Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Tư, 26 tháng 6, 2013

LINH HỒN CÓ HAY KHÔNG TỒN TẠI?


Can science show proof of a soul? (Photos.com )

Khoa học có thể cho thấy bằng chứng của một linh hồn? (Photos.com)
Một cuộc điều tra xã hội học đã được tiến hành đối với những người đã được cứu sống trở lại từ trạng thái cận tử để tìm ra điều mà họ đã trải qua vào những giây phút nguy kịch nhất trong cuộc đời.
Thật ngạc nhiên là, nhiều người đã trả lời rằng ở vào lúc ngưỡng cửa của cái chết, họ không cảm thấy đau đớn hay hối tiếc gì cả, mà lại trải qua một loại cảm giác hưng phấn, như thể là họ đã được giải thoát khỏi thân thể vật chất của mình vậy. Một số nói rằng họ đã nhìn thấy một đường hầm ánh sáng và một số cho biết là đã nhìn thấy các sinh mệnh khác.
Có thể là nhiều người đã quen thuộc với những câu chuyện như thế này, mà các chuyên gia gọi là ‘trải nghiệm cận tử’ (NDE).
Sự tồn tại của NDE nêu lên một vấn đề cho sự hiểu biết hiện nay về tinh thần, vì khoa học hiện đại cho rằng tinh thần là một sản phẩm của các phản ứng hóa thần kinh, chứ không phải là một thực thể độc lập với bộ não và có những lúc có thể tách ra khỏi thân thể vật chất. Hiện tượng NDE gợi ý rằng người ta không chỉ có một thân thể mà còn có một linh hồn. Một cách tự nhiên, các nhà khoa học có những quan điểm khác nhau về sự tồn tại của linh hồn như là một thực thể độc lập.
Một nghiên cứu về vấn đề này đã được thực hiện bởi bác sĩ Duncan MacDougall ở Haverhill, Massachusetts, vào năm 1907. MacDougall đã làm việc với 6 bệnh nhân đều ở trong tình trạng nguy kịch. Ông cân họ vào thời khắc ngay trước khi chết, và ngay sau khi họ chết.
Kết quả được công bố trong các tạp chí y học hiện đại rằng các bệnh nhân đã bị mất trung bình khoảng 21 gam vào đúng lúc chết. Bác sĩ MacDougall đã đi đến kết luận rằng cân nặng khác nhau này chính là ‘cân nặng’ của linh hồn, một thực tế gây tò mò đã được làm cho trở nên nổi tiếng trong bộ phim “21 gam” được sản xuất năm 2003.
Ngày nay, người ta không quan tâm nhiều lắm đến nghiên cứu này, bác bỏ nó như là một chuyện vặt trong giới khoa học, bởi vì những người gièm pha nói rằng có thể đã xảy ra các lỗi đo lường gây ra bởi một số nhân tố. Thế nhưng cho đến nay chưa một ai khác đã làm lại thí nghiệm này để hoặc là xác nhận hay bác bỏ điều đó.
Những người tin theo lý thuyết rằng người ta có thể hoàn toàn hiểu được tất cả các hệ thống phức tạp thông qua các thành phần cấu tạo của nó (reductionism) một cách tự nhiên hoài nghi về sự tồn tại của khả năng có ý thức độc lập. Nhà khoa học Francis Crick – người được nhận chung giải Nobel với James Watson năm 1962 vì đã phát hiện ra cấu trúc xoắn kép của ADN – có lẽ là người đại diện đương đại nổi tiếng nhất cho quan điểm này.
Trong một nghiên cứu được thực hiện trong vài năm, Giáo sư Crick đã khẳng định rằng: “tinh thần của chúng ta – sự hành xử của não bộ chúng ta – có thể được giải thích bằng sự tương tác của các tế bào thần kinh (và các tế bào khác) và các phân tử liên quan đến chúng.”
Tuy nhiên, một số nhà khoa học lập luận rằng Giáo sư Crick đã bám vào một quan điểm cực đoan. “Nói thế cứ như là một nhà thờ là một đống đá và kính vậy. Đúng là như vậy, nhưng quá đơn giản và còn thiếu điểm chính,” dẫn lời ông Michael Reiss, giáo sư thuộc trường Đại học Luân-đôn, người vừa là một nhà khoa học vừa là một giáo sĩ.
Nghiên cứu đầy đủ nhất về NDE cho đến nay đã được thực hiện bởi Pim van Lommel và một nhóm các bác sĩ Hà Lan trên 344 bệnh nhân tại 10 bệnh viện. Các bệnh nhân đã được làm sống lại sau khi bị ngưng tim.
Nghiên cứu này, được công bố ở Lancet năm 2001, phát hiện ra rằng 62 bệnh nhân (18%) đã có những hồi tưởng về NDE, trong khi 41 người trong số này mô tả là đã trải qua những trải nghiệm “sâu sắc” hay “rất sâu sắc”.
Một nửa trong số các bệnh nhân cho biết đã trải qua NDE nói rằng họ ý thức được là đang chết, trong khi 56% nói rằng họ đã trải qua những cảm xúc tích cực. 15 người (24%) cho biết đã trải qua trải nghiệm ở bên ngoài thân thể, trong khi 31% trải qua việc chuyển động qua một đường hầm. 18 người nói rằng họ đã nhìn thấy “thiên cảnh”. 1/3 nói rằng họ đã gặp các thân nhân đã chết, và 8 người nói rằng họ đã nhìn thấy cuộc đời của mình được tái hiện lại.
“Khái niệm được giả sử cho đến nay, nhưng chưa bao giờ được chứng minh một cách khoa học, rằng ý thức và ký ức nằm ở trong bộ não,” Giáo sư Van Lommel viết trong cuốn “Sự tiếp tục của Ý thức”.
“Làm sao mà người ta lại có thể trải nghiệm được một ý thức rõ ràng ở bên ngoài thân thể vào thời điểm mà bộ não không còn hoạt động nữa trong khoảng thời gian chết lâm sàng với điện não đồ thẳng băng?” Van Lommel đặt vấn đề. “Hơn nữa, những người bị mù đã mô tả (những nhận thức giống như thực tế) trong các trải nghiệm ‘ở ngoài thân thể’ vào thời điểm của trải nghiệm này.” Van Lommel nói NDE đã thay đổi các giới hạn hiểu biết của y học về phạm vi của ý thức con người và mối quan hệ giữa bộ não và tinh thần.
Trong khi chủ đề này sẽ có thể vẫn là một vấn đề gây tranh cãi trong giới khoa học, thì các nghiên cứu thêm nữa có thể là cần thiết để nghiên cứu một vấn đề vĩnh hằng: liệu có tồn tại sự sống sau khi chết hay không?
Chú thích:
Bản tiếng Anh bấm vào đây: Does the Soul Exist?
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Suy nghĩ của chúng ta có năng lực ảnh hưởng đến thực tế không?



