Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Hai, 24 tháng 6, 2013

Nhà văn dò tìm những mạch ngầm



Với ba tiểu thuyết "Vụ Án", "Lâu Đài", "Hóa Thân", Franz Kafka đã trở thành một nhà văn lớn của thế kỷ 20, bên cạnh James Joyce, Marcel Proust. Ông tin chắc rằng có nhiều thế lực vô hình giấu mình trong tâm thức nhà văn và một khi "biển cả đã đóng băng" bị nứt nẻ ra, các hồn vía không tên, bức bách chiếm lĩnh lại ngòi bút của nhà văn.

Trong một lá thư gửi người bạn vào tháng giêng năm 1904, Kafka viết : «Tác phẩm là nhát búa phá vỡ biển cả đã đóng băng trong chúng ta». Kafka đã lấy cuộc đời đặt cược cho văn học như vậy.

Không lấy vợ, đẻ con, không suy tính đến tương lai, mỗi đêm ngồi viết đến tảng sáng, mắc bệnh lao, thổ huyết đều đều, cũng chẳng màng đến hư danh, khi chết để lại chúc thư uỷ thác cho người bạn Max Brod việc thiêu đốt tất cả những sáng tác mà Kafka chưa hoàn tất, chưa ưng ý.

Nhưng may mắn thay, di chúc của Kafka đã bị phản bội. Max Brod đã không ném vào thần lửa các tiểu thuyết như «Vụ Án» và «Lâu Đài». Cùng với truyện ngắn «Hóa Thân», hai truyện dài vừa kể đã bảo đảm cho Kafka vị trí nhà văn lớn nhất thế kỷ 20, bên cạnh James Joyce và Marcel Proust.


Kafka người dò tìm những mạch ngầm


Trong số ba nhà văn lớn được công nhận là người mở đường cho tiểu thuyết hiện đại, Kafka mang nhiều ẩn số nhất, cho dù các tác phẩm của ông dễ đọc hơn nhiều trường thiên tiểu thuyết của Proust hay truyện «Ulysse» của Joyce. Bí ẩn của trường hợp Kafka suốt một thế kỷ vừa qua đã rõ, khi hàng vạn bài viết và tập sách nghiên cứu đề nghị diễn giải ý nghĩa của các tiểu thuyết như «Vụ Án» và «Lâu Đài». Tuy nhiên, đằng sau các bài phê bình uyên bác, thường phản ảnh dấu ấn những ý thức hệ đương thời, dường như Kafka chỉ nói về mình, về các giấc mộng kinh hoàng của kẻ ngoại cuộc, mãi mãi đi tìm một chỗ đứng trong cuộc đời để viết văn.

Tháng 7 vừa qua, 125 năm sau ngày sinh của Kafka, thế giới kỷ niệm sự kiện này, xem đó là một món nợ phải trả đầy đủ cho một nhà văn đã bắt mạch thời thế, chiêm nghiệm trước những khổ đau của thế kỷ vừa qua, mở đường cho đông đảo các tiểu thuyết gia năm châu. Gabriel Garcia Márquez đã từng tiết lộ, ông đã khám phá được cách viết văn mới khi phát hiện Kafka.

Franz Kafka sinh ngày mồng 3 tháng 7 năm 1883, tại Praha, lúc đó thuộc đế chế Áo Hung, nay là thủ đô cộng hòa Tiệp. Ông mất năm 1924, gần Vienna, thọ 41 tuổi. Cột mốc đánh dấu sự nghiệp của Kafka diễn ra vào buổi tối ngày 22 tháng 9 năm 1912. Lúc ấy, ông dự định viết về một chủ đề khác, nhưng theo lời tường thuật của chính ông, ngòi bút của ông như thần nhập, như lên đồng, ông viết một mạch như ma đuổi truyện ngắn đặt tên là «Bản Án». Chỉ trong một đêm, đến tảng sáng, truyện ngắn này đã hoàn tất. Phải nói ngay rằng «Bản Án» không phải là bản nháp của «Vụ Án», nhưng ngay từ lúc đó, Kafka như người phá vỡ được ức chế nội tâm, đã kể một câu chuyện về mâu thuẫn giữa cha và con, về sự tàn nhẫn và sự hy sinh, về những bí mật phải che giấu và mặc cảm tội lỗi. Quan trọng hơn cả, kể từ lúc đó, Kafka đã sáng tạo được cho mình phương pháp chấp bút. Ông đã nắm bắt được một chân lý. Ông tin chắc là có nhiều thế lực vô hình, giấu mình trong tâm thức nhà văn. Chưa biết chừng, đó là vị thần nặc danh hay ác quỷ hay chăng đây chỉ là những bóng ma trong đêm khuya hiện về ? Tầm thường hơn, có lẽ đấy chỉ là thế giới nội tâm, một khi « biển cả đã đóng băng » bị nứt nẻ, các hồn vía không tên, bức bách chiếm lĩnh lại ngòi bút của nhà văn.

Cứ như vậy, Kafka tin chắc vào chính mình để sáng tác và ông đã vắt kiệt sức mình để lại ba tác phẩm được biết đến nhiều nhất là «Hóa Thân», «Vụ Án» và «Lâu Đài».

Trong ba tác phẩm vừa kể, «Hóa Thân», xuất bản năm 1915, đã trở thành kinh điển với nhân vật Grégoire Samsa, một sớm thức giấc, chợt thấy mình hóa thân thành một con bọ cồng kềnh.

«Vụ Án» thì đau xót, dữ dội, với lần đầu tiên trong lịch sử văn học xuất hiện thân phận một con người bị buộc tội oan, mà nạn nhân lại không biết tội danh là gì. Nhưng pháp lệnh không thể nhầm lẫn. Joseph K nhân vật ở đây sẽ bị hai kẻ lạ mặt đến cắt cổ mà anh ta vẫn không ngừng kêu oan. Ngay từ trang đầu, Kafka thu hút độc giả với câu : «Chắc hẳn có người bôi nhọ Joseph K, bởi vì chẳng làm điều gì nên tội, nhưng ông ta đã bị bắt vào một buổi sáng».

«Lâu Đài», truyện dài viết dở dang. Mở đầu ở trang nhất như sau : «Đó là vào một chiều tối, khi K đã đến đây. Ngôi làng phủ đầy tuyết. Không thể nhìn thấy ngọn đồi toà Lâu Đài với sương mù và bóng tối vây quanh. Không có dù chỉ một đốm sáng nào cho biết sự hiện hữu của một tòa lâu đài to lớn. K dừng lại một hồi lâu bên chiếc cầu gỗ trên con đường dẫn đến ngôi làng và ngẩng nhìn về phía có thể tưởng chừng chỉ là một khoảng không».

Câu chuyện «Lâu Đài» của Kafka mở màn như vậy, đơn giản, nhẹ nhàng, khúc chiết. Tất cả đều bình dị, ngoại trừ nhân vật ở đây lại không có tên hay nói đúng hơn, người này chỉ được nêu danh bằng ký hiệu chữ K. Đêm đó, K trú ngụ tại ngôi làng. Hôm sau, K hỏi han, tìm cách tiếp xúc với Lâu Đài. Là người đạc điền, K nói đã nhận được hợp đồng để làm việc tại Lâu Đài. Tuy nhiên, suốt thời gian sau, mặc dù kiên định đến đâu, K vẫn không được phép băng qua cửa tòa Lâu Đài để yết kiến chủ nhân của nó.

Hoàn cảnh của K, cả làng ai cũng biết. Lâu Đài gửi những trợ lý xuống làng, tiếp chuyện với K, thậm chí có cả hai gã thanh niên được phái xuống làng để giúp đỡ K, nhưng thâu nhận K thì điều này chẳng bao giờ Lâu Đài chấp thuận. Ngày tháng qua, K sinh hoạt ở ngôi làng dưới chân đồi, chờ đợi cơ hội, ngóng trông một tín hiệu của Lâu Đài, sẽ không bao giờ đến. Thế giới của Lâu Đài, anh ta chỉ biết qua trung gian hay những phản ảnh gián tiếp. Cửa Lâu Đài vẫn đóng. Kể đến đây, chưa đủ thời gian kết thúc tiểu thuyết, Franz Kafka đã qua đời.
Đi tìm Lâu Đài của Kafka (Phần 2) Mê Cung


Không thể tách rời ý nghĩa những tác phẩm của Kafka ra khỏi mảnh đất chúng sinh sôi nẩy nở. Cũng không thể « đọc » Kafka mà quên đi chúng ta đang đứng ở đâu, tại những điểm nhìn nào. Vì vậy, phải trở ngược về đầu thế kỷ 20, quãng thời gian đã được nhà sử học Eric J.Hobsbawm mệnh danh là kỷ nguyên của những Đại Họa.

Kafka sinh trưởng trong một gia đình gốc Do Thái, tại Praha, thủ đô Tiệp ngày nay, thuộc đế chế Áo Hung lúc đó. Nhưng ông được đào tạo tại những ngôi trường Đức, ông tiếp thu văn hóa Đức và sáng tác bằng tiếng Đức. Như vậy, Kafka mang trong mình sự cộng hưởng của ba nền văn hóa : Văn hóa Do Thái, văn hóa Tiệp và văn hóa Đức. Sau này, giá trị tinh thần của sự nghiệp Kafka trở thành một di sản được cả ba nền văn hóa này khẳng định sở hữu và tranh giành bản quyền, hay ít nhất là đòi áp đặt một cách diễn giải riêng. Có lẽ, ảnh hưởng của ba nền văn hóa này vừa là chìa khóa của các tác phẩm, vừa là nguyên nhân gây xung đột trong tâm thức nhà văn.

Do đó, trước khi xem xét các cách tiếp cận, cách « đọc » Kafka, thiết tưởng nên tìm hiểu tiểu sử độc đáo của một nhà văn bị giằng co giữa nhiều « bản sắc », mà hơn nữa, vào thời điểm tài năng chín mùi, đứng ở vị trí bản lề lịch sử của châu Âu giữa thế kỷ 19 hòa bình và thế kỷ 20 kinh thiên động địa.

Kafka, đứa trẻ của chính sách đồng hóa người Do Thái

Kafka sinh năm 1883 trong một gia đình gốc Do Thái đã bắt đầu được đồng hóa. Lúc trẻ, Kafka không mấy quan tâm đến gốc rễ Do Thái của mình, cho dù gia đình ông vẫn vào đền tham dự các buổi lễ quan trọng của Do Thái giáo. Nhưng, theo đa số các nhà nghiên cứu Do Thái hiện nay, Kafka càng trưởng thành càng cảm thấy mình lạc loài, như người mất gốc, mất lai lịch.

Phải nói thêm, cho dù người Do Thái đã di dân sang châu Âu từ ngàn năm trưóc, nhưng trong đế chế Áo - Hung, phải đợi đến 1848, tức là 35 năm trước khi Franz Kafka ra đời, cộng đồng người Do Thái mới được công nhận quyền bình đẳng. Trước 1848, người Do Thái bị đàn áp, khống chế rất dã man. Ví dụ điển hình là chẳng những họ bị đẩy ra sống ở ngoài lề xã hội, mà hơn vậy nữa, nhà chức trách giới hạn gắt gao việc tăng trưởng dân số người Do Thái với đạo luật : Chỉ có con trai đầu lòng của gia đình người Do Thái được quyền kết hôn và lập gia đình. Điểm quan trọng ở đây là Kafka đại diện cho thế hệ thứ hai, kể từ khi người Do Thái được đồng hóa, trong khi ông cụ nội của Kafka còn phải bị lưu đầy, suýt không được quyền lập gia đình, nếu sự kiện 1848 không diễn ra. Hoàn cảnh này cũng đáng lưu ý trong sự hình thành của tâm thức Kafka. Gốc gác này còn hiển hiện trong Nhật ký của Kafka. Năm 1911, ông viết : « Tôi tên là Amschel trong tiếng Hebreu (Do Thái) như ông cụ nội của mẹ tôi ».

Praha vào đầu thế kỷ 20 cũng là một thủ đô đa sắc tộc với ba cộng đồng chung sống tại đây. Đông nhất là người Tiệp, cư dân Đức thì giàu có và thiểu số người Do Thái. Nhưng tiếng Đức là ngôn ngữ chính thống của đế chế Áo - Hung. Bởi vậy, người Do Thái Praha thuộc thành phần khá giả, như gia đình Kafka, cho con học tiếng Đức hầu thăng tiến trong xã hội.

