Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Chủ Nhật, 24 tháng 11, 2013

Nhân viên kế toán của Mafia


Bố già đi cùng với một gã tay chân là kế toán trưởng của mình vào phòng để gặp viên kế toán đang bị kết tội phản bội.
Bố già hỏi viên kế toán: 
- Ba triệu đô mày biển thủ của tao giờ ở đâu? 
Viên kế toán không trả lời. Bố già hỏi lại lần nữa: 
- Ba triệu đô mày biển thủ của tao giờ ở đâu? 

Gã tay chân nói xen vào:

- Thưa ngài, thằng này vừa câm vừa điếc nên không thể hiểu ngài nói gì đâu, nhưng tôi có thể phiên dịch cho ngài.

Bố già hỏi:

- Ðược rồi, hỏi nó số tiền ở đâu?

Gã tay chân, dùng ngôn ngữ ký hiệu, hỏi viên kế toán nơi giấu ba triệu đô. Viên kế toán ra dấu đáp:

- Tôi không biết ông đang nói gì.

Gã tay chân dịch lại cho Bố già:

- Anh ta không hề biết ông đang nói gì.

Bố già liền rút ra một khẩu súng lục chĩa vào thái dương của tay kế toán, lên đạn và nói:

- Hỏi nó xem tiền ở đâu!

Gã tay chân ra dấu:

- Ông ta muốn biết nó ở đâu!

Viên kế toán sợ vãi linh hồn, ra dấu lại:

- Tiền được giấu ở trong một cái va li đằng sau kho ở sân nhà tôi!

Bố già nói:

- Nó nói gì thế?

Gã tay chân dịch lại cho bố già:

- Hắn nói rằng ông không đủ can đảm để bóp cò súng!

Mafia tất nhiên bao giờ cũng tuyển chọn được nhân viên có tinh thần... ma-phia.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nếu Kennedy còn sống, chiến tranh Việt Nam sẽ khác?

KHẮC GIANG

Nửa thế kỉ sau ngày vị tổng thống thứ 35 của Hoa Kỳ bị ám sát, nhiều giả thuyết cho rằng John F. Kennedy đã có ý định rút quân Mỹ ra khỏi Việt Nam.  
Ngày này 50 năm trước, một viên đạn ở Dallas đã cướp đi sinh mạng của John F. Kennedy (JFK), tổng thống trẻ tuổi của Hoa Kì, người đàn ông quyền lực nhất thế giới thời điểm đó. Cái chết của ông rơi đúng vào thời khắc quyết định đối với vận mệnh của miền Nam Việt Nam, khi cách đó ba tuần và gần 10 vạn dặm, vị độc tài của chế độ Sài Gòn Ngô Đình Diệm cũng bị ám sát trong một cuộc đảo chính đẫm máu.
Richard Nixon từng tuyên bố những điều ông ta làm ở Việt Nam thì đều đã được JFK thực hiện. Còn em trai JFK, Robert Kennedy, đồng thời là Bộ trưởng Tư pháp trong chính phủ Kennedy, trong một cuộc phỏng vấn năm 1964 cũng khẳng định anh trai ông chưa từng nghĩ tới việc rút quân khỏi Việt Nam.
Tuy nhiên, nhiều sử gia lại cho rằng nếu JFK còn sống sau sự kiện ở Dallas, thì cuộc chiến tranh ở Việt Nam đã có một kết cục bớt khốc liệt hơn cho cả hai phía.

{keywords}
Tổng thống JFK năm 1963
Vị tổng thống "thực quyền"
Mặc dù đứng ở trên đỉnh cao quyền lực, một điều trớ trêu là hầu hết các đời tổng thống Mỹ đều phải dựa vào đội ngũ cố vấn quân sự để đưa ra các quyết định chính sách hệ trọng. Hệ thống cố vấn này, được minh chứng qua các lần tham chiến của Mỹ trong thế kỉ 20 và 21, phần lớn thuộc phái diều hâu, cổ súy cho các biện pháp quân sự cứng rắn hơn là các giải pháp ngoại giao.
Dường như JFK khác biệt trên khía cạnh đó. Xuất thân từ quân ngũ, và bản thân cũng là một chuyên gia quân sự, JFK đặt niềm tin vào suy luận của mình nhiều hơn là những lời thúc giục chiến tranh bằng mọi giá của lực lượng này.
JFK vốn rất thận trọng với sự can dự của Mỹ ở miền Nam Việt Nam. Dù là người trực tiếp phê chuẩn việc tăng cường viện trợ quân sự và đội ngũ "cố vấn" cho chính quyền Sài Gòn, ông sau này đã nhận định cuộc chiến ở miền Nam là "không thể chiến thắng" với người Mỹ, và rằng nên để cho người Việt tự giải quyết việc nội bộ với nhau. "Nói cho cùng, đó là cuộc chiến của họ. Họ là những người phải thắng hoặc thua", Kennedy trả lời trong một buổi phỏng vấn với đài CBS.
Điều này được thể hiện rõ nhất vào mùa thu năm 1961, khi ông phủ quyết khuyến nghị điều động 8.000 quân Mỹ tới Việt Nam của tướng Taylor và Walt Rostow. John Newman, tác giả của cuốn JFK và Việt Nam [1], cho rằng đó chính là làn ranh giới mà ông cương quyết không vượt qua trong suốt nhiệm kì của mình. Theo Newman, JFK còn định rút hoàn toàn lực lượng cố vấn quân sự ra khỏi miền Nam vào cuối năm 1965, ý định mà sau này bị vị tổng thống kế nhiệm Johnson từ bỏ.
Sự "chần chừ" của JFK ở Việt Nam luôn vấp phải sự phản đối mạnh mẽ từ đội ngũ cố vấn nhà Trắng, trong đó đứng đầu có McGeorge Bundy, bộ trưởng quốc phòng Robert McNamara, và ngoại trưởng Dean Rusk. Những cuốn băng ghi âm các cuộc họp của nhà Trắng cho thấy JFK đã nhiều lần khiến cho bộ sậu này "phát điên" bởi sự cứng rắn trong quan điểm của mình.  Điều này đã khiến cho cuộc chiến ở miền Nam dưới thời tổng thống JFK được ghìm lại ở mức đối đầu tối thiểu nhất giữa các bên tham chiến.
Chính đội ngũ cố vấn trên sau này tiếp tục đưa ra khuyến nghị leo thang quân sự ở Việt Nam cho  tổng thống Lyndon Johnson. Họ cho rằng nước Mỹ cần phải cứu lấy người bạn Sài Gòn, dù cho chính quyền miền Nam ngày càng bị phản đối dữ dội bởi nạn tham nhũng, chế độ cai trị tàn bạo, và  năng lực yếu kém. Khác với JFK, Johnson tin tưởng hoàn toàn những lời khuyên đó, vô hình chung đã đưa nước Mỹ lún sâu vào một cuộc chiến không lối thoát.
Hoài nghi bạo lực
Trong một nghiên cứu đăng trên tạp chí Foreign Policy vào năm 2006, hai học giả tâm lý chính trị học nổi tiếng Daniel Kahneman và Jonathan Renshon cho rằng, trong hoàn cảnh nguy cấp, các chính trị gia thường chọn bạo lực hơn là đàm phán để giải quyết mâu thuẫn.
Nhưng JFK là trường hợp ngoại lệ. GS. James Blight của Đại học Brown, đánh giá với cái chết của JFK "Nước Mỹ và thế giới mất đi một nhà lãnh đạo mà ưu tiên số một luôn là giữ đất nước khỏi chiến tranh... Hơn nữa, ông đã chứng minh trong suốt 1.036 ngày tại vị rằng ông có sức mạnh để đương đầu với những cố vấn diều hâu vốn không dưới 6 lần khuyến nghị ông để nước Mỹ tham chiến".
Chịu nhiều sức ép chính trị về việc phải cho quân tham chiến vào miền Nam Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh tâm lý chống cộng đang lan rộng, JFK vẫn liên tục phản đối bất cứ đề xuất "diều hâu" nào từ ban cố vấn, phản bác lại những dự đoán giản đơn và đầy màu hồng về sự thành công của can thiệp quân sự.
Là một người từng chiến đấu và suýt hi sinh trong Chiến tranh Thế giới thứ hai, JFK không phải người sợ hãi các biện pháp bạo lực. Nhưng ông, với trí tuệ cũng như kinh nghiệm xương máu của mình, đã nhận ra rằng điều tất yếu của chiến tranh là loạn lạc, vô chính phủ, và sự mất kiểm soát về đại cục.
Và JFK cũng là người rất thực tế. Sau cuộc khủng hoảng Phật giáo năm 1963 khi chính quyền Ngô Đình Diệm đàn áp dã man người biểu tình, ông hiểu rằng người Mỹ không thể nào gắn bó với một chế độ như thế.
Sử gia Edward Miller, tác giả của cuốn Đồng Minh lạc lối: Ngô Đình Diệm, Hoa Kì, và định mệnh của miền Nam Việt Nam, [2] cho rằng đó là thời điểm Kennedy lựa chọn việc thay đổi chế độ ở miền Nam, để từ đó tìm kiếm các giải pháp ôn hòa hơn cho Việt Nam.
Một thế giới khác
Một nghiên cứu gần đây của James Blight và Janet M Lang, hai chuyên gia về chính sách ngoại giao của JFK, cho rằng thế giới sẽ trở nên hòa bình hơn rất nhiều, và chiến tranh Lạnh sẽ kết thúc vào năm 1969 (thay vì 20 năm sau) nếu như Kennedy không bị ám sát. Và cuộc chiến ở Việt Nam sẽ không để lại những hậu quả nặng nề đến vậy khi đến tận 1975 mới kết thúc.
Tất nhiên, lịch sử đã qua không có chỗ cho mệnh đề "nếu-như". Tuy vậy, đề ra những giả thuyết đúng đắn nhất cho chính sách của Kennedy sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn một giai đoạn đầy biến động của lịch sử thế giới. Và một phần nào đó, nó cũng là bài học lớn cho các chính trị gia sau này.
Nếu JFK đã thành công trong việc xử lý cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba (1962), khủng hoảng Bức tưởng Berlin (1961), và sự kiện vịnh Con Lợn (1961), qua đó ngăn chặn một thảm họa chiến tranh hạt nhân giữa hai siêu cường, thì không có lý do gì để nghi ngờ việc ông có thể sẽ chấm dứt sớm hơn cuộc chiến ở Việt Nam. Tiếc rằng, viên đạn vào ngày 22/11/1963 lấy đi sinh mạng của ông, và cả hi vọng cho một nền hòa bình ít đổ máu hơn ở Đông Dương.
-----
[1]: JFK and Vietnam
[2]: Misalliance: Ngo Dinh Diem, the United States, and the Fate of South Vietnam.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Người đói hay nói chuyện Ăn:

