Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Ba, 26 tháng 11, 2013

Rao bán thơ?

- VẪN CÒN MỘT CỐT CÁCH THƠ

Kính gửi quý Ban Biên tập
Sau một quá trình cậy cục vất vả, khổ tủi, tập thơ mang tên một tác giả “có vấn đề” như tôi đã được NXB Hội Nhà Văn nhận cho ấn hành rất hy hữu. Tất nhiên, đã phải đẽo gọt nhẵn nhụi hết những gì có hơi hướng chính luận.
Vì không biết còn tồn tại trên cõi đời này được bao lăm nữa nên tôi đành “cố đấm ăn xôi” để được ký thác vào công chúng một mảng sức lao động của mình đã bỏ ra, ngõ hầu được ghi nhận như một mảnh tâm tư cỏn con trong đời sống nhân loại.
Tập thơ đã được xét duyệt, được in, song làm thế nào để đến được tay bạn đọc. 
Vì sách Thơ bán rất ế nên các Nhà Xuất bản không nhận phát hành mà các tác giả hầu hết đều phải tự đảm nhiệm khâu này.
Các tập Thơ của các tác giả khác nói chung đều chỉ dám in 500 cuốn. Do không nắm được thực tế, tôi đã bỏ tiền in 1000 cuốn. Đấy là một khoản tiền khá lớn so với lương hưu của chúng tôi.
Tôi khẩn khoản mong quý Ban Biên tập cho in bài viết dưới đây để may chăng Tập Thơ sẽ được độc giả để mắt đến. 
Đem ký gửi bán ở các Hiệu sách, nhà nước hay tư nhân, đều bị chiết khấu từ 30% đến 50% (Sách bán 39000 VNĐ, tác giả chỉ được nhận từ 20000 đến 30000 VNĐ). Ngoài số sách biếu tặng, số còn lại nếu bán hết, mới hòng thu hồi đủ vốn (không được đồng nhuận bút nào); nếu bán không hết thì lỗ vốn, tức là tiêu vào tiền của vợ con!  
Mong được quý vị quan tâm, tôi xin cảm ơn trước

Nguyễn Thanh Giang
***

 VẪN CÒN MỘT CỐT CÁCH THƠ

Sau một quá trình cậy cục vất vả, khổ tủi, tập thơ “Những Mẩu Quặng Dọc Đường” của Nguyễn Thanh Giang đã được NXB Hội Nhà Văn Việt Nam cho ấn hành. Dù đã phải “đẽo gọt nhẵn nhụi”, ở đây vẫn thấy còn tồn lại một cốt cách Thơ đáng nhìn nhận.
Nhà thơ Thanh Thảo khẳng định: “Không thể gọi bằng một tên nào khác, đó là thơ yêu nước. Người ta cứ tưởng khi đã thanh bình rồi thì lòng yêu nước cũng “lặn” mất tiêu trong thơ. Không phải đâu! Và đất nước ta bây giờ cũng chưa thật sự thanh bình. Kẻ thù vẫn ngày đêm rình rập, đe dọa. Biển Đông vẫn cuộn sóng … Có những câu thơ như nhà điêu khắc tạc vào đá … Nguyễn Thanh Giang vẫn định hướng được tầm vóc của “những mảnh hồn làng” …”.
Nhà thơ Định Hải: “Tôi hạnh phúc đắm đuối trong biển thơ rạo rực và đầy khát vọng của Nguyễn Thanh Giang. Tôi xúc động đến trào nước mắt vì những vần thơ tâm huyết, xuất thần, càng đọc kỹ càng thấy có nhiều vỉa tầng sâu xa.
Tập thơ được sắp xếp thành 3 phần và cả 3 phần đều có những dấu ấn đậm nét về những năm tháng sống và cống hiến, những phút giây đẹp đẽ nhất trong cuộc đời anh. Cả 3 phần đều có những bài thơ đặc sắc, những câu thơ tinh xảo, những tứ thơ độc đáo, có bản sắc riêng biệt khó trộn lẫn với nhiều tác gỉa khác từ 1954 đến nay
Tiến sỹ Trần Nhơn thì cho rằng đây là “Thơ truyền ý chí và nghị lực”, và ông kêu gọi: ”Mong sao bạn trẻ hãy tìm đọc Nguyễn Thanh Giang mà tiếp thu lấy cái ý chí ấy, cái nghị lực ấy để cùng trở thành một tài sản quý của quốc gia”.
Xin giới thiệu ba trong sáu lời bình in trong tập sách:
Nhà thơ Thanh Thảo
Phó chủ tịch Hội đồng Thơ Hội Nhà Văn Việt Nam
*************************************************************

