Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Năm, 28 tháng 11, 2013

Để nuôi mình phải nói dối triền miên



Chuyện nói zối đã là mãn tính,
nghe quen rồi, nghe suốt tháng suốt năm...
Có gì đâu phải gào lên "Không thể nào tin được!"
khi bảo: "Đồ Sơn không có mại dâm"

...
mà các em có bán gì đi nữa
thì cũng nuôi đời em bằng cái-chính-chủ-của-các-em
siêu nói dối phải là những kẻ...
để nuôi mình phải nói dối triền miên

...
Nguồn: Facebook Le Duc Duc

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Sự thật về 100ha cao su và dinh thự của Chủ tịch tỉnh Bình Dương


Mới đây trong phiên họp của Ủy ban Thường vụ QH bàn về thực trạng lãng phí, có ĐB đã nói: “Trụ sở một số tỉnh thì mênh mông, trụ sở của đảng ủy nhiều tỉnh thì phản cảm, xây dựng lộng lẫy, xa hoa. Đây là nơi phục vụ dân chứ không phải là cung điện”. Đấy là chuyện tài sản công, nay quay lại ở tỉnh Bình Dương mới biết, “dinh thự” của Chủ tịch UBND Bình Dương Lê Thanh Cung xem ra cũng nguy nga, lộng lẫy và sang trọng như một cung điện…
Tòa dinh thự nguy nga và bề thế của Chủ tịch UBND tỉnh Bình Dương Lê Thanh Cung
Bức xúc, các 'đại gia' đua nhau kiện chủ tịch tỉnh ra tòa
Ông chủ Đại Nam tố cáo chủ tịch tỉnh Bình Dương
Ông chủ Đại Nam tố, chủ tịch tỉnh Bình Dương nói gì?
Theo thông tin bạn đọc cung cấp, nhóm PV đã đi tìm hiểu và thật sự bất ngờ trước khối tài sản của Chủ tịch UBND tỉnh Bình Dương, và những gì PV ghi nhận được ai ai ở đất Bình Dương ít nhiều cũng biết. Thật ra tài sản ấy từ đâu mà có?

Từ khu rừng cao su lên đến hơn 100 ha

Khi vừa đến thị trấn Mỹ Phước, huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương, để ăn sáng, hỏi thăm rừng cao su của ông Chín Cung, ai cũng biết và họ tận tình chỉ đường cho chúng tôi tìm đến. Họ còn “lưu ý” rằng: “Trong khu vực rừng cao su đó, khi nào các anh thấy nơi nào có tường rào kẽm gai, toàn bộ rừng cao su có đến hàng trăm hecta nhưng đều được rào bằng rường rào kẽm gai hẳn hoi, đường dẫn vào rừng cao su tráng nhựa đẹp, đó là rừng cao su của ông Chín Cung”….

Theo sự chỉ dẫn của người dân, khoảng 20 phút sau, chúng tôi có mặt tại Ấp 8 (nay đổi tên thành Ấp Bến Sắn), thuộc xã Long Nguyên, huyện Bến Cát. Cũng thật không khó để nhận ra rừng cao su bạt ngàn của ông Chín Cung trên con đường tráng nhựa liền lặn và đẹp nhất ở xã Long Nguyên. Nhằm làm rõ rừng cao su được bao bọc bởi hàng rào kẽm gai kiên cố, vào vai một người khách đi lỡ đường, tôi tấp xe gắn máy vào căn nhà nằm trong khuôn viên rừng cao su của ông Chín Cung. Một người đàn ông luống tuổi, ở trần trùng trục, trên người nhễ nhại mồ hôi, bước ra hỏi chúng tôi kiếm ai. Chúng tôi giả vờ hỏi thăm rừng cao su của ông Chín Cung ở đâu, người đàn ông nhanh nhảu nói: “Ở đây, khoảng 100 hecta này là của ông Chín Cung. Cao su này được 6-7 tuổi, các chú hỏi mua cao su phải không?”. Chúng tôi phải trả lời khéo là nghe nói ông Chín Cung có rừng cao su đẹp, nên muốn đến tham quan. Người đàn ông cho biết tiếp: “Khỏi nói rồi, rừng cao su của ông Chín ở đây ai mà không biết ngon lành nhất vùngChịu khó mất khoảng một giờ đồng hồ đảo quanh khu vực rừng cao su của ông Chín Cung, chúng tôi phải thừa nhận là rừng cao su của ông Chín thuộc hàng đắt giá nhất ở địa phương. Các con đường chính dẫn vào rừng cao su ông Chín Cung đều được xây dựng liền lạc, khi qua khỏi ranh giới rừng cao su của ông Chín Cung là đường sá bầy hầy, xuống cấp…

Theo giá cả mà chúng tôi hỏi thăm nhiều người dân ở xã Long Nguyên, mỗi hecta rừng cao su mặt tiền đường nhựa đẹp như rừng cao su của ông Chín Cung có giá 1,2 - 1,3 tỷ đồng. Từ diện tích rừng cao su trên dưới 100 hecta kể trên, ông Chín Cung đang có trong tay số tài sản “nhỏ nhoi” lên đến hàng trăm tỷ đồng. Một số tiền khổng lồ đối với người dân ở địa phương, cả nước nói chung.

Khu rừng cao su rộng hơn 100 ha, trị giá gần 150 tỷ đồng của ông Chín Cung
Theo tìm hiểu của chúng tôi, từ năm 1978 - 1982, ông Lê Thanh Cung là cán bộ thường trực Phòng Kế hoạch huyện Bến Cát, tỉnh Sông Bé cũ, Ủy viên Ban Chấp hành Công đoàn huyện Bến Cát. Từ năm 1982 - 1983 đảm nhiệm chức vụ Phó Trưởng Ban Thống kê - Kế hoạch - Lao động huyện Bến Cát, tỉnh Sông Bé. Giai đoạn năm 1983 - 1987 ông Lê Thanh Cung nhận chức vụ Huyện ủy viên, Ủy viên UBND huyện Bến Cát, Trưởng ban Kế hoạch huyện. Đến năm 1987 - 1991 là Thường vụ  Huyện ủy, Phó Chủ tịch UBND huyện Bến Cát, tỉnh Sông Bé.