Email
Tác giả: Leonardo Vintini   

A women performs the Falun Gong sitting meditation. Researchers found that meditation and positive thinking can produce long-term brain changes and development of positive traits.  (Jeff Nenarella/The Epoch Times)Một người phụ nữ toạ thiền Ph. L. C. Các khoa học gia phát hiện rằng thiền định và suy nghĩ lạc quan có thể tạo nên biến đổi dài hạn và phát triển tích cực ở đại não.
Tất cả hiện trạng của chúng ta là kết quả của những gì chúng ta đã suy nghĩ. Tư tưởng là quan trọng nhất. Chúng ta nghĩ gì thì chúng ta sẽ trở thành như thế” – theo như Phật Gautama Siddhartha (Phật Thích Ca)
Theo như Tiến sỹ Joe Dispenze, mỗi khi chúng ta học hoặc trải nghiệm điều mới, có hàng trăm triệu neuron tự tái cấu trúc.
Tiến sỹ Dispenze nổi tiếng trên toàn thế giới với học thuyết vượt thời đại liên quan đến mối liên hệ giữa ý thức và vật chất. Ông có lẽ được biết đến nhiều nhất với tư cách là một trong những khoa học gia trong chương trình được tán dương năm 2004 Chúng Ta Biết Được Những Tín Hiệu Nào, đóng góp của ông đã giúp khai mở những tính chất siêu thường của tư duy và khả năng của tư duy trong việc tạo ra những liên kết thần kinh bằng cách nghiêm túc tập trung tư tưởng.
Hãy thử tưởng tượng: trong mọi trải nghiệm mới, một liên kết thần kinh được thiết lập trong đại não chúng ta. Với mọi cảm thụ, hình ảnh hoặc cảm xúc chưa từng trải qua trước đó, cơ cấu của một liên kết mới giữa hai trong hơn 100 tỷ tế bào đại não là không đáng kể.
Nhưng hiện tượng này cần được củng cố thường xuyên nhằm tạo ra thay đổi thật sự. Nếu trải nghiệm này lặp lại trong một khoảng thời gian tương đối ngắn, liên kết trở nên mạnh hơn. Nếu trải nghiệm không xuất hiện trong một thời gian dài, liên kết có thể trở nên yêu đi hoặc biến mất.
Khoa học đã từng tin rằng não bộ của chúng ta là tĩnh tại và liên kết cố định, với rất ít khả năng thay đổi. Tuy nhiên, nghiên cứu gần đây trong khoa học thần kinh đã phát hiện thấy tác động của mọi trải nghiệm trên thân thể trong phạm vi tư tưởng (lạnh, sợ hãi, mệt mỏi, hạnh phúc) đều đang định hình não bộ chúng ta.
Nếu một cơn gió mát có khả năng làm dựng lông trên cẳng tay của một cá nhân, liệu tư tưởng của con người có khả năng tạo ra cảm giác tương tự với kết quả như nhau không? Có lẽ nó còn có khả năng hơn thế.
“Liệu có thể chỉ bằng suy nghĩ, chúng ta làm cho cơ chế hoá học nội tại liên tục vượt ngưỡng bình thường, đến mức cơ chế tự điều chỉnh của cơ thể cuối cùng xác định những trạng thái siêu thường này như là trạng thái bình thường được hay không?” Dispenza nghi vấn trong cuốn sách xuất bản năm 2007 của ông, Phát Triển Bộ Não Của Bạn, Khoa Hc Làm Thay Đi Tư Duy. “Đó là môt quá trình tinh vi, nhưng có lẽ trước đây chúng ta chưa bao giờ chú ý nhiều đến nó.”
Dispenza tin rằng não bộ thực chất không có khả năng phân biệt một cảm giác vật lý thực tế với một trải nghiệm nội tại. Bằng cách này, chất xám của bộ não có thể dễ dàng bị đánh lừa rằng cơ thể đang trong trạng thái sức khoẻ yếu khi tư tưởng của chúng ta thường xuyên tập trung vào những suy nghĩ tiêu cực.
Dispenza minh hoạ ý kiến của mình bằng cách dẫn chứng một thực nghiệm mà chủ thể được yêu cầu tập luyện ngón áp út di chuyển một thiết bị lò xo 1 tiếng mỗi ngày trong vòng 4 tuần. Sau khi lặp đi lặp lại việc kéo lò xo, ngón tay của những người này mạnh hơn 30%. Trong khi đó, một nhóm chủ thể khác được yêu cầu tưởng tượng kéo lò xo nhưng không bao giờ chạm vào thiết bị thật sự. Sau 4 tuần tập luyện tinh thần đặc biệt này, nhóm này đạt được ngón tay mạnh hơn 22%.
Bao nhiêu năm qua, các khoa học gia đã nghiên cứu những phương pháp mà ý thức chế ngự được vật thể. Từ hiệu ứng placebo ( hiệu ứng một người cảm thấy khoẻ hơn sau khi sử dụng thuốc giả) đến những người tập luyện Tummo (một môn tập luyện của các tăng nhân Tây Tạng mà người tập thật sự toát mồ hôi trong khi thiền định ở nhiệt độ dưới 00C), ảnh hưởng của phần “linh hồn” con người lên phần thể chất hiện hữu là thách thức đối với những quan niệm truyền thống về tư duy, rằng vật chất vận động theo quy tắc vật lý và tư duy đơn giản là hệ quả của những tương tác hoá học giữa các neuron.

