Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Ba, 26 tháng 11, 2013

Xem cho biết:

Việt Nam trong họa phẩm


Thật đáng buồn vì ở Việt Nam xưa nay không có nền mĩ thuật nghiêm chỉnh để lưu giữ hình ảnh đất nước – con người qua mỗi thời kỳ ; chưa kể đến nỗi phiền muộn về sự phá hoại di sản tiền nhân một cách vô ý thức của chính người Việt Nam. Trong bài viết này, BBT  kỳ vọng sẽ cung cấp cho quý độc giả cái nhìn chân thực, đa chiều chưa từng có về đời sống tiền nhân. Mọi quan điểm khác biệt, mong quý độc giả vui lòng comment lịch thiệp dưới bài viết !
Việt Nam
孝億國
Họa phẩm Hiếu ức quốc (孝億國) do Lý Công Luân (1049 – 1106) vẽ năm 1078. Tranh mô tả ba sứ thần Đại Việt sang Trung Hoa triều cống và nối lại bang giao sau chiến tranh Việt-Tống (1075 – 1077), Đại Việt sử ký toàn thư chép : “Mậu Ngọ, [Anh Vũ Chiêu Thắng] năm thứ ba [1078], (Tống Nguyên Phong năm thứ nhất). Mùa xuân, tháng giêng, sửa lại thành Đại La, sai Đào Tống Nguyên đem biếu nhà Tống năm con voi thuần, xin trả lại các châu Quảng Nguyên, Tô Mậu và những người các châu ấy bị bắt đi“.
竹林大士出山图
Trúc Lâm đại sĩ xuất sơn đồ (竹林大士出山图) do họa gia Trần Giám Như (陳鑑如) vẽ năm 1363. Tranh mô tả thượng hoàng Trần Nhân Tông (Trúc Lâm đại sĩ) xuất du từ động Vũ Lâm, giữa đường có hoàng đế Trần Anh Tông và bá quan nghênh đón.
Cừu Anh chức cống đồ (trích)
Một phần bức Cừu Anh chức cống đồ (仇英职贡图) do họa gia Cừu Anh vẽ vào khoảng đầu thế kỷ XVI. Tranh mô tả các sứ đoàn sang Trung Hoa triều cống ; sứ đoàn Đại Việt (triều Lý) cầm lệnh kỳ đỏ, đem theo hai con voi trắng và một con voi đen để chở cống phẩm.
Nguyễn Trãi
Chân dung Nguyễn Trãi (阮廌, 1380 – 1442). Hiện chưa rõ năm bức tranh ra đời, tuy nhiên, qua tranh thì thấy rằng Nguyễn Trãi có thói quen nhai trầu.
OLYMPUS DIGITAL CAMERA
Họa phẩm được in trong cuốn An Nam lai uy đồ sách (安南來威圖冊), xuất bản dưới triều Minh Mục Tông (1567 – 1572). Tranh thể hiện rất rõ chính sách ngoại giao “dĩ nhu địch cương, dĩ cương địch nhu” của triều Mạc : Người đứng trong chính điện là sứ thần triều Minh, người lạy chào là Thượng hoàng Mạc Đăng Dung (dòng chữ : Ngụy vương Mạc Đăng Dung / 偽王莫登庸) ; địa điểm này là trấn Nam Giao quan, năm 1540. Đại Việt sử ký toàn thư chép : “Canh Tý, [Nguyên Hòa] năm thứ 8 [1540] , (Mạc Đại Chính năm thứ 11 ; Minh Gia Tĩnh năm thứ 19). Mùa xuân, tháng giêng, ngày 15, Mạc Đăng Doanh chết. Con trưởng là Phúc Hải lên ngôi, lấy năm sau làm Quảng Hòa năm thứ nhất. Mùa đông, tháng 11, Mạc Đăng Dung cùng với cháu là Văn Minh và bề tôi là bọn Nguyễn Như Quế, Đỗ Chế Khanh, Đặng Văn Tri, Lê Thuyên, Nguyễn Tổng, Tô Văn Tốc, Nguyễn Kinh Tế, Dương Duy Nhất, Bùi Trí Vĩnh, qua trấn Nam Quan, mỗi người đều cầm thước, buộc dây ở cổ, đi chân không đến phủ phục trước mạc phủ của quân Minh quỳ gối, cúi đầu dâng tờ biểu đầu hàng, nộp hết sổ sách về đất đai, quân dân và quan chức cả nước để chờ phân xử, dâng các động Tê Phù, Kim Lặc, Cổ Sâm, Liễu Cát, An Lương, La Phù của châu Vĩnh An trấn Yên Quảng, xin cho nội thuộc vào Khâm Châu. Lại xin ban chính sóc, cho ấn chương, để kính cẩn coi giữ việc nước và chờ lệnh thay đổi hay quyết định khác. Lại sai bọn Văn Minh và Nguyễn Văn Thái, Hứa Tam Tỉnh mang biểu đầu hàng sang Yên Kinh“.
NguyenPhuocAnh1783
Hoàng tử Nguyễn Phước Ánh (1762 – 1820), tranh vẽ năm 1783 khi ông lưu trú tại Bangkok (kinh đô Xiêm). Ông bận trang phục như một thương gia Hoa kiều.
乾隆八旬萬壽慶典圖
Một phần bức tranh Càn Long bát tuần vạn thọ khánh điển đồ (乾隆八旬萬壽慶典圖), vẽ năm 1790. Đoàn kiệu rước hoàng đế Càn Long (1711 – 1799), bá quan lạy chào. Người mặc Bổ phục màu tía là Nguyễn Quang Hiển (阮光显) – cháu gọi bằng cậu của hoàng đế Quang Trung (1753 – 1792).
Nguyễn Quang Hiển
Nguyễn Quang Hiển mang danh nghĩa hoàng đế Quang Trung để giao tiếp với triều Thanh, cho nên đề tựa trong họa phẩm vẫn gọi ông là An Nam quốc vương Nguyễn Quang Bình (安南國王阮光平).
Tùy tùng Nguyễn Quang Hiển
Đoàn tùy tùng (gồm nam và nữ) của Nguyễn Quang Hiển dâng cống phẩm mừng thọ hoàng đế Càn Long.
Nguyễn Quang Hiển dâng biểu cầu hòa
Một họa phẩm khác : Sứ thần Nguyễn Quang Hiển dâng biểu cầu hòa lên hoàng đế Càn Long.
Phan Huy Ích
Chân dung Lễ Bộ Thượng thư Phan Huy Ích (潘輝益 ; 1751 – 1822) năm 1790.
Réception solennelle des ambassadeurs annamites dans la salle du trône aux Tuileries en 1863
Hoàng đế Napoléon Đệ Tam (1808 – 1873) và hoàng hậu Eugénie de Montijo (1853 – 1871) tiếp sứ đoàn Đại Nam tại cung điện Tuileries (Paris), ngày 5 tháng 11 năm 1863.
The Annamite Ambassadors in Paris - Antique Print 1863
Sứ đoàn Đại Nam.
Tirailleurs_Tonkinois_1885
Lính khố đỏ (milicien à ceinture rouge) Bắc Kỳ năm 1885.
1898 L'EMPEREUR D'ANNAM EN COCHINCHINE
Bức ký họa hoàng đế Thành Thái (1879 – 1954) trong chuyến công du Nam Kỳ, ngày 22 tháng 11 năm 1898.
Lính khố đỏ hành quân
Lính khố đỏ hành quân.
1902 Tirailleurs tonkinois - attaque d'un repaire de pirates
Lính khố đỏ tấn công một căn cứ của quân khởi nghĩa, 1902.
© Copyright 2013 CorbisCorporation
Hoàng đế Thành Thái xem voi đấu hổ, 1904.
A la frontière sino-tonkinoise des tirailleurs indigènes désarment des réformistes chinois - le petit journal 19 juillet 1908
Lính khố đỏ bắt giữ một nhóm cách mạng quân Trung Hoa ở biên giới Trung-Việt, 19 tháng 7 năm 1908.