Chả của bà, nem của ông...


Thịt bằm có lịch sử cách đây 4.000 - 5.000 năm. Và giờ đây hầu như nước nào cũng có món này. Chớ chẳng phải như một số nhà ẩm thực chém gió rằng chả là món ăn đậm chất dân tộc do cha ông ta tạo ra, món ăn độc nhất vô nhị không nơi đâu có.
Gần Tết, nhớ chả và nem. Hai thứ này là những loại thịt bằm nhuyễn bà con với nhau như âm với dương. Một thứ chín qua nấu, một thứ chín qua lên men.
Chả/xúc xích, sản phẩm lâu đời của nhân loại
Món thịt bằm đã từng đi vào sử thi Odysseé [1] của Homère và một số câu chuyện của Cicéron [2]. Món này chắc chắn được sáng chế từ nhu cầu bảo quân lâu và dễ dàng vận chuyển.
Một số đạo quân (légion) La Mã đã dùng nguyên tắc thịt băm gói thành cái mà tây gọi là xúc xích, còn ta gọi là chả để chuyển thịt được chia thành suất ăn từ thời xa xưa. Thường thì bao bì gói thịt bị vất đi và "ruột" được dọn thành những suất ăn cho binh sĩ nổi tiếng một thời, gọi là "suất ăn xúc xích".
Xúc xích - món "thịt bằm" quen thuộc, lâu đời của phương Tây
Theo nhiều nguồn nhận định, xúc xích/chả ở Rome được cung cấp bởi thành phố cổ đại Lucanica. Ở đây cũng là nơi xuất khẩu xúc xích/chả cho một số địa phương như Bắc Phi hoặc xứ Gaule. Ngày xưa đã từng có lễ hội xúc xích/chả của người La Mã; các lễ hội này do người dân Luperque cổ đại - sống gần hang Lupercal ở chân núi Palatin được phát hiện năm 2007 - tổ chức hằng năm.
Các nguồn sử cho rằng vào thời kỳ bên tây sáng chế ra xúc xích thì bên tàu cũng ứng dụng nguyên tắc tương tự với thịt dê và cừu.
Thời Trung Cổ, tây chế biến xúc xích có cho các loại gia vị và hương liệu mà họ nhập từ phương Đông qua con đường tơ lụa.
Lại có nguồn sử nói ở đế quốc Byzance, trong một thời gian dài, món dồi (xúc xích làm bằng huyết) bị cấm, vì gây ngộ độc.
Một truyền thống Anglo-Saxon có lịch sử từ thời Thế chiến II là đưa một tỷ lệ bột khá cao - đến 25% - vào xúc xích vì lý do thiếu thịt.
Nem Ninh Hoà nổi tiếng từ bao đời nay. Nhưng phải chọn ăn ngay tại cái nôi sinh ra nó. Nem Ninh Hoà mà nhà tour dẫn đến ăn là nem dở nhất. Ảnh:Ngữ Yên
Vụ này thì dân Sài Gòn rành sáu câu [3] khi vào những "hắc" quán, kêu món chả cá thát lát, ăn toàn thấy trộn bột. Thứ chả này thì nên quăng đi còn sướng hơn ăn. Dân Sài Gòn có kinh nghiệm, vào quán lạ, họ giao kèo trước khi gọi món chả cá thát lát: trộn bột là trả lại, không tính tiền. Có nơi quen gọi là "bao ăn".
Chả lụa hạng bét cũng bắt chước(?) truyền thống Anglo-Saxon, cho bột vào với thịt để hạ giá thành, kiếm lời nhiều. Chả lụa mà trộn bột thì khó có gì làm cho dai ngoài chất cấm hàn the. Có lẽ cũng nên gọi tên nó là chả lụa Anglo-Saxon, để phân biệt với chả lụa hạng nhất ở Gò Vấp, nơi có nhiều lò heo [4].
Như vậy chả và nem Việt Nam ra đời có lẽ (nói có lẽ, vì chưa thấy chuyên gia nào đọc thấy món chả/nem trên trống đồng, như nhiều chuyên gia đọc thấy kinh Dịch trên ấy và phán kinh Dịch nguồn gốc từ ở ta) cũng từ nhu cầu cần để dành ăn dần, nhất là trong chiến tranh, và vận chuyển vào những thời kỳ tương đương chăng?
Bánh cuốn phải "cặp đôi" với chả quế
Chả/nem được băm nhuyễn thời ấy chắc chắn bằng cối với chày. Có phải vì thế mà nó gắn với yếu tố phồn thực qua hình ảnh yoni - lingua, và là nguồn gốc của thành ngữ mà nhiều người giải thích là mang tính đấu tranh bình đẳng giới: ông ăn chả bà ăn nem.
Thành ra, một số người nữ rất thù với chả, một số người nữ không thích nem và cũng có một số người nữ thích nem.
Ngược lại, một số người nam rất thù với nem, một số người nam không thích chả và nhiều người nam thích chả muốn chết. Hai phát ngôn khẳng định vừa nêu chỉ đúng trong ngữ cảnh "ông ăn chả bà ăn nem."
Nhưng đảo các vị ngữ với nhau: "ông ăn nem bà ăn chả chẳng biết có được phép chăng?" Chắc là chẳng.
Chả giò Việt kiều
Đưa được chả đi ngang cả một Thái Bình Dương và một Đại Tây Dương thì phải nói là công của dân Sài Gòn. Chả giò trong Nam nhỏ khổ hơn nem rán ngoài Bắc. Món này đã nhanh chóng được cái lưỡi của dân Hợp Chủng Quốc welcome kể từ khi nó theo chân người Việt di cư sang đấy. Và nhanh chóng đi vào các sách ẩm thực phương Tây.
Loại chả giò công nghiệp này chỉ nên coi là chả giò giả, vì nó làm hỏng hương vị chả giò nức tiếng của Việt Nam. Ảnh: Trần Việt Đức
Ngày xưa, nhớ mỗi lần má tôi làm chả giò là phải vào một dịp lễ nào đó. Hoặc là đầu tháng, ba tôi vừa lãnh lương và khi đưa tiền cho má có kèm theo câu "thèm chả giò quá", là bọn nhỏ tụi tôi sướng rơn.
Thế là hôm đó má bắt đầu đi chợ, mua nguyên liệu về làm cho cả nhà bữa chả giò ăn đến phát ngán mới thôi. Trong cái ruột cuốn chả ngày cũ có sắn xắt nhuyễn, thịt nạc heo bằm chung với nấm mèo.
Không gì đã bằng lúc nghe tiếng bằm thịt, rồi tiếng mỡ réo lên khi má bỏ các cuốn chả vào. Tiếp đó là mùi hương. Cơn thèm kéo cả bọn nhỏ vào bếp, ngồi chực.
Lúc đó má hay mắng "chưa xong mà tụi bây ngồi chực như chó... vậy hả?" Đó cũng là tín hiệu cho biết bà lấy một cuốn chả đã chiên xong cắt làm ba cho mỗi đứa một miếng. Thế là cả bọn chạy ù lên nhà trên, với phần chả còn nóng hôi hổi trong lòng bàn tay. Chưa vội ăn, mà vừa thổi, vừa hít, để nghe cái rạo rực thống khoái của sự "ăn vụng chính thức".
Ngành công nghiệp đã khai sinh ra chả giò ăn nhanh và giết chết món chả giò của má ngày cũ. Món chả giò được chế biến trong một không gian không chỉ có ăn mà còn có nghe và hít, còn có chực như chó... Chả giò công nghiệp đầu tiên ở Sài Gòn mang nhãn hàng Cầu Tre, ra đời từ những năm 1980.
Ẩm thực Việt cực kỳ phong phú với chả. Cái gì cũng có thể làm chả. Từ cái sườn chó cho đến con cá thịt dở nhất trong thiên hạ - cá mối, hoặc con cá nhiều xương nhất trần ai - cá rựa, con cá nhỏ xí chỉ dành cho hầm cháo heo - cá liệt nhớt.
Chả rắn hổ hành, món ăn độc đáo nhất của đầu bếp Sanh rắn ở gần chợ Võ Thành Trang, Q. Tân Bình, TP.HCM. Ảnh: Ngữ Yên
Chả cá ngon nhất có lẽ là chả cá Vạn Giã, Khánh Hoà, nơi có làng nghề cá lâu năm ở xã Vạn Thắng, huyện Vạn Ninh. Con cá mối tươi nguyên, được cắt phi lê, đem quết chả cho đến khi dai rút chày không lên nữa là đạt. Miếng chả cá tươi trộn tiêu, hấp trứng, bao giờ cũng có một mùi hương khó tả.
Ăn miếng chả cá ở đấy xong, ăn miếng chả cá Sài Gòn - một thứ chả vừa bở, vừa Anglo-Saxon, vừa quá nhiều dầu mỡ, càng thấy cái ngon của chả cá Vạn Giả tăng lên nhiều lần.
Nem nổi tiếng bao đời nay lại cũng là sản vật của Khánh Hoà - nem Ninh Hoà. Phải ăn đúng loại nem ngay tại huyện này mới chánh hiệu "đại vị". Nem Ninh Hoà mà những nhà tour (tìm mọi cách hạ giá thành để lãi cao) đưa khách đến ăn ở Nha Trang thường là nem hạng bét giá thấp, mà quán còn cho nhà tour nhiều huê hồng, đủ biết nó dở đến mức nào.
----------
Chú thích
1. Sử thi Hy Lạp cổ đại gán cho tác giả Homère, sáng tác vào thế kỷ VIII trCN. Sử thi này kể chuyện ngày trở về của Ulysse, sau chiến tranh thành Troie.
2. Cicéron (106 trCN - 43 trCN): một triết gia, chính trị gia, luật sư, diễn giả, lý thuyết gia chính trị, nghị sĩ, nhà soạn thảo hiến pháp của La Mã.
3. Cách nói ở miền Nam, là rất rành rẽ, xuất phát từ tích ở đây phần đông đều rành sáu câu vọng cổ, và thành ngữ sau này được rút ngắn lại là rành sáu câu.
4. Cách gọi lò mổ lợn trong tiếng miền Nam.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Không ai muốn nhận mình là thằng ngu cả!

