Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Sáu, 11 tháng 1, 2013

PHÊ BÌNH VÀ TIỂU LUẬN:

Cửa Đá là gì?

Trần Huy Vân
Thứ sáu ngày 11 tháng 1 năm 2013 3:03 PM

(Cảm nhận tiểu thuyết Cửa Đá, Nxb Hội Nhà văn, 2012)
Khi cầm cuốn sách trên tay, đọc tên sách, tên tác giả, tên nhà xuất bản, suy đoán cuốn sách viết gì. Cửa Đá, một cái tên lạ hoắc, lì lợm, chắc nịch, cao to như trái núi, có phải thế không? Người đời tò mò, tìm cái nút bí hiểm, ấn ngón tay vào đó, cánh cửa im lìm từ từ mở, một thế giới kỳ lạ hiện ra. Từ ngàn xưa, ngày nay và ngàn sau, con người đều bất lực trước tấm cửa đá ấy, không sao tìm ra cái nút kỳ diệu để chỉ việc ấn ngón tay vào, cho hiện ra những điều mình đang tìm kiếm, có phải vậy không? Tôi đã bắt hình dong như thế, trước khi mở sách ra đọc. Trang đầu, Lời tác giả, viết: “Mười sáu chương và lời chót trong cuốn tiểu thuyết này, đều đặt đề từ, được khai thác qua Đại Việt sử ký toàn thư, với mục đích làm cho tác phẩm có nhiều lớp lang, phong phú hơn, mà không cần phải lý giải dài dòng, tựa hồ như cái cánh gà, tạo không gian sana khấu vậy”. Chả có chút gợi mở nào liên quan đến tên sách Cửa Đá cả.
Mười sáu chương chia thành 5 phần, mỗi phần một cái tên.
Phần một: Bọc trứng rồng ngũ sắc, gồm 2 chương;
Phần hai: Viên tướng đội mũ sắt nhọn, gồm 2 chương;
Phần ba: Hợp tác xã là nhà, gồm 4 chương;
Phần bốn: Chuyên viên Thủy Văn Mộc, gồm 5 chương;
Phần Năm: Bầy rồng lại tái hiện, gồm 3 chương.
Các chương không đánh số thứ tự từ 1 đến 16, mà theo thứ tự từng phần, cứ như mỗi chương là một tiểu thuyết cực ngắn vậy. Mở đầu là “Bọc trứng rồng ngũ sắc”, một huyền thoại đã đi vào thế giới tâm linh của người Việt Nam, để luôn tự hào là con Rồng cháu Tiên. Phần cuối: “Bầy rồng lại tái hiện”, thời đại này lại xuất hiện bầy rồng. Vậy chỉ là huyền thoại thôi sao!
Một người bạn, vào loại mọt sách đến gặp tôi, nói:
- Đọc xong cuốn sách này, tôi cứ thấy mênh mang, hư hư thực thực…
- Cái hay của tiểu thuyết là ở chỗ đó, - tôi nói, - chủ đề, cách viết đều rất mới lạ. Ông quen đọc sách theo lối truyền thống, có kết cấu rõ ràng theo trình tự, có tuyến nhân vật chính, phụ, diễn biến theo thời gian, không gian của sự việc… Do vậy, nên đọc Cửa Đá thấy lạ là phải.
Suy cho cùng, trong cõi người ta, cái gì là thật, cái gì là giả đây? Tất cả nháo nhào như trong cõi hỗn mang vậy. Hiện thực trong văn chương, với hiện thực ngoài đời không bao giờ đồng nhất. Cái gọi là hiện thực trong văn chương đã được hình tượng hóa, nghệ thuật hóa theo cảm nhận của nhà văn. Nhà văn miêu tả cuộc sống con người, cảnh vật để nói đến ý tưởng, cảm nhận sâu xa hơn; người ta thường gọi là mạch ngầm văn bản. Thưởng thức một tác phẩm văn học chính là tìm ra cái mạch ngầm ấy, không dễ đâu!
Tiểu thuyết Cửa Đá là cảm nhận của nhà văn theo suốt chiều dài đằng đẵng của lịch sử, từ thuở bình minh của muôn loài; trong đó, con người là nhân vật chính. Ngay chính cõi đang sống đây, chúng ta đã không hiểu hết những gì đang diễn ra, nói gì đến cái thuở hoang sơ sâu thẳm của con người. Cảm nhận cái thời xa mờ, theo cách ăn ốc nói mò thôi, là thật ư? Làm gì có cái thật trong huyền thoại, một thế giới theo tưởng tượng của con người. Nhà văn cảm nhận những huyền thoại ấy theo cõi tâm linh, bằng cách riêng của mình, không độc đáo sao!
Đã có bao nhiêu người ăn ốc nói mò, về quá trình hình thành trái đất và muôn loài. Nhà văn thì nói ngắn gọn thế này: “Quả đất hao hao gióng củ khoai tây, móm méo. Có một điểm đánh dấu đỏ, chú tên: “Thoạt kỳ thủy”… Khu vực đắc địa ấy, phía trên, hai quả đồi chon von và ở giữa là thung lũng, đột ngột lồi lên một cái hang, có vách núi dựng thành vại, phía dưới có khe nước trong mát. Tất cả chỉ có thế. Người đời giải thích, hai quả đồi chính là bầu vú của người mẹ vĩ đại. Thung lũng nứt nẻ, chính là cái bụng bị rạn của người mẹ sau lần mang thai. Cái hang lồi trên núi mang tên nôm là Rốn. Vách núi hiện lên Cửa Đá huyền bí. Nguồn nước trào ra từ khe đá, là nơi bà mẹ nhận phần dương khí của đất trời, rồi sinh ra đàn đàn lũ lũ rặt những người là người. Khe nước đó là khởi nguồn của suối Mẹ Tiên”.