Đến “dinh thự” trị giá hơn 20 tỷ đồng

Từ rừng cao su bạt ngàn của Chủ tịch UBND tỉnh Bình Dương, qua sự chỉ dẫn của người dân địa phương chúng tôi vào quán ăn ngay thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương dùng bữa cơm trưa. Cũng chẳng mấy khó khăn, chúng tôi được chiêm ngưỡng “dinh thự” của Chủ tịch UBND tỉnh Bình Dương Lê Thanh Cung, tọa lạc tại đường ĐX81, phường Định Hòa, TP.Thủ Dầu Một. Nằm gọn trong khu đất rộng lớn mênh mông, “dinh thự” của ông Lê Thanh Cung ước tính gần 1000m2, cũng được nhiều người dân nơi đây đánh giá thuộc hàng sang trọng nhất nhì của tỉnh Bình Dương. “Dinh thự” được xây dựng theo phong cách hiện đại, với nhiều căn phòng tráng lệ, hướng ra mặt tiền đường, tương tự như nhiều căn nhà nhỏ bao quanh “dinh thự”. Ngay sân nhà  có hàng trăm loại cây kiểng đắt tiền, có cặp kiểng quý, hàng rào phía trước có remote điều khiển từ xa. Cửa rào vừa bật mở là ba, bốn con chó dữ nhảy ra, sủa inh ỏi… Trong vai là người cần tìm mua cây kiểng quý, chúng tôi hỏi thăm ở đâu có kiểng bán, người giữ vườn nói: “Mấy anh tìm nhầm nhà rồi, đây là nhà của ông Chín Cung, Chủ tịch tỉnh, kiểng này của ổng có bạc tỷ, ai mà mua nổi…”.

Để góp phần làm rõ thêm khu vườn “cao su bạt ngàn” của Chủ tịch UBND tỉnh Bình Dương Lê Thanh Cung, PV tìm đến nhà một cán bộ lãnh đạo của địa phương theo sự hướng dẫn của người dân ở xã Long Nguyên và được ông B.T, nguyên lãnh đạo UBND xã Long Nguyên cho biết: “Phần đất mà Chín Cung đang sử dụng trước đây có nguồn gốc từ lâm trường Long Nguyên, lâm trường có tổng diện tích là 320,7 hecta. Về sau lâm trường Long Nguyên giải thể, khi ấy Chín Cung đảm nhiệm chức vụ lãnh đạo Ban Thống kê - Kế hoạch - Lao động huyện Bến Cát, tỉnh Sông Bé cũ (nay là tỉnh Bình Dương). Không hiểu vì sao lúc ấy Chín Cung được “cấp” đến 130 hecta đất rừng cao su của lâm trường Long Nguyên thuộc Ấp 8 (nay là Ấp Bến Sắn), xã Long Nguyên. Những người khác, từ cán bộ văn phòng UBND đến Trưởng Ấp cũng được “cấp” 2-3 hecta. Riêng Chín Cung thì có đến 130 hecta đất rừng cao su…”.

Nhóm PV điều tra 
 (Theo báo Kinh doanh&Pháp luật)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chả sao đâu bác Cuốc Liên ạ!

Bùi Giáng - "thiên tài"?

