Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Ba, 18 tháng 6, 2013

Chân tướng, chân dung:

Nhà xuất bản Văn học
 Lời cuối sách
Tiếp theo cuốn sách THƯƠNG NHỚ TÀI HOA của Nguyễn Vũ Tiềm phác thảo chân dung của 50 nhà thơ nhà văn đã quá cố, những cây bút có những đóng góp đặc sắc cho nền văn học của đất nước, hôm nay Nhà xuất bản Văn học gửi tới bạn đọc một tập hợp khác về chân dung nhà văn .
Đây là những kí hoạ có tính đặc tả của Xuân Sách, những chân dung vốn đã khá phổ biến trong và ngoài giới văn học suốt vài chục năm qua.Tác giả không nêu đích danh một ai, nhưng dưới nét bút phác thảo, những độc giả quan tâm tới văn học và người làm văn học vẫn có thể nhận ra từng đối tượng. Dĩ nhiên thể loại này thường cố ý phóng to những đặc điểm và khi nhìn vào nét đặc tả ấy có mất cân đối và đôi khi phiến diện vẫn dễ dàng nhận ra diện mạo cốt cách từng nhân vật .
Chất vui hóm và nhất là khả năng chơi chữ có thể khiến người ta ngạc nhiên một cách thú vị, nhưng cũng có thể gây nên những sự không hài lòng đây đó . . .
Chúng tôi chỉ coi đây là những nét tự trào của giới cầm bút, cười đấy nhưng cũng tự nhận ra những xót xa, hạn hẹp của chính mình, những gì chưa vượt qua được trên các chặng đường quanh co của lịch sử và thời đại. Tự soi mình hoặc hiểu mình thêm qua cái nhìn của người cùng hội cùng thuyền lắm khi cũng hữu ích. Cái cười trong truyền thống dân gian vốn là vũ khí, ngày nay còn có thể là sức mạnh thúc đẩy đi tới phía trước .
Với ý nghĩ ấy, chúng tôi mong bạn đọc và các nhà văn thông cảm cho những gì bất cập hoặc chưa lột tả được thần thái của từng chân dung. Dù sao đây cũng là 100 bức tranh nhỏ về những người đã có công trong văn học, những người nổi tiếng trong làng văn, trong bạn đọc bằng chính những tác phẩm có giá trị của mình. Bạn đọc và thời gian đã là người đánh giá chính thức và công bằng nhất đối với họ.
     Rất mong độc giả và các nhà văn nhận ra mối chân tình trong cuộc vui của làng văn, và lượng thứ cho những khiếm khuyết .
Chịu trách nhiệm xuất bản: Lữ Huy Nguyên 
Biên tập: Phan Nguyễn

LỜI NGƯỜI GÕ VI TÍNH TẬP THƠ “CHÂN DUNG…”