Phần nhận xét hiển thị trên trang

Suy đểu:Liệu hồn không thì khốn vì thơ!

NGÀY XƯA MÀ NHƯ THẾ NÀY LÀ BỊ BẮT NGAY TẮP LỰ

Văn Công Hùng 
Hồi ấy, khoảng cuối những năm 80 của thế kỷ trước, cũng chả lâu la gì, tôi được mời họp thẩm định 1 vụ án thơ. Một ông làm thơ, có bài Bình minh nông trường Hà Tam, đại loại sáng ra sương treo trên ngọn cỏ như những hạt kim cương. Đàn bò của nông trường đi ăn cỏ, ăn cả những giọt kim cương ấy. Ông này muốn ca ngợi nông trường bò, nhưng lại bị suy ra là... phá chủ nghĩa xã hội. Là người ta suy diễn kim cương là tài sản XHCN, bò ăn kim cương là ăn... XHCN, hehe...

Đến họp mới biết là ông này đã bị bắt giam cả năm rồi. Hồi ấy kinh lắm, tôi còn trẻ, đi tháp tùng 1 ông phó giám đốc người dân tộc. Cả ban giám đốc công an tỉnh ngồi dự. Sau khi xem rất kỹ, chả thấy ai nói gì, tôi phát biểu, đại loại đây là bài thơ... dở, nếu bắt ông này vì làm thơ dở thì bắt, chứ tôi không thấy phản động. Hoàn toàn không có yếu tố phản động, ngược lại ông này nhiệt thành ca ngợi chủ nghĩa xã hội, thông qua đàn bò của nông trường, hồi ấy là nông trường điểm. Tôi nhớ người ta còn đọc lá thư của con trai ông này, đang là sinh viên đại học Y Sài Gòn viết thư minh oan cho cha, rất cảm động.

Sau khi tôi phát biểu thì 1 anh bên tuyên giáo phát biểu. Cuối cùng kết luận: bài thơ không phản động. Ông giám đốc công an tỉnh cho xe đưa chúng tôi về- hồi ấy đi bộ sang, vì chưa có xe. Và chừng chục ngày sau thì ông tác giả thơ được thả. Giờ ông này nhắc đến những ngày ấy vẫn còn kinh. Nhưng lạ là, ông vẫn yêu thơ và làm thơ.

Nhắc ngày ấy để thấy vừa đây có cái bài đồng dao mà nếu như hồi ấy xứng đáng bắt ngay tắp lự: "Bà gì?/ Bà ngoại/ Ngoại gì?/ Ngoại xâm/ Xâm gì?/ Xâm lăng/ Lăng gì?/ Lăng Bác/ Bác gì?/ Bác Hồ/ Hồ gì?/ Hồ ao/ Ao gì?/ Ao cá/ Cá gì?/ Cá quả/ Quả gì?/ Quả đấm”.

Chả khuyến khích bắt bớ tràn lan, nhưng cứ nghĩ, may cho ông tác giả, và cả người duyệt in bài đồng dao này, mươi năm trước nhé, liệu hồn...