“Một ngày đẹp trời, bầy rồng ngũ sắc bay qua vùng đất linh thiêng này, thấy cảnh thanh bình, cây cối tốt tươi, nước mát trong lành, bèn rủ nhau sà xuống. Đầu tiên là Hắc Long, rồi đến Bạch Long, Hoàng Long, Xích Long, cuối cùng là Xích Giả Long. Bầy rồng uống nước suối Mẹ Tiên, nhả ngọc ngũ sắc vào khe đá ấy. Sau chín tháng mười ngày, khe nước đùn ra năm bọc trứng ngũ sắc, mỗi bọc năm mươi quả. Một tiếng nổ lớn, đất đai vỡ ra thành năm mảnh lớn, trôi dạt trên đại dương. Mỗi mảng lục địa mang theo một bọc trứng, rồi nở thành người mang theo mầu da của từng con rồng: đen, trắng, vàng, đỏ, nâu. Trên vách hang Thạch Đỗ, có cái Cửa Đá hình tròn, nom như mặt trăng, to đến mức con tàu vũ trụ có thể bay vào được, và tự ngàn đời không biết sau Cửa Đá là gì. Cửa Đá huyền bí, vĩ đại, không biết do ai tạo lập, từ đời nào, để làm gì? “Cứ trăm năm, bầy rồng ngũ sắc lại lại về Cửa Đá một lần, báo hiệu sự biến động dữ dội của trời đất”.
Theo cảm nhận của nhà văn, muôn loài, trong đó có con người, đều chung một nguồn cội, do bà mẹ trái đất “móm méo như củ khoai tây” sinh ra. Con người và muôn loài đã chứa biết bao huyền thoại, có phải vậy mà thế giới này luôn ẩn chứa những điều khó hiểu và đầy bí hiểm nữa. Ví như ngay từ buổi còn ăn lông ở lỗ, trưởng bản chết, đám trẻ con nhìn cái xác cháy dở, thèm thuồng, nuốt nước dãi, hỏi: “Không được ăn à?”. Thằng Lừ khỏe mạnh: “Nó ăn không biết no, làm không biết mệt. Bọn con gái bản mê nó nhất. Một đêm nó có thể phủ tất cả con gái bản Hang và trại Suối. Cô nào có chửa đều muốn đẻ con giống nó”. Hoang dã đến độ. Đội quân của “Viên tướng đội mũ sắt nhọn” đến đánh bản Hang, cuộc chém giết ghê người. Bắt được đàn ông, viên tướng đội mũ sắt nhọn hét lên: cung hình (thiến)! “Tức thì bọn lính quỳ xuống, nhất loạt vung lẹm hóp, thiến dái đàn ông… Viên tướng hả hê cười, ra lệnh cho quân lính nhặt cà, ngâm vào bình rượu. Còn đàn bà, “những cô bụng mang dạ chửa, bọn lĩnh đạp cho phọt thai ra. Những cô vú nở, bụng thon, bọn lính vật ngửa ra sân, đồng loạt hiếp”.
Ngay từ thuở hồng hoang, con người đã đã hung dữ dến vậy sao? Cùng một nguồn cội, mà lòng người chất chứa bao nhiêu thù hận, trà đạp tàn bạo lên đồng loại, để thỏa cái chất cầm thú trong mình. Kẻ mạnh đàn áp kẻ yếu, cá lớn nuốt cá bé đã là bản tính của con người.
*
Cửa Đá, viết theo dòng chảy của suối Mẫu Tuyền, dòng chảy thời gian. Tác giả chọn từng chặng để viết, từ quá khứ đến hiện tại, mầu văn đượm chất huyền thoại, thực đấy, giả đấy, khó nắm bắt là phải. Đang ở đoạn gươm khua giáo gãy, “quân chết như ngả rạ một lượt. Bọn Thổ lệnh cho quân sĩ sẻo dái tù binh, mỗi tên một hòn, rồi cho vào chum làm mắm, khiêng về nước”. Rồi nhà văn giả bắt ngay sang phần ba: Hợp tác xã là nhà, sang cái thời của những con người mông muội đi lên chủ nghĩa xã hội. Thế mà ông Tố Hữu, từng viết:
“ Dân có ruộng dập dìu hợp tác
Lúa mượt đồng ấm áp làng quê
Chiêm mùa cờ đỏ ven đê
Sớm khuya tiếng trống đi về trong thôn”.
Một bức tranh làng quê thật đẹp, một câu chuyện thần thoại trong thời đại mới. Những con người sau trận “Táo đổ chôn mâm”, rồi “Trí, phú, địa,  hào đào tận gốc, trốc tận rễ”, khiến bao người thác oan… Những người không một ngày cắp sách đến trường, chưa viết nổi cái tên mình, mới viết được từ số không đến số chín, mà lên làm chủ tịch xã. Ông bí thư đảng ủy xã nói: “Trước đây, tôi đi học kinh tế học một tuần”, về giảng với dân làng: “Nền kinh tế xã hội chủ nghĩa là một nền kinh tế có kế hoạch hóa cao độ.
- Giời ạ, lý luận kiểu ấy, chỉ đẻ ra thói quan liêu thôi.
Môn đập bàn quát:
- Đồng chí chống đối phải không? Dân quân đâu? Gô cổ lại cho tôi”.
Mới chỉ có một mớ lý thuyết, chưa được kiểm nghiệm đã bắt tay vào xây dựng một thiên đường hạnh phúc. Công việc đầu tiên của ban chủ nhiệm hợp tác xã phải làm là: “Viết khẩu hiệu rõ to, mỗi nét chữ phải to bằng thân người, để ở xa hàng chục cây số cũng nhìn thấy: “Hợp tác xã là nhà, xã viên là chủ”, lồ lộ trên Cửa Đá, nhưng không ăn. Viết bằng vôi không bám, viết bằng bột mầu pha nước cơm cũng tuột đi. Cuối cùng, tính lấy chét đục vào cũng không sầy vẩy”. Tạo hóa đã không chấp nhận việc làm hão huyền của con người. Đền Lừ vốn là chốn linh thiêng thờ người có công đức với bản, biến thành kho chứa phân.
