Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Sáu, 12 tháng 7, 2013

Những lỗ hổng cơ bản


Tôi đã suy nghĩ rất nhiều trước khi đặt tựa cho bài viết này, nhưng cuối cùng, tựa hợp nhất có lẽ là tựa trên đây. Vì lẽ, với thâm niên viết già dặn, với tên tuổi cũng không phải thuộc hàng làng nhàng gốc mít bụi tre, mà là một cái tên từng gây trận nổi đình nổi đám trong làng văn, từng tạo ấn tượng không ít cho tôi thời sinh viên. Nhưng rồi, càng đọc, càng thấy ông Trần Mạnh Hảo là người viết cẩu thả, thiếu tính khoa học, võ đoán và có đôi chút hằn học nào đó ẩn chất bên trong bài viết của ông. Có lẽ đây là điều đáng buồn nhất ở một cây bút phê bình như ông.
Xin nói rằng lẽ ra cũng không có bài viết này, nhưng chính vì thái độ quá xem thường độc giả (trong đó có tôi) của ông Trần Mạnh Hảo mà tôi buộc phải ngồi vào bàn viết những ý rời này.
Gần đây nhất, đọc loạt bài viết nhận định/phê bình về các giải thơ của năm 2010-2011, nhìn cách ông đánh giá tài năng, giá trị thi ca, dẫn luận và phán xét trong bài viết thì chỉ cho thấy đôi điều: Ông viết bằng hệ thống luận điểm không logic nhưng chuyển tải bằng giọng văn hùng hồn và biết kĩ thuật đánh người; hoàn toàn thiếu thao tác phân tích khi đưa ra những phán xét có tính sinh sát tới tác giả mà ông nhắc đến; cố tình bóp méo những khái niệm hầu chứng minh là mình đúng; Viết bằng một thái độ hằn học của lối phê bình ‘phán rơm’.
Tôi xin chứng minh:
Trong các bài “Trạng nguyên thơ, hay là Trạng... nguyên hình?”  “Sao Hội nhà văn Việt Nam lại hè nhau tiễn thi ca lên đoạn đầu đài?”, ông đưa ra và trích những luận điểm cơ bản để cho thấy: Mai Văn Phấn, Đinh Thị Như Thúy, Đỗ Doãn Phương, Từ Quốc Hoài không phải là những tài năng thi ca, sự cách tân của họ là “vô lối”, và những trạng nguyên thơ này không xứng đáng.
Ông đã viết/trích:
“Xin quý vị đánh tên bốn vị trạng nguyên thơ này lên trang tìm kiếm http://google.com sẽ thấy hiện ra hàng trăm bài khen ngợi rất kinh hãi và đao to búa lớn. Tất nhiên, cũng có một số bài chê bốn vị trạng nguyên này là trạng nguyên dỏm, trạng nguyên bịp vì thơ của họ không phải là thơ vì nó thiếu hàm súc, thiếu hình tượng, thiếu cấu tứ, thiếu tư tưởng, dễ dãi, linh tinh lang tang và quan trọng là nó thiếu nghệ thuật, tức nó không hay.
 
Nhà phê bình văn học Đỗ Ngọc Yên, trong http://lethieunhon.com đã coi hai tập thơ được giải Hội nhà văn VN năm 2011: “Hoan ca” của Đỗ Doãn Phương và “Ngày linh hương nở sáng” của Đinh Thị Như Thúy là hai tập thơ làng nhàng, nếu không nói là thơ dở, như sau:
 
“Nhìn lại giải thưởng thơ 2011”: “Theo ý kiến của nhiều người, Hoan ca và Ngày linh hương nở sáng là 2 tập thơ có một số bài đọc được, còn lại phần lớn chỉ ở mức trung bình, thậm chí có những bài chưa thể xếp vào thơ được, xét trên mọi khía cạnh. Còn nhà thơ Đỗ Hoàng thì gọi đây là 2 tập thơ “vô lối”.
 
Sự “vô lối” đầu tiên thể hiện ở chỗ là cả hai tập thơ không hề có bất cứ một cảm quan gì mới về thực tại, dù chỉ là mô tả về những điều mắt thấy tai nghe bằng ngôn ngữ thi ca hoặc những suy tư triết học. Vẫn là cách chối bỏ thực tại, chối bỏ những “lẽ phải thông thường”, chối bỏ cái không thể chối bỏ được bằng một lối nói dễ dãi, không hề có xúc cảm từ phía chủ thể, cũng không có hình thức thể hiện mới lạ, nên rất khó để có thể truyền dẫn cái hồn của thơ đến với công chúng: Đột nhiên không muốn trồng chuối/ Cũng bỏ nốt trồng màu/ Nơi này không cuốc cày vun xới/ Bằng phẳng dải đất ven đê/ Chiều, sau khi trẻ đá bóng/ Đất bằng ngửa mặt mênh mông/ Đón nỗi trống không/ Bằng bầu trời (Đỗ Doãn Phương - Bãi đất ven đê). Điều đáng nói là những bài thơ theo lối trẻ em “tập viết” như thế này trong Hoan ca của Đỗ Doãn Phương rất phổ biến. Ngay ở bài Hoan ca về đất được coi là bài “đinh” trong tập thơ của anh, ta vẫn thấy sự dễ dãi đến lạ thường: “... Hoa cỏ, gạch đá, bãi rác, hàng cây, hồ ao và xa xa dãy núi/ Đâu là nơi đất đai sẽ bị đào lên khiến mạch nước đứt tung tứa máu/ Đâu là nơi mặt đất sẽ mở ra và mím thắt lại/ Đâu là nơi cốt nhục ta sẽ hóa đất đời đời?,...”
 
Có thể nói, ở bài thơ này, người thơ thấy gì nói ấy, không cần chắt lọc, chưng cất, càng không cần sự tham gia của xúc cảm thẩm mỹ, mà chỉ là một lối nói huỵch toẹt cho xong. Vậy mà không ít người lại cho rằng đấy đích thị là những bài thơ có sự “sáng tạo” (!?).”
 
 
Với những ý kiến đưa ra trong bài viết, ông hoàn toàn không phân tích được ngôn ngữ, cấu trúc, nội hàm, phức cảm, ý niệm cũng như tư tưởng của những tác phẩm nhận giải thơ, mà ông chỉ làm một thao tác đơn giản là tách mấy bài trong những tập thơ của người đoạt giải và so sánh (mặc dù trong thao tác so sánh này, ông cũng không dẫn luận được cú pháp, ngữ nghĩa, cấu trúc, ý niệm, phức cảm ngôn từ, phức thể tác phẩm và phức niệm toàn tập của từng tác giả!) với một tác giả khác, rồi sau đó viết bài giễu nhại để đi đến chê bai dở hay.
Đó là chưa muốn nhắc đến quan niệm, thẩm mỹ của ông khi ông đưa ra luận điểm dở - hay, chuẩn thơ, sự trong sáng của tiếng Việt… để phán xét, dựa vào giọng văn khá hùng hồn, cuốn hút, đặc biệt là đánh vào tâm lý độc giả (trong đó có tôi) chẳng ưa gì những thứ giải nhà nước, giải “chính thống”… để mà lôi độc giả về phía mình bằng cách cào bằng hàng loạt giải nằm chung một sàn, sau đó mặc sức la lối, chê bai, thậm chí mắng nhiếc tác giả.
Một khi rơi vào tình thế này, cho dù tác giả những tập thơ trên có thấy ông vô lý họ cũng đành ngậm bồ hòn với ông vì lẽ, nếu họ lên tiếng, họ sẽ rơi vào trạng huống: Chứng minh mình hay hoặc chứng minh cái giải thơ của mình là hợp lý, là xứng đáng, là khoa học. Mà, với một người viết có lương tri, một người cầm bút có lòng tự trọng, chẳng ai đủ “gan” để lên tiếng chứng minh những điều trên. Kết quả là ông vẫn tiếp tục oang oang chê, oang oang mắng nhiếc người khác.
Đây là gì nếu không phải ông rất rành kĩ thuật tìm đồng minh để đánh hội đồng một ai đó bằng cách xếp người sắp bị đánh vào phe đối lập, “phe đỏ”, vào vị trí việt gian rồi sau đó mặc sức đấu tố, sỉ vả, khiến cho người ta tối mặt tối mày, không có đường ra vì ra hướng nào cũng gặp cửa tử?!
Và, trong một luận điểm khác, ông viết/trích:
“Ngôn ngữ, tư duy của người Việt ta khác hẳn ngôn ngữ, cách tư duy nước ngoài. Vậy mà Nguyễn Quang Thiều và nay Mai Văn Phấn lại tung ra những đoạn chữ mà người ta gọi là thơ cùng những suy nghĩ gần như rập lại các nói cách, tư duy của người nước ngoài cụ thể là tư duy của dân đất mới châu Mỹ. Trong suy nghĩ người Việt rất kiêng kị khi nói về quạ (quan điểm cổ xưa đó là loài chuyên mang điều gở) nay Mai Văn Phấn lại mô phỏng cách nghĩ nước ngoài cũng nói về con quạ với những câu gọi là thơ giống như thơ dịch, với kiểu tư duy và cách đặt câu xa lạ với ngôn ngữ, tư duy truyền thống của người đọc xứ ta kiểu “Con cá nhẩy vào đám mây tự vẫn (Biến tấu con quạ); Rồi lảm nhảm, loằng ngoằng nói về mái nhà như một người đang học nói tiếng Việt: “Thùng rác quay mắc phải khung ảnh, quạt trần, dây điện thoại. Chiếc quần lót mặc kẹt giữa tủ bát đĩa và máy tập thể hình. Chổi cùn, bình diệt muỗi, đĩa CD chui vào tủ lạnh …” (Chạy theo mái nhà). Trời ạ, thế mà người ta dám gọi là thơ thì thật là liều...”
 