Tuy nhiên, sự kỳ thị, bài xích người Do Thái vẫn tiềm ẩn trong các xã hội Âu châu đương thời. Lâu lâu lại nổi lên các tin đồn là dân Do Thái giết người để tế lễ. Vì vậy, tại Praha, năm 1901, diễn ra nhiều cuộc biểu tình ầm ĩ chống Do Thái, hay tại Pháp, nổ ra vụ án Dreyfuss cuối thế kỷ 19. Phải đợi đến đầu thế kỷ 20, năm 1906, sĩ quan này mới được phục hồi tại Pháp.

Một dấu hiệu khác cần quan tâm là Kafka về cuối đời, nảy sinh ý định di tản sang Palestine, nơi người Do Thái xem là quê hương lịch sử của mình. Tất cả những người bạn của Kafka đều mang gốc gác Do Thái, như Max Brod. Sau này, Max Brod đã định cư tạ Palestine và viết lời đề bạt cho những tác phẩm của Kafka. Theo người đã được Kafka ủy thác thực hiện di chúc, đồng thời là người bạn tâm giao, hiểu biết cặn kẽ nhất về Kafka, đã cùng với Kafka chu du Âu châu, thậm chí dẫn dắt nhau vào các nhà thổ hưởng lạc, thì «Vụ Án» và «Lâu Đài» là hai tác phẩm anh em sinh đôi. «Vụ Án» là hành trình đi tìm công lý, trong khi «Lâu Đài» là biểu tượng của «Phúc Phận», biểu tượng của «Ân Huệ», tiếng Pháp : La Grâce). Đó là hai khái niệm thần học của Do Thái giáo mà theo sách thánh Kabbale, cho phép con người cảm nhận được sự hiện diện của Thượng Đế.

Mê cung của lịch sử

Bên cạnh ý nghĩa mang tính tâm linh vừa kể, tiểu thuyết và cả truyện ngắn của Kafka nữa hàm chứa rất nhiều ẩn dụ. Đó là những văn bản đa nghĩa – textes polysémiques – thúc đẩy các thế hệ độc giả bốn phương đi tìm lời giải.

Nhưng quan trọng không kém là khung cảnh lịch sử đầu thế kỷ 20 và đặc biệt là 20 năm đầu tiên, thời gian Kafka cầm bút trước khi qua đời năm 1924. Trong giai đoạn này, điều chưa từng thấy tại châu Âu là đại họa Thế Chiến. Đây là khái niệm chiến tranh toàn diện giữa các cường quốc như Nga, Pháp, Áo – Hung, Phổ, Ý và Anh Quốc. Bởi vậy, theo tất cả những chứng từ còn lưu lại từ ấy cho đến nay, con ngưòi Tây phương vào thời điểm đó có cảm giác lâm vào một mê cung thăm thẳm, trong khi cùng lúc sụp đổ tan tành ba đế chế vĩ đại : Đế chế Nga, đế chế Áo – Hung và đế chế Ottoman, tức Thổ Nhĩ Kỳ. Tại Vienna, thủ đô Áo – Hung, nhà văn Karl Kraus xuất bản quyển sách dài tựa đề : «Những ngày cuối cùng của loài người». Còn ngoại trưởng Anh, ông Edward Grey, vào lúc mà nước ông và Đức tham chiến, đã thốt rằng : «Các ngọn đèn đã chợt tắt trên toàn lục địa châu Âu. Chúng ta sẽ không thấy đèn bật sáng trở lại trước khi chúng ta nhắm mắt». Điều này cần nhấn mạnh. Đặc điểm chung của thế hệ trưởng thành những năm đệ nhất Thế Chiến, đó là họ đều linh cảm ít nhiều thế giới thân quen, gần gũi của họ một sớm mai đã tan vỡ, nhường chỗ cho bạo lực ở một chiều kích chưa từng thấy, báo hiệu những cuộc tàn sát tập thể dã man, phản nhân văn. Phải chăng nên nhắc lại ở đây những người đương thời không thể tin vào những điều họ nhìn thấy trước mắt và họ sẽ chứng kiến trong suốt nửa thế kỷ : 10 triệu người bỏ mạng trong cuộc chiến 1914 – 1919 và ít nhất là 54 triệu người chết trong cuộc chiến 20 năm sau đó. Còn bao nhiêu trăm triệu người lưu lạc trên toàn thế giới ?

Loài người tất nhiên đã sống sót sau Đại Họa. Thế nhưng, từ lúc đó, các nhà trí thức châu Âu phỏng đoán toà kiến trúc kiên cố bảo vệ hòa bình của thế kỷ qua đã bị triệt hạ trong khói lửa. Sự an toàn không còn nữa trên thế giới này. Ở điểm này, Kafka hơn cả Joyce hay Proust, đã ghi chép lại cái không khí lo âu, sợ hãi bao trùm, sự mất mát nhân tính và những nẻo đường vô vọng của con người đi tìm sự cứu chuộc, điều sẽ diễn ra từ đệ nhất đến đệ nhị Thế Chiến, khiến cho sau này, ông được nhiều thế hệ tôn làm bậc thầy, vị tiên tri, cười ra nước mắt, báo hiệu con người sẽ không tài nào giải mã nổi thân phận chính mình.

Nhà văn Milan Kundera đánh giá : «Với Kafka, tiểu thuyết không còn là điều tự bạch của tác giả. Tiểu thuyết là cơ hội thăm dò ý nghĩa cuộc sống, khi thế giới đã trở thành mọt cái bẫy giam hãm con người».

Phần ba và cũng là phần chót của loạt bài về Kafka, với chủ đề : Tranh giành di sản Kafka. 
Đi tìm lâu đài của Kafka (Phần 3) Tranh giành di sản của Kafka

Đứng ở lằn ranh giữa ba nền văn hóa, ở khúc gẫy giữa hai thế kỷ, Kafka mất năm 1924. Phải đợi khoảng 20 năm, sau khi ông qua đời, thế giới mới sửng sốt phát hiện dòng văn được xem như lời sấm truyền.

Kafka, nhà tiên tri của chế độ toàn trị hay của địa ngục tư bản

Cách đọc Kafka của đông đảo độc giả hậu chiến từ những năm 40 có thể được xem là diễn giải chính trị. Người ta đã tiếp cận với Kafka như thể tiếp cận với một nhà tiên tri. Ở trung tâm các mạch ngầm tạo nên tác phẩm, dường như đã hiện hữu những điềm dự báo khốc liệt về một sự tiền định không lối thoát.

Văn chương của Kafka thôi thúc và cảnh tỉnh độc giả trưóc đại họa và mê cung. Sau đệ nhị thế chiến, không thể đọc «Vụ Án» mà không liên tưởng đến chế độ toàn trị, nơi công an, cảnh sát ngày ngày thẩm vấn bị can mà không cần đưa ra lời buộc tội. Từ Đông Âu sang Liên Xô và Trung Quốc, biết bao các vụ án dàn dựng, biết bao nạn nhân phải chứng minh mình vô tội, chứ không phải như thông lệ, guồng máy tư pháp chứng minh bị can phạm tội.

Có một nhà phê bình đã chua chát nhận xét : Dưới chế độ Staline, người dân Liên Xô không cần phải được diễn giải Kafka, mỗi khi về đêm khi họ nghe tiếng người lạ mặt đến xô cửa.

Nghịch lý ở đây, một lần nữa, bao trùm lên di sản Kafka khi quan sát thấy rằng Liên Xô đã kiểm duyệt tác phẩm của Kafka mãi đến cuối thế kỷ. Còn tại Tiệp và Đông Âu, văn chương Kafka hoàn toàn bị cấm đoán. Trong khi ở Tây Âu, Kafka được xem là « phản ứng đối với quyền lực vô hạn », lời của Theodor Adorno, thì tại các nưóc xã hội chủ nghĩa, Kafka bị các nhà mác-xít gán cho nhãn hiệu ngòi bút thể hiện sự « tha hóa của con người, trong một xã hội tư bản trì trệ, tù đọng », theo lời Georg Lukacs. Nói cách khác, các mâu thuẫn của đế chế Áo – Hung suy tàn, theo họ, đã phản ảnh vào các tác phẩm của Kafka để thể hiện « địa ngục tư bản ».

Các nhà sử học ghi nhận, năm 1963, nước Tiệp Khắc của thời kỳ chuyển tiếp sang chủ nghĩa xã hội mang gương mặt nhân bản đã toan phục hồi cho Kafka. Họ đã tổ chức một hội nghị thảo luận về Kafka. Trong không khí «tan băng», một số nhà tư tưởng như Roger Garaudy của Pháp, thuộc đảng cộng sản, nhưng chủ trương «đổi mới» đã bênh vực cho Kafka, xem các tác phẩm như «Vụ Án» và «Lâu Đài» là chim én báo hiệu mùa xuân. Ngay tức khắc, nhà tư tưởng Đông Đức của đảng cộng sản nước này, ông Alfred Kurella, đã bác bỏ và nói móc : «Đồng chí Garaudy đừng nhầm lẫn chim én với loài dơi ngủ ngáy suốt ngày trong các hành lang và tầng trệt của các lâu đài xưa cũ và các tòa án ». Ông Kurella gạt phắt mọi ý định phục hồi cho Kafka khi kết luận : «Kafka là nhà văn của sự tha hóa. Trong các nước xã hội chủ nghĩa của chúng ta, không còn sự tha hóa của con người. Bởi vậy, không cần đến Kafka ».

Tuy nhiên, cũng trong giai đoạn này, theo tạp chí Literarny Noviny của Tiệp Khắc, hàng ngàn người dân Tiệp, trong sở làm, trong các cửa hàng, trên xe điện, mỗi khi phải đối mặt với muôn vàn khó khăn trắc trở hàng ngày, trong một xã hội tha hóa và bị thao túng, họ thủ thỉ thầm thì với người lạ mặt đứng gần : «Đúng là Kafka » và họ ngẩng mặt lên trời như tìm ngưòi làm chứng.

Còn người dân Liên Xô khi đọc được Kafka qua những văn bản truyền tay, ngay từ dòng đầu của «Vụ Án» : « Chắc hẳn có người bôi nhọ Joseph K, bởi vì chẳng làm điều gì nên tội, nhưng ông ta đã bị bắt vào một buổi sáng », thì họ đã tưởng rằng Kafka là nhà văn Nga đấy.

Kafka và lời sấm truyền về số phận nghiệt ngã của người Do Thái

Không chỉ ở Đông Âu, lối kiến giải chính trị cũng thịnh hành ở Tây Âu và Bắc Mỹ. Đặc biệt là người Do Thái sống sót sau khi Đức quốc xã đã lùa vào lò thiêu 6 triệu đồng bào của họ và chửi rủa rằng «Chúng mày là loài sâu bọ». Người Do Thái cũng như đông đảo độc giả hậu chiến không thể đọc «Hóa Thân» và «Lâu Đài» mà không soi gương, ngỡ ngàng tìm thấy ở hành trình vô vọng của K định mệnh của dân tộc Do Thái truyền kiếp, vẫn là kẻ ngoại cuộc, người lưu vong không thấy nơi đâu chốn an toàn.

Ác mộng của Kafka đã biến thành sự thật. Nhiều người thân của Kafka đã không tránh khỏi lò thiêu Đức quốc xã. Milena, người tình của Kafka đã chết trong một trại tập trung của phát xít Đức. Mối đe dọa diệt chủng trong những bức thư của Kafka gửi đến Milena và Max Brod sau này được công bố, cho thấy Kafka đã ít nhiều linh cảm được tai họa này. Ở đây, các phê bình thuộc trường phái này còn minh chứng truyện ngắn «Trại Tù» - «La colonie pénitentiaire», báo hiệu cho thời đại diệt chủng mà Kafka đã tỉnh táo giải mã.

Tại Pháp, một Kafka siêu thực, hiện sinh

Tại Pháp, bản dịch đầu tiên của «Vụ Án» ra mắt vào năm 1933. «Lâu Đài» được xuất bản năm 1938. Phải đợi đến năm 1946, độc giả Pháp mới được thưởng thức tác phẩm «Châu Mỹ» sau nay được đổi tên là «Người mất tích». Còn tập «Hóa Thân» thì đến tay, độc giả Pháp năm 1938, sau khi đã được đăng trích đoạn trong 3 số của tập san Nouvelle Revue Française 1928.