Hơn cả niềm tin

Khảo sát của tiến sỹ Dispenza bắt nguồn từ một giai đoạn gian khó trong cuộc đời ông. Sau khi bị ô tô đâm khi đang đi xe đạp, bác sỹ tin rằng Dispenza cần được phẫu thuật ghép một vài đốt cột sống mới có thể đi lại được – một quá trình điều trị có thể làm ông phải chịu đau đớn kinh niên trong suốt quãng đời còn lại.
Tuy nhiên, Dispenza, một chuyên gia nắn khớp xương, đã quyết định thách thức khoa học và thật sự thay đổi trạng thái tàn tật của mình bằng sức mạnh của ý chí – và ông đã thành công. Sau 9 tháng tập luyện theo chương trình điều trị tập trung, Dispenza đã đi lại được. Được khuyến khích bởi thành công này, ông quyết định dành trọn đời mình cho nghiên cứu về mối liên hệ giữa ý thức và thân thể.
Với ý định khám phá sức mạnh của ý chí trong việc chữa bệnh, vị “bác sỹ não học” đã phỏng vấn hàng tá người đã từng bị bác sỹ kết luận là “suy giảm tự phát”. Đây là những cá nhân có những đau đớn nghiêm trọng, đã quyết định ngừng phương pháp điều trị thông thường nhưng vẫn chưa khỏi bệnh hoàn toàn. Dispenza nhận thấy rằng những người này đều có cùng nhận thức rằng suy nghĩ của họ quyết định trạng thái sức khoẻ. Sau khi họ chú ý tập trung thay đổi suy nghĩ của mình, căn bệnh của họ thật kỳ diệu đã được chữa khỏi.

Nghiện cảm xúc

Tương tự, Dispenza phát hiện rằng con người thật ra có một đam mê vô thức với những cảm xúc nào đó, tiêu cực hoặc tích cực. Theo như nghiên cứu của ông, những cảm xúc làm cho một cá nhân có hành vi lặp lại, theo đó phát triển một sự “nghiện” việc kết hợp những chất hoá học đặc trưng cho mỗi cảm xúc tràn ngập não bộ với một tần suất nhất định.
Cơ thể phản ứng với những cảm xúc này bằng những chất hoá học mà qua đó lại gây ảnh hưởng lên tư duy, tạo ra một cảm xúc giống hệt. Nói cách khác, có thể nói rằng một người hay sợ hãi bị “nghiện” cảm giác sợ. Dispenza phát hiện rằng khi não bộ của cá nhân này có thể giải phóng khỏi sự kết hợp hoá học của cảm giác sợ, cơ quan thụ cảm những chất này cũng tương ứng được khai thông. Điều này cũng đúng với trầm cảm, giận giữ, kích động và những sự say mê khác.
Tuy vậy, nhiều người hoài nghi những phát hiện của Dispenza, bất kể khả năng chứng minh của ông rằng suy nghĩ có thể thay đổi trạng thái thể chất của con người. Thường được gắn liền với thể loại khoa học giả tưởng, lý thuyết về “tin vào thực tại của chính bạn” không mang vẻ khoa học lắm.
Khoa học có lẽ vẫn chưa sẵn sàng để công nhận rằng thể chất có thể bị thay đổi bởi sức mạnh của tư duy, nhưng tiến sỹ Dispenza tin chắc rằng quá trình này thực sự tồn tại.
“Chúng ta không cần phải đợi khoa học cho phép chúng ta làm điều bất thường hoặc vượt ra ngoài những gì chúng ta được cho là có thể thực hiện được. Nếu vậy, chúng ta biến khoa học thành một dạng tôn giáo khác. Chúng ta nên đi lạc đường, chúng ta nên tập làm điều siêu thường. Khi chúng ta trở nên kiên định với khả năng của mình, chúng ta đúng là đang tạo nên một nền khoa học mới”, Dispenza viết.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

ÔNg này nổ dữ hè!

ÔNG NGUYỄN BÁ THANH: BÁC HỒ TỪNG LÔI XỀNH XỆCH MAO TRẠCH ĐÔNG QUA MÁT-XCƠ-VA GẶP XÍT-TA-LIN !

