Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Bảy, 20 tháng 7, 2013

một trong số 100 thiên tài đương thời thế giới.:

Nhờ vào những thành quả nghiên cứu xuất chúng, ông Võ Đình Tuấn, tiến sĩ vật lý gốcViệt vừa được Công ty Tư vấn Toàn cầu Creator Synectics chọn là một trong số 100 thiên tài đương thời thế giới.
Tiến sĩ vật lý Võ Đình Tuấn, Viện trưởng Viện Fitzpatrick thuộc Đại học Duke , North Carolina ( Hoa Kỳ) Tiến sĩ vật lý Võ Đình Tuấn, Viện trưởng Viện Fitzpatrick thuộc Đại học Duke , North Carolina ( Hoa Kỳ)
Ngoài cương vị là Viện trưởng Viện Fitzpatrick thuộc Đại học Duke , North Carolina ( Hoa Kỳ), ông Tuấn còn là thành viên Hàn lâm viện Hóa học Hoa kỳ, biên tập viên và cố vấn của nhiều tạp chí quốc tế chuyên ngành.

Năm 17 tuổi ông Tuấn rời Việt Nam sang Thụy Sĩ du học và lấy bằng cử nhân vật lý (1971) rồi sau đó bằng tiến sĩ Sinh Vật lý Hoá học tại Viện Federal Institute of Technology (1975). Ông sang định cư tại Hoa kỳ vào năm 1975.

Ông Tuấn nhận bằng phát minh đầu tiên vào năm 1987 khi sáng chế ra loại thẻ (badge) nhỏ và dễ sản xuất , có thể gắn lên áo của công nhân khi họ làm việc trong những môi trường hoá chất độc hại. Sau giờ làm việc các thẻ này sẽ đươc một máy scan quang học đọc và ghi lại thông số của các hóa chất độc hại mà công nhân có thể nhiễm phải trong quá trình làm việc trong ngày. Trong lãnh vực y khoa, ông Tuấn đã phát minh những hệ thống tương tự để dò tìm các DNA bị tổn thương, bệnh tiểu đường và bệnh ung thư. Tất cả các hệ thống trên đều dựa vào hiện tượng phát quang đồng bộ (synchronous luminescence-SL) Điểm đặc biệt là qua tay ông, phương pháp phát quang đồng bộ đã trở thành thực dụng vì các dữ kiện đươc ghi lại, trưng bày và đọc nhờ vào hệ thống scan quang học (dùng laser và quang học sợi ) nên sức khoẻ con người có thể đươc theo dõi không cần đến các thủ thuật y khoa như sinh thiết  ( by Text-Enhance">biopsy

Năm 2003, ông Tuấn đã là một trong bốn nhà khoa học Mỹ gốc Á được Cơ quan Thương hiệu và Phát minh Hoa kỳ ( by Text-Enhance">US Patent and Trademark Organisation-USSPTO) vinh danh.Theo Cơ quan này, các phát minh của ông Tuấn đã góp phần làm cho Hoa kỳ trở thành một trong những nước có nền khoa học kỹ thuật tân tiến nhất trên thế giới.

Sau gần 30 năm hoạt động khoa học, đến nay ông Tuấn đã có hơn 30 bằng phát minh và sáng chế trong nhiều lãnh vực khác nhau như môi trường, sinh học và y học. Ngoài ra, ông Tuấn còn đoạt 5 giải thưởng Nghiên cứu và Phát triển (R &D)vào các năm 19811987,1992, 1994 và 1996 và là tác giả của hơn 300 công trình được phổ biến trên nhiều tạp chí khoa học.

Tuy là một khoa học gia nổi tiếng, ông Tuấn rất khiêm nhường khi cho rằng “các nghiên cứu của ông chỉ nhằm mục đích góp phần làm giảm bớt những đau đớn của con người”, và theo ông cái khó nhất đối với các bệnh nan y như ung thư hay AIDS chính là làm sao phát hiện ra những căn bệnh ấy.

Nhà khoa học tài ba này hiện đang tiếp tục đeo đuổi mục đích cải tiến công nghệ sản xuất máy móc y khoa hiện đại, có kích thước nhỏ và giá thành thấp nhằm góp phần nâng cao hiệu năng của chẩn đoán và điều trị. 


Phần nhận xét hiển thị trên trang

THÔI THÌ



Thằng dở thơ
chê thằng dở người..
Thương buổi văn chương đi vào ngõ cụt!
Lề phải ta đi cuối ngày hẫng hụt
không khá hơn,
lề trái lem nhem..

Còn gì ta tặng cho em?
Câu thơ nhặt ở chợ đêm mang về?
Câu thì cụt
Nghĩa thì què
“Mở miệng” nói dóc người nghe phát khùng!
“Vất thơ” mặc lấy váy hồng,
“Đôi hài vạn dặm”đã từng nắng mưa..
Người giận thơ
kẻ yêu thơ
Lênh đênh con sóng
đò đưa sông dài..
Thôi thì thơ nhé chia tay!
Lửng lơ phúc phận, gió bay, sóng ào?


Họa chăng,
thêm khúc chiêm bao??

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Vận mệnh dân tộc nằm trong tay ai?

Kỳ Duyên 


Người Việt chúng ta trong xã hội đương đại, liệu có thể nào gieo những… hạt khó phát triển, để gặt hái một mùa vàng nước Việt trong tương lai? Chỉ còn ít ngày nữa là đến ngày kỷ niệm những người lính đã dấn thân cho độc lập, tự do của Tổ quốc- Ngày Thương binh- Liệt sĩ 27/7.Thì trong tuần, có hai sự kiện, dư âm của nó để lại cho xã hội không ít suy ngẫm, dù cái kết có vẻ có hậu.