 
Riêng luận điểm này, ông chỉ nêu mà không hề phân tích và chứng minh Nguyễn Quang Thiều, Mai Văn Phấn và một số nhà thơ liên đới giống nước ngoài chỗ nào, việc dẫn thêm tập Lá Cỏ của Walt Whitman trong loạt bài phê bình này cũng chẳng có phép so sánh hay đối chiếu nào từ ý tưởng, cảm quan, ngôn ngữ, ý niệm, khái niệm, tư tưởng giữa những nhà thơ này, ông chỉ phán đúng một vấn đề “xanh rờn” là họ học lối viết nước ngoài, giọng thơ của họ lai căn nước ngoài. Độc giả có đọc nổ con mắt cũng không thấy được một câu thơ nào của Walt Whitman trong bài, càng mù tịt về cái sự mà ông gọi là lai căn của Nguyễn Quang Thiều và Mai Văn Phấn.
Và, không biết ông đào đâu ra cái điềm gở của loài quạ trong quan niệm chỉ có duy nhất người Việt mà nước ngoài không kiêng kị loài quạ? Xin thưa với ông là tôi kính nhờ ông nêu thử có bao nhiêu nước trên thế giới này không lồng ghép hình ảnh loài quạ với xác chết, với điềm gở? Hơn nữa, ông bảo rằng Mai Văn Phấn “lại mô phỏng cách nghĩ nước ngoài cũng nói về con quạ với những câu gọi là thơ giống như thơ dịch, với kiểu tư duy và cách đặt câu xa lạ với ngôn ngữ, tư duy truyền thống của người đọc xứ ta kiểu “Con cá nhẩy vào đám mây tự vẫn (Biến tấu con quạ); Rồi lảm nhảm, loằng ngoằng nói về mái nhà như một người đang học nói tiếng Việt…”Vậy, cụ thể Mai Văn Phấn đã học kiểu tư duy này của nước nào? Của ai? Hơn nữa, thế nào là tư duy truyền thống của xứ ta?
Nếu ông trả lời chuẩn xác được ba câu hỏi trên, thì chí ít ông cũng tránh được một mâu thuẫn của bản thân ông, đó là vừa chê bai người khác không có gì mới, không có sự cách tân, lại vừa cổ xúy cho cái gọi là “truyền thống”. Ngược lại, nếu ông không phân tích, chứng minh một cách cụ thể, có khoa học những gì ông nêu ra thì e rằng lâu nay ông đã bịp độc giả, lừa mị họ bằng thứ ngôn ngữ rỗng tuếch, đao to búa lớn… Ông đã rơi vào loại phê bình võ đoán, phán rơm.
“…Theo “Đại từ điển Tiếng Việt” (NXB Văn hóa Thông tin 1999 trang 1827) định nghĩa: “vô thức: ngoài ý thức của con người, trạng thái vô thức, hành động vô thức”. Nếu không có sự hiểu, hiểu biết, nhận biết, tức ý thức thì không còn là con người nữa, vì con người là con vật tự ý thức. Họ phán, chúng tôi làm thơ bằng vô thức, các ông lại lấy ý thức ra để phê bình thơ chúng tôi theo kiểu ông nói gà bà nói thóc lép là đánh tráo khái niệm?!
 
Thưa các quý ngài CÁCH TÂN THƠ đang làm kinh hãi thi đàn, hóa ra quý vị làm thơ trong giấc ngủ ư ? Nhưng sau khi quý vị thức dậy, không phải vô thức mà chính ý thức mách bảo với quý vị nhớ lại bài thơ quý vị viết trong giấc ngủ. Nhớ lại bài thơ viết trong lúc ngủ chính là một hành vi ý thức đấy. Rồi quý vị cầm lấy bút, viết lên giấy cái bài thơ được sinh ra bằng giấc mơ (khiếp thật) thì quả là các vị đã nằm trong vòm sinh quyển của ý thức mất rồi. Nói tôi làm thơ bằng vô thức chung quy là một cách nói bịp bợm…”.
Ý này ông đã đánh đồng vô thức với giấc ngủ, vậy ông hiểu gì về vô thức? Ông đọc ở đâu ra cái vô thức với giấc ngủ là một vậy? Hơn nữa, ông còn cố gắng chứng minh những nhà thơ cách tân là những người bịp bợm vì họ nói là họ viết bằng vô thức, nhưng khi cầm bút là họ đang thức, đang hồi tưởng giấc mơ…?
Xin thưa với ông Hảo, ông đã đọc không tới đầu tới đũa phân tâm học (mặc dù ông dẫn bằng cả tiếng nước ngoài!), bằng chứng là ông chỉ phân loại trạng thái tâm thức con người thành ba phần: Vô Thức; Tiềm Thức và Ý Thức. Ông chịu khó đọc thêm, con người, ngoài Vô Thức, Tiềm Thức, Ý Thức, còn có thêm Siêu Thức. Vấn đề này ông tự tìm thêm sách phân tâm mà đọc, tôi không có trách nhiệm chỉ cho ông biết cuốn nào đã chia như vậy. Điều tôi muốn nói ở đây là ông đã hiểu sai về chữ Vô Thức. Giả sử có một nhà thơ nào đó nói rằng họ viết trong vô thức, thì ông đừng nên hiểu họ đang viết trong giấc ngủ. Vì Vô Thức hoàn toàn không đồng nghĩa với giấc ngủ, ở một chừng mực nào đó, khi con người rơi vào trạng thái ngủ, cũng là lúc tiềm thức đồng thời cộng hưởng với vô thức và hoạt động song hành. Nhưng tuyệt nhiên, giấc ngủ không đồng nghĩa với vô thức, vô thức ở đây được hiểu là sự can thiệp của hệ thần kinh thực vật, ví dụ như tim của ông, ông không bảo nó đập nó vẫn cứ đập, bao tử của ông, ông muốn nó ngừng hoạt động cho đỡ thèm ăn thì nó vẫn cứ co bóp, tay chân của ông khi gặp lửa, ông có cố không rút lại thì nó vẫn cứ thụt vào, ông mộng du, u a, ú ớ và bước đi mặc dầu khi tỉnh dậy ông chẳng bao giờ muốn thế (xin đừng hiểu theo kiểu mộng du xảy ra lúc ngủ, vậy mộng du cũng đồng nghĩa với giấc ngủ nốt!).
Chữ Vô Thức của người sáng tạo/tác ở đây cần được hiểu nó không phải là thứ hành động mang tính thực vật, bởi lẽ, dù sao thì thi sĩ cũng không phải là bác sĩ thần kinh, càng không phải là nhà phân tâm học, nên cách dùng chữ chuyên môn của họ có thể nhầm lẫn. Rất tiếc là ở đây ông chỉ nói chung chung, không nêu ra một ai từng tuyên bố sáng tác bằng vô thức. Kiểu chơi này đôi khi na ná “gắp lửa bỏ tay người” hoặc “ngậm máu phun người”. Nếu là tôi, tôi sẽ nói rằng họ viết theo lối Automatic, lối ‘vô thức mặc định’. Cụ thể, yếu tố mặc định này liên quan đến sự cộng hưởng của ba yếu tố Ý Thức, Vô Thức và Tiềm Thức thông qua hành bút tự nhiên, không cần đến sự can thiệp của lý trí về mặt vần điệu, cấu tứ, nhạc tính, họa tính, dung lượng từ trên câu và trường độ cảm xúc… Ở một góc độ khác của phân tâm học, lối viết Automatic là lối viết khai thác Siêu Thức triệt để (đương nhiên sự “triệt để” này lại phụ thuộc vào căn tính, tài năng của mỗi cá thể sáng tạo).
Cái cách ông đồng nhất giấc ngủ với vô thức để chứng minh những người sáng tác có ý hướng cách tân là bịp bợm là một kiểu nói ác ý, nếu không nói là hằn học với đồng nghiệp (sáng tác thơ, vì ông cũng là nhà thơ), và bịp bợm đối với bạn đọc.
Đây là gì nếu không gọi là bóp méo khái niệm?