Những ai từng sống thời đó, mới hiểu cách viết của nhà văn rất chân thực. Cái gọi là “Hợp tác xã là nhà, xã viên là chủ”, chỉ là khẩu hiệu thôi, cho nó ra vẻ xã hội chủ nghĩa. Khác chăng, ngày trước, mình cày, cuốc trên mảnh đất riêng của mình, nay mảnh đất ấy là của hợp tác xã, chỉ có điều, nồi cơm ngày càng vơi dần. Lão Hượm nói với con là Ngần:
- Thày mới đi đo đọ sổ điểm về. Ban quản trị cân đối thu, chi, mỗi công được ba lạng thóc. Nhà ta được hai gánh, có nhà chỉ được ba thúng.
- Lại kém năm ngoái, năm ngoái kém năm kia. Củ mài ăn xuống.
Ngôi nhà chung ấy chỉ tồn tại trên danh nghĩa, chả mấy ai quan tâm. Lão Hượm thấy Ngần tiếc con gà nhép bị diều hâu bắt, nói với con gái:
- Một con gà nhép thì tiếc, một cơ đồ thì dửng dưng.
- Tuy là gà nhép nhưng là của mình, còn cơ đồ là của thiên hạ.
Sống chung trong một ngôi nhà, mà không ai quan tâm đến ai, thì làm sao thành ngôi nhà chung được. Chủ nghĩa xã hội là thứ viển vông, cũng như cải khẩu hiệu kia vậy.
Một cách viết chân thực, về một thời đại dài tới nửa thế kỷ, từ lúc gióng trống khua chiêng , bắt người nông dân đưa ruộng đất, trâu bò, nông cụ vào mái nhà hợp tác xã, đến khi nó cáo chung, người ta mới ngộ ra, không thể đem thứ học thuyết mới có trên sách vở, chỉ tồn tại trong trí tưởng tượng của con người, dùng sức mạnh tàn bạo của chính quyền áp đặt vào cuộc sống, để biến nó thành hiện thực…
Làm sao, chỉ bằng hô khẩu hiệu, mệnh lệnh, bằng lời nói giáo điều là có ngay một xã hội công bằng, dân chủ và có ngay một đồng lúa bội thu? Người ta chẳng từng mơ hợp tác xã xây “cái sân gạch” rộng bát ngát, để phơi những “vụ lúa chiêm” bội thu. Lúa nhiều đến mức, gà  không thèm ăn, bới lúa tìm sâu.
“Muốn có chủ nghĩa xã hội, phải có con người xã hội chủ nghĩa”. Những con người chân lấm tay bùn, chỉ biết bới đất lật cỏ kiếm sống, thì biết gì về chủ nghĩa xã hội  mà xây dựng với dựng xây! Nhà văn viết những mẩu chuyện gần gũi, chân thực, đan chen trong thế giới cuộc sống của người lao động, ở ngôi nhà hợp tác xã.
Người ta định kẻ khẩu hiệu thật to trên Cửa Đá. Cây sồi thần không cất lên tiếng hát. Chủ nhiệm Môn phá đền Lừ, khi ngồi dưới gốc cây sồi bị cành cộc rơi trúng đầu, tóe máu. Con gà trống dùng hòn- sỏi- tình- yêu để mồi chài gà mái. Chim diều hâu bắt gà con, bố con Ngàn nói chuyện với nhau. Vợ Môn lén đến Cửa Đá, đèn Lừ làm lễ. Môn phục thiện. Ngàn đau đẻ, sinh con gái. Câu cá trộm ao hợp tác. Trai gái đùa bỡn trong đêm chiếu phim. Thín, Lừ thành quỷ ma, thánh thần  mà vẫn quấn quít lấy nhau. Chuyện đẵn cây sồi thần. Hợp tác xã cũng chỉ như toán thợ góp gạo thổi cơm chung. Dân bản bàn nhau về chuyện tiến lên nông trang tập thể. Pháo đài cấp huyện. Tinh thần quốc tế vô sản. Cái áo ba-đờ-xuy. Liên Xô đổ quân vào Tiệp Khắc. Trên đưa đoàn về điều tra chuyện nghe đài địch. Trang ăn phải ếch thần, hóa điên, khác nào nhiễm chất độc màu da cam.  Biện lễ xin suối Mẹ Tiên, bện Sồi, thánh Lừ giải hạn. vv… Một lớp người với cuộc sống, cách nghĩ quanh quẩn, tù túng, cạn hiểu như thế đang là chủ nhân  đích thực để xây dựng chủ nghĩa xã hội. Người ta đang rất tự hào: bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội. Một quyết tâm sắt đá! Giọng bí thư Môn sang sảng:
- Lưu ý, đảng bộ đã quyết rồi, trên chỉ đạo xuống là phải làm, chứ không được bàn dùn, không ai được đi trái chủ trương, chính sách.
- Tuyên bố như thế cần gì phải bàn. Nên nhớ, dân không phải là vật thí nghiệm đâu nhá. Đừng có bầy ra kiểu này, trò nọ, rồi khi thất bại lại phủi tay, để dân è cổ gánh chịu hậu quả.
- Phản đối sao? Dân quân đâu? Gô cổ lại cho tôi”.
Như thế là dân chủ, là văn minh, là hợp tác xã là nhà xã viên là chủ sao? Bao nhiêu là hoang đường trong cuộc sống đời thường. Người ta quay về với Cửa Đá, suối Mẹ Tiên, đền Lừ, gốc sồi thần để xin phù trợ là phải, không còn biết đặt niềm tin vào đâu nữa. Nền tảng để làm nên xã hội là nhân dân, “dân vi bản”, nhưng lại ngăn cấm cả quyền ăn nói, quyền tranh cãi, bắt tất cả phải tuân theo khuôn phép là dân chủ, tự do sao?