Ngược dòng ngoảnh nhìn về mốc thời gian Kafka xuất hiện tại Pháp, có thể khẳng định bóng nhà văn này thật to lớn, bởi nó phủ lên hai trào lưu nghệ thuật mãnh liệt, sung sức nhất thế kỷ 20, đó là chủ nghĩa siêu thực và chủ nghĩa hiện sinh. Kafka đã mất quá sớm để có thể tiếp xúc với các bậc thủy tổ của hai trào lưu này : André Breton thuộc phái siêu thực, Jean Paul Sartre hay Albert Camus thuộc phái hiện sinh. Thế nhưng, ông đã báo hiệu sức bật của siêu thực, khi ông kết hợp ảo và thực, khi ông hòa nhập giấc mộng vào cuộc sống đời thường.

Điều này đã quá rõ trong văn chương Kafka. Ví dụ như trong «Lâu Đài», tòa nhà cứ sờ sờ trước mắt, nhưng K không tài nào tìm được ngõ vào. Lần đầu, con đưòng tưởng chừng dẫn vào cổng Lâu Đài, thì quanh co lại đưa K trở về khởi điểm. Có lần, tìm được người chỉ đường, thì K quá mệt mỏi, chợp mắt ngủ một giấc. Càng tìm hiểu và quan sát Lâu Đài, K càng cảm thấy mình lạc lối trong mờ bòng bong nghi vấn và lời nói dối.

Ở đây, bài học siêu thực đã được minh họa tài tình, khi cái nhìn về hiện thực trước mắt từ từ buộc K đạp đổ mọi điều khả tín. Với Kafka cũng như với các tín đồ siêu thực sau này, ranh giới giữa thực và ảo không còn nữa, trong tiểu thuyết. Sau trường phái siêu thực, những nỗ lực vô vọng của K được thế hệ hiện sinh hậu chiến của Pháp xem là biểu tượng của sự phi lý. Albert Camus đã giải mã Kafka như những ngụ ngôn của thân phận con người trở thành kẻ xa lạ trên thế giới này. Những mối lo âu, ám ảnh của Kafka được mô tả như nhịp cầu nối kết thế kỷ 20 hiện sinh với các bậc tiền bối như nhà triết học Kierkegaard, người đã cảnh báo : «Con người không còn khả năng trợ giúp hay cứu chuộc thời đại mình, mà chỉ còn có thể chứng kiến cái mất mát».

Từ Max Brod với «Phúc Phận» cho đến cái mất mát của thời đại, theo phái hiện sinh, đó là những dòng diễn giải chính yếu về Kafka. Nhưng còn vô số các học giả khác đề nghị xem xét Kafka theo lăng kính phân tâm học, hoặc ngược lại, giải phóng Kafka khỏi cứu cánh tôn giáo hay chính trị, trở về với một Kafka thuần thẩm mỹ. Hiện nay, có thể tập hợp hàng chục ngàn quyển sách nghiên cứu Kafka trong một thư viện khổng lồ. W.H.Auden, nhà thơ vĩ đại Anh Quốc đánh giá rằng : «Nêu danh một nhà văn mà vai trò đã ảnh hưởng sâu đậm đến thời đại của chúng ta không kém gì dấu ấn của Dante, Shakespeare hay Goethe, với các thế hệ đưong thời, thì người đó sẽ là Kafka».

Nếu chúng ta tin tưởng vào sức mạnh của tiểu thuyết, một nghệ thuật mà mỗi vùng tối được phát hiện đều trở thành cái đẹp, thì hôm nay hay ngày mai, mặc ai cứ thuyết giảng, độc giả thế kỷ 21 cứ lần giở Kafka để nghe ngân vang trong lòng những ý tưởng được đánh thức, những tiềm năng được thúc giục. «Hãy cất bước tìm Lâu Đài, mặc dù đường đời nhiều nguy nan».

Bảo Thạch
Phần nhận xét hiển thị trên trang

KafKa:

Một ngụ ngôn nho nhỏ

“Chao ôi!” Con chuột than, “mỗi ngày cái thế giới này lại trở nên bé nhỏ hơn. Ban đầu nó rộng lớn đến nỗi tôi cảm thấy e sợ, tôi cứ chạy mãi, chạy mãi và mừng làm sao khi cuối cùng tôi cũng đã thấy những bức tường hiện ra xa xa phía bên phải và bên trái, thế nhưng những bức tường dài này lại co hẹp nhanh đến độ rốt cuộc tôi đã ở trong căn phòng cuối cùng mất rồi, và ở góc phòng có một cái bẫy chuột mà tôi phải đâm đầu vào đó”. “Mày chỉ cần đổi hướng là được thôi mà”, con mèo nói rồi xơi tái con chuột.

Tình thân

Chúng tôi gồm có năm người, một ngày nọ chúng tôi đi ra từ một ngôi nhà, người nọ theo sau người kia, đứa đầu tiên bước ra, tự đặt mình đứng trước cổng nhà, rồi lại đến đứa thứ hai bước ra, đúng hơn là nó lọt qua cổng như một giọt thuỷ ngân, đứng kề ngay đứa thứ nhất, và cứ thế, đến lượt đứa thứ ba, thứ tư, thứ năm. Cuối cùng tất cả bọn tôi xếp thành một hàng. Thiên hạ bắt đầu chú ý đến bọn tôi, người ta chỉ trỏ bọn tôi và nói: năm thằng kia đi từ cái nhà đó mà ra đấy. Kể từ ấy chúng tôi sống cùng với nhau; đó sẽ là cuộc sống bình yên nếu như không có một thằng thứ sáu cứ liên tục muốn xen vào.Hắn chẳng gây hại gì cho chúng tôi cả, nhưng hắn quấy rầy bọn tôi, thế cũng đã là tai hại rồi; sao hắn lại muốn xông vào nơi mà chẳng ai mời hắn đến cơ chứ? Chúng tôi không biết hắn và không muốn hắn nhập bọn. Tất nhiên, cũng có thời năm đứa chúng tôi chẳng thằng nào biết thằng nào và cho đến bây giờ, cũng có thể nói chúng tôi vẫn không biết nhau thế nhưng điều gì là khả dĩ và có thể khoan dung được đối với năm đứa bọn tôi thì lại không thể xem là khả dĩ và có thể khoan dung được đối với trường hợp của thằng thứ sáu ấy. Dù thế nào đi nữa thì chúng tôi là nhóm năm người, chúng tôi không muốn trở thành sáu. Vậy thì việc cứ tiếp tục sống bên nhau như thế có ý nghĩa gì? Thật ra năm đứa bọn tôi cũng chẳng tìm thấy ý nghĩa gì nhưng bây giờ chúng tôi đang sống cùng nhau và sẽ tiếp tục sống cùng nhau; một sự kết hợp mới bất luận ra sao chúng tôi cũng không muốn, lý do của việc này hoàn toàn xuất phát từ kinh nghiệm của chúng tôi thế thôi. Nhưng làm sao có thể để thằng thứ sáu hiểu được điều đó? Những lời lẽ giải thích dài dòng rốt cuộc sẽ đi đến chỗ buộc phải đồng ý cho hắn nhập bọn mà thôi, thế nên tốt hơn là chúng tôi không giải thích và không chấp nhận hắn. Dù hắn có dẩu môi khó chịu thế nào thì chúng tôi vẫn cứ lấy khuỷu tay đẩy hắn đi nhưng bao nhiêu lần chúng tôi đẩy hắn đi là bấy nhiêu lần hắn lại trở về.

Luật sư mới

Chúng ta có một luật sư mới, tiến sĩ Bucephalus. Bề ngoài của ông hầu như không còn nét nào khiến bạn có thể nhận ra đã có thời ông là chiến mã của hoàng đế Alexander, vương quốc Macedonia. Tất nhiên, nếu bạn biết chuyện của ông, có thể bạn sẽ nhận ra một điều gì đó. Thế nhưng ngay cả một gã giữ cửa bình thường ở toà án, một tay cá cược loại nhỏ thường xuyên ở trường đua sành sỏi trong chuyện xem ngựa, kẻ mà có lần tôi nhìn thấy trước cửa toà án, cũng ngước nhìn vị luật sư với ánh mắt ngưỡng mộ khi ông nhấc cao chân dẫm lên những bậc thềm làm bằng cẩm thạch khiến chúng phải rung lên thành tiếng dưới chân ông.

Nói chung, Đoàn luật sư chấp thuận việc kết nạp Bucephalus. Với khả năng hiểu biết đáng ngạc nhiên, xã hội hiện đại nó là thế, người ta bảo nhau rằng Bucephalus đang ở trong tình thế khó khăn, đồng thời cũng nghĩ đến tầm quan trọng của ông đối với lịch sử của thế giới này, do đó ông đáng được đón nhận một cách thân mật, chí ít là như vậy. Bây giờ làm gì có Alexander đại đế - điều này không thể chối cãi được. Có nhiều kẻ biết giết người thế nào, cũng không ít người thành thạo cách với tay qua bàn tiệc và đâm chết thằng bạn chỉ bằng một nhát kiếm; và đối với nhiều người, xứ Macedonia này quá là tù túng, vì thế họ nguyền rủa Phillip, ông tổ của mình – nhưng không ai, không một ai cả, có thể vạch đường sang Ấn Độ. Vào thời của mình, khi mà cánh cửa xứ Ấn thậm chí vẫn còn ngoài tầm tay, lưỡi gươm của Hoàng đế vẫn chỉ đường cho họ. Giờ đây, những cánh cửa ấy còn xa xôi, cao vời hơn; không có ai chỉ đường; nhiều kẻ mang gươm nhưng chỉ là để khua khoắng, và cố dõi theo họ thì chỉ tổ hoa mắt mà thôi.

Có lẽ vì vậy cứ làm như những gì Bucephalus đã làm là tốt hơn cả và hãy đắm mình trong những cuốn sách luật. Trong ánh đèn tĩnh lặng, hai bên hông của ông thôi không còn bị kẹp bởi bắp đùi của kị sĩ, tự do và xa cách những âm thanh náo loạn của chiến trận, ông ngồi đọc và lật xem những trang thư tịch cổ của chúng ta.

Cây cầu


Tôi cứng và lạnh, tôi là một cây cầu, tôi nằm ngang trên một lũng nước sâu. Những ngón chân tôi gác lên một bên bờ, những ngón tay tôi bấu lấy bờ bên kia, tôi móc tôi chặt chẽ vào lớp đất dễ tróc lở. Cặp đuôi áo choàng của tôi bay phất phơ hai bên hông tôi. Chảy ầm ĩ bên dưới xa tắp kia là dòng nước lạnh giá nhung nhúc cá hồi. Không du khách nào lạc lối đến độ cao không thể vượt qua này, cây cầu chưa được vẽ trên bất cứ bản đồ nào. Thế nên tôi nằm đợi; tôi chỉ có thể đợi. Một lần đã được bắc lên, nếu không sập xuống, thì không cây cầu nào có thể thôi là cây cầu.

Vào buổi xế chiều của một ngày -- ngày đầu tiên, hay ngày thứ một ngàn? tôi không thể nói -- tư tưởng tôi luôn luôn rối loạn và xoay mòng mòng không ngưng. Vào buổi xế chiều mùa hạ, tiếng gào của dòng nước trở nên trầm hơn, khi tôi nghe tiếng bước chân của một người! Đi về phía tôi, phía tôi. Hãy rướn thẳng người, hỡi chiếc cầu, hỡi những thanh cầu không có chỗ vịn tay, hãy sẵn sàng để giữ vững người hành khách được ký thác cho ngươi. Nếu bước chân của gã loạng choạng, hãy bí mật giúp gã đi vững vàng, nhưng nếu gã vấp ngã, thì hãy cho gã biết ngươi được làm bằng thứ gì, và như một ông thần núi, ngươi hãy hất gã văng qua bờ bên kia.