PHẦN THƯỞNG CỦA NHÀ THƠ
 Thơ Nguyễn Thanh Giang mộc mạc mà thỏ thẻ với tôi nhiều thú vị. Anh nói đây là tập thơ của cả đời mình. Có lẽ đúng. Vì 3 phần tập thơ thì 2 phần đã “dính” với nghề và nghiệp của anh rồi: nếu phần 1 là “Những mẫu quặng đời” thì phần 3 là “Hành trình địa chất”. Anh dành trọn phần 2 cho “Quê hương và đất nước” như mọi người Việt làm thơ yêu nước vẫn dành.
Nguyễn Thanh Giang là một nhà địa-vật lý. Suốt bao nhiêu năm trong đời mình, anh đã có những đóng góp đáng kể cho đất nước qua chuyên môn rộng và sâu của mình. Đó là một người sống chết với từng mẩu quặng, sống chết với nghề: nghề địa chất. Và đã trải đời mình trên cả chiều rộng lẫn chiều sâu của bản đồ Tổ quốc. Nghề và nghiệp đã đưa anh tới với Thơ. Tình yêu đất nước, yêu những người dân bình dị anh đã gặp và đã thân quen suốt “hành trình địa chất” đã đưa anh tới với Thơ.
Tôi còn nhớ khi học ở khoa Văn đại học Tổng hợp, những năm sơ tán ở Đại Từ-Thái Nguyên, tôi đã đọc được tập thơ “Sức mới” với lời giới thiệu nhiệt thành của Chế Lan Viên. Đó gần như là tập “Thơ trẻ” đầu tiên của miền Bắc. Chúng tôi hồi đó còn rất trẻ, nên dĩ nhiên thơ trẻ, thơ được làm bởi những người trẻ thu hút chúng tôi nhiều nhất. Tôi nhớ, trong tập “Sức mới” ấy có một bài thơ của Nguyễn Thanh Giang. Hồi đó, có thơ in trong một tuyển thơ như vậy là ghê lắm rồi, là bắt đầu nổi tiếng rồi. Chính Phạm Tiến Duật và nhiều nhà thơ thành danh sau này đều đã bước ra từ tập thơ “Sức mới” in giấy xấu ấy.
Bẵng đi quá nhiều năm, không thấy Nguyễn Thanh Giang công bố thơ nữa, cứ nghĩ là anh đã bỏ thơ sang làm chuyện khác rồi. Cho tới một ngày, tình cờ ở một nhà ga tỉnh lẻ, tôi lần đầu được gặp Nguyễn Thanh Giang qua giới thiệu của một người bạn đang chờ tàu. Lúc ấy Nguyễn Thanh Giang đã nổi tiếng lắm rồi, nhưng là ở một “khu vực” khác. Người ta nói, công an hay an ninh mật gì đó theo anh khắp nơi. Nhưng hôm ở nhà ga tỉnh lẻ, anh đi đâu ghé qua đấy, tôi hình như không thấy có bạn công an nào theo anh. Chỉ có nắng. Và gió. Và dòng người chen chúc nhau ở một nhà ga khi tàu sắp tới. Khi tôi nhắc về bài thơ ở tập “Sức mới”, Nguyễn Thanh Giang thổ lộ là anh vẫn làm thơ, anh còn yêu thơ lắm. Rồi tàu đến, chúng tôi chia tay. Nguyễn Thanh Giang lên tàu, cũng không thấy ai theo dõi gì, hay là có mà tôi không biết. Tôi vốn thật thà, và cũng không quá coi trọng chuyện ai theo dõi ai.
image001                                    
Phải nói, gần như ba phần tư tập thơ Nguyễn Thanh Giang là “thơ mậu dịch quốc doanh”, theo cách nói xếch mé của một vài “nhà” gọi là “phê bình” trên mạng internet bây giờ. Đó là thơ yêu nước, thơ kháng chiến, thơ chống giặc ngoại xâm. Nó song hành với những bát phở “không người lái”, với từng đề-xi-mét vải thô được cấp phát, với từng chút “mỳ chính” (bột ngọt) phân phối tới mỗi người lính, mỗi cán bộ, mỗi người dân trong những năm tháng cực kỳ thiếu thốn ở miền Bắc Việt Nam:
“ Anh muốn về thăm nơi nặng tình nặng nghĩa
                           Nơi mẹ già cho bát cháo hành dăm
                           Nơi các em dựng trường bằng tiền mót khoai xúc tép
                           Vào lớp ngồi bùn còn bết đầy chân”
                                                          ( Nhớ về xóm cũ)
Phải thấy nhân dân từ góc nhìn như thế thì mới có những câu thơ như nhà điêu khắc tạc vào đá khi viết về một người đồng hương lớn của mình:
“ Vẫn thấy ông thồ đá qua những đồi sim
                           Lầm lũi xám những chiều hoang biền biệt
                           Kẽo kẹt bên trời dáng ông lẫm liệt”
                                                      (Nhớ Hữu Loan)
Và khi nhớ về một nhà thơ nổi tiếng của miền ven biển Quảng Ngãi, nơi “nước bao vây cách biển nửa ngày sông”, Nguyễn Thanh Giang vẫn định hướng được tầm vóc của “những mảnh hồn làng” hôm nay:
“ Ông có về lại vườn xưa hái quả
                              Thăm con sông từng tắm mát đời ta
                              Chú còng gió giương càng chào biển cả
                              Những mảnh hồn làng phấp phới tận Hoàng Sa”
                                                         ( Nhớ Tế Hanh)
Và trong một đêm ngủ ở làng cổ Đường Lâm quê hương Ngô Quyền, Nguyễn Thanh Giang vụt nghe và thấy:
 Chiều đọc tin ngư phủ mình bị giết
                                 Ước biển Đông vút cọc nhọn Bạch Đằng
                                 Đêm nghe vọng tiếng tù và hối thúc
                                 Thấy Ngô Quyền lẫm liệt vung gươm”
                                                           ( Đêm ngủ ở Đường Lâm)
Không thể gọi bằng một tên nào khác, đó là thơ yêu nước. Người ta cứ tưởng khi đã thanh bình rồi thì lòng yêu nước cũng “lặn” mất tiêu trong thơ. Không phải đâu! Và đất nước ta bây giờ cũng chưa thật sự thanh bình. Kẻ thù vẫn ngày đêm rình rập, đe dọa. Biển Đông vẫn cuộn sóng. Ngư dân ra khơi đánh cá trên những ngư trường truyền thống như Hoàng Sa, Trường Sa vẫn liên tục bị khủng bố. Người làm thơ yêu nước bây giờ vẫn canh cánh trong lòng bao nỗi niềm như thuở xưa Cụ Đồ Chiểu hằng khắc khoải: “ Bao giờ trời đất an ngôi cũ/Mừng thấy non sông bặt gió Tây/”. Gió Tây ấy, bây giờ là gió(bấc) Bắc.
Mà gió bấc là gió bấc, gió nồm là gió nồm, không có kiểu “chúng ta cùng gió bấc gió nồm” như ai đó nói.
Đọc thơ Nguyễn Thanh Giang, tôi cứ muốn dừng lâu ở những đoạn thơ hồn nhiên thời kháng chiến của anh:
                                 “ Bấy lâu măng chấm muối vừng
                                    Bữa nay giềng mẻ thơm lừng suối khe
                                    Đi mười cây số mua bia
                                    Bi đông mở nút cũng nghe nổ giòn
                                    Chúc nhau chân cứng đá mòn
                                    Tay vừa chạm cốc, cây rừng đã say”
                                                      ( Tết trong thung lũng)
Những câu thơ như thế nó khiến cuộc đời chúng ta vốn nhiều buồn phiền trở nên dễ sống hơn. Cũng như bài thơ tặng cháu đích tôn này:
“Mơ màng thấy nước biển dâng
                                    Thuyền vào tận ngõ nhưng không còn mình
                                    Tưởng đà qua mấy mươi năm
                                    Tỉnh ra biết cháu đái dầm ướt lưng”
                                                          ( Nước biển dâng)
Rất tự tại.
Tôi biết, người vợ tảo tần của Nguyễn Thanh Giang là con gái nhà thơ Thôi Hữu-một nhà thơ yêu nước với bài thơ nổi tiếng “Lên Cấm Sơn” mà từ hồi đi học chúng tôi từng ngưỡng mộ. Thơ là chuyện của đất nước, của nhân loại mà cũng là chuyện của nhà ta, của mỗi gia đình Việt. Dù thơ chẳng cho ta danh phận gì, nhưng thơ định phận cho ta, thơ là phần thưởng của ta, nói như một nhà thơ Nga-Xô viết:
“ Và những huân chương, không cần
Không cần lăng xăng huênh hoang
Với nhà thơ chúng ta-phần thưởng
Chính là số phận mình”
Khi “phần thưởng” của mình chính là số phận mình, thì cần chi phải lắm lời, phải không ạ ?
                                                                    Quảng Ngãi, qua Tết Đoan Ngọ 2013
                                                                                                 THANH THẢO

Tiến sỹ Trần Nhơn
Nguyên Thứ trưởng Bộ Thủy lợi
****************************************


THƠ TRUYỀN Ý CHÍ VÀ NGHỊ LỰC
 Đọc Nguyễn Thanh Giang, đây đó gặp những câu thơ buồn, rất buồn.

Buồn thăm thẳm:

Đông về, chiều đã sương
Trăng chìm nơi đáy giếng
Thăm thẳm lời ước nguyện
Xa xưa như nỗi buồn

Buồn mênh mang:

Biển còn xanh quá biển ơi
Mây thời bạc trắng một trời long đong

Buồn thao thiết:

Mây đã bạc đầu
chiều đã rêu phong
Thầm thĩ mãi tiếng rì rầm suối nhỏ
Thao thức mãi tiếng ào ào thác đổ
Trán đá phơi trắng cả hoàng hôn

Buồn vời vợi:

Tưởng như gió chán phong trần
Tưởng đưa chân bước mà không gặp đường
Tưởng lênh đênh giữa Sông Ngân
Không Trăng Sao, chỉ cánh buồm bơ vơ

E như buồn còn theo người xuống mộ:

Nước mắt trào giữa đêm
Tưởng sắp tràn đáy mộ
Hơn một tuổi, cha mẹ bỏ nhau, cô và bà nội nuôi. Bẩy tuổi cha về đưa đi lang thang khắp các tỉnh thành cùng một gánh hát mà cha ông là chủ. Toàn quốc kháng chiến bùng nổ, theo dì ghẻ tản cư về ngồi bán nước vối và bún riêu ở đầu chợ Phủ Thọ Xuân Thanh Hóa …Học hành rất lõm bõm vì nay đây mai đó.
Với cô thiếu nhi Đặng Thùy Trâm, không biết tình cảm anh huynh trưởng thuở xưa thế nào nhưng thơ ghi lại bây giờ thật xúc động:

Buổi ấy em đi
Mang theo tuổi trẻ anh vào nơi anh không đựơc đến 
Bởi em cần hậu phương

Sóng bước chân em trong nắng núi mưa ngàn
Anh đi làm địa chất
Ước đúc tặng em “Bông hồng vàng Pautôpxki” 

Nhưng em không về

Chỉ vọng lời em hát Sulikô
Trong tiếng đàn anh xưa

Xa vắng

Nhưng hẳn Nguyễn Thanh Giang không buồn vì tình ái. Giả sử anh huynh trưởng với cô thiếu nhi ngày ấy có gửi gắm trong nhau một thứ tình cảm sâu hơn các em thiếu nhi khác thì chút tình đó bây giờ vẫn “…tỏa mùi thơm thiêng liêng/ Âm ỉ cháy những tháng năm rạo rực” kia mà. Vả chăng ông đã có một người vợ vừa xinh đẹp, vừa thông minh, giỏi việc nước, đảm việc nhà, đã từng là Chánh Văn phòng Trung ương Hội Phụ nữ Việt Nam. Bà là con nhà cách mạng, nhà thơ nổi tiếng Thôi Hữu.
Ông cũng không buồn vì chuyện học hành nhôm nhoam bởi năm 1947, lúc 11 tuổi ông đã đi thi Primaire bằng tiếng Pháp và đã đỗ. Vì lý lịch gia đình không được đi nước ngoài nhưng năm 1980 ông cũng đã trở thành ngừoi đầu tiên bảo vệ thành công luận án Phó Tiến sỹ Địa Vật lý ở trong nước.
Không ai có thể thấy nỗi buồn bi lụy, ủ ê trong thơ NguyễnThanh Giang. Chỉ thấy trong nỗi buồn ấy chất chứa một khát vọng, một hoài bão lớn lao.
“Nhớ Tản Đà” ông viết:

Non cao dẫu tuổi đã già
Nước còn cuồn cuộn như là thương ai

“Nhớ Đặng Thùy Trâm” ông viết:

Nên cho dẫu mái đầu đã bạc
Anh vẫn mong cháy được thành em

“Nhớ Nguyễn Công Trứ” ông viết:

Làm trai đứng ở trong trời đất
Sao hận trăm năm non nước ơi                                                
Đọc hai câu này người ta có thể liên tưởng đến hai câu của Nguyễn Công Trứ “Làm trai đứng ở trong trời đất/Phải có danh gì với núi sông”. Tuy nhiên Nguyễn Thanh Giang không hám chức tước, quyền lực. Anh chị em dưới quyền ông đều kể ngày ấy thủ trưởng thường giao hết quyền cho anh chị em để miệt mài đọc sách và hì hụi làm các thí nghiệm. Nhờ đó ông đã thiết lập nên Phòng Thí nghiệm Nghiên cứu Cổ địa từ đầu tiên ở Đông Nam Á và là người đầu tiên phát hiện khả năng chứa Uranium của tầng than Nông Sơn.
Ông không hám vàng son lòe loẹt, không hám hào quang những mảnh vỡ thạch anh mà nhắn nhủ:

Hòn đá xám lẫn trong màu cỏ
Trong trời chiều bề bộn núi non xa
Mà em nhỉ, nếu biết yêu màu xám ấy
Bao giờ ta cũng có lời ca

Ông dặn con hãy như dây bầu cố bò lên dàn cao, nhưng cao tới đâu cũng đừng huyễn hoặc. Ông mong “Dàn bầu” của ông sẽ tỏa bóng mát cho đời mà quả thì cứ “ruột càng trắng phau”.

Chưa đến trăng đâu
Vòm sao xa lắm
Chỉ vàng thêm nắng
Lộng thêm gió trời

…Thoáng đâu hiên ngoài
Xôn xao lá rợp
Đường xa ai mệt
Ghé ngồi thảnh thơi

Rồi say cánh bướm
Cái nậm xinh xinh
Cái bầu tròn óng
Xanh trong mắt nhìn

Yêu sao dây bầu
Lên tới giàn cao
Lá xòe bóng mát
Ruột càng trắng phau.

Cho nên ông rất cặm cụi bền bỉ. Bền bỉ cùng chú ngựa thồ

Theo ta đi suốt mùa đông khô trụi lá
Suốt mùa hè nắng đổ lửa xém lưng
Những đêm lều thưa mưa dột thấm chăn
Ta thương ngựa tấm phên chuồng chẳng có

Nhưng cứ ráng hết sức

Lên đèo Chẹn cỏ gianh trùm lấp lối
Dốc Lũng-Pô chùn gối vẫn còn xa
Đường Xưa-Teo chân bấm tướp lần da
Đứt hơi thở vẫn cùng ta vượt tiếp

Bền bỉ như dòng suối miệt mài tích góp vị mặn cho biển:

Ngân nga em cứ giữ dòng
Trắng trong bởi tự thượng nguồn em sinh
Dẫu chưa ai gọi tên mình
Đá mòn, biển mặn, công em tháng ngày

Bền bỉ như chất biển mặn ở trong hồn.

Cơn gió nhẹ cũng lăn tăn xao xuyến 
Bão thét gầm không lặng tiếng reo ca
Xa muôn dặm vẫn dạt dào xô đến
Mặn muôn đời chất biển của hồn ta

Bền bỉ để không chỉ có được sắc đỏ trong huyết quản mà lòng sẽ còn đầy ắp tiếng chim ca.

Rừng gần đầy hoa
Rừng xa đầy chim
Giọng thấp, giọng cao chen nhau trong gió
Họa mi đất mừng những tay búa vừa tìm thấy than
Sáo nâu mừng tìm thấy sắt
Hoàng Yến mừng tìm thấy vàng
Bạch Yến mừng tìm thấy thiếc
Vàng Anh mừng tìm thấy đồng
…. và liếu điếu, bồ nông
và chào mào, sáo đá….

*

Ai qua suốt rừng gần
Thấy hoa đỏ thấm vào hơi thở
Ai đi hết cánh rừng xa
Sẽ nghe lòng đầy ắp chim ca.

Mong sao bạn trẻ hãy tìm đọc Nguyễn Thanh Giang mà tiếp thu lấy cái ý chí ấy, cái nghị lực ấy để cùng trở thành một tài sản quý của quốc gia.

Mùa phượng vỹ Quý Tỵ
TRẦN NHƠN


Phạm Ngọc Luật
Nguyên Phó Giám đốc NXB Văn hóa – Thông tin
***********************************************************

THƠ, HAY NHẬT KÝ TÂM HUYẾT CUỘC ĐỜI ANH
                                                                                 
Kể từ ngày tôi và anh Nguyễn Thanh Giang cùng có phận sự đứng trước phần mộ, trước bàn thờ người bố vợ – nhà báo, nhà thơ liệt sỹ Thôi Hữu – khấn nguyện những điều thiêng liêng và thành kính, tính đến nay cũng đã hơn 30 năm, thời gian bằng nửa đời người. Dài đấy chứ! Cùng vợ chồng anh bàn việc hiếu với các bậc sinh thành, việc hỷ của cháu con, rồi tết nhất, giỗ chạp vv…, gặp nhau nói bao thứ chuyện, riêng chuyện thơ phú chỉ nói chơi chơi, loáng thoáng bởi đó là khu vực rất riêng của mỗi một người. Phần thơ anh lộ sáng đến sớm nhất với tôi chỉ là một số bài thơ được chọn vào các tập tuyển của cái thời in thơ còn khó lắm, vinh hạnh lắm, cách nay cũng chừng 40 năm.
Thế rồi, như quả ở trên cây, tự già tự chín, gần đây anh gửi nhờ vợ chồng tôi (cũng có phần như giao nhiệm vụ kiểu người nhà) đọc giúp anh bản thảo tập thơ Những mẩu quặng dọc đường hơn trăm trang, ngót trăm bài, tôi có hơi bất ngờ nhưng hiểu được lòng anh trong một kênh chữ nghĩa trữ tình khác với những gì anh vẫn viết.
Và tôi vẫn biết, thầm xen sự nể phục nơi anh có một sức nghĩ, sức viết, sức làm việc thật phi thường.
Tập thơ, có thể nói là ở đoạn cuối đời này cho thấy mạnh mẽ hơn khía cạnh một con người phong phú trong anh, trước sau vẫn đau đáu, trăn trở, nhiệt huyết một tấm lòng với nhân dân, với đất đai, Tổ quốc. Thơ như vậy là thơ yêu nước lắm. Là thể hiện tinh thần công dân cao cả.
Tôi biết thơ không là nghề là nghiệp gì cả với anh Giang. Nhưng thơ đồng hành cũng tất cả những gì anh đã sống, đã nếm trải.
Cái thủa ban đầu háo hức tươi trẻ đến với thơ, cũng như bất cứ ai, anh không thiếu, thậm chí là nhiều nhiều những bài thơ du dương mà thật thà, chân chất ngợi ca quê hương, đất nước mình. Có thể cả bài, nhiều bài cứ ngòn ngọt như vị xi-rô, mát mẻ trong lành như nước trái dừa tươi nhưng chính ở vùng miền thơ này lại không ít lần sánh lên những câu thơ như giọt mật ngọt sắc, hoặc đắng như khổ qua, cay như ớt. Nhưng không độc.
Tôi thích những bài thơ như Bập bênh, Cây bầu lên giàn, Nước biển dâng vv… anh viết tặng con cháu, những bài thơ ấy giọng điệu non tơ quá, thương cảm quá mà cũng dư đầy ngẫm nghĩ; thơ viết lại rất… nghề.
Tôi cũng muốn lưu nhớ cho mình những câu thơ sức vóc nhỏ thôi như tứ tuyệt (Yên Tử, Đèo Ngang vv…) mà dư vị cuộc đời nó cất lên không nhỏ.
Chợ bên sông đã lô nhô ngói đỏ
Cuốc thôi kêu, ai đó hết chạnh lòng
Không đá chen hoa, rừng đâu còn củi nữa
Lưng chú Tiều vẫn dáng lom khom.

