Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Sáu, 17 tháng 1, 2014

Nghịch lý cuối năm: Thất nghiệp lắm ăn nhậu nhiều


Không phải đợi cận Tết mới có lý do để ăn nhậu, liên hoan mà từ sau Tết dương lịch tại nhiều công ty, văn phòng đã “rã đám trong cơ quan xôm tụ ngoài quán nhậu” bởi tình trạng chung là …không có việc.
Cuối năm, thất nghiệp, ăn nhậu, nhà hàng, công sở
Quán lẩu trên đường Cầu Giấy kín chỗ sau mỗi buổi chiều
Có mặt tại quán nhậu bình dân khá quy mô trên đường Cầu Giấy, Hà Nội từ hơn 4 giờ chiều, Anh Hà (Cầu Giấy, Hà Nội) nói: “Ngồi lắm ở công ty làm gì, có việc gì nữa đâu”.
Theo anh Hà, anh đi làm ở công ty nhập khẩu và phân phối máy móc thiết bị ngành xây dựng 8 tiếng/ngày, tuy nhiên “chỉ giỏi lắm là thực sự làm 3 tiếng, 5 tiếng còn lại ngồi chơi, lướt facebook, đọc tin tức giết thời gian. Tuần 3 buổi đi đá bóng giao lưu, xong xuôi thì đổ bộ ở quán nhậu để tổng kết”.


Lý do anh đưa ra là “công ty làm ăn thua kém, nhân viên trừ lái xe, kế toán còn lại đúng 3 người, chắc sếp cũng chả buồn đuổi việc ai nữa”.

Anh Hà ngồi chờ một lúc đã có thêm 3 người bạn ra góp vui. Một trong số họ giải thích: “Việc chả có gì nhưng cũng phải chờ hết giờ (5 giờ chiều) để chấm công mới được về”.

Một anh khác mặt đỏ gay, ngà ngà say nói: “Trưa mới làm một chầu, say không biết gì, 2 giờ hơn mới bắt taxi về công ty. Xe đang vứt ở quán lát nữa thằng nào đèo tao chạy qua lấy”.

Theo những người này, không có việc đồng nghĩa với việc chấp nhận lương thấp, các khoản trợ cấp bị cắt giảm. Tuy nhiên nhiều người không dám nhảy việc ở thời điểm này.
Họ cố làm nốt để nhận khoản tiền thưởng Tết (âm lịch) dù ít hay nhiều. Hoặc “nghỉ bây giờ nắm chắc thất nghiệp đến tháng 3 năm sau vì giờ có công ty nào tuyển người nữa?”, một  người lập luận và những người bạn khác đồng tình.

Cùng chung tình trạng trên, anh Hải, tổ trưởng một công ty xây dựng nói: “Mình bận nhất là giai đoạn trước Tết dương. Lúc đó phải hoàn tất hồ sơ để chủ đầu tư thanh toán tiền. Sau đó thì chẳng còn việc gì làm coi như nghỉ Tết từ hồi đó rồi”.

Dọc nhiều tuyến phố như Dương Quảng Hàm, Nghĩa Tân, Văn Cao, Kim Mã… chưa hết giờ tan sở nhưng các quán nhậu bình dân đã nhanh chóng có khách gọi bàn. Chỉ với 3-4 trăm nghìn cho một nồi lẩu 4-5 người ăn là họ có thể ngồi đến hết đêm.

Quán nhậu bình dân "hốt bạc"

Trong khi cánh nam giới ngồi "cắm rễ" ở quán nhậu thì chị em công sở cũng có cách để giết thời gian.

Công ty xây dựng M.D có văn phòng tại nhà riêng của giám đốc ở Văn Cao, Ba Đình cũng đang “khan” việc cuối năm. Chị Hải Anh, nhân viên kế toán, nói “Công ty mình từ đầu năm giờ (1/1) ít nhất là 3 buổi liên hoan rồi”.

Được sếp đồng ý, công ty này gọi dịch vụ lẩu tại nhà, nhà hàng sẽ mang đến tận nơi để cả công ty ăn trưa.

Cuối năm, thất nghiệp, ăn nhậu, nhà hàng, công sở
Quán nhậu bình dân, giá rẻ là lựa chọn của nhiều người

Đồng thời nhà hàng cũng cho khách mượn bát đũa, bếp từ, nồi và các dụng cụ ăn uống khác. Khoảng 2-3 tiếng sau khi mang đồ tới, nhà hàng sẽ đến thu dọn dụng cụ ăn uống.
“Ăn uống bét nhè từ 11 giờ trưa đến hơn 2 giờ chiều mới tan tiệc, sếp cũng thoải mái vì cuối năm công việc không nhiều”, chị Hải Anh cho biết thêm.

Mức giá của lẩu giao tại nhà dao động trung bình từ 300.000 - 600.000 đồng/nồi, tùy theo nguyên liệu và số người ăn. Chi phí khá rẻ lại tiết kiệm thời gian đi lại, đặc biệt, trong những ngày vừa qua, thời tiết rét đậm càng giúp dịch vụ này có cơ hội “ăn nên, làm ra”.
Anh Đông chủ một quán lẩu ở Cầu Giấy, cho biết, đây là giai đoạn “hốt tiền” của các quán ăn nhậu bình dân, giá rẻ. Tại quán của anh từ cuối tháng 12/2013 đã rất đông khách. Đặc biệt trong dịp cận Tết dương vừa qua có những thời điểm quán hết chỗ đành phải từ chối khách.

Theo anh này, năm ngoái quán có chính sách “khuyến mãi” một két bia cho nhóm 20 khách trở lên để thu hút, nhưng năm nay không cần khuyến mãi khách hàng vẫn rất đông. Nếu như các năm trước cận Tết dương, Tết âm quán mới có nhiều khách thì năm nay từ sau Tết dương đã rất đắt khách.

“Nhậu ở quán hầu như là khách quen, công ty đối diện với quán của tôi hầu như tuần phải 3 buổi ra ngồi ở đây. Chỉ 300 nghìn một nồi lẩu cho 4, 5 người thì chẳng đáng bao nhiêu. Cuối năm người ta lại có lý do để ngồi quán tụ tập nhiều hơn”, anh Đông cho biết.

Tại quán Vịt 29 ở Nguyễn Thượng Hiền, Hai Bà Trưng, Hà Nội trong ngày 31/12 từ 11 giờ trưa đã kín chỗ. Quán này phải mượn cả địa điểm là quán cafe bên cạnh cũng không thể đáp ứng hết nhu cầu của khách. Bảo vệ của quán phải ra “nói khéo” để khách thông cảm. Thậm chí, khi hết bàn có khách ngỏ ý mua vịt về liên hoan tại công ty chủ quán cũng đành lắc đầu vì hết hàng.

Khi nhận được điện thoại đặt bàn cho dịp Tết dương của công ty hơn 20 nhân viên, nhân viên phụ trách đặt tiệc của quán vịt này cũng khá băn khoăn. Anh cho biết từ 25 đến 28 Tết khách phải đặt bàn trước 2, 3 ngày bởi số lượng quá đông.

Anh Đức phụ trách đường dây nóng của một quán Lẩu tại nhà ở Thái Hà, Đống Đa cũng cho biết: “Cuối năm đông khách, cửa hàng anh sẽ phục vụ đến tận 28, 29 Tết mới nghỉ”.
Thậm chí anh còn kể: "Có hôm, 2 khách đến đây ăn uống đến say xỉn, lúc đèo nhau về vừa ra khỏi quán được một đoạn thì vấp ổ gà ngã ra đường. 2 người cứ thế ôm vai bá cổ nhau ngồi luôn giữa đường nhìn xe cộ chạy qua chạy lại..."

N.Trang VietnamNet

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Sơ xảy chết người!

Vợ Dương Chí Dũng bị xử đồng phạm hối lộ “ông anh” mật báo?
(Kienthuc.net.vn) - Dương Chí Dũng khai cùng vợ đi gặp "ông anh" mật báo và đưa tiền lót tay, vậy bà Mai Phương có bị xử đồng phạm về tội "đưa hối lộ"?
Bà Phạm Thị Mai Phương, vợ ông Dương Chí Dũng, cũng khai trước tòa rằng ngày 29/4/2012, bà cùng chồng đi thăm vợ chồng "ông anh", lúc đó đang đi nghỉ ở Tuần Châu và có đưa tiền.Trong phiên tòa xét xử Dương Tự Trọng và đồng phạm về hành vi tổ chức cho Dương Chí Dũng bỏ trốn, Dương Chí Dũng có mặt với tư cách là nhân chứng và đã có những lời khai gây chấn động dự luận. Ngoài việc khai "ông anh" mật báo - Thứ trưởng Bộ Công an, thì Dũng đồng thời cho biết "ông anh" đã nhận không ít tiền hối lộ. Trong đó, có tình tiết vợ Dũng là bà Mai Phương đi cùng và có mặt trong một vụ đưa hối lộ 10.000 USD cho "ông anh". 

Bản thân bà Phạm Thị Mai Phương, vợ ông Dương Chí Dũng, cũng là nhân chứng trong phiên tòa trên. Bà cũng khai trước tòa rằng ngày 29/4/2012, bà cùng chồng đi thăm vợ chồng "ông anh", lúc đó đang đi nghỉ ở Tuần Châu và đã đưa tiền.

Nếu lời khai của Dương Chí Dũng là thật thì bà Mai Phương có đồng phạm tội đưa hối lộ?