Thuở nhỏ tôi cậu bé làng Đông Lao ngoại thành Hà Nội từng vùi đầu đọc cuốn truyện “Đội thiếu niên du kích Đình Bảng” của Xuân Sách. Đến tuổi thanh niên, hát mãi bài thơ “Đường chúng ta đi” của Xuân Sách theo nhạc Huy Du “Việt Nam trên đường chúng ta đi. Nghe gió thổi đồng xanh quê ta đó. Nghe sóng biển ầm vang xa tận tới chân trời. Nghe ấm lòng những khi đang dồn bước mà vui sao ta chẳng nói nên lời .  . . ”
Nhà thơ Ngô Xuân Sách quê xã Trường Giang huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hoá. Sau truyện đầu tay “Đội thiếu niên du kích Đình Bảng” ông còn viết tiểu thuyết “Mặt trời quê hương”,  “Rừng bên sông”, truyện ngắn “Cô giáo làng”  (trước 1975), hai tiểu thuyết “Phía núi bên kia”và “Cuộc hôn nhân bị đánh cắp” (sau 1975)
Vào giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ, lúc này tinh thần nhiều người trở nên uể oải, bi quan vì cuộc kháng chiến đã kéo dài quá lâu. Mặt khác những cái tiêu cực của chế độ XHCN bộc lộ từng mảng từng mảng khiến lòng tin bao người rã rời, ngơ ngác… Đây là lúc truyện tiếu lâm hiện đại mọc mầm và lan tỏa rộng rãi ở vùng Hà Nội. Thỉnh thoảng tôi nghe những bài thơ “dân gian” vịnh các nhà văn nhà thơ mà bật cười, chẳng mấy ai biết đấy là sáng tác của Xuân Sách. Không ai ngờ Xuân Sách là bởi giọng điệu thơ rất lạ…
Khi biết là sáng tác của Xuân Sách, người đọc mến phục bản lĩnh nhà thơ Xuân Sách. Tôi thấy rõ phong cách nhà thơ kẻ sĩ vừa cổ điển vừa hiện đại trong thơ ông. Cây bút của ông đứng cao hơn thời đại, rất hiếm có trong giới văn sĩ.
Tôi thử đặt tên cho mỗi bài  theo cảm nhận của mình và làm ra cái mục lục. Riêng bài thứ 99  không thể đoán được tên của “nhân vật” trong  bài thơ . . .
Với sách này, cái tên Xuân Sách xứng đáng ghi vào dòng văn học trào phúng hiện đại của lịch sử văn học nước nhà. 
Nhà thơ  được vịnh  sẽ nghĩ  thế nào về chân dung của họ ?
Họ biết họ vẫn được sự cảm thông sâu sắc của Xuân Sách đồng thời họ phải cam chịu làm cái cớ cho nhà thơ châm biếm những cái non kém của thời cuộc, của chế độ xã hội …Họ làm cái thớt cho nhà thơ giận cá chém vào… Cũng có những người “nghe ra ngậm đắng nuốt cay thế nào” nhưng không cãi được ! Chỉ đọc mà chơi thôi. Cái thú vị của văn chương là thế chăng ?
Xuân Sách sáng tạo một thể tài trào phúng hiện đại độc đáo sau khi kế thừa Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến, Tú Xương, tiếng cười dân gian, tiếng cười chèo cổ …Thơ trào phúng Xuân Sách phát tán nhanh trong khí hậu văn chương tiếu lâm chính trị đang nóng lên ở đất Thăng Long Hà Nội. Có cái gì đó mới mẻ hiện đại trong thơ trào phúng Xuân Sách. Chỉ những người cầm bút chân chính mới viết được những lời đắng cay mà pha chút thân thiết đùa vui trong tình đồng chí đồng nghiệp.
Tuy nhiên đọc thơ trào phúng Xuân Sách, ta thấy có một cái gì hẫng hụt. “Chân dung” như vậy ư ? Nghiêm túc mà nói, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ và sự nghiệp đấu tranh thống nhất đất nước, binh đoàn văn thơ với cây bút làm vũ khí đã đóng góp chiến công lớn lao nhường nào ! Vậy nên chăng đặt tên tập thơ là 100chân dung biếm hoạ ? Những nét tươi sáng tốt đẹp của chân dung thì mọi người đã biết, Xuân Sách không vẽ lại trong tập thơ này. Nếu chỉ đặt hai chữ “chân dung” thì không được công bằng khách quan toàn diện khi đánh giá nhà thơ nhà văn Việt Nam.
Trước hết Xuân Sách là một người nghiên cứu văn học độc đáo, đọc mỗi nhà văn, ông bắt ngay được cái nét tầm thường tiêu cực của họ. Ông vẽ  kí họa  chứ không vẽ  được “chân dung” nhà văn.
Bên cạnh cảm hứng trào phúng còn có cảm hứng bi kịch. Những nỗi đau không thể nói ra của nhà văn nhà thơ Việt Nam. Những hi sinh thầm lặng cắn răng chịu đựng cho sự nghiệp lớn của dân tộc. Bi thương chung và riêng biến thành cái cười cay đắng trong lời thơ Xuân Sách.
            Căn cứ Lời nói đầu của tác giả, năm Nhâm Thân là 1992. Đó là những năm tháng tưng bừng không khí Đổi Mới ở Việt Nam. Nghe nói tác phẩm sắp in, ông nghe bạn hữu can ngăn mà bản thảo phải đình lại. Tác giả bèn phát hành theo kiểu photocopy bản viết tay, truyền tay cho bạn bè photo tiếp sức. Thứ tự 100 bài có lẽ do tác giả đánh số tự nhiên theo thời gian viết ra chứ không có ý nào khác. Người sưu tập in lại tập thơ này đã đọc bản photo lần thứ “n” mờ mịt của người bạn văn Hà Nội gửi cho,  rồi đánh máy lại, viết phần mở đầu bày tỏ mấy ý kiến riêng. Tôi in nghiêng những gì biết khá chắc đó là tên tác phẩm và ý thơ văn của nhà văn mà Xuân Sách đã  “mượn”, “tập”, “nhại” theo.
Tôi in bài thơ nổi tiếng “Đường chúng ta đi” của Xuân Sách để bạn đọc đối chiếu sự khác biệt lạ lùng, sự đổi thay phong cách giọng điệu của nhà thơ độc đáo này.
            Nhà xuất bản Văn Học đã viết “Lời cuối sách” rất tinh tế, chu đáo tỏ rõ quan điểm đúng đắn của mình khi biên tập “Chân dung 100 nhà văn hiện đại”. Tuy nhiên chúng tôi vẫn muốn nói thêm đôi điều hưởng ứng nồng nhiệt khi tự in lại tập thơ này.
Chưa biết bao giờ tập thơ được xuất bản ở nước ta. Có chăng cũng phải đợi nhiều thập kỷ nữa. Nó chỉ là bản thảo nhưng cứ được truyền miệng, truyền tay mãi thôi. Như thế này cũng đủ lắm rồi. Quả là hiện nay không ai cam lòng đem tập thơ in phát hành công khai cho dù không bị kiểm duyệt cản trở. Nỗi đau nhà văn  không phải của riêng họ mà là nỗi đau chung của người trí thức Việt Nam một thời.
Mời bạn đọc một bài thơ nổi tiếng của Xuân Sach với cảm hứng chính  thống:
Đường chúng ta đi
Thơ Xuân Sách – nhạc Huy Du
Việt Nam trên đường chúng ta đi
Nghe gió thổi đồng xanh quê ta đó
Nghe sóng biển ầm vang xa tận tới chân trời
Nghe ấm lòng những khi đang dồn bước
mà vui sao ta chẳng nói nên lời
Dặm đường xa ta đi giữa mùa xuân
ta đi giữa tình thương của Đảng
tiếng Bác Hồ rung động mãi trong tim
Đường ta đi ánh lửa soi đêm dài
đường ta về trong nắng ấm ban mai .
Việt Nam Việt Nam
qua từng bước gian nan lớn lên rồi đẹp những mùa xuân
*
Ta đi qua phố qua làng ngọn đèn sáng giục lòng ta đó
Lời mẹ nói ấm lành ngọn gió, đàn em vui ríu rít mái trường
Ta đi đường rợp bóng hàng dương, đất bom đào đã lên màu cỏ mới
Những cặp mắt đêm đêm trông đợi
chiến trường xa dồn dập những chiến công
Miền Nam ơi miền Nam
Hỡi những dòng sông soi bóng dừa xanh
những đỉnh núi khuất mây mù xa tắp
Ta sẽ đến nơi đâu còn giặc
Ta chưa về khi tổ quốc chưa yên
Miền Nam, miền Nam, nghe từng tiếng vang vang .
1. Hồ Phương
Trên biển lớn lênh đênh sóng nước
Ngó trông về xóm mới khuất xa
Cỏ non nay chắc đã già
buồn tênh lại giở thư nhà ra xem
2. Nguyễn Đình Thi
Xung kích tràn lên nước vỡ bờ
Đã vào lửa đỏ hãy còn mơ
Bay chi mặt trận trên cao ấy
Quên chú nai đen vẫn đứng chờ.
3 . Tô Hoài
Dế mèn lưu lạc mười năm
để O chuột phải ôm cầm thuyền ai
Miền Tây sen đã tàn phai
Giăng thề một mảnh lạnh ngoài đảo hoang.
                                  (chú thích: Tô Hoài tên thật là Nguyễn Sen)
4. Nguyên Hồng
Bỉ vỏ một thời oanh liệt nhỉ
Sóng gầm sông Lấp mấy ai hay
Cơn bão đến động rừng Yên Thế
Con hổ già uống rượu giả vờ say .
 5. Nguyễn Công Hoan
Bác Kép Tư Bền rõ đến vui
Bởi còn tranh tối bác nhầm thôi
bới tung đống rác nên trời phạt
trời phạt chưa xong bác đã cười.
6. Nguyễn Tuân
Vang bóng một thời đâu dễ quên
Sông Đà cũng muốn đẩy thuyền lên
Chén rượu tình rừng cay đắng lắm
Tờ hoa lại trút lệ ưu phiền .
7. Huy Cận
Các vị La Hán chùa Tây Phương
Các vị gầy quá tôi thì béo
Năm xưa tôi hát vũ trụ ca
Bây giờ tôi hát đất nở hoa.
Tôi hát chiến tranh như trảy hội .
Đừng nên xấu hổ khi nói dối
Việc gì mặt ủ với mày chau
Trời mỗi ngày lại sáng có sao đâu !
8.  Xuân Diệu
Hai đợt sóng dâng một khối hồng
Không làm trôi được chút phấn thông
Chao ôi ngói mới nhà không mới
Riêng còn chẳng có, có gì chung !
9. Tế Hanh
Quá tuổi hoa niên đã bạc đầu
Tình còn dang dở tận Hàng Châu
Khúc ca mới hát sao buồn thế
Hai nửa yêu thương một nửa sầu
10. Chế Lan Viên
Điêu tàn ư ? Đâu chỉ có điêu tàn
Ta nghĩ tới vàng sao từ thuở ấy
Chim báo bão, lựa chiều cơn gió dậy,
lựa ánh sáng trên đầu mà thay đổi sắc phù sa
Thay đổi cả cơn mơ
Ai dám bảo con tàu không mộng tưởng
mỗi đêm khuya không uống một vầng trăng .
Lòng ta cũng như tàu, ta cũng uống
mặt anh em trong suối cạn Hội nhà văn .
11Nguyễn Thi
Trăng sáng soi riêng một mặt người
Chia ly đôi bạn cách phương trời
Ước mơ của đất anh về đất
Im lặng mà không cứu nổi đời
 12. Kim Lân
Nên danh nên giá ở làng
Chết vì ông lão bên hàng xóm kia
Làm thân con chó sá gì
Phận đành xấu xí cũng vì miếng ăn
13. Tú Mỡ
Một nắm xương khô cũng gọi mỡ
Quanh năm múa bút để mua cười
Tưởng cụ vẫn bơi dòng nước ngược
Nào ngờ trở gió lại trôi xuôi .
14. Đồ Phồn
Phất rồi ông mới ăn khao
Thơ ngang chạy dọc bán rao một thời
Ông đồ phấn ông đồ vôi
Bao giờ xé xác để tôi ăn mừng .
15. Hoài Thanh
Vị nghệ thuật nửa cuộc đời
Nửa đời sau lại vị người ngồi trên
Thi nhân còn một chút duyên
Lại vò cho nát lại lèn cho đau
Bình thơ tới thuở bạc đầu
Vẫn chưa thể tất nổi câu nhân tình
Giật mình mình lại thương mình
Tàn canh tỉnh rượu bóng hình cũng tan .
16. Vũ Tú Nam
Vốn cùng nhân dân tiến lên
Mùa đông năm ấy bỏ quên cờ đào
Quay về nấp bóng ca dao
Giật mình nghe một tiếng chào: Văn Ngan !

17. Hữu Mai
Hỏng đôi mắt phải đâu là mất hết
Trong cặp còn hồ sơ điệp viên
Ông cố vấn chẳng sợ gì cái chết
Cao điểm cuối cùng quyết chí xông lên .