Kiểu viết ‘phán rơm’
Đọc đoạn này của ông:
“Còn đây là thơ của Mai Văn Phân trích trong tập thơ «Bầu trời không mái che» (NXB Hội nhà văn 2010) ; xin trích một đoạn đầu trong bài siêu dài của nhà thơ được giải thưởng Hội nhà văn VN :
 
CỬA MẪU
(trích từ bài thơ dài )
 
Mẫu nâng niu con ánh trăng
Tiếng chuyền cành tiếng hú
Da thịt con yêu trải sâu đêm tối
Dựng tầng mây mưa nguồn
 
Cành cây la đà mặt nước
Một con chim vừa đậu
 
Chỉ mình con thấy chú chim nhỏ kia rất xa con đường
Xa mảnh vườn những đàn chim khác
Con lặng lẽ đi qua vầng mặt trời đáy nước
Nhìn hương bầu trời mở đôi cánh
Ngọn cây vườn mỏ con chim
Đang cúi xuống mớm vào miệng con từng hớp gió
Tiếng hạt vỡ trong ngực
Bãi trống và quả xanh
Qua rừng sâu tán lá rậm rạp
....
 
Có trích cả nghìn câu văn xuôi tẻ nhạt xuống dòng liên tù tì này mạo nhận là thơ của tập thơ được giải thưởng của Mai Văn Phấn, cũng tịnh không tìm thấy một câu thơ hay đích thực. Chúng tôi, với tài hèn sức mọn, xin lỗi, nếu cần phải ngoáy nhanh hơn chuột chạy, trong một ngày, chúng tôi có thể ngoáy tới cả chục tập thơ được giải na ná chất lượng như « Bầu trời không mái che » này. Xin ứng tác luôn trên máy vi tính để thi thố « tài năng » với Mai Văn Phấn bằng một thi pháp bông phèng của ông Phấn, như sau :
 
KHÉP LẠI
 
Em khép lại, khép lại thời cuộc
Cá nhảy trên guốc dép
Môi mắt em muộn phiền con rắn mối
Sông đùn lên tình anh xanh xanh
 
Con mèo hoang bay lên từ buồn buồn
Bướm đậu lên râu cá trê phi
Khép lại, khép lại mặt trời sám hối cũ
Ai đang mở ra mà ta khép lại ha ha
Có thiên lôi tình ái im phắc
Màu xanh đi trên đất chan chứa
Mở ra sự khép lại trinh nguyên...
 
(Hết thơ bắt chước Mai Văn Phấn)
 
Xin quý vị đọc tiếp đoạn cuối trường ca «NHỊP IX» của tập thơ Mai Văn Phấn viết rất kinh hãi như sau :
 
Những con sơn dương tràn xuống đồng bằng
Phía sau bụi tung, đá lở
Lao vun vút mũi tên
Dây cung bật lên phút chốc
 
Đây trời cỏ
Đại dương cỏ
Phơi phới lời sông hồ
 
Mũi tên xuôi gió về đích
Từng vạt cỏ bị bứt tỉa, đốn gục
Nghiền nát trong hàm răng sắc
 
Bầu trời vỡ tiếng gọi đàn khoái cảm đêm đen
Bước bước sơn dương
 
Mặt cỏ phun nhuệ khí trùm lấp
Phấn khích giờ tạo thiên lập địa
Mùa mới đợi chờ cỏ xanh cắt sát gốc
 
Những móng vuốt tì chân cỏ bật căng
Cỏ non kinh động
Càng chồi lên mở lại những chân trời »
 
(hết trích «thơ» Mai Văn Phấn)
 
Còn đây là «thơ» ứng tác viết liền của tác giả bài phê bình thơ này, mô phỏng thi pháp bông phèng Mai Văn Phấn :
 
MŨI TÊN EROS
 
Hắn chút chút rình rập vũ trụ
Hắn bắn ai là tình yêu tử thương
Mũi tên hắn ghê gớm hơn bom A bom H Bắc Triều Tiên
Hắn làm anh và em gục ngã ư ử
Ta rên xiết trong cơn động tình giãy chết
 
Em ơi em ơi đi đường nào cũng tiêu
Đi xuống địa ngục cũng gặp anh
Chết rồi hắn vẫn tìm hồn ta bắn tên
Chạy đi chạy đi như loài sơn dương trong thơ Mai Văn Phấn
Hắn be bé mà bay nhanh hơn tên lửa Tô-Ma-hốc
Nhưng không có hắn
Thế giới này buồn như con chuồn chuồn
Chúng ta hoan ca, tình ca, quỷ ca vì có hắn
Không ai rên xiết vì hạnh phúc
Nếu thế giới này thiếu hắn
Hắn là cỏ non, lúa mạch hay rượu nho ?
Không
Hắn là em và anh vừa hóa thân vào con rắn
Hắn là thần tình yêu, thấn chiến tranh của đôi lứa
Eros, em ơi, em ơi »
 
(hết thơ mô phỏng bút pháp tào lao của Mai Văn Phấn)
 
Nếu chê hai tập «Hoan ca» của Đỗ Doãn Phương và «Bầu trời không mái che» của Mai Văn Phấn vừa đoạt giải thưởng thơ Hội Nhà văn VN là hai tập thơ dở thì lời chê ấy lại hóa ra lời khen chúng. Vì hai tập văn xuôi tẻ nhạt năng xuống dòng, dễ dãi, tào lao, bông phèng kia có phải là thơ đâu...mà bảo nó là thơ dở ?...”.
 