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Câu chuyện ngàn năm:


Thực hư âm mưu trấn yểm nước Việt của Mã Viện

T
rong dân gian vẫn lưu truyền câu chuyện về cột đồng Mã Viện như một âm mưu trấn yểm nước Việt của viên tướng Đông Hán…
Câu chuyện về cột đồng Mã Viện trong lịch sử
Mã Viện tự Văn Uyên, người Phù Phong, Mậu Lăng nay là huyện Phù Phong, địa cấp thị Bảo Kê, tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc. Việc Mã Viện dựng cột đồng có liên quan mật thiết với cuộc nổi dậy của Hai Bà Trưng.
Theo đó, ngày 30 tháng 1 năm Tân Sửu (tức năm 41), nhà Hán thấy Hai Bà Trưng xưng vương dấy quân đánh lấy các thành ấp, các quận biên thùy, nên hạ lệnh cho các quận Trường Sa, Hợp Phố và Giao Châu sắp sẵn xe thuyền, sửa sang cầu đường, thông các núi khe, chứa thóc lương. Đồng thời, Vua Hán cũng giao cho Mã Viện làm Phục Ba tướng quân, Phù Lạc hầu Lưu Long làm phó sang xâm lược.
Ảnh minh họa. 
Cánh quân bộ tiến vào vùng Đông Bắc, Mã Viện tiến theo đường ven biển, san núi làm đường hơn nghìn dặm, đến Lãng Bạc. Năm Quý Mão (tức năm 43), Hai Bà Trưng chống cự lại với quân nhà Hán, thế cô nên bị thua, đều tử trận.
Mã Viện đuổi theo đánh quân còn sót lại huyện Cư Phong. Sau đó, Mã Viện bèn dựng cột đồng, tương truyền ở trên động Cổ Lâu, châu Khâm làm giới hạn cuối cùng của nhà Hán và khắc lên đó dòng chữ thề: “Cột đồng gãy thì Giao Chỉ diệt” (Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt).
Có nhiều tài liệu lịch sử ghi lại câu chuyện về việc Mã Viện dựng cột đồng này. Theo sách “Thủy Kinh chú sớ” của Lịch Đạo Nguyên thì: “Mã Văn Uyên (Mã Viện, tên tự là Văn Uyên) đã cho dựng cái mốc đồng để làm giới hạn cuối cùng của đất phía nam Trung Quốc ngày nay.
Mốc đồng ấy tức là cột đồng”. Sách “Đại việt sử lược” cũng chép rằng: “(Kiến Vũ) năm thứ 19 (tức năm 43), Trưng Trắc càng nguy khốn bèn trốn chạy, bị Mã Viện giết... (Sau đó) Mã Viện dựng trụ đồng làm ranh giới cuối cùng (của nhà Đông Hán)”.
Trong sách “Việt Nam sử lược”, sử gia Trần Trọng Kim cũng nhắc lại chuyện cột đồng: “Mã Viện đánh được Trưng Vương, đem đất Giao Chỉ về thuộc nhà Hán như cũ,... Đem phủ trị về đóng ở Mê Linh, và dựng cây đồng trụ ở chỗ phân địa giới”. Theo đó, cột đồng Mã Viện là có thật. Tuy nhiên, chỗ dựng thì cả ba sách đều biên chép khá mơ hồ.
Về địa điểm dựng cột đồng, một số ý kiến cho rằng cột đồng được dựng ở Khâm Châu. Theo đó, sách “Lĩnh ngoại đại đáp” của Chu Khứ Phi đời Tống (Trung Quốc) và “An Nam chí lược” của Lê Tắc đời Trần (Việt Nam) đều chép Cột đồng Mã Viện được dựng ở vùng hang động Cổ Sâm (có sách ghi là Cổ Lâu) thuộc Khâm Châu (trước thuộc Quảng Đông, nay thuộc Quảng Tây), Trung Quốc.
Đến cuối thế kỷ XVII, sử thần Ngô Sĩ Liên trong bộ sách “Đại Việt sử ký toàn thư” cũng ghi là cột đồng tương truyền dựng ở trên động Cổ Lâu, thuộc châu Khâm. Tuy nhiên, cũng có một số thông tin cho rằng, cột đồng Mã Viện được dựng ở Lâm Ấp.
Sách “Khâm định Việt sử Thông giám cương mục” của Quốc sử quán triều Nguyễn đã viết: “Theo Tùy sử, tướng Lưu Phương khi đi đánh Lâm Ấp, qua cột đồng của Mã Viện, đi về phía nam 8 ngày thì đến quốc đô Lâm Ấp. Trong khoảng niên hiệu Nguyên Hòa (806 - 820) đời Đường, An Nam đô hộ là Mã Tổng lại lập hai cột đồng ở chỗ Mã Viện dựng cột đồng trước, để tỏ ra mình là dòng dõi con cháu Phục Ba (Mã Viện)”.
Do địa điểm dựng cột đồng Mã Viện vẫn còn là một bí ẩn chưa được giải mã nên có một số ý kiến cho rằng câu chuyện cột đồng chỉ là chuyện đặt thêm. Một số nhà nghiên cứu cho rằng việc Mã Viện dựng cột đồng chỉ là giai thoại và không nên chép chuyện này vào sử sách vì không có chứng có chính xác.
Trong khi đó, các nhà nghiên cứu khác lại nói thêm: “Nhiều nhà nghiên cứu, nhà chính trị Trung Quốc ở thế kỷ sau đã nhiều lần tìm lại dấu vết cột đồng Mã Viện mà không thấy. Họ cho rằng cột đồng đã bị đá bồi lấp mất hay bị nước biển cuốn đi. Thực ra, theo nhà nghiên cứu sau này, cột đồng và câu chuyện về cột đồng của Mã Viện đều là chuyện đặt thêm”.
Tuy nhiên, vẫn có người tin rằng chuyện “cột đồng Mã Viện” là có thật, bởi trong lịch sử Trung Quốc việc dựng cột để ghi công sau một cuộc viễn chinh là chuyện thường thấy. Sau Mã Viện, những tướng khác như Hà Lý Trinh, Trương Chu và Mã Tống thuộc đời Đường; Mã Hy thuộc đời Hậu Tấn cũng đã dựng cột đồng ở các xứ phía Nam. Một số triều đại phong kiến ở Trung Quốc đã tỏ ra khá quan tâm về chuyện cột đồng Mã Viện.
Giai thoại dân gian và câu chuyện bùa trấn yểm