HIỆU MINH

Bất kỳ một dân tộc nào khi được hỏi là họ có thông minh thì câu trả lời luôn là "có", chẳng có ai thừa nhận mình dốt. Nhưng tại sao có quốc gia này lại hơn quốc gia kia? Có người thông minh làm nên nghiệp lớn, có kẻ chữ nghĩa đầy người nhưng suốt đời lận đận.
Nếu thông minh, tại sao, tại sao và tại sao...?
Viết bài này, tôi nhớ một bạn nước ngoài khi qua đường ở Hà Nội. Thấy dân ta chen lấn xô đẩy, xe máy mạnh ai nấy đi, chẳng có thứ tự, anh ta thốt lên: "Đây không phải là đất nước thông minh như tôi đã từng biết như thời chiến tranh". Nghe mà nhói lòng.
Thời tôi là sinh viên lười học nhưng thường mong ước, giá được như người Do Thái vì họ thông minh nhất thế giới. Rồi chúng tôi xếp hạng người Đức vừa thông minh vừa có kỷ luật.
Người Mỹ không thông minh nhưng khi một nhóm ngồi lại với nhau thì độ thông minh tăng lên gấp bội.
Việt Nam ta cũng giỏi giang, nhưng cứ hai người trở lên là thì tiềm năng trí tuệ giảm đi một nửa. Chả hiểu có đúng không?
Muốn nói gì thì nói, thực tế cho thấy, dân tộc Việt Nam không được như chúng ta thường tự nhận: "Thông minh, cần cù, chịu khó, có truyền thống hiếu học...", theo kiểu chúng ta không dốt nhưng cũng chẳng thông minh.
Nếu thông minh thì tại sao GDP bình quân mới đạt 1000$/người sau 35 năm hòa bình? Thử hỏi các quốc gia như Đức, Nhật, Ba Lan, Tiệp Khắc bị tàn phá thảm hại sau chiến tranh thế giới thứ 2 nhưng sau 35 năm họ đã thành cường quốc kinh tế, thu nhập bình quân đạt trên 10.000$/người/năm.
Người thông minh phải biết tìm ra con đường phát triển ngắn nhất và tối ưu nhất cho dân tộc mình, quê hương mình và gia đình mình. Người thông minh không nên chờ đợi một lý tưởng từ trên trời rơi xuống.
Nếu dân tộc Việt thông minh thì tại sao sau 35 năm vẫn còn đâu đó những chia rẽ vì cuộc chiến, vết thương vẫn chưa lành hẳn, cho dù vài thế hệ đã được sinh ra và lớn lên.
Người Mỹ và người Nhật với chiến tranh đẫm máu, nhưng ngay sau chiến tranh đã biết bỏ qua quá khứ đau thương, biến kẻ thù thành đồng minh, hợp tác cùng phát triển. Người Đức và châu Âu cũng thế. Xóa bỏ hận thù để hướng tới tương lai là cách nghĩ của những người giầu trí tuệ.
Quốc gia thông minh đương nhiên lãnh đạo không thể kém. Nếu cách lựa chọn lãnh đạo được làm một cách thông minh thì sẽ tìm ra người thông minh biết dẫn dắt quốc gia.
Trong chuyến về quê mùa hè (7-2010), tôi có dịp đi một số miền đất quanh Hà Nội, nơi xa nhất cách thủ đô 160km. Đập vào mắt là đâu đâu cũng là nhà xây cao, trên có chóp, motive giống nhau đến kỳ lạ, dù miếng đất to hay nhỏ, dài hay ngắn, nhưng nhà xây trên miếng đất đó nhất thiết phải hình ống.
Người thông minh không thể bắt chước nhau một cách đơn điệu và cũng không thể lười suy nghĩ đến thế.
Người bạn bảo tôi, đó là tầm nhìn của người Việt, không có khả năng khai phá những miền đất lạ. Họ rất sợ đi xa, tìm nơi lạ như dân châu Âu. Dân ta tìm được miếng đất cắm dùi, xây được cái nhà yên ổn, dù hình ống, mặt tiền 3 mét, chiều sâu 10m, là quá lý tưởng cho một tổ ấm của 4-5 con người sống trong đó.
Những ngôi nhà ông na ná nhau mọc lên khắp nơi
Kiến trúc đã thế thì giao thông cũng chả hơn gì. Dân tộc thông minh không thể là một dân tộc mà mạnh ai nấy chạy trên đường, vô kỷ luật, thấy đèn đỏ vẫn vượt, bóp còi vô tội vạ. Tắc đường lập tức leo lên vỉa hè, lấn cả sang làn trái, đi ngược chiều.
Dân tộc đầy trí tuệ không tràn lan cảnh xả rác ra đường, nhổ bậy, đái bậy, chửi thề, nói tục. Đến lễ hội không bẻ hoa, chà đạp lên cái đẹp. Họ phải là quốc gia giầu truyền thống văn hóa, biết tôn trọng những giá trị văn hóa, tinh thần đến mức như tín ngưỡng.
Nếu dân tộc Việt thông minh thì tại sao sau 35 năm vẫn còn đâu đó những chia rẽ vì cuộc chiến tranh, vết thương vẫn chưa lành hẳn, cho dù vài thế hệ đã được sinh ra và lớn lên.
Người Mỹ và người Nhật với chiến tranh đẫm máu, nhưng ngay sau chiến tranh đã biết bỏ qua quá khứ đau thương, biến kẻ thù thành đồng minh, hợp tác cùng phát triển. Người Đức và châu Âu cũng thế. Xóa bỏ hận thù để hướng tới tương lai là cách nghĩ của những người giầu trí tuệ.
Quốc gia thông minh đương nhiên lãnh đạo không thể kém. Nếu cách lựa chọn lãnh đạo được làm một cách thông minh thì sẽ tìm ra người thông minh biết dẫn dắt quốc gia.
Xây nhà nhỏ hình ống, chen chúc nhau vì người Việt không thích đi xa, ít mở mang với thế giới bên ngoài. Nếu đi xa cũng chỉ "vừa phải" trong khu vực, ít có tầm chiến lược và tầm nhìn xa.
Trong lịch sử Việt Nam, có ông Nguyễn Hoàng vì sợ anh rể Trịnh Kiểm giết, được Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm khuyên "Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân"; nghĩa là "Dải Hoành Sơn có thể dung thân lâu dài". Nguyễn Hoàng nghe theo và lập được nghiệp lớn, truyền cho con cháu từ đất Thuận Hoá, bắt đầu miền Nam của nước ta từ đó. Bản thân Nguyễn Hoàng không nghĩ ra chuyện khai phá.
Đường tơ lụa mở mang ra thế giới bên ngoài đã giúp cho Trung Hoa có nền văn minh rực rỡ. Những cuộc thập tự chinh của La Mã, Ai Cập, Ba Tư đã làm nên những nền văn minh vì họ biết vượt ra khỏi lũy tre làng.
Cách đây 500-600 năm, người Hà Lan, người Tây Ban Nha hay Bồ Đào Nha đã giương buồm đi khắp thế giới để thám hiểm những miền đất lạ, không sợ hiểm nguy. Mới hiểu tại sao lại có những đảo xa tít tắp ở giữa Thái Bình Dương lại thuộc một quốc gia ở châu Âu. Và tại sao người Âu lại đi trước người Á như hiện nay.
Dân tộc ta có trở thành thông minh?
Câu trả lời là có vì từng có nhiều nhân tài xuất hiện. GS Ngô Bảo Châu vừa nhận giải Fields là một ví dụ rất sống động.
Trong lịch sử Việt Nam, Trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm là một trong những người thông minh nhất. Ông có khả năng tiên đoán được biến cố xảy ra 500 năm sau, được người Trung Hoa tặng "An Nam lý số hữu Trình Tuyền" và là "nhà tiên tri" số một của Việt Nam.
Ông đã cho ra đời hàng loạt những lời tiên tri cho hậu thế mà người đời gọi là "Sấm Trạng Trình". Tương truyền, ông là người đã đưa ra lời khuyên giúp các nhà Nguyễn, Mạc, Trịnh, Lê tồn tại vài thế kỷ.
Ngoài chuyện khuyên Nguyễn Hoàng như đã nói ở trên, nhà Mạc sắp mất cũng sai người đến hỏi ông, ông khuyên vua tôi nhà Mạc "Cao Bằng tuy thiển, khả diên số thể" (tức Cao Bằng tuy nhỏ, nhưng có thể giữ được). Nhà Mạc theo lời ông và giữ được đất Cao Bằng gần 80 năm nữa.
Họ Trịnh mượn tiếng thờ nhà Lê nhưng nắm thực quyền điều hành chính sự, còn nhà Lê nhờ họ Trịnh lo đỡ cho mọi chuyện chính sự, hai bên nương tựa lẫn nhau tồn tại tới hơn 200 năm. Vì Trạng Trình đã nói : "Lê tồn Trịnh tại".
Đó là sự tiên tri vượt qua không gian và thời gian mấy trăm năm.
Kể ra danh sách rất dài, nhưng đất nước ta vẫn...nghèo. Thông minh mà để nghèo thì chưa phải thông minh.
Người ta cho rằng, người miền Bắc (Việt Nam) uyên thâm, giỏi sách vở nhưng không thích thử thách. "Anh Bắc Kỳ" đủ tiền mua 3 tivi. Trước khi mua hỏi bạn bè chán chê, xem giá cả, soi catalog, mới quyết mua một chiếc. Sự uyên thâm rất cần cho hàng ngũ nghiên cứu, giảng dạy và lãnh đạo. Nhưng cẩn thận quá mức cần thiết đôi khi trở thành bất cập.
Người miền Trung chịu thương chịu khó vì miền đất khô cằn. Các cuộc cách mạng thường nổ ra ở đây vì ý chí vươn lên, muốn thay đổi số phận. Nhưng nghèo quá, chí không thể vượt đi xa. Đưa con thuyền ra biển lớn cần có cả tri thức, mạo hiểm. Duy ý chí thường làm hỏng mọi chuyện.
Dân tộc thông minh không thể là một dân tộc mà mạnh ai nấy chạy trên đường, vô kỷ luật.
Người miền Nam sống trong thiên nhiên ưu đãi, thích mạo hiểm, ưa gì là làm luôn. Ra cửa hàng thấy có tivi đời mới, nếu thích, bê luôn một chiếc, dù trong nhà đã có tới 3 cái. Người mạo hiểm rất cần cho phát triển kinh tế, nhưng mạo hiểm và ăn chơi như công tử Bạc Liêu cũng đáng sợ. Và hệ lụy là cũng khó phát triển, khó mà giầu một cách "bền vững".
Một người Việt khó mà có tất cả những tố chất trên: Uyên thâm, cần cù, có ý chí vươn lên, ưa mạo hiểm. Ba "Nam" của ba miền ngồi lại với nhau đã làm cho độ thông minh của quốc gia này giảm đi...rất nhiều (?)
Không phải bỗng nhiên người xưa đã đúc kết "tam nam bất đồng hành" rồi "tam nam bất phú".
Theo bạn, chúng ta làm thế nào để Việt Nam "sánh vai với các cường quốc năm châu"?

