Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Tư, 10 tháng 7, 2013

TỎ TÌNH



Ngày xửa ngày xưa, tại một nơi xa lắc xa lơ. Chàng thầm yêu trộm nhớ cô nàng hàng xóm xinh đẹp. Một hôm, nhân lúc gặp nàng vào rừng đào củ mài (vì nghiện Fb nên không còn gạo để ăn, phải đào củ mài ăn đỡ đói). Chàng tặng nàng một gùi đầy củ mài để lầy lòng người đẹp. Từ lâu nàng đã biết chàng có cảm tình với nàng. Cảm động vì … gùi củ mài, nàng mở lời gợi ý:
-Hình như anh có điều gì muốn nói với em?
Chàng nói:
-Anh định nói là từ nay em không phải nhọc công đi đào củ mài, cứ ở nhà lướt Fb.Từ bây giờ đến cuối đời, mỗi ngày anh sẽ tặng em một gùi củ mài.
Nàng nghe chàng nói từ nay nàng được lướt Fb thoả thích, nàng rất cảm động. Nàng nói:
-Ngoài việc mỗi ngày tặng em một gùi củ mài, anh không còn gì nói với em sao?
Nghe nàng nói vậy, chàng như mở cờ trong bụng:
-Em à, anh định nói cho em biết một việc rât quan trọng là “ Anh anh yêu em”.
Nàng nghe chàng nói vậy, nàng rất buồn. Anh của chàng đã ngoài 70 tuổi rồi, nàng thì lại trẻ trung xinh đẹp như vậy..
Chàng thấy nàng buồn, chàng chợt hiểu ra vấn đề. Chàng nói:
- Xin lỗi em, anh không định nói như vậy. Anh muốn nói là “Anh yêu em em”
Nàng nghĩ, thì ra từ trước đến nay anh ta tặng mình nhiều củ mài như vậy là vì anh ta yêu cô em gái 5 tuổi của mình, vậy mà mình cứ tưởng là anh ta yêu mình chứ. Sao lại có ngưởi không biết xấu hổ đến thế. Giận lắm, nàng bỏ đi một mạch.
Chàng chạy theo nói:
-Tại vì gặp em anh bối rối quá nên anh bị cà lăm. Thật ra thì anh muốn nói với em là “Anh anh yêu em em”
Đến nước này thì nàng không thể chịu đựng được nữa. Nàng bỏ chạy.
Bây giờ họ không còn gặp nhau nữa. Thỉnh thoảng họ gặp nhau trên Fb. Nhiều lúc chàng muốn nói với nàng câu nói mà bao nhiêu năm nay chàng không thể nói được. Cuối cùng chàng không dám nói, chàng sợ tình hình còn tệ hơn xưa vì chàng biết bệnh cà lăm của mình ngày càng trầm trọng.
Phần nhận xét hiển thị trên tran

g

Trích tiểu thuyết của Hồng Giang (phần tiếp theo)

17.
Người ta không có lý do gì để giữ tôi lâu. Vài ngày sau đêm bố tôi đào thoát cùng bác Hai Hìu, tôi được thả ra mà không ai nói lí do vì sao được thả, như không hề nói vì sao bắt giữ tôi hôm nào?
Đó là buổi sáng trời không một gợn mây, đằng đông nắng sớm le lói, báo hiệu trước một ngày nóng nực.
Thời đó chưa có bất cứ phương tiện nào dự báo thời tiết như bây giờ, nhưng nếu đo được, cũng khoảng ba bảy ba tám độ. Nhìn ra ngoài trời nắng ít phút là hoa cả mắt.