Cao, thấp và…kỷ luật
Sự kiện thứ nhất, đó là sau cuộc lấy phiếu tín nhiệm 47 nhân sự cấp cao của Quốc hội (khóa XIII), đến lượt các địa phương lần lượt hoàn thành cuộc lấy phiếu tín nhiệm của tỉnh mình.

Có vẻ có hậu, bởi kết quả cho thấy, không quan chức nào bị tín nhiệm thấp đến mức rơi vào vòng nguy hiểm, phải xem xét các bước xử lý tiếp theo.

“Có hậu” nhất, là đội ngũ cán bộ các HĐND, mức tín nhiệm khá cao, phổ biến đứng đầu bảng, so với nhóm cán bộ chính quyền (UBND), cán bộ lãnh đạo các ngành, các sở, nhóm mà sự “đụng chạm” về an sinh xã hội với người dân, diễn ra ở tất cả lĩnh vực.

Sự kiện thứ hai không hẹn mà gặp, là việc hàng chục quan chức cấp tỉnh, cấp ngành, cấp sở bị kỷ luật.

Mức kỷ luật cao nhất là cách chức Tỉnh ủy viên đối với một vị nguyên là Tỉnh ủy viên, Giám đốc Ngân hàng Chính sách xã hội một tỉnh. Người có chức vụ cao nhất là một vị Bộ trưởng một bộ phải kiểm điểm, rút kinh nghiệm. Còn lại các quan chức từ Chủ tịch UBND trở xuống đến các cán bộ các ngành, các cấp, các sở đều ở mức kiểm điểm, khiển trách, phê bình rút kinh nghiệm.

Hai sự kiện- lấy phiếu tín nhiệm, và kỷ luật các quan chức- khác nhau về bản chất, nhưng đều có phần “giao thoa” ở mục đích. Đó là có tính chất “cảnh tỉnh, răn đe”, nhắc nhở các quan chức- những “công bộc” của dân ý thức về bổn phận người lãnh đạo
Bỏ phiếu ở HĐND thành phố Hà Nội. Ảnh: Phạm Hải


Nhưng cũng giống như ở sự “nhờn” (hay cam chịu) của người dân với vấn nạn tham nhũng, kết quả có hậu của các cuộc lấy phiếu tín nhiệm ở địa phương hay kết quả kỷ luật các quan chức mới đây, dường như đã không gây được nhiều…ấn tượng trong tuần với người dân. 

Phải công nhận, các cuộc lấy phiếu tín nhiệm các cấp đã là tín hiệu bật…“đèn xanh” cho sinh hoạt dân chủ, từ nghị trường bước ra đời sống. Kết quả đầu tiên tại nghị trường cho thấy sự độc lập về tư duy, nhận thức của các đại biểu. Đó là điều đáng mừng nhất.

Nhưng ở cả hai cuộc lấy phiếu, rút cục, cho thấy không một quan chức nào “rơi vào vòng nguy hiểm”, thì điều đó, có phản ánh trung thực không? Câu hỏi này, không thuộc về người dân, mà thuộc về những quan chức được bỏ phiếu, về chính những người trong cuộc bỏ lá phiếu.

Có điều, nếu những năm sau, kết quả tín nhiệm vẫn tiếp tục là những tỷ lệ đẹp… như lá phiếu, thì nói theo cách của ông Vũ Mão, nguyên Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, sẽ trở nên hình thức và nhàm chán (TP, ngày 15/7). Đáng sợ hơn cả sự nhàm chán, người dân sẽ không tin vào một chủ trương nghiêm túc. Vì sao?

Vì ngay từ đầu, bản thân sự trung dung của “ba tiêu chí” Tín nhiệm, tín nhiệm cao, và tín nhiệm thấp đã góp phần không nhỏ vào… thái độ trung dung, vào nền tảng ứng xử vốn “dĩ hòa vi quý” của người Việt xưa nay. Vô tình, làm loãng thái độ cần sòng phẳng, cần thẳng thắn của người bỏ phiếu.

Mặt khác, ba tiêu chí này có phần “đi” không giống với quy định hiện hành của Hiến pháp về việc bỏ phiếu tín nhiệm, mà theo ông Vũ Mão, thực chất phải là bỏ phiếu bất tín nhiệm với những người không làm tròn nhiệm vụ.

Những cái được và chưa được của các cuộc lấy phiếu tín nhiệm hẳn sẽ là những kinh nghiệm cần thiết, khi chủ trương này xuống cơ sở, trước đội ngũ cán bộ sau lũy tre làng, mà mối quan hệ làng xóm, dòng họ, chằng chéo phức tạp, chi phối đến nỗi, chân lý là…số đông chứ không phải ở thực tiễn.

Và đáng chú ý, thông báo kỷ luật hàng loạt các quan chức mới đây cũng không gây nên xúc cảm nào với người dân, ngoại trừ “xúc cảm” của những quan chức bị kỷ luật và gia đình họ.

Mà theo ông Nguyễn Đình Hương, nguyên Phó Trưởng ban Tổ chức TW, Trưởng Ban Bảo vệ chính trị nội bộ TW: Xử lý kỷ luật đông thì có đông nhưng mức xử lý là những mức độ nhẹ nhàng…

Hay đó là cách giơ cao đánh khẽ, một cách xử thế truyền thống, nhân ái của người Việt?