Theo luật sư Hoàng Văn Thạch, Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội, Văn phòng luật sư Trí Minh, nếu lời khai này là thật thì cần làm rõ mục đích đưa số tiền này để làm gì, có phải là hối lộ, hay đây là khoản tiền thỏa thuận trong một phi vụ làm ăn nào đó được thỏa thuận trước và việc đưa tiền chẳng qua là chia phần.

Nếu đúng là đưa hối lộ (tức là đưa tiền để người nhận là người có chức vụ làm một việc vì lợi ích của người đưa tiền) mà bà Mai Phương có tham gia vào việc này, thể hiện qua việc cùng bàn bạc và đi cùng để đưa tiền thì bà Mai Phương và cả ông Dũng sẽ bị xử lý về tội "đưa hối lộ" theo Điều 289 Bộ luật Hình sự.

Nếu bà Mai Phương chỉ đi cùng ông Dũng nhưng không được bàn bạc, không biết ông Dũng đưa tiền về việc gì thì bà sẽ không phải chịu trách nhiệm về tội đưa hối lộ hay bất cứ tội nào khác.

Nếu cơ quan chức năng chứng minh được bà Mai Phương đưa hối lộ theo các luận điểm nêu trên, thì với số tiền hối lộ là 10.000 USD (tương đương 200 triệu đồng), thì bà Mai Phương có thể phải đối mặt với khung hình phạt tù từ 13 đến 20 năm, theo Khoản 3, Điều 289 Bộ luật Hình sự về tội đưa hối lộ.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chuyện cực ngắn Thái Doãn Hiếu



 
            Thái Doãn Hiểu, 2000
 
 

Viết tiểu thuyết như người đi trên đại lộ, viết truyện ngắn như ngồi trong cửa sổ nhìn ra. Nó chỉ là một nhát cắt. Nhát cắt sắc hay cạn tùy thuộc ở tay nghề và năng lực thẩm thấu cuộc sống của người cầm bút. Tôi vốn bình sinh viết nghiên cứu và phê bình văn học nhưng thể loại văn xuôi này chẳng xa lạ với tôi. Xin gửi tới bạn đọc một chùm  truyện cực ngắn viết theo phong cách cố sự tân biên (truyện cũ viết lại) của văn hào Lỗ Tấn và  truyện cực ngắn với đề  tài hiện đại viết theo phong cách văn hào Sê khốp để thấy rằng lối tư duy hình tượng đã giúp cho những trang văn tư duy tư biện khảo cứu văn hóa của tôi thêm sinh khí.

                                                                                                                                    THÁI DOÃN HIỂU
 



HOÁ KIẾP

Sáng nay, tại phố N... xẩy ra một vụ án mạng động trời.

Bà chủ tịch hội phụ nữ quận tên  Khuê đi làm khuya về, qua một quãng đường vắng thì bị một đám thanh niên choai choai chực sẵn xông ra vác vào nghĩa trang, xé nát áo quần lột trần ra rồi thay nhau hãm hiếp. Bà yếu ớt chống không nổi sự hung hãn của lũ trẻ, nhưng đứa thứ 9 cuối cùng, bị bà cắn đứt ngón tay út.

Sau khi dập tắt được ngọn lửa dâm dục, chúng bỏ mặc cô nằm sóng soài ngất xỉu giữa một đám cỏ nhàu nát. Chúng kéo nhau về quán karaoke ăn nhậu, hút hít, la hét tới tận khuya.

Bà Khuê tỉnh dậy, toàn thân đau ê ẩm như dần, dưới ánh trăng non cố lết về nhà. Bà kể cho chồng là bí thư quận ủy nghe chuyện khủng khiếp. Ông chồng nổi giận đùng đùng.

Gần sáng, họ vào thăm phòng con trai đánh thức nó dậy đi học như thường lệ thì thấy cậu quý tử ngủ say như chết, máu loang ra cả chăn nệm, bàn tay phải mất ngón út mới được băng bó sơ sài. Ông bố sùng sục chạy xuống bếp xách con dao bầu xồng xộc lao lên. Bà mẹ quỳ xuống lạy, ú ớ  không ra tiếng. Nhanh như cắt, ông phóng một  đường  dao sắc lẹm trúng tim con. Cậu bé chết đứ đừ, không kịp ngáp, chết mà chẳng hiểu mình chết vì lẽ gì. Ông đã hóa kiếp cho nó.

Có lẽ sang kiếp khác thằng bé sẽ sống Người hơn ?



VẬT HIẾN TẾ HIỆN ĐẠI


Một cô gái điếm nghèo có nhan sắc tên là Nguyệt Nga bị bệnh nặng, không tiền để thuốc thang. Ông bác sĩ động lòng trắc ẩn thương tình chữa cho miễn phí.

Lành bệnh, cảm cái ơn tái sinh, cô đến tạ ơn bằng cách hiến thân đãi ân nhân một đêm vui. Ông bác sĩ xởi lởi nhận lời. Cuộc mây mưa làm tình đang đến đỉnh điểm cao trào, thì bỗng nhiên nghe một tiếng “kịch” phát rõ to và đục  dưới tấm nệm. Ông bác sĩ tưởng bị khủng bố tấn công, hốt hoảng  “Gì vậy”. “Dạ thưa, không có chi, chỉ là cái khay bị vỡ thôi mà”. “ Sao cô làm thế”. “Dạ thưa, em thấy mọi người khi trả tiền bác sĩ  họ đều đặt tiền vào khay, nâng hai tay dâng. Em cũng đặt em lên khay để tỏ lòng tôn kính”



DI HUẤN THIÊNG LIÊNG


Bà mẹ trong cơn hấp hối, ghé tai anh con trai trưởng thì thào “Khi tao chết, nhớ quật mồ bố mày lên đặt tao nằm cạnh ông ấy”.

Suốt mấy ngày lễ tang, anh ta rất phân vân.

Ngày bố lâm chung, bố anh căn dặn “Khi nào mẹ mày “đi”  thì chôn bà ấy xa xa mộ bố một chút cho bố nhờ, mát cái lỗ  tai”. Không biết nghe theo lời người nào đây ? được lòng bố thì mất lòng mẹ, được lòng mẹ thì mất lòng bố !  Mà lời di huấn của  đấng song thân bao giờ cũng thiêng liêng cả.




TAM NAM BẤT PHÚ


Ông thuyền trưởng lên bờ về thăm gia đình ông anh vợ là nhà giáo. Nhìn anh chị các cháu người nào người nấy xanh như tàu rau, ông cũng đâm ra ái ngại. Học lắm làm chi cho khổ, lại thiếu ăn, đói ngủ.. Ngắm cậu con trai đầu như con nhái bén gò lưng trên bàn làm toán, nhìn thư viện ngút ngàn sách, ông dượng thương hại :

- Anh Cần này, tôi bảo anh hay, anh đọc hết ngần này sách chỉ thêm ngu người đi mà thôi.
Thằng bé không nói gì quay lại trừng mắt nhìn ông dượng như người ngoài hành tinh mới đến. Ông thuyền trưởng nhìn sang bà chị dâu :
- Hay là thế này, chị đuổi ba thằng con xuống ba góc phố, bơm xe kiếm cơm đĩa sống qua ngày. Chữ nghĩa  có ích gì cho thời buổi này. Thiếu tiền mua bơm tôi cho vay. Còn anh nữa, tôi có bà bạn là chủ tàu vận tải lớn, chồng mới chết tai nạn thủy. Anh bỏ cái nghề giáo kiết đi, tôi xin cho anh chân quản gia.
Bà chị chen vô “kiêm đĩ đực” nữa.
-  Chị thì cứ giỡn. Chuyện nghiêm túc đấy.
-  Tôi cũng nghiêm túc thưa lại với dương là:  cảm ơn dượng đã lo lắng đến đời sống gia đình tôi nhưng chúng tôi từ chối dù hiện nay sinh hoạt rất túng quẫn : lương của anh chị là giảng viên đại học chỉ nuôi được ba con trong một tuần, nhưng bọn tôi sẽ đắp đổi co kéo qua ngày lo cho bọn nhỏ học tới nơi tới chốn..

*

25 năm sau. Trước đám giỗ cha rất đông bà con họ hàng thân thích đến dự, ông thuyền trưởng viễn dương đứng lên trịnh trọng thưa với mọi người:
- Cái câu tục ngữ “Tam nam bất phú” thời xưa đúng nhưng nay bị vô hiệu hóa rồi, nó trở nên tào lao chi khươn. Như anh chị vợ tôi có mặt hôm nay ở đây là một nhân chứng hùng hồn vậy.

Mọi người chú mục vào ông bà nhà giáo ăn vận nền nã sang trọng dò xét.
-  Anh chị tôi có 3 thằng con trai. Anh đầu 40 tuổi, vợ con định cư ở nước ngoài,  anh hai 37 tuổi có một công ty phần mềm riêng hái ra tiền, anh ba 33 tuổi làm cho hãng điện ABB nổi tiếng thế giới chi nhánh tại Việt Nam. Anh nào cũng phổ cập bằng nghè, làm sếp lớn, ở nhà lầu, đi xe hơi đời mới, vợ đẹp con khôn. Họ lên đời bằng học bằng chất xám. Ông anh tôi từng phát biểu rất chí lý “Đầu tư cho giáo dục lãi vô cực. nếu tính thô thiển thì anh bỏ 1 đồng lãi 10 đồng. Thời thập niên 80 cả thành phố ăn bo bo, ai cũng chạy đôn chạy đáo kiếm sống, riêng gia đình anh chị tôi bằng chân như vại, ung dung ngồi trên lầu cao, ngày ngày đọc sách, viết sách, dạy dỗ mấy đứa con. Anh ấy bảo: nhà lầu, xe hơi, ti vi, tủ lạnh của tôi đang gửi cả ở nước ngoài. Tôi dạy bầy nhỏ này lớn lên ra ngoại lấy về cho tôi. Mà đúng thế thật, 15 năm sau, những thứ trên anh có tất, chẳng cần phải ra nước ngoài lấy về. Tôi nói điều này chắc chẳng ai tin : Lương chuyên gia về thủy điện của anh cả ở Australia là 300.000 đô Úc mỗi năm. Mà Đô Úc lớn hơn đô Mỹ kia đấy.