18. Đỗ Chu
 Đám cháy ở sau lưng
 Đám cháy ở trước mặt
 Than ôi mày chạy đâu
 Dưới vòm trời quen thuộc
  Đốt bao nhiêu cỏ mật
  không bay mùi thơm tho .
  Càng hun càng đỏ mắt
  quay về thung lũng cò .
19. Xuân Quỳnh
Mải hái hoa dọc chiến hào
Bỏ quên chồi biếc lúc nào không hay
Thói quen cũng lạ lùng thay
Trồng cây táo lại mọc cây bạch đàn .
20. Phạm Tiến Duật
Trường Sơn đông em đi hái măng
Trường Sơn tây anh làm thơ cho lính
 Đời có lúc bay lên vầng trăng
Lại rơi xuống chiếc xe không kính
Thế đấy ! Giữa chiến trường
Nghe tiếng bom cũng mạnh .
21. Nguyễn Thành Long
Thao thức năm canh nghĩ chẳng ra
Trò chơi nguy hiểm đấy thôi mà
Lửng lơ giữa khoảng trong xanh ấy .
Để mối đùn lên cái gốc già .
22. Đào Vũ
Trời thí cho ông vụ lúa chiêm
Ông xây sân gạch với xây thềm
Con đường mòn ấy ông đi mãi
Lưu lạc lâu rồi mất cả tên .
23.  Nguyễn Bính
Hai lần lỡ bước sang ngang
Thương con bướm đậu trên giàn mồng tơi
Trăm hoa thân rã cánh rời
Thôi đành lấy đáy giếng thơi làm mồ .
24. Nguyễn Văn Bổng
Nhọc nhằn theo bước con trâu
Hỡi người áo trắng nông sâu đã từng
mỗi bước đi một bước dừng 
mà sao vẫn lạc giữa rừng U minh .
25. Nguyên Ngọc
Mấy lần đất nước đứng lên
Đứng lâu cũng mỏi cho nên phải nằm
Hại thay một mạch nước ngầm
cuốn trôi đất Quảng lẫn rừng xà nu .
26. Vũ Thị Thường
Từ trong hom giỏ chui ra
Đã toan gánh vác sơn hà chị ơi
Định đem cái lạt buộc người
Khổ thân ông lão vịt trời phải chăn .
27. Quang Dũng
Sông Mã  xa rồi Tây tiến ơi
Về làm xiếc khỉ với đời thôi
 Nhà đồi một nóc chênh vênh lắm
 Sống tạm cho qua một kiếp người
 Áo sờn thay chiếu anh về đất
Mây đầu ô trắng, Ba Vì xanh
Gửi hồn theo mộng về Tây tiến
 Sông Mã gầm lên khúc độc hành.
28. Mai Ngữ
Tưởng chuyện như đùa hoá ra thật
 Biết ông sòng phẳng tự bao giờ
 Cái con thò lò quay sáu mặt
 Vỗ  hụt mấy lần ông vẫn trơ
29. Nguyễn Khải
Cha và con và . . . họ hàng và …
Hết bay mùa thóc lẫn mùa lạc
Cho nên chiến sĩ thiếu lương ăn
Họ sống chiến đấu càng khó khăn
Tháng ba ở Tây nguyên đỏ lửa
Tháng tư lại đi xa hơn nữa
Đường đi ra đảo đường trong mây
Những người trở về mấy ai hay
Xung đột mỗi ngày thêm gay gắt
Muốn làm cách mạng nhưng lại nhát!
30Hoàng Trung Thông
 Đường chúng ta đi trong gió lửa
 Còn mơ chi tới những cánh buồm
 Từ thuở tóc xanh đi vỡ đất
 đến bạc đầu sỏi đá chửa thành cơm .
31.  Chính Hữu
Tấm áo hào hoa bạc gió mưa
Anh thành đồng chí tự bao giờ ?
Trăng còn một mảnh treo đầu súng
Cái ghế quan trường giết chết thơ .
32. Thanh Tịnh
Bao năm ngậm ngải tìm trầm
Giã từ quê mẹ xa dòng Hương Giang
Bạc đầu mới biết lạc đường
Tay không nay lại vẫn hoàn tay không
Mộng làm giọt nước ôm sông
Ôm sông chẳng được, tơ lòng gió bay .
33. Chu Văn
Một con trâu bạc già nua
Nhờ cơn bão biển  thổi lùa lên mây
Trâu ơi ta bảo trâu này
quay về đất mặn kéo cày cho xong
34.  Ngô Tất  T ố
Tài ba thằng mõ cỡ chuyên viên
chia xôi chia thịt lại chia quyền .
Việc làng việc nước là như vậy
 Lộn xộn cho nên phải tắt đèn .
35Nam Cao
Anh còn đôi mắt ngây thơ
sống mòn mà vẫn đợi chờ tương lai
Thương cho thị Nở ngày nay
kiếm không đủ rượu làm say Chí Phèo .
36. Xuân Thủy
Xoắn mãi dây tình thơ bật ra
Paris thì thích hơn ở nhà
Đông y ắt hẳn hơn tây dược
Xe tải không bằng xe von ga
Trên đời kim cương là quí nhất
thứ đến tình thương dân nghèo ta
Em chớ chê anh già lẩm cẩm
Còn hơn thằng trẻ lượn honda .
37. Lưu Trọng  Lư
Em không nghe mùa thu
Mùa thu chỉ có lá .
Em không nghe rừng thu
rừng mưa to gió cả .
Em thích nghe mùa xuân
Con nai vờ ngơ ngác
Nó ca bài cải lương .
38. Nguyễn Khoa Điềm
 Một mặt đường khát vọng
cuộc chiến tranh đi qua
rồi trở lại ngôi nhà
đốt lên ngọn lửa ấm
Ngủ ngoan a kai ơi
 ngủ ngoan a kai à . . .

39. Nguyễn Kiên
Anh Keng cưới vợ tháng mười
những đứa con lại ra đời tháng năm .
Trong làng kháo chuyện rì rầm
vụ mùa chưa gặt thóc đã nằm đầy kho .

40. Anh Thơ
Ấy bức tranh quê đẹp một thời
Má hồng đến quá nửa pha phôi
Bên sông vải chín mùa tu hú
 khắc khoải kêu chi suốt một đời  .
41. Xuân Thiều
Đôi vai thì gánh lập trường
Đôi tay sờ soạng ven đường cuối thôn
Nghe anh kể chuyện đầu nguồn
về nhà thấy mất cái hồn của em .
42. Nguyễn Thị  Như  Trang
Nhá nhem khoảng sáng trong rừng
để cho cuộc thế xoay vần hơn thua .
Xác xơ màu tím hoa mua
Lửa chân sóng hoá mây mưa suốt ngày .
43. Anh Đức
Chị Tư Hậu đẻ ra anh
Ví như hòn đất nặn thành đứa con
Biển xa gió dập sóng dồn
Đất tan thành đất chỉ còn giấc mơ .
44. Nguyễn Thế  Phương
 Đi bước nữa rồi đi bước nữa
Phấn son mưa nắng đã tàn phai
Cái kiếp đào chèo là vậy đó
Đêm tàn bạn cũ chẳng còn ai .
45. Vũ Trọng Phụng
  Đã đi qua một thời giông tố
Qua một thời cơm thầy cơm cô
còn để lại những thằng Xuân tóc đỏ
vẫn nghênh ngang cho đến tận bây giờ .

46. Xuân Thiêm
Thơ ông tang tính tang tình
Cây đa bến nước mái đình vườn dâu
Thân ông mấy lựơt lấm đầu
miếng mồi danh lợi mắc câu vẫn thèm .
47.   Đào Hồng  Cẩm
Bắt đầu từ lão nghị hụt
Cầm dao giết một mạng người
Chị Nhàn phải đi bước nữa
lấy đại đội trưởng của tôi .
Cuộc đời mấy phen nổi gió
phải đem tổ quốc thề bồi .
Lần này ông ra ứng cử
chắc là trúng nghị viên thôi
48. Nguyễn Quang Sáng
Ông Năm Hạng trở về đất lửa
với chiếc lược ngà vượt Trường sơn
Bỗng mùa gió chướng vừa nổi dậy
ông biến thành thằng nộm hình rơm .
49. Trần Thanh Giao
Có những lớp người đi vỡ đất
Mùa mưa không trồng lúa trồng ngô
lại gieo hạt bông hường bông cúc
Trên mảnh đất này hoa héo khô .
50.  Phù Thăng
  Chuyện kể cho người mẹ nghe
biển lửa bốc cháy bốn bề tan hoang
Đứa con nuôi của trung đoàn
Phá vây xong lại chết mòn trong vây  .
51.  Nguyễn Thị Ngọc Tú
  Đất làng vừa một tấc
Bao nhiêu người đến cày
Thóc giống còn mấy hạt
đợi mùa sau sẽ hay .
52.  Vũ Cao
Sớm nay nhấp một chén khà
Bâng khuâng tự hỏi đâu là  núi Đôi
những người cùng làng với tôi
muốn sang đèo trúc, muộn rồi đừng sang .
53. Phan Tứ (Lê Khâm)
Bên kia biên giới anh sang
Trước giờ nổ súng về làng làm chi .
Mẫn và tôi  tính chi li
Gia đình má Bảy lấy gì nuôi anh ?