Vẫn người dong dỏng cao, dáng thư sinh gặp tôi trước lúc tôi được về. Anh ta không đả động gì đến chuyện giấy má hôm trước anh yêu cầu tôi làm. Có lẽ đó là một yêu cầu rất khó có người con nào chấp nhận. “Từ bỏ người sinh thành dưỡng dục mình không phải điều người ta dễ dàng thực hiện. Nó vừa vô đạo đức vừa phản nhân tính. Dù là người đầu óc tối tăm, ít học cũng phải nhận thấy như thế. Chỉ những kẻ táng tận lương tâm mới bất chấp mà làm”. Anh nói nhỏ với người cộng sự đứng gần đó, nhưng tôi nghe khá rõ.
Tôi không oán, không giận vì sao người ta giữ mình vô cớ từ hôm đó đến nay.
Tôi nhìn thấy nét mặt anh ta có vẻ ái ngại. Cũng là việc bất đắc dĩ phải làm, tôi biết anh cũng nghĩ như vậy. Anh bảo tôi hãy về cùng với mẹ tôi, cố gắng tìm bố tôi về. “Chủ trương của chính phủ luôn đúng đắn, không việc gì phải sợ. Nếu bỏ trốn vô tình là thú nhận là mình có tội hay sao? Không việc gì phải làm như vậy?”
Tôi chỉ gật đầu, không nói gì. Thực ra tôi cũng không biết vì sao bố tôi phải trốn tránh? Cũng không thể trả lời hay nói gì với người ấy vào lúc này!
Tôi bước nhanh ra khỏi khuôn viên ngôi đình, nơi người ta đang tụ họp rất đông làm kỳ đài trên một đám đất rộng, y hệt cảnh ngộ hôm tôi về từng thấy dọc đường.
Về đến nhà tôi không tìm thấy mẹ tôi đâu. Có mấy người gồng gánh nồi niêu, bát đĩa đang dắt bò, dắt chó đến buộc trước sân nhà.
Bà cụ Chước lưng còng, tay chống gậy, đôi mắt bị phủ màng đứng cạnh đầu hồi nhà ngang, chỗ mẹ tôi mọi ngày vẫn làm bún, làm bánh, thều thào nói nhỏ vào tai tôi:
- Cháu về bao giờ?
- Cháu vừa về ạ!
- Đã ăn uống gì chửa? Không thì sang nhà bà ăn tạm mấy củ khoai. Đừng đứng ở đây lâu, chỗ này người ta đã chia cho người khác ở rồi. Chả còn gì đâu cháu ạ!
Bà không đợi tôi nói gì, chống gậy lật đật đi ra ngõ. Hình như bà cụ không muốn cho ai nhìn thấy, nghe thấy những lời của mình vừa nói với kẻ không may mắn là tôi. Một thoáng sững sờ, không kịp nghĩ nhiều, tôi đi theo cụ.
Nhà cụ Chước chỉ cách nhà tôi một quãng. Bà cụ ở một mình trong ngôi nhà nhỏ lợp rạ chỉ có hai gian. Cụ bảo người ta cũng chia cho mình một nửa ngôi nhà ngang của nhà tôi. Sáng nay có người đến đưa cụ đến thăm trước lúc tôi gặp cụ chừng nửa canh giờ. Cụ nhất quyết không nhận. Cụ lấy cớ con giai cụ còn đang ở trong quân đội, ở một mình rộng rãi cụ ngại quét nhà. “Hơn nữa tôi chưa kịp hỏi nó có bằng lòng không đã”. Cụ nói thế. Thực ra là vì lý do khác, không tiện nói ra. Người ta bảo cụ:
- Đội đã ưu tiên cho gia đình cụ là người có công với nước. Cụ ông trước làm du kích bị gặc giết, con trai đang ở bộ đội. Đây là thành quả cách mạng, nếu cụ chê thì tùy cụ, sau này không được thắc mắc nữa đâu đấy!
Cụ chỉ “đa tạ, không dám, không dám, già cả rồi thắc mắc thắc mũi cái nỗi gì”. Họ đứng một lúc, xốc lại súng rồi kéo nhau ra đình.
Tôi theo cụ giữa hai hàng chuối mọc um tùm hai bên lối đi vào nhà cụ. Cái sân nhỏ lâu ngày thiếu bước chân người, rêu lên từng đám xanh ươm. Ngôi nhà có chỗ vách đã thủng, phải che vào đấy mấy tấm mo cau. Rõ ràng chỗ này không thể bằng ngôi nhà ngang bằng gỗ, lợp ngói của nhà tôi người ta chia cho cụ.
Không phải người nghèo nào cũng tham lam, độc ác, thừa cơ hội để chiếm lấy những thứ không phải của mình như sau này người ta hay kể về bần, cố nông thời ấy.
Bà cụ nói:
- Lành cho sạch, rách cho thơm. Chẳng qua là thời thế tạo nên, chứ bố mẹ, ông bà cháu bóc lột ai ở làng này? Ăn chắt hà tiện, dành dụm, lại biết làm ăn, cũng phải thức khuya dậy sớm chứ ăn không ăn hỏng của ai? Nhưng mà thôi cháu ạ. Mưa gió ở đời mãi cũng phải tạnh, chả như này mãi đâu?
Tự nhiên nước mắt tôi ứa ra, cay xè, đắng chát trên môi. Tôi cám cảnh cho thân phận của mình, hay cảm động vì nghĩa cử của bà lão nghèo mà tốt bụng? Có lẽ là cả hai.

Không riêng bà cụ Chước, gần nhà tôi còn có mấy hộ được chia. Họ bảo nhau cứ nhận, “Sau này bình thời, người ta về, muốn lấy lại mình trả. Nếu bây giờ không nhận đội lại nói mình “có vấn đề”, lôi thôi ra..”.
Sau này đúng như vậy thật. Trừ một nhà trong số người được chia hoa lợi của nhà tôi nhất quyết không trả, họ ở mãi đến sau này. Đó là nhà Tư tỏi, một lão chuyên trộm gà, buồng cau, trái chuối lại hay bài bạc trong làng. Đến đời con trai lão về sau bán lại cho người khác, đi khai hoang lên Yên Bái. Anh này có thời gian học sư phạm cấp tốc với tôi ở Thái Nguyên, thủ phủ khu “tự trị Việt bắc”.
Tự nhiên tôi thành kẻ không nhà. Bố tôi hiện ở đâu không ai biết. Mẹ tôi dặn lại bà cụ Chước giữ tôi ở lại nhà cụ đợi mẹ tôi về. Nếu không có lệnh của đội, mẹ tôi chắc hẳn cũng đi tìm bố tôi xem ông ở đâu? Làm gì?
Trước khi đi mẹ tôi gửi cụ chút tiền để tôi lấy cái ăn, đợi mẹ tôi về.
Lòng tôi tan nát, hoang mang. Tôi không biết mình nên làm gì trong lúc này? Cả tuổi thơ tôi sống trong sự yên ấm gia đình, tình yêu thương của cha mẹ, hàng xóm láng giềng.. Tôi chưa qua cảnh ngộ này bao giờ. Dù có lúc phải đi tản cư, ăn đói nhịn khát dọc đường, dù sao đói no vẫn có cha mẹ lo. Bây giờ tôi như chú gà con lạc mẹ, không biết sau rồi sẽ ra sao?
Bà cụ Chước mang cái rá xứt cạp, đựng mấy củ khoai nguội, thứ khoai lòng nghệ hồi ở nhà tôi rất thích. Sao bây giờ ăn cứ đắng ngắt, nghèn ngèn nơi cổ?
 Cụ bảo năm vừa rồi làng bị nước lụt, lúa má thối cả. Cả làng chủ yếu sống nhờ khoai, ngày tư, ngày tết mới có bát cơm gạo trắng. “Cứ ăn tạm, mai bà ra chợ đong lấy đấu gạo về nấu cháo cho mà ăn”. Bà nói làm tôi rơi nước mắt.
Đâu phải mình tôi chịu cực lúc này? Thiên tai, loạn lạc cả dân cả nước đói khổ, đâu chỉ mình tôi? Ý nghĩ ấy khiến tôi như được an ủi, bình tâm trở lại.
Tôi đang là chàng trai mười sáu tuổi, tuy chưa phải tuổi lớn khôn biết tự lo cho mình, nhưng cũng không còn bé dại. Tôi có thể vượt qua cảnh ngộ này, dù chưa hình dung hết được nó như thế nào? Chuyện gì nữa sẽ xảy ra?
Cả đêm hôm đó tôi trằn trọc không sao ngủ được. Ngoài đường làng người đi lại nhộn nhạo, đốt đuốc đi từng đám, cười nói râm ran. Bà cụ Chước bảo ngày mai ngoài đình tổ chức đấu tố địa chủ. “Không biết địa chủ ở đâu ra mà nhiều thế không biết? Cái Trang Khả Lãm có trăm nóc nhà này có tới năm tên địa chủ, đến là khiếp!”.
Tôi nghe bà cụ nói mà chẳng để ý cụ nói gì. Lòng dạ tôi như lửa đốt.
Tôi ra sân nhìn về hướng ngôi nhà của mình, nơi ấy tối thui, mặc dù trời đêm ấy trời chi chít sao. Chỉ có ngoài đình có ánh lửa mãi đến sáng.
Cụ Chước bảo:
- Không ngủ được cứ vào trong nhà mà nằm. Đừng đứng ngoài giời như thế. Cảm lạnh mùa này không có, ngộ nhỡ có người trông thấy thì không hay ..
Hình như bà cụ e sợ một nỗi sợ mơ hồ nào đấy. Ở tuổi này còn sợ gì nữa đây?
Gần sáng tôi bảo cụ là mai tôi sẽ ngược, bao giờ mẹ tôi về nhờ cụ nói giúp như thế. Lý do là tôi đang dở học cho hết cấp. Chỉ còn một năm nữa thôi là tôi thi tốt nghiệp, không thể bỏ dù có khó khăn đến thế nào.
Bà cụ hỏi hay là tôi ngại, sợ phiền, không muốn ở lại với cụ? Tôi nói không phải.
Ngoài lý do phải tiếp tục đi học, tôi nói tôi còn ý khác. “Dù sao trên ấy cháu còn biết làm chút công việc. Đi lấy củi hay hộ việc cho bá bác cháu để sống, có cái ăn học. Ở đây cháu biết làm gì hở bà?”.
Bà cụ chẹp miệng: “Đúng là xảy nhà ra thất nghiệp. Quê hương bản quán mà không biết sống bằng gì, thật tội!”.
Cụ nắm lấy vai, bàn tay xương xẩu của cụ xoa đầu tôi, cứ làm như tôi còn bé dại:
- Thôi thì cầu cho cháu đi chân cứng đá mềm, có Trời Phật phù hộ cho cháu. Bà cũng chẳng biết nói thế nào. Bà già rồi chả giúp cháu được việc gì. Chỗ tiền này, mẹ mày gửi, mang đi mà ăn đường.
Bà lão cởi cái bao thát lưng bằng vải lấy ra ít tiền cuộn tròn như điếu thuốc lá đưa cho tôi.
Hai bà cháu cứ ngồi như thế trong căn nhà tre bé nhỏ, không thắp đèn chỉ lờ mờ nhìn không tỏ, cho đến sáng.
Chỉ có ánh lửa chập chờn từ ngoài đình thỉnh thoảng hắt tới, nom không rõ mặt người..
**