 
Tôi xin phép phân tích ngắn để so sánh giữa “Cửa Mẫu” của Mai Văn Phấn và “Khép Lại” của ông để thấy sự khác biệt hoàn toàn giữa hai thứ mà ông cho rằng nó giống nhau, ông có thể mô phỏng, làm cả ngàn bài…
Mẫu nâng niu con ánh trăng
Tiếng chuyền cành tiếng hú
Da thịt con yêu trải sâu đêm tối
Dựng tầng mây mưa nguồn
Mở đầu của đoạn thơ này là một phức cảm, đi từ ánh sáng đến âm thanh, nhục thể, và ý hướng Hình nhi thượng… Nhằm mô tả một thứ âm thanh, hình ảnh khác được khởi lên từ vô thức, tiềm thức thông qua sự chứng nghiệm, trải nghiệm của ý thức để rồi phác họa trên câu chữ, con chữ ở đây đóng vai trò minh họa, mô phỏng cho dòng chảy của phức cảm phía sau nó.
Cành cây la đà mặt nước
Một con chim vừa đậu
Tiếp theo là một nét chấm phá, được tách riêng thành một khổ (đương nhiên kĩ thuật tách khổ hoàn toàn dựa vào ý thức) nhằm mô phỏng một cái bóng khác của đời sống vừa mang mang chiêm bao vừa ngây ngây thực tại. Nó hiện hữu cũng đồng nghĩa với sự hiện hữu của người thơ.
Chỉ mình con thấy chú chim nhỏ kia rất xa con đường
Xa mảnh vườn những đàn chim khác
Con lặng lẽ đi qua vầng mặt trời đáy nước
Nhìn hương bầu trời mở đôi cánh
Ngọn cây vườn mỏ con chim
Đang cúi xuống mớm vào miệng con từng hớp gió
Tiếng hạt vỡ trong ngực
Bãi trống và quả xanh
Qua rừng sâu tán lá rậm rạp
....
Đây là một lời giãi bày, một kiểu tự sự chông chênh giữa mộng và thực, giữa một thực thể phi ý thức này (Con) với một biểu tượng phi thời gian kia (Mẫu). Toàn bộ khổ thơ là một sự hàm ơn, nỗi hân hoan của một thực thể vừa trực nhận, vừa được quán chiếu vào sự sống thường hằng, vừa nhìn thấy ý nghĩa của đời sống cùng mối tương quan sinh tử của nó trong một khoảnh khắc dị biệt chỉ riêng người thơ nắm chớp.
Với bài “Khép Lại” của ông Hảo:
Em khép lại, khép lại thời cuộc
Cá nhảy trên guốc dép
Môi mắt em muộn phiền con rắn mối
Sông đùn lên tình anh xanh xanh
Khổ thơ mở đầu được viết trên một tâm thế hoàn toàn tỉnh táo, giọng thơ vừa tự sự vừa đẩy mình về một góc khác để phán xét đối tượng “em” mà có thể đối tượng đó cũng chính là người thơ. Những hình ảnh cá nhảy trên guốc dép, đôi mắt em muộn phiền con rắn mối và sông đùn lên tình anh xanh xanh vừa mang tính giễu nhại về một cuộc tình nào đó, vừa là một kiểu ghi chép cảm xúc, hoàn toàn không mang bóng dáng, hình hài của thực thể phi ý thức cũng như biểu tượng phi thời gian.
Bước chuyển sang khổ cuối, không tạo nhịp rớt bằng hai câu chấm phá như “Cửa Mẫu”:
Con mèo hoang bay lên từ buồn buồn
Bướm đậu lên râu cá trê phi
Khép lại, khép lại mặt trời sám hối cũ
Ai đang mở ra mà ta khép lại ha ha
Có thiên lôi tình ái im phắc
Màu xanh đi trên đất chan chứa
Mở ra sự khép lại trinh nguyên...
Từ hình ảnh “con mèo hoang bay lên từ buồn buồn”, “bướm đậu trên râu cá trê phi…”, “Ai đang mở ra mà ta khép lại ha ha”, “thiên lôi tình ái im phăng phắc”, cho đến “Mở ra sự khép lại trinh nguyên…” Là một kiểu chơi chữ dựa hoàn toàn vào sự can thiệp và phân bổ hình ảnh, cảm xúc của lý trí. Toàn bài thơ mở ra một sự trống rỗng của ái tình đánh mất và những cảm nhận, hờn trách, tiếc nuối, đau khổ (đến độ điên điên) của người thơ. Nó viết thì như điên như dại, nhưng càng đọc, càng cảm càng thấy nó rất tỉnh và hơi luận đề tình yêu, hơi vô duyên.
Ở đoạn trích trường ca NHỊP IX của Mai Văn Phấn, đem so sánh với MŨI TÊN EROS của ông, cũng chẳng có điểm nào giống nhau hoặc na ná nhau từ cấu trúc cho đến cú pháp, ngữ nghĩa, ý niệm, tâm thế sáng tạo… Vậy tôi không hiểu cái chữ “mô phỏng” hoặc “bắt chước” ở đây ông dùng theo nghĩa gì?
Và, nếu thật sự ông cho rằng giữa mấy bài thơ của ông và mấy khổ thơ của Mai Văn Phấn, Đỗ Doãn Phương… là một sự mô phỏng hay sự bắt chước để thông qua đó giễu nhại họ thì ông hoàn toàn có lý của ông. Vì đó là cái lý của người không biết, mà không có ai trách người không biết cả. Trách nhiệm của người thấy/biết là chỉ cho người chưa thấy/biết cái mình đã sở đắc nhằm tránh tình trạng ‘phán rơm’ như ông đang gặp phải.
Vài lời cùng ông trong một bài viết ngắn, ý rời, nói chưa hết, xin hẹn gặp ông ở bài tới tôi sẽ phân tích kĩ hơn cái khái niệm ‘phán rơm’ mà tôi đã ghép cho ông. Xin chúc ông sức khoẻ, vui vẻ!

Liêu Thái


Phần nhận xét hiển thị trên trang

EM GÁI CỦA VỢ RỦ TÔI NẾM TRÁI CẤM…!!!



Tôi và bạn gái xinh đẹp của tôi đã hẹn hò được hơn 1 năm và chúng tôi đã quyết định đi đến hôn nhân trong thời gian tới. Mọi thứ đều tươi đẹp đối với tôi trong thời gian này chỉ có một điều duy nhất làm tôi phân tâm đó là ....... cô em gái xinh đẹp của bạn gái tôi.

Cô em vợ tương lai của tôi năm nay 22 tuổi, hay mặc những chiếc áo bó sát người và thường thì là không mặc áo trong. Cô ấy luôn cúi thấp người mỗi khi đứng cạnh tôi và dường như luôn để cho tôi 1 góc nhìn không thể "chuẩn" hơn.. Tôi không thể không để tâm tới chuyện này bởi vì cô em vợ tương lai của tôi không bao giờ làm điều tương tự với những người khác.

Vào một ngày đẹp trời, cô em vợ tương lai bé bỏng và xinh đẹp của tôi gọi điện thoại cho tôi và mời tôi đến nhà để kiểm tra lại giấy mời cho đám cưới. Khi tôi đến chỉ có mình cô ở nhà, cô đến bên tôi và thì thầm với tôi rằng cô rất yêu tôi và không thể cưỡng lại được tình cảm của mình. Cô nói rằng cô muốn có tôi dù chỉ một lần trong đời trước khi tôi làm đám cưới với chị của cô ta.

Lúc đó tôi không thể thốt ra một lời nào và cảm thấy rất lúng túng thì cô ta nói "bây giờ em sẽ lên phòng của em trên gác, nếu anh muốn thì hãy lên đó với em ".

Tôi đứng im như pho tượng và nhìn cô ấy đi lên gác. Tôi đứng đó như vậy một lúc rồi quyết định quay lại thẳng tiến ra cửa trước. Tôi mở cửa và đi thẳng đến chiếc ô tô của mình.

Thì lạ chưa kìa, trước mắt của tôi là cả gia đình nhà vợ chưa cưới của tôi đang đứng đó và vỗ tay. Với đôi mắt rơm rớm nước và giọng nói xúc động, Bố vợ tương lai của tôi nói với tôi rằng "Gia đình ta rất vui sướng khi con đã vượt qua được bài kiểm tra nhỏ của ta.. Ta sẽ không thể tìm đâu ra được một người đàn ông tốt và xứng đáng hơn hơn con cho con gái của ta. Chào mừng con đến với gia đình ta!"

Tôi đã vượt qua được THE WEDDING TEST. Tôi quả thật là một người may mắn.

Ý nghĩa của câu chuyện này là: Hãy luôn để bao cao su trong ô tô của bạn!!!
Chúc bạn thành công ^

Phần nhận xét hiển thị trên trang

HẢO NỈ HẢO?