Gã đến, gã gõ vào tôi bằng cái mũi sắt của chiếc gậy, rồi gã dùng nó để khoèo cặp đuôi áo choàng của tôi và đặt chúng lên lưng tôi. Gã thọc mũi gậy vào mớ tóc bù xù của tôi và để nguyên như vậy thật lâu, hiển nhiên là gã đã quên tôi trong lúc gã chằm chằm nhìn quanh với đôi mắt man dại. Nhưng rồi -- cheo leo trên núi cao và lũng sâu, tôi chỉ đang theo dõi gã bằng ý nghĩ -- gã nhảy cẫng lên và dậm xuống bằng cả hai chân ngay chính giữa thân xác tôi. Tôi oằn người vì đau đớn dữ dội, chẳng biết cái gì đang xảy ra. Ai vậy? Một đứa trẻ? Một giấc chiêm bao? Một khách bộ hành? Một cuộc tự sát? Một tên xúi quẩy? Một kẻ phá hoại? Và tôi xoay mình lại để nhìn gã. Một cây cầu xoay mình! Mới xoay lưng chừng tôi đã bắt đầu rơi, tôi rơi xuống, và trong một khoảnh khắc tôi bị xé toang và đâm nát ngướu bởi những mũi đá nhọn -- những mũi đá vẫn luôn luôn thật bình thản ngước lên đăm đăm nhìn tôi từ dòng nước cuồn cuộn chảy.

Về những ẩn ngữ

Nhiều người đã phàn nàn rằng ngôn từ của bậc hiền triết luôn luôn chỉ là những ẩn ngữ và vô dụng trong cuộc sống hàng ngày, mà cuộc sống hàng ngày lại chính là cuộc sống duy nhất chúng ta có. Khi nhà hiền triết nói: "Hãy vưọt qua", ngài không muốn bảo rằng chúng ta nên băng qua một cái gì đó để đến một nơi nào đó -- một việc chúng ta chắc hẳn làm được nếu nó đáng với công sức bỏ ra -- nhưng ngài lại muốn nói về một điều xa xăm ảo diệu nào đó, một điều chúng ta chưa từng biết, một điều mà ngài cũng không thể diễn tả đơn giản hơn được, và do đó không thể giúp ích cho chúng ta một chút nào cả. Tất cả những ẩn ngữ này được tạo ra cốt để cho chúng ta biết rằng điều bất khả tri là bất khả tri, và chúng ta vốn đã biết như thế rồi. Tuy nhiên những điều chúng ta hàng ngày phải nhọc nhằn lưu tâm đến lại là một vấn đề khác.

Bàn về điều này, có lần một người đã nói: Sao lại còn do dự? Nếu quý vị chỉ đi theo những ẩn ngữ, thì chính quý vị sẽ trở thành những ẩn ngữ và quý vị sẽ gạt bỏ hết những mối lưu tâm hàng ngày.

Một người khác nói: Tôi dám đánh cuộc rằng điều anh nói cũng là một ẩn ngữ.

Người thứ nhất nói: Anh thắng cuộc rồi đấy.

Người thứ hai nói: Nhưng, rủi thay, tôi chỉ thắng trong ẩn ngữ.

Người thứ nhất nói: Không, trong hiện thực; chứ trong ẩn ngữ thì anh đã thua cuộc rồi.


Prometheus

Có bốn truyền thuyết về Prometheus:

Theo truyền thuyết thứ nhất, ông bị xiềng vào một tảng đá ở vùng Caucasus vì tội đã để lộ những bí mật của thần linh cho loài người, và các thần linh đã cử những con đại bàng đến ăn gan ông mà bộ gan ấy lúc nào cũng được phục nguyên như cũ.

Theo truyền thuyết thứ hai, khổ sở bởi những vết thương do chim mổ, Prometheus tự ấn mình ngày một sâu hơn vào tảng đá cho đến khi ông nhập vào làm một với nó.

Theo truyền thuyết thứ ba, sự phản bội của ông bị lãng quên suốt cả hàng ngàn năm, bị lãng quên bởi các thần linh, bới những con đại bàng, bị lãng quên bởi chính bản thân ông.

Theo truyền thuyết thứ tư, tất cả mọi người rồi cũng trở nên mệt mỏi bởi câu chuyện vô nghĩa đó. Các thần linh mệt mỏi, những con đại bàng mệt mỏi, vết thương lành lại một cách mệt mỏi.

Chỉ còn đó một khối đá không thể giải thích nổi .Truyền thuyết đã cố giải thích cái không thể giải thích. Bởi truyền thuyết bắt nguồn từ cơ sở của sự thật thế nên đến lượt mình, nó cũng phải kết thúc trong tình trạng không thể giải thích nổi vậy thôi.


Những thân cây

Chúng ta giống như những thân cây vùi trong tuyết. Bề ngoài, chúng nằm trơ ra đó và một cú đẩy nhẹ cũng đủ làm chúng lăn tròn. Không, không làm vậy được đâu, bởi chúng gắn chặt vào mặt đất. Nhưng này, ngay cả điều ấy cũng chỉ là bề ngoài. 




Phần nhận xét hiển thị trên trang

TU LIEU




Hoài vọng và ngu ngơ trong tác phẩm của Franz Kafka*
Võ Công Liêm

                        
             
    Trong tất cả thứ nghệ thuật của Kafka là lực thu hút độc giả mạnh nhất. Đoạn cuối trong tác phẩm của ông thường rỗng , hoặc cái vắng bóng trong phần cuối của câu chuyện như gợi cho ta thấy một sự giải thích có tính hàm chứa sự việc; tuy nhiên điều đó chưa hẳn là một phát hiện rõ ràng trong ngữ ngôn, nhưng trước đó lời văn tuồng như biện minh hơn là lý giải; đòi hỏi điều nầy là việc đọc lại từ những quan điểm khác nhau. Đôi khi có thể do từ  sự nghi ngờ của diễn dịch, đó là sự xuất hiện cần thiết cho hai thể cách đọc khác nhau. Ấy là những gì mà tác giả mong muốn và xem như hoài vọng. Nhưng đây không phải là điều để nói lên sai trái của tác giả mà cốt để lý giải những gì qua từng chi tiết trong tác phẩm của Kafka. Dấu hiệu đó thường hay xẩy ra một cách thông thường, và; dẫu sao cũng do từ diễn dịch mà ra, người nghệ sĩ có thể tái phục cách diễn tả chỉ trong một động lực nào đó: không có lời lẽ nào hơn để rút lại lời nói –there is no word for word rendering. Tuy nhiên; điều đó không còn là khó khăn để nhận biết mà đó chỉ là biểu tượng của một tác phẩm . Biểu tượng luôn luôn tỏ ra một cái gì siêu lý của con người, tạo ra ở chính nó để nói lên cái hiện thực nhiều hơn là ý thức. Cái đáng chú ý ở đây; nghĩa là hết sức an tâm để cầm giữ sự cớ của nó chớ không có tính khiêu khích, khởi từ trong tác phẩm không đem lại một định kiến nào hơn và cũng không tìm kiếm một ẩn giấu nào khác trong tác phẩm của ông. Đối với Kafka  đặc biệt ông đã hài hòa cái phép tắc của ông mỗi khi xử dụng ngôn từ để đưa tới kịch tính xuyên qua một ngoại giới của nó và ngay cả tiểu thuyết cũng vượt ra khỏi những thể thức thông thường như đã có trước đây.

Cái thoáng nhìn đầu tiên và bất chợt của độc giả là họ đã tìm thấy một cái gì phiêu lưu rối bời mà đó là những gì đạt tới của một trạng huống rúng động và vai trò cố chấp trong việc theo đuổi của vấn đề mà chính nó không bao giờ diễn tả một cách rõ ràng. Nhưng Kafka không biết những gì đã xẩy ra. Ông không còn nghi ngờ hay thèm khát một điều gì để phòng thủ cho chính ông, nhưng ông cũng không biết tại sao phải làm thế. Những nhà biện lý cho đó là trường hợp khó khăn cho Franz Kafka. Chính giữa lúc nầy ông không còn chểnh mảng chuyện tình yêu, ẩm thực hay đọc đi đọc lại nhiều lần bài viết của mình. Thế rồi từ đó Kafka như người bị phán xét công việc đã làm. Nhưng phiên tòa vẫn chìm trong bóng tối, ông không còn biết gì thêm hơn. Kafka phỏng chừng như bị kết tội; mà kết tội gì. Cuối cùng ông nhận ra mình là con người kỳ lạ và khó hiểu. Ở lúc nầy ông đâm ra nghi ngờ mọi thứ và chấp nhận mọi thứ để được sống. Về sau bất cứ mảy may gì xẩy ra đều được chính quyền để mắt đến ông. Hầu như người ta vuốt ve, lịch sự để đẩy ông vào trong thế bí của kẻ ngu xuẩn cùng cực, đặc đầu ông lên đá, xé toạt họng ông ra. Và; trước khi hấp hối người ta còn  kết án ông bằng một câu nói chua cay: ’đồ chó má!’.

Như vậy cho ta thấy rằng khó mà nói lên được thế nào là hiện tượng trong một câu chuyện kể của một ai, gần như đây là chuyện hiển nhiên vừa mới xẩy ra một cách tự nhiên. Nhưng tự nhiên ở đây là một mức độ khó hiểu, cũng có một số tác phẩm thường tình chỉ dành cho một số độc giả đọc vô tư không cần lý luận. Với Kafka thì lại khác, dù vai trò dựng lên tự nhiên hay hư cấu là việc thường tình đối với ông. Bởi những kỳ cục đó nhưng rõ ràng là tương nghịch, nhiều cái lạ lùng, phiêu lưu trong từng nhân vật, nhiều ghi nhận cho thấy là chuyện kể rất tự nhiên: cân xứng qua từng vai trò đưa tới những ngã rẽ khác nhau và từ đó chúng ta cảm thấy khác lạ giữa cuộc đời của con người và một cái gì có tính chân thật với những gì mà người ta tiếp cận được; đó chính là loại người dễ chấp nhận. Trạng huống nầy hình như rất tự nhiên đối với Kafka. Đúng thế; một nhận thức đích thực rõ nét trong ’Vụ-Án/The Trial’ của Kafka. Người ta cho đó là hình ảnh của con người. Chắc chắn là thế. Hẳn nhiên truyện được thể hiện qua hai bề mặt giản đơn và đầy phức tạp. Thiết tưởng đây là một ý nghĩa đặc biệt của tiểu thuyết và có ít nhiều cá tính của Kafka. Chắc chắn là chuẩn mực, là một trong những tác giả nói lên được khuynh hướng ngay cả bản thân chúng ta cũng thế; điều mà ông đã tự thú. Kafka sống thực và ông đã kết tội ông. Kafka học tập ngay từ những trang viết đầu tiên của tiểu thuyết, ông viết ra như kẻ bị truy nã khắp nơi trên thế giới và nếu thực sự ông muốn chụp lên đầu chiếc mũ đó, tuy nhiên ông không quá ngạc nhiên –he nonetheless does so without surprise. Thật như thế! Kafka sẽ không bao giờ tỏ ra đầy đủ để kinh ngạc ở cái thiếu hụt của kinh ngạc –he will never show sufficient astonishment at this lack of astonishment. Đọc những gì của Kafka thì thấy được lòng hoài vọng và sự ngu ngơ trong tác phẩm của ông –Hope and The Absurd in the Work of Franz Kafka. Tương phản đó là dấu hiệu ngu ngơ trong tác phẩm đã được thừa nhận. Một trí tuệ dự phóng cũng là một tinh thần bi thảm cứng nhắc và; đó là những gì có thể hành động duy nhất bởi cái nghĩa lý của tương nghịch cố hữu mà điều đó được đối chiếu trên một màu sắc đầy sức mạnh để được bày tỏ, tránh những gì thường xẩy ra như cử chỉ tỏ thẳng vào cái tham vọng vô bờ bến đó.