Còn hơn là dư vị, cuộc đời một Hữu Loan, thi sĩ đồng hương của anh hiện lên lừng lững mà xót xa, hằn khắc sù sì trên vách đá cuộc đời, lẫm liệt trong hình hài một “cửu vạn” đậm mùi vị sim mua.

Vẫn thấy ông thồ đá qua những đồi sim
Lầm lũi xám những chiều hoang biền biệt
Kẽo kẹt bên trời dáng ông lẫm liệt
Sắc tím đời ông bầm dập những con tim.

Anh Giang quả có dụng ý viết hàng chục bài về những nhà thơ mà cuộc đời họ hầu hết không xuôi chèo mát mái. Và thật sự họ là những người tài. Quý trọng nhân cách và ái tài, hai cái đó phải chăng cũng là vốn thực có trong con người cuộc đời anh.
Đó là những mẫu quặng đời như anh đã đặt “tên” cho họ.
Và họ đã góp phần tác thành “Những mẩu quặng dọc đường” anh có hôm nay.
Và tôi ưng ý (hay nói là “khoái” cho nó nhẹ bớt cường độ diễn đạt của mình) ở một xê – ri thơ của anh mà tên mỗi bài đặt đúng cho những vấn đề hóc búa với thơ như: Dân chủ, Tự do, Độc lập, Công bằng, Hạnh phúc, Bác ái. Ưng ý và khoái vì ở đó cảm xúc cùng trí tuệ đã có dịp thăng hoa.
Mấy câu về Hạnh phúc có thể mới là thăng hoa ở tầm thấp:

Bị thằng bán tơ vu oan
Vẫn ngậm bồ hòn làm ngọt

Nhấm nháp vị cay của ớt
Để ăn càng ngon thêm

Cởi nốt tấm áo sờn
Đắp cho người lưu lạc

Bài Tự do, thăng hoa như đã hơn một bước:

Khi lên cao
Vút tận mây mờ

Lúc xuống thấp
Vượt cả năm dòng kẻ

Người xướng âm
Vẫn chỉ
Đồ Rê Mi Fa Son

Đến bài Bác ái, thăng hoa ấy đã đưa thơ tung tẩy trong phẩm vị mới mẻ, không dễ làm, không dễ có.
Nhưng, có thế nào thì vẫn phải trở lại để nói rằng, đúng, anh Giang chưa bao giờ coi thơ là nghề và nghiệp.
Nhưng càng đúng hơn, thơ thật sự đã là nhật ký tâm huyết cuộc đời anh. Khi vừa là một cử nhân vật lý – địa chất, vào đầu những năm 60 thế kỷ trước, khoác ba lô đi mọi miềm núi rừng của Tổ quốc, anh đã viết những câu thơ có dấu ấn nghề và rất đẹp.

Trước lán trồng thêm luống cải sen
Bướm vàng lác đác đến làm quen
Giật mình, một sớm hoa vàng chóe
Tưởng mạch quặng đồng mới nổi lên.

thì gần nửa thế kỷ sau khi đã là Tiến sĩ Địa – Vật lý từ năm 1980 nội lực cho thơ, vẫn còn dư dật lắm. Tâm tư chiều là bằng chứng đích đáng, đủ nói cho điều đó:

Mây đã bạc đầu
Chiều đã rêu phong
Thầm thĩ mãi tiếng rì rầm suối nhỏ
Thao thức mãi tiếng ào ào thác đổ
Trán đá phơi trắng cả hoàng hôn

Gió quét, sương pha, mưa rỉ rả mòn
Trăng đã soãi một bình nguyên yên ả
Buồn lởm chởm lại xô lên triền đá
Ngổn ngang trời
nắng lóa
núi xanh tuôn. 

Mừng sinh nhật thứ 77 của Anh
6 tháng 7 năm 2013
*
 Tập thơ đã có bán ở các hiệu sách trong nước. Xin quý vị độc giả tìm đọc. 


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Năm ngoái là năm nào?

ĐẦU NĂM TÀO LAO VĂN NGHỆ VĂN GỪNGNGUYỄN ĐÌNH CHÍNHNửa đêm.
Cái đồng hồ trên tường kêu tích tắc, tích tắc. Kim ngắn trỏ đúng con số XII . Kim dài đang nhúc nhích bò tới con sô I.
Bóc tờ lịch ngày cuối cùng năm 2011 đỏ chói, cẩn thận bỏ vào xọt rác. Thế là bước sang năm 2012 được năm phút rồi. Anh bạn tiến sĩ kinh tế ngành địa chất thủy văn ở nhà bên đáng tuổi thằng con út của tôi không ngủ được, lọ mọ mò sang xin ly rượu Mèo, ngồi nhâm nhi rồi gật gù :
- Kinh tế Năm 2012 vẫn tăng trưởng tiến lên. Vậy mà văn nghệ văn gừng các bác năm 2012 chắc vẫn cứ là …là… ậm è, chán ngoét.
- Căn cứ vào đâu mà ông bảo văn nghệ văn gừng chúng tôi ậm è chán ngắt.
- Tiếp xúc với thơ văn của các bác bây giờ oải lắm, buồn ngủ lắm, không khởi sắc như kinh tế.
Tôi bảo :
- Khởi sắc cái con khỉ. Kinh tế các chú lạm phát vọt lên hai con số rồi.Lửa cháy đến đít rồi còn nói phét.
Chiêu một hớp rượu Mèo, anh bạn tiến sĩ chùi mép cười khà :
- Kinh tế như một dòng sông. Lạm phát chỉ là rác rưởi trôi nổi trên. Dân văn nghệ văn gừng các bác chỉ nhìn thấy rác rưởi chứ không chịu ngụp xuống chiêm ngưỡng dòng chảy ngầm bên dưới đang chảy cuồn cuộn tăng trưởng ứ trào thêm sáu phần trăm của cải vật chất cho xã hội Việt Nam năm 2012.

Đến lượt tôi gật gù :
- Nếu kinh tế như một dòng sông thì Văn nghệ cũng như một cái hồ . Dân kinh tế các ông cũng chỉ nhìn thấy rác rưởi lềnh bềnh trôi nổi trên mặt nước thôi chứ không chịu ngụp xuống …
Thấy anh bạn tiến sĩ buông ly rượu xuống, trợn mắt, ngạc nhiên, tôi cao dọng giảng giải :
- Ở nước nào cũng vậy. Ở thời nào cũng vậy. Văn nghệ là cái hồ. Cái thứ văn nghệ thời thượng rỗng tuếch lẩn trốn hiện thực chỉ là rác . Là rác nên nó phải cố ngoi lên mặt hồ, đàn đúm nhau kết bè kết đám để thở .Còn văn nghệ đích thực phản ánh trung thực đời sống xã hội thì là những dòng chảy ngầm cuồn cuộn dưới lòng hồ. Dân kinh tế các chú đếch chịu lặn xuống mà giương mắt ra…
- Vậy hả ?
- Chứ sao.
- Nhưng em cứ xin liều mạng hỏi bác cái hồ văn nghệ xứ ta bên dưới có có những dòng chảy ngầm cuồn cuộn không ?
- Thì tôi đã nói rồi mà. Xứ nào, nước nào mà chẳng có.
- Cháu e rằng cái hồ văn nghệ xứ ta đếch có những dòng chảy ngầm cuồn cuộn đó đâu.
-. Cậu chỉ phất phơ tiếp xúc với thứ văn thơ xuất bản bày bán tùm lum lềnh phềnh trên báo, trên quầy ngoài phố thì làm sao mà đòi lặn xuống tiếp xúc được với những mạch sóng ngầm , cuồn cuộn các tác phẩm thơ văn đích thực dưới đáy hồ, đang ẩn mình vì vướng vào hàng búi giây nhợ NHẬY CẢM, vẫn chưa được vọt lên ,trườn mặt ra in ấn phát hành cho thiên hạ thưởng thức cơ chứ.
- Xin lỗi bố già, nhà cháu đây lặn xuống rồi . Lặn xuống tận đáy rồi. Âm âm, u u. Im thít.Toàn bùn nhão ngoét.
- Cái thằng cha này mới có ly rượu Mèo mà đã BAY . Tàu lặn đâu mà ngươi đòi lặn xuống được tận đáy hồ của chúng tớ.
- Ti tỉ cái tàu lặn bày bán khắp cả nước kia kìa. Máy tính. Mác đê in In te nét cụ ạ. Em cứ cưỡi cái máy tính in te nét là em xục được xuống tận đáy hồ văn nghệ văn gừng của các cụ.
- Ừ thì chú cưỡi cái tàu lặn chết tiệt đó. Nhưng chú thân cô thế cô , lại là dân kinh tế suốt ngày tối mắt tối mũi đi săn tiền thì thời gian đâu mà lượn khắp đáy hồ được. Chú nên nhớ cái hồ văn nghệ xứ ta rộng lớn lắm, vĩ đại lắm. chú xục cả đời cũng chưa hết.