Sự dễ dãi không làm nên giá trị thi ca
Trần Mạnh  Hảo

TNc: Chúng tôi vừa nhận được  bài phản hồi ý kiến của Liêu Thái của nhà thơ TMH. Chúng tôi tôn trọng những ý  kiến khác nhau và cố giữ một thái độ khách quan. Chỉ xin các bài tranh luận  không nên động chạm đến đời tư như thói quen của một số tờ báo, nhà đài yếu lí  lẽ.  
Nhân đọc bài của tác giả Liêu Thái trên báo mạng của nhà văn  Trần Nhương : http://trannhuong.com   :  “Trần Mạnh Hảo - một kiểu ‘phán rơm’ trong văn học”, chúng tôi có mấy lời thưa  riêng với ông ( hay bà?) Liêu Thái và các quý độc giả như sau.
Tuy nhiên, bài này ông Liêu Thái đã in trước tiên trên  website Tiền Vệ
Trần Mạnh Hảo – một kiểu ‘phán rơm’ trong phê bình văn học   [đối thoại] http://tienve.org/home/activities/viewThaoLuan.do?action=viewArtwork&artworkId=14994

Mở đầu, Liêu Thái viết :
Trong các bài “Trạng nguyên thơ, hay là Trạng... nguyên  hình?” và “Sao Hội nhà văn Việt Nam lại hè nhau tiễn thi ca lên đoạn đầu đài?”,  ông đưa ra và trích những luận điểm cơ bản để cho thấy: Mai Văn Phấn, Đinh Thị  Như Thúy, Đỗ Doãn Phương, Từ Quốc Hoài không phải là những tài năng thi ca, sự  cách tân của họ là “vô lối”, và những trạng nguyên thơ này không xứng  đáng.”
Rất lạ, hai bài viết của chúng tôi đã in trên các blog và  website, tuy chúng tôi có gửi cho Tiền Vệ nhưng web này không cho in; cớ sao nay  Tiền Vệ lại dùng Liêu Thái để lên án chúng tôi bằng những từ ngữ ghê gớm mà  không hề chứng minh .
“ông Trần Mạnh Hảo là người viết cẩu thả, thiếu tính  khoa học, võ đoán và có đôi chút hằn học nào đó ẩn chất bên trong bài viết của  ông.”…“mặc sức la lối, chê bai, thậm chí mắng nhiếc tác giả”…“oang oang chê,  oang oang mắng nhiếc người khác.”…“Đây là gì nếu không phải ông rất rành kĩ  thuật tìm đồng minh để đánh hội đồng một ai đó bằng cách xếp người sắp bị đánh  vào phe đối lập, “phe đỏ”, vào vị trí việt gian rồi sau đó mặc sức đấu tố, sỉ  vả, khiến cho người ta tối mặt tối mày, không có đường ra vì ra hướng nào cũng  gặp cửa tử?!”…“ông đã bịp độc giả, lừa mị họ bằng thứ ngôn ngữ rỗng tuếch, đao  to búa lớn… Ông đã rơi vào loại phê bình võ đoán, phán rơm”.
“Chính vì thái độ quá xem thường độc giả (trong đó có  tôi) của ông Trần Mạnh Hảo mà tôi buộc phải ngồi vào bàn viết những ý rời  này.”.. “luận điểm không logic”…“biết kĩ thuật đánh người”…“thiếu thao tác phân  tích khi đưa ra những phán xét có tính sinh sát tới tác giả mà ông nhắc đến;”…   “Cố tình bóp méo những khái niệm hầu chứng minh là mình đúng”…” Viết bằng một  thái độ hằn học của lối phê bình ‘phán rơm’.”… “gắp lửa bỏ tay người” hoặc “ngậm  máu phun người”

Trước hết chúng tôi xin thưa với ông Liêu Thái về một từ  rất lạ, một khái niệm mới ông đưa ra là từ “Phê bình “ Phán rơm””. Khái niệm “  phê bình phán rơm” chưa có trong từ điển, càng chưa có trong các khái niệm học  thuật, của riêng ông Liêu Thái khiến chúng tôi chửa minh tường. Ông Liêu Thái có  thể trình lên Uỷ ban từ điển quốc gia, xin cấp bằng phát minh ra từ ngữ mới,  khái niệm học thuật mới; hi vọng ông có thể được thưởng tiền. Nhưng trong đơn  xin cấp bằng phát minh ra từ vựng mới, ông nên nghe chúng tôi mà chua những lời  gợi mở này. Lời ấy như sau :
Khái niệm “phê bình “ phán rơm” “ là một khái niệm đa ngữ  nghĩa chiết ra từ phương pháp luận hậu hiện đại, gồm các nghĩa con được trích (  triết) ra từ nghĩa mẹ như sau:
-nghĩa một : “phê bình “ phán rơm” là cách gọi những tay ngứa  mồm hay đả kích những người phơi rơm trên đường
- nghĩa hai : diễu cợt những  kẻ hay chỉ trích người khác mà đầu óc mình rối tung như có rơm rạ lợp trên  đầu
- nghĩa ba chê trách những người nông dân không biết đánh đống rơm cho  đúng cách
- nghĩa bốn : chê bai những nhà phê bình hay phán lung tung như rơm  như rác
-nghĩa năm : diễu cợt các ông phán thời xưa giàu nhưng ngô nghê như  bù nhìn rơm…
Thưa ông Liêu Thái, trong các ý nghĩa con của khái niệm từ  ngữ mẹ “ Phê bình phán rơm” trên của ông, ông dành cho chúng tôi ý nghĩa nào ạ  ?
Sau khi kết tội chúng tôi một lô một lốc những sai trái, bậy  bạ mà không hề dẫn chứng, ông Liêu Thái đùng đùng trích dẫn rất dài nhiều đoạn  trong hai bài viết của chúng tôi vừa dẫn trên. Do ông không đọc kỹ hai bài viết  của chúng tôi, mắt nhắm mắt mở vì phương pháp luận “ phê bình phán rơm” đắc ý  ông vừa tìm được, bụng dạ hí hửng tên Trần Mạnh Hảo già mồm kia có mà ngạt thở  vì rơm ngôn từ Liêu Thái ta phủ nhà ngươi ngạt thở, nên ông đã chữ tác đánh chữ  tộ, nhầm lẫn cho những lời nhà phê bình Đỗ Ngọc Yên và nhà văn Nguyễn Hiếu là  lời của Trần Mạnh Hảo. Và thế là TMH tôi tự nhiên bị thế mạng cho hai đồng  nghiệp kia. Chao ôi, là ông Liêu Thái, rơm với chẳng rạ, phê với chẳng  bình…
Xin ông Liêu Thái đọc kỹ bài của chúng tôi, xem ông đang “  đánh ai” : Trần Mạnh Hảo hay Nguyễn Hiếu hay Đỗ Ngọc Yên ? Ông trích ra lời  Nguyễn Hiếu và Đỗ Ngọc Yên trong bài viết của tôi rồi đổ cho tôi viết. Phê bình  phê bèo như vậy mà ông cứ giả vờ tỏ ra uyên với bác, khoa với học, thưa ông Liêu  Thái . Ông Liêu Thái trông chàng hiu ngỡ có tía mà viết với chả lách lầm lẫn tức  cười như sau :
“Và, trong một luận điểm khác, ông viết/trích: “Ngôn ngữ, tư  duy của người Việt ta khác hẳn ngôn ngữ, cách tư duy nước ngoài. Vậy mà Nguyễn  Quang Thiều và nay Mai Văn Phấn lại tung ra những đoạn chữ mà người ta gọi là  thơ cùng những suy nghĩ gần như rập lại các nói cách, tư duy của người nước  ngoài cụ thể là tư duy của dân đất mới châu Mỹ. Trong suy nghĩ người Việt rất  kiêng kị khi nói về quạ (quan điểm cổ xưa đó là loài chuyên mang điều gở) nay  Mai Văn Phấn lại mô phỏng cách nghĩ nước ngoài cũng nói về con quạ với những câu  gọi là thơ giống như thơ dịch, với kiểu tư duy và cách đặt câu xa lạ với ngôn  ngữ, tư duy truyền thống của người đọc xứ ta kiểu “Con cá nhẩy vào đám mây tự  vẫn (Biến tấu con quạ); Rồi lảm nhảm, loằng ngoằng nói về mái nhà như một người  đang học nói tiếng Việt: Thùng rác quay mắc phải khung ảnh, quạt trần, dây điện  thoại. Chiếc quần lót mặc kẹt giữa tủ bát đĩa và máy tập thể hình. Chổi cùn,  bình diệt muỗi, đĩa CD chui vào tủ lạnh … (Chạy theo mái nhà). Trời ạ, thế mà  người ta dám gọi là thơ thì thật là liều...” (Trích: Trạng nguyên thơ, hay là  Trạng... nguyên hình? ).”