Đây là một phần bài nói của ông Nguyễn Bá Thanh trước 4.500 cán bộ các cấp của Đà nẵng (Nguồn:  YOUTUBE ). Mời bà con đọc qua chút xả xì-trét cho đỡ … tức !
30-4-1975 ta giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, giang sơn thu về một mối. Như vậy sau 117 năm kể từ ngày Pháp nổ phát súng xâm lược vào Đà nẵng 1858 mở đầu cho cuộc xâm lược. Như các đ/c biết trong kháng chiến đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh và bộ tham mưu tối cao có đức có tài, những tên tuổi như Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Văn Linh…, góp phần vào trong chiến thắng chống Mỹ. Phải nói uy tín của Đảng đối với dân gần như tuyệt đối. Đảng gắn bó máu thịt với dân, dân rất tin Đảng.
Nhà tan cửa nát cũng ừ,
Thắng giặc Mỹ, ta sẽ được chừ, sứớng sao !
Có những gia đình như gia đình mẹ Thứ, chồng và con gần cả chục người hy sinh. Có những người mẹ lần lượt tiễn những người con cuối cùng mình rứt ruột đẻ ra để tham gia chiến đấu chiến thắng Mỹ.
Nhưng sau giải phóng miền Nam 1975, phải nói rằng những người cộng sản Việt Nam quá say sưa với chiến thắng, cứ tưởng mình thắng Mỹ là nhất rồi. Không có gì khó hơn thắng Mỹ mà còn làm được thì các thứ khác cũng làm được. Bắt đầu chủ quan, bắt đầu duy ý chí. Các đ/c nhớ lại Quỳnh lưu Nghệ an không? Thay trời đổi đất sắp đặt lại giang sơn. Mo cơm cùng với mắm cà quyết tâm xây dựng chủ nghĩa xã hội. Mắm cà với mo cơm mà xây dựng cái gì?
Rồi bắt đầu nhập các tỉnh lại. Úi chu choa! Nhập các tỉnh Bình Trị Thiên. Dân mà đi ở dưới lên tỉnh phải đi hai ngày đường. À, Bình Trị Thiên hay là Thiên Trị Bình? Rồi các tỉnh trong này, Nghĩa Bình, Phú Khánh… rồi nhập hết. Người ta có câu ca:
Tỉnh dài huyện rộng xã to
Tỉnh lo phần tỉnh, dân lo phần mình.
Rứa cũng không nghe, cứ nhập dzô. Sau này phải chia tách ra như các đ/c biết. Mơ mơ màng màng !
Hồi nớ còn nhớ đ/c Phạm Tuân đi tàu vũ trụ với Go-rơ-bát-cô đó. Tất nhiên mình cũng vinh dự là người Việt Nam đầu tiên lên vũ trụ. Thế nhưng ở Hà nội lập tức xuất hiện câu ca liền:
Nước này còn lắm gian truant,
Việc gì phải phóng Phạm Tuân lên trời?
Vậy là có thơ liền!
Và do say sưa chiến thắng, Đảng bắt đầu buông lỏng sự lãnh đạo, chính quyền bắt đầu buông lỏng sự quản lý nhà nước và cán bộ đảng viên bắt đầu thoái hóa biến chất. Những điều trước kia không bình thường thì dần dần bắt đầu bình thường.
Phải nói cái đường lối ngoại giao của chúng ta chưa thật khéo cho nên ta phải vướng vào hai cuộc chiến tranh : Biên giới phía Bắc, Biên giới Tây Nam. Chúng ta phải đụng độ với ông bạn khổng lồ phương Bắc. Trung Quốc xua hàng mấy chục sư đoàn kể cả xe tăng tràn sang 6 tỉnh phía Bắc, hướng Hà nội mà tiến. Lúc đó những lời hịch của cha ông ngày xưa, của Lý Thường Kiệt lại vang lên. Mở đài phát thanh ra là nghe :
Nam Quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư !
Rồi những lời hịch của Quang Trung lại vang lên :
Đánh cho nó chích luân bất phản
Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn
Đánh cho sử tri Nam Quốc sơn hà chi hữu chủ !
Liên tục trên đài phát thanh ! Và những con em chúng ta lại lên đường ra trận bảo vệ biên cương. Cùng một lúc trị cái đám Pôn Pốt – Iêng Sary, cứu họa diệt chủng Cam-pu-chia , đồng thời bảo vệ nhân dân mình. Cứ tối tối tràn sang giết hàng chục người vứt xuống sông. Đám Pôn Pốt tàn ác như thế nào các đ/c biết rồi. Một mặt phải đối phó với phương Bắc vô cùng vất vả.
Các đ/c nhớ rằng,tất nhiên tôi xét lại lịch sử theo quan điểm cá nhân tôi là như thế. Nếu Bác Hồ còn sống thì chưa chắc xảy ra hai cuộc chiến tranh này đâu. Với cái đường lối ngoại giao khéo léo tài tình, Bác Hồ sẽ tránh được hết !
Có những chi tiết báo chí không nêu đó thôi. Chứ thực chất năm 1951, Bác Hồ từ Việt Nam qua Trung quốc. Ổng nói làm sao, ổng rủ rê làm sao mà Mao Trạch Đông đi cùng Bác Hồ qua tít Mát-xcơ-va để gặp Xít-ta-lin.  Gặp Xít-ta-lin rồi, Xít-ta-lin thì có biết Mao Trạch Đông của cách mạng Trung Quốc, nhưng Việt Nam hồi đó chưa có tên tuổi chi hết. Bác Hồ mới bảo là : ông chưa biết tui, ông này thì ổng biết tui, thôi thì ông viện trợ qua cho ông này rồi giúp cho tui để tui về chiến đấu với thực dân Pháp, tui giành độc lập. Xít-ta-lin đồng ý.
Cho nên giai đoạn một số vũ khí của Liên Xô cộng một số vũ khí Trung Quốc đã giúp ta trong kháng chiến chống Pháp là bắt đầu từ cuộc đi đó. Một nước lớn như thế, Trung Quốc là nước lớn chứ không phải nhỏ. Nhưng mà Bác Hồ qua, ổng thuyết phục sao đó mà ảnh (tức là Mao Trạch Đông) xách cặp đi cùng với Bác. Lôi xềnh xệch nó đi qua tới Mát-xcơ-va ! Giỏi như thế đó !
Còn mình chừ mình nói loạng quạng, loạng quạng...

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Hội chứng nước mắt hay là hâm tập thể?

Ở Triều Tiên: Cứ gặp lãnh tụ là khóc như mưa

Ở Triều Tiên, nước mắt được coi là biểu tượng của lòng trung thành tuyệt đối với lãnh tụ.

Lính Triều Tiên đồn trú trên đảo Jangjae, Nam Hwanghae khóc nức nở khi được lãnh tụ đến thăm


Vợ của các binh sĩ trên đảo Jangjae không cầm được nước mắt khi được trực tiếp gặp mặt nhà lãnh đạo.