Trong dân gian vẫn còn lưu truyền những câu chuyện liên quan đến cột đồng Mã Viện. Có chuyện kể lại rằng: “Mã Viện, tướng nhà Đông Hán, dựng cột đồng ở biên giới - tương truyền là trên ngọn rú Rum (Lam Thành). Cột đồng có khắc dòng chữ “Đồng trụ chiết, Giao chỉ diệt”, làm cho dân Việt vô cùng căm giận. Có vợ chồng nhà kia ngày ngày lên núi hái thuốc về sao chế, đem ra chợ bán, làm kế sinh nhai...
Một hôm, lên núi, họ phát hiện ra nơi trồng cái cột đồng đáng nguyền rủa. Hôm sau, họ mang theo cái cưa lên núi. Hai vợ chồng dốc sức kéo cưa, quyết hạ cho được cột đồng. Chẳng bao lâu, chiếc cột đã bị cưa đứt và bị ném xuống sông. Người trong vùng nghe chuyện đều cảm phục.
Về sau dân Châu Hoan nhớ công lao, bèn lập đền thờ, tôn vợ chồng họ làm Thành hoàng. Trong đền có thờ cả đôi quang gánh để nhắc đến nghề nghiệp cũ của thần. Tương truyền, ngôi đền ấy ở một xóm nhỏ bên bờ biển Đông, sau này là đất phường Trung Ca, huyện Thiên Lộc”.
Cho đến sau năm 1945, ở thôn Trung Thịnh (tên mới của phường Trung Ca, nay thuộc xã Thịnh Lộc, huyện Can Lộc), vẫn còn ngôi đền thờ một vị thần có hiệu “Dực bảo trung hưng Linh phù bản cảnh Thành hoàng Linh ứng Đôn ngung tôn thần” là tổ sư nghề hát, nghề thuốc và là “người cưa đứt cột đồng Mã Viện”.
Cho đến nay, đền thờ đã không còn nhưng vẫn còn có 3 đạo sắc phong thần (vào năm đầu đời Thành Thái (1889), năm thứ 3 đời Duy Tân (1909) và năm thứ 9 đời Khải Định (1922). Cùng với đó là bản thần tích do ông Cung Khắc Lược đã phát hiện ra.
Bản thần tích bằng chữ Hán được đề là “Hà Tĩnh, Can Lộc huyện, Trung Thịnh thôn bản cảnh Thần hoàng sự tích” do vị hương lão họ Trần viết vào tháng giêng Thành Thái năm đầu (1889). Bản thần tích được dịch ra tiếng Việt với nội dung như sau: “Tương truyền, thời Trung Nữ Vương, ở Dung Sơn có vật yểm. Mã Viện muốn hại dân nước Nam, thường lập cột đồng tại các yếu địa.
Đương thời ở thôn Trung Thịnh có chàng trai lực điền họ Hoàng tên Cơ Thạch, nhà nghèo, thân đơn chiếc, nhưng tính tình vui vẻ, ham thích hát ca. Ngày ngày, chàng lên Rum sơn, nơi bốn mùa cây cỏ tốt tươi, phong phú, là kho thuốc quý, hái thuốc về, trữ đầy cả gian nhà tranh, sao chế, đóng gói đưa ra chợ vừa bán, vừa cho, để giúp người bệnh và có tiền độc nhật.
Một hôm lên núi, chàng thấy có vật lạ, về hỏi các cụ già, mới biết đó là cây cột đồng chôn để yểm trấn. Hôm sau, chàng dậy sớm, mang theo cơm gạo, búa, cưa, vội vã lên núi quyết phá cho được cái vật đáng nguyền rủa kia. Chàng hì hục cưa từ sáng đến chiều thì cây cột đổ. Dân làng biết chuyện đều hết sức thán phục.
Trong làng có phường hát, chàng họ Hoàng cũng nhập hội, quanh năm cùng vui vẻ hát hò, và vẫn làm nghề thuốc cứu người. Lúc về già chàng truyền nghề thuốc, nghề hát cho đám trai trẻ trong làng nên ở đây rất nhiều người giỏi thuốc, giỏi hát.
Ông già Hoàng Cơ Thạch không ốm đau, một hôm nằm ngủ thiếp đi và qua đời... hôm ấy là 20 tháng giêng. Dân làng vô cùng thương tiếc. Hằng năm vào ngày này, họ làm giỗ ông, rồi về sau, dựng đền thờ, để tưởng nhớ công lao của ông”.
Về việc cột đồng Mã Viện là bùa trấn yểm nước Việt thì theo nhà khảo cứu độc lập Thiên Đức, cột đồng này chính là một phần của trận đồ phong thủy được lập để diệt tận mọi mầm mống phản kháng ở nước ta. Cụ thể, Mã Viện đã sử dụng một loại bùa rất hiếm hoi đề cập trong sách vở là loại bùa Lưỡng Nghi tức là bùa Âm Dương có hiệu lực cao hơn bùa bát quái hai bậc theo Kinh Dịch.
Yếu tố Dương trong bùa yểm này là chiếc cột đồng, còn yếu tố Âm là Kiến Thành - tòa thành hình cái kén được Mã Viện cho xây ở Phong Khê. Hình dáng Kiến Thành kết hợp với cột đồng Mã Viện tạo nên một đạo bùa mạnh nhằm trấn yểm không cho người đàn bà Giao Chỉ (mà thời nhà Hán gọi là yêu nữ) tiếp nối truyền thống anh hùng dân tộc.
Nói theo kiểu dung tục thì Mã Viện đã chơi một trò rất thô bỉ là “đóng cọc” người đàn bà Giao Chỉ nhằm triệt tiêu con đường kết phát vương quyền cho nữ giới Việt Nam sau này. Ngoài ra, câu “Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt” về bản chất là một câu thần phù hay một lời nguyền.
Chữ “chiết” ở đây không có nghĩa là gãy mà có nghĩa là tách làm hai. Do đó, câu này nên giải thích là “trụ đồng tách huyệt (đế vương) ra làm hai, vua Giao Chỉ bị giết”, chứ không thể dịch là “trụ đồng bị gãy, dân Giao Chỉ bị giết”. Chữ “huyệt” và chữ “vương” là hai chữ đã bị ẩn trong câu này.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Lịch sử không phải để lên bàn thờ