( Còn nữa..)



Phần nhận xét hiển thị trên trang

khoảnh khắc vì sao mai ‘ready-made’ (L.V.T )


Phần nhận xét hiển thị trên trang
 
con gà trống gáy chỉ vì một cơn bốc đồng
một thoắt chân trời kỳ vọng / tháng / năm – bình minh
Vị Lai đòi tát vêu mặt sơ khai đấng tạo hoá giả hình
tiện thể Siêu Thực lột lưỡi con gà trống vô tích sự
                              và ném thẳng vào thùng rác
 
suy đi và rồi nghĩ lại:
làm sao chúng ta bỏ mặc thế giới
                    với định mệnh ‘lỗ tai điếc’ kém thẩm âm
sao đành bỏ rơi con quạ đỏ hỏn, không may
                    nở ra từ quả trứng ‘thị giác mù’
vô thanh dựng đứng tiếng kêu, nhức buốt xương:
                    quạ... quạ... quạ...
 
nói gần rồi nói xa:
nhớ, mỗi hoàng hôn sơ cổ khôn khuây nỗi ám:
bóng đêm điên cuồng dập tắt khoảnh khắc ngày cuối tận
                    mặt trời nội tâm – ráng đỏ loé bừng lên...
                    và mặc nhiên
bầu trời ngoại giới, bóng đen nuốt          chửng
 
nói tới rồi nói lui:
có những thời chim sơn ca hoan mừng vỗ cánh
bay qua cao đỉnh bầu trời hội âm
để lại tiếng hót bổng trầm đồng vọng          như-nó-phải-là
một giai điệu vĩnh hằng ngân vang và định hướng
bắc qua những thời đại vàng son viên mãn...
 
nói xuôi rồi nói ngược:
có những khuya phương đông nao nao từng hồi nhạc trống
và tiếng gà hào phóng bất tận gáy liên thanh
như kẻ dự báo – vũ trụ đang xoay vần, trong tiến trình
đẩy lùi bóng tối man rợ...
và ngày mới đang cô đọng từ một khoảnh khắc          tia chớp
                    vì sao mai ‘ready-made’ – hé lộ
                    cho thế giới một tầm nhìn
xuyên suốt triệu tỉ năm vầng sáng          hừng đông.
 