Những phụ nữ trung tuổi này khóc như mưa khi được ông Kim Jong Un thăm hỏi

Quân nhân tưởng chừng là những người cứng rắn, nhưng khi gặp mặt nhà lãnh đạo tối cao của Triều Tiên, họ cũng không cầm được nước mắt

Một quân nhân vừa cúi rạp người vừa rớm lệ khi được nhà lãnh đạo bắt tay

Hai quân nhân này thì sung sướng gục hẳn đầu vào vai Kim Jong Un để khóc nức nở. Đối với họ, đó là một vinh dự vô cùng lớn

Các nữ quân nhân thuộc Đại đội Cây Hồng, đoàn 4302 quân đội Triều Tiên nức nở khi được nguyên soái Kim Jong Un đến thăm

Họ quây lấy nhà lãnh đạo mà khóc

Ở Triều Tiên, nước mắt được coi là biểu tượng của lòng trung thành tuyệt đối với lãnh tụ

Ngày 19/5/2013, ông Kim Jong Un và phu nhân đã tới thăm một trường học nằm ở chân núi Myohyang thuộc tỉnh Bắc Phyongan. Các em học sinh ở đây vừa vỗ tay vừa khóc khi đón nhà lãnh đạo

Cho đến khi được xếp hàng chụp ảnh chung với vợ chồng lãnh tụ, các em vẫn chưa khô được nước mắt

Đối với người lao động Triều Tiên, được lãnh tụ đến úy lạo tinh thần là hạnh phúc tột đỉnh. Trong bức ảnh này, chỉ duy nhất ông Kim Jong Un là không rơi lệ

Một bức ảnh khác cho thấy "văn hóa nước mắt" của người Triều Tiên khi gặp lãnh tụ
Theo Soha.vn

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Ai tạo ra các đại gia đỏ ở Nga?


..... 
Người ta thường hiểu lầm rằng ông Boris Yeltsin, tổng thống Nga lúc đó, chịu trách nhiệm về hiện tượng này, và cũng hiểu lầm rằng các chương trình tư nhân hóa đều có thể gây ra nạn tập trung tài sản vào một thiểu số tư nhân, là các đại gia đỏ. Sự thật không đơn giản như vậy. Sự thật là Boris Yeltsin đã bị giai cấp các đảng viên cộng sản nắm ưu quyền thúc đẩy và thao túng, lái cả chương trình tư nhân hóa sang một con đường mà chính họ có thể lợi dụng làm giàu cho chính họ và những tư nhân khôn ngoan biết cộng tác với họ. Cần phải rút kinh nghiệm những thất bại của Yeltsin, vì chính giai đoạn chuyển tiếp đó đã gây ra tình trạng nước Nga bị giai cấp các đại gia đỏ chiếm đoạt và thao túng.