Nói chung, hầu như trong hai phần ba bài viết,  Liêu Thái toàn dẫn lời nhà văn Nguyễn Hiếu hoặc Đỗ Ngọc Yên ( do tôi trích) ra  để cho là chính Trần Mạnh Hảo đã viết thế, rồi thay vì “chơi” Nguyễn Hiếu, Liêu  Thái lại dùng món võ rơm “ chơi” Trần Mạnh Hảo …

Xin quý vị đọc tiếp đoạn ông Liêu Thái nhầm Nguyễn Hiếu  ra Trần Mạnh Hảo, theo phương pháp luận “ trông gà hóa quạ”  :
“Và, không biết ông đào đâu ra cái điềm gỡ của loài quạ trong  quan niệm chỉ có duy nhất người Việt mà nước ngoài không kiêng kị loài quạ, xin  thưa với ông là tôi kính nhờ ông nêu thử có bao nhiêu nước trên thế giới này  không lồng ghép hình ảnh loài quạ với xác chết, với điềm gở? Hơn nữa, ông bảo  rằng Mai Văn Phấn “lại mô phỏng cách nghĩ nước ngoài cũng nói về con quạ với  những câu gọi là thơ giống như thơ dịch, với kiểu tư duy và cách đặt câu xa lạ  với ngôn ngữ, tư duy truyền thống của người đọc xứ ta kiểu “Con cá nhẩy vào đám  mây tự vẫn (Biến tấu con quạ); Rồi lảm nhảm, loằng ngoằng nói về mái nhà như một  người đang học nói tiếng Việt…”  Vậy, cụ thể Mai Văn Phấn đã học kiểu tư duy này  của nước nào? Của ai? Hơn nữa, thế nào là tư duy truyền thống của xứ ta?”
Gần một phân nửa bài, ông Liêu Thái dùng để giải nghĩa, có ý  dạy chúng tôi hiểu đúng khái niệm “vô thức” của S.Feud…và khái niệm viết ( làm  thơ kiểu) “lối viết Automatic VIẾT NHƯ MỘT CHIẾC MÁY TỰ ĐỘNG là lối viết khai  thác Siêu Thức triệt để” của trường phái siêu thực Pháp đầu thế kỷ thứ 20 đã bị  bỏ qua…
(phương pháp sáng tạo tự động (automatic writing), liên tưởng tự do  (free association) và các giấc mơ)
Chỉ cần một học sinh lớp chín biết dùng con chuột, vàohttp://google.com đánh máy từ khóa : Phân tâm học  S.Feud hay thơ siêu thực Pháp Automatic là có thể tường minh hơn nhiều cái bài  vớ vẩn ngô nghê ông Liêu Thái giảng cho tôi về phâm tâm học với vô  thức....
Đoạn, Liêu Thái lấy những câu thơ của trường phái thơ “ Tân  …con cóc” ( hậu…con cóc) ra bình bừa phứa, khen ngợi tù mù, vô lối như sau  :
Tôi xin phép phân tích ngắn để so sánh giữa Cửa Mẫu của Mai  Văn Phấn và Khép Lại của ông để thấy sự khác biệt hoàn toàn giữa hai thứ mà ông  cho rằng nó giống nhau, ông có thể mô phỏng, làm cả ngàn bài…
Mẫu nâng niu  con ánh trăng
Tiếng chuyền cành tiếng hú
Da thịt con yêu trải sâu đêm  tối
Dựng tầng mây mưa nguồn
Mở đầu của đoạn thơ này là một phức cảm, đi từ  ánh sáng đến âm thanh, nhục thể, và ý hướng Hình nhi thượng… Nhằm mô tả một thứ  âm thanh, hình ảnh khác được khởi lên từ vô thức, tiềm thức thông qua sự chứng  nghiệm, trải nghiệm của ý thức để rồi phác họa trên câu chữ, con chữ ở đây đóng  vai trò minh họa, mô phỏng cho dòng chảy của phức cảm phía sau nó.
Cành cây  la đà mặt nước
Một con chim vừa đậu
Tiếp theo là một nét chấm phá, được  tách riêng thành một khổ (đương nhiên kĩ thuật tách khổ hoàn toàn dựa vào ý  thức) nhằm mô phỏng một cái bóng khác của đời sống vừa mang mang chiêm bao vừa  ngây ngây thực tại. Nó hiện hữu cũng đồng nghĩa với sự hiện hữu của người  thơ.
Chỉ mình con thấy chú chim nhỏ kia rất xa con đường
Xa mảnh vườn  những đàn chim khác
Con lặng lẽ đi qua vầng mặt trời đáy nước
Nhìn hương  bầu trời mở đôi cánh
Ngọn cây vườn mỏ con chim
Đang cúi xuống mớm vào  miệng con từng hớp gió
Tiếng hạt vỡ trong ngực
Bãi trống và quả  xanh
Qua rừng sâu tán lá rậm rạp
....
Đây là một lời giải bày, một kiểu  tự sự chông chênh giữa mộng và thực, giữa một thực thể phi ý thức này (Con) với  một biểu tượng phi thời gian kia (Mẫu). Toàn bộ khổ thơ là một sự hàm ơn, nỗi  hân hoan của một thực thể vừa trực nhận, vừa được quán chiếu vào sự sống thường  hằng, vừa nhìn thấy ý nghĩa của đời sống cùng mối tương quan sinh tử của nó  trong một khoảnh khắc dị biệt chỉ riêng người thơ nắm chớp.
Qủa là xứng đào, xứng kép : những câu thơ dễ dãi viết linh  tinh vô lối theo trường thơ “ Tân …con cóc”  của Mai Văn Phấn thật xứng với  những lời bình tơ lơ mơ, tù lù mù cũng rất vô lối, rất sống sượng, rất sến, rất  vớ vẩn vi vu, áp đạt theo trường phê bình “ hậu…con cóc” này của Liêu  Thái…
Chúng tôi xin ra mắt lối thơ Automatic- tân máy tự động,  tân…con cóc bằng hai bài tặng ông Liêu Thái và các thi hữu trường thơ viết như  máy tự động không cần tâm hồn, tư tưởng hay cảm xúc, cóc cần hay dở, cóc cần tài  năng. Nè thơ tôi mô phỏng trường phái đại dễ dãi, đại bông phèng của các ông,  xin đọc :

CON CÓC CỦA ĐỜI TÔI
Ơi những con cóc Làng Chiền vẫn ồm ộp thơ tôi
Ồm  ộp cả đời tôi những vần thơ cóc cáy
Những con cóc chết vẫn phơi trong lòng  tôi nỗi ngoại tình nhái bén
Ai chết rồi biến thành cóc cho tôi
Kìa thơ tôi  nhảy trên đường làng đớp mối
Con giun ơi hãy canh giữ cho hồn tôi những con  cóc bữa ăn của cậu ông trời nghèo khổ xù xì thiên lương núp gầm giường thế  sự
Những con cóc canh giữ tuổi thơ tôi tháng ba cả đất  trời giao hợp cóc
Những con cóc dạy thơ tôi úp thìa, dạy thơ tôi sáng tạo  nòng nọc chữ
Cóc chết rồi một trăm năm tôi vẫn quay hồn về làng cũ để thương  tâm
Cóc khóc đêm đêm đẫm lệ dế mèn cố hương ơi lầm lũi
những người đàn bà ăn thịt cóc thay cơm nhảy chồm chồm ra ruộng cấy
Làng  Chiền của em nâu da cóc bọc tâm hồn diễm lệ
Tôi khóc rống lên lời sông Đáy  thủy triều nứng mưa nguồn em tái giá
Mai này chết đi cho hồn tôi về Làng Chiền canh giữ  những con chó cái mồ côi chồng đêm đêm hóa bướm
Cho tôi làm con cóc tía của đời tôi
Hồn tôi cũng  ăn giun ăn mối ăn kiến mà trường tồn cùng Làng Chiền với cóc
Tôi khóc nấc lên  khúc thi ca Automatic Làng Chiền
Hết phỏng thơ Automatic tân…con cóc…hậu …con  cóc…
Xin ông Liêu Thái thương cho chúng tôi mà cho mấy công án “phê bình phán  rơm” ạ.