Nhưng “nhân ái” giơ cao đánh khẽ với những cái dở, cái xấu, để “tình trạng vi phạm Luật Đất đai không được khắc phục; vi phạm trong công tác tổ chức cán bộ, quản lý tài chính, buông lỏng công tác quản lý đầu tư xây dựng… Rồi vi phạm phẩm chất, đạo đức, lối sống của người cán bộ lãnh đạo…, gây dư luận không tốt tại địa phương…”, lại là không nhân ái với người dân, với đòi hỏi phát triển nước Việt hiện đại, văn minh và lành mạnh.

Liệu điều đó có “vênh” với đánh giá của Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI): Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống…

Hay bộ phận không nhỏ đó, nằm ở số lớn đảng viên, cán bộ… không chức quyền?

Xin đừng quên, một cuộc lấy phiếu tín nhiệm, một vụ việc kỷ luật thật sự nghiêm minh hay chưa, cũng sẽ trở thành “đối tượng” để người dân sẽ bỏ phiếu tín nhiệm lại chính những chủ trương đó.

Nguyên Phó Ban Tổ chức T.Ư Đảng Nguyễn Đình Hương: “Mức xử lý là những mức độ nhẹ nhàng”. Ảnh: Lê Anh Dũng

Ai thiết kế- ai thi công

Để nói về vận mệnh một dân tộc, có câu nói: Nhân dân làm nên lịch sử.

Câu nói đó hoàn toàn đúng. Nhất là trong những giai đoạn, lịch sử, chủ quyền, độc lập tự do dân tộc bị đe dọa, bị dòm ngó, cần đến sức mạnh số đông. Nhưng câu nói đó mới chỉ đúng một nửa.

Bởi nhân dân, dù số đông, nói theo cách nói của GS Hồ Ngọc Đại trong nguyên lý của Công nghệ giáo dục, vẫn chỉ là người thi côngnhững chủ trương, những quyết sách táo bạo, được thiết kế bởi một tổ chức chính trị- xã hội, hoặc bởi Nhà nước cầm quyền.

Mọi thành bại của dân tộc, của quốc gia, đều có vai trò của cảthiết kế, lẫn thi công

Trước thời khắc vận mệnh dân tộc đang phải đối mặt với câu hỏiphát triển hay tụt hậu, bỗng nhớ đến những năm 80. Khi đất nước đang chao đảo, thăng trầm, dân tộc Việt đã ý thức rất rõ về sự phải thoát khỏi cách tư duy nô lệ của phong kiến Bắc thuộc ngàn năm, với nền tảng triết học Khổng giáo, Nho giáo đã đè nén cá nhân con người Việt đau đớn.

Con người bị đè nén, thì cả dân tộc bị đè nén.

Ý thức đó, cộng với sự đổi mới, chuyển mình của cả cơ chế quản lý chính trị- kinh tế- xã hội, và hoàn cảnh thực tiễn mới, đã khiến người Việt thay đổi rất nhiều.
Ngày nay, liệu còn có nhiều người đàn bà Việt phải sống theo “tam tòng tứ đức” không: Tại gia tòng phụ (người con gái khi còn ở nhà, phải theo cha), xuất giá tòng phu (lúc lấy chồng phải theo chồng),phu tử tòng tử (chồng chết phải theo con trai)?
Có còn nhiều gia đình Việt chấp nhận sống “tứ đại đồng đường” không, khi mà bản ngã cá nhân được giải phóng, và luôn tồn tại sự khác biệt giữa các thế hệ về tư duy nhận thức, cách sống? Cho dù những thay đổi tư duy đó chưa có giá trị phổ quát.
Thế nên, sự thay đổi mang giá trị phổ quát, nói đúng hơn, sự điều chỉnh để dẫn đến những đổi thay thiết kế quản lý, thực sự phù hợp với tiến trình phát triển một dân tộc, gắn với quy luật thực tiễn, với văn minh văn hóa nhân loại, lúc này là vô cùng quan trọng, cho dù cực kỳ gian khó. Đây chính là nền tảng mang tính chất quyết định kích thích sự phát triển của cả quốc gia, của các lĩnh vực, từ hạ tầng cơ sở đến thượng tầng kiến trúc.

Số lượng thanh tra (tham nhũng) nhiều, mà chỉ đưa ra ánh sáng hoặc chuyển cơ quan điều tra 0,6%. Ảnh minh họa


Vận mệnh dân tộc nằm trong tay ai? Chợt nhớ câu trả lời của tướng Lê Văn Cương: Việt Nam không phải nước đang phát triển, đã phát triển hay chậm phát triển; mà là khó phát triển.

Nước Việt sẽ rất khó phát triển, nếu như không chữa trị nổi bạo bệnh tham nhũng, đã “di căn’ đến tận ngóc ngách của bộ máy công quyền cơ sở, của đời sống người Việt.
TS Đặng Ngọc Dinh (Liên hiệp các Hội KHKTVN) đã phải đặt câu hỏi về cái sự "bôi trơn" của người dân với bộ máy công quyền bị "khô dầu": Vậy cái máy khô dầu là tại ai? Tại người thiết kế máy, tại người vận hành hay tại người tu sửa không làm cho nó trơn?

Còn ông Lê Như Tiến, (Phó Chủ nhiệm UBVHGD Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của QH) khi trả lời báo VietNamNet mới đây, thì đặt câu hỏi:

Tại sao số lượng thanh tra (tham nhũng) nhiều đến mức như thế, trên 62.000 vụ mà chỉ đưa ra ánh sáng hoặc chuyển cơ quan điều tra có 464 vụ, chỉ chiếm 0,6%. Rõ ràng là có xu hướng hành chính hóa các vụ án tham nhũng.
 sao, đang “hình sự” lại chuyển sang “hành chính”?