Mai Quốc Liên

Hình ảnh của Bùi Giáng - "thiên tài"?
Tôi có dịp được gặp ông một lần, một lần duy nhất. Chả là nhà thơ Huy Cận ở Hà Nội có gởi tôi quà mang về cho Bùi Giáng. Huy Cận có kể là Bùi Giáng rất yêu thơ Huy Cận. Nếu có ai đó chê, nói không tốt về thơ Huy Cận là Bùi Giáng “choảng” ngay (Huy Cận ra hiệu là đánh bằng tay!). Hồi đó, trước 1945, Bùi Giáng học Trường Trung học tư thục Thuận Hóa, mà ở đó có cụ Cao Xuân Huy thầy tôi dạy. Và Hoài Thanh, Lê Trí Viễn, Đào Duy Anh cũng dạy ở đấy. Đó là thời mà thơ Huy Cận - Xuân Diệu… đang “hớp hồn” thanh niên thành thị. Nhưng kể ra mê thơ Huy Cận đến thế thì có lẽ cũng chỉ có một Bùi Giáng!
Tôi tìm ông đưa quà, không khó. Có chuyện trò với ông chừng mươi phút, ông rất tỉnh. Nhưng sau đó thì nổi cơn…
Tôi có đọc thơ văn Bùi Giáng. Nhưng thật tình là tôi không chú ý mấy. Mãi cho đến hôm nay thấy nêu cái tiêu đề tọa đàm: “Nhà thơ thiên tài, nhà nghiên cứu uyên bác, dịch giả tài hoa của nước ta nửa sau thế kỷ XX” (báo Thanh Niên 13-9-2013), mới giật mình. Bèn đọc lại một lượt tác phẩm của ông. Và xin được nêu tóm tắt mấy ý sau đây:
Có lẽ không ai không nhận rằng Bùi Giáng là một hiện tượng đặc biệt. Đơn giản chỉ vì ông là một người có tài, một người tài hoa, độc đáo… Và cũng đơn giản chỉ vì (tội nghiệp cho ông) ông vừa bệnh tâm thần vừa sáng tác. Nên có những cái độc đáo, nhưng cũng có những cái không bình thường.
Về đại thể, thơ của ông có một số bài đặc sắc nhưng không toàn bích. Nó cũng không có ý tưởng, tư tưởng gì lớn; cũng không có được sự vang dội của thời cuộc (của cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ của cả dân tộc và của cả đất nước mà ông sống – khác xa với Trịnh Công Sơn chẳng hạn, chưa nói đến các nhà thơ yêu nước khác). Ông quanh quẩn trong cái thế giới mộng mị, thực hư, thoát ly… của mình. Tuy cũng có dính dáng ít nhiều với đời (làm sao khỏi) nhưng thường là những câu thơ lặp lại, triền miên trong những ý tưởng của một người thông minh, tài hoa nhưng bế tắc…
Tôi thích nhất hai câu thơ này của ông:
“Dạ thưa: xứ Huế bây giờ
Vẫn còn núi Ngự bên bờ sông Hương”
Câu thơ mà một trí thức ở Sài Gòn cũ cho là nó bình thường đến nỗi tưởng ai cũng làm được, nhưng phải đến khi Bùi Giáng viết ra, thì nó vụt trở nên một câu thơ hay. Một câu thơ tưng tửng, đùa vui, “trêu” Huế của một chàng trai xứ Quảng!
Còn nhiều những câu thơ hay như thế. Nó nằm lẫn giữa những câu thơ không lấy gì làm xuất sắc khác, như những hạt vàng giữa bụi.
Còn như câu:
“Bây giờ em để quần đâu
Cỏ trên mình mẩy em sầu ra sao?”
có một nhà thơ Sài Gòn cũ cho hai câu thơ đó là “thần cú”. Cũng còn tùy!
Bài Em từ: “Em từ non nước viễn khơi/ Trùng lai cố quận chịu chơi một lần/ Em từ tỷ lệ thanh tân/ Một muôn ra một thành phần tương lai/ Em từ đọ mặt mốt mai/ Từ em thánh nữ ra ngoài tiên nương/ Em đi nhảy vọt phi thường/ Tầm sương sái diện đoạn trường chào em” thì có gì hay không các bạn?, tôi thấy cũng thường.
Bài Chào em: “Chào em? có lẽ chẳng nên/ Nói gì nữa cả? giữa đêm tối mò!/ Chào em tính mệnh so đo?/ Chào em tính thể tò mò tuyết vân?/ (…) Anh từ thể dục dưỡng điên/ Thành thân thơ mộng thiên nhiên một giờ”. Có gì hay không, “thiên tài” không?
Bài Chuyện chiêm bao: “… Lá cồn khe khẽ nỗi buồn/ Trần gian tưởng niệm cỗi nguồn tương lai/ (…) Nhe răng thánh thót càu nhàu:/ Anh đừng bóc lột mận đào hớ hênh/ Cằn nhằn từ dưới tới trên/ Từ sau tới trước ghi tên tuổi vàng…” có gì chất trào tiếu Hồ Xuân Hương, hay chất “hậu hiện đại” không?
Có những câu viết cố tình về tu từ:
“Nắng mưa dù thiệt dù thua
Thiệt thua thù thắng thượng thừa thành thân”.
Rất nhiều câu như thế, dù sao, cũng chẳng có gì hay lắm đâu!
Chuyện chiêm bao (3) là một bài thơ Đường luật, 2 câu cuối tiếc là thất luật: “Đoạn trường từ đó thành số dzách/ Ngao ngán bất ngờ ngọt một cây”, và cả bài tầm thường.
Chuyện chiêm bao (13) có thể xem là bài tiêu biểu cho thơ dở của Bùi Giáng. Xin trích toàn văn: “Rừng đêm lá rụng liên miên/ Bên bờ suối ngọc nàng tiên một mình/ Nàng về từ cuối chân mây/ Giữa đêm nàng tắm suối này suối kia/ Nàng có mặc áo mặcquần/ Đây là rất mực giữa rừng/ Chẳng ma nào thấy, nàng ngần ngại chi/ Cởi phăng quần áo ra đi/ Suối rừng mát mẻ chờnàng tắm cho/ Chẳng ma nào ngó thấy đâu!/ Ngại ngùng ngượng nghịu? Vì còn có tôi?/ Nhưng tôi đâu phải là ma?”. Thơ lục bát mà gieo vận thất vận cả; mà ý tứ cũng “cà chớn” chứ có gì đâu đáng để ý.
Còn câu này có lẽ cũng rất chi là “hiện đại” – hậu hiện đại:
“Tha hồ tắm suốt sơn khê
Tự do tuyệt đối tê mê ở truồng”
cũng có thể có người cho là “xuất thần”.
Hay:
“Khe từ suối ngọc tuôn re
Khe thành khe suối rè rè ái ân”
cũng lạ, cũng có một chút gì Hồ Xuân Hương, nhưng là “danh cú”, “thần cú” thì chẳng phải.