Vì vậy; trong tác phẩm ’Lâu Đài/The Castle’ có lẽ  là một lý thuyết trong hành động, nhưng cái sự cớ đó chính là việc đầu tiên của tất cả cá tính phiêu lưu của một tinh thần cố tìm kiếm và theo đuổi cái gọi là ban ơn, khoan hồng. Trong cái phần cơ bản tối nghĩa nầy đặc Kafka vào một sự bí ẩn. Đây là một thế lung lay vĩnh cửu giữa tự nhiên và phi tự nhiên, giữa cá tính và vũ trụ tính, giữa thảm kịch và đời sống, giữa ngu ngơ và cô đơn là tất cả đã tìm thấy trong tác phẩm của Franz Kafka và cho thấy được hai bề mặt: âm vang của nó và nghĩa lý của nó. Đấy là những tương nghịch của hữu lý và vô lý điều đó phải được nói đến, cái tương nghịch phải được nói thẳng để hiểu cái ngu xuẩn trong tác phẩm.
Đây là thuật ngữ (lexicon) là điều rất khó để vẽ lên hay nói đến. Ở Kafka có hai thế giới một dành cho đời sống hằng ngày, trái lại; với mặt khác thì luôn luôn có một khao khát siêu nhiên*. Với lẽ đó cho chúng ta mục kích được những gì ở đây là một chuỗi dài vô tận qua khám phá của Nietzsche ghi lại:’Vấn đề lớn lao nhất là nằm trong đường phố/Great problems are in the street’. Nietzsche muốn nói gì? Ấy là con người phản kháng.

*Cái điều xứng đáng là báo cho biết rằng những tác phẩm của F. Kafka có thể hoàn toàn hợp pháp để làm sáng tỏ trong một cảm thức phê phán xã hội (chẳng hạn trong cuốn Vụ- Án/Trail) Vả lại; điều đó có thể được là không có một nhu cầu nào để chọn lựa. Cả hai lý giải đó là tốt đẹp. Ở một hạn kỳ vô lý, trong khi đó chúng ta nhận thấy; phản kháng chống lại con người cũng đồng nghĩa chống lại Thượng đế: cuộc cách mạng vĩ đại là luôn luôn thuộc về siêu hình trừu tượng. It is worth noting that the works of Kafka can quite as legitimately be interpreted in the sense of a social criticism (for instance in The Trail) It is probable, moreover; that there is no need to choose. Both interpretations are good. In absurd terms, as we have seen, revolt against men is also directed against God: great revolutions are always metaphysical.

Cơ bản của cái gọi là ngu xuẩn được coi như là một điều không chấp nạp dành cho con người cao thượng. Hai sự trùng hợp ngẫu nhiên trong truyện của Kafka là việc tự nhiên khi ông đưa ra. Cả hai điều đó như là giới thiệu một cái gì bên trong, nhớ cho; trong cách ngăn buồn cười đó chính là cách ly khỏi tinh thần thừa thải và thú vui qua mau của thể xác. Cái sự ngu xuẩn đó sẽ có thể tác hại đến tinh thần và thể xác mà hai trạng huống đó là một cái gì vượt trội đưa tới xáo trộn tư duy. Cho nên chi Kafka biểu lộ được cái gì là bi thảm qua từng ngày và ngu xuẩn qua từng lý luận. Hãy coi bi thảm Hy Lạp là những bài học đáng qúy. Bi thảm là định mệnh an bài như tự nó làm cho ta cảm thấy tốt hơn là cái bề ngoài giả dối của bộ mặt luân lý đạo đức và an nhiên tự tại. Định mệnh của Oedipus là cả một dự báo trước; nó thuộc một cái gì siêu nhiên, chính sự cớ đó mà Kafka sẽ bị qui tội sát nhân và tội loạn dâm. Tất cả thảm kịch đó là một cố gắng bày tỏ một hệ thống luân lý đạo đức mà; đi từ miễn trừ nầy đến miễn trừ khác, sẽ là vòng hoa của những anh hùng bạc số. Đơn giản rằng điều đó chỉ báo cho chúng ta biết là không có mệnh hệ chung ở đây để phải hãi hùng lo sợ bởi vì tất cả không có gì là chắc chắn cả. Nhưng nếu dữ kiện đó cần thiết là chứng minh được đến với chúng ta trong khuôn thước của đời sống: xã hội, tâm trạng, tình cảm gia đình thì rồi kinh hãi đó tất sẽ được thánh hóa. Trong phản kháng điều đó sẽ làm cho con người sửng sốt và rồi Kafka phải thốt: ‘Không thể được/That is not possible’ đó là yếu tố đưa tới tuyệt vọng, chắc chắn rằng ‘điều đó’ có thể là / there is an element of desperate certainty that ‘that’can be. Ấy là những gì bi thảm của Hy Lạp hay ít ra cũng là một khiá cạnh nào đó hay một diện mạo khác. bởi cái phương pháp nghịch lý đó may ra cho chúng ta hiểu một cách sâu rộng về Kafka. Luơng tâm nhân loại đôi khi cũng có khuynh hướng chán nản, buông xuôi; nhãn hiệu đó như định mệnh; chỉ có điều đè bẹp nó ra mà thôi. Song le; con người thời đại lấy lòng tin yêu, vẽ vang mà hiểu đôi điều cho chính bản thân Kafka, trong khi ông không đủ lực để thừa nhận những gì ông đã làm. Có thể nói nhiều hơn trên cái tương nghịch đó, bao quanh cái đặc mệnh bi thảm Hy Lạp và tất cả những gì sẽ thánh hóa trong huyền thoại như trường hợp Ulysses của nửa đoạn đường phiêu lưu gặp trắc trở và rồi họ tự cứu lấy họ. Điều đó không phải dễ để trở về nơi linh điạ Ithaca.

Lấy gì để hồi cố trường hợp đó và đồng lõa một cách bí ẩn để nối vào nhau giữa luân lý đạo đức và bi thảm hằng ngày.Tại sao ở đây Samsa, người hùng trong ‘Hóa Thân/Metamorphosis’là một kẻ thương doanh. Tại sao ở đây chỉ có cái điều làm cho ông ta trở nên rối loạn ngu ngơ(disturbs)trong cái cuộc phiêu lưu lạ kỳ biến mình thành lũ sâu bọ.
-ấy là nguyên nhân gây ra một khuấy nhiễu nhỏ nhặt- ‘slight annoyance’.

Tất cả nghệ thuật của Franz Kafka là những gì cá biệt của riêng ông. Trọng tâm trong tác phẩm ‘Lâu Đài/The Castle’ của Kafka chi tiết về cuộc đời hằng ngày (every-day life) là nổi bậc hơn hết và vẫn là tiểu thuyết lạ lùng đưa tới một kết thúc trống rỗng và cứ thế mà tiếp nối cho tới khi chấm hết, một thứ phiêu lưu cần thiết cho một linh hồn cần chinh phục cái tha thiết ân cần của nó; ấy là một sự thay mặt cho Kafka. Trong tập truyện ‘Vụ Án/The Trail’ vai trò người hùng với tên gọi Schmidt hoặc đó là Franz Kafka. Nhưng tên thường gọi vẫn là Joseph K. Ông không phải là Kafka và cũng không hẳn là Kafka. Ông là một người Âu châu bình thường. Giống như mọi người khác trên thế giới này. Nhưng thực thể ông là K. ai là X. của xác thịt nầy và ai sẽ quân bình dòng máu nầy mỗi khi nói tới Kafka.

Nếu như Kafka muốn bày tỏ cái ngu ngơ thì ông phải xử dụng một thể thức kiên cố; bởi trong cuộc đời đang sống vốn có những vô lý hoặc ngu ngơ. Thì ra đó là câu chuyện dựng nên bằng một thể loại trang trí lạ lùng. Nhưng trong đó như một chiếm cứ trọn gói rõ ràng để nói lên mực độ ngu xuẩn có hiệu lực níu kéo cả một thứ luân lý đạo đức thừa thải. Thế giới của Kafka là chân thực không thể tả hết cái vũ trụ nầy mà vũ trụ đó con người được phép chọn cho chính nó một nỗi thống khổ, hành hạ qua một cách thức câu cá trong bồn tắm, cái xa hoa đó biết rằng không bao giờ đạt tới. Cho nên chúng ta phải thừa nhận rằng tác phẩm của Kafka đã chứa cái chất ngu ngơ của con người nằm trong đó.

Vì thế; thế giới đó không thể có như chúng ta đã thấy; Kafka tiếp tục giới thiệu niềm hy vọng trong một thể thức khác lạ. Trong hai tác phẩm ‘Vụ-Án/The Trail’ và ‘Lâu-Đài/The Castle’ hoàn toàn không cùng một thể; mà mỗi cuốn có những cái tương hợp bổ sung cho nhau. Vụ-Án đưa ra vấn đề còn Lâu-Đài chắc chắn có mực độ, giải quyết. Thứ nhất là miêu tả để phù hợp cái phương pháp gần khoa học (quasiscientific) và không kết thúc. Thứ hai là làm sao có một mực độ chuẩn (a certain degree). Vụ-Án là thăm dò, Lâu-Đài là hình ảnh trị liệu. Nhưng phương thức nầy đề ra ở đây là không phải để chửa trị; mà ở đây chỉ đưa người bệnh trở lại một cuộc đời bình thường. Lãnh điạ Quan sát viên (Land Surveyor) K. không thể là hình ảnh khác, một hình ảnh khát vọng hơn là đau khổ.

Có rất nhiều người vây quanh để rồi tấn công ông, điều đó cố tránh xa và làm đau đớn không tên để gọi; nếu sự đau đớn đó được mô phỏng trong trường hợp như một sắc diện đặc ân. Kafka rơi dần vào trạng thái tương thức giữa đời đang sống và giữa đời đang chết.

Từ ngữ hoài vọng dùng ở đây không có chi là buồn cười cả. Trái lại; nó quá nhiều thê thảm, một điều kiện cách để cho Kafka miêu tả, một kiểu thức cứng nhắc xem như không hợp lý và quá nhiều công kích; hoài vọng ấy sẽ đến –the word ‘hope’ used here is not ridiculous. On the contrary, the more tragic the condition described by Kafka, the firmer and more aggressive that hope becomes. Trong ‘Vụ-Án’ đã nói lên sự thật ngu xuẩn, nhiều chuyển động khác và nhiều điều trái phép và hình như làm say mê để như thử ’nhảy phóc’  vào một vấn đề gì trong tập truyện ‘Lâu-Đài’. Nhưng chúng ta tìm ra ở đây một lần nữa cái trạng thái tinh anh có tính tương nghịch trong một tư duy hiện hữu như một bày tỏ; mà Kierkeggard đã có lần nói: ‘Hoài vọng thế gian phải giết chết; chỉ có thể cứu được với một hoài vọng trung thực’ (tấm lòng trong trắng) / Earthly hope must be killed; only then can one be saved by true hope’ (purity of heart). Để hiểu một cách thấu suốt; điều đó có thể diễn dịch ‘ Người ta phải viết ra rằng: ‘Vụ-Án là đảm nhận như một cam kết Lâu-Đài’.

Hầu như những gì người ta nói về Kafka thật ra đã xác định cụ thể tác phẩm của ông như tiếng khóc ai oán (desperate cry) và không mong đợi để lại gì hơn cho nhân loại. Nhưng đây là một hồi cố xét lại. Có hoài vọng và vọng hoài –there is hope and hope. Bởi nó chẳng là gì khác biệt cả. Trái lại tư duy của A. Malraux luôn luôn đem lại lợi ích. Nhưng một trong hai trường hợp nêu trên của Kafka là hoài vọng và là tuyệt vọng. Ở đây không phải là trò chơi bi thảm, mà nó là hiện hữu –it is not the tragic game it was to be. Có nghĩa rằng cuộc đời của tác giả sống còn cho đến hôm nay.

Có điều lạ; trong bất cứ tác phẩm nào của Kafka đều có một tư duy gần gũi với Kierkegăard hoặc của Chestov đều có một ít hiện sinh của những nhà văn và triết gia mà cả ba đều có định hướng tới cái ngu ngơ thường tình và có một hậu quả xẩy ra sau đó, có thể đây là một đoạn đường dài đưa tới một tiếng khóc khủng khiếp của hoài vọng (!).

Họ chấp nhận Thượng đế như món hàng tiêu thụ; khiêm ái với thượng đế để hoài mong được chiếu cố. Vì ngu ngơ của hiện hữu được bảo vệ, tự tin đối với họ mà chỉ có một ít sự thực dành cho cõi như-nhiên mà thôi. Đương nhiên trong cuộc đời đang sống thường vin vào Thượng đế để cầu xin; như thể có hiệu năng cho tất cả của cầu xin. Và; chính nhờ vào lòng kiên trì, chịu đựng với những gì của Kierkeggard, Chestov và Kafka được đời nhắc nhở đến hành trình của họ như một biện minh đặc biệt cho một quyền lực được nâng cao một cách vững chắc. (Chỉ có vai trò không hoài vọng trong ‘Lâu-Đài’ là nàng Amalia. Nàng là một với người Lãnh Điạ Quan Sát Viên hầu như là những kẻ phản đối mãnh liệt nhất / The only character without hope in The Castle is Amalia. She is the one with whom the Land Surveyor is most violently contrasted).