Còn ở t/p HCM, nổi lên một vấn đề, từ năm 2010 đến nay, trong gần 50% số vụ án tham nhũng Viện Kiểm sát đề nghị mức án cao đối với các bị can, bị cáo, nhưng khi xét xử Toà án tuyên phạt tù bị cáo thấp hơn nhiều so với mức án mà Viện Kiểm sát cùng cấp đề nghị. Viện Kiểm sát cùng cấp lại không có kháng nghị đối với bản án đó để được xét xử lại. Dư luận nhân dân đặt ra liệu có gì uẩn khúc hay không?

Những câu hỏi, tự nó, đã như một câu trả lời!

Nước Việt sẽ rất khó phát triển, nếu cứ tiếp tục… phát triển kinh tế theo cái cách mà Ngân hàng Thế giới (WB) chỉ ra mới đây.

Đó là theo một loạt các báo mạng VietNamNet, TP, SGTT…, Việt Nam đang ở trong đợt tăng trưởng chậm kéo dài nhất kể từ khi tiến hành cải cách kinh tế từ cuối những năm 1980, chậm hơn cả Indonesia và Philippines, GDP chỉ tăng ở mức 5,25% trong năm 2012 - mức thấp nhất kể từ năm 1998.

Tăng trưởng chậm kéo theo tỷ lệ đầu tư giảm toàn diện. Trong khi đó, Thái Lan, Indonesia, và kể cả Myanmar cũng đang trở thành địa điểm đầu tư ngày càng hấp dẫn, kể từ khi chính phủ nước này tiến hành những cải cách sâu rộng cả về mặt chính trị lẫn kinh tế.

Nhưng lo ngại hơn nữa, tiến trình tái cơ cấu kinh tế, trong đó cải cách và cơ cấu lại doanh nghiệp Nhà nước «hết sức chậm chạp». Việc cải cách DNNN khó có thể thành công « nếu không có một cơ chế điều phối liên ngành hữu hiệu và không tăng cường tính minh bạch”. Ở đây, liệu có sự đóng góp… tích cực của các nhóm thân hữu, nhóm lợi ích, nhóm lợi ích cục bộ không?

Nước Việt sẽ rất khó phát triển, nếu như trong kinh tế, vấn đề “tam nông”: Nông nghiệp- nông thôn- nông dân bị… lãng quên, do quá chú tâm vào chủ trương công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Nhà thơ tình nổi tiếng của VN- Nguyễn Bính- hẳn không ngờ câu trách yêu của ông với người con gái thôn dã, trong bài thơ “Chân quê” nổi tiếng, 75 năm sau lại “ám” vào vận mệnh nước Việt.

Phải chăng cứ mãi cảnh con trâu đi trước cái cày đi sau?

Còn nói như một bài báo trên Tuần Việt Nam (3/7): Mới ra tỉnh đã quên mình chân quê.
Cái giá phải trả cho sự quên mình vốn “chân quê” khá đắt, nên giờ đây, đã đến lúc “cuộc cách mạng nông nghiệp ở VN” bắt đầu. Đó là quá muộn, nhưng còn hơn không. Bởi theo tác giả bài viết trên:Những lý thuyết cơ bản về thương mại quốc tế đều khẳng định mỗi quốc gia nên tập trung vào những ngành sản xuất mà quốc gia đó có lợi thế so sánh. Khi tham gia vào thương mại quốc tế, một quốc gia sẽ xuất khẩu những mặt hàng mà quốc gia đó có nguồn lực sản xuất dồi dào.

Nhưng cách mạng nông nghiệp ở VN cần bắt đầu như thế nào? Phải chăng cứ mãi cảnh con trâu đi trước cái cày đi sau?

Cách đây gần 70 năm, (năm 1945) người Mỹ đã có một định nghĩa về ngành nông nghiệp của nước Mỹ rất đắc sách: Nông nghiệp là ngành công nghiệp hóa.
Định nghĩa ngắn gọn đó liệu có giúp gì cho các nhà chiến lược về nông nghiệp VN không?

Có câu gieo gì, gặt nấy. Người Việt chúng ta trong xã hội đương đại, liệu có thể nào gieo những… hạt khó phát triển, để gặt hái một mùa vàng nước Việt trong tương lai?

Chợt, cất lên trong chiếc loa phường đầu ngõ, bất ngờ và ám ảnh:Vết chân tròn vẫn đi về/ Trên con đường mòn cát trắng quê tôi /Anh thương binh vẫn đến trường làng/ Vẫn ôm đàn dạy các em thơ bài hát quê hương…(Vết chân tròn trên cát- Trần Tiến)

Họ- những người lính đó bình thản chấp nhận những vết chân tròn- những bàn chân “khuyết tật” của chiến tranh. Nhưng đâu phải để cho nước Việt, dân tộc Việt hôm nay, cũng phải đi bằng “vết chân tròn”- bàn chân khuyết tật- của tham nhũng, của khó phát triển, của nhóm lợi ích…, trên hành trình hội nhập thế giới văn minh và hiện đại?