Boris Yeltsin gây nên sự nghiệp trong lòng guồng máy cộng sản, leo lên đến vai trò một ủy viên trong Bộ Chính Trị. Kinh nghiệm chính trị cả đời ông là do guồng máy đó cung cấp, ông ta không biết và cũng không hiểu thế nào là thể chế tự do dân chủ, với những định chế ràng buộc lẫn nhau. Cho nên, khi lên đến đỉnh cao danh vọng sau khi dẹp tan được cuộc đảo chính năm 1991, ông vẫn hành động như một lãnh tụ cộng sản đích thực, do đó đã tự đưa mình vào một cái bẫy mà sau này ông cũng ân hận, thú nhận rằng mình đã bỏ lỡ mất cơ hội.
Vào năm 1991, nếu biết nắm lấy cơ hội thì Yeltsin đã phải giải tán Quốc Hội Nga và những cơ cấu do Quốc Hội đó dựng lên. Ông có thể đứng ra làm thủ lãnh một đảng chính trị, trong lúc phong trào Dân Chủ Nga, một tập hợp của nhiều nhóm có khuynh hướng tự do dân chủ sẵn sàng coi ông là người đứng đầu. Ông có thể tổ chức bầu cử, trong đó thế nào phe đảng của ông cũng chiếm đa số. Ông có thể soạn một Hiến Pháp mới theo mẫu các quốc gia dân chủ tự do đã hoạt động từ vài thế kỷ trước. Chế độ tự do dân chủ dựa trên các luật chơi, mà đảng chính trị đóng vai các cầu thủ. Mỗi đảng chính trị là tập hợp của những nhóm dân chúng có quyền lợi khác nhau, có khi xung đột với nhau. Các đảng chính trị phải đại diện cho các nhóm lợi ích mà họ tập hợp lại, dùng cơ chế bầu cử và tổ chức Quốc Hội làm nơi tranh đấu và thỏa hiệp với nhau. Không có các đảng chính trị thì không thể có sinh hoạt dân chủ.
Boris Yeltsin đã không thành lập đảng, không tổ chức bầu cử để có một Quốc Hội mới, viết bản Hiến Pháp mới. Vì bản chất ông vẫn là một ủy viên Bộ Chính Trị, không có chút kinh nghiệm nào về thể chế dân chủ. Một lãnh tụ cộng sản như ông tin tưởng rằng quyền hành nằm trong tay cá nhân người lãnh tụ. Với uy thế của ông lúc đó, mới được dân Nga bầu lên với số phiếu lớn vào Tháng Sáu năm 1991, mới dẹp tan được cuộc đảo chính vào Tháng Tám, đã dẹp Gorbachev ra bên lề sau khi tách nước Nga ra khỏi Liên Bang Xô Viết và xóa bỏ đảng cộng sản, Yeltsin tin là với uy thế đó ông có thể thi hành bất cứ chính sách hoặc chương trình nào cũng được. Yeltsin tự coi mình đứng trên các đảng phái chính trị, có thể nói là coi thường các đảng phái. Các nhóm tranh đấu cho dân chủ không thể tập hợp lại, trong khi các đảng viên cộng sản cao cấp và trung cấp vẫn còn giữ mối liên lạc mật thiết với nhau vì cùng chia sẻ các quyền lợi chính trị và kinh tế.
Cái bẫy giăng trên đầu Yeltsin, sẵn sàng chụp xuống, là nước Nga lúc đó vẫn còn phải sử dụng một bản Hiến Pháp thời cộng sản. Hơn nữa, bên cạnh ông còn có những định chế như Quốc Hội và Xô Viết Tối Cao, được bầu lên từ năm 1990, khi vẫn còn chế độ cộng sản. Cuộc bầu cử vào Tháng Ba năm 1989 vẫn theo Hiến Pháp thời cộng sản: Ðảng cử, dân bầu. Chỉ những người được đảng cộng sản hoặc các tổ chức phụ thuộc của họ mới được ứng cử. Quốc Hội đó lại bầu lên một Xô Viết tối cao, có quyền hành lớn nhất. Chính Yeltsin không được bầu vào Xô Viết Tối Cao này; cho đến khi một người tự ý rút lui để nhường chỗ, giữ thể diện cho ông. Ðến đầu năm 1990, Quốc Hội Nga mới bỏ phiếu xóa bỏ điều 6 trong Hiến Pháp, chấm dứt độc quyền lãnh đạo của đảng cộng sản. Nhưng trong cuộc bầu cử Quốc Hội nước Nga sau đó, vào Tháng Ba năm 1990, đại đa số các ứng cử viên vẫn là các đảng viên cộng sản. Chính cái Quốc Hội này tập trung giới “quý tộc đỏ,” thường gọi là monenclatura, bao gồm các đảng viên cao cấp và trung cấp, giám đốc các doanh nghiệp nhà nước, đủ mặt những người đang cầm đầu guồng máy cai trị cũng như kinh tế, và đang lo sẽ mất các quyền lợi đó.
Vì vậy, nền chính trị nước Nga diễn ra một cuộc tranh giành quyền hành giữa Yeltsin và Ruslan Khasbulatov, chủ tịch Xô Viết Tối Cao. Ðiều 107 trong bản Hiến Pháp năm 1977 trao cho Xô Viết Tối Cao quyền kiểm soát hành pháp và quyền thay đổi Hiến Pháp. Dựa trên bản Hiến Pháp thời cộng sản, Khasbulatov giải thích rằng Xô Viết Tối Cao nắm quyền lãnh đạo cao nhất trong khi Yeltsin nghĩ rằng mình là tổng thống do dân trực tiếp bầu lên mới nắm quyền! Lúc đầu Khasbulatov tìm cách cộng tác với Yeltsin. Chương trình cải tổ kinh tế của Gaidar được Quốc Hội Nga bỏ phiếu chấp thuận với tỷ số 876/16 vào Tháng Mười năm 1991. Một tháng sau, Quốc Hội trao toàn quyền cho Yeltsin được cai trị bằng sắc lệnh, để cải tổ kinh tế.
Sau khi đã dọ sức và thử thách Yeltsin trong mấy tháng cuối cùng năm 1991, Khasbulatov và các đồng chí quý tộc đỏ thấy họ có thể lấn dần ông tổng thống. Nhân danh Xô Viết Tối Cao, Khasbulatov ra lệnh cho các bộ và cơ quan chính phủ, cho thống đốc Ngân Hàng Trung Ương, và chính ông ký các sắc lệnh có giá trị như luật lệ. Sáu tháng sau khi đã ủng hộ chương trình cải tổ kinh tế của Gaidar, chính Quốc Hội Nga lại bỏ phiếu xóa bỏ chương trình đó, với tỷ lệ 632/231! Trong năm 1992 Khasbulatov đã ban hành 66 mệnh lệnh cho bộ máy nhà nước, rồi trong sáu tháng đầu năm 1993, ông ban ra 630 mệnh lệnh nữa.
Tất cả các mệnh lệnh đó phản ảnh quyền lợi của các cựu đảng viên cộng sản, thuộc giới quý tộc đỏ, và thường trái ngược với các chính sách của đám cố vấn thân cận của Yeltsin; những người có chủ trương cải tổ kinh tế nhanh chóng và toàn diện. Sau khi chương trình cải tổ của Gaidar bị xóa bỏ, Yeltsin phải nhượng bộ, thương thuyết với giới quý tộc đỏ trong Quốc Hội Nga để đưa ra những chính sách phù hợp với quyền lợi của họ; từ đó cả chương trình thay đổi kinh tế nước Nga là do nhóm này quyết định. Ảnh hưởng mạnh nhất, và hậu quả tai hại lâu dài nhất, là họ lái cả chương trình tư nhân hóa các doanh nghiệp nhà nước, để cho các vị quản đốc đương nắm quyền, các thân nhân và các mưu sĩ cố vấn của họ tha hồ chiếm đoạt các xí nghiệp quốc doanh, biến của công thành của riêng.
Chính Khasbulatov còn lo bảo vệ an ninh cá nhân của mình bằng cách tuyển mộ năm ngàn người vào đạo quân bảo vệ Quốc Hội!
Cuộc tranh chấp giữa Yeltsin và Khasbulatov không thể nào giải quyết được, cuối cùng chính Yeltsin phải quyết định “đảo chính,” đưa quân đến vây tòa nhà quốc hội và giải tán Quốc Hội. Ông soạn một bản Hiến Pháp mới vạch rõ giới hạn giữa quyền hành pháp và lập pháp, cố ý dành nhiều quyền hành cho ngôi vị tổng thống. Sau khi Yeltsin “truyền ngôi” cho Vladimir Putin, đến lượt Putin được hưởng những quyền hành rộng rãi, càng ngày càng độc tài hơn.
Vladimir Putin thực ra không xóa bỏ giai cấp đại gia đỏ đã thành hình qua chương trình tư nhân hóa dưới thời Yeltsin, mặc dù ông đã bỏ tù một số và lưu đày một số khác. Putin chỉ thay đổi các khuôn mặt cá nhân nằm trong đám đại gia đỏ. Những người tuân theo lệnh ông vẫn được sử dụng như cũ. Những người không chịu nghe lệnh ông thì bị chèn ép rồi đưa ra tòa, hoặc chạy trốn. Tài sản của đám người này được chuyển sang cho những tay chân của Putin. Chế độ cộng sản ở nước Nga đã biến thành một chế độ tư bản nhà nước, do một thiểu số các đại gia tay chân của một nhà độc tài nắm hầu hết quyền hành và lợi lộc. Ðây là một bài học cho các nước sẽ thay đổi từ độc tài sang dân chủ.