Nhà văn khi chiêm nghiệm, phản ánh hiện thực cuộc sống vào tác phẩm văn học đều có thủ pháp nghệ thuật riêng, rung cảm riêng, hướng tới người đọc bằng những điều mà nhà văn muốn bầy tỏ. Tiểu thuyết Cửa Đá của nhà văn Vũ Xuân Tửu, dường như không có nhân vật nào là chính cả. Có chăng, chuyên viên Thủy Văn Mộc là trọn vẹn hơn cả. Một người có nguồn gốc chân đất mắt toét, mà được ăn học tử tế ngành triết học, chăm chỉ chịu khó hơn kẻ khác, học theo lối vẹt, ghi chép lại lời thầy cho thuộc. Thủy Văn Mộc vùi đầu vào đọc sách. “Mộc cứ lầm lũi đọc cho kỳ hết năm mươi tập Lê-nin toàn tập, rồi chuyển sang sách của Xta-lin”. Thu gom vào trong đầu bao nhiêu là học thuyết, trở thành chuyên viên uốn ba tấc lưỡi, với ngòi bút kiếm ăn. Về làng, gặp lão Côn bán thịt chó. Tiếp chuyện với lão, Thủy Văn Mộc mới ngộ ra, những gì mình thu nhập được cũng chỉ là mớ lý thuyết suông. Nhớ lời bàn của lão Côn, Mộc giật mình, một tay chủ quán ở xó chợ mà tinh thông đến vậy!
Mộc được “các cụ” giao cho viết bài về kinh tế thị trường. Mộc cãi lại:
- Nhưng bọn em học trong trường, các thầy giảng, thị trường là của bọn tư bản lũng đoạn. Kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin đã nêu, buôn bán nhỏ hàng ngày, hàng giờ đẻ ra chủ nghĩa tư bản.
Trưởng ban thở dài, phẩy tay nói: “Thế nhé”. Mộc hiểu cái phẩy tay là gì rồi. Người ta nói: “Giai cấp công nhân là người đào mồ chôn chủ nghĩa tư bản”. Ai chôn ai đã rõ như ban ngày.
Mộc đã thấm, mọi thứ học thuyết, bất biết đúng hay sai, suy cho cùng nó là thứ công cụ trong tay gia cấp thống trị, dùng để mê hoặc dân, sao cho mình có phần lợi nhất. Không thể tranh cãi khi những người như Mộc “chỉ là cái lưỡi của bề trên”. Chiêu độc nhất là dối lừa, áp đặt, mệnh lệnh. Chủ nghĩa xã hội là thiên đường, không thể và chẳng bao giờ trở thành hiện thực. Người ta vẫn không chịu buông tha, lại còn nói, định hướng xã hội chủ nghĩa. Cái hướng đó là gì, lại còn hướng đến chỗ không thể có nữa sao?
Phía dưới Cửa Đá là dòng suối Mẹ Tiên, nơi khởi thủy để sinh ra muôn loài; trong đó, có loài người. Xem ra, tất cả những đứa con của bà mẹ trái đất đều bất hiếu, chúng dùng đủ mọi thủ đoạn, mánh khóe, dối lừa, tàn bạo, nhẫn tâm, độc ác để thỏa mãn tham vọng khôn cùng của mình. Chúng chia nhau từng vùng lãnh thổ, phân thành nhiều quốc gia, hoạch định biên giới, tranh nhau cả vùng nước mênh mông ngoài biển khơi, nói chuyện với nhau bằng sức mạnh bom đạn và sự hủy diệt. Con người với con người chỉ là lang sói. Miệng nở nụ cười, nhưng trong bụng chứa một bồ dao găm. Ngay Cửa Đá, bàn tay của tạo hóa đã xếp đặt cũng bị đốt, đập, đục và còn dùng cả bộc phá hòng mở cửa. Lợi dụng Cửa Đá, suối Mẹ Tiên, đền thánh Lừ, để làm chốn di tích lịch sử, cách mạng, văn hóa, sinh thái để hái ra tiền.
Người ta tìm gì phía sau Cửa Đá ấy? Phải chăng là tìm kho báu vô cùng tận? Biết đâu phía sau cửa Đá là thế giới đại đồng, con người và muôn loài sống với nhau không có cuồng vọng, không có hằn thù, tất cả là bạn? Một thế giới tràn ngập ánh sáng, lúc nào cũng rộn tiếng chim ca, muôn vàn bông hoa đua nở? “Cứ một trăm năm bầy rồng ngũ sắc lại về Cửa Đá một lần, và thường báo hiệu sự biến động dữ dội của trời đất”. Lại đến một trăm năm, lần này, bầy rồng báo hiệu: suối Mẹ Tiên cạn kiệt, đồi Hai Đụn phồng to, hang Rốn rộng huếch, Cửa Đá rung rinh, đền Lừ lắc lư, và hàng sư đoàn người tháo chạy toán loạn như gà nhép gặp diều hâu. Nơi khởi thủy sinh ra không còn nữa, con người trôi về đâu đây?
*
Người viết bài này, xin nói lời cuối cùng:
- Hãy làm đứa con hiểu thảo của mẹ trái đất. Nếu không làm được, thì cũng đừng gây khó dễ cho những đứa con đã sống như thế!
Tháng 1/ 2013
         THV

Truyện thứ tư

LÀM SAO DỪNG LẠI BÂY GIỜ?

                                               Truyện ngắn của Hồng Giang

Chiều chiều, dọc theo con đường bờ sông tráng nhựa người ta thường bắt gặp một ông lão gầy tong teo, dúm dó, mặt nhăn nhúm đến tội nghiệp.
Ông là một trong những người cao tuổi mê hát chèo ở cái thị trấn này. Người lạ chắc không thể đoán được ông bao nhiêu tuổi với cái hình hài bề ngoài đầy mâu thuẫn của ông.
Người quen thì biết ông đã qua tuổi tám mươi, nếu như gia cảnh an lạc thì đầu năm vừa rồi ông đã khao tuổi thượng thọ rồi.