07.2013
 

Thứ Ba, 9 tháng 7, 2013

Kỷ niệm nhỏ với một nhà thơ lớn

Mai Bá Ấn


Nhà thơ tình lỗi lạc của dân tộc chính thức từ giã cõi tình trần đã 28 năm rồi mà trong tâm tưởng mỗi người, ai cũng nghĩ rằng, Xuân Diệu (1916-1985) chúng ta vẫn còn sống đó đây trong cõi đời và hiện diện ở tất cả những cuộc tình vui buồn trong cuộc sống. Sinh thời, chẳng phải ông đã từng tuyên bố :
Tôi đã yêu từ khi chưa có tuổi
Lúc chưa sinh vơ vẩn giữa vòng đời
Tôi sẽ yêu khi đã hết tuổi rồi
Không xương vóc chỉ huyền hồ bóng dáng (Đa tình)
đó là gì!
Và trong bài thơ làm không lâu trước lúc lìa trần, nhà thơ vẫn cứ mãi là chàng thi sĩ tình si:
            Xin hãy cho tôi được giã từ
            Vẫy chào cõi thực để vào hư
Trong hơi thở chót dâng trời đất
Cũng vẫn si tình đến ngất ngư (Không đề)
Đó là cái ngất ngư rất Xuân Diệu. Hay nói theo kiểu dân gian thì: Xuân Diệu đến chết vẫn là Xuân Diệu!
Với tôi, một anh chàng lõm bõm văn chương, thời trai trẻ cũng đã từng xem Xuân Diệu là thần tượng. Mà đã là thần tượng của tuổi trẻ thì thường hay khó gặp (Kính nhi viễn chi mà). Giả dụ rằng, Xuân Diệu cứ mãi là chàng thi sĩ Mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây…, Ta là một là riêng là thứ nhất cao vời vợi và bí ẩn như Hy Mã Lạp Sơn thì có lẽ đến cuối cuộc đời, tôi cũng khó lòng gặp được. Nhưng may thay, chàng thi sĩ lãng du trong tình trường ấy lại là một cây đại thụ trên thi đàn văn học cách mạng nước ta ngay từ sau Cách mạng tháng Tám (1945). Người được xem là một nhà thơ say mê diễn thuyết. Ông có mặt khắp nẻo chiến trường trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc, có mặt khắp công nông trường và say mê bình thơ, giới thiệu thơ cho mọi loại thính giả từ bình dân đến trí thức trong nước và cả ở nước ngoài. Chính vì thế, tôi đã gặp thần tượng của mình đến những… ba lần (Hai lần lúc nhà thơ còn sống và một lần viếng mộ ông sau khi được chuyển từ Nghĩa trang Văn Điển về Mai Dịch).
Lần đầu tiên gặp ở Quy Nhơn vào Hè năm 1981 khi tôi còn là gã sinh viên Văn khoa say thơ tình hơn say học. Xuân Diệu lại là nhà thơ quê Bình Định. Và lần về  thăm quê ấy, ông đã đến với khoa Văn chúng tôi trong một đêm nói chuyện thơ đến ngây ngất lòng người. Tưởng một lần cũng đã là quá đủ. Ai ngờ… tôi lại được gặp ông trong chuyến đi nói chuyện cuối cùng từ Bắc vào Nam trước khi ông mất. Ấy là năm 1984. Tôi ra trường được hai năm và về dạy ở Trường Trung học Tài chính Kế toán 3 (Nay là Đại học Tài chính - Kế toán). Lúc đó, tôi làm trong Ban Chấp hành Đoàn trường, phụ trách mảng văn hóa văn nghệ. Như vậy là trên đường đi diễn thuyết của cuối đời mình, Xuân Diệu đã dừng lại thị xã Quảng Ngãi (Lúc đó còn thuộc tỉnh Nghĩa Bình). Nghe tin, tôi thay mặt tuổi trẻ nhà trường đề đạt nguyện vọng mời nhà thơ về trường giao lưu với học sinh, và được thầy Hiệu trưởng đồng ý cử tôi đi gặp Xuân Diệu.
Đó là một buổi trưa mùa Hè, khoảng 13 giờ chiều, tôi mượn chiếc xe đạp Trung Quốc của một bạn đồng nghiệp nữ (thời đó, có được chiếc xe đạp này còn sang hơn cả xe máy xịn hiện nay). Xuân Diệu nghỉ ở Nhà khách UBND thị xã (Nhà khách UBND tỉnh hiện nay). Vào đến sảnh nhà khách, tôi bắt gặp rất nhiều đồng chí lãnh đạo các nhà máy, xí nghiệp lớn của Quảng Ngãi lúc đó cũng đang ngồi chờ để gặp nhà thơ. Các đồng chí ấy lại đi toàn bằng xe con đưa đón. Mới 13 giờ 20 nên chẳng ai dám lên phá giấc ngủ trưa của nhà thơ (Ngoài là nhà thơ nổi tiếng, Xuân Diệu còn là Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm khoa học CHDC Đức). Thấy tình thế khó khăn của mình trước các “đối thủ cạnh tranh”, cái chất liều của anh chàng mê thơ đột nhiên trỗi dậy. Tôi lẻn đến hỏi cô lễ tân vốn cũng là người quen, cô cho tôi biết, Xuân Diệu đang ở phòng A1. Tôi hăng hái leo từng bước nhẹ nhàng lên cầu thang. Quả là… “điếc không sợ súng”. Thực ra, lúc ấy tôi chỉ nghĩ đơn giản rằng: Ông là nhà thơ, tất nhiên sẽ không hề quan cách. Hơn nữa, cho dù không mời được ông về trường thì ít ra tôi cũng thỏa mộng là được gặp thần tượng của mình lần thứ hai chứ có thiệt gì đâu! Nào ngờ, sau tiếng gõ cửa nhè nhẹ run run của tôi, Xuân Diệu lê dép ra mở cửa. Ông vừa bật khỏi giường sau tiếng gõ cửa. Thân hình mập mạp với chiếc áo may - ô hơi cũ và chiếc quần đùi rộng. Ông ra hiệu mời tôi vào và đi vào trong thay đồ. Vẫn mái tóc xoăn như mây trời thu và đôi mắt mơ màng hơn cả nàng thu chịu tang của ông trong Đây mùa thu tới ! Chính cái vẻ thi sĩ thực thụ này khiến tôi mạnh dạn trình bày ý định của mình khi nhà thơ trở ra và chế nước pha trà. Nghe tôi trình bày nguyện vọng xong, Xuân Diệu không nhìn tôi, bảo :
- Chà! Lịch làm việc ở Quảng Ngãi hơi bị… nhiều đây.
Và ông hỏi tôi về tình hình thầy cô giáo và học sinh ở trường. Nghe tôi trình bày đối tượng nghe thơ, Xuân Diệu nhìn tôi:
- Trường em cách đây có xa không?
- Dạ khoản gần 4 cây số về phía Nam, ở huyện Tư Nghĩa ạ.
- Cùng quê Bích Khê à?
- Vâng! Nhưng Bích Khê ở Thu Xà miệt biển, còn trường em nằm trên Quốc lộ, trung tâm Huyện ạ!
Xuân Diệu mơ màng nhìn lên trần nhà. Hình như ông đang tưởng nhớ đến người bạn thơ Bích Khê tài hoa bạc mệnh. Rồi ông chợt hỏi tôi:
- Em đi ra đây bằng phương tiện gì?
            - Dạ, đi xe… đạp ạ.
            Xuân Diệu bỗng cười ngặt nghẽo. Một tràng cười cũng rất… Xuân Diệu. Nó vừa như một sự buồn cười thật sự vừa lại như một niềm thú vị bất ngờ về chiếc xe đạp của tôi. Thú thật, lúc này, tôi hơi hoảng. Ông cứ nhìn lên trần nhà cười rất lâu (Có lẽ do tâm lý lúc này nên tôi nghĩ nó lâu hơn sự thật của tràng cười ấy). Một chặp, ông nhìn tôi bằng ánh mắt triều mến:
            - Có mệt lắm không? Trưa nắng thế này…
Và ông lại rót nước ra hiệu mời tôi uống. Nhưng cũng chính câu hỏi “mệt không?” của Xuân Diệu giúp tôi tìm ra “lối thoát hiểm” mà có lẽ lúc này chỉ có thơ ca mới làm được việc ấy. Tôi nhanh nhảu bịa chuyện:
- Dạ… cũng mệt ạ, nhưng vì em có chở theo sau một bạn gái nên cũng chẳng thấy mệt lắm đâu ạ. Nhà thơ đã từng bảo là:
Em ngồi tíu tít ở sau xe
Em nói, lòng anh mãi lẳng nghe
Thỉnh thoảng tiếng cười em lại điểm
Đời vui khi được có em kề (Giọng nói)
vì thế, em “vui” mà không mệt ạ.
            Xuân Diệu lại ngước mặt lên trần nhà cười khoái trá. Chà chà… ở Quảng Ngãi này lại có cái thằng giáo viên quèn cha căng chú kiết dám đạp xe đạp đi mời Xuân Diệu thì quả là liều. Lại còn thuộc và áp dụng rành rõi thơ mình nữa chứ! Thú vị lắm, chú giáo viên nghèo ạ. Tôi chắc là nhà thơ giàu liên tưởng của chúng ta đang nghĩ thế. Ông cười cười nhìn tôi:
            - Thế bạn gái đâu rồi? Nghe chú mày tán bằng thơ Xuân Diệu nó sợ quá, xuống xe bỏ chạy rồi chứ gì?
            - Dạ, đâu có. Bạn ấy cũng yêu thơ ông nên mới đồng ý đi theo em đấy ạ. Nhưng cô ấy không dám lên đây.
            - Yêu thơ Xuân Diệu mà lại sợ Xuân Diệu à?
            - Dạ, không đâu. Nhưng vì nhà thơ đang ngủ trưa nên bạn ấy ngại…
            Xuân Diệu có vẻ gật gù rồi với tay lấy cây bút và mảnh giấy trên bàn ngồi hí hoáy viết, còn tôi thì đang tìm cách mở đường nói dối tiếp theo nếu lỡ ông bảo xuống gọi người bạn gái. Nhưng may quá, sắp đến giờ phải đi nên ông bảo tôi:
            - Tớ đồng ý! Chú mày cầm miếng giấy này sang Thị ủy để họ sắp lịch cho. Học sinh, sinh viên là thú vị lắm. Được làm thầy giáo như chú mày cũng là một diễm phúc đấy. Thôi vậy, lịch vào trường chú mày, Thị ủy sẽ thông báo.
Tôi mừng quýnh, cảm ơn, chào ông xin phép về và vội vã cầm “miếng bùa hô mệnh của Xuân Diệu” sang Thị ủy…
Nhìn bộ dạng của tôi, ông Thị ủy hơi có vẻ ngạc nhiên, nhưng khi tôi đưa “miếng bùa hộ mệnh của Xuân Diệu”, ông Thị ủy mời tôi ngồi.  Sau một lúc dặn dò về chế độ ăn uống của nhà thơ với tôi, ông Thị ủy bảo tôi, đúng sáng ngày mốt ra đón nhà thơ…
Về trường, nghe tôi kể chuyện, thầy Hiệu trưởng cười bảo:
 - Thôi thì… sáng mốt để tao nói đồng chí Bí thư Đảng ủy đi xe con cùng mày ra đón cho đường hoàng.            
Thế nhưng khổ thân tôi, khi họp lãnh đạo trường để đón nhà thơ thì vấn đề Xuân Diệu nói đề tài gì lại đâm ra khó xử (Trong thời kỳ tiền đổi mới ấy, lo lắng Xuân Diệu vào nói thơ tình với học sinh cũng là điều dễ hiểu). Vậy là, cuộc họp kết luận: Mời nói chủ đề thơ văn Việt Nam chống bành trướng phương Bắc. Tôi thật sự bâng khuâng, nhưng có lẽ khó xử nhất là đồng chí Bí thư Đảng ủy, Phó Hiệu trưởng cùng tôi đi đón Xuân Diệu.
Vậy là, sáng sớm hôm ấy, khi cán bộ, viên chức và học sinh tập trung hết về Hội trường chờ nhà thơ đến, tôi cùng thầy Bí thư Đảng ủy đi đón Xuân Diệu. Trên đường đi, thầy Bí thư bảo tôi nói cái điều khó nói ấy với nhà thơ. Tôi từ chối vì biết như vậy mình sẽ làm cho nhà thơ thất vọng. Bí quá, thầy đành chịu đòn và tôi biết thầy cũng rất áy náy về chuyện này.
Lên xe, Xuân Diệu ngồi ghế trước, tôi và thầy Bí thư ngồi phía sau. Cựa mình mấy lần mà thầy vẫn chưa dám nói. Đã sắp đến cầu Bàu Giang rồi. Nghe tôi thúc, thầy đành khổ sở ngập ngừng:
- Bác… nhà thơ Xuân Diệu này! Hiện nay, học sinh trường đang rất cần nghe nhà thơ nói về đề tài thơ văn chống bành trướng. Vậy sáng nay…
- Ngừng lại! Ngừng xe lại. Chở tôi về thị xã! Xuân Diệu bật người như điện giật và thốt lên với vẻ mặt giận dữ thật sự, thơ văn chống bành trướng ai nói chả được mà phải mời Xuân Diệu. Xuân Diệu còn những 500 bài thơ tình “tồn kho” chưa công bố, mai kia tôi chết thì ai nói được. Bác tài xế, làm ơn chở trả tôi về Nhà khách.
Quá bất ngờ vì phản ứng giận dữ của nhà thơ, tôi đành cố ý nói to để Xuân Diệu nghe:
- Em đã lỡ đặt nhà thơ rồi, cứ để nhà thơ nói về thơ tình thầy ạ. Bác ấy mà nói thơ tình thì tuyệt vời lắm. Rất tốt trong việc giáo dục tình yêu cho thế hệ trẻ bây giờ…
Thật ra, đây là cách tôi gỡ bí cho thầy chứ tôi có đặt trước gì  đâu! Nghe thế, thầy mạnh dạn:
- À, chú Ấn đã đặt rồi mà tôi không biết, xin nhà thơ thông cảm…
Lúc ấy, tôi và bác Bàn lái xe có nói thêm vào để xoa dịu tình hình, nên cuối cùng, nhà thơ đồng ý. Thế là thoát hiểm…
Theo lịch, Xuân Diệu sẽ vào thăm UBND Huyện Tư Nghĩa trước khi nói chuyện, nên về đến trường, thầy Bí thư ở lại thông báo tình hình với lãnh đạo trường, còn tôi theo Xuân Diệu vào Huyện.
Chỉ khoảng 20 phút gặp gỡ với các đồng chí lãnh đạo UBND huyện, vừa ăn kẹo gương vừa nói chuyện, Xuân Diệu rất ân cần hỏi về tình hình địa phương từ năng suất lúa đến đời sống nhân dân, từ kế hoạch sinh đẻ đến cả tình hình trường trại… Tôi cảm nhận ra một điều rằng: Người thi sĩ nổi tiếng lãng mạn ấy lại là người hết sức quan tâm đến đời sống con người. Ông ghi chép cẩn thận những con số vào cuốn sổ tay và lắng nghe với rất nhiều cảm xúc…
Về lại trường đã khoảng 8 giờ. Hội trường chật ních người. Thấy sự háo hức chào đón của mọi người, Xuân Diệu say mê vào cuộc. Trước tiên, ông yêu cầu tìm cho ông một ly nước chanh để thay chai bia đặt sẵn trên bục. Nghĩa là, chúng tôi đã lầm vì nghe đồn: Xuân Diệu chỉ chuyên uống bia khi nói chuyện thơ. Lại khổ thân tôi, vì lúc này cô phục vụ cũng đã chen vào Hội trường coi… Xuân Diệu. Tôi vội vã chạy đi mua cả hai ly nước chanh và trực tiếp phục vụ nhà thơ.
Sáng ấy, Xuân Diệu bình và đọc rất nhiều những bài thơ tình chưa in của ông. Bình một cách say mê với một tư duy mẫn thiệp và uyên bác. Chỉ một lần Xuân Diệu đọc qua, bình lại, mà cho đến bây giờ, tôi vẫn nhớ rất rõ những bài thơ ấy. Cũng chẳng thể nào nhớ hết đâu. Chẳng qua do quá mê thơ, đặc biệt thơ Xuân Diệu chưa in sẽ là tư liệu quý hiếm nên tôi ngồi trong cánh gà Hội trường ghi đầy đủ. Tôi nhớ nhất là bài “Tứ tuyệt tương tư” (lúc đó chưa được in) mà ông bình thật kỹ, đặc biệt là dừng lại rất lâu ở hai câu cuối của các bài thơ. Bài thơ gồm ba khúc tứ tuyệt:
1. Lâu lắm, em ơi, tháng rưỡi rồi
Sao nhiều xa cách thế em ơi!
Sớm trông mặt đất thương xanh núi
Chiều vọng chân mây nhớ tím trời.