54. Nguyễn Huy Tưởng
Anh chẳng còn sống mãi
 với thủ đô, luỹ hoa .
 Để những người ở lại
 bốn năm sau khóc oà .
55. Thu Bồn
  Chim Chơ rao cất cánh ngang trời
Tình như chớp trắng nháy liên hồi
Đám mây cánh vạc tan thành nước
Mà đất ba dan vẫn khát hoài .
56. Bùi Hiển
Sinh ra trong gió cát
Đất Nghệ  An khô cằn
Bao nhiêu năm nằm vạ
trước cửa Hội nhà văn .
57. Võ Huy Tâm
Đem than từ vùng mỏ
về bán tại thủ đô
Bị đập chiếc cán búa
hoá ra thằng ngẩn ngơ .
58. Nông Quốc Chấn
 Tưởng anh dọn về làng xưa
 ngờ đâu về tận thủ đô nhận nhà.
 Sướng cái bụng lắm lắm à
 Đêm là đèo gió, ngày là hồ Tây .
59Thế Lữ
Với tiếng sáo thiên thai dìu dặt
mở ra dòng Thơ Mới cho đời .
Bỏ rừng già về vườn bách thú
Con hổ buồn lặng lẽ trút tàn hơi . 
60Nguyễn Minh Châu
Cửa sông cất tiếng chào đời
rồi đi ra những vùng trời khác nhau
Dấu chân người lính in mau
Qua miền cháy với cỏ lau bời bời .
 Đọc lời ai điếu một thời
Tan phiên chợ Giát hồn người về đâu ?

61. Phạm Huy Thông
Nếu Trương Lương không thổi địch sông Ô
liệu Hạng Võ có lên ngôi hoàng đế  ?
Nhưng buồn thay đã đánh mất Ngu cơ
đời chẳng còn gì,  thơ cũng thế .
62. Bằng Việt
Nhen lên một bếp lửa
Mong soi gương mặt người
bỗng cơn giông nổi dậy
mây che một khung trời
Đất sau mưa hỡi đất
Màu mỡ trôi về đâu ?
Còn trơ chiếc guốc võng
Trăng mài mòn canh thâu .
63. Giang Nam
Xưa tôi yêu quê hương vì có chim có bướm
Có những ngày trốn học bị đòn roi
Nay tôi yêu quê hương vì có ô che nắng
Có ghế ngồi viết những điệu thơ vui .
64.  Nguyễn Trọng Oánh ( ?)
 Một chút hương thơm trải bốn mùa
mười năm lăn lóc chốn rừng già
Quay về khứng chịu ơn mưa móc
Đất trắng mưa rồi đất lại khô .
                                             65. Nguyễn Xuân Sanh
 Xưa thơ anh viết không người hiểu
Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà
Nay anh chưa viết, người đã hiểu
Sắp sáng thì nghe có tiếng gà .
66. Thâm Tâm
        Người đi, ừ nhỉ, người đi thật  
       Đi thật nhưng rồi lại trở về
       Nhẹ như hạt bụi, như hơi rượu
       Mà đắm hồn người trong tái tê  .
67.  Nguyễn Huy Thiệp
Không có vua thì làm sao có tướng
Nên về hưu vẫn phải chết ở chiến trường .
Kiếm sắc chém bao nhiêu đầu giặc
để vàng tôi trong lửa chịu đau thương .
68. Phùng Quán
 Hồn đã vượt Côn đảo
thân xác còn trong lao
Bởi nghe lời mẹ dặn
Nên suốt đời lao đao

69. Tố Hữu
Ta đi tới đỉnh cao muôn trượng
Mắt trông về tám hướng phía trời xa .
Chân dép lốp bay vào vũ trụ
Khi trở về ta lại là ta .
              Từ ấy  tim tôi ngừng tiếng hát
               Trông về Việt Bắc tít mù mây
               Nhà càng lộng gió thơ càng nhạt
               Máu ở chiến trường , hoa ở đây .
70Dương Thu Hương
Tay em cầm bông bần li
Bờ cây đỏ thắm làm chi não lòng
Chuyện tình kể trước rạng đông
Hoàng hôn ảo vọng vẫn không tới bờ
Thiên đường thì quá mù mờ
Vĩ nhân tỉnh lẻ vật vờ bóng ma .
Hành trình thơ ấu đă qua
Hỡi người hàng xóm còn ta với mình .
71. Hữu Thỉnh
Cùng đoàn quân anh đi tới thành phố
bị lạc đường, về Hội nhà văn.
Ừ nhỉ bao giờ quay trở lại
với năm anh em trên một chiếc xe tăng  .
72. Trần Bạch Đằng
(Hưởng Triều, Hiểu Trường, Ng.Trương Thiên Lý)
  Ván bài lật ngửa tênh hênh
Con đường thiên lý gập ghềnh mãi thôi
Thay tên đổi họ mấy hồi
vẫn chưa tới được chân trời mộng mơ .

73. Nguyễn Duy
 Mẹ và em đang ở đâu
giữa vùng cát trắng đêm thâu gió lùa ?
Ổ rơm teo tóp ngày mùa
xác xơ thân lúa vật vờ thân tôi
Bờ tre kẽo kẹt liên hồi
Bầu trời vuông với một ngôi sao trời
Đánh thức tiềm lực suốt đời
Ai ? – Chẳng ai đáp lại lời của tôi .

74. Nguyễn Mạnh Tuấn
Anh đã đứng trước biển
Cù Lao Tràm  kia rồi
Những khoảng cách còn lại
Xa  vời  lắm  anh  ơi .
75. Trần Mạnh Hảo
Ôi thằng Trần Mạnh Hảo
đi phỏng vấn Chí Phèo.
Lão chết từ tám hoánh
đời mày vẫn gieo neo .
Còn cái lão Bá Kiến
đục bản in thơ mày.
Bao giờ mày say rượu
Bao giờ mày ra tay  ?
76Hoàng Cầm
Em ơi buồn làm chi
Em không buồn sao được
Quan họ đã vào hợp tác
Đông Hồ gà lợn nuôi chung
Bên kia sông Đuống em trông
Tìm đâu thấy lá diêu bông hỡi chàng ?
                   77.  Lê Lựu
Người về đồng cói  người ơi
Phía ấy mặt trời mọc lại
Một thời xa vắng xa rồi
Phủ Khoái xin tương oai oái
Ở đời gặp may hơn khôn
Nào ai dám ghen dám cãi
Người đã đi Mỹ hai lần
Biết rồi khổ lắm nói mãi .
                 78. Vũ Quần Phương
Anh đứng thành tro . . . em có biết
Hôm qua lại gặp chuyến xe bò
Vẫn anh đi với vầng trăng cũ
Áo đỏ bên cầu đợi ngẩn ngơ .
                              79. Hữu Loan
Ôi màu tím hoa sim
Nhuộm tím cuộc đời dài đến thế
Cho đến khi tóc bạc da mồi
Chưa làm được nhà
                                còn bận làm người       
Ngoảnh lại ba mươi năm
          tím mấy nghìn
                                 chiều hoang
                                               biền biệt .
80. Lí Văn Sâm
Kòn Trô dấn bước đường chinh chiến
Nửa gánh giang hồ nửa ái ân
Ngàn sau sông Dịch còn tê lạnh
Tráng sĩ có về  với   bến xuân .
81. Tản Đà
Văn chương thuở ấy như bèo
Thương cụ gồng gánh trèo leo tận trời
Giấc mộng lớn đã tốn hơi
Giấc mộng con suốt một đời bơ vơ
Ước chi cụ sống tới giờ
Chợ trời nhan nhản tha hồ bán mua .
                       
82. Lưu Quang Vũ
Cũng muốn tin ở hoa hồng
Tin vào điều không thể mất
Cả tôi và cả chúng ta
đứng trong đầm lầy mà hát :
Ông không phải là bố tôi ,
Con chim sâm cầm đã chết”

Ông không phải là bố tôi
Con chim sâm cầm ai giết ?