Kafka từ chối thượng đế luân lý cao cả, hiển lộ, đạo đức, tin theo; những thứ đó đã buông lỏng trong đôi tay của Kafka. Ngu ngơ được thừa nhận, chấp nhận và rồi chính con người đã khước từ nó, nhưng rồi chúng ta biết những gì sẽ ngưng lại hiện hữu của ngu ngơ. Trong giới hạn của điều kiện con người, hoài niệm gì lớn lao hơn hoài niệm dành cho một cuộc vượt thoát trong điều kiện đó? Tư duy hiện hữu là điều mong đợi. Nhưng ở đây không phải là cơ hội để thay đổi tư duy. Thế giới ngày nay mọi thứ được ban cho và không cần phải giải thích, một cái gì vốn đã phì nhiêu đầy đủ giá trị của nó hoặc những gì thuộc trừu tượng siêu hình đều mang ý niệm trống rỗng; đúng nghĩa của nó. Trong bất cứ trường hợp nào, hoàn cảnh nào chúng ta thấy được những gì trong tập quán tư duy của Kafka đều chứa đựng trong hầu hết tác phẩm của ông: thật vậy; có thể là khả năng hiểu biết để suy luận như một tiến trình cố hữu từ ‘Vụ-Án ’ đến ‘Lâu-Đài’, từ Joseph K. đến Lãnh Điạ Quan Sát Viên K. chỉ là hai cột mốc đơn giản để tấn công Kafka. Cuộc đời có vô số hào phóng, vô số ngu xuẩn tất thảy là ý niệm của mất mát. Có lẽ nơi đây là bí ẩn của lòng kiêu hãnh khô khan vô vị (aridity)liên đới trong những tác phẩm của Nietzsche. Trong trục nối nầy, Nietzsche xuất hiện như vai trò của người nghệ sĩ, bắt nguồn một hiệu ứng vô biên thẫm mỹ ngữ ngôn của ngu ngơ, bởi lẽ đó; thông điệp cuối cùng của Kafka là ngơi nghỉ trong tình trạng không sinh sôi, chế ngự được sự trong sáng minh mẫn và phủ nhận sự cố chấp của bất cứ những gì dự phần vào siêu nhiên để lý lẽ. Kafka tiêu hủy bản thảo là lý do không ngoảnh lại...

    Tuy nhiên đây là một việc làm đi trước hoàn cảnh của Kafka, đồng thời dựng nên một khung cảnh trong những tiểu luận nầy. Chính nơi đây đem đến cho chúng ta một tư duy vốn chất chứa từ lâu không lối thoát; trong cảm nhận của ngữ ngôn điều ấy có thể nói rằng những gì xẩy ra trong từng nhân vật đều là những vai trò cần thiết. Trong mọi tình huống đưa ra vấn đề ngu ngơ là một tổng thể toàn bộ, cái nghĩa bí ẩn trong ‘Lâu-Đài’ là một thứ nghệ thuật tự nhiên mà trong đó như đã là cái mốc, đọc ở đây chúng ta bắt gặp K. một Joseph K hay một Lãnh Điạ Quan Sát Viên K. là một tương thức cho một cảm thức rung động với nỗi niềm kiêu hãnh để rồi thừa nhận những gì của Kafka. Có thể là lớn lao hơn cả. Nhưng cùng thời sẽ cảm thấy và chấp nhận cao cả cho việc ngu ngơ như tên đã gọi, có lẽ không tìm thấy ở đây nhưng có thể tìm thấy trong một khoảnh khắc bất chợt, trong khi ấy tạo được điểm dừng của những gì bi thảm xẩy đến. Con người luôn luôn nhìn vào hoài vọng. Cuối cùng của Franz Kafka là quay mặt như một lý lẽ để thối thác sự việc. Kafka không thể tin vào bản cáo trạng của ông là xấu xa, ghê tởm và một thế giới rối bời mà cố ngăn chận điều dám hoài vọng – his  unbelievable verdict is this hideous and upsetting world in which the very moles dare to hope.

Cho nên nói Kafka là nói cái phi lý, cái ngu ngơ, nói đến nỗi đau của đời người luôn bất an; chính nhờ khai thác tận cùng nhân tính đó mà biến Franz Kafka thành hiện tượng mà mỗi khi nói đến hiện tượng tức là siêu lý; nhất là hiện tượng văn học, một sáng tạo của nghệ thuật văn học. Ông viết như một sự vắng mặt, vắng mặt ở đây là cái không cần diễn đạt, cái không cần phải báo trước hay cái không cần phải dừng như trong ‘Vụ-Án’ và ‘Lâu-Đài’ ông diễn tả theo khuynh hướng ấn tượng hơn khuynh hướng hiện thực bởi; trong truyện của Kafka đã hiện thực của hiện hữu. Chính qui cách hàm chứa của Kafka là hiện tượng và canh tân văn học nghệ thuật. Tại sao? Kafka đưa nhân vật vào truyện như hồn ma bóng quế, đưa vào những gì ngu xuẩn không còn lối thoát và trở thành cơn mê. Từ đó cái hoài vọng trở nên một thứ luân lý vô lý, ngu ngơ vô lý quyện vào nhau biến dạng dưới một hình thức trừu tượng siêu hình. Đối tượng nghệ thuật văn chương  của Franz Kafka là nói lên mặt thực (bên trong)của con người; là những gì vừa hủ hóa vừa tha hóa, vừa cô đơn, vừa vắng bóng tựu chung tất cả nằm trong trạng huống bi thảm. Hai tác phẩm ‘Vụ-Án’ và ‘Lâu-Đài’ là nói lên mặt thực cô đơn, hoang mang, ngu ngơ và vô lý. Vì vậy hoài vọng là ao ước nhưng để rồi hoài vọng trở nên vọng hoài. Đó là cái vô lý ngu xuẩn vô biên. Đọc sâu vào hai tác phẩm nầy cho chúng ta lạc vào mê cung của huyền thoại dù là huyền thoại Hy Lạp mà Albert Camus chịu ảnh hưởng không ít của Kafka qua tác phẩm ‘The myth of Sisyphus’. Văn của Kafka có cái ảo và thực bởi không gian và thời gian trong truyện được nhìn qua nhân dáng, qua trang phục. Kafka viết ra được thời gian vì thời gian không màu, không sắc Kafka thực hiện như một siêu lý cho tiểu thuyết. Về sau chúng ta bắt gặp qua một số văn nhân như Balzac hay Steindal và họa như Picasso, Chagall ảnh hưởng phần nào của Kafka . Đó là hình ảnh hiện thực mà Kafka khai sáng, mở đường cho thế hệ sau một văn phong tân kỳ và hàm chứa hơn phải nói bằng ngữ ngôn thông thường như đã xẩy ra ./.