Trích từ Gocnhinalan 

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chỉ con Nai và nói là con Ngựa (指鹿为马)



InEmail
Tác giả: Cindy Chan, Epoch Times   

The Chinese idiom “point to a deer and call it a horse” refers to confounding right and wrong, deliberately misrepresenting the truth, or distorting the facts for ulterior motives. (Thijs Schouten/Photos.com)Thành ngữ tiếng Trung: Chỉ con Nai và nói là con Ngựa (指鹿为马) đề cập đến sự nhầm lẫn phải trái, cố tình xuyên tạc sự thật, bóp méo sự thật vì các lý do thầm kín. (Thijs Schouten / Photos.com)
Thành ngữ có nguồn gốc từ triều đại nhà Tần (秦朝) (221-206 BC) sau khi vua Tần Thủy Hoàng (秦始皇) chết, Ông là vị hoàng đế đầu tiên của triều đại nhà Tần và là vị vua đầu tiên của một Trung Hoa thống nhất sau khi nhà Tần chinh phục tất cả các các tiểu quốc (tiểu bang) khác trong thời kỳ đó.

Trong suốt triều đại Tần Er Shi (秦二世), nghĩa là "hoàng đế thứ hai của triều đại nhà Tần", 210-207 BC, Thừa tướng Zhao Gao (Tào Tháo) (赵高), là một người tham lam có manh tâm chiếm đoạt quyền lực.
Ông muốn nổi loạn và tiếm ngôi nhưng lo sợ rằng một số các quan chức (quần thần) có thể chống lại ông. Vì vậy, ông đã nghĩ ra một cách để nhận ra họ cũng như để xác định ảnh hưởng của mình tại triều đình.

Một ngày kia, ông cưỡi một con nai nhân một cuộc du chơi với hoàng đế. Vua hỏi "Thừa tướng, tại sao khanh cưỡi một con nai?"

Zhao Gao trả lời: "Tâu Bệ hạ, đây là một con ngựa".

Hoàng đế nói: "Khanh đã nhầm lẫn! Đó rõ ràng là một con nai! "

Zhao Gao trả lời: "Nếu Bệ hạ không tin hạ thần, thì hạ thần phải yêu cầu các Quan thần (Bộ trưởng) cho ý kiến ​​của mình."

Khi các Quan thần được hỏi, một nửa nói sự thật và nói rằng đó là một con nai, trong khi một nửa kia, hoặc vì sợ Zhao Gao, hoặc muốn ủng hộ ông ta, nói rằng đó là một con ngựa.

Đối mặt với tình trạng này, hoàng đế thực sự nghi ngờ chính bản thân mình và đã chọn quyết định không tin vào chính con mắt mình, nhưng tin vào những lời của các gian thần nham hiểm.

Thế hệ sau sử dụng thành ngữ "chỉ một con nai và gọi nó là một con ngựa" để mô tả một tình huống trong đó người ta nói ngược đen là trắng và biến ngược sự thật để lừa dối người đời.
Dịch từ:

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Hiểm Họa Từ Một Trung Quốc Suy Thoái



InEmail
Tác giả: Mark A. DeWeaver   

http://www.theepochtimes.com/n3/eet-content/uploads/2013/06/ChinaSenkakuProtest_152300847-676x450.jpgĐám đông người Hoa phản đối Nhật Bản, đòi giành lại đảo Điều Ngư mà Nhật gọi là Senkaku. Chủ nghĩa dân tộc đang là một quân bài để Trung Quốc vận dụng nhằm duy trì quyền lực
Nhiều người Mỹ nhìn thấy sự nổi lên của Trung Quốc, nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, với sự bối rối. Nước Mỹ dường như đang suy thoái. Trung Quốc là một "thế lực đang lên" định trước cho việc thay thế Mỹ làm bá chủ toàn cầu trong một tương lai không xa.

Tuy nhiên gần đây triển vọng của Trung Quốc trông không được sáng sủa. GDP trong quý đầu tiên chỉ tăng 7.7 phần trăm, thấp hơn con số 7.9 phần trăm của quý 4 năm 2012. Xuất khẩu đang chậm lại và sự tăng trưởng đầu tư vốn làm chỗ dựa cho nền kinh tế trong quá khứ đang thiếu bền vững một cách rõ rệt. Bắc Kinh đang hy vọng giữ được nền kinh tế đi đúng hướng bằng cách chuyển dịch một "mô hình tăng trưởng" mới dựa trên sự tiêu dùng và tiền công năng suất. Tuy vậy cho đến giờ có rất ít bằng chứng cho thấy là chiến lược này đang có hiệu quả. Thực ra mà nói thì không có lý do nào để tin rằng một sự chuyển dịch kiểu này có thể thành công dưới hệ thống kinh tế chính trị hiện tại.

Khi mà cỗ xe khổng lồ Trung Quốc đang mất xung lực, phải chăng người Mỹ nên thở phào nhẹ nhõm? Không hẳn vậy. Thật không may là sự suy thoái của Trung Quốc chắc chắn sẽ là ít yên bình hơn nhiều so với sự tăng trưởng của nó.