83. Hà Minh Tuân
Bốn mươi tuổi mới vào đời
Ăn đòn hội chợ tơi bời xác xơ
Giữa hai trận tuyến ngu ngơ
Trong lòng Hà Nội, bây giờ ở đâu  ?
84. Minh Huệ
Vỡ lòng câu thơ viết
Mời Bác ngủ Bác ơi
Đêm nay Bác không ngủ
Nhà  thơ ngủ lâu  rồi .
85. Văn Cao
Thiên Thai  từ giã về dương thế
Nhắc chi ngày ấy buồn lòng ta
Sân đình ngất ngưởng ngôi tiên chỉ
Uống rượu say rồi hát quốc ca .

86.  Ma Văn Kháng
Khi về xuôi anh mang theo
đồng bạc trắng hoa xoè
với một mối tình sơn cước
Mùa lá rụng trong vườn
              năm này qua năm khác
Đám cưới vẫn không thành
              giấy giá thú chửa làm xong .
                   
87.  Vũ Bão
 Sắp cưới bỗng có thằng phá đám
Nên ông chửi bố chúng mày lên
Đầu chày đít thớt đâu còn ngán
Không viết văn thì ông viết phim .
88.  Hồ Dzếnh
Biết mấy mươi chiều khói thuốc bay
Quê nhà vạn dặm khuất trùng mây
Lui về kí ức chân trời cũ
Uống chén ruợu buồn không dám say  .
       
89. Hoàng Phủ Ngọc Tường
Trăm năm ông phủ . .  Ngọc Tường ôi
Cái nợ lên xanh giũ sạch rồi
Cửa Việt tung hoành con sóng vỗ
Sông Hương lặng lẽ chiếc thuyền trôi
Sử thi thành cổ buồn nao dạ
Chuyện mới Đông Hà tái nhợt môi
Từ biệt chốn xưa nhiều ánh lửa
Trăm năm ông phủ . . .Ngọc Tường ôi !
   
90. Phạm Thị Hoài
Dẫu chín bỏ làm mười
Hay mười hai cũng mặc
Chẳng ai dung thiên sứ đất này
Dụ đồng đội vào trong mê lộ
rồi bỏ đi du hí đến năm ngày .
91. Thanh Thảo
Giặc dã yên rồi
             về xoay khối vuông rubich
Đoán hậu vận rủi may,
                      thưa quí vị xin mời !
Xanh tím trắng đỏ vàng, đều đủ hết
Ta cùng vào cuộc chơi
Không gian bốn năm chiều
                   thời gian xin tuỳ thích
Đảo lộn tùng phèo thật giả trắng đen .
“Tôi như cục xà bông thứ thiệt”
Cứ đổ rượu vào
                    hình quí vị sẽ hiện lên.
         
92. Trần Dần
Người người lớp lớp    
xông ra trận       
Cờ đỏ
             mưa sa
                     suốt dặm dài
Mở đột phá khẩu
             tiến lên
                              nhất định thắng
Lô cốt mấy tầng  đè nát vai
Dẫu sông núi cỏ cây làm chứng
Hồn vẫn treo trên
                         vọng hải đài .
93.  Khương Hữu Dụng
Ba lô lên vai từ đêm Mười chín
“Một tiếng chim kêu sáng cả rừng”
Thì cứ khắc đi rồi khắc đến
Sao còn ngồi đấy cụ già Khương  ?
94. Dương Hương Li  (Bùi Minh Quốc)
  Tuổi hai mươi xung phong lên Tây bắc
 Nguyện hi sinh chiến đấu dưới cờ
 Lại xung phong vào Nam đánh giặc
 với bà mẹ đào hầm đầu bạc phơ phơ .
Hoà bình rồi tiến lên đổi mới

BẤT NGỜ NGÃ NGỰA CHỐN NON CAO

Dẫu thân thể mang đầy thương tích
thì cuộc đời vẫn đẹp sao

TÌNH YÊU VẪN ĐẸP SAO !

95. Ý Nhi
 Trái tim với nỗi nhớ ai
Như cây trong phố đứng hoài chờ trăng
Như người đàn bà ngồi đan
sợi dọc thì rối, sợi ngang thì chùng .
96. Yến Lan
Ra đi từ bến My Lăng
Bao năm dấu kín ánh trăng trong lòng
Tuổi già về lại bến sông
Trăng xưa đã lặn, phải chong đèn dầu .
97. Phan Thị Thanh Nhàn
Giấu một chùm thơ trong chiếc khăn tay
Em hăm hở đi tìm người trao tặng ,
Những kẻ phong lưu, những tên du đãng ,
mấy ai biết hương thầm của cô gái xóm đê  .
98. Trần Đăng Khoa
Chú dế góc sân hồn nhiên ca hát
hát thành thơ như nước triều lên
Khi khôn lớn lại hồn nhiên đi giữa
Biển một bên và em một bên  .
99. Hoàng Lại Giang
 Người đàn bà mà tôi ao ước
Trên vành đai Mỹ những năm xưa
Tình yêu đã lụi tàn cùng ký ức
 Nhưng còn đây tội lỗi, đến bao giờ  ?
100.  Tự hoạ (Xuân Sách)
Cô giáo làng tôi đã chết rồi
một đêm ra trận đất bom vùi
Xót xa Đình Bảng người du kích
Đau đớn Bạch Đằng lũ trẻ côi
Đường tới chiến công gân cốt mỏi
Lối vào lửa đạn tóc da mồi
Mặt trời ảm đạm quê hương 
ở một cung đường rách tả tơi.



Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Hai, 17 tháng 6, 2013

"... CHỈ LÀ TRANH CHẤP DÂN SỰ..."

LBT: Bạn nào đã xem phim "Đường đời" chiếu trên VTV1 cách đây ít lâu hẳn còn nhớ nhân vật Hải trong bộ phim này?
Tai sao anh ta lại có số phận cay đắng đến như vậy? Kể cả khi công thành danh toại, đoạn cuối đường đời?
 ( Nguyễn Hữu Khai chính là nguyên mẫu nhân vật Hải trong bộ phim nói trên. Tất nhiên đạo diễn đã xây dựng thông qua kỹ xảo điện ảnh mang tính hư cấu văn học ), chúng ta sẽ nghĩ sao về "Đường đời"?


Poster phim Đường Đời


Vụ bắt Chủ tịch Tập đoàn Bảo Long: Công nhân khẳng định chỉ là tranh chấp dân sự

"... CHỈ LÀ TRANH CHẤP DÂN SỰ..."

(Tân Châu) Diễn tiến mới nhất trong ngày 17/6 là cơ quan chức năng khám xét trụ sở Tập đoàn Bảo Long (xã Cổ Đông, thị xã Sơn tây, HN). Trong quá trình khám xét, báo chí được tạo điều kiện quan sát và tác nghiệp, nhiều hình ảnh buổi khám xét được báo chí ghi lại.

Hai ngày trôi qua, kể từ lúc ông Nguyễn Hữu Khai bị bắt. Chưa có phát biểu chính thức nào từ cơ quan chức năng, phía Tập đoàn Bảo Sơn cũng không “bình luận” gì sự việc.

Đáng lưu ý nhất là đơn kiêu cứu của một số công nhân của Bảo Long gởi tới báo chí. Trong đơn kiêu cứu có tiêu đề và đóng dấu giáp lai của Tập đoàn Bảo Long, “nhóm người” ký vào đơn cho rằng: Sự việc của “Bảo Sơn” và “Bảo Long” chỉ là tranh chấp dân sự.

Một số nội dung khác, đáng chú ý trong đơn cầu cứu này như:

Việc bắt giữ ông Nguyễn Hữu Khai khởi nguồn từ hợp tác đầu tư với Tập đoàn Bảo Sơn. Do bất đồng nên Bảo Sơn nộp đơn kiện ra Tòa án ND Hà Nội. 6 tháng sau, Bảo Sơn rút lại đơn kiện Bảo Long. Trong quá trình diễn ra bất đồng giữa 2 tập đoàn, phía ông Nguyễn Hữu Khai và các cán bộ chủ chốt của Bảo Long liên tục bị công an, các đoàn cơ quan chức năng mời làm việc, thanh kiểm tra. Nhóm đại diện công nhân cũng cho rằng, sở nhỉ Bảo Long chưa giao tài sản cho Bảo Sơn là do Bảo Sơn chưa thanh toán hết tiền cho Bảo Long.