 (ca.ab. hoàn tất 6/2013)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

TU LIEU VAN HOC

Thư Phùng Quán gửi

Tô Nhuận Vỹ
QC Blog 11.1.13
        
Phùng Quán- Người lính Vệ quốc quân
Phùng Quán- Người lính Vệ quốc quân
Lời dẫn của nhà văn Tô Nhuận Vỹ: Sự thay đổi, tiến bộ của Việt nam sau năm 1975 là to lớn và rõ rệt, đặc biệt trên lãnh vực đặc thù như Văn học, nếu nhìn lại những “vết sẹo” của một thời quá khứ để lại trên cơ thể nền Văn học, mà tiêu biểu là đối với nhà thơ Phùng Quán. Anh đã được “hồi sinh”: Hội nhà văn suy tôn anh, Nhà nước tặng Giải thưởng lớn về VHNT cho anh, quê hương lấy tên anh đặt cho một đoạn Quốc lộ chạy qua làng anh, bên cạnh tên thời thơ trẻ của Bác Hồ, một khu đất hoành tráng nơi làng quê anh xây khu lăng mộ vợ chồng anh, bạn bè và người hâm mộ lập Quỹ Phùng Quán để tặng thưởng những tác phẩm xuất sắc “viết theo khí phách Phùng Quán”…
Chỉ chừng đó,chắc anh đã mỉm cười nơi suối vàng và bạn bè, gia đình, người hâm mộ anh cũng đã sung sướng trước sự thay đổi phải nói là quá chừng lớn lao trong đời sống văn học.
Nhưng sau ngày được Quỹ Phùng Quán trao tặng thưởng cho tiểu thuyết VÙNG SÂU ( cùng tiểu thuyết XA HÀ NỘI của Nhất Lâm) ngay tại lăng mộ vợ chồng anh dịp Tết nguyên tiêu đầu năm 2012, tôi suy nghĩ nhiều về một bức thư anh gửi cho tôi cách nay 28 năm mà tôi vẫn giữ như một báu vật của riêng mình.Trong nghiên cứu VĂN HỌC VIỆT NAM : ĐỔI MỚI VÀ HỘI NHẬP , do Trung tâm William Joiner thuộc Đại học Massachusetts – Hoa kỳ tổ chức và năm 2007 đã cho công bố trên mạng Talawas, tôi có sử dụng một trích đoạn ngắn trong bức thư đó. Lập tức,năm đó và mấy năm sau, nhiều bạn đọc đã yêu cầu tôi công bố toàn bức thư này như một tư liệu quý về một nhà thơ lớn có cuộc đời Thơ trầm luân, độc đáo.
Bức thư anh gửi tôi khởi nguồn từ việc tôi đánh tiếng muốn phục hồi tên Phùng Quán trên tạp chí Sông Hương, khi tôi biết hóa ra lâu nay anh toàn dùng nhiều bút danh xa lạ, trong đó có bút danh Trần Vỹ Dạ ( cho đến năm 1987, khi anh đóng các bản dập thử tác phẩm DŨNG SĨ CHÉP CÒM thành tập để tặng cháu Tô Diệu Lan con thứ hai của tôi, anh vẫn dùng bút danh này và có điều cần các nhà nghiên cứu văn học lý giải nữa là vì sao tác phẩm này anh cho là “ bằng lòng nhất của đời bác”. Điều khiến tôi ngạc nhiên là anh không mặn mà với chuyện phục hồi tên Phùng Quán trên Sông Hương, có vẻ như tránh né nữa.Những ngày anh ở Huế năm 1984 ,vì kẹt nhiều việc, tôi ít có dịp chuyện trò, “cụng ly” với anh như nhiều bạn văn thơ khác. Khi có thể trao đổi kỹ thì anh đã đi Hà nội rồi. Nên tôi viết thư nói lại đề nghị và mong ước đó. Như trong thư anh trả lời tôi thì đây là lần thứ ba anh viết lại, nhưng nó “mệt như viết một cuốn sách” nên anh viết mãi vẫn chưa xong. Đến một ngày tôi ra Hà nội, đến “Chòi ngắm sóng” của anh, anh đưa luôn cho tôi bức thư còn dở dang, “Thôi,Vỹ đọc chừng đó cũng biết lòng dạ của mình rồi…”.
Sắp tới ngày kỵ Phùng Quán (ngày 01/02/2013), tôi nghĩ mình sẽ có lỗi lớn nếu một bức thư tâm huyết chừng ấy mà cứ “dấu nhẹm” làm của riêng, nên tôi thắp nén nhang thưa với anh cho phép tôi gửi tới mọi người. Chuyện cũ nên lắm nỗi đau lòng, nhưng cũng là dịp để thấy sự đổi thay trong Văn học đã có một quãng dài. Nhưng điều quan trọng nhất là chúng ta thấy rõ hơn, da diết hơn, sững sờ hơn về một trái tim Phùng Quán đỏ rực dòng máu Cách mạng, hai chữ nghệ sĩ với anh không bao giờ tách rời hai chữ chiến sĩ, lúc nào cũng nghĩ đến Đất nước, đến Đảng cộng sản, cả những dòng thơ tình yêu cũng là nỗi niềm anh nói với Đảng. Trong nghiên cứu của mình, khi đọc những đoạn thư đứt ruột ấy,tôi không cầm được nước mắt và phải kêu lên : “Một người yêu Đảng hơn cả Đảng như thế mà tan xác pháo hơn ba mươi năm trời,ối giời ơi là giời!”.
Tô Nhuận Vỹ
IMG_2054
Thư Phùng Quán:
Hà nội đêm cuối thu 84
Tô Nhuận Vỹ thân,
Tôi nhận được(thư) Vỹ, đã hai lần tôi viết thư trả lời, nhưng đọc lại tôi lại xé đi. Vì để trả lời một bức thư như vậy thật không đơn giản chút nào. Vì tôi nghĩ đó không chỉ thuần là một thư của tình bạn, mà còn là bức thư của một nhà văn gửi cho một nhà văn. Thư mà hoàn cảnh của người viết văn cần trả lời lại có quá phức tạp – rất không giống những nhà văn của bất cứ nước nào. Ở đây, tôi hoàn toàn không muốn đề cập đến tài năng (về tài năng tôi lúc nào cũng tự đánh giá mình là hầu như không có gì. Và những gì tôi đã làm được là do cuộc đời và tấm lòng chiến sĩ của tôi).
Nhưng nó đề cập tới những vấn đề đặt ra cho tất cả các nhà văn-nhà văn tài lẫn nhà văn tồi- đó là thái độ của nhà văn-trách nhiệm của nhà văn đối với nhân dân mình Đất nước mình-“một Đất nước quá chừng thiêng liêng nhưng cũng đang vô cùng cơ hàn”như Vỹ nói. Và có lẽ còn nhiều vấn đề khác nữa gắn liền với số phận các nhà văn của chủ nghĩa xã hội.
Vỹ ơi, trước tiên những điều Vỹ đã viết cho tôi về phương diện tình bạn mà nói, tôi hết sức vui mừng và cảm động. Nó càng khẳng định thêm niềm xác tín của tôi : trừ các cá tính ra, thì nghệ sĩ nói chung là những người thật sự tốt trong cuộc đời này.
Vỹ đừng nghĩ rằng tôi cho những lời Vỹ nói là đại ngôn. Chúng ta đang nói đến những vấn đề thật sự nghiêm trang, không dùng “đại ngôn” sao được?
Hai bức thư trước (tôi đã xé đi) vì trong đó chỉ nói những chuyện tình cảm, và chỉ trả lời qua loa một vài điều mà Vỹ đề cập đến. Vì nếu trả lời kỹ thì tôi thấy nó dài dòng phức tạp quá. Không phải là một bức thư mà cả một cuốn sách..Nó đòi hỏi tôi phải gắng sức như viết một cuốn tiểu thuyết vậy. Tôi không “đại ngôn” đâu Vỹ ạ. Thật tình, nó còn làm tôi mệt hơn cả viết một cuốn sách. Do đó mà tôi đã viết đi viết lại, rồi lại xé đi.
Bức thư tuy ngắn ngủi của Vỹ, nhưng nó hàm chứa biết bao thương yêu, lo lắng-một bức thư của tình bạn chân thành-và của một nhà văn chân chính. Tôi sẽ hóa thành một kẻ vô tâm, nếu tôi trả lời Vỹ qua loa cho xong chuyện. Tôi không xứng đáng với tấm lòng của Vỹ.
Tôi biết rất rõ Vỹ là người từng trải, sâu sắc-một nhà tiểu thuyết đúng nghĩa của nó. Nhưng giữa tôi và Vỹ lại có một chút ít khoảng cách về những sự kiện và năm tháng-và hơn nữa lại ít được chuyện trò,tiếp xúc. (Đó chính là điều tôi tiếc hơn cả trong thời gian tôi ở Huế vừa rồi).
Tôi chắc có một đôi điều Vỹ hiểu tôi qua “nghe người ta nói”.  “Người ta” đây là gồm cả báo chí và sách vở nữa..Vì có không ít sách vở nói đến những vấn đề của tôi và của một số anh em khác (đã được đưa vào sách giáo khoa về một giai đoạn văn học Việt nam).
30 năm đã trôi qua. Biết bao nhiêu sự kiện đã rêu phong. Và tôi cũng không còn được chính quyền của Đất nước (mà tôi đã hiến dâng cả tuổi trẻ và máu để góp phần nhỏ bé xây dựng và bảo vệ) coi tôi là nhà văn. Tôi đã bị tước quyền viết văn, từ khi tôi mới 24 tuổi đầu-đến nay tôi đã 54 tuổi rồi. Tôi chắc Vỹ hiểu còn hơn cả tôi, ở đất nước ta bị khai trừ vĩnh viễn khỏi Hội nhà văn, thì một nhà văn sẽ rơi vào một hoàn cảnh bi thảm như thế nào. Vì mặt trận văn nghệ là một trong những mặt trận được chuyên chính nghiêm ngặt nhất.
Tôi vẫn thường ví nhà văn là một cầu thủ đá bóng. Và cả Đất nước chỉ có một sân cỏ mà thôi – đó là Hội nhà văn Việt nam (1).Vỹ thử tưởng tượng một cầu thủ bị đuổi khỏi sân cỏ 30 năm-thì cầu thủ đó sẽ hóa thành người như thế nào?
Sau 30 năm, nếu cầu thủ đó không quên quả bóng đã là chuyện lạ. Vì nếu anh ta không còn đá được nữa thì lỗi đó thuộc về ai? Và nếu anh ta còn đá được một vài đường bóng vụng về thì những người đang ở trên sân cỏ có nên trách mắng anh ta không?
Vỹ thử tưởng tượng, một người mà công việc viết văn là niềm vui và lẽ sống độc nhất của đời người đó (không phải viết văn nghiệp dư như một thứ giải trí ngoài giờ lao động. Mà để phục vụ một “Đất nước thiêng liêng” như một chiến sĩ ngoài mặt trận) lại bị tước đi quyền viết văn, thì sẽ như thế nào?
Đã từ nhiều năm nay tôi sống mà như chết
Cơn khát thơ thiêu đốt trái tim tôi
Tôi đã đi rao cùng thiên hạ:
“Ai đổi thơ lấy máu!”
Không ai đổi…
Đó là chân dung đau buồn của tôi trong suốt 30 năm qua.
Có điều, trước khi trở thành nhà văn, tôi là một chiến sĩ. Và chính phẩm cách chiến sĩ đã nâng đỡ tôi suốt cuộc hành trình bi thảm này.
Tôi muốn được Lịch sử Văn học Cánh mạng Việt nam xét xử công bằng. Tôi có thể chết trước khi xét xử nhưng không sao, tôi vẫn kiên nhẫn đợi chờ.
 Vì tôi tin tôi sẽ hồi sinh”.
Và để cho sau này công việc xét xử được dễ dàng, tôi lúc này không muốn thêm gì vàbớt gì  những điều tôi đã viết.
Trái tim dập nát của tôi
Vẫn đỏ thắm một khối tình
Có thể tôi là người cũ kỹ và lỗi thời-“không hợp thời đại”, nhưng tôi vẫn quan niệm văn chương không phải là nghề nghiệp để sinh sống. Mà đó chính lý tưởng cộng sản chủ nghĩa được thể hiện bằng phương tiện ngôn từ, như Bác Hồ đã nói:
Văn nghệ là một mặt trận
Văn nghệ sĩ chính là chiến sĩ trên mặt trận đó.
Không một chiến sĩ chân chính nào coi là “nghề chiến sĩ”.
Theo tôi, người chiến sĩ cầm súng và cầm bút. “Với Tổ quốc và chủ nghĩa xã hội là bậc trung thần”. Tôi hoàn toàn tán đồng lời định nghĩa Trung thần của Mặc Tử :
“Văn quân đất Lỗ Dương bảo Mặc Tử: “có kẻ nói với ta rằng Trung thần là người bắt cúi thì cúi, bắt ngẩng thì ngẩng, để thì im, gọi thì thưa, như thế có cho là Trung thần được không?”. Mặc tử nói: “ Bắt cúi thì cúi, bắt ngẩng thì ngẩng như thế khác gì cái bóng? Để thì im, gọi thì thưa, như thế khác gì tiếng vang? Những kẻ như bóng, như vang thì còn được ích gì?”
( Mặc Tử Trích CỔ HỌC TINH HOA).
Tôi không bao giờ muốn làm một hạt bụi của Đảng, mà phải được làm một chiến sĩ của Đảng : “Văn nghệ sĩ là chiến sĩ trên mặt trận đó”.
Tôi muốn được đề nghị với Đảng những điều mà trực giác nghệ sĩ và lương tâm chiến sĩ thôi thúc tôi phải đề nghị, như 30 năm trước đây tôi đã đề nghị:
“ Trung ương Đảng ơi,
Lũ chuột mặt người chưa hết
Đảng cần lập đội quân trừ diệt
Có tôi!
Đi trong hàng ngũ tiên phong
(Chống tham ô lãng phí)
Ba mươi năm trước, lời đề nghị đó bị kết tội là lời báng bổ, chống Đảng, bôi đen chế độ. Và vì lời đề nghị đó cùng nhiều đề nghị khác, tôi đã chịu nhiều hình phạt : vĩnh viễn tước quyền viết văn và đi lao động cải tạo suốt 15 năm trời.
Tôi rất xúc động trước tình âu yếm của bạn bè, đặc biệt là với các anh chị ở Tạp chí Sông Hương muốn in thơ của tôi với cái tên Phùng Quán “Trở lại với làng văn”.
Nhưng tôi mong các bạn hiểu cho tôi.
Năm nay tôi đã 54 tuổi. Tôi đã đi gần trọn đời văn. Tôi không muốn thêm gì và bớt gì(PQ gạch đít thêm gì và bớt gì)những gì tôi đã làm, đã viết.Tôi không thuộc vào loại các nhà văn cùng thế hệ và tuổi tác với tôi, bằng mọi cách và mọi giá, đeo đẳng cho bằng được cái tên mình trên báo, trên sách. Hôm trước có phong trào ca Mao thì ca. Hôm sau có phong trào chửi Mao thì chửi…
Tôi tự biết mình tài năng tầm thường, nên tôi đã dồn toàn bộ tinh lực của cả đời người vào trong một khoảnh khắc ngắn ngủi, dâng hiến cho nhân dân, Đất nước, Đảng : năm 1955: VƯỢT CÔN ĐẢO,TIẾNG HÁT TRÊN ĐỊA NGỤC CÔN ĐẢO,TÔI MUỐN MỜI ĐẾN TỔ QUỐC TÔI,LỜI MẸ DẶN,CHỐNG THAM Ô LÃNG PHÍ.
Tôi tự biết nhiên liệu tài năng đời tôi ít ỏi. Tôi đã dồn tất cả, đốt lên một lần để thành, dù là một ngọn lửa nhỏ. Tôi không muốn cả đời văn lúc nào cũng chỉ âm ỉ khói. Khói có đấy nhưng có ích cho ai?Và với tấm lòng can đảm của một chiến sĩ, tôi tình nguyện nhận nhiệm vụ xích hầu. Và tôi đã nhận đạn. Tôi đã ngã xuống nhưng lòng tôi thanh thản: Tôi đã đi một đường thẳng, không rẽ ngang rẽ tắt. Nhưng, không có hạnh phúc lớn lao nào bằng được chết vì nghĩa vụ.
Tôi là nhà văn bất tài nhưng chưa lúc nào thấy hổ thẹn và hối hận về nhân cách của mình. Thật ra, tôi đã trả giá quá đắt cho thơ ca. Nhưng ngay sự trả giá đó tôi cũng coi là hạnh phúc.
Trong thư, Vỹ có nói tôi đi “như người chạy trốn”, tôi “ngượng ngùng”. Điều này tôi phải nói ngay : tôi cũng có nhiều tật xấu như bất kỳ ai khác, nhưng tôi chưa bao giờ hèn nhát. Tôi chưa bao giờ chạy trốn và ngượng ngùng.
Cả cuộc đời thơ của tôi bảo đảm cho tôi lời nói đó.
Tôi đặt toàn bộ niềm xác tín của tôi vào sự công bằng của nhân dân và lịch sử:
Tên Hoàng văn Hoan đã bị Quốc hội kết án tử hình về tội phản bội Tổ quốc và liệt hắn vào loại Trần ích Tắc của thời này.
Hắn đã trốn khỏi Đất nước
Còn tôi vẫn sống ở đây
Kẻ kết tội tôi là phản bội,ba mươi năm sau chính hắn bị nhân dân kết tội là phản bội và có án tích hẳn hoi.
Tôi coi như thế là đủ.
Ba mươi năm nay tôi bị dìm trong bùn nhơ lăng mạ
Nhưng tôi tin chắc
Cuối cùng tôi sẽ được Đất nước nhận ra,
Trái tim Thơ trong sạch và gương mặt Thơ bi thiết của tôi
Trái tim tôi như một trái cây bị dập nát.
……………..
Nếu không được ngồi thì tôi xin đứng
Cùng với cây chổi em dựng ở góc nhà.
Nếu không được thở
Thì tôi xin nín thở
Như cái ngày còn đi chăn trâu cắt cỏ
Tôi xuýt chết dưới đáy giếng làng
Vì mãi lặn mò con cá bống thần cô Tấm bỏ quên…
Em giận dữ la lên:
- Đứng trong xó nhà cũng không được đứng!
- Thì tôi xin ra đứng trước hiên…
- Đứng trước hiên cũng không được đứng!
- Thì tôi xin ra đứng ngoài ngõ…
- Đứng ngoài ngõ cũng không được đứng!
- Thì tôi xin ra đứng đầu đường…
Tôi nhìn vào khung cửa nhà em
Môi rát bỏng những lời yêu thương.
- Đứng đầu đường cũng không được đứng!
Lời yêu thương cũng không được nói!
Thì tôi xin chết!
Nhưng
Tôi sẽ không nói lời vĩnh biệt
Vì tôi tin tôi sẽ hồi sinh.
Dù hỏa táng
Hay chôn xuống đất.
Trái tim dập nát của tôi
Vẫn đỏ thắm một khối tình.
(Trích 13 bài thơ tình làm ở Huế mùa hè 84)
*
* *
Trong suốt 30 năm qua,trong sách giáo khoa (dạy cho học sinh của cả nước) trên báo chí,trong sách vở…tôi bị coi là nhà văn phản bội, chống Đảng, chống chế độ, là một tên:
Nó ghét kẻ thầy hiền bạn tốt
Nó yêu quân gái điếm cao bồi
Ghét những người đáng yêu của thiên hạ
Yêu những người đáng ghét của muôn người.
Quen học thói gà đồng mèo mả
Hóa ra thân chó mái chim mồi”
(Lời Mẹ Dặn có phải là bài thơ chân thật-trích thơ Hoàng văn Hoan đăng báo Nhân dân ngày 24.11.1957, ký tên Trúc Chi. Sau này in lại thành tập Thơ Hoàng Văn Hoan do Nhà xuất bản Việt Bắc in năm 1975. Hoàng Văn Hoan lúc này là Ủy viên Bộ Chính Trị).
Còn có lời thóa mạ, lăng nhục nào nghiêm trọng hơn đối với môt nhà văn? Và như lời giới thiệu ở đầu tập thơ của Nhà xuất bản: “Đặc biệt là mấy bài viết cho báo Nhân Dân trong thời gian 1957-1958 với những bút danh khác nhau, nếu nói văn thơ là vũ khí thì đây chính là những quả pháo đạn đang lao về phía boong ke tư tưởng phi cách mạng trên mặt trận văn nghệ”.
Kết thúc lớp học đấu tranh “Nhân văn,Giai phẩm” tại Thái Hà Ấp-Lúc ấy anh Tố Hữu là Bí thư Học ủy. Hoàng văn Hoan thay mặt Bộ Chính trị Trung ương Đảng mang đến tặng lớp học một bó hoa lay ơn lớn, biểu dương sự thắng lợi rực rỡ của lớp học.
Xét một nhà văn tốt hay xấu, cách mạng hay phản động , phải xét bằng chính tác phảm của nhà văn đó.
Tôi đã bị coi là nhà văn chống Đảng, chống chế độ, bị tước vĩnh viễn quyền viết văn, vì hai tác phẩm: Lời Mẹ Dặn và Chống Tham Ô Lãng Phí. Đã ba mươi năm rồi, tôi muốn chép lại đây cả 2 bài thơ bị “tử hình” để Vỹ đọc.
Vỹ ơi, Vỹ coi “Vượt Côn đảo” và “Những anh hùng Xê-vát-tô-pôn” là tác phẩm “cường tráng” của tôi, nhưng với tôi, hai bài thơ này mới là tác phẩm quan trọng và chủ yếu của đời tôi. Đó là chân dung toàn vẹn của tôi: một nhà văn tận trung với Nước,với Đảng,với Dân.
Ngày đó, khi tác phẩm bị nguyền rủa, bị phản đối, la ó, tôi đã liều lĩnh nói : “Hai mươi năm nữa Đảng sẽ hiểu tôi”. Quả nhiên, hai mươi năm sau, trên báo Nhân Dân đã phát động viết chống lại sự dối trá. “Làm ăn phải thật thà”. Còn tệ quan liêu, lãng phí, và ăn cắp thì thôi không cần phải nói nữa.
Ngày đó tôi mới 24 tuổi đầu,và đã là một nhà văn được chế độ ưu đãi.
Nhưng với trực giác của một nghệ sĩ, và tấm lòng can đảm của một chiến sĩ, tôi đã kêu to lên, báo trước niềm hiểm họa to lớn đang rình phục nhân dân và Đất nước. Trong lịch sử thơ ca cách mạng của Đất nước, tôi là người độc nhất kêu lên trong thơ mình: “Trung ương Đảng ơi!”
Đó là tiếng kêu bi thiết của nghệ sĩ, và một chiến sĩ, đặt toàn bộ cuộc đời và lòng tin vào Đảng vào sự nghiệp lớn lao mà Đảng đang xây dựng.
Và trước tấm lòng đó, tôi đã bị liệt vào hạng :yêu “gái điếm, cao bồi, gà đồng, mèo mả”
Làm như vậy, tôi biết có nguy hiểm không? Tôi quá biết. Kinh nghiệm chiến sĩ đã dạy tôi rằng: “ những chiến sĩ tình nguyện làm nhiệm vụ xích hầu là những người biết chắc rằng mình sẽ sẵn sàng nhận đạn”. Nhưng tôi với tư cách là chiến sĩ, tôi luôn luôn tự thấy mình là người có lỗi: Tôi chưa làm tròn nghĩa vụ của “bậc Trung thần” đối với Tổ quốc, nhân dân và Đảng.
Tôi chưa có đủ lòng kiên nhẫn vô tận như người họ Hòa nước Sở xưa.
“ Nước Sở có người họ Hòa, được một hòn ngọc ở trong núi, đem dâng vua Lệ Vương. Vua sai thợ ngọc xem. Thợ ngọc nói : “Đá, không phải ngọc”. Vua cho người họ Hòa nói dối, sai chặt chân trái.
Đến khi vua Vũ Vương nối ngôi, người họ Hòa lại đem ngọc ấy dâng. Vua sai thợ ngọc xem. Thợ ngọc nói: “Đá, không phải ngọc”. Vua lại cho họ Hòa nói dối, sai chặt nốt chân phải. Đến khi vua Văn Vương lên ngôi, người họ Hòa ôm hòn ngọc, khóc ở chân núi Sở-sơn suốt ba ngày ba đêm đến chảy máu mắt ra.Vua thấy thế sai người đến hỏi. Người họ Hòa thưa: “ Tôi khóc không phải thương cho hai chân tôi bị chặt, chỉ thương vì nỗi ngọc mà cho là đá, nói thật mà cho là nói dối”. Vua bèn cho người xem lại cho rõ kỹ, thì quả nhiên là ngọc thật, mới đặt tên “Ngọc bích họ Hòa”.
(Hàn Phi Tử)
Mỗi nghệ sĩ chân chính đều có một “Ngọc bích họ Hòa” của mình để dâng hiến cho Đất nước và Nhân dân.
Nhưng tôi vô cùng hối hận đã không đủ lòng tận trung như người họ Hòa để dâng “ngọc bích” của mình lên Đảng, cho đến lúc được nhận ra không phải đá mà ngọc thật.
Ba mươi năm trước, nếu tôi đủ lòng tận trung, dù bị chặt chân, khóc đến chảy máu mắt, vẫn cứ thiết tha dâng lời đề nghị :
Cần lập đội quân trừ diệt
Lũ chuột mặt người
Cho đến lúc lời đề nghị được chấp nhận, thì tôi tin rằng sẽ góp phần hạn chế nạn ăn cắp của công.
Nhà văn Tô Nhuận Vĩ gửi cho Quê choa
——————-
(1) Tháng 3/1958 Hội nhà văn Việt nam quyết định khai trừ tôi vĩnh viễn khỏi Hội nhà văn Việt nam