2. Bỗng nhiên trời đất nhớ người yêu
Mây vắng chim bay, nắng vắng chiều
Nước chảy lơ thơ bờ líu ríu
Mây chừng ấy đó, gió bao nhiêu.

3. Hoa tím tương tư đã nở đầy,
Mời em dạo bước tới vườn đây;
Em xem, yêu mến em gieo hạt,
Hoa tím tương tư đã nở đầy.
Phong cách nói chuyện của Xuân Diệu cũng khá đặc biệt. Con người này, suốt một đời luôn khát khao được giao cảm với đời nên ông yêu cầu rất cao ở thái độ người nghe. Ông không muôn cho rất nhiều nhưng nhận chẳng bao nhiêu như thời lãng mạn nữa, mà bằng tài năng hùng biện của mình, bằng cách nói đầy ma lực, ông cuốn người nghe theo dòng cuốn cảm xúc của ông, cùng cảm xúc với ông. Và cứ thế… mỗi lần kết thúc một bài thơ, ông dừng lại… Sau tràng vỗ tay kéo dài của thính giả, ông chấp hai tay vào sát ngực mình, vừa lui vừa cúi đầu bái tạ một cách chân thành thay cho lời cảm ơn cùng thính giả.
            Xuân Diệu là thế! Suốt một đời dâng hiến, dâng hiến đến hơi thở cuối cùng:
Ồ! Quả chanh này đã vắt hết
Hiến cho non nước, hiến đời thân (Không đề)
của mình cho nghệ thuật và cho con người.
Cuối năm 2001, trong một chuyến công tác ở Hà Nội, tôi được ké cùng nhà thơ Thanh Thảo, Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Thụy Kha và nhà văn Trung Trung Đỉnh đi viếng mộ cuối năm trong lần Thanh Thảo ra Hà Nội họp Ban Chấp hành Hội Nhà văn để xét kết nạp Hội năm đó. Đầu tiên là đến Nghĩa trang Văn Điển viếng mộ nhà văn, dịch giả Nguyễn Trung Đức (Người bạn thân của Thanh Thảo) mới mất hồi đầu năm (02/01/2001). Sau đó, đến Nghĩa trang Hà Tây viếng mộ Khương Thế Hưng (Con trai nhà thơ Khương Hữu Dụng) và điểm cuối cùng là về Nghĩa trang Mai Dịch để viếng mộ Xuân Diệu và Văn Cao. Đứng trước mộ nhà thơ, nhìn bức phù điêu chân dung tôi vẫn thấy hiển hiện cái ánh mắt mơ màng với mái tóc bồng muôn thuở. Tôi lại càng thấm thía hơn: Ông là nhà thơ nặng lòng cùng đất nước, cùng nhân dân, yêu cuộc sống đến say mê. Thơ ông viết về quê hương cũng đắm say như viết cho tình yêu đôi lứa:
            Tháng giêng ngon như một cặp môi gần…
            … Hỡi xuân hồng! Ta muốn cắn vào ngươi (Vội vàng)
            Ông thực lòng gắn bó với quê cha đất tổ miền Trung nghèo khổ của mình và tự hào về cái cội nguồn máu thịt ấy:
            Cha đàng ngoài, mẹ ở đàng trong
            Ông đồ Nho lấy cô làm nước mắm… (Cha đàng ngoài, mẹ ở đàng trong)
            Có phải vì thế chăng mà nhà thơ tình của chúng ta mãi mãi trẻ trung cùng cuộc sống dù đã “vẫy chào cõi thực để vào hư” gần trọn 30 năm…
                Quảng Ngãi, viết 2002, bổ sung 2013.
Mai Bá Ấn