Bà con vỗ tay !




TỬ HÌNH CẢ BỐ !


Ông Đội về làng thăm nhà, có hai lính bồng súng theo hầu. Oách thật ! Thời Cải cách ruộng đất, “nhất Đội nhì trời”, không oai mà  được à. Ông Đội mù chữ, chỉ biết mỗi chữ ký phải tập đến cả trăm lần mới thành, nhưng  khi ông kê bản án tử hình tỳ lên ghi đông xe đạp ký cái roẹt thì có bốn năm chục mạng người bay khỏi trái đất như gió mùa thu quét lá. Ông là kẻ sát nhân lương thiện giết người sạch sẽ.

Ông đứng trước cổng, cẩn thận bước qua cánh cửa lim  nặng nề kêu ót ét quay, tần ngần nhìn cơ ngơi dinh lũy phong kiến nhà ông tòa ngang dãy dọc được kiến tạo bao đời, bây giờ nông dân bần cố chia nhau ở, buông một tiếng thở dài não nề. Ông chầm chậm  rẽ phải, đi qua vườn chuối xơ xác. Cuối vườn có một cái ổ chó, nơi gia đình ông bị nông dân tịch biên hết cả gia sản, đuổi cổ khỏi nhà đang cư ngụ trong đó. Ông dừng lại đằng hắng. Một cô bé 7 tuổi chạy ra, mặt lằm lằm, chẳng nói chẳng rằng. Rồi bà mẹ da bọc xương bọc  chống gậy tập tễnh bước ra.
- Bố đâu, mẹ ? Ông Đội hỏi dồn.
Bà mẹ uất lên nghẹn ngào. Cô em căm phẫn:
-  Còn giả bộ hỏi. Anh ký giấy tử hình cả bố còn gì. 43 người tất cả với chữ ký của ông Đội Đỗ Xuyên Tạc còn rành rành ra đó. Chối nữa hay thôi ?
-  Ông Đội sững người, đứng như trời trồng, lâu sau mới thốt nên lời:
-   Trời ơi ! Chúng nó đưa danh sách xử bắn từ xã lên hàng chục người, làm sao đọc xuể, chỉ còn biết hỏi ”tao ký chỗ nào mày ?

Sau những chiến tích “quân pháp bất vị thân” ông Đội Đỗ Xuyên Tạc được cấp trên tín nhiệm, thăng cấp rần rần. Sau Cải cách ruộng đất, ông leo lên đến chức Chủ tịch thành phố  Hải Đông.



CAO HỔ  CỐT THỨ  THIỆT 


Nắng trưa chang chang đổ lửa xuống tán cây trùng điệp rừng Cao Bằng. Kỹ sư địa chất Khắc trằn xuống ngâm mình trong dòng nước suối mát lạnh xua đi cái mệt mỏi sau một buổi trèo leo đi tìm quặng, thì vừa lúc kỹ sư Dần - bạn anh lật đật đi ngang qua.

- Hôm nay, mình sẽ về xuôi nghỉ phép thăm nhà. Cậu có quà gì gửi về cho ông cụ nhà cậu không ?

-  Sao gấp gáp thế ? Biết gửi gì đây được bây giờ ? Á, tớ vừa mua được hai lạng cao hổ cốt của một dân bản người Tày. Cậu mở tủ lấy hộ, ngăn thứ hai bên phài.
Ba tháng sau, kỹ sư Khắc về phép thăm nhà. Ông cụ xuống tận cầu thang đón con trai. Mặt mày hồng hào hớn hở, cụ khoe ngay với Khắc:

-  Cao thế mới gọi là cao chứ, đúng là cao hổ cốt thiệt, uống vào đến đâu biết đó. Chứng đau nhức toàn thân của thầy không thuốc nào chạy chữa khỏi, cứ êm dần rồi lui hẳn.. Cao thật là tốt. Nhưng sao nó rắn thế ?

-  Thầy dùng bằng cách nào ?

-  Lấy thanh cật nứa mài với nước chè. Lạ lắm, nó cứ đặc sánh không tan. Thầy trêu mỗi bữa một ít.

Nghe thế, Khắc hơi chột dạ:
- Cao còn nữa không thầy ?
- Còn nguyên một lạng. Phải dè sẻn không dám dùng nhiều. Thánh y thần dược phải để dành phòng xa chứ.
- Thầy lấy ra đây con đổi cho thứ khác tốt hơn.

Khắc mở ba lô lấy hai lạng cao thật đổi lấy một thỏi dài dài tròn tròn, răn rắn trong tay bố. Lần giở lớp giấy báo ra, nó chỉ là một thỏi cao su đúc ! Thì ra cái thằng đoảng Dần đãng trí đã lấy lộn phải hai chiếc má phanh xe đạp ở chiếc ngăn thứ 2 bên trái..

Thật lầm lẫn chết người - Khắc lẩm nhẩm – may mà… Rất nhanh, anh đổi lo làm vui:
- Thầy à, loại cao này còn tốt hơn thứ thầy vừa dùng. Đây mới chính là cao hổ cốt thứ thiệt đấy ạ !

* Cái ảo giác nhiều khi cũng là chân lý.


MÓN ÓC KH Ỉ 


Năm 1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh gặp các nhân sĩ trí thức Thủ đô Hà Nội. Với một giọng đượm buồn, Người băn khoăn về những tổn thất lớn của Cải cách Ruộng đất mà dư âm còn tê tái và đề nghị các nhân sĩ cho kế sách. Chủ tịch hỏi cụ Phó bảng Phan Võ về nguyên nhân sai lầm. Cụ Phan thưa:

Tôi xin kể Chủ tịch nghe câu chuyện nhỏ.
Bà  Thục Cơ – ái khanh của vua Minh Mạng lâm trọng bệnh. Vua truyền thánh chỉ “bằng mọi giá phải cứu cho được quý phi. Quan thái y chẩn bệnh kê toa. Trong toa có món óc khỉ sống. Triều đình phủ dụ giao cho tỉnh Quảng Trị cấp tốc tiến cung một bộ óc khỉ sống để làm thuốc.

Để chắc ăn, tỉnh đường xuống lệnh “Mỗi huyện bắt 5 con khỉ”. Để trừ hao, huyện sức xuống dưới xã “Mỗi xã bắt 10 con khỉ”. Để phòng xa, xã sức “Mỗi tổng bắt 20 con khỉ”. Tổng lại sức cho làng “Mỗi làm bắt 40 con khỉ”.

Quan lệnh lính truyền, cứ thế làm, không ong đơ chi hết.Lệnh vua chớ đùa, mất cái đầu đội nón như chơi.

Thế rồi, những cánh rừng bạt ngàn thâm u Quảng Trị đang ngủ vùi trong giấc nguyên sinh bỗng chốc náo loạn cả lên bởi cuộc lùng sực săn bắt đại quy mô của hàng trăm phường săn.

Đến ngày quy định, quan ngự y trong Đại Nội nhận được 1.739 con khỉ. Cả một thị tộc nhà khỉ bị tóm. Khỉ ông, khỉ bà, khỉ cha, khỉ mẹ, khỉ con, khỉ cháu, khỉ chắt rầu rầu, ngơ ngác nhìn nhau qua những chiếc rọ nứa đan xoắn xuýt, nước mắt ngắn, nước mắt dài.

Chủ tịch chăm chú nghe. Nghe xong, Người ngùi ngùi sẽ sàng nói:

-Vâng ! vâng ! Tôi hiểu ý cụ: sai một ly đi một dặm ! Xin cảm ơn cụ về lời phê bình thật. Ở Nghệ Tĩnh quê mình tổn thất ra làm sao ?

- Thưa. Vô cùng to lớn. Tôi kể sơ Chủ tịch nghe. Bộ trưởng Đặng Hướng thay mặt Chính phủ về kiểm tra ba tỉnh Thanh Nghệ Tĩnh. Chân ướt chân ráo vừa đặt chân tới Diễn Châu liền bị du kích tóm ngay tống vào tù với tội danh địa chủ lọt lưới và phản động. Mấy tháng sau ông chết trong tù. Cha ông Phan Đăng Lưu là Phan Đăng Dư ở Yên Thành bị bắt tù ở Bến Hới và bỏ mạng trên đó. Ông Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm ở Hương Sơn - vị đốc học liêm chính, bị bắt giải đi chết trên đường đến trại giam. Ông Bộ Trinh người xứ Dừa hoạt động và bị đày cùng Nguyễn Chí Diểu, Huỳnh Ngọc Huệ, cùng với Tố Hữu bị bắt bị đày các nhà lao Lao Bảo, Đắc lay…bị xử bắn bởi lý lịch mờ ám và phản động. Nhà Phan Bội Châu bị kê biên tịch thu, ảnh của nhà chí sĩ bị vứt xuống chuồng lợn. Những chiến sĩ cốt cán Đảng viên 1930-31 bị vu cáo là Quốc dân đảng, bị dùng cực hình tra khảo đấu tố, cầm tù, tiêu biểu là nhà giáo Thái Doãn Tiên ở Yên Lăng. Bí thư chi bộ Đảng Vầng Hồng ở Yên Hòa, Anh Sơn ông Thái Doãn Yết, nhận chỉ thị của bí thư Cửu Thiện sang làm bang tá hoạt động hai mang, bị kết án “Khiếp nhược trước uy vũ kẻ thù đầu hàng chúng phá hoại cách mạng” và nhận bản án tử hình. Ông Nguyễn Công Trạm - thư ký riêng của cụ Hồ Tùng Mậu bị nông dân Thái Sơn Đô Lương lôi về xử tử, cả gia đình ông chết đói 7 người, ba người bị bỏ tù, gia đình tan nát.  Gia đình ông Cửu Trạm là ân nhân nuôi dưỡng ông Nguyễn Sinh Sắc những năm tháng ông Sắc sang Anh Sơn đi học. Nhiều thân hào địa chủ  biết trước kết cục bi đát như thế nên đã treo cổ tự tự. Số bị bắn chính thức theo chỉ tiêu trên bổ xuống nhiều vô kể, mỗi xã 6 mạng, không ngày nào là không ngớt tiếng súng. Theo thống kê của quyển Lịch sử kinh tế Việt Nam, NXB Sự Thật 1957, tổn thất của CCRĐ toàn miền Bắc lên đến 172.008 người bị  giết và nửa triệu người bị hại…

- Vâng ! Con số không nhỏ. Hồ Chủ tịch lấy khăn tay thấm nước mắt.