Cùng với khẳng định đây chỉ là vụ tranh chấp dân sự, nhóm đại diện công nhân Bảo Long cũng bày tỏ thái độ về việc bắt giam ông Nguyễn Hữu Khai:

“… Chúng tôi không đồng tình việc bắt Lương y Nguyễn Hữu Khai, chúng tôi hiểu và tôn trọng pháp luật, đồng thời mong sự công bằng và tôn trọng sự thật…” - Đơn kiêu cứu có đoạn viết.

16 giờ 15 phút ngày 15/6, Cơ quan An ninh điều tra CAHN, sau khi được Viện KS cùng cấp phê chuẩn, đã thực hiện lệnh khám xét, bắt giam 3 tháng ông Nguyễn Hữu Khai - Chủ tịch Tập Đoàn Bảo Long – Việc khám xét và bắt tạm giam này diễn ra tại TP.HCM. Sáng hôm sau (16/6), di lý ông Khai ra HN để phục vụ điều tra. Sáng ngày 17/6, cơ quan chức năng khám xét Trụ sở Bảo Long tại HN








Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tranh tuyên truyền cổ động của Liên Xô và Đức quốc xã




plakat-0

Muốn thấy sự tuyên truyền của Liên Xô ( đàn anh CNXH) và Đức quốc xã ( Đàn anh của đế quốc phát xít) không gì bằng đặt các tranh cô động của hai nước sát bên nhau. Ta sẽ thấy giống nhau không chê vào đâu được

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Trang Vuong Tri Nhan:


05-06-2013


Từ vứt bỏ sách cũ có giá trị đến… ồ ạt làm ra sách mới sách rởm

Tiếp tục câu chuyện về nỗi thê thảm của sách

Tại sao lại có tình trạng thê thảm của sách như tôi đã nói ? Ta hãy cùng tìm tới những nguyên nhân đã lùi về xa.

Nỗi thê thảm của trí tuệ
Năm 1954, khi Hà Nội đón đoàn quân từ Việt Bắc trở về, các trường trung học cũ chuyển thành trường cấp II cấp III, trong số những điều đám thanh niên học sinh mới lớn chúng tôi được truyền thụ và phải nhập tâm,có định hướng về tinh thần thực tiễn.

Cái anh này có vẻ sách vở quá! Từ lúc nào tất cả đều hiểu đó là cái câu dùng để chê nhau, mặc dầu chúng tôi đang sống với sách, đang đi học.
Một người thích đọc sách dễ bị những người khác coi là ấm đầu,không thức thời,không thể đi xa trên đường lập nghiệp.
Mấy chục năm qua đi, rồi cái tinh thần vô sư vô sách ấy đã được chính thức hóa trong tất cả các cấp học trong mọi bộ môn. 
Thà một cây chông trừ giặc Mỹ
Hơn ngàn trang sách luận văn chương
 

Một trong những câu thơ Tố Hữu mà tôi nhớ nhất là cái câu khinh rẻ sách chà đạp lên sách như vậy.
Sài Gòn sau 30-4, hẳn nhiều người còn nhớ giữa những phố xá bán đầy hàng cũ, có cả những con đưởng sách. Sách cũng được bày bán như mọi thứ hàng tầm tầm khác,đang bị từ bỏ.
Trước đó ở đồng bằng Bắc bộ và khu bốn cũ, sau Cải cách ruộng đất, sách vở trong các gia đình địa chủ có học cũng bị mang nhóm bếp tất.
Bởi sách vở là tinh hoa nên phải chịu chung số phận với mọi bộ phận ưu tú trong xã hội làngười giàu ( tinh hoa trên phương diện làm ăn) và kẻ sĩ (tinh hoa trên phương diện nhận thức cuộc sống.)

Từ tạm thời bỏ sách
đến đoạn tuyệt với kiểu sống cần sách vở 

Khi mới bước vào cách mạng và kháng chiến, nhiều thanh niên VN lúc ấy tự nhủ: nay làthời vứt sách. Tức một thời điểm bất thường. Chỉ có hành động là quan trọng. Không được trù trừ phân vân. Không được tính trước tính sau gì cả. Chẳng những phải vứt sách mà phải quên hết những điều sách vở đã nói với mình đã dạy dỗ mình.
Cái tinh thần chế giễu học vấn mà bọn tôi tiếp thu được ở HN sau 1954 vốn có nguồn gốc là thế.
Với hoàn cảnh nước sôi lửa bỏng hô hào vứt sách lúc đó là cần thiết. 
Chỉ có điều cách mạng cứ khó khăn mãi. Cái khẩu hiệu đáng lẽ chỉ có quyền trương lên tạm thời biến thành khẩu hiệu vĩnh viễn. 
Có cả một phong trào bài bác trí tuệ bài bác sách vở, trên thực tế là triệt hạ mọi sách vở tử tế, triệt hạ mọi đầu óc có suy nghĩ.
Để rồi khi cần lại tạo ra một loại sách vở mới, tạo ra lớp người viết sách mới. 
Chỉ có điều, do đã cắt đứt hết mọi mối liên lạc với lịch sử, nên cái mới này sẽ mang bộ mặt thê thảm và một chất lượng kém cỏi hiếm thấy.

Những cuốn sách bị cấm 
Bài trước tôi đã kể ấn tượng mãi về những cuốn sách Pháp gọn gàng mộc mạc mà lại nuột nà, sách của những nhà Gallimard, Grasset, Hachette. Sách vừa đẹp vừa nhã, giấy không trắng quá, chữ in rõ ràng. Cầm quyển sách cứ nhẹ bỗng mà đọc vào lại thấy một nội dung thật nặng, thật nghiêm chỉnh.
Đó là số sách mà trong chiến tranh chống Mỹ Đại sứ quán Pháp ở Hà Nội tặng cho Hội nhà văn VN. Hồi ấy còn nhiều nhà văn biết tiếng Pháp nên đó là cả một kích thích thú vị cho những người ham hiểu biết. 
Nhưng có lệnh từ trên là không được cho dịch đã đành, mà cũng không được phổ biến rộng rãi. Tổng thư ký Nguyễn Đình Thi dặn bà Huệ phụ trách Thư viện, chỉ những nhà văn cỡ trung kiên, được gọi là thường vụ Ban chấp hành và những người được ông Thi trực tiếp đồng ý, mới được mượn. 
Cái có giá trị và được cả thế giới công nhận phải được coi cái xa lạ hơn thế nữa, hư hỏng sai lạc, không bằng những cái ta làm ra(!).
Sự tự cô lập về mặt trí tuệ là đầu mối của mọi thảm họa trên mọi phương diện khác.
Sau chiến tranh, số phận những cuốn sách của những tác giả nổi tiếng trong văn học phương Tây hiện đại ấy, đã có phần thay đổi. 
Nay là lúc các nhà làm sách đua nhau tìm xem có loại nào đang trở thành thời thượng ở phương Tây thì dịch ngấu dịch nghiến, tung ra cho độc giả xài. 
Nhưng lớp độc giả nghiêm chỉnh xưa đâu còn nữa và cái mà ta tưởng đáng tiếp thu nhận ngay có khi lại là những bọt bèo rác rưởi của một phương Tây đến ngày nay ta vẫn chưa thật hiểu. 
Tôi kể những chuyện này để lưu ý rằng nền sách vở mà chúng ta xây dựng về sau ở vào một độ lùi đáng kể với sách thế giới, và chúng ta cứ thế mà tụt hậu mãi.

Việc nào tác hại hơn?
Chỗ đau nhất của sách thời nay như vậy là ở sự lộn sòng giữa sách thực và sách giả, giữa cái không phải là sách và sách thực sự. Và theo tôi hiểu, không thời nào sự lộn sòng đó công khai và tràn lan như bây giờ. 
Ai cũng có thể rút ra kết luận đó nếu có lần vào đọc ở các thư viện công cộng. Ở đó, sách cũ sách có giá trị thì bị xếp xó. Sách mới , những cuốn sách cạn cợt nông nổi thì được trưng ra thật đẹp và sự thực là trở thành cần thiết với một lớp trẻ chỉ biết lao vào thi cử, nghĩa là nói y hệt điều người ta đã nhét vào đầu mình để ăn điểm.
Giá mang đặt lên bàn cân hai sự kiện, một là việc rẻ rúng những cuốn số sách cũ có giá trị và hai là việc làm ra vô vàn những cuốn sách mới nghèo nàn mỏng mảnh kém coỉ giả dối rồi lại thượng chúng lên như những tài sản vô giá mà con ngưởi thời nay gửi cho tương lai, không rõ việc nào gây tác hại hơn.