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Giả thuyết Trái đất từng có hai mặt trăng






Giả thuyết hai mặt trăng vẫn chưa nhận được sự ủng hộ đông đảo từ cộng đồng khoa học - Ảnh: Nature Theo một giả thuyết mới, Trái đất có thể từng sở hữu đến hai chị Hằng, và mặt trăng song sinh nhưng nhỏ hơn đã chạm trán với mặt trăng mà con người đang thấy hiện nay.

Chuyên gia Erik Asphaug của Đại học California tại Santa Cruz (Mỹ) đã dựa trên cấu trúc bề mặt của mặt trăng để rút ra kết luận rằng nó từng va chạm với một mặt trăng nhỏ hơn trong quá khứ.

“Mặt trăng thứ hai có thể tồn tại trong vài triệu năm; sau đó nó đụng độ với mặt trăng hiện nay và hậu quả là chỉ còn lại một thiên thể lớn như chúng ta thấy hiện tại”, theo tờ The Daily Telegraph dẫn lời nhà khoa học.

Chị em song sinh nhỏ hơn được cho là có kích thước bằng 1/30 mặt trăng hiện nay.

“Nó ắt hẳn đã quay quanh Trái đất cùng tốc độ và khoảng cách như mặt trăng lớn, và bị kéo đến gần cho tới lúc hai thiên thể va chạm và kết thành một khối”, ông cho biết.

Hầu hết các nhà khoa học đều đồng ý với giả thuyết phổ biến hơn, theo đó cho rằng mặt trăng từng là một phần của Trái đất trước khi bị quăng ra ngoài sau trận đụng độ nảy lửa giữa Trái đất với thiên thể khác.



Hạo Nhiên - TN0

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Đúng là Tào Tháo

 
Tào Tháo, Lưu Bị và Tôn Quyền họp Hội nghị G3. Vua nhà Hán chủ trì.
Vua Hán cho các cung nữ cởi trần, bôi nhọ nồi vào vú, bắt múa đãi tướng.
Cuối cùng, chọn 3 cô đẹp nhất cho ngồi cạnh 3 vị Tào, Lưu, Tôn. Bỗng đèn đuốc tắt hết.
Hồi lâu đèn nến mới sáng lên. Thì thấy tay Tôn Quyền nhọ đen nhẻm, mũi Lưu Bị cũng bị đen.
Vua Hán nghĩ bụng: Tôn Quyền khua khuắng cả cung nữ của ta, thế nào nó cũng lấy đất Ngô,
Lưu Bị ngửi cả cung nữ của ta, thế nào nó cũng lấy Ba Thục, chỉ có Tào Tháo là trung thành với ta.
Vua Hán bèn khen Tào trung nghĩa. 
Tào Tháo khoái quá, cười nhoe răng. Răng và lưỡi đen thui!

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Đã đến lúc lật bài ngửa với Trung Quốc chưa?


Vũ Duy Phú


Để bàn nghiêm chỉnh và có cái gì đó mới về câu chuyện “Trung Quốc và Phần còn lại của thế giới”, trước hết xin được nói về một số cái chuẩn để trên cơ sở đó có thể bàn luận.

1. Đặt vấn đề 

Nước ta, Philippines, lãnh thổ Đài Loan, ngay cả Nhật, cũng cần phải dựa vào Mỹ để chống trả lại Trung Quốc đang “côn đồ hoá” – theo cách nói của một số nhà nghiên cứu phương Tây (lấy thịt đè người, bất chấp luật pháp quốc tế, và nhân đạo). Như vậy có nghĩa là chúng ta (Phần còn lại của thế giới) đang vô tình chấp nhận bàn vấn đề tranh chấp với Trung Quốc trên cơ sở sức mạnh vật chất thuần tuý của đôi bên? Nhưng trước khi đi vào chi tiết của phương pháp luận “sức mạnh” này, ta hãy rà lại xem, có đúng là Trung Quốc đã đuối lý chưa? Có nghĩa, hãy rà lại phương pháp luận dựa trên “chính nghĩa và phi nghĩa”, “phù hợp pháp luật quốc tế hay vi phạm pháp luật quốc tế”.