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Lí do để sống

1

Giữa đám đông đang nở ra ngàn ngạt người, gã đứng im lặng, vừa như dửng dưng vừa bối rối vì thấy mình thừa thãi.
Đôi chân trên mặt đất như hai cái cây gầy khẳng, không gió và khắc khổ.
Trong đám tang, gã lạc ra như đứa trẻ không thuộc một nhóm chơi nào, không cười không nói, không biết lộ vẻ buồn đau. Cả trong nỗi buồn đi đưa tiễn một người, người ta cũng cần có nhóm. Không dễ gì sống và biểu lộ cảm xúc của mình thuần giản như một niềm yêu mến.
Gió thổi qua tai nhẹ như một nụ cười, một hơi sương, một tiếng nói vừa vỡ ra. Những tiếng nói ly biệt chỉ là một đảo ngược, một cái bóng của niềm vui gặp gỡ.
Gã thấy phơ phất cái miệng cười của Thần Chết, với chính gã. Tay Thần Chết này chuyên đến các đám tang để đi săn những người mơ, nên chỉ những người mơ mới nghe được tiếng nói của hắn.
Thần Chết nói, chỉ có giấc mơ là đáng kể.
Vậy là gã không còn Người Bảo Trợ. Nhà thơ ra đi bất ngờ khi chưa kịp viết lời giới thiệu cho tập thơ đầu tay trong tương lai của gã. Mà nếu không có lời giới thiệu ấy, gã cảm thấy tập thơ trở nên xoàng xĩnh, vô vị, nhất là dễ dàng chìm lỉm trong hàng vạn tập thơ khác.
Cái đầu gã bay bay.
2
Nụ cười của tử thần
bằng miệng
bằng mắt
nếu quay nghiêng trong ánh sáng
một loang loáng nắng hoen
Cái chết nào có đáng gì, Thần Chết nói, nhà thơ là ai? Đó là kẻ rộn ràng trong đám đông, ríu rít như con chim chích chòe chỉ để tự vệ. Đó là kẻ sợ đám đông như sợ một cơn lũ cuốn. Đó là kẻ ngồi rũ mỏi, một mình, mắt vô hồn. Đó là kẻ xa lạ hoàn toàn với tất cả cái đời sống thường nhật đang bày ra kia. Đó là kẻ nhận lấy sự bất động trong cỗ áo quan không một hối tiếc vì số phận. Đó là kẻ chỉ tìm cuộc sống thực sự của mình dưới những trang giấy. Cậu phải vật lộn với đời sống để giữ được giấc mơ, vậy thì tại sao không chết đi? Đó là lí do duy nhất để ta săn cậu lúc này.
Sao ông không đợi đến khi tôi thành danh?
Nhạt hoét. Như với nhà thơ mà cậu yêu mến này, khi ông ta đã nổi tiếng, đã là nhà thơ lớn, các giấc mơ cũng không còn đáng kể lắm đâu. Ta để ông ấy chết, là vì chính ta cũng vì yêu mến quá mà muốn giấc mơ thi sĩ của ông ta thành sự thực. Nhưng khi thành rồi, thì đâu còn là giấc mơ nữa?
3
Những ngón tay di qua di lại trên tấm kính của bàn café. Có bóng con chim lộn nhào vào đám lá rụng theo gió. Giấc mơ nào buồn nhất trong đời? Rồi người ta cũng phải quên các giấc mơ đi?
Trên tấm cửa kính của quán café, thấy mờ mờ hình ảnh gã vò chiếc đầu như vò một búi cỏ. Trên búi cỏ đó, cái miệng của Thần Chết mỉm cười.
4
Những giấc mơ bị quên nhưng người trong giấc mơ vẫn loanh quanh đâu đó.
Gã khiêm nhường cúi chào nhà thơ mà gã yêu mến. Ông cười ha hả.
Gã nhìn bâng quơ để giấu sự bối rối.
Con nhện non buông tơ xanh lủng lẳng đu mình. Đó là tín hiệu của may mắn, Thần Chết nói.
Một con chó đi tơ để rong máu trên nền gạch vỉa hè bên ngoài. Những vệt máu sẫm màu lại thật nhanh. Đó lại là điềm báo, Thần Chết nói.
Nhà thơ cười ha hả và đi ra.
Tiếng nói của nhà thơ vọng lại: Tôi chết rồi, ai người ta còn cần coi trọng lời một người đã chết? Tôi không thể là Người Bảo Trợ cho cậu nữa, hiểu không? Chỉ có một cách: cậu đi cùng tôi, ngay bây giờ, thì người ta sẽ còn nhắc nhỏm đến cậu.
Thần Chết nói, tin ta đi, chỉ có giấc mơ là đáng kể. Hãy giữ gìn nó. Nếu cậu sống mà chẳng giữ được giấc mơ, thì đó chính là lí do để đi theo ta.
5
Gã thấy mình cố sức leo lên một cái cột nhà, bám vào trần như một con nhện hay con chuột bị truy đuổi run rẩy cố bám móng chân của mình vào và treo ngược mình trên đó. Lập tức, lũ thạch sùng cất tiếng cười nhạo báng vì cái vẻ cố sức tội nghiệp của gã, một cố sức để không chết.
Thần Chết đang ném ánh mắt tinh nghịch về phía gã.
Cơn sốt lên hầm hập. Gã sợ sệt. Gã muốn nổ tung. Muốn chối bỏ. Không, gã thề với Thần Chết, tôi chẳng có giấc mơ nào, chẳng có tham vọng nào.
Những vệt mần đỏ đang nổi mỗi lúc một dày đặc trên cơ thể gã. Thần Chết nói, những giấc mơ đang phát sốt.
Không, gã thét lên, ông là kẻ giả dối lừa bịp, ông đi săn người mơ, và ông đẩy tôi vào tình thế của giấc mơ bất lực. Ông tưởng tôi yếu đuối.
Không, Thần Chết nói, sống làm gì trên mặt đất, chỉ có giấc mơ là đáng kể, hãy tin ta.
Gã nghe tiếng nói của nhà thơ – Người Bảo Trợ phản trắc vì cái chết: Đúng thế đó, chỉ có giấc mơ là đáng kể. Cả đời ta chẳng còn gì. Cái tưởng là còn lại, là ngôn từ, cũng chẳng còn. Thực tế, chỉ còn lại một giấc mơ dài về ngôn từ mà thôi.
Không, gã nói, tôi còn muốn sống. Tôi còn muốn đi tìm cuộc sống.
6
Những cái chết đều vô lí, mọi cái chết đều vô lí theo một cách nào đó dù nó là không thể khác.
Từ quán café, gã đứng lên, trúng gió rồi chết, khi chưa kịp để lại một tác phẩm để đời nào. Sau này, tất cả gia tài thơ ca của gã người ta tìm được chỉ là những bản nháp, những bản nháp mụ mị và bốc mùi phân chuột, phân gián, những bản nháp của một giấc mơ bị bỏ quên.
7
Đêm hư không và mênh mông. Lang thang cùng Thần Chết, kẻ săn người mơ, lần đầu tiên, gã cảm thấy ý nghĩa của việc ngắm nhìn người sống sau khi chết. Gã đã thành người bạn đồng hành của Thần Chết.
Cậu thấy chưa, Thần Chết nói, đôi khi người ta vẫn nhắc về cậu như một thiên tài không may ra đi quá sớm, khi muốn điểm lại lịch sử văn học. Người ta đã gom những bản thảo nhàu nát của cậu để in một tập thơ trang trọng và tiếc nuối. Có những người đang nghiên cứu về cậu. Đó, cái còn lại của cậu, chính là một giấc mơ chưa thành. Đó cũng là điều ý nghĩa nhất cậu làm được trong đời sống.
Giả sử không chết vì trúng gió, có lẽ một đêm nào đó, gã cũng bật dậy, lao đi tìm một gương mặt trong mơ đi theo một câu chuyện trong mơ một tiếng gọi một chỉ dẫn của một cái gì vô hình.
Cái chết nào có đáng gì.
Thần Chết nói, tiếc rằng đã quá lâu rồi chúng ta chẳng săn được giấc mơ nào đáng kể cả.
12.06.07 – 26.05.2010

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Trường ca cho quê hương của một ngàn năm trước

Lê Vĩnh Tài Trường ca cho quê hương của một ngàn năm trước
Lê Vĩnh Tài
Lê Vĩnh Tài
“... Thơ, theo tôi nghĩ, nên bí ẩn chứ không nên bày tỏ, nên lỏng lẻo chứ không bắt buộc Thời sự của nhà thơ là thời sự không còn khái niệm thời gian, không đơn thuần là những ứng tác mà là thông điệp được sắp xếp dưới một thứ tự ngặt nghèo của câu chữ, đọc lên hoang mang nước mắt... ”
(Lê Vĩnh Tài trả lời phỏng vấn của Nguyễn Đức Tùng)



Lê Vĩnh TàiTrường ca cho quê hương của một ngàn năm trướcquê hương ôi Người vỡ ra mưa ấm ta cùng Người đến bên bờ sông đầy cỏ lấy vạt áo ta lau gượng nhẹ cho Người ta lặng ngắm Người hạnh phúc bài trường ca dâng lên Người sau sương mù sau ngây thơ sau tủi nhục sau nhói đau của mối tình đầu… phố núi phố núi thành phố buồn muôn thuở bạn đi ngang con chim Nhông đang học nói tiếng người tượng nhà mồ lấy ra từ mắt gỗ mưa ngỡ ngàng đôi vú màu đen phố núi phố núi đêm mưa mùi cỏ bạn hãy thật căng ẩm ướt tự do này nụ hôn đàn bà mùi táo bạn ngang trời buồng phổi đám mây 
nước và mắt bạn long lanh như mẹ
ôi tiếng cồng cầu nguyện dấu vân tay

ngày mầm sống lăn ngón tay số phận
trong buổi tối mẹ hoài thai tượng gỗ
đêm nay xâu chuỗi nước mắt
đeo vào da thịt
đêm nay hơi thở dối gian
thổi vào đau đớn
thôi miên linh hồn
bớt ẩn dụ màu đen ám ảnh
lễ thổi tai nức nở làm người

rồi mùa mưa mùa khô
rồi sẽ lớn như rừng như cổ thụ
tôi là ai? tôi về đâu?
bóng mình in trên mộng
chân trần trên cát bỏng…

hôm qua tiếng khóc hoang từng mảnh
hôm nay trôi đã mặn trên môi
những ngón tay đing năm ống nứa
bấu âm thanh cười lên trong cổ
linh hồn bắt đầu hơi thở
thể xác bắt đầu đóng khố
điệu múa như mưa trên sàn gỗ
thổi vào tai gió mưa đêm vỡ
xuyên qua đêm qua thầm thì qua điệu múa
qua vỡ tan qua vòng xoáy
luân hồi
thôi,
thơ không làm được điều dâu bể
số phận bay nghẽn đặc
ơ người...