Anh bạn tiến sĩ phì cười:
- Em nói trêu bác tí cho vui đấy thôi. Với chúng em thời gian còn quý hơn vàng. Có mà rỗi hơi em lại lặn xuống mò mẫm, lùng xục dưới cái đáy hồ văn nghệ văn gừng của các bác. Điên !
- Vậy mà sao chú dám nói văng mạng dưới đáy hồ chúng tôi âm âm, u u. Im thít . Chỉ toàn bùn nhão.
- Vì em nghe thiên hạ người ta đồn thổi rằng cái hồ văn nghệ văn gừng của các bác quả là có to thật, rộng thật. Nhưng mà bao năm nay nó chỉ là cái hồ tù nước đọng. Hi hi. Đã tù đọng thì chỉ toàn rác rưởi và bùn nhão ngoét làm đếch gì có sóng. Ấy là chưa kể cái mùi nước hồ tù đọng lưu cữu lâu năm bốc lên thì thì … Hi hi hi…

Bây giờ thì đến lượt tôi - gã nhà văn già há hốc mồm, trợn mắt ra nhìn nó – cái thẳng cha tiến sĩ kinh tế địa chất thủy văn trẻ ranh đó vừa nốc rượu của mình lại vừa cười vào mũi mình ./.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Người sáu lạng, kẻ nửa cân

Vài lời nhân bài viết của nhà
văn Tạ Duy Anh & cũng xin
vài lời


Nguyễn Hoàng Sơn
Nhà thơ Nguyễn Hoàng Sơn
NQL; Quê Choa đồng thời nhận được bài viết của nhà thơ Nguyễn Hoàng Sơn và bài trả lời của nhà văn Tạ Duy Anh. Nhận thấy đây chỉ là  khúc mắc nho nhỏ giữa các nhà văn, không đáng để cho to chuyện. Bới ra chỉ tổ làm thiên hạ nhìn các nhà văn bé đi mà thôi. Vì vậy Quê Choa xin chấm dứt câu chuyện này ở đây. Xin cảm ơn nhà thơ Nguyễn Hoàng Sơn và nhà văn Tạ Duy Anh.

 Tôi nhận tin có bài viết gì đó của Tạ Duy Anh liên quan đến tôi (NHS), từ một cú điện thoại của nhà văn Lê Hoài Nam. Thời đại kĩ thuật số có khác, thông tin thật nhanh nhạy. Tôi còn loay hoay chưa tìm được trên mạng thì con gái lớn của tôi, vẻ rất bức xúc, đã đem về cho bố một bản in nhan đề “Nhân báo Tiền Phong 60 tuổi, tôi kể lại chuyện này”- Tạ Duy Anh. Trước khi đọc vào bài viết, độc giả được thưởng thức lời bình khá mùi mẫn của NQL (NguyễnQuang Lập, chủ blog Quê choa?) “ Chuyện thật đắng cay. Ôi cái tình của những người làm báo!” (!). Thành thực mà nói, trong trí tôi chẳng hề lưu giữ một tí ti nào về câu chuyện mà Tạ Duy Anh kể lại, hoàn toàn không! Không tin lắm vào trí nhớ tự nhiên của mình, tôi lục tìm các cuốn sổ tay năm 1987 còn lưu lại. Nếu sự việc đúng như Tạ Duy Anh kể thì có thể anh đến tòa soạn chiều ngày 11/6 năm 1987? Thế thì có thể sáng hôm ấy hoặc chiều hôm trước tôi đã đi Nam Định rồi? Nhật kí công tác của tôi ghi:
12/6/1987…
Làm việc với UBND tỉnh Hà Nam Ninh, anh Bùi Thế Bình, phó Chủ tịch . Xin Trung ương 5 vạn tấn lương thực! 54% là cán bộ viên chức của Trung ương…
13/6/1987 (xã) Nam Giang, Nam Ninh… Đ/c Trần Xuân Bối, Huyện ủy viên, Bí thư; Đoàn Trọng Khái, Chủ nhiệm; Nguyễn Minh Châu, Phó Bí thư…Buổi chiều, làm việc với Phòng y tế Nam Ninh, Trưởng phòng Bác sĩ Nguyễn Hữu Đạo, tổ trưởng dự án 2651 (PAM)…
14/6/1987 Làm việc tại Công ty xuất nhập khẩu Nam Ninh. 1/a. Hiên, Phó Giám đốc 2/a. Dương trưởng phòng kế hoạch 3/a. Hải Trưởng phòng Tổ chức…Chiều 14/6/1987: Làm việc tại Phong Định( HTX Phong Thành, xã PĐ). Vũ Tư Cấu ( Bí thư Đảng ủy xã); Vũ Dũng ( phó Chủ nhiệm); Vũ Đình Thi (nt); Vũ Đức Vọng (Ủy viên quản trị)… Tối 14/6/1987: Làm việc với Phó Bí thư  (?) Vũ Mộng Kiêm.28 vạn dân. 11 vạn lao động. 18 ngàn ha.
15/6/ 1987 ( không ghi gì?)
16/6/1987: Gặp  Giám  đốc Liên hiệp dệt Nam Định( ?)1889 người Hoa xây dựng nhà máy. 1900 Đuy-prê mua lại “ Công ty sợi Bắc Kỳ)…
17/6/1987 Gặp đ/c Hoàng Văn Lương, Giám đốc công ty thương nghiệp TP; đ/c Trần Văn Ninh, phó thường trực …Tối 17/6/1987: Làm việc với Sở Giáo dục…
18/6/1987 (làm việc với) Công ty sách và thiết bị trường học. ( ông) Hoàng Minh, Giám đốc. (ông) Nguyễn Kỷ, Phó Giám đốc; (ông) Đỗ Đình Tung, Phó Giám đốc, phụ trách xưởng sản xuất và sửa chữa đồ dùng dạy học…

Tóm lại, trong suốt một tuần (từ 12 đến 18 tháng 6/1987) tôi đi công tác tại Nam Định , không có hân hạnh ở nhà để diện kiến anh bộ đội Tạ Duy Đãng, tức nhà văn Tạ Duy Anh sau này. Có điều, có thể tôi quên do chuyến đi đầy ắp cảm xúc và công việc, nhưng không thấy Tạ Duy Anh nhắn hoặc liên hệ lại? Chẳng lẽ hồi ấy anh đã mắc bệnh quan trọng như bây giờ, tự đặt mình cao hơn người mà mình định nhờ vả? Có thể do anh chạy cửa khác, hiệu quả hơn nên không cần nhờ đến tôi nữa? Tôi có tiếc chắc cũng tiếc vừa thôi, vì hồi ấy tôi cũng chỉ là một phóng viên quèn, đúng nghĩa, dù có nhiệt tình đến mấy cũng chỉ có thể đề đạt với BBT, vậy thôi. Có điều, có lẽ Tạ Duy Anh nhớ lầm, chứ năm 1987 Dương Xuân Nam đã lên Tổng Biên tập đâu mà tôi đã có hân hạnh “làm việc với sếp Dương Xuân Nam về vụ của bố tôi” (TDA)

