của bản thân mình chochân lý sáng tạo văn học nghệ thuật.”
Một lần tôi bảo Nguyễn Hoàng Đức:
“Ông ạ. Ông rất nhiều “nhà”: Nhà triết học, nhà thần học, nhà văn…Ai phong cho ông hay tự ông nhận? Ai gọi ông là “Nhà lý luận phê bình văn họchàng đầu thế giới?”
“Chính ông! Ông đã phong cho tôi. Còn Nguyễn Quang Thiều viết trênVietimes khẳng định tôi là “Nhà triết học số 1 châu Á”.
“Tôi phong ông là “Nhà lý luận phê bình văn học hàng đầu thế giới”hay không thì tôi không còn nhớ. Nhưng, tôi nhớ như in, bài viết “Nguyễn HoàngĐức – Nhà triết học số 1 Châu Á?” có dấu hỏi (?) ở sau cùng tít bài. Như vậy,người ta còn nghi ngờ, đặt dấu hỏi là ông có thực như vinh danh không, chứ đãkhẳng định đâu.”
ÔngĐức bảo:
“Ngay cái việc manh nha đặt dấu hỏi về tôi thì tôi cũng phải như thế nào, người tamới đặt dấu hỏi chứ. Ông có biết nhà văn Cao Hạnh - Tổng biên tập Tạp chí Cửa Việt không?”
“Có.Tôi chơi thân với anh ấy.”
“So với các Tổng biên tập các tạp chí Văn nghệ các tỉnh thành, ông Cao Hạnh thếnào?”
“Ôi. Ông lại bắt tôi định giá ư? Ừ thì ông Cao Hạnh cũng là một tay Tổng biên tậpcứng cựa”
“Đấy! Ông Cao Hạnh cũng phong tôi là “Nhà lý luận phê bình văn học hàng đầu thế giới”nhé. Tôi phải là người như thế nào thì một ông Tổng biên tập mà ông khen, mới phong “thánh” cho tôi chứ. Cũng như tôi phải là người như thế nào thì cỡ NguyễnĐình Chính, Nguyễn Quang Thiều, Lê Thiết Cương. Đỗ Minh Tuấn, Lương Tử Đức, vàông với nhiều người khác khen và viết bài… khen chứ”.
Nguyễn Hoàng Đức nói có lý quá. Dường như, ông là kẻ nhà văn duy nhất ở Việt Nam luôn luôn tự định giá, tự sắp đặt vị trí của mình ở làng văn, vị trí của mình trongxã hội. Kể ra thì cũng là một đức tính tự tin đáng yêu, dám sống và chịu tráchnhiệm với những gì mình sống, mình khẳng định, mình phát ngôn.
Nguyễn Hoàng Đức là một kẻ liên tài. Viết xong chuyên luận “Hành trình tâm linh nhânloại”, ông tự phong thánh cho mình là “Nhà Thần học”. Tuy vậy, ông không hề đố kị trong đời thường và văn chương. Ông hết lời ngợi ca Ngô Bảo Châu được Giảithưởng Fields về Toán học. Ông viết: “Với thành công được quốc tế công nhận, GS. Châu hoàn toàn xứng đáng là một bậc thầy củadân tộc. Vì vậy khi muốn tham vấn ông, hơn thế là một chút muốn đối thoại, thấphơn là chia sẻ hay trao đổi, chúng ta nên tự biết mình là đang kiến diện một bậcthầy. Và buộc phải tôn trọng ông như một bậc thầy. Ông là một đẳng cấp cao,không thể như cành lá bên đường ta cứ muốn hái là với. Có một phương ngôn rằng“Văn hóa cao nhất là biết chấp nhận người khác”. Đúng vậy,chấp nhận người khác là biết vượt qua đố kỵ, đặc biệt là đố kỵ hiền tài. Vì thếkhi ta biết đặt người khác và chính bản thân mình vào đúng chỗ đó là một khảnăng văn hóa.”
Thêm một triết lý mang tên NguyễnHoàng Đức, ai là thầy ông đồng nghĩa với là thầy của cả dân tộc. Ông đang coigiáo sư Ngô Bảo Châu là thầy, dù giáo sư chưa một lần dạy ông nửa chữ. NguyễnHoàng Đức cũng có những khuyết điểm, sai lầm bởi những điều cả tin, tự tin, huyễntưởng; nhưng tôi tin rằng: ngay cả những sai lầm của ông cũng là sai lầm tự tinchân thành.