CHÂU VỀ HỢP PHỐ


Ông Sĩ là doanh nhân thành đạt giàu có đến nghỉ mát ở thành phô H. Ông mới thửa một chiếc đồng hồ hiệu Rôlếch ngay trong chuyến công du đến Pháp.

Ông đi bát phố bằng tắclô để tìm khoái cảm trần thế. Khi về đến nhà thì chiếc đồng hồ đắt tiền của ông bay hơi lúc nào không hay.

Ông đem chuyện  này phô với bạn ông là Chủ tịch thành phố H. cho dịu bớt bực mình, chẳng có một chút hy vọng nào vớt vát lấy lại với tụi kẻ cắp chuyên nghiệp nhiều như rươi ở thành phố này.

Chiều đến. Có chú công an sắc phục chỉnh tề tìm đến khách sạn trao chiếc đồng hô  Rôlếch cho ông Sĩ  với một lời xin lỗi cung kính.

- Xin ngàn lần tha thứ cho sự lầm lẫn của đám đệ tử. Thật không ngờ là ông đây và thủ trưởng của chúng tôi  lại  là chỗ thân tình đến thế.

Ông Sĩ đứng ngẩn người ra   !…



LÀM VUA SƯỚNG LẮM CHA À !

Thằng Trình ba tuổi thỏ thẻ với cha :
- Làm vua sướng lắm cha à ! Cha không biết đó thôi.
- Thế cơ à ! Sướng ra làm sao, con trai ?
- Sướng quá chời ! Giả tỷ như ta có thể ra lệnh : “ Lính ! Mày chạy mau qua bên kia đường mua cho ta một cây kem 5 xu để ta mút”.

Ông bố tròn xoe mắt :
- Còn gì nữa không con?
- Từng ấy đủ rồi - Cậu bé tưng hửng, cái mặt vênh lên.


QUẢ BÁO NHÃN TIỀN


Sài Gòn sau giải phóng.  7 h kém 23 phút  ngày 24-11-1975, tại vòng xoáy  Cộng Hoà đường Nguyễn Văn Cừ xẩy ra tai nạn thật kinh hoàng. Một cô gái trẻ lái chiếc honda chở mẹ bế cậu con trai một tuổi đi cấp cứu bệnh viện Nhi Đồng đã chui tọt vào gầm xe tải làm tử vong tại chỗ cả ba người.

Ông chồng đứng trước một đống thịt bầy nhầy máu mê lênh láng của người thân, ngất xỉu. Cay đắng về đời sống vô thường, ảo ảnh, từ đó sống thui thủi một mình. Ít lâu sau, những bạn bè thân thuộc thấy anh ta xuống tóc, khoác áo nâu tu hành trong một ngôi chùa vắng ngoại thành.

Người ta đồn rằng hồi còn sống trong cứ, anh ta là tay thiện xạ nhất đơn vị, chuyên kiếm thực phẩm cho cơ quan bằng cách săn bắn thú rừng. Anh ấy đã hạ sát 6.783 con thú gồm mễn (hoẵng), cheo, gấu, bò tót, gà rừng, nai, trăn, kỳ đà, khỉ … Người đời ngao ngán chép miệng “gieo gì gặt nấy”.


ÔNG ĂN CHẢ BÀ ĂN NEM


Cậu ấm mang về nhà một cô gái xinh đẹp ý chừng ra mắt gia đình. Ông bố là Tổng Giám đốc một tập đoàn kinh kế lớn của thành phố giật mình. Sau một hồi xét nét, ông lắc đầu:
- Không được đâu con !
- Vì sao ạ ? Nàng đẹp người đẹp nết, có bằng Thạc sĩ kinh tế.
Ông bố vẫn quầy quậy:
- Không được là không được
Cậu con trai tiu nghỉu chán cho cái quyền uy gia trưởng của bố.
Chờ con trai tiễn người yêu ra về lên phòng khách, ông bố chận lại, nói nhỏ vào tai cho cậu đủ nghe:
- Nó là con ngoài giá thú của bố,  tức là em gái ruột của con ! Hiểu chửa ?

Bẵng đi một thời gian sáu bảy năm, cậu quý tử lại sau ba nhắm bảy nhót mang về nhà một nàng khác đẹp như hoa hậu hoàn vũ. Ông bố nhăn nhó :
- Lại vẫn không được đâu...
Bà mẹ lúc đó có mặt trong phòng khách nghe thủng câu chuyện, tuyên bố một câu xanh rờn :
- Cưới được chứ con. Hai đứa khác hoàn toàn dòng máu. Con đâu phải là con trai lão ấy.


BA LẦN ĐẾN THĂM ANH


Có lần, tôi đến thăm một anh bạn  là thầy giáo dạy văn cấp 3 ở một ký túc xá  trường huyện. Tôi thoáng thấy bóng một giai nhân từ trong nhà anh Nam Ninh vội vã bước ra ngõ. Tôi bắt gặp mùi hương trinh bạch từ người con gái yêu kiều vẫn phảng phát đâu đây quyện với hương hoa hồng dịu mát quyến rũ từ bình hoa sứ đặt trên bàn làm việc. Còn gì nữa đây ? Tôi cầm tờ giấy hồng bạch lên – Thơ,  lại thơ – xin phép chủ nhân đọc  nhé. Tôi đọc :

Năm xưa đến thăm anh
giường đơn chồng sách lạnh
bình hoa bụi bám cành…

Năm ngoái đến thăm anh
gối hồng say nệm trắng
bình hồng hương toả bay…

Năm nay đến thăm anh
màn xanh buông cửa ấm
hoa đào cười giữa nôi…

Năm xưa chúc giường Thầy thêm gối 
Năm ngoái chúc nhà Thầy thêm nôi
Năm nay chúc lòng Thầy trẻ mãi! 

- Thì ra là thơ Ý trung nhân của anh tặng đây ? Hay ! Quá hay ! Súc tính như một truyện ngắn. Cánh nhà văn chúng mình có cô đặc mực cho ngòi bút được như thế không nhỉ ?
Giọng Nam Ninh chùng xuống, trầm buồn:
- Vâng, cố nhân đấy. Chúng tôi không tiến nổi đến hôn nhân vì quá nhiều rào cản, anh ạ.


(Rút trong tập truyện THỬ GIẢI MÃ SẤM TRẠNG TRÌNH
của THÁI DOÃN HIỂU, gồm 214 truyện. Chưa xuất bản)



LỜI BÌNH  CỦA TỪ ANH TUẤN :

       Lỗ Tấn viết "cố sự tân biên" bằng những truyện ngắn khá dài. Vì vậy, Ông có đất để sáng tạo. Trong những "cố sự tân biên" của Ông thì "Luyện kiếm" là một sáng tạo kì tài. Cách đây hơn 50 năm, khi còn là một học sinh cấp II, tôi đã mê mẩn truyện ngắn đó và đã đọc đi đọc lại mấy lần liền mà không biết chán.

      "Cố sự tân biên" mà viết bằng truyện ngắn mi ni thì cực khó vì nhà văn phải diễn tả "cố sự" ấy như một vở kịch cực ngắn mà vẫn có lớp lang, có nhân vật, có tình tiết, có kịch tính...Và cái chính là phải nêu lên được một triết lí, một kết luận...nhằm gây được ấn tượng sâu sắc cho người đọc, buộc họ phải suy ngẫm.

       Đã là "cố sự" thì thường là nhiều người biết và đã định hình. Hơn nữa phải "viết lại" chứ không phải "chép lại". Khi viết lại, nhà văn phải sáng tạo như thế nào đó để người đọc "thuận tai", không thấy nhàm chán. Đó là một yêu cầu không dễ thực hiện. Sáng tạo là cốt lõi, là điều bắt buộc của "cố sự tân biên". Anh chọn thể loại truyện ngắn mi ni để  “viết lại” những "chuyện cũ”  thì Anh đúng là "người dũng" trong văn chương!

       Trong dăm truyện ngắn mi ni Anh gửi cho, tôi thích nhất truyện "Ôm lấy của nợ đó mà làm gì?”.