Thành thực mà nói, sự việc của gia đình Tạ Duy Anh không mảy may để lại dấu ấn nào trong bộ nhớ của tôi. Sau này (cũng cách nay vài năm thôi) tôi có đọc trên mạng, đại khái cũng nắm được láng máng rằng những năm ấy, bố Tạ Duy Anh (theo lời anh) cũng bị hiểu lầm, trù dập gì đó, sau nhờ có ông con nổi tiếng can thiệp kịp thời thì mọi điều êm ả… Nhưng nhớ nhiều về thái độ, có thể gọi là hung hăng, của ông con – nhà văn Tạ Duy Anh, khi chì chiết về những sếp của ngành truyền thông trong tỉnh như các ông Lê Chúc, Đắc Hữu (nguyên là các TBT báo Hà Sơn Bình), nhất là với cô phóng viên tội nghiệp Bùi Bằng Giang, người trực tiếp viết bài về trường hợp của bố Tạ Duy Anh, hình như đăng trên báo Nhân Dân và được một cái giải báo chí gì đó? Sự việc cũng chỉ có thế, mấy chục năm rồi, có lẽ chỉ bố con Tạ Duy Anh nhớ lâu, nhớ kĩ, còn thiên hạ thì bao nhiêu việc, nhớ làm gì? Hình như sợ người ta quên, nên lâu lâu lại thấy Tạ Duy Anh lên mạng kể lể, rủa xả, còn đe sẽ xuất bản sách nữa, ghê chết…

Trở lại với sự việc được Tạ Duy Anh thuật lại, chắc là cũng theo trí nhớ? Tôi thấy Tiền Phong quá lịch sự. Thay vì việc Nguyễn Hoàng Sơn đi Nam Định vắng mặt, khi có yêu cầu , Tòa soạn cử hẳn hai phóng viên TH và HHT xuống tiếp “thằng lính quèn, mặt mũi đen đúa” là nhà văn tương lai Tạ Duy Anh. Anh nhớ cả “Chị HHT ngồi nghe tôi kể lại vắn tắt sự việc một lát, trong khi vẫn ăn gì đó trong miệng. Lát sau lấy cớ bận, chị bảo nhường việc tiếp tôi cho anh T.H”. Chà chà, đúng là trí nhớ nhà văn. Về những lời đối thoại giữa anh bộ đội Tạ Duy Đãng và anh TH, mặc dù có gạch đầu dòng hẳn hoi, nhưng tôi cũng xin phép chỉ tin một nửa. Trí nhớ hay phản ta lắm. Vả lại, nên nhớ là câu chuyện diễn ra năm 1987, thời kì tiền đổi mới, khí thế sôi sục, ngôn ngữ tự do, phóng túng có lẽ còn hơn cả bây giờ? Làm gì có chuyện, tiếp một anh bộ đội lạ mặt,lần đầu đến Tòa soạn, mà ông T.H nào đó “ nhíu mày bảo “- Việc của cụ thế là lên tới Cung Đình rồi( ý anh muốn nói báo Nhân Dân, Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam đã đều dính vào), khó gỡ lắm. Khó vô cùng luôn. Có thể nói là hết cách…Sao không khoanh nó lại mà để loang ra to thế? Lên tới Cung Đình thì bọn tớ cũng chịu. Bọn tớ chỉ là tép riu thôi…Nghĩ ngợi giây lát, anh T.H lắc đầu nhìn tôi “ Chắc mình chả giúp gì được đâu. Bố mìnhcũng không dám viết ngược những gì đã in trên báo Nhân Dân. Các ông để nó đến đoạn này thì đành chịu thôi”.  (Những chỗ gạch đít là tôi mong bạn đọc chú ý) .Tôi không tin đó là ngôn ngữ của làng báo năm 1987, nhất lại là của một phóng viên Tiền Phong? Nó nặng mùi “ văn nô” lắm.  Điều đó ,tôi nghĩ,chỉ có thể nảy sinh trong đầu óc nghèo nàn của “nhà văn” nhiều hằn học Tạ Duy Anh? Mấy câu sau đây thì là “làm văn” đứt đuôi con nòng nọc rồi “Tôi cứ nấn ná thêm, hi vọng biết đâu anh Nguyễn Hoàng Sơn kịp về. Biết đâu anh TH đổi ý theo kiểu” giữa đường thấy việc bất bằng…”. Nhưng chiều xuống rất nhanh. Không gian đỏ như máu. (!) Hi vọng của tôi cũng sập xuống. Tôi đành ra về, lòng nặng như đeo đá.”…

Như tôi đã nói rõ trong phần đầu, nếu đúng là Tạ Duy Anh đến tìm tôi vào chiều 11/6/1987 thì tôi đã đi Nam Định vào chiều hôm trước, hoặc đúng sáng hôm ấy? Còn nếu tôi ở nhà thì hà cớ gì tôi phải tránh mặt anh ta? Tạ Duy Anh đòi gặp một lúc cả hai nhà báo TH và HHT còn được nữa là? Năm 1987 tôi xin nhắc lại, tôi chỉ là một phóng viên quèn, không có quyền từ chối tiếp bạn đọc và cộng tác viên, nhất là những người có oan khuất. Nếu tôi ở nhà và lánh mặt (chẳng vì lí do gì cả?) thì “chị thường trực…đầy cảnh giác” và  “ anh TH và chị HHT” chắc chắn không để tôi yên, họ sẽ gọi tôi xuống và ném trả cho tôi cái “của nợ” là thằng lính quèn, mặt mũi đen đúa Tạ Duy Đãng kia! Vì thế, tôi rất mong Tạ Duy Anh cho tôi biết tên tuổi cụ thể của cái “ người” đã “xui đểu” anh. “Mấy năm sau có người bảo tôi rằng, hôm đó anh Nguyễn Hoàng Sơn chẳng đi đâu hết, mà ngồi trên tầng 2 của tòa soạn nhưng tôi không tin. Đến tận bây giờ tôi vẫn quyết không tin.” Anh không tin là phải. Tôi không quan trọng đến mức “mấy năm sau” mà có người còn nhớ giờ ấy, ngày ấy tôi làm gì, ở đâu… Đến tôi còn không nhớ nổi mình nữa là!

Tạ Duy Anh, theo tôi, có thể kể là nhà văn “giao thời”, khi xã hội ta đang chuyển từ thời “bao cấp” sang thời “đổi mới”, cùng “trà” với những Bảo Ninh, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Quang Lập(?)…, tất nhiên là đi sau và thấp hơn Nguyễn Huy Thiệp? Hồi ấy, một giọng văn quyết liệt như của Tạ Duy Anh dễ được bạn đọc chú ý, đến nỗi nhà phê bình Hoàng Ngọc Hiến phải dùng tên một truyện ngắn của anh ta để đặt cho cả một nền văn học là nền văn học “Bước qua lời nguyền ” kia mà! Chính tôi (NHS) cũng bị hấp dẫn bởi giọng văn ấy và viết một bài báo biểu dương, có lẽ hơi quá lời  “Một bước tới văn đàn”  (2/11/1990) in trên TPCN: “Một nhà văn có tài khi xuất hiện thường quá ngưỡng với một bộ phận độc giả. Chính tôi cũng nằm trong bộ phận ấy. Cảm ơn Nhà xuất bản Văn học đã mau mắn và mạnh dạn cho ra đời tập truyện “Bước qua lời nguyền”, trả lại cho tôi một nhà văn đích thực. Bài viết nhỏ này là để thanh minh cho sự nhận biết muộn màng của mình” ( Tranh luận Văn học, NHS, tr. 153, NXB Văn học, tháng 5/2000). Tôi còn tiếp tục dõi theo bước tiến của Tạ Duy Anh một vài năm sau. Trong bài đăng trên báo Văn nghệ “Những cây bút trưởng thành từ công trường TNCS Hòa Bình “ (viết ngày 24/9/1992) tôi không quên nhắc lại sự bất công mà tác giả “ Bước qua lời nguyền” gặp phải: “Tạ Duy Anh cũng viết dăm ba cái truyện ngắn rồi cả một tiểu thuyết về sông Đà nhưng chỉ nổi tiếng với truyện ngắn “Bước qua lời nguyền” viết về chính vùng quê anh, dòng họ anh với những giằng xé, đau đớn, những kiếp người vừa đáng thương vừa đáng giận. Tôi cho rằng tập truyện ngắn “Bước qua lời nguyền” của Tạ Duy Anh xứng đáng được nhận giải thưởng văn học 1991 và việc Ban chấm giải năm ngoái bỏ qua tập truyện quan trọng này là đáng tiếc và là một bất công với truyện ngắn - thể loại nghiêm túc và có nhiều thành tựu nhất trong thời kì đổi mới “(sđd, tr 193). Cũng trong bài này, tôi đã cảnh báo về một hiện tượng manh nha từ bấy giờ nhưng càng về sau càng phát triển đến mức không kiểm soát được: hiện tượng dùng danh nghĩa “văn học” để sát phạt, “thanh toán” lẫn nhau: “Cùng viết truyện ngắn nhưng Vũ Hữu Sự lại có khả năng… viết dài hơn là viết ngắn. Tiểu thuyết lịch sử đầu tay “Cành ban rỏ máu” đọc khá hấp dẫn, văn viết kĩ, có màu sắc cổ kính. Nhưng đến tiểu thuyết “Không thể giã từ” thì Vũ Hữu Sự không giữ được cốt cách trước đó. Cuốn sách được viết ra như để “thanh toán” với những ai đó. Về mặt này, Vũ Hữu Sự giống Tạ Duy Anh (ở truyện ngắn “Tội tổ tông” và phần nào ở tiểu thuyết “ Lão khổ”). Tôi không tán thành với lối làm văn học kiểu này tuy rằng những “tác phẩm” loại ấy bây giờ thật không đếm xuể và ngày càng cay cú, càng dữ dằn hơn!” (sđd, tr 194- những chữ in đậm là tác giả mới nhấn mạnh). 