Thưa ông Liêu Thái
Những gì tạo ra bằng sự dễ dãi hầu  như rất ít giá trị
Thơ viết một cách dễ dãi, linh tinh, tào lao chi khươn như  trường phái viết như một chiếc máy tự động phi tâm hồn phi truyền cảm phi ý tứ  phi hàm súc như trường phái thơ các ông đang theo, tôi xin lấy cả mặt trăng liềm  đang nghiêng qua cửa sổ phòng tôi ngay lúc này mà cá với ông rằng, những ngữ thơ  đó hoàn toàn vô giá trị.,.
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Trích TT của Ngổ:



18.
Cuối cùng tôi cũng về đến nơi.
Thị xã bấy lâu tôi trú ngụ nhiều thay đổi đến không ngờ. Những cửa tiệm, cửa hàng tư nhân hầu hết đóng cửa.
Thi thoảng chỉ còn một hai hàng nước chè năm xu, bán mấy quả chuối, vài “cối” thuốc lá quấn. Đây là những hộ gia đình chính sách được ưu tiên. Một là thương binh, gia đình liệt sĩ, hai là cô đơn quả phụ, hay người tàn tật.
Tất thảy mọi sự mua bán bây giờ đều do nhà nước quản lý, có sự giám sát gắt gao của ban quản lý thị trường.
Cả vùng thị xã, duy nhất có hai nơi bán hàng ăn, uống. Một là ở bến xe, hai là bến phà phía đầu thị xã trên kia. Tất tật đều phải dùng đến tem phiếu theo tiêu chuẩn nhà nước, không phải ai cũng được cấp phát và chỉ có giới hạn.
Hàng bách hóa bán công nghệ phẩm sơ sài tập trung duy nhất một cửa hàng bách hóa trung tâm.
Chợ Tam Cờ vắng vẻ đến nỗi bọn trẻ con đá bóng được trong chợ không vị vướng người, không bị rầy la.
Những dẫy hàng trước đây vương vãi đầy lá khô, rác rưởi.
Không biết bác bá tôi giờ dọn hàng về đâu?
Khi về đến nhà tôi mới biết cả hai người đã lên huyện trên mượn đất của đồng bào “áo dài” để làm nương, sau hôm tôi về xuôi được ít ngày.
Thị xã của tôi, “thủ đô kháng chiến”, “thủ đô gió ngàn” như sau này các nhà thơ hay ca ngợi được chọn làm nơi thí điểm cải tạo công thương nghiệp. Chấm dứt giai đoạn kinh tế tư nhân tự phát, lạc hậu, có nguy cơ theo con đường tư bản chủ nghĩa, “bỏ qua giai đoạn quá độ, tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội”.
Cửa hàng nào cũng từng đoàn người xếp hàng rồng rắn từ sớm tới chiều không lúc nào dứt. Nhân viên phục vụ mặt đằng đằng, nghiêm nghị, luôn muốn thể hiện vai trò làm chủ xã hội, vai trò quan trọng của mình. Họ la lối, mắng mỏ khách như kẻ ăn, kẻ ở, không phải con người bình thường.
Chen mua được cái bánh bao bằng thứ bột mì đen dính đầy các con mọt hôi rình, cái bánh xốp bột ngô khô khồng khộc, hay cốc sữa đậu nành lõng bõng là một kỳ công! Người nào người nấy mồ hôi mồ kê nhễ nhõa, áo ướt đẫm như dính phải nước mưa.

Thỉnh thoảng một cô chú “lỏi tì”đen nhẻm, tay chân như vừa lau lỗ cống xong, ít hơn tôi vài tuổi, mắt trước mắt sau, rớn rác như chó ăn vụng bột, lén lút dí vào tay mời người ta mua vé ăn do chúng bằng cách nào đó “phe” được!
“Phe”, là chữ dùng không chỉ phe XHCN, hay TBCN, mà là “phe phảy” chỉ một hiện tượng xã hội mới mẻ, chưa từng có ở bất cứ thời kỳ xã hội nào trước đây. Một kiểu buôn bán lậu, cò con, trái phép kéo dài khá lâu, mãi tới hết thời kỳ “bao cấp”sau này. Thời kỳ mà con người luôn có sự buồn bã, lo lắng những thứ nhỏ mọn, vụn vặt không đâu, không đáng có cho cuộc sống hàng ngày.

Cho dù tôi có là người lơ đãng, thờ ơ hay quá chú ý về bản thân mình tới đâu thì khung cảnh trước mắt vẫn đập vào mắt tôi, không thể không chú ý.
Hơn nữa bụng tôi đang đói. Hàng phố đã lên đèn, chưa chắc tôi về kịp nhà bác bá bữa cơm chiều.
Bác bá đâu có biết tôi ngược trở lên để phần cơm?
Tôi vào một hàng ăn vừa mới được dựng lên trên bãi đất trống gần bến xe khách xuôi Hà Nội.
Nhà hàng mái lá cọ mới lợp chưa kịp héo, phên nứa vẫn còn tươi tương đối đông khách. Dân thường, bộ đội đàn ông, đàn bà từng tốp ba lô túi xách đứng chầu chực bên ngoài. Có người chờ chực ở đây đã mấy ngày vẫn chưa mua được vé xe về Hà Nội hoặc đi đâu đó phía đằng xuôi đồng bằng, hay ngược lên vùng núi cao các tỉnh phía bắc.
Có thể ban đêm, vỉa hè nhà ăn này cũng là chỗ ngủ qua đêmcủa họ vì chưa có nhà trọ ở bến xe này. Tôi nhìn thấy những mảnh chiếu rải quanh những gốc cây gần đó chứng tỏ điều đó. Còn đến bữa tất nhiên người ta dùng cho xong việc. Khẩu phần là những thứ mua được từ trong cửa hàng.
Một hai người thì thầm mua bán với nhau những cái tem nho nhỏ, lớn hơn cái tem thư một chút. Đó là những cái tem lương thực có mệnh giá “hai tram hai lăm gam”. Cũng là lần đầu tiên trong đời tôi nhìn thấy tem đường, tem sữa, tem thịt, đậu phụ.. hình thù như thế nào.
Tôi chưa biết rằng nền “văn hóa tem phiếu” đang thịnh hành khắp nơi, trên nửa đất nước yêu quý của mình.
Những ngày qua tôi như sống trong giấc mơ đáng sợ, tôi chưa có thời gian, điều kiện để cảm nhận nó đang phát triển, lớn lên từng ngày.

Một cô bé có đôi mắt tròn đen láy, tóc tai bù xù, đi chân đất xuất hiện trước mặt tôi. Có lẽ cô chạc tuổi tôi hay ít hơn một chút. Cô nhìn tôi từ đầu đến chân như thể đo đạc dò xét. Đánh bạo hỏi:
- Anh giai cần gì?
Tôi suýt nữa bật cười! Từ bé đến giờ chưa có ai gọi tôi “anh giai” như thế. Nghe vừa có vẻ giễu nhạo lại vừa ân cần, thân thiết.
Tôi bảo:
- Tôi không cần gì cả!
- Tưởng “anh giai” cần cơm đây để lại cho?
- Giá cả thế nào?
- Thì giá nhà nước, bọn em chỉ tý hỏa hồng thêm thôi!
Cô đưa tôi tờ phiếu màu rơm xỉn ghi giá một đồng. Tôi lục túi chỉ còn đúng hai đồng bạc. Đây là số tiền còn lại, bà cụ Chước bảo là của mẹ tôi để lại, trao cho tôi. Tôi đưa cho cô một đồng. Cái vẻ thân thiện của cô mắt đen lập tức biến mất:
- Sao lại một đồng?
- Tôi tưởng giá vé như thế nên mới đưa như thế cho cô?
- Vơ vẩn, Tưởng bên Đài Loan chứ đâu ở đây? Thế còn tem phiếu không định trả tôi à?
Tôi nói mình không biết. Cô đòi thêm năm hào nữa, nói là tiền tem gạo. Lỡ rồi. Tôi đưa nốt cho cô cho xong việc rồi bước vào hàng ăn.
Tôi ngồi vào một bàn ăn nhớp nháp xếp đầy bát đĩa khách ăn xong chưa kịp dọn, chờ người ta mang đến. Một bác “sơn tràng” có con dao dựa thò lên từ túi ba lô lộn ngồi gần đó bảo:
- Phải vào trong kia xếp hàng mà lấy, ngồi đây có đến rằm tây đen cũng chẳng có ai mang ra đâu!
Tôi nhìn nét mặt, biết ông ấy nói thực, vội mang cái vé ăn ấy vào, rồng rắn đợi đến lượt lấy được xuất ăn của mình.
Đó là xuất cơm đơm lên cái đĩa men sứt to tướng, có hai miếng đậu phụ và ít rau muống sào phủ lên trên.
Cái bụng khốn nạn của tôi chả coi bữa ăn ấy ra gì. Ăn vào rồi mà mồm miệng vẫn thòm thèm như không!
Có lẽ đáp ứng được với nó, cần thêm hai đĩa như thế nữa mới ổn. Nhưng tôi bây giờ lấy đâu ra “xiền”?