Đại khái là muốn tìm những câu (câu thôi, chứ khó nói bài) thật hay của Bùi Giáng cũng không dễ.
Nếu chọn một bài hay, tôi có thể chọn bài này: Trăm năm gởi lại: “Trăm năm còn một giờ này/ Một lần le lói muôn ngày lang thang/ Đầu tiên lầm lỗi khôn hàn/ Cuối cùng ân hận ngút ngàn non mây/ Trăm năm gửi lại chút này/ Về sau vĩnh viễn ngủ ngày ngủ đêm/ Ngủ vùi chín suối mất tên/ Ngủ thiên thu vẫn nhớ em ở đời/ Ở không tiếng, ở không lời/ Ở không hoài vọng muôn đời mảy may/ Ru em lần cuối cùng này/ Bằng hơi mát của một ngày sắp qua…”(1) trong đó nghe như vọng lại một tâm tình trong sáng, xao xuyến nữa, trước cuộc đời.
Thơ Bùi Giáng là một hiện tượng ngôn ngữ đặc hiệu. Ở đó trộn lẫn ngôn ngữ đời thường, bụi đời “số dzách”, “chịu chơi” và ngôn ngữ Hán Việt bác học: miên trường, giang hà, cố quận… Ở đó trộn lẫn cái tục và cái thanh, cái hướng nội hướng ngoại, khắc khoải và cái đùa nghịch, phá phách… Đối với một người như Bùi Giáng, thì mọi sự có gì phân biệt và có gì quan trọng đâu.
Một cái phần rất quý là những bài giảng văn học (thời ông dạy trung học và còn tỉnh) về Kiều, về Phan Trần… Độc đáo, phát hiện và đọc rất thích.
Nhưng những dịch phẩm của ông thì có cái nhược điểm chết người, là ông dịch hơi tùy tiện, thích thì chen ý riêng của mình vào. Đang nói về Heidegger thì ông chuyển sang nói về Monro… Dịch không cho phép như thế. Dịch phải đặt sự chính xác, trung thành lên trên hết. “Người dịch phải biến mình thành tấm kính trong, trong đến mức dường như không thấy kính” (để chuyển đạt trung thành tác phẩm). Bùi Giáng thì bất chấp. Ông có cần đâu sự chính xác. Ông thích thế và không ai trách ông!
Đến như viết, nghiên cứu… thì ông cũng chỉ là người truyền đạt, thông tin, tổng thuật… lại các sách vở mà phương Tây người ta đã viết, thế thôi. Ở miền Nam, ở Sài Gòn khi đó thì đây là chuyện “thời thượng”, của người đọc và của người biên soạn.
Bùi Giáng đọc rất nhiều, kim cổ đông tây, và trong hoàn cảnh của ông, ông đã làm hết sức mình, hết sức của một con người. Ta thấy không thể đòi hỏi ông điều gì.
Nhưng ta cũng không nên cực đoan, tấn phong ông là “thiên tài”, “nhà dịch tài hoa”, nhà nghiên cứu uyên bác… Thiên tài là rất hiếm, và ngoài những “chiêu” hình thức ngôn ngữ lạ, độc đáo, nó còn phải bao gồm những tư tưởng lớn về xã hội, về con người, nó phải có tính phổ quát về chiều sâu nhân thế, như Truyện Kiều của Nguyễn Du. Bùi Giáng không có những phẩm chất ấy.
Tấn phong ông, đề cao ông lúc này là vì những người yêu ông thôi, hay là vì cái gì?(2) Nhưng thiết tưởng ta nên có mức độ. Không vì lẽ ta “đổi mới”, chuyển hệ lý luận từ mácxít sang “hình thức” mà tôn vinh Bùi Giáng như một cái gì phi phàm. Nhất là ở giảng đường đại học nghiêm cẩn, còn có sứ mệnh giáo dục thế hệ trẻ. Và nhà trường ở đây là nhà trường Cách mạng, nhà trường dưới sự lãnh đạo của Đảng (GS-TS Huỳnh Như Phương tự cho mình là một nhà phê bình mácxít, và ông đã từng là Phó Bí thư Đảng ủy Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn TP.HCM), các vị khác cũng “khoa bảng đầy mình”...
***
Bây giờ phê bình văn học đang loạn chuẩn. Vì lý do gì, ta sẽ bàn sau. Nhưng dù sao, ở đại học ta vẫn phải chú ý giáo dục việc “làm người” cho sinh viên, thì những chuẩn mực của văn hóa Hồ Chí Minh, của văn học kháng chiến - Cách mạng, của lòng yêu nước, khí phách anh hùng xả thân vì Tổ quốc như những bậc cha anh thời kháng chiến chống Pháp chống Mỹ phải được đề cao, và liền với đó là những tư tưởng của chúng ta, sinh mệnh của chúng ta, lẽ sống của chúng ta vẫn phải được chú ý.
Những hội thảo về thơ văn tranh đấu yêu nước, về phong trào đấu tranh ở đô thị miền Nam, hội thảo về các đại diện của thơ văn yêu nước - Cách mạng, trong đó có Hồ Chí Minh (mà vừa qua kỷ niệm 70 năm Nhật ký trong tù 1943-2013…) cùng vô số các chủ đề nóng hổi khác, phải được đặc biệt chú ý để bổ sung, để gây chất men cho các giáo trình giảng dạy các môn cơ bản đó về sử, về văn… Há những cuộc đấu tranh của sinh viên Sài Gòn trước cửa ĐH Văn khoa (bây giờ là ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn của quý vị), ĐH Nông Lâm… không còn vang vọng gì trong tâm hồn những người đang sống? Tôi thường đọc lại câu thơ Chế Lan Viên:
“Đánh giá anh không phải mắt xếch nhà phê bình hay mắt xanh người đẹp
Đánh giá anh là những giọt máu im lìm ngủ giữa Trường Sơn.
Im lìm thế mà lắng nghe mọi điều anh viết
Xem sau khi máu đã đổ rồi, thơ có cao hơn?”
Tình hình đất nước ngày nay rất khẩn trương, những người có lòng với đất nước như quý vị ắt sẽ có nhiều suy nghĩ để “hội thảo”, “tọa đàm”.
Với bài này, tôi chỉ muốn nói lên vài ý riêng của mình về Bùi Giáng để trao đổi cùng các vị, mong rằng nó được các vị và bạn đọc để mắt đến và rộng lượng bỏ qua cho những điều bắt buộc phải nói thẳng.
Trung thu, 2013