TVNN - Lịch sử không phải để lên bàn thờ, cũng không để hắt hủi hoặc trốn tránh, mà để thảo luận và  dưới nhiều góc nhìn khác nhau của hậu thế. Đó cũng là cách tôn trọng nhất đối với lịch sử, với di sản của thế hệ trước để lại.

LTS:  Tiếp theo mạch bài về dạy và tiếp cận sử được đặt ra trong dịp cả nước tôn vinh sự nghiệp trồng người 20/11, Tuần Việt Nam xin giới thiệu góc nhìn của TS Giáp Văn Dương về cách dạy sử ở nhà trường và việc bồi đắp tình yêu nước.

Bài học lớn nhất từ lịch sử chắc hẳn là bài học làm người văn minh. Chỉ có như thế, những khổ đau đã xảy ra trong lịch mới không lặp lại và không trở thành vô nghĩa.

Lịch sử và diễn giải luôn là chủ đề tranh luận của học thuật và đời sống. Phân định được lịch sử và diễn giải, chúng ta sẽ tránh mắc kẹt vào những diễn giải cụ thể để làm che mờ sự thật và ý nghĩa của lịch sử, và qua đó, bao dung được với những diễn giải khác nhau, trong sự bình đẳng và tương kính.

Còn không, chúng ta mãi chìm đắm trong những vết thương và mất mát đã xảy ra. Lịch sử trong trường hợp này trở thành gánh nặng, là căn cớ của những chứng bệnh xã hội, thay vì là trường học hay nguồn cội.

Theo cách của riêng mình, mỗi người mang trên mình gánh nặng của quá khứ, cả vinh quang lẫn khổ đau.

Đây là điều không tránh khỏi, và cũng không nên tránh, vì chính việc này tạo ra sự gắn kết của cả dân tộc, khi họ chia sẻ chung một quá khứ. Vậy nên, ứng xử với quá khứ như thế nào là câu chuyện của cả dân  tộc, chứ không phải là câu chuyện của một cá nhân.

Trăm năm trên cõi đời này, mỗi cá nhân đều vô cùng bé nhỏ. Nhưng nếu có thêm sự tiếp sức từ quá khứ, thì họ trở nên giàu có và mạnh mẽ biết nhường nào. Theo cách nhìn đó, một dân tộc không có lịch sử là  một dân tộc nghèo. Một cá nhân không tiếp nhận được sức mạnh của lịch sử dân tộc mình là một sự thất  bại.

Vì thế, chúng ta cần lịch sử và hiểu lịch sử. Chúng ta cần một sự tiếp nối để có thêm sức mạnh và để bớt cô độc trên cõi đời này.

Nhưng lịch sử không ngọt ngào. Những trang vui tươi trong lịch sử rất ít. Phần còn lại chủ yếu là khổ đau, thù hận, máu và nước mắt.

Theo thống kê sơ bộ, trong khoảng 2250 năm trở lại đây nếu tính từ thời kỳ Bắc thuộc lần thứ nhất, thời gian Việt Nam ở trong tình trạng chiến tranh hoặc phụ thuộc chiếm gần gấp đôi thời gian hòa bình. Đó là những khoảng thời gian đau đớn đầy máu và nước mắt.

Vậy làm sao phải tiếp nhận một di sản đầy máu và nước mắt đó?

Việc này không dễ dàng chút nào. Tùy thuộc vào các hoàn cảnh cụ thể mà mỗi người có một lựa chọn.

Nhưng tựu chung có mấy cách phổ biến như sau:

• Quên nó đi, coi như không có, và nếu cần thì rũ bỏ

• Tự hào về nó, coi đó là vinh quang, cần tuyên truyền rộng rãi

• Thù ghét nó, coi đó là nguồn gốc của khổ đau, cần phê phán kịch liệt

Dù lựa chọn thế nào đi chăng nữa thì những khổ đau và thương tổn đã xảy ra là có thật, còn lựa chọn và diễn giải chỉ là chủ quan và thiên kiến của cá nhân hay một nhóm người.

Trên thực tế, lịch sử thường gắn liền với chiến tranh. Mà đã là chiến tranh thì bao giờ cũng gắn liền với  thắng và bại. Phe thắng thì thường coi đó là niềm tự hào và chính nghĩa. Còn phe bại thì coi đó là sự cay  đắng hoặc bất công của lịch sử. Người dân thường thì mất mát quá nhiều, hoặc không muốn nói đến, hoặc  ngả nghiêng theo tuyên truyền dòng chính, hoặc chẳng quan tâm vì họ phải lo toan chuyện cơm áo gạo tiền.