       Tôi nhớ, trước đây, trong bài tham luận gửi Đại hội các nhà văn Việt Nam (tôi quên mất năm nào), Nguyễn Huy Thiệp có kể rằng, khi học trò hỏi Khổng Tử là nếu làm chính trị thì Ông sẽ làm gì trước tiên. Nguyễn Huy Thiệp bảo lúc ấy Khổng Tử cau mặt, càu nhàu trả lời: "Ta sẽ chính danh trước”.

      "Chính danh" là một trong những học thuyết nổi tiếng khoảng 2500 năm nay của Khổng Tử, một bậc "Thánh nhân"", một "Vạn thế sư biểu". Mỗi câu mỗi chữ của Ông đều thành "Kinh", thành "Điển". Vậy mà ngày nay Nguyễn Huy Thiệp diễn tả Khổng Tử cau mặt, càu nhàu khi trả lời học trò việc mình phải "chính danh" trước khi làm chính trị là một sáng tạo rất tài hoa.

      Trong truyện "Ôm lấy của nợ đó mà làm gì?”, Anh lại diễn tả Khổng Tử " vuốt râu bình đạm" (tôi thấy hình như Ông ấy còn tủm tỉm cười) khi trả lời "thắc mắc" của học trò, rằng Ông đã dùng mẹo khích tướng nhằm đuổi hai kẻ hủ nho gàn dở đến quấy rầy mình cũng là một sáng tạo rất lí thú.


LỜI BÌNH CỦA TRẦN MẠNH HẢO :

Bác Thái Doãn Hiểu viết truyện ngắn siêu. Mỗi truyện là một thông điệp thâm thúy.
Về truyện ngắn, bình sinh tôi chỉ phục Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Lưu Vũ,  Thái Doãn Hiểu.

LỜI BÌNH CỦA NHỤY NGUYÊN :

Mảng truyện ngắn thật có giá trị, nó không thua kém gì mảng nghiên cứu và phê bình văn học nổi tiếng của chú.

LỜI BÌNH CỦA ĐỒNG THỊ CHÚC

Tôi biết nhà nghiên cứu và phê bình VH Thái Doãn Hiểu đã viết đến hàng trăm truyện ngắn. Tôi may mắn đọc được một số truyện . Nhưng với chỉ một số đó thôi, tôi đã cảm thấy thật thú vị . Qua truyện của ông giúp tôi hiểu về ngày xưa , nhân vật xưa mà tôi chưa hề biết. Có truyện như điển tích, có truyện như giai thoại và tất cả đều rút ra ý nghĩa hay bài học gì đó cho người đọc nó. Với lối viết ngắn, kiệm lời pha chút hóm hỉnh làm người đọc có lúc bật cười bởi chợt nhận ra một điều gì tâm đắc. Chính vì vậy  đã khiến người đọc nó khi đã đọc hết truyện này sẽ muốn đọc truyện tiếp theo.

Xem thêm:
Chùm truyện cực ngắn của Thái Doãn Hiểu  (1)
http://www.nhavantphcm.com.vn/tac-pham-chon-loc/tha%CC%81i-doa%CC%83n-hie%CC%89u-chu%CC%80m-truye%CC%A3n-cu%CC%A3c-nga%CC%81n.html

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chán quá đi khi nghe lão này nói:

Phê bình bao cấp

Thứ hai - 18/03/2013 10:01
                                                                      
                                                                                          Nhà văn Nguyễn Hoàng Đức

PHÊ BÌNH BAO CẤP ẴM LẤY ĐƯỢC VÀ HÊ CHO XONG

  Nguyễn Hoàng Đức

Mới đây tôi  có đọc bài “Phê bình tấu hài trên báo Văn Nghệ” của Trần Mạnh Hảo, trước hết tôi cám ơn ông về sự tổng lược thông tin và một số ý kiến xác đáng của ông. Về việc đó, chúng ta thấy, báo Văn Nghệ cũng như Hội Nhà Văn đã tổ chức một bữa cơm văn nghệ đúng kiểu sân kho hợp tác, ra quân đồng loạt viết bài tập thể kiểu cơm tập đoàn. Trước hết là một loạt các người ẵm giải thơ được lên sân rồng bao cấp của trung ương, một khi phủ chủ tịch tiếp tổng thống nước ngoài, ông đại sứ hay cụ già quê mùa thì tất cả đều có nghĩa là đã được vào sân rồng để vua biết mặt chúa biết tên.
Nhưng có một điều khác, triết gia Hegel nói thế này: trong lâu đài có cả ông chủ lẫn đầy tớ, vậy thì làm sao phân biệt cái sang của chủ và cái kém cỏi của đầy tớ? Trả lời: ông chủ là người tự do sử dụng lâu đài. Còn đầy tớ là kẻ không thể sử dụng lâu đài theo ý mình. Tài xế và ông chủ đi cùng một chiếc xe sang trọng cũng vậy, ông chủ khác ở chỗ muốn đi chỗ này hay rẽ chỗ kia thì đều được, còn tài xế không thể sử dụng xe theo ý mình.
Báo Văn Nghệ xứng đáng là sân rồng trung ương, nhưng vào tay mấy anh tiểu nông thì chỉ thành cái sân gạch phơi sắn phơi ngô, bao nhiêu năm vẫn chỉ loay hoay phơi rinh rích toàn thơ lè tè cảm tính, tư tưởng cô lại chắc không đủ đầy hai bàn tay, đến như đại ca Thanh Thảo đúc rút cả đời tinh hoa vẫn chỉ là Trường ca chân đất, rồi Trần Quang Quí với “Mầu tự do của đất”, nghĩa là thứ tự do không có được hơi thở của giấc ngủ thụ động lười nhác mà chỉ là mầu đất người ta muốn vứt lên đó cái gì cũng được.
Trong bài này, tôi sẽ cố tình không nhắc đến tên những người viết, bởi tôi chỉ coi họ cũng như phần lớn HNV là những cán bộ quản lý học đòi viết văn bằng cảm xúc mà chưa hề có độ chuyên nghiệp của mỹ học hay lao động nghệ thuật. Đây không phải câu nói xấu vu vơ hàm hồ mà căn cứ trên toàn thể những gì thực chứng. Ở đời, người ta xem quả biết cây, những cán bộ này đã ra quả gì ngoài mấy bài thơ sinh hoạt? Xem chim thấy cánh, xem cá thấy vây, xem cái u của con lạc đà biết nó là loài vượt sa mạc. Trong văn học khi đọc Iliad và Odyssey người ta thấy thế giới thần thần thánh ngự trên đỉnh Ô-lanh-pơ, nhìn Icar gắn cánh bằng sáp bay người ta thấy khát vọng đòi siêu việt của con người. Vậy thì nhìn đại ca bác Năm Trì gãi háng, “sau lưng có một vài thằng con con” ca tụng, thử hỏi ta có hiểu họ là ai với tầm vóc thế nào?!
Có một phương ngôn bất khả cưỡng rằng: “Người nào nhận biết lẽ công chính thì mới là thước đo vạn vật”. Anh phải là thước thì anh đo dù cái gì ngắn dài cũng theo thước, còn nếu anh đo áng chừng bằng gang tay, rồi “cong ăn cong, thẳng ăn thẳng”, mang đậm tuy duy tiểu nông “phép vua thua lệ làng”, cứ ai là cánh hẩu của mình một gang đo thành một đòn gánh, còn ai không thuộc đồng hương của mình dài vài mét cũng chỉ là đầu ngón tay, rồi đem cái áng chừng văn học bụng đó đòi hẩy vàng ra, đem khoai sẵn phơi sẵn trong sân vào ẵm giải, rồi nói dù đây là khoai sắn những mang dòng máu quê hương – đất mẹ quê nhà ấm êm dịu ngọt yêu thương. Tất nhiên cái hương vị quê nhà đó cũng là quê mùa “dân gian” như người Việt đã từng bóc mẽ vui vẻ “đã dân thì gian”. Nhớ lại, việc Thanh Thảo, Phạm Đương, Văn Chinh cậy nhờ vào một comment không dấu, không tên, không rõ ràng mạch lạc, với trí tuệ không phân biệt nổi hai cái tên khác nhau định ù xọe ngụy biện, đủ thấy trí tuệ của mấy ông nghèo nàn rớt mồng tơi đến thế nào! Hôm nay tôi muốn phân tích cụ thể vào thơ của TT và PĐ, dựa trên những tiêu chí rõ ràng nhất:
1- Về Trường ca chân đất của Thanh Thảo, với đoạn được NCH trích dẫn, tôi xin trước hết bàn vào từng câu một:
                         bác Năm Trì tàng tàng tàng
“bác Năm Trì” là một đại từ ngôi thứ ba số ít, không có gì lạ, như cô Lý, cô Xoan,, hay bà Lý Toét. Ba chữ “tàng tàng tàng” có nâng cấp một tẹo gợi cho người ta nhịp điệu kiểu nói lặp từ hay ca khúc.
                         bác Năm Trì dân Quảng Ngãi
Câu này chẳng có gì lạ, là thông tin cấp một như kiểu ông Tổng Phệ hay bà Lý Toét quê Nam Định
                         đêm láng lênh bác ngồi gãi háng
“đêm láng lênh”, coi như được tính điểm vì khác cách nói thường. Còn “bác ngồi gãi háng” thì đó là xú học, thua hẳn câu của Thanh Tre “đêm âm u, nàng ngồi soi mu”. Chữ “gãi” chỉ là bản năng của những con vật, nhưng chữ “soi” là bản nhãn của trí tuệ và bắt đầu mở màn cho nghiên cứu cơ thể học.
                         trăng hạ tuần
Trạng từ chỉ thời gian bình thường
                         nhớ lung mung
Có một tí sáng tạo ở đây từ chữ thường dùng “lung tung” chuyển sang “lung mung”.
                         hình như tổ tiên mình có cái chén mẻ
                         gửi đâu đó bên dưới đế tháp Chàm
                         những ngọn tháp chỉ còn trong ký ức
Ba câu cuối là một sự nghèo nàn tuyệt đối, tổ tiên có cái bát mẻ mà cũng chỉ là nghi vấn “hình như”, được chôn dưới tháp Chàm nhưng lại chỉ còn trong ký ức. Nghĩa là người ta nghèo nàn đến mức cái bát mẻ không có mà ăn, giờ dấu tích khoe khoang nó chỉ là bốc phét vì chẳng còn bằng chứng nào. Tại sao Thanh Thảo lại nghèo nàn đến thế? Không phải dại đâu! Đó chính là cái võ mậu dịch thường trực đấy. Trước đây, trong cơ quan, thường có châm ngôn “mặt trình bày hoàn cảnh”. Nghĩa là trong chế độ xin cho, người ta luôn thường trực một bộ mặt rầu rĩ trình bày hoàn cảnh, rằng gia đình tôi khó khăn lắm mẹ già con thơ cho tôi xin trợ cấp thêm hoặc vài ngày phép. Mở rộng ra, đám ăn mày kiểu “Cái Bang”, muốn ăn xin thì phải xé áo tả tơi, lăn lê cát bụi thì mới xin được chứ. Mở rộng hơn, đám gái điếm trong các thanh lâu bao giờ cũng có trích ngang trình bày hoàn cảnh, nào bố em mất, mẹ em yếu, thế là em cực chẳng đã phải “mồm muốn ăn sáng thì háng phải ăn sương” (chữ háng ở đây hay hơn chữ háng của Thanh Thảo 100 lần, vì đó là cái háng có mục đích và đang được đem ra biện hộ), rồi nàng quay đi giấu một nụ cười khi thấy hiệp sĩ đã sờ tay vào ví. Thanh Thảo cũng không thể là ngoại lệ khi muốn dở bài “khổ nhục kế” để xin-cho. Nào hãy cho tôi được giải, cho tôi giữ ghế, cho tôi được trì hoãn về hưu, thơ là người mà, hãy đọc thơ để hiểu tôi và quê hương tôi. Thanh Thảo sẽ còn có cơ hội với cả dân xứ Quảng. Ơ kìa xứ Quảng ơi, có phải tôi đã có đề từ là tặng dân xứ Quảng, rồi bên trong tôi đã cố gán ghép một nhân vật không có hành động là bác Năm Trì quê Quảng Ngãi, có phải vậy là tôi đã trình bày hoàn cảnh cho cả xứ ta không? Mọi người không xin thì ai biết đường mà cho!
Đây cũng là thứ trí khôn cán bộ “sáng cắp ô đi tối cắp ô về”, rồi cấu bè kết phái thì thầm nhỏ to cũng chỉ có bấy nhiêu thứ, ghế, giải, vào sân rồng phơi thơ khoai sắn, đánh chặn không cho đứa khác vào. Vào càng ít càng tốt! Càng đỡ lo! Vì thế mà mới có cảnh chỉ thấy thơ văn của mấy ông bà già nán lại không chịu về hưu! Mà cũng lấy làm đắc chí ta khôn ngoan. Đúng là cách tiểu nông đắc chí!
2- Về tập thơ “Giờ thứ 25” của Phạm Đương
Napoleon nói “Quá bao dung với tội lỗi là đồng tình với nó”. Nhưng đây không phải là bao dung nữa, mà sự làm ngơ, thậm chí ca tụng sản phẩm ăn cắp sờ sờ và giành giành. Một thiên thạch rơi xuống đồng quê, ta không thể cho rằng thiên thạch đó do đất đồi tạo ra. Một con chíp siêu điện tử lạc vào rổ rau của người trồng rau ta không thể nghĩ rằng, người trồng rau đó sản xuất ra con chíp điện tử. Cái tư duy đầu đường của Phạm Đương coi “Đếch” là ngọc tung vào thơ, ta không thể mặc định cho rằng “giờ thứ 25” là của Phạm Đương. Người đời đã dạy, “y phục xứng kỳ đức” hoặc “đóng gói phải hợp với bao bì”, cái bao bì kỳ vĩ như vậy sao có thể mặc nhiên đóng gói cho mấy câu thơ lẩm cẩm của PĐ?
Một kẻ ăn cắp thường không thấy kẻ ăn cắp là phạm tội! Một kẻ muốn bao dung cho kẻ cắp là vì hắn muốn “dễ người dễ ta”, đến khi tôi bị phát hiện ra là ăn cắp mong mọi người miễn thứ cho. Tôi đề nghị từ nay ai muốn khen thơ của PĐ thì tùy, nhưng trước khi đó phải trả lại tên gọi cho chính chủ, còn sau đó các vị muốn ca tụng thế nào cũng được.
Có một câu chuyện  Tiếu Lâm thế này. Anh chàng kia đần độn lắm, nhưng nó lú có chú nó khôn, ông chú nó bảo: “yên tâm tao sẽ cho mày lấy vợ quan”. Ông ta liền đi bắt mối cho cháu mình với nhà quan.
Quan bảo: – Thằng cháu ông đần thế làm sao đòi lấy cành vàng lá ngọc nhà tôi?
Ông chú:- Đần thế nào, bề ngoài nó thế nhưng cái gì cũng biết đấy, thông kim bác cổ.
Quan: – Thế thì ông phải để tôi thử!
Chú: -Xin mời!
Ông chú về dặn cháu, “mày đến nhà lão quan, chỉ nói đúng một chữ rồi về”. Anh đần đến nhà quan. Quan dẫn lại bàn thờ, chỉ bức hoành phi, chữ nghĩa thì anh biết gì bèn đứng đần mặt ra, quan giục, nhớ lời chú chỉ nói một câu anh liền văng “Con cặc!” rồi bỏ về.
Quan tức lắm liền tìm gặp ông chú: – Ông bảo nó thông thái mà đứng trước bàn thờ nhà tôi nó văng “con cặc” ra, như vậy có đốn mạt không?
Chú vỗ đùi: – Trời ơi sao thằng cháu tôi lại khôn và thâm thúy đến vậy!
Quan: – Khôn chỗ nào?
Chú: – Đứng trước bàn thờ nhà ông, tức là đứng trước tổ tông, nối dõi tông đường. Để làm việc đó phi con cặc ra thì ai làm được!
Quan: – Ừ nhỉ, cháu ông giỏi quá! Tôi sẽ gả con gái liền.
Phê bình tán là vậy, tán xuôi tán ngược người có ít chữ thì đều có thể tán, chính thế mà người Trung Quốc dạy, hãy đề phòng kẻ trí, có trí thì hay trá. Đặc biệt mấy anh cán bộ tiểu nông khôn vặt rất hay giở võ ma lanh trí trá. Giờ chúng ta thử nghĩ về một kịch bản hoàn toàn có thẻ xảy ra.
-         Các anh năm nay vào đợt xét giải đấy!
-         Phải thế chứ! Chẳng lẽ giải của các ông chỉ loanh quanh Vĩnh Phú, quân đội, rồi Sơn Tây, Hà Tây mãi sao?
-         Anh nói thế không được, năm trước chúng tôi chẳng trao cho một đàn bà con gái ở tận miền Trung sao?
-         Đàn bà là một cơ số khác, thiếu gì thằng đàn ông đã cho đàn bà ăn giải chỉ vì đã ăn vốn tự có của nó! Ông có muốn tôi kể tên ra không, kể luôn cả tên thằng làm thơ hộ nó…
-         Thôi, thôi… thì anh được sắp ẵm giải lần này rồi còn gì nữa! Sống nên biết điều, mình ăn thì cũng phải có chỗ cho người khác ăn.
-         Chúng tôi có mấy xuất?
-         Hai xuất được chưa?
-         Tôi và ai?
-         Đệ tử ruột của anh luôn!
-         Tôi sợ thằng ấy thơ hơi kém! Cái tên tập thơ ấy nó lại ăn cắp của người khác!
-         Ôi dào nước ta ai người ta bắt bẻ việc đạo văn, lại chỉ có mỗi một đầu đề.
-         Bạn đọc đã vậy, nhưng ban giám khảo thì sao?
-         Ban giám khảo mình thì cũng toàn là nông-binh, như anh và tôi vậy, toàn đọc tập thơ mỏng như kiến, có mấy khi đọc sách có gáy mà biết được.
-         Ừ nhỉ! Nhưng thơ thằng này mới học đòi cũng dở lắm!
-         Anh trao giải hay tôi? Anh cứ bảo nó gửi thơ lên. Lên chức được, thành tích được là do báo cáo chứ đâu phải việc làm. Anh cứ bảo nó gửi lên, tôi sẽ sai mấy đứa long tong bình cho ra cái hay thì thôi. Anh biết chuyện bình “con cặc” chưa?
-         Chưa!
-         Đấy cái chuyện người ta vẫn kể đó, con cặc còn bình ra tổ tiên nữa là cái khác!
-         Nhưng thơ của tôi và thằng này có cả cứt và đếch?
-         Không sao, khoai sắn phơi ở đây mà chúng tôi còn tán đó là rượu nút lá chuối của tổ tiên đang lên hương thì ngại gì cứt và đếch?!
Bài đã dài, để gạn đục khơi trong não trạng cán bộ nhạt nhẽo của văn học mậu dịch thì còn rất dài. Hẹn bà con một dịp rất gần đây, sau khi tôi đã xả hơi chút đỉnh. Cám ơn nhiều!
NHĐ   16/03/2013
Tác giả gửi cho NTT blog