Con người ta sống được đến cái tuổi ấy là có phúc lớn lắm rồi, cớ sao ông lại luôn than trời, kêu mình bất hạnh?
Ở tuổi ấy, mái tóc ông còn đen, lông mày còn rậm, răng hầu như còn gần đủ, nên mới nói hình dạng bề ngoài nhiều mâu thuẫn.
Ngoài mấy thứ ấy ra, “Các cơ quan đoàn thể” của ông rệu rạo lắm rồi. Chân tay gầy khẳng như các lóng mía, chả thấy da thịt đâu. Đôi mắt và cái mũi lại xuống cấp nghiêm trọng, luôn rỉ thứ nước đùng đục rất hôi. Bộ quần áo trên người dễ đến hàng năm không giặt. Nhìn cái dáng hình tiều tuỵ khốn khổ ấy, thấy ông xách cái mũ bảo hiểm đi đường, có lẽ nhiều người nghĩ ông già này là người cô đơn cô quả, không nơi nương tựa, đang lần hồi kiếm bữa qua ngày?
Gặp xe nào ông cũng vẫy, nhưng chẳng ai dám cho đi, sợ mình làm phúc phải tội. Lỡ ông ngã xuống, các con ông không để cho mình được yên. Chúng đâu có phải người thường? Có chức có quyền cả đấy, toàn là bậc tai mắt trong xã hội, đại diện cho “ngũ liên” : Công, nông, binh, thương, trí ..
Ngay như bản thân ông cũng không phải người vô thừa nhận, ông là ông giáo về hưu, mỗi tháng còn có mấy triệu bạc. Hai ông bà song toàn, sống cả đến ngày nay.
Vườn rộng hàng mấy mẫu, toàn đất thượng đẳng điền. Con cái mỗi đứa một dinh cơ vào loại đàng hoàng nhất nhì trong vùng, con trai con gái hầu hết có ngành nghề hưởng lương nhà nước.
Tính tổng cộng ông có tám người con: Ba trai, năm gái. Như vậy kể về hào con, hào của, ông đều được cả, đâu có kém ai trên đời?
Vậy bảo khổ, không hiểu ông khổ cái nỗi gì? Ông còn bảo ông không bằng anh cu Ất, chữa xe đạp, nhà nó nghèo, nhà ở không bằng cái bếp nhà ông là cớ làm sao?
Ai lạ gì anh cu Ất, quanh năm đào ao, bổ củi thuê? Từ ngày làng lên thị trấn, đất có giá, bán được vài thổ, có tiền, tập tọng xoay ra kinh doanh. Nhưng kinh doanh phải có duyên, có số. Không phải ai đi buôn cũng giàu. Anh buôn thức ăn gia súc, thứ hàng mà khối người nhờ buôn bán nó mà giàu lên, nhưng anh thì lụn bại. Sổ sách luộm thuộm, nhớ nhớ quên quên, cho người ta thiếu chịu, có anh chây bửa không chịu trả .. Tính các nguyên nhân thất thoát thì nhiều lắm. Cộng thêm phần, cả đời đói rách, bỗng chốc có tiền, vợ con đòi ăn đòi tiêu, anh cũng chiều cho thoả thích. Thế là lửa cháy hai đầu, buôn đã lỗ, lại tiêu hoang. Tiền bán đất như là nước lã ra sông, tay trắng hoàn tay trắng.

Nhưng anh Ất không buồn, đời anh khổ mãi quen rồi, lại khổ nữa có làm sao đâu?
Chị Dậu ( Chị Dậu có thật hẳn hoi, chứ không phải chị Dậu nhân vật trong
“Tắt đèn” của Ngô Tất Tố đâu nhé ), lại thân con gà, ra sức bới. Mỗi sáng một thúng bún rối, làm hàng bún riêu kiếm được gạo cho cả nhà. Được cái nết yêu chồng, quý con nên trong nhà lúc nào cũng vui vẻ, yên ắng như ngày mồng một tết. Ngày mà người ta chỉ ở nhà, chỉ nói chuyện vui, không to tiếng cãi cọ vì phải kiêng. Chị chiều anh hết mực, nghe đâu có rượu ngô ngon là mua bằng được về cho chồng.
Chả phải lo nghĩ gì, anh cu Ất làm thêm nghề sửa chữa xe đạp để thiên hạ nhìn vào thấy “có nghành, có nghề”, không phải loại đàn ông ăn nhờ vợ.
Thực ra nghề sửa xe đạp bây giờ đâu còn kiếm được như thời trước, dăm cái nan hoa cũng có tiền ngay?
Xe máy Tàu tràn sang rẻ như bèo, xe đạp mới còn chẳng ai ham, cũ quá người ta bán cho hàng lông gà, sắt vụn, ít khi sửa chữa. Lâu lâu mới kiếm được miếng vá, vài ba ngàn đồng.
Thôi thì ít còn hơn không!
Vả lại, anh là người theo chủ nghĩa lạc quan, coi cái khó, cái khổ như bạn hiền, nên vẫn vui đời!
Chả biết nghe ai xui dục, anh cu Ất dạo này lại sính văn chương chữ nghĩa, thơ ca, hò vè đủ cả.
Lâu lâu có anh nhà thơ ở tỉnh về sửa sang cho vài bài, rồi đem về tỉnh in, anh Ất trở thành “nhân sĩ” của thị trấn này.
Anh còn giỏi chơi đàn Măng đô lin nhất thị trấn. Hễ thị trấn có công việc gì là anh đều có tiết mục “văn nghệ chào mừng”!
Ông giáo Thuần bảo đời anh tươi hơn ông là phải. được cả phần xác lẫn phần hồn .
 Không phải như ông ngoài tươi, trong héo, nom bề ngoài thì đỏ mà thực ra chưa chín khi nào, vẫn chát, vẫn chua trong dạ.
Ông với anh cu Ất là chỗ thân tình từ ngày ông hay lui tới chỗ quán anh sửa xe. đã lấy rẻ thì chớ mà lại hết sức ân cần. Nay kể cả lúc không sửa xe nữa vì không đủ sức đi xe đạp, ông vẫn năng qua lại.