1.

hãy cùng nhau một bước
đừng làm đau
đừng nhận chìm xuống nước những ý nghĩ trong đầu
một lời nói giúp tóc đen
mắt đen
da đen
và những gì còn đen hơn thế

không phải giả vờ lời tượng nhà mồ hay bài ca đuổi chim trường thiên ảo mộng
đôi chân gầy của cha xác nhận từng hạt lúa
đôi vai trần của mẹ xác nhận những cặp xương sườn
cong cong như con đường trở lại núi ơ
hát bài ca nhàu nhĩ u mê
bài ca con cá dưới nước đang nhìn ta bơi xa lạ 
bài ca con khướu trong rừng đang nhìn ta như một kẻ lẻo mép
không biết rằng ta đang tự vệ
ta không hiểu vì sao cứ phải bỏ trốn hoài
nấp sau tiếng cồng chiêng lâu lâu mong âm vang một chút

“nhưng đừng bỏ trốn…” có lần mẹ nhắc
mẹ không biết sức mạnh của beo và sói
những loài thú sách đỏ của rừng xanh

có nhiều khi ta làm như xa lạ
về nhà ngồi bên cầu thang với vô hạn những chuyện trò
mẹ phải ngốn ngấu rất nhiều thứ vô nghĩa
mẹ già rồi chống chọi làm sao…

chẳng phải lẻo mép rồi sẽ bay như khướu
chẳng phải bơi rồi lặn sâu thành cá
khi ta đã thành xa lạ
leo lẻo nói và nói
nói và nói
càng ngày nói càng hay hơn
đến khi nào ta khép mỏ lại
& bay


2.

bay
mẹ cứ nhắc ta canh chừng những cái bẫy
có thể treo, rút hay trùm lên bằng lưới
không phải cứ bay là tiếc những chân trời
chân trời cũng nhiều khi đột ngột
không bay

nhưng cũng đừng bay cao, mẹ nhắc: vì sẽ không nhìn thấy
những con sói lửa đã nhồi bông nhưng vẫn ngoặm đủ 12 cặp xương sườn
nó có thể nhầm lẫn
chỉ còn cách kéo dài câu chuyện như con đường vào rừng
làm nó mệt mỏi bỏ đi
sau khi bị tẩu hoả nhập ma tự mắc vào chiếc bẫy
hai tay cầm ống nứa, cười vang


3.

thôi chân trời cứ bay theo bài khan cổ tích
con sói hay nhe răng những chuyện đâu đâu
còn con người hay bàn những chuyện không đâu
mẹ vẫn nhắc một chân trời
ngày xưa mẹ hát:
qua ô cửa nhà dài phủ những đôi mắt sau khung gỗ mục nát vì mưa...

bài hát về cái chết
bỏ mả cùng cỏ cây
rơi hay là nước mắt
ngang tàng như gió mây

và khi bay bổng nhẹ tênh
qua vách nứa mẹ chỉ còn nhìn thấy
những con ngươi lấp lánh
khóc vì không còn cái tên chứ mong gì một chân trời
khóc vì không còn cái tên chứ mong gì một đời người

không có chân trời trong căn phòng người đã chết
hay người đã chết trong căn phòng không có chân trời
chúng ta là con cùng một ruột
nước cùng một ống
Yàng ơi…

còn có ai gọi tên (*) sau khung gỗ
bao nhiêu tóc đen
bao nhiêu da đen
bao nhiêu nước mắt?

sớm mai này
như một buổi rạng đông
mẹ đến gọi tên cho họ
đang rượu say và khóc
(*): cái tên

không phải là danh tiếng gì đâu
cái tên gọi phân biệt những nhân vật
trong câu chuyện dài dòng
những ngày tháng đã chìm mất hút

không phải ngày xưa
không phải ngày mưa
ngày nắng…

ngày tiếng cồng có một vết nứt
gọi tên nhau cũng đổ mồ hôi
lịch sử xoay một vòng trên gót
nhẹ người
 
khi cái tên gục xuống
vì những cái sống còn
có một bữa tiệc buồn
đãi bằng sự thật (*)
 

(*): [sự thật] đang ngày càng trở nên hoang vắng

như cây nấm trong rừng
như vệt rêu ngày nắng
chuyến đi xa trở về câm lặng
mắt không nhìn lưới nhện ở góc nhà dài
chiếc xà gạt cha bỏ quên
trên đồi nương cháy góc

biên giới tan biến khi lội ngang qua suối
chiếc gùi còn nắm lương khô không ký ức
cỏ đã hoang
sau những ngày không dấu chân người

thôi đừng vọng nữa
những vòng xe tháng năm đã thử lăn rồi
giờ quay về khàn tiếng vì sương gió
bò lên bậc cửa
những âm truyền minh mang
tiếng ho khốc khốc

ừ thôi còn rừng
ừ thôi còn sống 
những ngày xanh cỏ
vẫn còn lơ ngơ

mẹ hỏi đói chưa?
đi ăn cơm chiều (*)


(*): & buổi chiều có thể là thơ mộng

khi chiếc búa đóng đinh
bức vách lên tiếng nói
má ơi con đau quá

và mẹ dịu dàng (*)
lau lên bức vách
con ơi,
không phải lúc nào người ta cũng biết
hậu quả việc mình đã làm

(*): như một gợi nhớ của đêm
“con không thể chọn làm đứa con tổng thống Pháp hay 
cháu đích tôn quốc vương Brunei 
con không thể chọn ra đời ở Thái Lan hay Mĩ quốc 
con là Chăm ngay ban đầu vỡ ra tiếng khóc 
còn hơn thế: chín tháng mười ngày trước khi vỡ tiếng khóc”
(Inrasara)

1.

đêm ơi
đêm xanh lục lời nguyền màu tím
những vị thần mệt mỏi buông tay
Yàng đã tan vào rừng
tan vào hòn đá, ngọn cây, dòng suối
gọi là chiều ư? Hãy gọi hoàng hôn
nắng tắt
lung linh linh hồn rưng rưng Pơ thí
ẩn trong ngôi nhà mồ hoang phế
những bức tượng ngồi chống cằm như thể
bể dâu kia mới thực cuộc đời

đêm ơi
những câu thơ chết người
hay chết cười
ngày sinh ra với đôi mắt nhắm (*) 
giờ mang gương mặt của em
nước toả quanh bờ môi lạnh

---------------
(*): “Với đôi mắt nhắm
em toả sáng bên trong
em là đá mù loà”
(Octavio Paz/ bản dịch Hoàng Ngọc-Tuấn)
2.

đêm ơi
làm sao quên
mẹ đã để con ngươi em khép hờ
lênh đênh quanh tiếng đàn Y Phôn
hát giữa mọi người không ngại ngần...
hát với người đã chết
cái chết nhỏ xíu của chú chim
chết giữa mọi người không ngại ngần
giấc mơ (*) ngã xuống

--------------
(*): “trong một thế giới dường như lặp lại và không ra hoa
những giấc mơ bị trút vào thùng rác” 
(Phan Nhiên Hạo)
3.

đêm ơi
vọng âm dọc thành phố mù loà này
mắt của em
nhưng giấc mơ không phải của em

chỉ có khói đốt rừng là thật (*)

-------------
(*): “Nơi đó
Trời đang viền màu thu
Ngàn ngàn linh hồn xanh rụng xuống
Bay về đâu những mảnh vu hồn
Liu riu đỏ tro người thê thiết” 
(Trịnh Thanh Thuỷ)
4.

đêm ơi
ví dụ như ta đang bình minh
mặt trời trên trang giấy ngày xưa ta vẽ (*)
mỗi lúc một đỏ hơn
mỗi lúc một đớn đau hơn
đêm còn muốn một điều gì nữa?

-------------
(*): “tại sao anh cần cây bút chì?
để làm thơ
thơ loại gì?
xin hãy đừng lo, chỉ là thơ trữ tình
thơ nói về tình yêu?
rất có thể”
(Yuli Daniel/ bản dịch Hoàng Ngọc Biên)
5.

đêm ơi
nơi ngã ba Krông Ana trong veo
Krông Knô lờ đục
một bên máu một bên nước mắt
ngước nhìn bờ bên kia
mắt vốc lên từng nắm cát
đắp hình hài dang hai tay cỏ dại
dang hai chân mưa rào
thân thể ẩm ướt của em
2 ngọn đồi trên cao
và 1 khu nhà ổ chuột
cắn vào chiều
những hoàng hôn đỏ máu


6. 

đêm ơi
đêm làm ướt chiếc yêng của mẹ
2 cánh đã ướt của con chim Phí ngày mưa
run lên khi về tổ ấp lên những quả trứng
hơi lạnh làm ung các chú chim con
đang ngủ ngon trong nhà mồ tập thể
một mảnh xương của chú chim đang
cố vỗ cánh cuối cùng
đôi cánh nhỏ xíu trong đêm 
như các thiên thần đang thắp lên ngọn nến
ngày em ra đời
ngày mẹ chôn núm nhau của mình
trên đám mây chiêm bao phách lạc
dịu dàng trên cao


7.