----------
(1) Hai câu thơ cuối là của Nguyễn Đình Toàn 
(2) Gần đây, một số vị cũng đề cao thơ Thanh Tâm Tuyền quá mức. Thơ không có gì hay đã đành, mà ông ta đâu phải cách tân thơ Việt hiện đại đầu tiên (đầu tiên phải kể Trần Mai Ninh, Nguyễn Đình Thi...). Thơ ông cũng như con người ông (vốn là một sĩ quan quân đội Sài Gòn, làm báo Tiền Tuyến, báo quân đội) là chống lại cuộc chiến đấu của dân tộc ta chống ngoại xâm, rất sâu độc trắng trợn, có gì đáng đề cao?

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Hơn cả sinh nhạt quan lớn!

Hàng trăm người chờ Ngọc Sơn phát gạo, tiền mừng sinh nhật

 

Hàng trăm người chờ Ngọc Sơn phát gạo, tiền mừng sinh nhật
Ngọc Sơn thành tâm cầu khấn cho gia đình, người thân trước khi phát gạo.
Hàng trăm người chờ Ngọc Sơn phát gạo, tiền mừng sinh nhật
Thời gian phát gạo diễn ra từ 15-17h ngày 26/11, nhưng từ 13h, bà con đã đến tụ tập kín trước nhà Ngọc Sơn rất đông.
Hàng trăm người chờ Ngọc Sơn phát gạo, tiền mừng sinh nhật
Nam ca sĩ đã phát 1 tấn gạo trong ngày sinh nhật 45 tuổi của mình.

Hàng trăm người chờ Ngọc Sơn phát gạo, tiền mừng sinh nhật
Bởi vì số lượng bà con đến nhận gạo rất đông, lực lượng  bảo vệ mỏng nên buổi phát gạo có xảy ra xô xát và nhiều người xông vào cướp gạo.
Hàng trăm người chờ Ngọc Sơn phát gạo, tiền mừng sinh nhật
Hàng trăm người chờ Ngọc Sơn phát gạo, tiền mừng sinh nhật
Ca sĩ Quách Tuấn Du cũng xuất hiện trong ngày phát gạo từ thiện tại nhà cha nuôi Ngọc Sơn.
Hàng trăm người chờ Ngọc Sơn phát gạo, tiền mừng sinh nhật
Sau khi phát hết gạo, nhiều bà con vẫn đứng chen chúc rất đông trước nhà Ngọc Sơn, vì vậy, anh đã phát tiền cho mỗi người với mệnh giá 50.000 đồng.