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chủ Nhật, 23 tháng 6, 2013

Thơ người ta:

Trăm Năm Buồn Thật Một Dòng Nước Xuôi
Trần Vấn Lệ
 

Em ơi em ạ em à, anh đang nhớ cội đào Ba vun trồng.  Bây giờ không biết còn không.,.chắc chi còn nhỉ giữa lòng biển dâu?

Đường Bà Trưng dốc lên cao, đi ngang anh ngó cây đào, tìm em.  Với anh, Đà Lạt là Tiên, cõi Bồng Lai đó em duyên vô cùng!

Mỗi mùa Xuân, đào đơm bông,  hồi em chưa bước theo chồng, thật vui…Bướm bay trắng một góc trời, hồn anh hóa bướm theo người áo bay…  

Tại sao em nỡ bỏ đây?  Tại sao em nỡ bỏ đây không về?  Nhớ em, nhớ mái tóc thề, nhớ bờ vai lạnh gió kề mặt em…

Anh lên rừng đứng, buồn tênh, ngồi, mây bay tưởng con thuyền em trôi…Em xa rồi.  Em xa rồi.  Cây đào xưa chắc nhớ người…vẫn Xuân! 

Gặp lại em, chắc anh mừng.  Ôi người xưa lắm má hồng như hoa!  Mạ nằm dưới mộ bên Ba, mỗi năm đào nở nhớ nhà, ra răng?

Anh làm gì?  Một tàn quân!  Anh làm gì…chỉ nói rằng thưa em, biết mình không có nhân duyên, thì thương thì nhớ để em yên lòng…

Thuyền em kìa, trôi ngang sông, trăm năm buồn thật, một dòng nước xuôi…


Bầy Quạ Và Nửa Trái Sim
Trần Vấn Lệ

Tội nghiệp quá bầy quạ
Những ngày tôi đi xa
Không ai cho gì cả
Chúng buồn như xác ma…

Tôi mua ổ bánh mì
Tôi ăn một phần tám
Bảy phần còn xé vụn
Ném cho chúng cùng ăn…

Nửa ổ bánh mì là bánh mì
Cả ổ bánh mì là bánh mì
Quạ và tôi ăn sự thật
Tình thương yêu là sự thật…

Tôi nhớ lại thời tôi là lính rừng
Hái được trái sim nhớ người yêu quá đỗi
Cắn một nửa ăn cho bớt đói
Một nửa còn dành nói với…thinh không!

Bầy quạ kia tôi thương vô cùng
Chúng từng làm nhịp cầu nối Ngưu Lang Chức Nữ
Tôi đi xa chỉ không hơn năm bữa
Chúng nhớ tôi như tôi nhớ người thương!

Tôi nhớ người thương tôi trơ xương tôi chịu
Bầy quạ kia nhớ tôi tôi hiểu vì sao
Chúa Phật dạy mình nên yêu tất cả
Quạ, biết đâu kiếp trước đã làm người?

Người của tôi yêu thương ơi
Em mà nghe anh nói
Về bầy quạ chắc em có ghen?
Anh chia sớt tình anh, chắc em có giận?

Tôi nhớ lại một thời tôi lận đận
Sau cải tạo về tôi chẳng khác gì chim
Không ai cho tôi chút xíu trái tim
Tôi hái được trái sim nào tôi cũng chỉ ăn một nửa!

Một nửa trái sim tôi dành cho người tôi thương nhớ
Một nửa trái sim còn…còn bài thơ hôm nay!


Phần nhận xét hiển thị trên trang