đêm ơi
em lớn lên màu da nhẹ nhõm
với áng mây bay trong vầng tóc xoăn trên trán
em thức dậy từ nước da của cha màu cỏ úa
nước da của mẹ màu yêu
chiếc yêng của mẹ quấn tuổi đời của em
sự trần truồng của em
làm cây rừng tối thẫm
 
ngày cha vào rừng
chú chim non rời tổ bay lang thang
suối giấu vào lòng nỗi buồn trên mắt mẹ
màu badan mênh mang màu giấc ngủ
em làm sao biết được
biên giới không dấu chân người... 
chỉ biết đuổi theo những đàn bướm trong mơ xa mãi
cỏ dại và hoa chấp chới
rừng thật xa...
và đàn bướm của trò chơi ngày xưa không còn nữa

những ngày chuẩn bị em
mẹ gần như kiệt sức
hai bàn tay mẹ khô héo
hai mắt mẹ mây mù mưa bão
cỏ cô đơn như mái tóc dài
mẹ thở bằng những cành cây khô
khi rừng bỏ trốn

đêm ơi
căn buồng em nằm chưa kịp làm bếp lửa
che bằng tấm ni lông tạm bợ như cơn khói
nhiều lần mẹ nói: gỗ đã bỏ quên chúng ta
gỗ ngủ quên trong lao xao khách sạn
trong lao xao văn phòng...

những cây thần
những cây thần ngày xưa
ngày xưa DamSan không dám hạ
giờ thành oan hồn ốp bậc thang trong những ngôi biệt thự
đêm về khóc như ma

những cây thần linh thiêng 
những vị thần uy quyền bao thế kỷ
đang nằm dài dưới dấu búa kiểm lâm...

cuộc chiến yếu ớt điên cuồng
và đôi lúc bất công với chúng ta
những bất công há hốc niềm kinh hãi
tê dại
nỗi đau chúng ta bây giờ như đứa bé
thơ ngây tiếng cười ngoài phố
tiếng cười như gỗ mục vì sự yếu đuối
ngỡ mình hoàn hảo không cần đo nỗi buồn
không hối tiếc
em có biết
mà thôi...
 
đêm ơi
oan hồn nào trong con voi một ngà mỗi đêm đang trở về
phá nương của mẹ
những con voi ngơ ngác đô thị
mắt mở to đang nuốt nỗi buồn
những nỗi buồn không lý do cáo lỗi

đôi mắt voi như 2 vết thương
hoảng sợ trước máy cưa và lửa
khu rừng máu ứa
những thung lũng ngã nhào theo trí nhớ
không gian tan vỡ
làn khói đốt rừng như bức tường đóng kín mọi món nợ...
quá khứ hết nhiệm kỳ
tiếng cưa máy về đâu?

đêm ơi
vọng âm dọc thành phố mù loà này
mắt của em
đã từng nhìn khói bay như gió (*)
---------------

(*): “hình dáng nó giống một cuộn dây đồng cứng
nó xoắn vào rồi lại xoắn ra theo hình trôn ốc
rằng gió rất nặng
và có thể làm dập ngón chân nếu rơi trên bàn chân ta
thế nên hãy cẩn thận khi bạn di chuyển gió
nó có thể đưa bạn vào nhà thương!” 
(Kaufman/ bản dịch Lưu Hy Lạc)
8.

đêm ơi
cuối cùng đêm muốn nói điều gì
hay cũng chẳng còn gì để nói
lời khan đã mỏi
người ta đang ghi âm và phát lại mỗi ngày

đêm đi tìm chiếc yêng của mẹ
gặp chiếc yêng màu trắng của mây
bay như câu chuyện này
phải đớn đau như vậy

lúc ấy ánh mắt của đêm như đi lạc
ngơ ngác tìm con sông
Krông Ana vùng vằng thành kỹ niệm
sự lãng quên mà một ngày kia chúng ta sẽ mang trong tay
một đóa hoa bằng giấy

rồi chiếc yêng của mẹ sẽ ủ ấm đêm này
với giọt sương hay mắt em ngày theo ta về
với nỗi buồn không thể vùi mình vào badan ấm
những tàn tro linh hồn máu đỏ
không thể làm ánh sáng sâu hơn
 
này đây quá khứ
chiếc lá rơi ngày em khóc chào đời
ngày bắt đầu giả dối
đang bắt đầu già cỗi 
ngày thú tội
trên đám lá đang đổi màu và cỏ gà nhợt nhạt
chơi trò ngắt đầu giờ máu chảy không hay

đêm là gì mà đớn đau đến vậy
cái tai ương dịu dàng
như một lần say
buôn làng là gì mà mặt trời và nắng
lớn trong đêm như hơi thở của ngày
thành phố là gì mà em im lặng
im lặng là gì mà vẫn mở bàn tay 
 
chúng ta bất lực nhìn quanh thế giới
trong tấm gương đỏ máu màu chính nó 
em hãy nhìn bức chân dung
rồi tự xóa mờ
em đã là lịch sử 
lịch sử như cơn lũ quét ngang để lại ngôi nhà dài xiêu vẹo không người ở
hắt hơi một bóng ma
bay qua tàn cây một người đàn bà xoã tóc
rơi như chiếc ly làm vỡ chính mình
những mảnh vỡ găm vào ký ức
những trang giấy buốt nhức
sau này ai đến đọc
không bằng ngôn ngữ gọi tên mà bằng chữ ký của người mê ngủ
những văn bản lê thê như một kiếp người
những văn bản lê thê mất hút cuộc đời

còn có ai gọi tên sau khung gỗ
bao nhiêu tóc đen 
bao nhiêu da đen 
bao nhiêu nước mắt?

sớm mai này 
như một buổi rạng đông 
mẹ đến gọi tên cho họ
đang rượu say và khóc.
© 2008 

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Giai thoại về huyệt phát đế vương của nhà Tây Sơn