Có phải Nguyễn Hoàng Đức là nhà triết học số một Châu Á? Có phải ông là nhà thần học, nhà mỹ học, nhà tiểuthuyết, nhà truyện ngắn, nhà thơ, nhà viết kịch tầm cỡ nhân loại? Có phải đặc biệt ông là “Nhà Lý luận Phê bình hàng đầu thế giới” không có đối thủ tranh luận?Người ta tự vấn như thế và mỗi người đi tìm lời đáp cho riêng mình; cũng có lúcngười này hỏi và người khác trả lời, đôi khi có kẻ cười khẩy và lảng tránh.
Mặc, Nguyễn Hoàng Đức vẫn đang vác cái thánh giá nguyên lý đi chinh phục nhân gian và mong chờ đến ngàyChúa lòng lành không bỏ rơi ông. Ông có niềm tin của ông, một niềm tin thánh thiện, ngây thơ chân thành tiếp thêm cho ông sức mạnh sục sôi viết trong nhữngtuần máu ứa đầy mình mẩy, nhưng chính cái niềm tin kỳ vĩ ấy cũng dắt ông vào cõi mộng du, và đôi khi mù màu bởi những đám mây ngũ sắc che mất đôi mắt vừamang cái nhìn soi chiếu của vĩ nhân vừa mang ánh sáng của người trần mắt thịt.Nguyễn Hoàng Đức sẽ cứ mãi mãi cô đơn và sáng tạo trong cõi mộng du của mình,và người đời vẫn cứ vừa thương, vừa giận, vừa cười ông, để rồi một ngày không buồnkhông vui, đột ngột nhận ra: Ôi! Vắng dị nhân Nguyễn Hoàng Đức thì văn chươngvà cuộc sống… mới nhạt nhẽo làm sao!
Vĩ thanh:
Tôi viết bài này xong, in ra giấy đưa tận tay Nguyễn Hoàng Đức. Ông đọc chăm chú và cầm bút sửa cả lỗi morat. Tôi im lặng trong tâm trạng chờ đón cơn nóng nẩy tức giận, trách móc hoặc lạnh lùng quẳng vào sọt rác, nhưng ông mừng ra mặt bảo:
“Chết chưa! Từ trước đến nay, chưa bao giờ ông chịu công nhận tôi. Bài này coi như lá cờ trắng báo hiệu sự thất trận, ông là người cuối cùng đầu hàng tôi và đầu hàng trong oanh liệt. Chân lý bao giờ cũng chiến thắng nhá”.
Tôi dở cười dở mếu, chỉ còn biết nói:
“Ừ, chân lý bao giờ cũng chiến thắng”.
Nguồn:  Thế Giới Mới
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tài năng là gì khiến văn học bé?

 ( Đối thoại với nhà thơ Trần Đăng Khoa )

Nguyễn Hoàng Đức
Có thể nói, nếu đạo đức khiến cho một xã hội được sống bình an và nhân phẩm, thì tài năng là thứ nâng cao chất lượng đời sống của xã hội lên. Chẳng hạn, với tài nấu nướng của đầu bếp chúng ta được thưởng thức những món ăn ngon miệng, với tài năng của nhạc sĩ chúng ta được nghe những âm thanh thánh thót, với tài năng của họa sĩ chúng ta được ngắm những bức tranh lộng lẫy sắc mầu, với tài năng của nhà văn, nhà thơ chúng ta được nghe và đọc những áng văn thơ bất hủ, với tài năng của các nhà khoa học chúng ta có biết bao phương tiện trợ giúp cho cuộc sống của mình đỡ vất vả… nhưng tài năng có phải tự nhiên có như cây bưởi ra quả bưởi, cây na ra quả na? Chắc là không bao giờ, vì cây bưởi thì ra bưởi nhưng nếu chúng ta không trồng cây, thì cây ra bằng cách nào? Trồng rồi không tưới tắm, không bón, không tỉa cành nhặt sâu thì cây sống cách nào? Hay chúng ta chỉ có cây mọc tự nhiên và ăn quả dại? Nước biển có sẵn nhiều lắm, Việt Nam có hơn 3200 cây số bờ  biển, nhưng muối không tự có bằng cách chui ra khỏi nước biển, mà nó phải được con người phơi nước gạn lọc để làm muối!