Bài viết thể hiện văn phong và quan điểm riêng của tác giả 

Phần nhận xét hiển thị trên trang

BÀI THƠ''CỰ NGAO ĐỚI SƠN'' – MỘT DỰ BÁO CHIẾN LƯỢC THIÊN TÀI CỦA NGUYỄN BỈNH KHIÊM

Nguyễn Khắc Mai


1
NKM: Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm khi được Chúa Nguyễn Hoàng hỏi kế đã nói: “Hoành Sơn nhất đoái, vạn đại dung thân”, theo đó Nhà Nguyễn đã âm thầm và quyết liệt mở mang đất nước để có một Việt Nam trọn vẹn hình chữ S ngày hôm nay. Với Biển Đông, Cụ Trạng cũng có lời tiên tri, dạy rằng: “Biển Đông vạn dặm dang tay giữ / Đất Việt muôn năm vững trị bình”.
Trong Bạch Vân Am Thi Tập của Nguyễn Bỉnh Khiêm có bài thơ Cự Ngao Đới Sơn:
Chữ Hán:
巨 鰲 戴 山
碧 浸 仙 山 徹 底 清
巨 鰲 戴 得 玉 壺 生
到 頭 石 有 補 天 力
著 腳 潮 無 卷 地 聲
萬 里 東 溟 歸 把 握
億 年 南 極 奠 隆 平
我 今 欲 展 扶 危 力
挽 卻 關 河 舊 帝 城
Phiên âm: Cự ngao đới sơn
Bích tẩm tiên sơn triệt để thanh,
Cự ngao đới đắc ngọc hồ sinh.
Đáo đầu thạch hữu bổ thiên lực,
Trước cước trào vô quyển địa thanh.
Vạn lý Đông minh quy bả ác,
Ức niên Nam cực điện long bình.
Ngã kim dục triển phù nguy lực,
Vãn khước quan hà cựu đế thành.
Dịch nghĩa: Con rùa lớn đội núi
Nước biếc ngâm núi tiên trong tận đáy,
Con rùa lớn đội được bầu ngọc mà sinh ra.
Ngoi đầu lên, đá có sức vá trời,
Bấm chân xuống, sóng cuồn cuộn không dội tiếng vào đất.
Biển Đông vạn dặm đưa về nắm trong bàn tay,
Muôn năm cõi Nam đặt vững cảnh trị bình.
Ta nay muốn thi thố sức phù nguy,
Lấy lại quan hà, thành xưa của nhà vua.
Xin mạn dịch thơ như sau: Con rùa lớn đội núi
Núi tiên biển biếc nước trong xanh,
Rùa lớn đội lên non nước thành.
Đầu ngẩng trời dư sức vá đá,
Dầm chân đất sóng vỗ an lành.
Biển Đông vạn dặm dang tay giữ,
Đất Việt muôn năm vững trị bình.
Chí những phù nguy xin gắng sức,
Cõi bờ xưa cũ tổ tiên mình.
Bài thơ có tuổi đã khoảng 500 năm mà bây giờ càng đọc càng thấy rất “kim nhật kim thì”, rất thời sự. Ta những tưởng như cụ Trạng Trình đang nói với chính chúng ta hôm nay. Bài thơ nguyên là đễ nói cái chí của cụ ”Chí những phù nguy xin gắng sức” ( Ngã kim dục triển phù nguy lực). Nhưng lại đọng trong đó một tư tưởng chiến lược một dự báo thiên tài:
“BiểnĐông vạn dặm dang tay giữ, /Đất Việt muôn năm vững trị bình”.
(Vạn lý Đông minh quy bả ác / Ức niên Nam cực điện long bình.”)
Vào những ngày này Biên Đông đang trở thành một trường tranh chấp, quyết liệt đầy tính bá đạo, đai Hán, đầy mưu mô và hành động vừa gian ác, vừa xảo quyệt của nước lớn Trung Hoa, đang trong cơn hưng phát, thèm khát không gian sinh tồn, muốn bá chiếm biển Đông. Nào vạch đường lưỡi bò, nào xây dựng thành phố Tam Sa được tính toán xây dựng trên vùng chủ quyền của người khác, nào gọi thầu những lô thăm dò ngay trên vùng thuộc chủ quyền của Việt Nam. Nào ngang ngược, tàn bạo cắt cáp, rượt bắt tàu thuyền của ngư dân ta đang làm ăn trên vùng biển của nước mình…
Hai câu thơ đầy tính dự báo chiến lược của Nguyễn Bỉnh Khiêm càng lay động từ đáy sâu của ý chí, của tâm hồn cái tâm thức biển đảo của người Việt. Tự ngàn xưa dân Việt đã là cư dân của văn hóa biển-đảo. Vạn dặm biển Đông phải quay về nắm lấy trong bàn tay. Làm được như vậy, mà phải làm được như vậy – làm chủ được biển Đông, thì muôn đời cõi trời, đất nước Nam này sẽ vững vàng trong cảnh thanh bình thịnh trị lớn lao!.
“Biển Đông vạn dặm dang tay giữ / Đất Việt muôn năm vững trị bình”.
Đó là lời dự báo thiên tài, là lời truyền dạy của tổ tiên. Nó phải được cảm nhận để hành động trên quy mô của Dân tộc.
Nói quay về giữ trong bàn tay có nghĩa là nói sự làm chủ của mình. Chúng ta sẽ và phải làm chủ biển Đông. Tất nhiên không thể và không phải với một thứ phản văn hóa, nghĩa là cũng muốn làm chủ với tư tưởng bá quyền, độc chiếm. Tinh thần làm chủ của chúng ta là vừa biết kiên quyết bảo vệ chủ quyền hợp pháp của mình, kiên quyết chống lại sự xâm lăng nước lớn. Mà cũng biết tôn trọng chủ quyền hợp pháp của các nước lân bang Đông Nam Á.
Làm chủ Biển Đông, mà tổ tiên đã truyền dặn, ngày nay phải thể hiện cả ba mặt. Thứ nhất là làm chủ những vấn đề về lịch sử, pháp lý, cả những gì liên quan đến sức mạnh vật chất, tinh thần, để bảo vệ chủ quyền biển đảo. Thứ hai là phải xây dựng một nền kinh tế biển hoàn chỉnh hữu hiệu. Thứ ba là phát triển khoa học và văn hóa biển. Cả ba lĩnh vực trên là ba khâu liên hoàn, làm tiền đề, nhân quả lẫn nhau. Bảo vệ chủ quyền để phát triển kinh tế biển. Muốn phát triển kinh tế biển và bảo vệ chủ quyền hữu hiệu lại phải coi trọng xây dựng các ngành khoa học biển và văn hóa biển. Đó chính là một năng lực mới của Dân tộc để xây dựng và bảo vệ Đất nước.
Điều đáng mừng là Nhà nước ta cũng đã có phác thảo trên những nét chính về một chiến lược biển Đông với 9 giải pháp lớn như sau:
1. Nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của biển đảo đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
2. Xây dựng lực lượng mạnh nhằm bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh biển đảo,
3. Đẩy mạnh điếu tra cơ bản và phát triểnkhoa học-công nghệ biển.
4. Triển khai quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế, xã hội đảm bảo quốc phòng, an ninh.
5. Quản lý nhà nước có hiệu quả hiệu lực đối với các vấn đề liên quan đến biển.
6. Xây dựng đầy đủ, đồng bộ hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách khuyến khích đầu tư phát triển.
7. Phát triển nguồn nhân lực biển đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội vùng biển đảo và ven biển.
8. Tăng cường công tác đối ngoại và hợp tác quốc tế về biển.
9. Xây dựng một số tập đoàn kinh tế mạnh (đi đôi với tạo điều kiện đễ nhân dân than gia giữ chủ quyền, làm kinh tế và xây dựng khoa học, văn hóa biển.)
Đọc lại bài thơ Cự ngao đới sơn với hai câu dự báo chiến lược thiên tài, chúng ta càng khâm phục cụ Trạng Trinh Nguyễn Bỉnh Khiêm. Bao đời, nhân dân gọi Cụ như vậy vì Cụ sống vào thời Lê-Mạc (1491-1585). Cụ đỗ Trạng nguyên, được phong tước Trình Tuyền hầu. Cụ đã đễ lại một di sản văn hóa đồ sộ, với cả ngàn bài thơ văn với những giá trị nhân văn, đầy chất triết lý, đầy tình yêu nước, thương dân, là một kho Minh triết của muôn đời. Cụ còn là nhà dự báo, tiên tri. Câu “Hoành sơn nhất đái vạn đại dung thân” là lời dự báo không chỉ cho Nguyễn Hoàng, cho Đàng trong mà là cả cho Việt Nam. Về hai chữ Việt Nam, chính Cụ là người đầu tiên dùng để chỉ tên Đất nước, rồi được vua Gia Long dùng làm tên nước chính thức cho đến tận hôm nay.
Câu thơ cuối bài của cụ “Ta nay cũng muốn đem sức phò nguy” chính là nói về chúng ta trong những nhiệm vụ làm chủ biển Đông hôm nay vậy./.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Ứng xử ra sao nếu tàu chiến các bên giáp mặt nhau ở Biển Đông?