2. Về cái lý

Trong thời kỳ mà toàn thế giới còn sống dưới chế độ phong kiến (không tự do dân chủ, tất cả thần dân là nô lệ của vua) thì quả thật cần thừa nhận, Trung Quốc có nền văn minh phong kiến hàng đầu thế giới về mọi mặt. Như vậy có nghĩa, người TQ “thông minh” hơn hầu hết các dân tộc khác khi họ đều cùng sống trong/ở trong cái thể chế độc tài mất tự do dân chủ. Do cái đặc điểm ấy (thông minh hơn trong chế độ không có tự do dân chủ, trong cuộc sống nô lệ, không có luật pháp của số đông) nên người TQ muốn tồn tại được phải rèn rũa để trở thành bản lĩnh cá nhân và cả dân tộc cái sở trường thâm thuý, mưu kế, xảo quyệt, thậm chí gian giảo đến tàn bạo (có thể đọc lại các sách cũ cuả TQ mà xem, điển hình nổi tiếng thế giới là “mưu Tào Tháo; “đánh nhau mà thắng, đã là tài, không đánh mà thắng còn tài hơn”, bao nhiêu mưu mẹo, xảo quyệt, xấu xa, vô nhân đạo… đều giở ra hết!).


Khi đa số các nước Phương Tây đã chuyển sang chế độ Tư bản (tự do dân chủ, cạnh tranh và sáng tạo công khai minh bạch trong luật pháp tư sản), còn Trung Quốc vẫn trụ lại trong chế độ phong kiến (không tự do sáng tạo và cạnh tranh, không luật pháp hiện đại), thì TQ dần dần trở nên một nước lạc hậu và hèn kém so với Phương Tây (chứng cớ là thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, TQ đã bị các nước tư bản xâu xé, trở thành nửa thuộc địa). Từ nửa sau của thế kỷ 20 trở đi (mới hơn nửa thế kỷ), TQ mới thực sự thoát khỏi chế độ phong kiến, nên cái văn minh, cái khách quan công khai minh bạch của luật pháp thì TQ chưa hấp thụ được, còn những tàn tích phong kiến cũ, trong đó có cái bản lĩnh dân tộc thâm thuý đến mức xảo quyệt, thâm cung, bí mật vẫn chưa bị phai nhạt đi, thậm chí còn được tận dụng, khai thác tối đa, bù vào những mặt yếu kém hơn của nước mình. Đó là lý do vì sao trong bang giao quốc tế, TQ luôn luôn tránh né dùng lý, dùng luật, tránh công khai, và cứ khăng khăng đòi “đàm phán tay đôi” (đồng thời cố gắng gặp bí mật riêng, coi như một thành công) để dễ bề vận dụng cái sở trường dùng mẹo, dùng thủ đoạn gian giảo để ăn người –  “ăn” những người quen sống theo luật pháp, công khai, minh bạch, thẳng thắn, nhân đạo.  Chứng cứ: Tại sao TQ là một nước lớn, đàng hoàng như vậy, mà cứ né tránh việc đa phương hoá, công khai hoá (sợ đưa ra toà án quốc tế)? Đó phải chăng là, trong vấn đề “TQ và Phần còn lại của Thế giới”, chính TQ đã tự thấy cái lý của mình nó đã bị đuối.

Ở đây xin mở ngoặc: nếu đa phương hoá, TQ sợ mình thiểu số vì chỉ có một phiếu. Vậy anh hãy chia theo nguyện vọng tự quyết của các dân tộc lớn trên lục địa Trung Hoa, thì anh sẽ có số phiéu nhiều hơn, ít nhất là 5, thậm chí 6 phiếu ngay! Vậy anh không nên chỉ giữ cái gì có lợi cho mình, né tránh cái gì đúng lý, hợp nhân tâm, nhưng nó có hại theo quan điểm phong kiến Đại bá của anh!

Tôi không đủ sức để kể ra các dẫn chứng về cái sự đuối lý của TQ trong các vấn đề tranh chấp biên giới và hải đảo với các nước. Tôi chỉ đủ sức xem xét cái diễn biến tổng quát của vấn đề, căn cứ theo tập quán và cách ứng sử của chính anh TQ mà kết luận: TQ rất sợ công khai minh bạch và đa phương hoá vì anh ấy biết là mình đuối lý rồi.

3. Về sức mạnh vật chất.

Về sức mạnh vật chất thuần tuý. Nếu đánh nhau thật, thì hai bên đều thiệt hại cực kỳ lớn, đều bị “san bằng bình địa”. Nhưng nếu có bên nào còn tồn tại một phần, thì đó là Phần còn lại của Thế giới. Riêng đối với Mỹ, cái này là đã tính dôi ra theo công thức “một chọi một”, thì sau khi san bằng các thành phố lớn và mọi căn cứ quân sự của TQ, họ vẫn còn dư ra (tính theo kiểu bốc thuốc) khoảng ½ số tên lửa vượt đại châu và số bom hạt nhân. Nếu một tàu sân bay đổi lấy một tàu sân bay, thì Mỹ vẫn còn lại hơn 10 chiếc thì phải.

Về sức mạnh tổng hợp. Trong phần này, nên lấy VN ra để bình luận. Có hai ý quan trọng nhất: (1) Theo công thức mà bên Mỹ người ta đã nêu: Trong trường hợp này, thì 1+1+1+1 sẽ lớn hơn 4 rất nhiều. (2) Yếu tố tinh thần: Người bị đánh (bị bắt nạt, bị xâm lược) bao giờ cũng căm phẫn biến thành sức mạnh khó tính nổi, so với quân lính của bên phi nghĩa, tức là lính TQ, vì họ bị xua đi đánh vì các quyền lợi bành chướng mất nhân tâm của giới cầm quyền.

4. Cuối cùng

Đôi bên đều phải xoay về giải pháp tránh đánh nhau to mà “đọ nhau về  tàí trí” dựa trên nền sức mạnh tổng hợp: Đất nước, khu vực và toàn cầu (tránh gặp riêng và bàn bí mật tay đôi). Vì vậy mới thấy rõ rằng là: Việt nam cần phải Dân chủ hoá cho thật khẩn trương, có bài bản vững chắc (cố gắng theo sát tư vấn của các nhóm ưu tú của đất nước), lấy lại niềm tin của bè bạn quốc tế mới, và cũ, thì sẽ đảm bảo thắng lợi.


V.D.P.


Phần nhận xét hiển thị trên trang