Thời nay sách đã được viết như thế nào?
Tại một tỉnh nọ khi có chủ trương lập ra Hội văn nghệ thì một cán bộ tuyên huấn được cử sang phụ trách. Anh em xì xào ông này không phải nhà văn. Ông ta tức lắm, liền bỏ tiền ra thuê người viết một cuốn tiểu thuyết đứng tên ông.
Tiền in đã có cơ quan lo.
Còn tiền trả cho người làm thuê? Ông ta đã có cách là lập ra một Hội đồng xét giải rồi tự cho mình giải thưởng. Sau này ông ta còn dùng cuốn sách đi thuê người viết nói trên làm bằng, để xin vào Hội cấp trên nữa. Tính ra có cả lãi đơn lãi kép. 
Trường hợp trên, tôi chỉ nghe kể, chứ không tận mắt chứng kiến. Sở dĩ tôi sẵn sàng tin và muốn mọi người cùng tin, vì nó chỉ là biểu hiện tập trung của một sự thực.
Là thời nay, mối quan hệ giữa sản phẩm là sách và các chủ thể viết sách, mối quan hệ ấy đang có một sự đứt gẫy đổ vỡ hoặc nói như một thuật ngữ xã hội học – đang bị tha hóa. Người ta viết sách rất cẩu thả, không phải viết bằng con người lao động chăm chỉ trong mình mà viết như làm hàng, viết như ăn cướp. 
Thỉnh thoảng báo chí đã nêu đích danh những vụ đạo văn. Nhưng đó chỉ là phần nổi của tảng băng. 
Còn rất nhiều trường hợp khác, tuy không dùng lại câu cú chữ nghĩa của người khác, nhưng tinh thần của toàn bộ cuốn sách người ta đứng tên là đi mô phỏng, đi thuổng đi nhặt nhạnh, rồi mông má lắp ghép lại, chữ hồi trước gọi là cao đan hoàn tán.
Đã không thấy sự có mặt của một tác giả trong những cuốn sách làm hàng ấy. 
Thế thì có khác chi ông cán bộ đi gọi người viết thuê vừa nói ở trên?
Sự thê thảm bộc lộ ngay trong những cuốn sách bề ngoài hào nhoáng.

Một loại tác giả “ăn khách” chỉ có ở thời nay
Nhà thơ nọ công tác ở một vùng công nghiệp. Luôn luôn anh có thơ in ra và số lượng in các tập thơ của anh thường hơn hẳn các đồng nghiệp ở TW. 
Hỏi ra mới biết sở dĩ thơ anh “bán” chạy như vậy nhờ tác giả có mối quen thân với những người làm công tác tuyên truyền và thi đua trong vùng. Sách anh in được đưa vào tủ sách của các công đoàn cơ sở và làm phần thưởng cho các cá nhân có thành tích trong các đợt thi đua địa phương. Tích lại nhiều năm số lượng in lớn có gì là lạ.

Sách dùng để làm gì? 
Thời nay có nhiều nhà văn người ta chỉ nghe tên mà không ai kể ra được là ông ta có tác phẩm nào cụ thể. Không phải đó là người lười viết. Tổng cộng sách đứng tên ông cũng vô khối. Chỉ có điều đó là sách nắm sách mớ, sách in ra mà như đứa trẻ hữu sinh vô dưỡng. 
Thế sách các nhà văn đó viết đi đâu?
Nhớ một mẩu chuyện vui vui.
Tại quầy cho mượn sách ở một thư viện, người ta thấy một độc giả lùn tịt mè nheo với người thủ thư:
-- Tôi đã bảo chị cho tôi mượn một trong những cuốn sách dày kia cơ. Cuốn nào cũng được, càng dày càng tốt.
-- Ơ cái anh này! Đó đâu phải là sách dùng cho chuyên ngành của anh?
-- Không, tôi không cần đọc. Tôi chỉ cần mượn để kê cao chỗ ngồi.
Nhiều cuốn sách ngày nay sở dĩ là được in ra, được đọc , được trích dẫn được trao giải thưởng nữa, nếu hiểu kê cao theo nghĩa bóng, thì cũng chỉ là để kê cao chỗ ngồi của người viết và người sử dụng mà thôi!
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chủ Nhật, 16 tháng 6, 2013

TƯ LIỆU văn học:

PHẢI CHĂNG CHU THẦN CAO BÁ QUÁT

LÀ CHA ĐẺ CỦA PHÓ VƯƠNG BẮC KỲ HOÀNG CAO KHẢI !?
 

 Nhà văn Thái Doãn Hiếu

 Thân sinh của Cao Bá Quát là ông đồ Cao Hữu Chiếu - một danh nho tuy không đỗ đạt gì. Ông hướng con cái vào đường khoa cử với rất nhiều kỳ vọng. Đời Chu có 8 kẻ sĩ : Bá Đạt - Bá Quát, Trọng Đột - Trọng Hốt; Thúc Dạ  - Thúc Hạ, Quý Tuỳ - Quý Đa. Tám  hiền sĩ đời Chu này đều là bốn cặp sinh đôi. Ông chọn hai tên trong tám kẻ sĩ đời Chu đặt tên cho hai đứa con sinh đôi của mình: Cao Bá Đạt, Cao Bá Quát là muốn cho hai con sẽ trở thành những bậc hiền tài giúp nước. Cao Bá Quát đặt tên tự cho mình là Chu thần (quan nhà Chu) cũng ngụ ý đó.
 alt

Chu Thần Cao Bá Quát
 
Về nhân vật kiệt xuất này trong bộ Giai thoại Kẻ sĩ việt Nam, NXB Văn hoá Dân tộc, Hà Nội 1997, tôi (TDH) đã viết “Cao Bá Quát (1808-1855) là nhà thơ lớn của dân tộc. Anh hùng thời nhà Nguyễn. Tự Chu Thần, hiệu Cúc Đường và Mẫn Hiên. Quê làng Phú Thị, Gia Lâm, xứ Kinh Bắc (nay thuộc Hà Nội). Xuất thân trong một gia đình nhà nho nghèo, thanh liêm. Họ Cao là một  cự tộc ở làng Phú Thị, nhiều đời khoa bảng.  Anh ruột là Cao Bá Đạt đỗ cử nhân, làm tri huyện Nông Cống, một huyện giàu nhất tỉnh Thanh Hóa. Cao Bá Quát là chú ruột Cao Bá Nhạ, tác giả Trần tình khúc.
 
Thuở nhỏ, Cao Bá Quát nổi tiêng thần đồng. Năm 1831 (Minh Mệnh thứ 12), ông đỗ á nguyên kỳ thi hương ở Thăng Long, nhưng về sau bộ duyệt lại đánh xuống cuối bảng. Những năm về sau (1832-1835) hai phen ông vào Huế thi hội đều bị đánh hỏng vì lời văn phóng đạt, “ngông” không chịu khuôn phép song tiếng tăm đã lẫy lừng. Từ đó, Cao thường ngao du đó đây, lấy văn chương phúng thích chính trị làm lẽ sống ở đời. Năm Thiệu Trị thứ nhất (1841), theo lời đề cử của quan đầu tỉnh Bắc Ninh, ông được cử vào kinh sung chức hành tẩu bộ lễ. Cao có chân trong Mặc vân Thi xã nổi tiếng của Tùng Thiên công Miên Thẩm và Tuy Lý công Miên Trinh. Đây là thời kỳ Cao Bá Quát và Phương Đình Nguyễn Văn Siêu được nổi danh “Thần Siêu, Thánh Quát”.
 