Thấm thoắt đã hơn 20 năm từ những dòng chữ in báo kia,  tác giả “ Bước qua lời nguyền” vẫn sống( và nghe nói sống khỏe?), vẫn làm “văn học” nhưng hình như tác phẩm không còn được nhắc nhở, bàn tán, tìm đọc như trước nữa? Đấy là một điều bình thường, đến Nguyễn Huy Thiệp bây giờ nghe nói còn gác bút, ngồi thiền, đánh bạn với bác sĩ chữa bệnh cho chó và làm thơ dân gian Nguyễn Bảo Sinh nữa là? Nhưng hình như Tạ Duy Anh không chịu được sự quên lãng? Những truyện ngắn truyện dài cả đống( trong đó nghe nói có cả “tiểu thuyết” Thiên thần sám hối gì đó, kể chuyện một ông –hay hai ông?- đến già còn nằm trong bụng mẹ vì lịch sự không chịu ra trước ông kia, kinh!) tiếc rằng chẳng được ai để ý. Rồi thì anh còn biên khảo, biên tập những gì gì của Nguyễn Trần Bạt, “Trại súc vật” của một ông người Anh tôi quên tên…Và anh lên mạng internet, cái này mới thật đắc sách, vừa hợp mốt, vừa tha hồ “thủ dâm”, hò hét như giữa chốn không người . Anh nhắc lại những mối thù ( tưởng tượng?), thanh toán thêm một lần, nhiều lần với cô phóng viên trẻ năm nảo năm nào nay chắc cũng đã là một người mẹ đáng kính? Rồi anh lục tìm trong trí nhớ (bệnh hoạn?), “sắm” thêm những kẻ thù mới, như Nguyễn Hoàng Sơn, “dám” quên cả một cuộc hẹn với anh từ …có 26 năm trước, láo! Anh như người “Bước qua lời nguyền”, bước qua ranh giới, nhưng chẳng biết đi đâu, lơ ngơ ngã ba giữa chiều xế bóng… Để trấn an nỗi sợ ráng chiều đang ập đến, và cũng để khẳng định mình đang tồn tại giữa làng văn, làng báo, anh lớn tiếng hò hét, chửi đổng, đem những chuyện phần nhiều là hoang tưởng từ năm nảo năm nào, thời còn là thằng lính quèn, mặt mũi đen đúa, viết rồi tung lên mạng… Có lẽ ta đang được chứng kiến một ca tâm thần đặc biệt, đáng ghê sợ, trong làng văn?

23/11/2013

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thiên đường và địa ngục


Tôi là một con ruồi.
Tôi sinh đã một tháng. Đối với loài ruồi, tôi được coi là thanh niên.
Một tháng nay, tôi sống trong cái thế giới bẩn thỉu và hôi hám: ngủ thùng rác, lượn lờ nơi cống rãnh, ăn vỏ dưa, vỏ cam, hít thở toàn bụi bậm và khí nóng.


Cái thế giới này thật chẳng ra làm sao? Không những kiếm ăn đã vất vả, lại có thể bị con người tiêu diệt bất cứ lúc nào. Sống những ngày như loài ruồi chúng tôi thật không đáng sống, tôi hiểu rõ điều ấy.
Nhưng ruồi lớn lại bảo:

- Thế gian không đến nỗi tồi như cậu tưởng? Cậu không đến những nơi tốt đẹp cậu mới coi chỗ này là địa ngục. Đó là vì cậu chưa hiểu sâu biết rộng đấy thôi!

Ruồi lớn sinh trước tôi hai tháng, theo thứ bậc tôi phải coi như cha chú. Tôi hỏi:

- Chú ơi, chả lẽ thế gian này lại còn có nơi sạch sẽ?

- Sạch sẽ thôi à. - Chú đáp - Chẳng những sạch sẽ mà còn như thiên đường. Ngoài những thứ ngon, những cái đẹp, còn có cả máy lạnh. Cậu đã bao giờ nghe nói đến máy lạnh chưa? Đó là mùa xuân do con người tạo ra, cực kỳ mát mẻ. Cậu mà gặp, cậu sẽ thích đến mức phải tìm ngay một thứ gì mà ăn?

- Đi xem một chút có được không ạ?

- Sao lại không?

Từ thùng rác, chú dẫn tôi bay đi, qua đường Hoàng Hậu thì rẽ, rồi đến một tòa nhà cao đẹp, tôi đậu đằng trước một cánh cửa bằng kính khá lớn. Chú bảo:

- Chỗ này gọi là tiệm cà phê.

Cửa tiệm cà phê bỗng mở, một luồng gió mát lạnh bay ra. Chàng thanh niên đầu bóng mượt lững thững đi vào, chúng tôi nhân dịp đó bay theo.

Vào trong nhà, chú hỏi:

- Thế nào? Chỗ này có tuyệt không?

Chỗ này thật tuyệt! Hương thơm sực nức. Không biết từ đâu tỏa ra cái mùi dễ chịu đến như thế. Những người đàn ông âu phục chỉnh tề, những người đàn bà phấn son sặc sỡ cứ như bươm bướm! Trên các bàn bầy đầy bánh ngọt, đồ uống và những viên đường. Thật sạch, sạch đến mức tôi phát sợ!

Không biết chú đi đâu mất, còn lại một mình, tôi chỉ có cách bay đến ẩn dưới một cái bàn nhiều hương vị.

Ngồi bên bàn là một người đàn bà đứng tuổi, vẻ hiền từ, và một thanh niên chừng hai mươi, nước da trắng trẻo. Người đàn bà hỏi:

- Mấy hôm nay anh chết gí ở chỗ nào thế?

Người thanh niên đáp:

- Chơi hụi mất hết cả tiền, còn đi chỗ nào được nữa?

Người đàn bà vặn lại:

- Tôi cho anh ăn, cho anh mặc, cho anh ở, cho tiền anh tiêu hàng ngày, còn hụi với họ gì?

Người thanh niên nói:

- Nhưng tiền mất rồi!

Người đàn bà hỏi:

- Mất bao nhiêu?

- Ba nghìn.

Người đàn bà mở ví, rút ra sáu tờ năm trăm:

- Cầm lấy? Từ nay không được hụi với họ gì nữa! Bây giờ tôi phải đến đường Hoàng Hậu mua mấy thứ, tối nay chín giờ đợi anh ở nhà hàng Vân Hoa. Đồ chết tiệt!

Bà đưa tiền cho người thanh niên rồi với bộ mặt cười cười đứng dậy đủng đỉnh bước ra.

Người đàn bà vừa đi, người thanh niên liền đến một cái bàn khác. Bên bàn là một cô gái rất trẻ, phấn son tươi roi rói, xinh đẹp và hấp dẫn. Mái tóc cô kẹp một bông hoa bằng nhung.

Tôi bay đến, đậu lên bông hoa nhung nghe trộm.

Chàng trai nói:

- Em ơi! Bây giờ thì em có thể tin được rằng công việc chẳng có gì rắc rối hết?

Cô gái nói:

- Đưa đây!

Chàng trai:

- Nhưng em phải làm một việc anh yêu cầu cơ?

- Việc gì?

Chàng trai đặt tiền vào tay cô gái, ghé tai cô thì thầm những gì, tôi không nghe được, chỉ thấy cô thốt ra mấy tiếng: "Đồ quỷ!"

Chàng trai hỏi:

- Được không?

Cô gái đáp:

- Có gì mà không được? Anh đi trước, em còn phải ở đây đợi một người. Một giờ sau em sẽ đến!

- Không được lỡ hẹn đấy nhé!

Cô gái hỏi:

- Thế em đã lỡ hẹn với anh mấy lần?