Bước đầu dấy nghiệp của nhà Tây Sơn gắn liền với nhiều câu chuyện phong thủy rất sống động về địa thế của vùng đất có núi non trùng điệp ở hai bờ sông Côn và luôn tồn tại song song với câu sấm truyền lịch sử vào thuở ấy: “Tây khởi nghĩa – Bắc thu công”…
Có một “Hoành Sơn” ở phương Nam
Thường mỗi khi nhắc hai tiếng “Hoành Sơn” ở phía Bắc (tỉnh Quảng Bình) người ta liên tưởng đến cơ nghiệp nhà Nguyễn. Song cũng có một “Hoành Sơn” khác nữa nằm sâu về phía Nam (tỉnh Bình Định) vốn là nơi huyệt kết phát vương của anh em nhà Tây Sơn.
Núi Hoành Sơn chạy dài và tỏa rộng về phía đường quốc lộ với hai dòng suối (Đồng Tre và Chi Lưu) đưa nước uốn quanh dưới chân (thủy tụ). Mộ của ông bà Nguyễn Phi Phúc - song thân của Tây Sơn tam kiệt, tức ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ - nằm trên đó. Song không ai biết chính xác mộ ở vị trí nào trong núi.
Đến nay, nơi huyệt táng ông bà Nguyễn Phi Phúc vẫn là điều bí ẩn thu hút các nhà nghiên cứu phong thủy. Tuy nhiên, căn cứ theo các tài liệu lịch sử cũng như dò tìm manh mối qua các nội dung truyền khẩu tại địa phương, người ta được biết ít nhất hai câu chuyện liên quan đến đại địa của nhà Tây Sơn ở đó như sau:
Chuyện thứ nhất kể rằng, vào khoảng giữa thế kỷ 18, có một thầy địa lý từ Trung Quốc không biết cách nào đã lặn lội vào tận đất Bình Định để tìm long mạch và huyệt kết vùng núi Hoành Sơn. Thầy đã dùng hai cây trúc lén cắm ở hai nơi trên triền núi Hoành Sơn để dò huyệt địa, rồi bỏ đi mất một thời gian. Những gì thầy địa lý làm đều không qua được mắt của Nguyễn Nhạc.
Nguyễn Nhạc theo dõi và thấy một trong hai cây trúc bị chết, tàn lụi, còn cây trúc kia vẫn sống tươi xanh. Ông nhổ cây trúc chết đem trồng vào chỗ cây trúc sống. Lại nhổ cây trúc sống đến trồng vào chỗ cây trúc đã chết. Chẳng bao lâu sau, thầy địa lý người Trung Hoa đến để xem kết quả thử địa ở Hoành Sơn thì thấy cả hai cây trúc đều khô chết nên thầy thất vọng thầm nghĩ đây không phải là đất phát vương nên bỏ đi biệt hẳn. Bấy giờ, Nguyễn Nhạc mới bốc mộ của cha mình là cụ Nguyễn Phi Phúc đem táng vào chỗ có cây trúc tươi mà chỉ Nguyễn Nhạc biết thôi.
Chuyện thứ hai cho rằng, thầy địa lý người Trung Hoa khi đến vùng Tây Sơn để dò tìm long mạch và chỗ huyệt kết đã ở tại nhà của Nguyễn Nhạc. Hằng ngày, thầy đi lùng kiếm khắp vùng, đem theo chiếc la bàn, tấm vải điều màu đỏ và một chiếc gậy đẽo từ gỗ của một cây đại thọ trăm năm. Hết chỗ này đến chỗ khác thầy vẫn không vừa ý, cuối cùng thầy địa lý để tâm đến hòn Hoành Sơn.
Nguyễn Nhạc dò biết nên âm thầm kín đáo theo sau thầy địa lý và phát hiện được nơi huyệt kết. Khi thầy địa lý về lại Trung Hoa để hốt cốt thân sinh của mình đem đến chỗ huyệt kết để chôn, bấy giờ Nguyễn Nhạc tìm cách đánh đổi: "Đến ngày đã chọn, thầy Tàu lén đem chiếc tráp (có hài cốt) cùng địa bàn đi lên Hoành Sơn, vừa đến chân núi thì một con cọp Tàu cau to lớn ở trong bụi, gầm một tiếng, nhảy ra vồ".
"Thầy Tàu hết hồn, quăng tráp và địa bàn (dùng dò hướng đất theo thuật phong thủy) mà chạy. Hồi lâu không thấy cọp đuổi theo, liền quay lại chỗ cũ. Thấy chiếc tráp và địa bàn còn nằm lăn lóc đó, thầy mừng như chết đi sống lại, vội trực chỉ lên nơi long huyệt đã tìm ra. Chôn cất xong xuôi, thầy hớn hở trở về Trung Quốc, không ngờ rằng chiếc tráp thầy chôn vốn đựng di hài Nguyễn Phi Phúc và con cọp kia chỉ có lớp ngoài mà thôi”.
Đó là đoạn văn kể về sự tích phong thủy Hoành Sơn của nhà thơ Quách Tấn (1910-1992), trong một tài liệu viết về di tích và truyền thuyết nhà Tây Sơn với kết luận rằng hai câu chuyện trên tuy có vài chi tiết không giống nhau, song đều đồng một điểm chính là cho biết mộ Nguyễn Phi Phúc chôn ở Hoành Sơn.
Hoành Sơn còn gọi là núi Ngang, cao hơn 360 thước, có núi Ông Bình làm hậu tẩm, núi Ông Đốc với hình dạng “giống như một con hổ phục, đầu ngó lên Hoành Sơn. Núi Ông Đốc không cao và tuy giống hình cọp, song ngó bộ hiền lành như con cọp tu hành lâu đời.