(GDVN) - Cần phải có một số biện pháp cụ thể phòng ngừa xung đột, một thỏa thuận quân sự chặt chẽ về cách ứng xử khi ực lượng hải quân các bên nhìn thấy nhau (trên Biển Đông). Baviera cho rằng COC phải có khả năng hướng dẫn các quốc gia khác nhau về những hành vi chấp nhận được trên Biển Đông là gì.


Học giả Eileen Bavier

ASEAN và Trung Quốc cần phải thống nhất một bộ Quy tắc ứng xử của các bên trên Biển Đông (COC) hiệu quả và đáng tin cậy, trong đó cần xác định rất rõ các biện pháp ngăn ngừa xung đột cụ thể, kiềm chế các bên tranh chấp phô diễn sức mạnh quân sự của họ và làm gia tăng căng thẳng trên Biển Đông, các nhà ngoại giao và phân tích quân sự cho biết.

Eileen Baviera, một giáo sư chuyên nghiên cứu về Trung Quốc và quan hệ quốc tế tại Trung tâm châu Á thuộc đại học Philippines nhận định, làm thế nào để thực hiện hiệu quả các thỏa thuận là rất quan trọng. Cho đến nay các thỏa thuận hiện có về Biển Đông thực sự rất ít hiệu quả.

"Tôi nghĩ rằng cần phải có một số biện pháp cụ thể phòng ngừa xung đột, một thỏa thuận quân sự chặt chẽ về cách ứng xử khi ực lượng hải quân các bên nhìn thấy nhau (trên Biển Đông). Baviera cho rằng COC phải có khả năng hướng dẫn các quốc gia khác nhau về những hành vi chấp nhận được trên Biển Đông là gì.

"Sẽ rất khó nếu mỗi quốc gia có những quy định riêng hoặc hướng dẫn riêng của mình (trên Biển Đông). Đó là những gì sẽ đẩy chúng ta vào một cuộc đối đầu với nhau. Tôi nghĩ rằng điều quan trọng hơn hết của COC là phải có các biện pháp ngăn ngừa xung đột".
Từ trái qua phải, Ngoại trưởng các nước Singapore, Indonesia và Malaysia tại Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN vừa diễn ra ở Brunei

Ngoại trưởng Indonesia Marty Natalegawa cho biết sự đoàn kết của các thành viên ASEAN rất quan trọng trong việc đàm phán COC với Trung Quốc. Các tranh chấp ở Biển Đông thực sự chia rẽ ASEAN và gây khó khăn cho nhóm trong việc thống nhất về cách đối phó các hành động của Trung Quốc.