Hãy cho ý kiến riêng của mình nhé cả nhà ơi".

Quang Lê khoe tiền, người nghèo phẫn nộ

Quang Lê khoe tiền trên trang cá nhân!

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Tư, 27 tháng 11, 2013

NOBEL CÓ ƯU TIÊN CHO NGƯỜI VIỆT ?

Nguyễn Hoàng Đức
.
Ở đời ai chẳng khao khát vinh quang. Triết gia Aristote còn cho rằng: chỉ có hạnh phúc lớn khi đi kèm vinh quang lớn. Thế giới có một nửa đàn ông, một nửa đàn bà, nếu coi tình yêu là hợp nhất hai nửa, thì hạnh phúc của con người có ngót trăm phần trăm. Nhưng hai nửa của vinh quang gặp nhau như trai hùng – gái liệt thì tỉ lệ chỉ còn khoảng một phần nghìn. Hay nếu hoàng tử gặp công chúa thì tỉ lệ là một phần triệu. Hoặc nếu được như nàng Pelenope cứ đan xong tấm thẩm vào ban ngày lại tháo vào ban đêm để chờ người chồng Odyssey mang vinh quang là kẻ thắng trận từ thành Tơ-roa trở về thì tỉ lệ là huyền thoại từ cổ chí kim cả tỉ tỉ người chưa gặp lần thứ hai.
Vậy thì mỗi năm cả bảy tỉ người mới có một giải Nobel giành cho văn học, nếu ai đó gặt được giải thì chẳng vinh quang lắm sao?! Tôi nhớ có một tác giả thuộc Cộng Hòa Việt Nam trước đây có nói một câu rất nghẹn ngào: giải Nobel sao không gắn với những cái tên của họ Nguyễn, họ Trần hay họ Phạm? Có nghĩa là bằng ngôn ngữ văn học, tác giả muốn nói: tại sao Nobel rớt xuống khắp nơi mà không nhằm vào đất Việt rụng trái xuống đầu một người Việt nào cả?! Vậy bao giờ người Việt mới tiếp cận đến giá trị của giải Nobel? Nhưng có một nghịch lý ngang trái rất đau đớn, như một tác giả lớn của phương Tây viết: kẻ nào viết văn để giật giải Nobel sẽ không bao giờ đạt được. Chưa nói đến giải Nobel, một nghệ sĩ chơi đàn, nếu không chú tâm biểu diễn, chỉ lo nhìn xuống dưới xem người khác tán thưởng mình ra sao thì sẽ không bao giờ biểu diễn thành công.
Cơ may giải Nobel giành cho Việt Nam là bao nhiêu?
Giải Nobel là của con người, và nó hoàn toàn mang những yếu tố con người. Đó là nó không bao giờ thoát khỏi các yếu tố xã hội và mặt trận. Xã hội đã ưu tiên phụ nữ với nữ quyền, ưu tiên các dân tộc thứ ba với tinh thần nâng đỡ, ưu tiên cho tiền bạc với chiến lược tài chính, ưu tiên cho văn hóa với trầm tích lịch sử, ưu tiên cho chính trị với động cơ thúc đẩy tình hình… Và Nobel có ngoại lệ không để không ưu tiên cho các vấn đề xã hội hóa đó? Chắc chắn không! Nobel của con người thì cũng ưu tiên các vấn đề mang tính xã hội của con người.
Hãy thử tham chiếu,  Fifa tổ chức Liên đoàn bóng đá thế giới khi đưa giải bóng đá thế giới đến châu Á, châu Phi đã nói như sau: cần đưa giải bóng đá thế giới đến các châu lục để phát triển đều khắp. Mỗi khi giải bóng đá được thực hiện trên sân nhà của nước nào đó, người ta thấy rất rõ tình trạng thiên vị đội chủ nhà của các trọng tài, đặc biệt các quả thổi việt vị giành cho đối phương, và lờ đi các quả việt vị giành cho đội nhà. Tại sao? Một cách bất thành văn, người ta đều muốn dìu đội nhà ít nhất vào đến trận chung kết, để có được tất cả các đỉnh cao dịch vụ cần thiết như bán vé, người xem cổ vũ, tài chính sẽ xuôi chèo mát mái… Và có thể nói đó là thứ thiên vị chịu đựng được. Riêng trận chung kết, mọi sự dường như đã hoạch định an bài, thì sự thiên vị không còn cần thiết nữa.
Fifa đã có những tính toán xã hội. Vậy tại sao Nobel lại không có những tính toán xã hội. Chúng ta thử nhìn những yếu tố chắc chắn nhất. Một tác giả lớn của phương Tây Viết: giải Nobel có thể rơi vào tay các nước Á, Phi, thậm chí Châu Mỹ La tinh, nhưng không bao giờ đó là những giải Nobel mang tính tiền phong của tinh thần. Mà đó chỉ là những giải Nobel khéo léo hành văn đôi chút. Hãy nghe chính Kenzaburo Oe, nhà văn Nhật Bản lĩnh giải Nobel năm 1994 phát ngôn chính thức: “Chúng ta theo đuôi và bắt chước triết học phương Tây, ngay cả ngày nay, sau 125 năm công cuộc hiện đại hóa của chúng ta, thì trong con mắt của người châu Âu và châu Mỹ, giá trị của chúng ta vẫn bị thờ ơ… Người phương Tây chẳng khao khát tìm đọc những con người sản xuất xe Honda nhiều lắm. Tại sao? Có lẽ chúng ta chỉ là người bắt chước họ, hoặc là với con mắt của người châu Âu thì chúng ta chỉ là những người thủ vai im lặng”(theo New Yorker 2/1995).
Ở đời người có học thì không nói vu vơ mà phải “nói có sách mách có chứng”, tôi nghĩ Oe, một tác giả đạt trình độ Nobel, hoàn toàn xứng đáng để chúng ta tham vấn nghiêm chỉnh và cầu thị. Về mặt nguyên tắc, thứ nhất, không có nhà văn lớn thuộc về các dân tộc nhỏ. Nhà khoa học có thể thuộc dân tộc nhỏ, còn văn học là Nhân học thì hầu như không thể có. Thứ hai, phụ nữ không thể viết như đàn ông. Bằng chứng theo điều tra tại Pháp: tất cả các nhà văn nữ đều đọc tác phẩm của nhà văn nam, nhưng chỉ có 30% nhà văn nam đọc tác phẩm của nữ giới. Trong vài năm gần đây, người ta thấy có vài tác giả thơ và truyện ngắn đoạt giải Nobel: 1- nhà thơ Ba Lan Szymborska, đó có phải vì đó lf nữ giới. 2- Nhà thơ Thụy Điển Tomas Tranströmer, đó có phải giải Nobel giành cho sân nhà nước bé khó có thể có tác phẩm văn xuôi vạm vỡ, nên đành phải trao giải thơ?! 3- Nhà văn Canada giật gải Nobel giành cho truyện ngắn, đó có phải vì là tác giả nữ thì được ưu tiên tác phẩm thể loại cỡ bé?!
Bên trên chỉ là giả định của tôi, tôi không tìm đến sự tranh cãi khác biệt, mà chỉ muốn bày tỏ: dù thế này hay thế kia, chắc chắn có những yếu tố nhân sự và xã hội mà giải Nobel cũng như những giải thưởng khác thuộc về con người là không tránh khỏi.
Vậy còn giải Nobel giành cho nhà văn Mạc Ngôn viết tiểu thuyết của Trung Quốc mới đây? Liệu nó có tránh được sức ép của một cường quốc có dân số bằng một phần tư thế giới? Có tài chính đứng thứ hai tòan cầu? Có trầm tích văn hóa tác phẩm đồ sộ chỉ sau Ấn Độ (vì không có sử thi)? Trung Quốc đã có 2 giải Nobel, nhưng chỉ trao cho tiểu thuyết, không thơ, cũng không truyện ngắn!
Liệu có bao giờ giải Nobel nhắm vào các tác giả thơ vụn của Trung Quốc? Cơ may là một phần vạn. Tại sao? Vì không bao giờ người ta muốn chấp nhận một cường quốc thế giới lại chỉ có qui mô tác phẩm thơ vụn tức cảnh sinh tình trong chốc lát. Có lẽ hiểu được điều đó mà hơn nửa thế kỷ qua, các cây bút Trung Quốc đã bứt phá bỏ rơi thơ để chuyển sang viết văn xuôi.
Nhưng chính giải Nobel là cái gì cơ chứ? Chúng ta thử hình dung Iliad và Odyssey có cùng thần thoại Hy Lạp, nghĩa là khoảng 3000 năm trước công nguyên. Nếu mỗi năm có một giải Nobel văn học thì cho đến thời triết gia Aristote, mỗi năm trao giải Nobel cho một người, và đã có khoảng 2700 tác giả Nobel. Nhưng thực tế thì sao? Đã có tác giả Nobel nào sống sót ngòai Homer? Và hãy kể từ giải Nobel đầu tiên vào năm 1901 đến nay, có bao nhiêu người trụ lại đóng một dấu son như một hạt men nảy mầm trong lịch sử. Thử tưởng tượng, dù Szymborska đã đoạt giải Nobel, nhưng tác phẩm của bà có bao nhiêu người đọc? So sánh với thiên tài Chopin, với những bản nhạc bất hủ ngày nào cũng trở thành giáo án dạy và học cho cả triệu người trên thế giới, thì thế nào? Giải Nobel xét một cách toàn thể có thể gọi “đó là giải bình dân cao cấp”.
Còn Cao Hành Kiện, rồi Mạc Ngôn có thể sánh với Lỗ Tấn hay Tôn Trung Sơn những người tiên phong để lại dấu vết lập thuyết cho người Trung Quốc? Ở Nga, thì các giải Nobel có thể ngang ngửa với các tên tuổi đồ sộ như Puskin, Leo Tolstoi, hay Dostoievski… những cây bút với tư tưởng tiền phong đồ sộ khai sơn phá thạch không?
Giải Nobel về mặt nào đó cũng giống giải nhất giành cho thể thao.Có giải nhất giành cho bóng bàn, rồi tennis, thậm chí ở Trung Quốc có giải đá cầu hay chọi dế, nhưng giải Nobel giành cho bóng đá là giải “vua của các vua” vì nó thuộc về môn thể thao vua. Giải Nobel giành cho tài khéo văn chương không thể bằng các giải có tính chất tư tưởng tiền phong, hay lập thuyết. Người phương Tây không bao giờ ù cạc, cái đầu tiên họ để ý bao giờ cũng là “tính qui mô của tác phẩm”. Họ luôn thấy sự khác biệt của Szymborska Nobel 1996 với giải Nobel của Tác phẩm Quo Vadis do văn hàoHenryk Sienkiewicz, cũng người Ba Lan. Một đằng là hơn 200 bài thơ ngắn so với một tiểu thuyết đồ sộ mang theo biến cố tinh thần vĩ đại nhất của lịch sử: đế quốc thế tục của Hoàng đế Nero đối mặt với thần tục của tông đồ và giáo dân Ki-tô giáo.
Việt Nam hiện nay vừa kỷ niệm sự kiện dân số 90 triệu, đang ở mức cường quốc tóp mười về dân số. Liệu giải Nobel có ngó con mắt ưu tiên vào thơ lẻ của chúng ta? Có lẽ không! Vì trước hết thế giới đã công nhận thi hào Nguyễn Du là danh nhân văn hóa thế giới, thì nếu phải trao một giải Nobel cho người Việt, họ không thể nào ưu tiên cho thơ thêm nữa. Vả lại Trung Quốc là cường quốc thơ lẻ nổi tiếng từ thời Đường, mà họ còn không ngó ngàng thì sao có thể “vượt mặt” để ngó đến thơ chợ lẻ Việt Nam?!
Và giả dụ một nhà thơ lẻ Việt Nam nào có được trao Nobel, thì liệu Nobel đó có sánh được với thi hào Nguyễn Du – mới chỉ là người đi sao chế lại tác phẩm hạng hai của Tàu? Đây không phải những câu hỏi miệt thị mà là thẳng thắn. Người làm nghệ thuật và khoa học đỉnh cao nên biết nhận chân ra mình! Không nên ù ù cạc cạc áng chừng có vài mẩu thơ ngắn cảm xúc được chăng hay chớ là qui mô hoành tráng có thể đọ với tất cả. Kinh thánh có câu “Ngươi đong đấu nào, ta đong trả ngươi bằng đấu ấy”. Cái hay của thơ vụn, thơ lẻ, dù hay thì qui mô cũng chỉ có chừng ấy, cái mà người ta nói: một đêm làm sao làm được thành La mã. Ước mơ giật Nobel là một ước mơ chính đáng. Chỉ có điều nó sẽ chính đáng và khả thi hơn nếu mỗi tác giả hay mỗi người (nghiệp dư thì chỉ nên gọi đúng là người) nên biết mình đang là ai. Phải biết mình biết ta thì mới khả chiến và khả thắng. Nếu không chỉ là ếch ngồi đáy giếng ca bài khải hoàn anh hùng xó bếp. Xin được tiếp tục đề tài này trong các số tiếp theo.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Inrasara: TỪ NGOẠI KHỔ ĐẾN NGOẠI BIÊN