 Bàn về tài năng, mới đây nhà thơ thần đồng Trần Đăng Khoa có trả lời phóng viên Mặc Lâm trên sóng RFA ngày 04/01/2014, có nói:
Mặc Lâm: Vâng thưa ông đúng là nhà văn khi ngồi vào bàn họ không nghĩ đến chủ nghĩa này chủ nghĩa kia nhưng cái mà họ nghĩ tới là làm sao tránh những cán bộ văn hóa nghĩ như thế… làm tự do của họ bị giới hạn trong khi viết…
Trần Đăng Khoa: Nếu gọi cái sự mất tự do thế này thế kia thì tôi nghĩ cũng không phải đâu. Trước đây cái thời của cụ Nguyễn Du còn kinh hoàng vì thời phong kiến mà. Thậm chí một tác phẩm viết như thế nào đó có thề làm tác giả bị tru di đấy chứ. Thế nhưng thời đó vẫn có một Nguyễn Du, có rất nhiều tác giả lớn và theo tôi tôi cho vẫn là tài năng của nhà văn, cái đó quyết định hết tất cả.
Chúng ta không có những tài năng mới, chúng ta không có được ngòi bút lớn không có tài năng chinh phục độc giả thì làm sao ta có thể ra được với thế giới. Tôi nghĩ tất cả nguyên do từ đấy thôi.
Theo Trần Đăng Khoa thì “tài năng nhà văn quyết định tất cả”. Có đúng không? Sở dĩ tôi muốn bàn vào vấn đề này, bởi lẽ Trần Đăng Khoa đại diện cho rất nhiều thậm chí tất cả đội ngũ nhà thơ vẫn ăn và còn luyến tiếc ăn tem phiếu bao cấp khi được hỏi về môi trường sáng tạo Việt Nam thì đều đổ cho “tất cả là tài năng”. Đây là đặc trưng sai lầm của tư duy “duy vật ấu trĩ” chỉ có ở Việt Nam. Việt Nam trong nhiều thập kỷ chọn Chủ nghĩa duy vật, nhưng sau đó chúng ta phát hiện, người Việt đã rơi vào “duy ý chí” nặng nề, duy ý chí cũng chính là Duy tâm, trong khi chủ nghĩa Mác nói “Hiện thực Khách quan quyết định chủ quan” thì mấy anh cán bộ văn thơ còi trí tuệ lại bảo “tài năng quyết định hết tất cả”. Nói thế khác gì bảo “chủ quan quyết định tất cả”?!
Giờ chúng ta hãy thử bàn vào một câu chuyện đơn giản dễ hiểu bậc nhất của Đức Phật để không thể à uôm. Đức Phật hỏi một môn đồ:
-         Anh có thấy cái cây ở ngoài sân kia không?
-         Có!
-         Cái nhìn ở mắt anh hay ở cái cây?
-         Ở mắt tôi!
-         Giả sử bây giờ không có cái cây đó, thì mắt anh nhìn nhưng có thấy không?
-         Không!
-         Vậy cái nhìn của anh ở đâu?
-         Ở cái cây!
-         Vậy anh thử nhắm mắt vào xem có thấy cái cây không?
-         Không! Cái nhìn cả ở mắt tôi và cả ở cây.
-         Vậy giờ nếu mắt anh vẫn nhìn, cái cây vẫn ở đó, mà trời tối đen như mực thì mắt anh có thấy cây không?
-         Không!
-         Và nếu ngay lúc này, người ta đóng cánh cửa lại, thì anh có thấy cây không?
-         Không!
-         Vậy cái nhìn thấy cây ở đâu?
-         Tôi không hiểu!
Đức Phật liền giảng giải: anh muốn thấy cây, tức anh phải có chủ quan, có cái cây kia – tức là có khách quan, nhưng nếu không có nhân duyên là ánh sáng, hay cửa mở anh cũng không thấy cái cây. Vì thế mọi sự ở đời luôn cần có: chủ thể, khách thể và nhân duyên. Giống anh và tôi hôm nay nói chuyện ở đây, lúc này, vì có chủ, có khách, có cơ hội, có địa điểm, nghĩa là có cả nhân duyên cho chúng ta gặp gỡ…
Trần Đăng Khoa và nhiều người nói “tất cả là tài năng” là cách đổ tội cho các cá nhân. Giờ thử hỏi TĐK, tại sao nhiều người nói tài năng của Hội Nhà văn hiện nay mỗi ngày một lão hóa? Chẳng lẽ thế hệ trẻ vẫn chưa được đẻ ra, nghe nói dân số nước ta tăng không ngừng mà, chẳng lẽ điều này không đúng? Đã có bao giờ lãnh đạo Hội ra báo động không ngừng về cái gọi là nguy cơ đổi gác chưa? Và lời báo động này có nấp sau báo động chính trị, hoặc tìm cách đồng hóa vào chính trị để ẩn nấp không? Nếu ngành nghề nào muốn trẻ hóa cán bộ hay tìm người kế nhiệm mà cứ bị buộc tội là “đổi gác” thì ai dám làm, và có phải như vậy cơ quan chỉ còn toàn các ông bà già cứ phải giả đò móm mém cười duyên để diễn vở: vì không có ai nên chúng tôi phải diễn tích cải lão hoàn đồng?