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Hậu duệ và trí tuệ


Tạp chí Cộng sản
Hiệu Minh Blog

Càng đi xa, càng thấy mình nhỏ bé
Con ông cháu cha. Ảnh: Internet
Con ông cháu cha. Ảnh: Internet
HM Blog. Tôi chưa bao giờ đọc Tạp chí Cộng sản, nhưng vào trang Viet- Studies, thấy ông giáo sư dẫn đường link này, và cho rằng lạ…tôi cũng thấy lạ.
Tác giả viết rất có lý, nhất là trong bối cảnh hiện nay, nhiều con ông cháu cha đang làm mưa làm gió. Đôi lúc vì bao che nhau, đến lúc lộ hàng, cả nhà ra trước vành móng ngựa. Tránh xung đột lợi ích, trong đó có việc, cha mẹ, anh em không được làm việc dưới quyền nhau, không được tuyển, bổ nhiệm vượt cấp chỉ vì COCC… là một bước quan trọng tránh được lợi ích nhóm, lợi ích dòng tộc.
TCCS – Nhiều năm nay, nói về hiện tượng tiêu cực trong công tác đề bạt, bổ nhiệm, tuyển chọn cán bộ của ta trong xã hội đã lưu truyền câu vè: “Thứ nhất quan hệ/ Thứ nhì tiền tệ/ Thứ ba hậu duệ/ Thứ tư trí tuệ”. Thật ra, câu vè này còn có tới mấy dị bản. Thí dụ: Dị bản 1, “Thứ nhất tiền tệ/ Thứ nhì hậu duệ/ Thứ ba đồ đệ/ Thứ tư trí tuệ”. Dị bản 2, “Thứ nhất hậu duệ/ Thứ nhì quan hệ/ Thứ ba tiền tệ/ Thứ tư trí tuệ”. Điều đáng chú ý là ở tất cả các dị bản đó, trí tuệ đều bị xếp ở cuối bảng tổng sắp.
Với các dị bản nêu trên, theo tôi, dị bản 2 xem ra là phù hợp nhất với những hiện tượng có trong thực tế của nước ta hiện nay. Bởi vì, dù có quan hệ rộng rãi hay có nhiều tiền bạc đến mấy thì những cán bộ trẻ chưa đầy 30 tuổi, rất thiếu vốn kiến thức chuyên ngành và thiếu cả kinh nghiệm lãnh đạo, quản lý, không thể bỗng chốc nhảy phóc lên tới chức vụ trưởng, cục trưởng, thứ trưởng, bí thư, chủ tịch cấp huyện, cấp tỉnh hay tổng giám đốc một tổng công ty cực lớn có tới mấy nghìn cán bộ, công nhân viên nếu không phải là “con, cháu các cụ”. Vì thế, người ta đưa hậu duệ lên đầu bảng tổngsắp là rất có lý. Hậu duệ ở đây, dân gian thường gọi là lớp người thuộc “4c”: “con, cháu các cụ”.
Người Nhật có câu: “Quan hệ tốt coi như đã hoàn thành tới 70% công việc”. Vì thế, quan hệ được xếp ở vị trí thứ hai. Khái niệm quan hệ mà người Nhật nói chủ yếu là quan hệ giao tiếp, ứng xử; nhưng ở Việt Nam chủ yếu lại là quan hệ bà con, họ hàng hay bạn bè thân thiết, thậm chí là quan hệ theo nhóm lợi ích.
Dù giao tiếp, ứng xử giỏi đến mấy; dù có là quan hệ bà con, họ hàng hay bạn bè thân thiết với những cán bộ “cốp” mà thiếu tiền thì nhiều khi cũng không được việc. Vì thế, trong bảng tổng sắp, tiền tệ được xếp ở vị trí thứ ba.
Còn trí tuệ? Xin mời xuống cuối bảng. Tôi biết, có không ít sinh viên học rất giỏi ở các trường đại học danh tiếng tại Mỹ, Anh, Pháp, Nhật Bản, Ô-xtrây-li-a,… nhưng không phải là “con, cháu các cụ”; tiền không nhiều; quan hệ lại không rộng rãi, không khôn khéo, hoặc không được những người thân, quen có địa vị cao trong xã hội giới thiệu thì vẫn cứ lang thang, thất nghiệp. Tài năng và trí tuệ của các em chẳng có nghĩa lý gì.
Từ một số hiện tượng nêu trên, tôi xin nêu ra ba trường hợp với mong muốn cùng độc giả trao đổi.
  1. Một là, nếu “con, cháu các cụ” thật sự có năng lực và phẩm chất tốt thì cho dù họ còn rất trẻ cũng xứng đáng được giao những chức vụ quan trọng, và chúng ta phải mừng vì đó cũng là hiện tượng “hổ phụ sinh hổ tử”.
  2. Hai là, nếu “các cụ” đặt con, cháu mình vào những chiếc ghế đầy quyền lực, nhưng thấy họ không đủ năng lực và phẩm chất để đảm đương công việc, “các cụ” lại tỉnh táo động viên, khuyên bảo họ từ chức để người khác làm thay. Trường hợp này đương nhiên không thể khen, song cũng không đáng trách.
  3. Ba là, “các cụ” bế con, cháu mình lên đặt vào những chiếc ghế đầy quyền lực, nhưng khi thấy con, cháu không đủ năng lực và phẩm chất đảm đương công việc mà “các cụ” vẫn “cố đấm ăn xôi”, quyết dùng ảnh hưởng của mình để giữ ghế cho họ. Trường hợp này chẳng những đáng phê phán mà còn phải có hình thức kỷ luật thích hợp; bởi vì, như vậy rõ ràng là “các cụ” đã vi phạm nghiêm trọng Quy định của Ban Chấp hành Trung ương Đảng “Về những điều đảng viên không được làm”.
Các cụ ta từ xưa đã tổng kết: “cố đấm ăn xôi, xôi lại hẩm”. Thâm thúy quá!
Tiến Hải. Theo Tạp chí Cộng Sản

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Năm, 16 tháng 1, 2014

Kiệt quệ niềm tin, kiệt quệ vốn xã hội


Câu hay nhất trong bài: "Chúng ta mất niềm tin ở chính mình". Đấu tranh như húc đầu vào bức tường đá, dẫn tới chán nản và mất niềm tin mình có thể làm gì có ích cho xã hội. Trước đây (những năm 80) lớp trẻ còn hay nói với nhau: "Đấu tranh thì tránh đâu ?", "Thật thà, thẳng thắn thì thua thiệt", sang thập kỷ 90 thì chán nản; đa số anh em có năng lực đều bỏ đi nước ngoài làm luận án tiến sĩ 3-5 năm để chờ thời, nhưng thời đâu chẳng thấy, tình hình càng ngày càng tồi tệ. Nhiều người đành ở lại nước ngoài không về; một số về thì "chọn sự cam chịu, lảng tránh thực tại, lảng tránh nhìn vào mắt đối diện..." đúng như TS Dương mô tả.
Kiệt quệ niềm tin, kiệt quệ vốn xã hội
Hy vọng những đốm lửa nhỏ, cần mẫn: Cả một thành phố bảy, tám triệu dân, hơn cả một nước người ta, vậy mà nhàm chán một cách không thể tưởng tượng được. Cuộc sống trở nên tầm thường và vụn vặt không thể tả.
"Những nơi tôi đi qua không ở đâu thấy đông thanh niên trai tráng ngồi lê la vỉa hè, cắn hạt bí, hạt hướng dương, uống nước chè, tập tạnh hút thuốc lào, nói bậy và chửi đổng... nhiều như trên vỉa hè Hà Nội". Ảnh HD Vietnam
Cạn kiệt niềm tin 

Cũng khoảng giờ này năm ngoái, khi mới chân ướt chân ráo trở về, sau khi có trải nghiệm thực tế, tôi có viết một bài báo nhỏ có tiêu đề: Câu chuyện của niềm tin.

Đại thể, tôi kể lại những va chạm thực tế để thấy rằng, mất niềm tin đang là cái đáng lo ngại nhất trong xã hội Việt Nam dưới con mắt của người mới nhập cuộc. Vì thiếu niềm tin nên mọi việc bỗng trở nên khó khăn và tốn kém gấp bội. Cuộc sống bỗng trở nên toàn màu xám. Con người căng thẳng, hiệu năng làm việc thấp vì hợp tác kém, mà lý do chính là không tin nhau, nên dành thời gian kiểm soát nhau vì phối hợp làm việc chung.

Ngay lúc đó, tôi đã nhận ra rằng: Một trong những vấn đề lớn nhất mà xã hội này phải đương đầu là sự mất niềm tin trầm trọng. Niềm tin giữa người dân và chính quyền, giữa người dân và doanh nghiệp, giữa doanh nghiệp với nhau, tóm lại giữa người và người, và đặc biệt là niềm tin vào bản thân mình.

Sau đó, mỗi khi gặp mặt, ngay cả với giới tinh hoa, giữa những than thở, hay đằng sau ánh mắt xa xăm, là một sự chán nản và khắc khoải. Rất ít hy vọng và lòng tin trong các câu chuyện. Sau những lần như thế, tôi thấy rất mệt mỏi. Sinh lực dường như đã bị rút hết đi, đến mức nhiều khi sợ gặp gỡ, vì sợ phải nghe những lời than như vậy.

Trong số những người tôi quen biết mỗi người chọn một cách phản ứng khác nhau. Nhiều người chọn sự cam chịu. Nhiều người lảng tránh, lảng tránh thực tại, lảng tránh nhìn vào mắt đối diện.