Khi cuộc chiến kết thúc, di sản lớn nhất mà nó để lại không hẳn là những tổn thất vật chất, mà là các diễn  giải, hoặc khổ đau hoặc tự mãn, được lồng ghép với nhiều ý đồ khác nhau của người diễn giải, tạo ra những vòng xoáy vô tận.

Kết quả của các diễn giải thiên kiến, dù mang trên mình những chiếc áo mỹ miều của lòng yêu nước hay bản sắc quốc gia, cũng làm những đổ vỡ trong lịch sử, máu và nước mắt, sẽ theo những vòng xoáy này tàn phá lòng người, tàn phá thế hệ hiện tại. Qua cách đó, cuộc chiến sẽ không bao giờ kết thúc. Cuộc  chiến chỉ chuyển sang một dạng khác, duy trì dưới một mầm mống khác có thể bùng phát bất cứ lúc nào.

Những cái giá quá đắt mà thế hệ đi trước phải trả đã không mang lại điều gì cho các thế hệ sau. Cũng  không có bài học nào của lịch sử được rút ra.

Muốn thoát ra khỏi vòng xoáy thì chỉ có hai cách: đứng ngoài vòng xoáy hoặc đứng cao hơn vòng xoáy.

Đứng ngoài vòng xoáy có ưu điểm của nó là sự đơn giản. Đó là cách dễ nhất, nhưng không giải quyết  được gốc rễ của vấn đề. Vì khi chọn cách đứng ngoài, anh tuy tránh được những khổ đau, nhưng cũng đánh mất cơ hội tiếp nhận sức mạnh mà lịch sử mang lại.

Vậy chỉ còn cách đứng trên vòng xoáy, để vượt thoát và phá vỡ nó để tập hợp và hướng sức mạnh của  lịch sử vào những việc có ích cho cuộc sống hiện tại, hoặc chí ít cũng là để hạn chế sự tàn phá của nó đối  với hiện tại. Chỉ có như thế mới có thể có được một hiện tại yên bình. Chỉ có như thế một cuộc chiến mới có thể kết thúc.

Lịch sử dĩ nhiên không phải để làm cảnh hoặc để trang hoàng cho oách. Lịch sử là trường học. Lịch sử cũng là bãi chiến trường. Ngay cả khi các cuộc chiến đã qua đi, thì lịch sử vẫn là nơi các diễn giải tranh đấu với nhau để tìm ra sự thật.

Như vậy, lịch sử không phải để lên bàn thờ, cũng không để hắt hủi hoặc trốn tránh, mà để thảo luận và  dưới nhiều góc nhìn khác nhau của hậu thế. Đó cũng là cách tôn trọng nhất đối với lịch sử, với di sản của thế hệ trước để lại.

Chiếc cốc nhìn từ hai góc nhìn khác nhau

Cùng là một vật thể: chiếc cốc, nhìn từ bên cạnh là hình nón cụt, nhìn thẳng vào lòng cốc là hình tròn. Từ  hai góc nhìn khác nhau đã có hai hình dạng khác hẳn nhau. Ai đúng, ai sai?

Câu trả lời tất nhiên là không có ai đúng, mà cũng chẳng ai sai. Cả hai đều đúng, và cả hai đều sai. Đúng,  theo góc nhìn của mình, nhưng sai do diễn giải của mình về cái cốc là phiến diện.

Với trường hợp cái cốc, chúng ta chấp nhận việc thấy cái cốc là hình nón hay hình tròn tùy theo góc nhìn là điều hiển nhiên. Nhưng với các sự kiện lịch sử, chúng ta lại thường không chấp nhận điều đó, và có xu  hướng cho rằng chỉ có một diễn giải đúng. Diễn giải đó thường được coi là chính thống, được sự hỗ trợ  của hệ thống, đặc biệt là truyền thông và giáo dục, nên được cho là chân lý, lấn át mọi diễn giải khác.

Các sự thật này đều bình đẳng với nhau theo cách riêng của chúng. Nhưng sự thật đúng nhất là sự tổ hợp  của các sự thật cá nhân này. Không có cách nào tránh khỏi điều này, vì nếu không, sẽ rơi vào phiến diện  và tranh cãi triền miên, như câu chuyện về cái cốc hình nón hay hình tròn đã nói.

Bởi thế, cần phải chấp nhận một sự thật rằng, mọi diễn giải đều bình đẳng như nhau, miễn sao chúng được hỗ trợ bởi các bằng chứng lịch sử. Chính các bằng chứng này là yếu tố quyết định diễn giải nào có  nghĩa, và diễn giải nào là ngụy biện.

Đối lập là bổ trợ

Sự phát triển của khoa học, đặc biệt là vật lý học, đã cho thấy sự vật có thể mang những đặc tính hoàn  toàn trái ngược nhau, như lưỡng tính sóng-hạt của ánh sáng chẳng hạn. Chính vì thế, Niels Bohr, một  trong những nhà vật lý học vĩ đại của thế kỷ 20, đã phải thốt lên rằng: Đối lập là bổ trợ. Điều này có  nghĩa, những diễn giải đối lập nhau không phải là để triệt tiêu nhau, mà bổ trợ nhau trong việc hình thành  một nhận thức đúng của chúng ta về sự vật, tức càng giúp chúng ta tiến gần sự thật. Các góc nhìn càng  phong phú thì cơ hội tiếp cận sự thật càng nhiều.