Có một phương ngôn “Năng lực của người ta sẽ trở nên không giới hạn, nếu người ta được phát huy hết cỡ sở trường của mình”. Thử xem, mấy anh nhà thơ rặt rẹo cứ được trải chiếu vàng đăng đi đăng lại thơ nhạt của mình trên báo, rồi tăng chức, rồi ẵm giải, có phải báo Văn Nghệ đang báo động tình trạng sụt giảm vì lý do “các nhà văn, nhà thơ giỏi không chịu gửi bài” là có thực, hay là vì các ông cứ đem sắn khoai nghê nga cây nhà lá vườn hết đát “biết rồi, khổ lắm, nói mãi” lên sân nhà bao cấp phơi, nó mới thành như vậy? Nếu không phải vì lý do này thì lý do nào?
Tất cả do tài năng ư? Cứ cho là vậy. Nhưng tài năng là gì chứ không thể à uôm theo cách nói của mấy ông bà nông dân. Hãy xem nông dân, từ muôn đời nay, khi trồng cấy người ta đều áp dụng phương châm: nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống. Giờ thử hỏi một anh cơ khí, anh ấy bảo: “tất cả vấn đề của xe là tốc độ” có nghe được không? Muốn có tốc độ, người ta phải: nâng cao công xuất của máy, theo đó lốp phải chịu lực hơn, phanh phải ăn hơn, đi đêm đèn phải chiếu xa hơn.
Giờ hỏi đến tác phẩm lớn, anh nhà thơ bảo “tất cả do tài năng”, vậy “chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài” anh tính sao? Văn học là nhân học, triết gia Platon xác định: đạo đức là vấn đề cao nhất của con người. Tài năng chẳng là gì cả nếu người ta không rèn luyện đạo đức. Có phương ngôn “Khoa học không có lương tâm chỉ là táng bại về linh hồn”.
Nhưng cứ bàn riêng về tài năng. Có phương ngôn “văn ôn võ luyện”, văn hay võ mà không ôn và luyện tập thì thành cái gì? Người phương Tây có phương ngôn “Bí quyết của thành công là luyện tập”. Nếu không luyện tập chắc chắn không ai thành công cả. Dù là thần đồng Mozart hay Beethoven cũng luyện tập suốt ngày, và chính Trần Đăng Khoa là bản mẫu hùng hồn nhất về cái gọi là chỉ sống bằng thiên bẩm tự có không rèn luyện người ta khó mà vượt qua kích cỡ của thứ “anh hùng trẻ thơ”.
Tài năng nhà thơ Việt ở cỡ nào? Nói về ngoại ngữ cho dễ hiểu, có bao nhiêu người biết tiếng Anh?… Khi hãng dầu khí Total muốn tuyển một người Việt dưới 25 tuổi biết cả tiếng Anh lẫn tiếng Pháp, khắp miền Bắc không ai lọt cửa… đủ thấy trình độ của người Việt rồi. Thế còn bao nhiêu môn học khác, nào âm nhạc, hội họa, triết học, thần học, hay mỹ học là cái gần gũi nhất với dân làm nghệ thuật, rồi tôn giáo, theo thống kê 90% dân Việt vô thần, còn các nhà văn có đến 95% vô thần. Vậy các vị đào luyện tài năng bằng cách nào hay chỉ có mấy câu chữ nghê nga bẻ vần thành mấy mẩu thơ cảm xúc. Theo triết học không cãi được, cảm xúc chỉ là con ở của lý trí mà thôi, vì thế các tác phẩm thơ ngắn tũn, thường ít hơn một trang giấy của người Việt chỉ là cảm xúc “hầu đồng” mua vui được chăng hay chớ. Chúng đã bao giờ biến thành vở kịch sục sôi sân khấu cuốn theo cả trăm diễn viễn và hàng triệu khán giả? Chúng chỉ để ngâm nga trong vòng vài tiếng suýt xoa bên tách trà hay ly rượu nhạt.
Tại sao chúng ta cần bàn rõ vào tài năng? Bởi nếu chúng ta cứ áng chừng thì mãi mãi chúng ta không thể nào minh định muốn tiến đến tác phẩm lớn phải luyện tập những gì? Dù sao cũng cám ơn nhà thơ Trần Đăng Khoa đã tạo cảm hứng cho tôi để viết bài này.