Phấn đấu sáng tạo nhiều tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao – thực trạng và giải pháp” – Hội đồng Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật Trung ương
Thành phố Hồ Chí Minh, 27-28.11.2013
Phát biểu của Inrasara
1. Trước tiên tôi xin trao đổi lại với hai ý kiến trong tham luận hôm qua. Một của nhà thơ Vũ Quần Phương, một về ý kiến trên tạp chí Hồn Việt, số 74, tháng 10-2013 có liên quan.
Nhắc qua trường hợp Bùi Giáng, Vũ Quần Phương khẳng định nhà thơ này “không có bài thơ hoàn chỉnh”. Tôi thì khác. Tôi cho rằng Bùi Giáng có rất nhiều bài thơ hoàn chỉnh, dù xét qua hệ mĩ học cổ điển hay hiện đại. Hoàn chỉnh và hay. Đó là mảng thơ đã làm nên tên tuổi Bùi Giáng.
Và hơn thế nữa.
Tôi muốn đề cập đến ý kiến thứ hai. GS-TS Mã Giang Lân, sau khi nhận định ở bộ phận thứ nhất, Bùi Giáng có “Những bài thơ, câu thơ tuyệt bút, ngôn ngữ phóng túng, tài hoa… tiếng Việt trong sáng, tinh tế, tài tình”, thì bước sang bộ phận thứ hai, khi bình bài “Ngẫu hứng”, anh viết:
“Tất cả đều không có nghĩa. Thế nên thơ Bùi Giáng, ở dạng thứ hai này, chúng ta không thể/ không nên để công vào khảo sát. Đây là ngôn ngữ của bệnh nhân tâm thần.” (“Về thơ Bùi Giáng”, Hồn Việt, số 74, 10-2013, tr 45).
Đó là thơ của bệnh nhân tâm thần, hay đúng hơn – nói theo ngôn ngữ hậu hiện đại, là: tâm thần phân liệt. Chính ở dạng này, ta nên để công khảo sát Bùi Giáng nhiều hơn cả. Bởi, chính chúng nói lên sự ngoại khổ của thi sĩ có đời sống kì lạ này. Ngoại khổ so với các văn nghệ sĩ Việt Nam cùng thời, kể cả Trịnh Công Sơn.
“Ngẫu hứng” mà Mã Giang Lân nghĩ rằng “không thể/ không nên để công vào khảo sát”, theo tôi [và ít nhất một nhà phê bình khác nữa] là bài thơ phơi bày hiện thực đời sống đô thị miền Nam thời bấy giờ với nhiều dự cảm bi đát. Cạnh đó, nó [và nhiều sáng tác cùng dạng của ông] đã khơi mào cho sáng tác hậu hiện đại Việt sau này.
Không nên quan niệm như Mai Quốc Liên: “Tấn phong ông, đề cao ông lúc này là vì những người yêu ông thôi, hay là vì cái gì?” (“Bùi Giáng ‘thiên tài’”, Hồn Việt, số 74, 10-2013, tr 44). Ngô Ngọc Ngũ Long trong tham luận “Phê bình VHNT trên phương tiện thông tin truyền thông” (trong tập Kỷ yếu) cũng có cái nhìn tương tự: “Tất nhiên tất cả đều có ẩn ý của nó”. Không “là vì cái gì” cả, bởi độc giả và nhà nhiều phê bình miền Nam đã tấn phong Bùi Giáng từ những năm 60 của thế kỉ trước rồi. Trước 75 nhà xuất bản An Tiêm uy tín in đại bộ phận tác phẩm Bùi Giáng, rồi mươi năm qua sách ông tràn ngập hiệu sách trong nước. Không ai có bất kì ẩn ý nào ở đây cả! Tại sao cứ suy diễn ngoài văn học?
Nhắc đến trường hợp cá biệt này, để thấy rằng nhà phê bình cần nhận ra cái “ngoại khổ” của người sáng tạo. Còn không, khi chưa nhận ra thì ta cần biết chấp nhận cái Khác ấy. Những cái Khác đến từ vùng ngoại biên, chưa làm quen thuộc.
Vũ Quần Phương cho Bùi Giáng không có bài thơ hoàn chỉnh, tôi nói có rất nhiều; Mã Giang Lân cho bài thơ “Ngẫu hứng” vô nghĩa, không đáng khảo sát, tôi nói nó tràn ý nghĩa nên rất đáng bàn. Ai đúng đây? Vũ Quần Phương viết “đôi ý kiến phản biện ôn tồn của tạp chí Hồn Việt đối với luồng ý kiến tôn vinh ông nhà thơ tâm thần làm thiên tài là một khuynh hướng tranh luận nên phát triển”. Mai Quốc Liên kết thúc bài “Bùi Giáng ‘thiên tài’” cũng có mong muốn “trao đổi cùng các vị”. Vậy, đâu là diễn đàn cho trao đổi, tranh luận lành mạnh và sòng phẳng, để “thiên tài” [nào đó bất kì] không bị oan sai?
2. Vùng ngoại biên có các sáng tác của các nhà văn dân tộc thiểu số Việt Nam, là mảng văn học chưa làm quen thuộc.
Giải trung tâm là tinh thần cốt tủy của chủ nghĩa hậu hiện đại. Xin lưu ý, tôi nói giải trung tâm chứ không phải hủy trung tâm. Văn chương không phân biệt giàu nghèo sang hèn, trung tâm văn hóa lớn hay tỉnh lẻ, nước to hay nhỏ, dân tộc thiểu số hay dân tộc đa số, vân vân…
Chị sống ở Hà Nội, Hải Phòng chưa chắc đã viết hay hơn anh đang miền sâu vùng xa hay tỉnh lẻ. Bạn dân tộc đa số chắc chi đã làm thơ hay hơn tôi dân tộc thiểu số. Rộng hơn, nhìn từ Nobel văn học, cứ đặt Trung Quốc mênh mông bên cạnh Ailen nhỏ bé cũng đủ thấy.
Khi đã loại bỏ mặc cảm, các nhà văn dân tộc thiểu số tự tin viết.
Goethe cho rằng có 3 yếu tố tạo nên kiệt tác: Dân tộc đó có gì lớn lao để nói với nhân loại không? Có thiên tài để nói lên điều đó không? Và viết thế nào?
Người dân tộc thiểu số có rất nhiều câu chuyện để kể. Điều đó tạo nên sự Khác biệt lớn, làm giàu sang nền văn học Việt Nam. Nhưng họ ở đâu?
Nhìn từ Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam – cứ tạm cho là chuẩn chuyên môn để định giá tác phẩm văn chương, ta mới có Y Phương, Inrasara và Cao Duy Sơn. Mươi năm qua, hàng loạt cây bút Chăm xuất hiện. Họ có nhiều điều để nói, và phần nào đó – đã biết nói. Thế còn một Tây Nguyên bát ngát hay một miền Tây mênh mông, các tác giả dân tộc thiểu số ở đâu? – Hoàn toàn vắng bóng.
Về Hội thảo thơ tân hình thức dắp diễn ra ở Huế, một phóng viên báo chuyên hỏi tôi, tại sao phải tổ chức hội thảo rình rang thế về một phong trào văn học chưa ra gì. Tôi nói, phong trào thơ lôi cuốn cả trăm nhà thơ nhập cuộc với 14 tác phẩm xuất bản qua suốt 13 năm, rất cần đến một hội thảo [đúng là hội thảo] tổng kết, đánh giá.
Chuẩn bị Ra mắt tập thơ một tác giả nữ trẻ Chăm, tôi thử trao đổi với Hội VH-NT Ninh Thuận, ai cũng bảo khó lắm, thời buổi này độc giả tỉnh nhà không ai quan tâm đâu? Tôi đứng ra tổ chức, 70 người tham dự, và buổi ra mắt rất thành công.
Không hội thảo thì làm sao biết đâu là tác phẩm lớn trong trào lưu văn chương? Không tổ chức giới thiệu tác giả làm thì tìm đâu ra tài năng văn học? Nhất là khi tác phẩm và tài năng ấy đang ở vùng ngoại biên, chưa làm quen thuộc.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Hiếm và Tốt