Quan niệm “đối lập là bổ trợ” này chính là nội dung của một nguyên lý quan trọng: nguyên lý bổ sung trong nhận thức luận, và ngày càng được thừa nhận rộng rãi, trong mọi lĩnh vực của đời sống. Nhờ nó mà  sự phán xét với các quan niệm khác nhau, thậm chí trái ngược nhau trở nên bớt khắt khe hơn.

Với các hiện tượng khoa học khách quan, có thể đo đạc và lặp lại được, việc thừa nhận những diễn giải  trái ngược nhau đã được coi là thiết yếu để hiểu rõ sự thật, thì với cá hiện tượng lịch sử luôn gắn liền  với con người, nặng tính chủ quan và không lặp lại, thì việc chấp nhận các diễn giải khác nhau, hoặc trái  ngược nhau, cần phải được coi là bình thường và cần thiết để tiến gần sự thật.

Khi đó, sự tiếp nhận các quan điểm khác nhau, những diễn giải trái ngược nhau trở nên bình thường. Con  người trở nên bao dung hơn. Sự bao dung đó có mục đích trước hết là để làm sáng tỏ sự thật, sau đó mới  là giúp cho cuộc sống được đa dạng, an toàn.

Không lẽ những sai lầm của lịch sử cứ lặp đi lặp lại, mà một trong những nguyên nhân của việc này là  những bài học lịch sử đã không được rút ra. Vì sự thật lịch sử đã bị che đậy bởi những diễn giải một  chiều

Bao dung hơn nữa

Với Việt Nam, một đất nước trải qua nhiều cuộc chiến liên miên, và nhiều vết thương vẫn còn gỉ máu, thì  sự bao dung trong việc diễn giải lịch sử còn trở nên cần thiết hơn bao giờ hết. Vì chỉ có cách đó, chúng ta  mới có thể chấp nhận được các diễn giải khác nhau về cùng một sự kiện. Và cũng chỉ có cách đó, sự thật  của lịch sử mới được làm sáng tỏ phần nào.

Sự bao dung này cần phải được coi là một tất yếu của nhận thức, vì nhận thức, chứ không phải sự ban  phát hoặc thỏa hiệp giữa bất cứ phe phái nào. Mục đích cao nhất của nó là tiếp cận sự thật lịch sử thông  qua các diễn giải khác nhau, dưới những góc nhìn và quan niệm khác nhau. Còn các hệ quả khác, như bồi  đắp sự chín chắn trong nhận thức, loại bỏ thù hận, hòa hợp hòa giải… sẽ tự đến một cách tự nhiên.

Chỉ khi nào tiếp cận được gần sự thật, thì con người ta mới rút ra được những bài học có ích cho mình.   Nếu không, những sai lầm của lịch sử sẽ có nguy cơ lặp lại bất cứ khi nào. Dư chấn của những đổ vỡ và  chia cắt trong quá khứ sẽ không được giải tỏa mà tiếp tục phá hoại cuộc sống hiện tại qua những vòng  xoáy của định kiến và diễn giải phiến diện.

Khi đó, những cái giá quá đắt mà thế hệ trước đã trả trong quá khứ: máu và nước mắt, hàng chục năm tụt  hậu, chia cắt và đổ vỡ, hàng triệu gia đình mất mát chia ly… sẽ chỉ mang lại những vòng xoáy cãi vã và  cuồng nộ trong lòng người, những điều vô nghĩa đối với cuộc sống hiện tại này.

Bởi lẽ đó, khi đánh giá bất cứ sự kiện nào, chúng ta cần tự nhắc nhở phải bao dung. Với các sự kiện lịch  sử, lại càng phải bao dung hơn. Với người Việt Nam, lại càng phải bao dung hơn nữa.

Không phải các lý thuyết về xã hội, cũng không phải các chiến dịch tuyên truyền, mà chính sự bao dung  mới là câu thần chú của mọi sự hòa hợp, là nước cam lồ rửa sạch vết đâu, là chìa khóa để mở ra sự phát  triển.

Mầm thiện sẽ mở ra với người bao dung, còn mầm ác sẽ nảy nở trong lòng kẻ định kiến. Bao dung hay  định kiến, đó là lựa chọn là của chúng ta, không ai thay thế được.

TS Giáp Văn Dương

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thơ oách nhì?

VỚI NHÀ THƠ PHẠM THIÊN THƯ

Mình ngồi đối thoại với ông Thư trước rất đông công chúng mà chả chuẩn bị gì. Thế mà cũng trôi chảy phết. Ông già 74 tuổi nhưng trẻ như 60, cái gì cũng còn rất cứng, kể cả... răng. Hỏi mới biết, ông có đến... 3 bà, đi tu 10 năm thực ra là để trốn lính. Giờ ngoài làm thơ thì làm... đủ việc, kể cả bốc thuốc kê đơn...

Mới sáng nay lò mò đến cà phê với ông, ông ấy đưa cái chai, bảo rửa mặt đi, mình lắc ra mấy giọt vào tay hỏi nước gì đấy, ông bảo nước Cam Lồ. Thấy mấy người khác cũng xì xụp rửa, rửa xong ai cũng bảo thấy mặt mình... trắng hơn lên, hehe...

Ông lại bảo chữa được cả Sida, hôm qua ngồi "diễn" trước khán giả mình bảo: Vợ tôi làm ở trung tâm phòng chống HIV AIDS, thấy mới nói giờ có loại HIV kinh lắm, chỉ ngồi bên nhau cũng bị, chả cứ chung đụng gì, nhất là vợ chồng ngồi bên nhau, bị ngay. Và mình nhìn xuống chỗ vợ chồng ông giám đốc sở Thông tin Truyền thông Gia Lai ngồi tí tách trìu mến cắn hạt dưa, hehe.