Chàng trai đi rồi, cô gái đến phòng gọi điện thoại. Tôi thừa cơ bay tới hộp đựng đường, ăn thoải mái, rồi đậu trên chén cà phê, nếm vị ngọt ở miệng chén.

Đang ăn một cách thích thú thì cô gái trở lại ghế ngồi, lấy tay đuổi, tôi chỉ còn cách bay đến đậu lên tường.

Mười phút sau xuất hiện một người đàn ông to béo, khoảng năm mươi tuổi, mặc bộ lụa đen Quảng Đông, ngực đeo dây chuyền gắn hình bán nguyệt. Ông ngồi phịch xuống chiếc ghế da, bảo cô gái: "Đưa đây!" Cô gái đưa sáu tờ năm trăm, ông ta giắt vào thắt lưng: "Đối phó với bọn ấy kể cũng dễ nhỉ!"

Cô gái nói:

- Tiền anh ta lừa một người đàn bà đấy!

Ông béo bảo:

- Trên đời, xưa nay, vốn dĩ người này lừa người khác. Chỉ có điều, loại tiền này không phải kiếm từ tội ác thôi!

Lúc ấy, bỗng nhiên người đàn bà đứng tuổi cầm một túi nho từ cửa đi vào, xem ra có ý muốn tìm chàng trai, hình như có điều gì bà quên nói với anh ta. Nhưng chàng trai đi rồi, bà trông thấy ông béo, liền bước đến, tay chắp sau lưng, nghiêm mặt, hai mắt mở tròn xoe, không nói một lời.

Ông béo thấy bà thì lúng túng đứng dậy, dắt bà ra cửa. Tôi bay đến đậu trên vai ông, nghe hai người trò chuyện. Bà kia hỏi:

- Con đĩ ấy là ai thế?

Ông béo cười cười:

- Bà đừng có nóng nảy, nghe tôi nói đây. Cô ta là người quản lý cửa hàng Kiều Quang, tôi có chuyện mua bán nhờ giúp, phải đi cửa sau, bà hiểu không. Đây là ba nghìn, bà cầm lấy mua gì thì mua, tối về nhà tôi nói kỹ chuyện này cho bà nghe, bà vợ yêu quí của tôi ạ!

Bà ta cầm tiền, bỏ vào ví, vẻ mặt nghiêm trang:

- Nhớ về sớm đấy! Nhà vắng người. Tôi phải đến bà Tiêu chơi mạt chược, có thể về muộn!

Nói rồi, bà lững thững đi ra.

Tôi lập tức bay theo. Tôi cảm thấy ở cái chốn thiên đường này bề ngoài thì sạch bên trong lại bẩn hơn rác rưởi. Tôi thà sống tiếp những ngày địa ngục ở thùng rác còn hơn! Cái thiên đường này bẩn đến mức loài ruồi cũng không muốn lưu lại một giây một phút!

Lưu Dĩ Sướng


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Ở đất nước cứ 10 người lại có một nhà văn

Người dân Iceland (một quốc gia nhỏ ở Châu Âu) có sở thích đặc biệt đối với sách. Tại quốc đảo với hơn 300.000 dân này, cứ 10 người lại có một nhà văn. Một tiểu thuyết gia người Iceland có tên Kristin Eirikskdottir đã chia sẻ với phóng viên BBC rằng: “Trong gia đình, ngoài tôi ra còn có mẹ đẻ và chồng tôi cũng là những nhà văn chuyên nghiệp, nghĩa là họ dành trọn thời gian để viết văn và kiếm sống từ đó. Tuy vậy, chúng tôi có cơ chế điều phối xuất bản trong từng năm để các nhà văn không phải cạnh tranh với nhau quá khốc liệt”.

Người dân Iceland rất yêu sách và dân tộc này rất chăm đọc sách, vì vậy, nghề viết văn là một trong những nghề được kính trọng nhất ở đất nước này. Bà Agla Magnusdottir, Chủ tịch Trung tâm Văn học Iceland cho biết: “Các nhà vănIceland có cuộc sống rất ổn định. Những người viết tốt còn được trả lương cố định. Đặc biệt những nhà văn có số lượng sách bán chạy sẽ được đặt hàng tác phẩm với tiền bản quyền được trả giá cao”.

Rất nhiều người Iceland tặng quà cho nhau bằng những cuốn sách mới xuất bản. Sắp tới mùa Giáng sinh, ngành xuất bản Iceland sẽ tung ra một loạt sách mang chủ điểm tình yêu và gia đình dành cho người lớn, truyện cổ tích dành cho thiếu nhi. Đó những cuốn sách nhẹ nhàng và gợi lên những cảm xúc tốt đẹp trong mùa Giáng sinh.

Bắt đầu từ bây giờ, các nhà xuất bản đã tung ra thị trường hàng loạt sách Giáng sinh. Đây được coi là thời điểm tiêu thụ sách mạnh nhất trong năm của ngành xuất bản Iceland. Các gia đình trên khắp cả nước sẽ đi ra hiệu sách và lướt qua danh mục sách mới để chọn những đầu sách phù hợp nhất cho từng thành viên trong gia đình làm quà năm mới.

Tiểu thuyết gia Solvi Bjorn Siggurdsson tự hào nói rằng: “Chúng tôi là một dân tộc của những người kể truyện tài ba. Ở đất nước chúng tôi, một đất nước gần Bắc Cực, trời nhanh tối và thời tiết khá lạnh. Điều kiện tự nhiên như vậy khiến cha ông chúng tôi có sở thích ngồi bên lò sưởi kể chuyện. Dần dần, qua các thế hệ, sở thích đọc và sáng tác đã trở thành một nét tính cách đặc trưng của dân tộc”.
 

Theo BI/Dân trí

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Hai, 25 tháng 11, 2013

Quê Choa: Một bộ trưởng vẫn ở trên mây!

Quê Choa: Một bộ trưởng vẫn ở trên mây!: Bùi Văn Bồng Theo blog BVB   Ô. Nguyễn Thái Bình Khuôn mặt ngắn, trán thấp  với nếp chân tóc lệch thấp phải, hai bên thái dương tó... Phần nhận xét hiển thị trên trang

Đời còn dài gái còn nhiều, việc gì phải thế


Mới đây, hình ảnh một chàng trai quỳ gối trước phòng trọ, trước mặt là đóa hoa hồng khiến dân mạng xôn xao, nhiều người đoán rằng chàng thanh niên và người yêu đã có cuộc cãi vã, anh van xin người yêu ra mở cửa đồng thời cũng mong cô tha thứ bằng đóa hồng và hành động quỳ gối hối lỗi. Nhưng cũng có nhiều ý kiến cho rằng chàng trai tỏ tình không thành công nên đành dùng chiêu “đẹp trai không bằng chai mặt” quyết đợi đến lúc cô gái lộ diện mới chịu ra về.

Hình ảnh quỳ gối của chàng trai khiến dân mạng dậy sóng
“Đàn ông con trai việc gì phải quỳ như thế. Quỳ như thế khác nào đang van xin người khác bố thí tình cảm? Ở nhà ba mẹ nó bắt quỳ chắc quắc mắt lên nhìn. Ngoài ông bà, ba mẹ, thầy cô với lúc cầu hôn (nếu có) thì đừng hòng bắt mình quỳ dưới chân ai”, nickname T.Đ bức xúc nói.


“Nhục lắm ai ơi, nghèo đói xin người ta còn cho chứ cầu xin tình cảm của người khác như thế này thì nhục lắm!”,  hay có người còn mang cả vấn đề hình thức ra để bình phẩm: “Đi wave thì mới thế thôi! SH thì còn lâu nhé!”.

Có không ít người tỏ ra chua xót trước hành động cạn nghĩ của chàng trai: “Đầu gối thằng đàn ông nó quý lắm, để dành mà quỳ trước cha trước mẹ trước thầy. Chỉ vì một người con gái mà phải hạ nhục bản thân thế này sao?”.

Trong khi đó, vài người đồng cảm, ủng hộ với người trong cuộc – họ cho rằng khi yêu, chẳng ai còn đủ tỉnh táo để mà suy tính thiệt – hơn.

“Vì tình yêu họ dành cho nhau là thật lòng, khi bản thân có lỗi thì có thể làm tất cả để mà nhận lỗi!”, nickname Kedochanh an ủi. 

http://vietyo.com/forum/doi-con-dai-gai-con-nhieu-viec-gi-phai-the-thanh-nien/t479765/

Phần nhận xét hiển thị trên trang