Nhiều người giết thời gian trên bàn nhậu. Có tiền thì nhậu sang, ít tiền thì bình dân. Thanh niên ít tiền hơn thì giết thời gian trong các quán trà đá vỉa hè.

Người không thích nhậu, hoặc không đủ sức để nhậu hoặc không có tiền để nhậu thì vùi mình vào các trang lá cải, mỗi ngày ngốn hàng chục bài tin tức, na ná như nhau vô thưởng vô phạt. Sau đó bức xúc một hồi, càm ràm hoặc nặng hơn là chửi đổng vài câu rồi lại vùi đầu đọc tiếp.

Nhiều người bức xúc quá có phản ứng mạnh. Nhưng như con cá nằm trên lưới, càng giẫy giụa càng đau đớn. Nên sau mỗi hồi mệt mỏi cũng đến lúc nằm im "makeno".

Kinh tế khó khăn, tinh thần bức bối, đặc biệt phát ngôn của các quan chức, các nhà làm chính sách bỗng trở nên đáng ngờ. Các mạng lưới hoạt động trong xã hội giờ chỉ còn quan hệ huyết thống đáng tin cẩn. Vì thế, vun vén cho gia tộc xây dựng nhà thờ họ, đã trở thành một trong lối sống của những người có địa vị trong xã hội.

Xã hội như vận hành bởi bộ tiêu chuẩn kép. Ai cũng biết vậy mà không phải vậy. Không phải vậy mà vẫn là như vậy. Nên ở cơ quan sống theo một chuẩn khác, về nhà lại một chuẩn khác nữa. Mỗi người phải đóng quá nhiều vai diễn, đến mức mệt mỏi kiệt quệ, mà không biết để làm gì.

Chưa bao giờ các hoạt động tâm linh cúng bái lại phát triển như hiện giờ, bất chấp khoa học đã phát triển nhiều hơn so với hàng chục năm về trước, thông tin cũng phong phú hơn nhiều.Vì sao vậy? Vì người ta không tin ở con người, nên đành tìm đến nơi thánh thần, dù biết rằng cũng nhiều kẻ lợi dụng việc này để trục lợi.

Nhiều lần đi qua các quán nhậu ven đường, tôi đã tần ngần tự hỏi: sao trong giờ làm việc lại đông người lang thang quán xá đến như vậy?

Những nơi tôi đi qua không ở đâu thấy đông thanh niên trai tráng ngồi lê la vỉa hè, cắn hạt bí, hạt hướng dương, uống nước chè, tập tạnh hút thuốc lào, nói bậy và chửi đổng... nhiều như trên vỉa hè Hà Nội, đặc biệt là các nơi cổng trường đại học.

Không ai nói chuyện khoa học, văn chương. Không ai quan tâm đến bảo tàng triển lãm. Không ai bàn tán về các thành tựu, khoa học, nhân văn mới. Không ai đả động đến ước mơ hay khát vọng.

Những buổi nói chuyện dành cho đại chúng về các chủ đề rất mới, do các học giả nổi tiếng thuyết trình, cũng không có nổi đến vài chục người tham dự. Mà nếu có thì vẫn những khuôn mặt ấy. Rất cũ!

Cả một thành phố bảy, tám triệu dân, hơn cả một nước người ta, vậy mà nhàm chán một cách không thể tưởng tượng được. Cuộc sống trở nên tầm thường và vụn vặt không thể tả.

Trên mặt bằng truyền thông thì còn những tệ hại hơn nhiều. Nếu rút tất cả những tin liên quan đến chuyện hở hang, chém giết, sốc, sex, giật gân thì bỗng thấy nhiều tờ báo sụp cái rầm vì trống trơn bài vở.

Một năm trôi qua, câu chuyện lại có phần thêm u ám. Một xã hội thiếu hụt niềm tin mỗi ngày thêm hiển hiện rõ nét qua từng việc cụ thể chứ không chỉ là cảm giác như ngày nào.

Mỗi khi cầm một xấp giấy tờ với chồng chất dấu mộc đỏ choét tôi không khỏi ngần ngại. Chưa ở đâu tôi thấy những văn bản giấy tờ cần nhiều dấu đỏ như vậy, qua nhiều cửa ải xét duyệt như vậy. Nhưng cũng chưa ở đâu sự giả mạo trở nên phổ biến, được rao bán công khai như ở đây.

Cái nguy hiểm của sự mất niềm tin này là sự bào mòn sinh khí. Nếu như sự sợ hãi làm cho con người ta co cụm, đến một lúc nào đó có thể tạo ra một sự phản ứng đủ mạnh để vượt qua, thì mất niềm tin không gây ra một cảm xúc mạnh như vậy. Nó chỉ là đơn giản là làm mất hết sinh khí, vì người dân không còn tin vào công lý, không tin vào chính quyền, không tin ai, và không tin ngay cả chính bản thân mình.

Kiệt quệ vốn xã hội

Còn nhớ mỗi khi bàn về vốn xã hội, tuy có nhiều cách tiếp cận và lý giải khác nhau, nhưng chúng tôi đều thống nhất ở một điểm: Niềm tin nằm ở trái tim của vốn xã hội. Đó là niềm tin giữa người với người, người với thể chế, người với chính bản thân mình.

Vậy là niềm tin, một khái niệm xa lạ với môn kinh tế học phát triển, đã có được chỗ đứng đàng hoàng trong lòng nhiều nhà kinh tế học.

Niềm tin đã trở thành một thứ vốn của xã hội. Mà đã là vốn thì có thể dùng để sinh lợi. Trong trường hợp này, niềm tin đã trở thành một thứ tài sản giúp cho xã hội hoạt động trơn tru hiệu quả hơn, chi phí giao dịch vì thế mà ít đi.

Khi có niềm tin thì việc gì cũng suôn sẻ dễ dàng. Điều này đúng quy mô cá nhân, đúng cả quy mô quốc gia.

Các chính trị gia lão luyện Đông Tây kim cổ đều đặt vấn đề xây dựng lòng tin với với dân mình lên hàng đầu. Ngay ở Việt Nam cũng có những ví dụ này từ xa xưa trong lịch sử. Tương truyền, để dân tin vào cuộc kháng chiến chống quân Minh của Lê Lợi, trong lúc binh yếu lực mỏng, Nguyễn Trãi đã cho dùng mật mỡ viết lên tám chữ: Lê Lợi vì quân, Nguyễn Trãi vi thần lên lá đa. Kiến thấy vậy bu vào đục thành chữ. Người dân đọc được thì tin rằng đây đúng là mệnh trời. Bài học vỡ lòng dành cho các chính trị gia xem ra vẫn còn điều xa lạ.

Tất nhiên, bên cạnh niềm tin, thì vốn xã hội còn thêm các yếu tố khác nữa. Có thể kể hai trong các số đó: thói quen tập tục, truyền thông văn hóa ứng xử; và sự phong phú lành mạnh của các hội đoàn, tức của mạng lưới xã hội dân sự.

Tiếc rằng, cả hai yếu tố này cũng rất yếu. Đút lót hối lộ dường như đã trở thành văn hóa, gọi là văn hóa phong bì. Sự giả dối đã tràn vào cả trường học, nên bị gọi là "nỗi buồn lớn ngành giáo dục"

Cuộc khủng khoảng kinh tế kéo dài suốt mấy năm nay lại càng làm cho vốn xã hội thêm kiệt quệ. Lẽ ra nếu có một vốn xã hội thắt lưng đủ đầy, người dân sẽ dễ vượt qua những thời khắc khó khăn hơn. Vì tin nhau, tin vào quan chức và chính sách chung. Đằng này quan chức nói gì, dân chúng lại bảo nhau làm ngược lại.

Kinh tế rối loạn, lòng người hoang mang. Khó khăn càng thêm chồng chất không biết đến bao giờ mới gỡ được.

"Mất tiền là mất ít, mất bạn là mất nhiều, nhưng mất lòng tin là mất tất cả". Người xưa đã tổng kết như vậy, nên thấy thực trạng này, không ai tránh khỏi sự buồn rầu.

Nhiều lúc nhìn xã hội như mớ bòng bong, không biết lần ra đằng nào. Mà lần ra được rồi thì cũng không gỡ ra được vì nó xoắn xuýt chặt chẽ vì lợi ích, vì bè phái, vì u mê.

Nguyên nhân vì đâu? Tất nhiên là vì cơ chế. Ai chả nói thế. Dễ nhất và trúng nhất. Nhưng cơ chế do ai làm ra? Tất nhiên là do con người, trong đó có tôi và bạn.

Nhưng cụ thể hơn, đó là cái gì của tôi và bạn? Sức khỏe, văn hóa, tri thức, học vấn, kỹ năng, tinh thần sáng tạo, ước mơ khát vọng, lòng quả cảm, sự dấn thân ...hay còn gì khác nữa?

Câu trả lời là tất cả.

Đến đây lại thêm giật mình. Thì ra mọi thứ chưa tốt như mong đợi cũng có phần ta đóng góp. Vậy nên, thay vì trông chờ vào một sự thay đổi lớn hãy chủ động tạo ra những sự thay đổi nhỏ trước đã.

Nếu không thay đổi được đời, thì thay đổi ta trước vậy. Khi những ngọn đuốc lớn đã không thể cháy thì chỉ còn hy vọng vào những đốm lửa nhỏ, kiên nhẫn và cần mẫn.

Nhiều việc nhỏ góp lại sẽ thành việc lớn. Xưa nay vẫn thế, có cách nào khác được.

TS Giáp Văn Dương
(Thời báo Kinh tế Sài gòn)

Phần nhận xét hiển thị trên trang