NHĐ  20/01/2014

Phần nhận xét hiển thị trên trang

ASEAN mạnh hơn nếu đàm phán cả khối’

Ngoại trưởng Phạm Bình Minh mới được đề bạt vào chức Phó Thủ tướng
Phó Thủ tướng Việt Nam Phạm Bình Minh nói về sức mạnh của một khối thống nhất ASEAN khi đàm phán tranh chấp lãnh thổ.
Bình luận của ông Minh, người cũng kiêm chức Bộ trưởng Ngoại giao, được đưa ra tại Bấmmột cuộc thảo luận về vai trò của ASEAN trên trường quốc tế trong khuôn khổ Diễn đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ.

“Tuy nhiên tranh chấp tại Trường Sa thì có nhiều hơn một nước tuyên bố chủ quyền. Do đó ASEAN sẽ mạnh hơn nếu đàm phán như một khối,” ông Minh nói.Trả lời câu hỏi của chủ tọa cuộc thảo luận về tranh chấp lãnh thổ trong vùng theo đó Trung Quốc muốn đàm phán song phương với nước có tranh chấp thay vì đàm phán với ASEAN, ông Minh nói “Nếu tranh chấp là giữa Việt Nam và Trung Quốc thì việc đàm phán là song phương.”
Điểm đáng chú ý là thay vì dùng cụm từ Biển Đông (như một số lãnh đạo Việt Nam đã và đang dùng tại các hội nghị và diễn đàn quốc tế), ông Minh đã dùng cụm từ Biển Nam Trung Hoa khi nói về tranh chấp lãnh thổ tại Trường Sa.
Ông Minh cũng nói về nhu cầu tiến tới Bộ Quy tắc ứng xử COC và triển khai đầy đủ Tuyên bố về ứng xử (DOC).
Chủ đề tranh chấp lãnh thổ tại Biển Đông cũng được cử tọa hỏi Bộ trưởng Thương mại Philippines với việc dẫn chiếu tới điều được xem là việc Trung Quốc có các động thái ‘trừng phạt’ nước có tranh chấp lãnh thổ.
"Nếu tranh chấp là giữa Việt Nam và Trung Quốc thì việc đàm phán là song phương. Tuy nhiên tranh chấp tại Trường Sa thì có nhiều hơn một nước tuyên bố chủ quyền. Do đó ASEAN sẽ mạnh hơn nếu đàm phán như một khối"
Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh
Đó là sự cố Bắc Kinh từng nói họ Bấmchưa bao giờ mời Tổng thống Philippines Benigno Aquino tới dự Hội chợ Trung Quốc – Asean hồi tháng Chín năm khiến ông Aquino phải hủy chuyến đi vào phút chót.
Mặc dù nói đùa rằng đây là mảng của ngoại giao, Bộ trưởng Thương mại Philippines Gregory Domingo cũng tái khẳng định rằng khi tranh chấp có nhiều hơn một nước thì Philippines muốn dùng cơ chế luật pháp.
“Do đó Philippines đã đưa tranh chấp ra Tòa Trọng tài Quốc tế về Luật biển và hy vọng Trung Quốc tham gia để giải quyết tranh chấp này.”
Ông Phạm Bình Minh cũng được chủ tọa hỏi về chỉ dấu cho thấy tiến trình cải cách của Việt Nam dường như không được như dự kiến và khó khăn của cải cách là gì.
Ông Minh nói công cuộc cải cách trong 20 năm của Việt Nam có một số thành công.
“Trước đây chúng tôi dựa vào lao động và vốn nhiều, nay dựa vào kinh tế tri thức, đây là quá trình tái cơ cấu kinh tế sao cho đầu tư có hiệu quả hơn.
Ông Minh cũng nói về điều ông gọi là "Việt Nam đã đạt được ba mảng đột phá là tái cấu trúc nền kinh tế, tập trung vào tái cơ cấu lại nhân lực, và cải thiện cơ sở hạ tầng."
Cuộc thảo luận cũng có sự tham gia của doanh nhân Anthony Fernandes, Tổng Giám đốc điều hành hãng hàng không giá rẻ Air Asia.
Ông Fernandes nói "Châu Á không chỉ là Trung Quốc và Ấn Độ. Đây là thị trường tiêu dùng lớn với tầng lớp trung lưu ngày càng tăng.
"Sức mạnh tiêu dùng là rất lớn và đa số khách hàng mới của chúng tôi là từ ASEAN," ông nói thêm.

Phần nhận xét hiển thị trên trang