Từ ngày anh Ất chuyển sang làm thơ, thì với anh, ông thân lại càng thân. Ông vốn là cộng tác viên nhiều năm nay của một số tờ báo. Từ hồi có phong trào viết về “người tốt việc tốt” ông đã nổi danh rồi.
Sống ở cơ sở, bao nhiêu điều mắt thấy, tai nghe, ông chỉ moniphe một chút là thành những chuyện cảm động, lay chuyển lòng người. Thêm một số bài thơ trên sáu dưới tám, hay thất ngôn tứ tuyệt, ông đã là cây bút có tiếng trong vùng.
Hai người thân nhau là lẽ đương nhiên, như người ta bảo “Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”.
Bây giờ nom tiều tuỵ thế, đi đâu trong cái túi ông xách theo cũng có tập bản thảo, một nửa văn xuôi, một nửa thơ ông sáng tác nhiều năm đã qua.

Nhưng chuyện ông bảo ông không bằng anh Ất là cớ làm sao?

Những người sống lâu năm ở cái làng này, khi nó chưa là thị trấn như bây giờ  đều biết ông giáo Thuần đã có một thời “vàng son” rất đáng tự hào. Lúc xung quanh còn nhiều người thiếu đói, mặc dù đông con ông vẫn hết sức đàng hoàng. Ông còn cho rằng ý kiến bảo rằng:“Đông con, tất nghèo khó” là ý kiến không mấy chính xác. Đó là ý kiến bao biện của anh đầu óc làm ăn kém sáng suốt, không biết đường dạy bảo con cái. Thực ra nếu biết sai khiến con cái cũng giúp được khối việc.
Sáu bảy tuổi chúng có thể chăn trâu, thả bò. Mười hai tuổi trở lên đã có thể cùng phụ cha mẹ làm vườn. Đứa bé thì trông nhà, quét sân, chăn con lợn con gà. Lớn việc lớn, bé việc bé, không có đứa nào ăn không, ngồi rồi cả! Ông giáo không chỉ nói mà đã làm như thế . Con ông thuộc loại ngoan ngoãn chịu thương chịu khó, chắt chịu, nhặt nhặnh, khéo léo nhất trong làng.
Ông là hiệu trưởng trường cấp hai trường làng, lương nhà giáo bấy giờ chưa cao như bây giờ nhưng ông luôn tìm ra cách thu nhập phụ.
Không phải bằng cách xén vào quỹ “Những khoản chi khác” của nhà trường như một số ông hiệu trưởng thời nay, cứ khai vống lên các khoản chi mua sắm trang thiết bị của trường. Cũng không phải o ép, bẻ hành, bẻ tỏi các thày cô trong trường để ép người ta cung phụng, lo lót mình. Thời đó có muốn làm những việc đó cũng khó. Ngân sách chi cho các trường eo hẹp, có muốn bớt xén cũng chẳng lấy đâu ra mà bớt xén. Còn các thày các cô, ông phải chiều họ như chiều vong, nói nặng với họ là không xong, rc rối là họ bỏ nghề ngay lập tức vì đồng lương “bèo” quá không đủ tiền mua gạo. Hầu hết các thầy các cô đều phải phát nương trồng ngô, đỗ cải thiện thêm. Thày cô nào nhà có vốn thì mở hàng tạp hoá ngoài chợ, buôn từ cuốn vở đến chai xì dầu, cân cá mắm ..
Ông không làm như họ. Vườn nhà ông rộng, đất lại tốt, ngoài giờ ở trường về, thời giờ còn lại ông dành cả vào đấy.
Cả một vùng chả có mấy người biết trồng rau, chỉ biết sẵn mấy thứ rau rừng, cứ rau bao, rau đay, rau dớn quanh năm. Phần vì bận công việc nương rẫy đồng áng, phần không có kinh nghiệm nên không mấy người làm. Có trồng cũng chỉ đủ nhà ăn, có đâu bán chợ?
Ông giáo là người nhận ra điều ấy, biết đây là lỗ hổng trong cách làm kinh tế của miền đồng rừng. Ông về quê học kinh nghiệm, lấy hạt giống rau về trồng. Quê ông là vùng rau chuyên canh, công cuộc “đưa rau xanh lên núi” nhờ thế đâu có khó khăn gì?
Mùa nào thức đấy. Mùa hè có rau ngót, rau muống, rau rền. Mùa đông có cà chua bắp cải, cà bát. .
Đất ven sông nên việc tưới tắm cũng rất thuận tiện. Rau vườn nhà ông cứ lên ngời ngời . Chỉ qua mấy vụ, hai vợ chồng đã có chút vốn kha khá. Cả nhà hầu như suốt ngày ngoài ruộng rau.
Mấy cô con gái thay nhau sáng chiều ngồi chợ, vì chúng còn đang học không thể ngồi cả ngày.
Ông không dừng lại ở đây.
Làm kinh tế là phải biết lấy ngắn nuôi dài, biết mở rộng sản xuất. Cả khu vườn rộng hàng mẫu, trừ đám trồng rau, trồng màu, ông rào lại, khoanh vùng nuôi gà. Môi trường còn tốt, chưa có dịch bệnh, đàn gà sinh sôi nảy nở, không thể đếm được có bao nhiêu con? Lại thêm phân gà bồi bổ cho đất vốn đã màu mỡ rồi, không tốn tiền mua đạm hay NPK.
Tiến thêm bước nữa, ông mua mấy con bò giống mang về. Đàn bò cũng
“ Không ngừng phát triển” theo tinh thần đi lên của CNXH. Nhà nuôi không xuể vì đàn bò quá đông, không cai quản hết, ông cho làng nuôi chia. Bò cái đẻ cứ hai con ông lấy một ..
Cứ như thế.. Tiền của như nước chảy vào chỗ chũng, ông giàu không nhất thì nhì trong huyện.