Nơi triền phía Bắc hiện có một ngôi chùa thờ Phật. Đó là điềm “hổ cứ”. Còn “long bàn” là hai nhánh của con sông Côn, một từ phía Tây chảy xuống, một từ phía Tây Nam chảy ra, hợp nhau tại địa đầu thôn Phú Phong, trông như hai cánh tay ôm choàng lấy cuộc đất của Hoành Sơn vậy”.
Một vùng núi bút non nghiên…
Hoành Sơn là nơi được các thầy địa lý của Trung Hoa cũng như của Việt Nam công nhận là đại địa “vì có, nào bút nào nghiên, nào ấn nào kiếm, nào cổ (trống) nào chung (chuông), ở bên tả bên hữu… trước mặt trên ba nổng gò, đã mọc giăng hàng giống như những toán quân đứng chầu về. Và xa xa có hổ phục long bàn”. Bằng những phân tích địa thế phong thủy, Quách Tấn chứng minh những điều nêu trên là xác thực, vì:
- Bút đó là hòn Trung Sơn ở bên Phú Lạc, xa trông phảng phất như ngòi bút chép mây.
- Nghiên đó là hòn Hội Sơn tục gọi là hòn Dũng, trong địa phận Trinh Tường về phía Nam, đứng đối trí cùng hòn Trung Sơn ở phía Bắc.
Hòn Hội Sơn cao hơn 490m nhưng trông đầy vẻ uy nghiêm “trên núi có một vũng nước vừa rộng vừa sâu, quanh năm không bao giờ cạn. Người địa phương lên đó vỡ đất làm ruộng, đất tốt không kém dưới đồng bằng (nhờ nước đầy đủ).
Vì núi có vũng nước nên đám bình dân gọi núi là hòn Vũng (thay vì hòn Dũng). Còn đám hàn mặc (nho sinh) thì coi vũng nước là nghiên mực của trời nên đặt cho núi một tên nữa là Nghiên Sơn tức hòn Nghiên vậy, hòn Nghiên và hòn Bút nằm bên hữu bên tả hòn Hoành Sơn trông cân đối”, phù hợp với câu ca:
Một vùng núi Bút non Nghiên
Trời giao ấn kiếm cho miền Tây Sơn.
Cuộc đất tốt như vậy kết hợp lời sấm truyền do thầy dạy học của ba anh em nhà Tây Sơn là cụ giáo Hiến thông báo, rằng: “Tây khởi nghĩa – Bắc thu công”, đã tạo sức mạnh tâm linh thúc giục Tây Sơn tam kiệt khởi binh. Tây khởi nghĩa tức là dựng cờ nổi dậy ở vùng núi hướng Tây - vùng Tây Sơn. Bắc thu công là thành công lớn ở hướng Bắc, lên ngôi hoàng đế ở Phú Xuân (Huế bây giờ) năm 1788 và tiến ra Bắc đánh thắng quân Thanh xâm lược năm 1789…
Trong bài này chúng tôi chọn trích dẫn phong thủy nhà Tây Sơn chủ yếu theo tài liệu của Quách Tấn là vì trước hết gia đình ông đã trải qua chín đời ở ấp Tây Sơn hạ, ông viết: “Tây Sơn là dãy núi phía Tây tỉnh Bình Định thuộc hệ thống Trường Sơn (…) vì núi mệnh danh là Tây Sơn nên các vùng sơn cước bình nguyên ở chung quanh cũng gọi là vùng Tây Sơn.
Trước kia gọi là ấp Tây Sơn với ba phần: Tây Sơn thượng, Tây Sơn trung và Tây Sơn hạ”. Những gì ông viết ra về địa lý, phong thủy của vùng đất Tây Sơn cũng như những câu chuyện truyền khẩu liên quan đều do chính ông nghe nội tổ và song thân cùng các vị phụ lão ở quê ông kể lại, giới thiệu qua cuốn tài liệu “Quang Trung – Nguyễn Huệ” của nhiều tác giả, do NXB Văn hóa Sài Gòn kết hợp tạp chí Xưa và Nay ấn hành 2008, nêu rõ trong khu vực Hoành Sơn“sát chân núi ngay phía Đông, khoảng giữa nổi lên một trảng đất.
Trong khoảng này, dáng núi lại hơi cong cong. Đứng phía trước trông vào thì giống một chiếc ghế bành vĩ đại, mà lưng và tay dựa vào núi, mặt ghế là trảng đất. Trên trảng nằm song song hai nấm mộ bằng đá, hình chữ nhật. Vua Gia Long ngờ rằng đó là phần mộ của ông bà Nguyễn Phi Phúc, song thân của Vua Tây Sơn, nên truyền quan địa phương khai quật. Nhưng khi đào lên hài cốt không thấy đâu cả, mà chỉ thấy bốn chum dầu phụng đã lưng, trong mỗi chum có một ngọn đèn chong chóng đang cháy”.
Như vậy, đến nay dấu tích về mộ của ông bà Nguyễn Phi Phúc vẫn còn mờ mịt. Những ngọn đèn dầu phụng đã bị nhà Nguyễn (Gia Long) thổi tắt, nhưng sự nghiệp của nhà Tây Sơn vẫn cháy đỏ trong lịch sử Việt Nam.
Nếu tính từ lúc dấy nghiệp vào năm Mậu Tuất 1778 là năm Nguyễn Nhạc xưng đế hiệu (niên hiệu Thái Đức), gọi thành Đồ Bàn là Hoàng đế thành, đến lúc suy vong vào năm Nhâm Tuất 1802, thì nhà Tây Sơn tồn tại 24 năm.
Nếu tính từ năm Vua Quang Trung lên ngôi thì chỉ kéo dài có 14 năm (1788-1802). Dẫu ngắn ngủi nhưng nhà Tây Sơn đã để lại một dấu ấn sâu đậm qua chiến công của thiên tài quân sự Nguyễn Huệ dẫn đại quân tiến vào Thăng Long, đánh thắng hai mươi vạn quân Thanh xâm lược vang dội đến nay – ứng đúng câu sấm truyền Tây khởi nghĩa – Bắc thu công…
Theo HÔN NHÂN & ĐỜI SỐNG
Phần nhận xét hiển thị trên trang