Hôm qua mình viêm họng, sốt, ông Thư bảo đưa đây ông xử lý, ông quẹt mấy cái, rồi ấn phát vào xương cụt mình, hỏi: Khỏi chưa. Mình bảo dạ rồi, tí ngồi dẫn chuyện vẫn ho như cóc. Con gái là dược sĩ ở SG vừa nhắn tên thuốc vào đt cho ba đi mua vì nó thấy ba nói chuyện điện thoại mà khù khụ cả tràng.

Ông còn cho mình củ tỏi bọc rất kỹ trong mảnh vải trắng, hẹn đau đâu xoa vào đấy, hết liền. Sáng nay ông cho thêm của nữa, thế là túi mình đang có 2 củ. Vẫn ho khù khụ, hihi...

Nhưng mà tối qua mấy ca sĩ của phòng trà cà phê Piano Sê San hát khá ổn. Trẻ mà hát nhạc Phạm Duy phổ Phạm Thiên Thư khá sâu, có tâm trạng. Và phần lớn không phải ca sĩ nổi tiếng của tỉnh.

Khán giả khá đông, khán phòng hết chỗ ngồi, BTC phải... truyền hình trực tiếp ra phòng ngoài. Ai vào phòng trong phải đặt trước, BTC để bảng tên, uống nước phải trả tiền, mình cũng không biết bao nhiêu 1 ly, nhưng chắc chắn đắt hơn nước bình thường, bởi nghe bảo ai ngồi ngoài xem qua... tv không phải thu thêm phụ phí.

Đại ca Trần Nhương bảo mình đi nói kiếm xiền tiêu tết, huhu, em làm không công bác ạ, có ly nước cũng chưa kịp uống nữa. 






Chú, not anh, Hùng và giai nhân





Hai củ tỏi bách bệnh của thi sĩ PTT


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Som Sabadell flashmob - BANCO SABADELL

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Còn nhiều chuyện để làm hơn, các vị ạ!

Hãy thôi đi những tranh luận vô bổ
Lương Kháu Lão
Tôi biết Thu Uyên khi còn là một bình luận viên quốc tế sắc sảo của Đài Truyền hình Việt Nam. Sau đó chị bỏ đi học nước ngoài và trở về thì mất vị trí ở Đài Truyền hình . Tôi đã gặp Thu Uyên lang thang tìm việc ở thành phố HCM, nơi chị quyết định cư ngụ . Và chị đã tìm ra việc xin nhà Đài cho phát chương trình Như chưa hề có cuộc chia li (NCHCCCL) . Phải nói ngay là chương trình này lúc đầu rất được hoan nghênh. Vì nó mang tính nhân đạo . Không biết thực hư chính xác được bao nhiêu phần trăm, nhưng ý tưởng tìm người thân thất lạc sau bao năm chiến tranh loạn lạc là một ý tưởng rất tốt . Nhưng !

Nhưng khi đã có thương hiệu, chương trình này được nhà Đài cho biến thành một “công ty” muốn tìm người thân phải mất tiền, mất nhiều tiền thì tính chất nhân đạo bị bào mòn , tính chất thương mại thành chủ đạo và do đó mất dần đi tính khách quan cũng như sự hấp dẫn nơi khán giả.

Việc Thu Uyên cho phát chương trình về các nhà ngoại cảm đầy nhạy cảm là thể hiện sự tính toán để níu kéo độc giả đến với chương trình ngày càng ít khách này , chưa nói đến việc làm phân tâm nhiều người đang quan tâm đến thời cuộc nóng bỏng của đất nước khi Quốc hội đang họp cấp tập . Và hầu như việc gây ra “cơn bão” tranh luận đúng sai đã nằm trong ý đồ của Thu Uyên và nhà Đài từ trước.


Trong đó đặc biệt là phản ứng từ Luật sư Trần Đình Triển , từ các nhà khoa học đến từ Trung tâm tìm hiểu năng lực của con người cũng như Viện UIA của tiến sĩ Vũ Thế Khanh. 

Vấn đề đã vượt quá khuôn khổ của các tranh luận khoa học mà đã sang vấn đề danh dự, vấn đề luật pháp. Hai bên đều tìm các chứng lí để buộc tội nhau là “làm lộ bí mật”, là “phản khoa học” “là “bịa tạc 100%” vv..vv . Cuộc chiến từ sự “vu khống ” nhà ngoại cảm Phan thị Bích Hằng khi khẳng định chiếc răng của tướng Phùng Chí Kiên không phải là răng người đến việc người ta (tức luật sư Triển) đã chuyển hướng điều tra các vụ bịa tạc để kiếm tiền khi chị Thu Uyên cho nhân viên công ty của mình đi tìm thân nhân…

Cuộc chiến này sẽ không bao giờ có hồi kết. Đòi hỏi Thu Uyên và nhà Đài cải chính sự tìm sai người thân là không thể. Nhà Đài không bao giờ chịu hạ nhục để làm việc đó . Cũng như bới móc chuyện mồ mả tìm thấy là sai sự thật thì các gia đình liệt sĩ “đã mồ yên mả đẹp” cho dù không phải là xương thịt con em mình mà là nắm đất nơi chiến trường cũng không ai muốn bới lại chuyện đau lòng này làm gì cho mất thời gian. Mà thời gian là phương thuốc làm lành các vết thương. Bới móc chuyện này ra, các vị vô hình trung làm rỉ máu lại các vết thương đó. Như thế không phải là nhân đạo mà là … tôi đắn đo không biết có nên dùng chữ tội lỗi hay không?

Vậy nên cả hai bên hãy thôi đi các tranh luận vô bổ để bàn về các vấn đề quan trọng của đất nước.
Nguồn: Lương Kháu Lão

Phần nhận xét hiển thị trên trang