"Chúng ta cần phải duy trì thống nhất, điều đó sẽ luôn là sức mạnh của ASEAN", ông nói trong một cuộc phỏng vấn tại Brunei.

"Miễn là ASEAN đoàn kết thì chúng ta sẽ ổn thôi. Nhưng ngay khi chúng ta bắt đầu, việc chọn phần mà chúng ta thích khiến cho mọi thứ sẽ trở nên khó giải quyết hơn."

Henry Bensurto, Tổng thư ký Ủy ban hàng hải và đại dương thuộc Bộ Ngoại giao Philippines nói rằng hiệp ước không ràng buộc (Tuyên bố chung của các bên trên Biển Đông ký năm 2002 - DOC) đã thất bại trong việc kiềm chế Trung Quốc mở rộng tham vọng chiếm đóng Biển Đông.

Ngay cả sau khi thực hiện các hướng dẫn được thống nhất năm 2010 căng thẳng trên Biển Đông cũng không hề giảm mà còn leo thang hơn nữa.

Nguyên nhân cốt lõi của sự gia tăng căng thẳng trên Biển Đông, theo Bensurto chính là vì tuyên bố năm 2009 của Trung Quốc về cái gọi là đường 9 đoạn (phi lý và phi pháp) đòi chủ quyền hầu như toàn bộ Biển Đông.

Nhà ngoại giao này cho rằng đàm phán và ký kết COC có tính ràng buộc và đáng tin cậy ở Biển Đông vẫn nên là một ưu tiên của ASEAN.

Ngoại trưởng Indonesia cho biết: "Bây giờ có một cảm giác như tình trạng đang hỗn loạn, một cảm giác rằng các bên tranh chấp đang tự do vun vén cho mình và làm những gì họ có thể để cố gắng tạo ra sự kiện pháp lý hoặc trên biển. Chúng ta cần phải loại bỏ các động cơ và giảm căng thẳng tình hình."

"Các nước không cần phải phái tàu ra Biển Đông, không cần phái tàu quân sự đi theo các tàu cá nhằm có được lợi thế pháp lý", Ngoại trưởng Martin Natalegawa nói.

Tuy nhiên ông cũng cảnh báo COC không phải là một cây đũa thần giải quyết được mọi xung đột tiềm ẩn về tranh chấp lãnh thổ. Do đó các bên liên quan cần phải thương lượng.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Họa thơ cùng bạn:


  1. Anh cũng có một miền quê để suốt đời yêu dấu
    Như mọi quê người 
    hiền hậu một mầu xanhVới những con người sống lo toan
    đủ kiểu
    Có thể nào tin
    tình yêu họ như mình?
    Quê anh đấy miền quê hẻo lánhChân núi Ba Vì giờ ăm ắp ao VuaNhững Chúa Chổm một thời trốn nợ\Nơi con gái Vua Hùng từng có một lần qua!
  2. Quê hương ta 
    nơi ta thương ta giận..
    Em ơi em!
    em là cô gái ngủ ban ngàyNhớ mãi bão giông, nhớ ngày lận đận..Ta xa rồi
    em có còn vui?

    Thời gian qua đi 
    chỉ tình ta ở lại..
    Nơi bến đò ngang
    con sông nhỏ đợi chờ
    Nếu ví thời gian trôi theo dòng nước
    Thì tình ta là lớp lớp phù sa..

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Sáu, 19 tháng 7, 2013

2 ông lão vào vòng lao lý


Tòa án Nhân dân TP.Bắc Ninh: Bức 2 ông lão vào vòng lao lý  
Hai bị cáo trước toà. Ảnh: C.Tùng

() - Số 161 - Thứ ba 16/07/2013 13:45

Báo Lao Động số 80, ra ngày 12.4 đã đăng bài “Đi tù vì lời khai sai sự thật của cán bộ”- phản ánh việc cơ quan tiến hành tố tụng TP.Bắc Ninh đã dựa vào lời khai không đúng sự thật để bắt giam, truy tố hai ông già gần 70 tuổi- trong đó một ông là thương binh mức độ thương tật 61%.
Trong các ngày từ 12-16.7, TAND TP.Bắc Ninh đã đưa hai ông ra xét xử sơ thẩm về tội “chống người thi hành công vụ” thay vì tội “gây rối trật tự công cộng”- đã bị Tòa phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm, yêu cầu điều tra lại trước đó.

Bị bắt là sẽ có tội
Đây là vụ án đã gây sự chú ý đặc biệt đối với người dân quanh khu vực đền Bà Chúa Kho thuộc khu Cổ Mễ, phường Vũ Ninh nói riêng và người dân TP.Bắc Ninh nói chung, bởi lẽ khi hai ông già bị bắt giam, đã có tới hơn 500 người cao tuổi ký đơn phản đối. Trong tất cả những phiên xét xử trước và phiên này, hàng trăm người dân đã đến ngồi chật cứng cả trong và ngoài phòng xét xử. Có lẽ do cảm nhận được sức ép từ phía người dân, nên đến hơn 9h, HĐXX vẫn chưa vào làm việc. Khi tiến hành phần thủ tục phiên tòa, thẩm phán chủ tọa đã tỏ ra khá lúng túng, không thực hiện đúng các trình tự tố tụng tại phần thủ tục phiên tòa.

Cáo trạng cho rằng vào 10h ngày 13.9.2011, tại nhà văn hóa khu Cổ Mễ, khi tổ công tác của ban quản lý dự án xây dựng cùng chính quyền khu đang tiến hành kê khai diện tích đất cho các hộ dân thì ông Nguyễn Văn Tuyến (SN 1949) ở Cổ Mễ đã có lời nói to ngăn cản tổ công tác làm việc.