Năm 1841, nhân một khoa thi hương – ân khoa của Thiệu Trị, Cao được cử làm sơ khảo kỳ thi Thừa Thiên. Vì mến tài một số sĩ tử, ông lấy muội đèn chữa quyển của thí sinh phạm húy. Việc bại lộ, Cao bị tra tấn, suýt bị tội chết, sau phải đi làm lao dịch theo một đoàn thuyền của hoàng gia đi mua hàng xa xỉ ở Indônêxia. Từ nước ngoài trở về, Cao bị thải về Hà Nội, sống nhờ vợ bên hồ Trúc Bạch. Năm 1847, ông được triệu vào kinh, đến năm Tự Đức thứ ba 1850, ông ra làm giáo thụ ở phủ Quốc Oai (Sơn Tây), gần như bị đuổi khéo về Bắc.
 
Năm 1853, Cao Bá Quát lấy cớ mẹ già, thôi chức giáo thụ và năm sau !854 làm quân sư cho Lê Duy Cự dấy nghĩa ở Mỹ Lương (Mỹ Đức, Hoà Bình) chống lại triều đình nhà Nguyễn. Bọn phong kiến gọi là giặc Châu Chấu. Khởi nghĩa thất bại, Cao hy sinh ngay trong trong trận đánh cuối cùng ở huyện Yên Sơn. Tự Đức đã tru di ba họ nhà ông 1855 (1).
 
Cao Bá Quát sáng tác nhiều, cả Hán lẫn Nôm : Tài tử đa cùng phú, Cao Bá Quát thi tập, Cúc Đường thi thảo, Cao Chu Thần di cảo, Mẫn Hiên thi tập (4 tập). Tất cả có trên 1.000 bài.
 
Thơ Cao Bá Quát nổi tiếng hay, tài năng thi hào được người đương thời và  đời sau xem như thần thánh che mờ cả thời Tiền Hán và Thịnh Đường. Đức độ của người được muôn đời kính trọng, xót thương.
 
Thương ai bảy nổi ba chìm
tấm lòng phản kháng vẫn còn sáng soi.
                                                 (Sóng Hồng)”
 
*
 
Trên con đường viễn du Phú Thị - kinh đô Huế, Cao Bá Quát thường ghé thăm anh trai Cao Bá Đạt làm tri huyện Nông Cống. Tại huyện đường của ông anh có một viên thư lại là Hoàng Văn Đồng. Ông này có một người vợ tuyệt thế giai nhân, giỏi thi phú. Người đẹp Mỹ Lệ thường xướng họa rất tâm đắc với Bá Quát. Một số bài thơ viết về phong cảnh Thanh Hóa như Vịnh Thanh Hoá Miêu Tử sơn (Vinh núi Con Mèo ở Thanh Hoá), Vọng phu thạch (Hòn Vọng Phu Thanh Hóa)…còn lại trong di cảo của Cao là ra đời trong hoàn cảnh đặc biệt này. Ở đây, đã nẩy nở một thiên tình sử giữa danh sĩ với giai nhân. Mối tình của họ kéo dài 5 năm từ 1848-1853, để lại biết bao huyền thoại. Áng thơ tình diễm tuyệt dưới đây là của nàng Mỹ Lệ gửi người tình Chu Thần Cao Báo Quát:
 
 
THẤT THẬP DẠ THỪA NGUYỆT,
TẨU BÚT KÝ HỮU NHÂN  
 
 
Thiên cao chúng tinh hy
Minh nguyêt tĩnh như thủy
Tứ tức hậu trùng minh
Sắt sắt kim phong khỉ (khởi)
Đường thượng hữu giai nhân
Ỷ lan sầu bất ngữ
Khởi thị dạ hà kỳ
Bộ bộ hành phục chỉ
Bất ưu trường dạ hàn
Đãn tích nguyệt tương mỹ
Thiếp niên thị bát thời
Doanh doanh chính tương tị (tự)
Trưởng đại ái dư nghiên
Thượng tưởng dung nhan mỹ
Noa y hiệt kỳ quang
Bất nhẫn nhàn phao trí
Tài tác hợp hoan thư
Ký tử tâm trung sị (sự)
 
 
Dịch nghĩa :
 
ĐÊM MƯỜI BẢY DƯỚI ÁNH TRĂNG
VIẾT CHẠY BÚT GỬI BẠN
 
 
Trời cao, sao lác đác
Trăng sáng trong như nước
Lạnh lùng tiếng sâu mùa kêu
Sàn sạt gió vàng nổi dậy.
Trên nhà có một người đẹp
Ngồi tựa lan can buồn không nói
Bỗng đứng dậy xem đêm đã khuya chưa
Bước một bước lại dừng một bước
Không lo đêm dài lạnh
Chỉ sợ đêm sắp tàn
[Nghĩ lại} khi thiếp tuổi đôi tám
Cũng đầy đặn như trăng
Lớn lên vẫn yêu cái đẹp xưa
Những tưởng giữ mãi được như thế
Kéo áo bọc lấy ánh trăng
Không nỡ dễ dàng bỏ phí
Xén ra thành bức thư hợp hoan
Gửi cho chàng những điều tâm sự.
 
Dịch thơ :
 
Trời cao sao lác đác,
Trăng sáng trong như nước,
Sâu mùa kêu tỉ tê,
Gió thu thổi hiu hắt.
Có người đẹp trên lầu,
Tựa lưng buồn nín bặt.
Dậy xem canh mấy rồi,
Dạo quanh lại dừng bước.
Chẳng lo đêm dài lạnh,
Chỉ tiếc trăng hầu khuất.
Thiếp thuở đôi tám xưa,
Vẻ so trăng chẳng khác,
Lớn lên tưởng vẫn còn,
Sắc đắm người như trước.
Túm áo bọc ánh trăng,
Chẳng nỡ hoài bỏ dứt
Xén làm bức thư tình,
Gửi bạn lời tâm phúc !
 
                 KHƯƠNG HỮU DỤNG
 
Tình cảm quá đẹp giữa hai người qua bài thơ  đã thật nặng gánh trần duyên. Năm 1850, điều mà Cao Bá Quát mãi mãi không thể ngờ tới là đôi tài tử  có với nhau cậu con trai Hoàng Văn Khải – theo khai sinh họ bố chính thống hiện thời. Sau này, khi cả hai ông bố đẻ và bố nuôi không còn trên thế gian nữa, bà mẹ mới gọi  con trai 18 tuổi lại, tiết lộ bí mật này trước khi cậu đậu cử nhân ân khoa 1868 dưới triều Tự Đức - cùng khoa với Phan Đình Phùng. Cậu Khải rất đỗi kinh ngạc, đành chấp nhận sự thật kinh hoàng, không ngờ mình là một giọt máu của bậc kỳ tài nổi loạn, xin đổi khai sinh lấy chữ Cao ghép vào giữa thành HOÀNG CAO KHẢI !
 
Hoàng Cao Khải  mới đỗ cử nhân, bổ làm huấn đạo, rồi tri huyện Thọ Xuân (Thanh Hóa). Tuy quan tước ở hàng tam phẩm nhưng theo năng lực vẫn được Nguyễn Hữu Độ dẫn dắt, tiến cử phong lên làm Tổng đốc Lạng Sơn, tổng đốc Hải Dương, tổng đốc Bắc Ninh...  Với thành tích đánh dẹp phong trào Cần vương ở Bắc bộ, và giải giáp cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy, Hoàng Cao Khải  đã được Triều đình nhà Nguyễn tấn phong đến chức Khâm sai Kinh lược sứ Bắc Kỳ (người Pháp gọi là Phó vương - vice), quyền uy nghiêng ngửa thiên hạ. Cuối đời, ông được triệu về Kinh giữ chức Thượng thư bộ Binh. Nhìn chung, Hoàng Cao Khải là nhân vật lịch sử công ít tội nhiều.
 
Dòng họ Hoàng Cao ở làng Đông Thái, Tùng Ảnh, huyện La Sơn (nay là Đức Thọ) Hà Tĩnh từ ngày có Hoàng Cao Khải (1850-1933) là nhà văn, nhà sử học, đại thần dưới triều Thành Thái mới khởi đầu một dòng khoa bảng thật sự với hàng loạt những tên tuổi văn hóa lừng lẫy.
 
Phải chăng gien di truyền của bậc thiên tài Cao Bá Quát đã lai tạo biến một dòng họ tầm thường trở thành danh gia vọng tộc !?
 
 
 
 

 

Phần nhận xét hiển thị trên trang