Tiếng tăm đồn ra tới tỉnh ngoài, quan hệ vì thế mà ngày càng mở rộng. Quan lớn quan bé cả tỉnh đều thành chỗ thân tình.
Nhưng ông không quá coi trọng cái đó. Danh tiếng là cái đáng quý, đáng trân trọng, nhưng chưa thiết thực, nếu nó chỉ là danh hão.
Quan trọng là biết để cho tiền sinh sôi nảy nở. Ngân hàng chưa có cơ chế cho dân vay tiền rộng rãi thì ông cho vay, thả lãi kiếm lời. Lãi mẹ đẻ lãi con, cộng ra, cộng vào cứ việc sinh sôi nảy nở.
Có tiền, ông có điều kiện cho con ăn học, đứa nào cũng có ngành có nghề. Cái nghề giáo xưa nay mạt nhất, đang được nhà nước quan tâm. Rồi đây sẽ là nghề có tiền mà đỡ vất vả, phơi nắng, phơi sương. Mấy cô con gái ông cho đi học sư phạm bằng hết. Nghề này về lâu về dài có tương lai và nhất là phù hợp với  đàn bà con gái. Qua kinh nghiệm bản thân, ông biết chắc là như thế.
Anh con cả học nghề xong, ông lo cho nó đi lao động nước ngoài. Thời ấy, những người khác muốn được vậy có mơ cũng không được! Với ông chỉ trong tầm tay.
Chưa có gia đình nào nền nếp, trong ấm ngoài êm như gia đình ông. Vợ con ông còn đòi hỏi gì nữa mà không quý trọng, yêu kính ông?

Nhưng sự đời không ai biết trước được ngày mai nó sẽ như thế nào?

****
Đã năm sáu giờ chiều, gần tối rồi mà vẫn nắng như đổ lửa. Ông giáo cố gắng lết đôi chân rã rời của mình cho mau về đến nhà. Hôm nay anh cu Ất về tỉnh nhận giải thưởng về bài dự thi viết về nghành giáo dục nên không có nhà. Nếu không ông đã ghé vào đấy, ngồi chơi một lúc cho lại sức. Nhân thể đọc cho anh ta nghe bài thơ ông vừa viết đêm qua. Ông viết bài thơ chủ yếu để giải tỏa tâm trạng của mình với những nỗi đau nhân tình thế thái, nỗi hận với vợ với con, hận với đời, nếu không viết ra, ông sẽ không chịu được.
Ông cũng chẳng vội gì, về nhà lúc này mất điện, nóng như thiêu như đốt, lại không có người trò chuyện thì vội về để làm gì? Hơn nữa mấy hôm nay ông thấy trong người đuối qúa, có muốn vội cũng không được. Nhưng anh Ất không có nhà, ông không muốn vào nhà khác. Ở thị trấn này, xứ u tì quốc tăm tối nhất nước nam từ ngày gia cảnh ông có chuyện lục đục, người ta đã nhìn ông với con mắt khác.
Xưa thì thấy ông từ xa, đã có người cười cười, nói nói, chạy ra đón tay dắt vào, vì khi ấy ông còn có của, cho vay, cho mượn, giúp dập người này người khác. Nay thì họ bơ ông như củ khoai hà, nhìn nhận ông như kẻ sa đoạ, rượu chè.
Bạc, đúng là “Bạc như dân, bất nhân như lính”. Ý nghĩ chua chát thoáng qua trong đầu, làm miệng ông đắng ngắt.
Nhưng cũng chẳng trách họ được, ông biết thằng con trai ông không muốn ông lui tới bất cứ nhà ai ở thị trấn này, chỉ vì ông hay mang chuyện của nó ra than vãn với họ. Mà người ta không muốn mất lòng nó, nó đang là người giữ gìn an ninh trật tự, có một tý chức, tý quyền ở đây. Chả ai muốn nó mất lòng, để ý soi mói đến mình nếu chứa chấp ông hay ông năng lai vãng. Cái thằng con ông sinh ra, nuôi nấng, gây dựng để cho nó có ngày hôm nay. Trong ba đứa con trai, ông vất vả với nó nhiều nhất, cũng là đứa làm ông đau lòng nhất.
Hồi vợ nó bỏ nó, nó chán đời, mấy lần tự vẫn mà không chết. Lần nặng nhất uống thuốc sâu, phải đi bệnh viện rửa ruột, nếu ông không có tiền, làm gì nó còn sống đến ngày hôm nay?
Người ta bảo uống phải thứ thuốc ma quỷ đó, thần kinh bị ảnh hưởng, chẳng đâu muốn nhận nó vào cơ quan nhà nước.
 Vậy mà ông chạy chọt, lo liệu mãi nó cũng có chút địa vị. Từ ngày có quy định mới, nó vĩnh viễn hưởng lương nhà nước cho đến già thì về hưu. Hơn cả bí thư, chủ tịch do dân bầu, nếu không trúng chắc cũng về vườn.
 Lộc nước như thế, đáng nhẽ nó phải biết ai là người lo cho nó chứ?
Cứ như nó ai người ta vời? Nó tưởng ti toe ba miếng võ “Cứt gà” mà được trọng dụng hay sao? “Nhầm to rồi con ơi! Mày là đứa bất nhân, bất hiếu, rồi đời mày sẽ gặp quả báo thôi con ạ!”
Thằng anh nó, con vợ cầm quyền trong gia đình, đối với ông cũng không hơn gì. Chính nó cũng nhiều lần nói thẳng vào mặt ông :“Ông già rồi mà không đứng đắn, nát rượu, gái gú làm con cái xấu hổ. Bao giờ ông chết tôi chôn, chứ tôi không muốn nhìn thấy ông nữa” .
Ông hận lắm, nó đâu phải người ngoài, không biết chuyện mà kết luận nói với ông những điều như thế ?