Tăng trưởng chậm lại sẽ biểu lộ ra một vấn đề sống còn của Đảng cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ). Kể từ lúc kết thúc kỷ nguyên của Mao năm 1978 cho đến giờ, tăng trưởng kinh tế luôn là một cơ sở chính để hơp pháp hóa sự tồn tại của Đảng. Sự tăng trưởng chậm kéo dài sẽ làm yếu sự duy trì quyền lực của Đảng giống như cách mà đã phá ngầm từ từ quyền lực của hoàng đế tuyên bố "thiên tử" thời phong kiến. Nếu Trung Quốc không đến được vị trí "Số 1" thì rốt cục, một số lời bào chữa cho quyền cai trị của Đảng sẽ khẩn cấp được cần tới.

Đòn đánh cược hay nhất mà Đảng sẽ dùng là con bài chủ nghĩa dân tộc, với việc bảo vệ tổ quốc làm sứ mạng chính. Điều này sẽ không khó. Nó sẽ rất dễ để đổ lỗi cho sự thất bại kinh tế Trung Quốc do âm mưu của các thế lực ngoại quốc, thậm chí  như là Mao Trạch Đông đã làm trong diễn văn nổi tiếng của ông ta trong tuyên ngôn lập quốc năm 1949. Thực sự là Trung Quốc đã "rơi lại phía sau", ông ta nói, là "bởi hoàn toàn do sự áp bức và bóc lột từ chủ nghĩa đế quốc ngoại bang và bọn chính phủ phản động quốc nội"

Cũng sẽ rất dễ để đặt nền kinh tế Trung Quốc vào bờ vực chiến tranh. Các cơ quan trung ương Trung Quốc khá thích hợp cho sự huy động nguồn lực cho các ngành công nghiệp quốc phòng. Một sự thúc đẩy quân sự cũng sẽ giúp tiêu thụ các vấn đề về dư thừa công suất của ngành công nghiệp nặng. Tổng dung lượng dư thừa của lãnh vực sắt thép là một ví dụ, nó đã vượt qua dung lượng của Mỹ rồi. Sản xuất vũ khí sẽ chắc chắn được xem xét như một cách tốt để đưa các nhà máy dư thừa trở lại hoạt động.

Các vụ việc can dự vào các nước láng giềng là một bằng chứng cho sự hiếu chiến gia tăng trong việc tuyên bố chủ quyền đất đai. Đã có các căng thẳng leo thang với Nhật về quần đảo Senkaku và các tranh cãi tại biển Đông với Việt Nam , và thậm chí cả việc đột kích vào vùng đất Himalayan do Ấn Độ kiểm soát trong khu vực được tuyên bố chủ quyền của cả New Delhi và Bắc Kinh.

Những sự cố như thế này thường được mô tả là các cuộc tranh giành nhằm kiểm soát nguồn tài nguyên như khí gas và dầu mỏ tại biển Đông. Tuy nhiên chúng nên được hiểu là kết quả của những kế hoạch hành động trong nước của Đảng. Và nên được hiểu là các bài tập dượt quan hệ công chúng họ đã thành công một cách đáng kể. Tâm lý chống Nhật của người Hoa hiện ở mức độ cơn sốt, với việc nhiều công dân mạng đã biểu lộ sự ủng hộ cho các hành động quân sự chống lại Nhật Bản nhằm đòi lại vùng đất bị mất, sửa sai lịch sử và phục hận quá khứ.

Các nhà làm chính sách Hoa Kỳ cần nhận thức được tâm lý chủ nghĩa dân tộc kiểu này là quân bài tung ra ngay khi kinh tế chậm lại. Do đó Bắc Kinh thích ngóng trông về việc các tranh cãi quốc tế vẫn cứ không được giải quyết. Mục đích của nó là sẽ giữ cho công chúng Trung Quốc quay cuồng với ý nghĩ về các hiểm họa ngoại lai có thể gây cho an ninh quốc gia và phát triển kinh tế Trung Quốc.

Chính Trung Quốc chứ không phải Mỹ được định mệnh là "thế lực suy thoái" trong những năm còn lại của thập kỷ này. Điều này có nghĩa là chính sách ưa thích kiểu "hứa hẹn" của Washington sẽ không có tác dụng. Bắc Kinh sẽ không thể nào giao đất trong các tranh cãi với láng giềng vì làm thế sẽ khiến Đảng bị suy yếu trong nước. Những sự kiện kiểu như gặp gỡ gần đây giữa Tổng thống Obama và Tổng bí thư Tập Cận Bình sẽ không cải thiện quan hệ Mỹ-Trung khi mà sự sống sót của ĐCSTQ phụ thuộc vào việc leo thang căng thẳng.

Đối thoại như thế chắc chắn không có hiệu quả, thay vào đó Hoa Kỳ phải tập trung vào việc bảo vệ các quan tâm chiến lược của mình tại Thái Bình Dương. Mỹ phải tiếp tục xiết chặt quan hệ với các đối tác khu vực, đặc biệt là Nhật Bản và Đài Loan, những nước chắc chắn sẽ là mục tiêu chính của chủ nghĩa quân sự phiêu lưu Trung Quốc. Quan trọng nhất, Mỹ cần tránh việc giúp đỡ ĐCSTQ giấu nhẹm các đòi hỏi về cải tổ chính trị ở quê nhà bằng việc trao các chiến thắng dễ dàng cho nó ở nước ngoài.

Tiến sĩ Mark A.DeWeaver quản lý quỹ thị trường phát triển Quantrarian Asia Hedge và là tác giả sách Anima Spirits with Chinese Characteristics: Booms and Busts in the World’s Emerging Economic Giant.

Đọc bản tiếng Anh


Phần nhận xét hiển thị trên trang