( Còn nữa..)

Hát tiếp mọi người ơi!





















Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chảy máu chất…gái

Lê Tự 

Gái Việt đợi ở c.ty môi giới lấy chồng Đài Loan hoặc Đại Hàn
Chảy máu chất sám thì người ta nói lâu rồi, nói chán rồi, bây giờ không thấy ai nói nữa. Còn chuyện mất gái thì sao lại không thấy ai quan tâm các cụ nhỉ? Ô hay một quốc gia mà mất hết gái thì còn ra thể thống cống rãnh gì nữa chứ!

1.Mới đây thôi chúng tôi có chuyến quá giang qua biên giới ở cửa khẩu Lào Cai mấy tiếng đồng hồ.

Chợ Việt nam khá là rộng, ở ngay sát đường biên. Tầng 1 bán đủ loại hàng hoá, rất nhiều hàng hoá, không thiếu một cái gì trên đời, toàn là hàng tầu, tuy nhiên giá thì rất đắt. Tầng 2 chợ này là nơi bán dâm công khai, cò mồi môi giới lượn lờ khắp nơi tiếp thị tới những người mới ở Việt nam sang. Hàng trăm các cô gái Việt nam ngồi rải từ chân cầu thang lên tới hành lang tầng hai và thập thò trong những gian nhà cấp 4, lờ mờ. Theo người thạo tin thì gái Tầu cũng có nhưng rất ít và xấu lắm, tuy nhiên giá cả lại đắt gấp 3 lần gái Việt nam ta. Một ả môi giới công khai: “Rẻ bất ngờ, toàn em xinh lắm, gái việt 50 tệ, gái Tầu 150”. Nghe thấy thế mà thấy nhục quá đi thôi, gái ta xinh hơn mà giá lại bèo hơn là sao chứ, hay gái tầu có cái gì hoàng tráng hơn.

 Một ông bạn từng nhiều lần sang đây kể, gái Tầu chẳng hơn gì đâu, tuy nhiên từ Việt nam lặn lội sang đây cốt tìm hiểu gái Tầu nó thế nào thôi, lại gặp gái Việt thì tính làm gì chứ. Chính vì muốn biết mùi Tầu ra sao nên bọn bảo kê ở đây kiên quết đẩy giá gái Tầu lên cao hơn chót vót. Hắn kể tiếp, lần ấy một ông Việt mò mẫm sang đây cốt thử gái Tầu xem nó thế nào. Có em Việt nam giả danh gái Tầu, nói mấy câu đại thể: “Thúng mủng xảo, củ xu hoàn treo lủng lẳng, xẻng xúc xỉ…” ông này tưởng gái Tầu xịn liền vào nộp tiền chơi ngay. Đang vui, ông liền véo nó một cái vào vú, con này phản xạ tự nhiên kêu: “ái ái, đau quá anh ơi”. Biết là mình bị lừa, ông này điên tiết vả cho con ca ve ba nhát hộc máu mồm, vừa chửi: “Mẹ kiếp, con lừa đảo, bố mày sang đây cốt để trả thù bọn Tầu, ai dè lại trả thù đúng dân tộc mình thế này thì còn ra gì nữa chứ. Toi tiền!”. Con bé ca ve biết lỗi cứ van xin rối rít. Nhục đến thế là cùng, gái Tầu thì ra mẹ gì đâu mà phải giả danh nó chứ. Chẳng khác gì chó. Chó đã là khốn nạn nhất rồi mà còn giả chó (giả cầy) nữa thì vô văn hoá quá.

Có bao nhiêu giá Việt nam xuất ngoại làm phò thì ai mà thống kê được chứ. Chỉ biết rằng sang Trung quốc, sang Lào, Thái Lan, Cam pu chia…ở đâu cũng thấy ca ve Việt nam. Trên nhiều phương tiện thông tin đại chúng từng đã đưa, gái Việt nam đi làm ca ve ở nhiều nước trên thế giới, nhất là ở khu vực Đông nam á này. Sao lại nhục nhã thế hả các cụ ơi. Sao không thấy cụ nào có ý kiến gì thế nhỉ?
2. Đau lòng nhất có lẽ lại là chuyện bọn nước ngoài sang ta chọn vợ. Mỗi năm gái Việt xuất ngoại lấy chồng Đài Loan, Hàn Quốc… cả ngàn người, đông nhất là gái khu vực miền Tây nam bộ, khu vực gạo trắng nước trong, khu vực gái đẹp nhất nước. Mất gái là mất nhiều lắm đấy các cụ ạ. Trên thế gian này có bao nhiêu cuộc đại chiến cũng chỉ vì tài nguyên và gái đẹp. Nghĩ thấy mà nhục nhã, bọn chúng sang đây bắt gái ta phải cởi trần cởi truồng ra cho nó xem từng tí một, chỉ cần có 1 cái nốt ruồi trong người thôi là nó loại ngay. Bọn giai ngoại chọn vợ chỉ cần đẹp thôi, không cần trình độ, không cần lý lịch gia đình, thậm chí từng làm phò cũng được, miễn là hoàn hảo về mặt hình thức. Với tiêu chí ấy mà bao nhiều gái đẹp đã bị chúng nó cướp mất rồi!

Trên mạng có rất nhiều hình ảnh, bài viết về cảnh chọn vợ của bọn nước ngoài, nó xoi mói như thể xem một con vật ấy các cụ ạ. Đặc biệt bọn chúng rất chú ý xem “cái ấy” của chị em, chả hiểu để làm gì. Các cụ nhà mình từng nói “tắt đèn nhà ngói cũng như nhà tranh”, không quan trọng cái ấy, tuy nhiên bọn giai ngoại lại rất quan trọng cái của nợ ấy mới buồn cười chứ. Hình như bên họ khi làm tình với nhau không tắt đèn hay sao ấy.

Chảy máu chất… gái đang là một nguy cơ đấy các cụ ạ. Tuyệt đối không được xem thường. Theo tính toán thì chừng 20 năm nữa Việt nam ta sẽ thiếu gái trầm trọng, nhiều đàn ông sẽ không lấy được vợ, chả khác gì bên Trung quốc hiện nay, mấy bố con góp tiền mua chung một con vợ, nhục thế là cùng. Cấp báo, cấp báo!

3. Làm thế nào để giữ gái lại bây giờ hở các cụ ơi. Có lẽ chị em kéo nhau đi, bỏ quê cha đất tổ theo Tây theo Tầu cũng chỉ vì nghèo đói thôi. Bao nhiêu năm xây dựng CNXH rồi mà sao đất nước vẫn còn nhiều gia đình nghèo thế không biết. Bọn làm phong trào thi nhau báo cáo láo lấy thành tích, rằng số người nghèo năm nay giảm hơn năm trước cho vui thôi. Về nông thôn mới thấy hết cái nghèo khổ của hầu hết những gia đình nông rân, cảnh chị Dậu không phải là hiếm. Đi thôi, chị em dành phải đi lấy chồng ngoại thôi, có thế mới hy vợng đổi đời, mới hy vợng có chút tiền báo hiếu bậc sinh thành, nhục!

Phải giữ gái lại bằng bất cứ giá nào, các cụ ạ. Muốn chị em ở lại, muốn chị em không làm ca ve nữa thì chỉ có cách phát triển kinh tế mạnh lên, nhanh lên mà thôi. Trồng cây gì, nuôi con gì? Phương hướng thì đã có rồi đấy, cần một câu trả lời cho chính xác, ai trả lời được câu hỏi này thì hãy phát biểu lên đi!

Phần nhận xét hiển thị trên trang