Đến 14h cùng ngày, ông Tuyến lại tổ chức cho ban đại diện hội phụ nữ và hội phụ lão khu (hội hai giới) họp tại nhà văn hóa khiến tổ công tác không có chỗ làm việc. Cùng thời điểm này, ông Nguyễn Văn Đàng (SN 1947) ở Cổ Mễ đứng ở nhà văn hóa có hành vi chửi bới, lăng mạ anh Nguyễn Hùng Cường là cán bộ tổ công tác.

Với hành vi trên, ông Tuyến, ông Đàng đã bị truy tố, bắt giam và ngày 5.4.2012 TAND TP.Bắc Ninh tuyên phạt hai ông hơn 3 tháng tù về tội “gây rối trật tự công cộng” (bị cáo được trả tự do tại tòa vì đã chấp hành xong hình phạt ở thời gian bị tạm giam). Tuy nhiên, bản án trên đã bị TAND tỉnh Bắc Ninh tuyên hủy ở phiên xử phúc thẩm. HĐXX cho rằng những hành vi của Nguyễn Văn Tuyến, Nguyễn Văn Đàng không có dấu hiệu phạm tội “gây rối trật tự công cộng” nên đã trả hồ sơ để điều tra lại. Không làm rõ bất kỳ điều nào theo yêu cầu của bản án phúc thẩm, Cơ quan CSĐT, Viện KSND TP.Bắc Ninh đã chuyển tội danh, truy tố ông Đàng, ông Tuyến về tội “chống người thi hành công vụ” thay vì tội “gây rối...”.

Chuyện bé xé ra to

Tại phiên thẩm vấn công khai ngày 12.7, cả hai bị cáo Tuyên, Đàng và tất cả những nhân chứng được triệu tập, thẩm vấn tại tòa đều khẳng định nguyên nhân sự việc bắt đầu từ việc nhóm người được cho là tổ công tác đến kê khai đất dự án và một số cán bộ khu đã làm việc không đúng với nội dung đã được thông báo đến bà con. Bị cáo Tuyến cho rằng do bức xúc vì việc nói một đằng, làm một nẻo của cán bộ dự án và có sự mập mờ trong việc lấy đất của dân để làm dự án nên đã có lời nói yêu cầu tổ công tác dừng ngay việc kê khai diện tích đất.

Các bị cáo và các nhân chứng tại tòa đều khẳng định, chính cán bộ dự án tên là Sơn là người khơi mào trước bằng việc nói những lời xúc phạm các cụ già. Tất cả nhân chứng đều khẳng định việc cáo trạng cho rằng hội Hai giới họp ở nhà văn hóa khiến tổ công tác không có chỗ làm việc theo kế hoạch là không đúng, bởi tầng 2 nhà văn hóa còn bỏ trống, thứ hai không có tài liệu, căn cứ nào cho thấy đại diện tổ công tác đề nghị các cụ tạm nghỉ họp hay chuyển nơi họp để nhường chỗ cho tổ công tác. Hơn thế nữa, chỉ vì một vài lời nói của hai ông già mà bị khép vào tội “chống người thi hành công vụ” là việc bé xé ra to, cố tình ép người dân vào vòng lao lý.

Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bị cáo Đàng, luật sư Hà Đăng (Đoàn LS Hà Nội) cho rằng việc cố ép người dân vào vòng lao lý thể hiện rõ qua việc giả mạo tài liệu để làm căn cứ khởi tố vụ án. Cụ thể là biên bản do tổ công tác lập hồi 15h ngày 13.9.2011 tại nhà văn hóa Cổ Mễ. Thời điểm này- theo lời khai của trưởng khu dân cư Nguyễn Văn Toản - là không còn ai của tổ công tác ở đó.

Vị trưởng khu dân cư này còn khai chiều 13.9.2011, cửa nhà văn hóa mở, anh này vào để cặp tài liệu rồi ra mời tổ công tác vào làm việc nhưng họ không vào. Như vậy có thể thấy rõ không có ai bị cản trở ở đây, nhưng hành vi chống người thi hành công vụ vẫn được cơ quan tố tụng gán cho 2 ông lão. Đó là chưa kể biên bản được lập ở nhà văn hóa có mặt anh Toản và một biên bản khác được lập cùng thời điểm tại phòng họp của UBND xã Vũ Ninh cũng có mặt anh Toản. “Như vậy, biên bản lập ở nhà văn hóa là biên bản giả mạo” – LS Hà Đăng kết luận.

Bảo vệ cho bị cáo Tuyến, LS Phạm Thanh Bình (Đoàn LS Hà Nội) đã đưa ra bằng chứng đến tận tháng 11.2011- sau khi sự việc xảy ra 2 tháng- tổ công tác mới được UBND TP.Bắc Ninh ra quyết định thành lập. “Chưa có quyết định thành lập tổ công tác để thi hành nhiệm vụ công, những cán bộ đi kê khai đất để làm dự án cho tư nhân không phải là đang thực thi công vụ. Vì vậy, không thể kết luận các bị cáo có hành vi “chống người thi hành công vụ”. Dù vậy, đại diện VKS vẫn đề nghị tuyên phạt bị cáo Tuyến 9-12 tháng tù giam, Nguyễn Văn Đàng 8-10 tháng tù giam. Phiên tòa kết thúc bởi tiếng la ó, phản đối ầm ỹ của người dân. Ngày 16.7, HĐXX sẽ có phán quyết về vụ án.
*****

Phần nhận xét hiển thị trên trang