Một đại gia nọ bị bệnh nan y sắp chết. Nghe lời khuyên của bác sĩ muốn sống thì phải thay nội tạng, ông ta lập tức tìm đến thị trường chợ đen nội tạng.
Đầu tiên, ông ta vào tiệm bán tim. Tại đây, tim các loại có đủ cả. Nào là tim bác sĩ, tim nông dân, tim công nhân, tim luật sư, tim thầy giáo, đến cả tim kẻ ăn mày cũng có… nhưng mắc nhất trong cửa hàng là chỉ có một trái tim cán bộ. Ông ta liền hỏi chủ tiệm :
- Sao tim này mắc dữ vậy, bộ nó tốt lắm hả ?
- Cái này hổng phải nó tốt mà là nó hiếm.
- Sao hiếm ?


- Ây dà, ngài hổng thấy sao ? Cả vạn thằng cán bộ mới có 1 thằng có tim đó chớ. Vậy là nó hiếm rồi. Hàng hiếm đó, mua đi.

Vị đại gia vội mua ngay trái tim cán bộ. Sau đó, qua tiệm bán bao tử. Ở đây cũng có đủ loại: bao tử lính, bao tử dân nghèo, bao tử dân giàu… nhưng mắc nhất là bao tử của quan chức nhà nước. Rút kinh nghiệm tiệm bán tim, ông ta hỏi chủ tiệm :
- Cái này nó hiếm nên mắc phải không ?

- Cái này hổng hiếm nhưng mà nó tốt !

- Tốt ra sao ?

- Tốt lắm chứ ! Xi măng, sắt thép, tiền bạc, mỡ thối, mỡ bẩn gì, kể cả sĩ diện và lương tâm bỏ vô nó cũng tiêu hóa hết. Tốt lắm đó, mua ngay đi.

Vị đại gia liền mua cái bao tử đó.


Qua một số tiệm, thấy chỗ nào đồ của cán bộ cũng hiếm và tốt nhất, vị đại gia đã mua được rất nhiều thứ ưng ý. Cuối cùng, chỉ còn phải sang tiệm bán não. Ở đây cũng có đủ loại não như những tiệm trước, và mắc nhất cũng là não của cán bộ. Lần này, vừa nhìn bảng giá, thấy có cái não mắc nhất đó, đại gia nói ngay :

- Lấy tôi cái này, cái này mắc vậy chắc vừa hiếm lại vừa tốt ?

- Sếp khéo chọn ghê ! Đúng là hàng vừa hiếm lại vừa tốt. Cả triệu thằng 
cán bộ mới có 1 thằng có não, đã là cực hiếm rồi, mà nó cũng ít khi xài tới lắm nên còn rất mới ! Còn tốt nữa là mỗi khi nó động não suy nghĩ tý chút thì chắc chắn nó sẽ có tiền !

Phần nhận xét hiển thị trên trang