Ngày ông với mẹ nó ra toà, nó đâu biết nỗi khổ trong lòng ông? Người ta ở tuổi xưa nay hiếm mà còn phải ra toà ly dị thì có nỗi đau, nỗi nhục nhã nào hơn? Cực chẳng đã ông mới phải làm như vậy. Đâu phải chuyện trai trên dưới dưới gì để chúng mang tai mang tiếng?
Chung quy cũng bởi bà ấy quá đáng quá. Một chuyện hiểu nhầm, có bé xé ra to, lôi kéo cả đàn con lên án ông, coi thường ông, uất ức quá ông mới phải hành xử như vậy.
Ông về dưới Phủ Đoan với bà sau này, tuy không làm đám cưới, nhưng cũng có đăng ký hẳn hoi, cũng có dăm mâm biến báo xóm làng. Đâu phải là chuyện gì mờ ám?
 Chẳng qua lấy chỗ dựa lúc tuổi già, đâu còn “nụ cà hoa mướp” gì mà chúng nghĩ ông là người trăng hoa?
Nhà cửa, đất đai, tài sản ông để lại hết cho cho bà ấy và các con, có mang một tý một mảy nào của nhà đi đâu? Chúng nó chẳng thương thì ông tìm đường lo lấy thân ông vậy?
Nhưng nào chúng để cho ông yên? Chúng vu cho người ta là thấy ông có lương hưu, có của dấu  ngầm, tìm cách quyến rũ lừa đảo ông, để đến nỗi uất quá người ta chịu không nổi. Bà ấy phải vừa khóc vừa gạt nước mắt nói với ông rằng: “ Thôi ông về trên ấy, thỉnh thoảng tôi lên thăm, chứ ông ở đây các anh các chị ấy làm tôi xấu hổ quá, chết mất ông ạ!”
Rồi chúng bày trò đón rước ông về, bỏ ông ở nhà thằng con bất nhân ông vừa nhắc đến.
Khốn khổ, người già đêm thường ít ngủ.
Ông dậy đi ngoài, nó bảo ông phá rối không cho vợ chồng con cái nó ngủ. Bữa ăn không đứa nào mở mồm ra chào mời ông lấy một câu. Ông bỏ tiền mua rượu bố con cùng uống, nó bảo nó “không thèm, cứ uống cho lắm vào rồi nói bừa nói bãi”
Mỗi tháng ông đưa nó cả hai triệu bạc mà nó không bằng lòng. Nó bảo ông già rồi giữ tiền làm gì? Lại mang cho gái hẳn?
Ối con ơi là con! Ăn tiêu như nhà mày mỗi tháng chi cho bố cũng chỉ đến năm trăm là cùng, bố đưa cho cả hai triệu, mày vẫn chưa cho là đủ ư? Hay là có bao nhiêu phải đưa cả cho mày? Tao còn phải phòng khi ốm đau, lúc khách xa, bạn gần, đi đình đi đám nữa chứ? Chả nhẽ đến lúc đó lại ngửa tay ra xin vợ chồng mày?
Vẫn biết “Cha mẹ nuôi con bằng trời bằng bể, con nuôi cha mẹ con kể từng ngày” Nhưng đối xử với bố như hiện nay thì con ác, con tệ lắm con ạ!
Răng bố là răng giả, vợ chồng con cái nhà mày cứ mua toàn xương củ chối về gặm với nhau, bố có ăn được miếng nào đâu? Ông bảo cháu bớt một tý nấu cho ông bát cháo, nó vằn mắt :“ Nhà này không có thói nước lọ cơm niêu, ăn ma ăn mọi, có gì cả nhà cùng ăn, đừng có vẽ chuyện”
Vậy thì ông ở với vợ chồng nhà nó sao được?  Ông đành dọn đi chỗ khác. May mà gần nhà ông có cái nhà gianh cũ của vợ chồng một anh nghiện siđa mới chết, còn bỏ không, ông nói khó với bố mẹ anh ta cho ở nhờ.
Vợ anh này từ khi chồng chết, chán đời đi đâu biệt tích.. Tình cảnh như thế, người ta  chẳng khó dễ với ông làm gì.
Ông ở một mình, đúng là nước lọ cơm niêu, hôm nào khoẻ khoẻ thì tự nấu lấy ăn, hôm nào mệt thì đi ăn quán.
Được cái may, quán xá bây giờ mở rộng, muốn cơm có cơm, muốn cháo có cháo, không như ngày nào, có tiền trong túi mà chịu nhịn đói.
Ông không dám mua nhiều, làng xóm bây giờ loạn lắm, đề đóm, cờ bạc nên xểnh cái gì ra là mất cái đấy. Chổi cùn, rế rách con nghiện nó cũng không tha! Thôi thì cứ mua ít một, hết lại mua.
Vì thế ngày nào cũng phải lếch thếch đi chợ.
Cầu trời cho mạnh chân khoẻ tay, chả biết sống chết lúc nào,  đến đâu thì đến!
Ông ngồi dưới tán của cây keo ven đường mà nghĩ lẩn thẩn bấy nhiêu chuyện..  Hai hàng nước mắt tự dưng tràn qua mặt, xuống miệng mặn chát. Chưa bao giờ ông cám cảnh như lúc này.
Người đời thường ao ước sống lâu trăm tuổi. Nhưng sống lâu như thế mà cảnh ngộ như thế này thì sống để làm gì?
Chợt có chiếc xe con đỗ ngay trước mặt. Ông chưa hiểu chuyện gì, đã thấy một người trên xe to béo, phốp pháp, cổ đeo cà vạt đỏ, nhảy xuống. Người đó đi lại phía ông ..
Khách lạ nhìn ông rất lâu, nét mặt anh ta đầy vẻ lưỡng lự, như không tin ở mắt mình. Anh ta đã phải mất mấy tiếng đồng hồ chạy xe vòng vòng hỏi thăm và được người ta chỉ đến chỗ này, chẳng lẽ..?
Ông giáo Thuần cũng ngạc nhiên không kém. Lâu lắm rồi có ai nhìn ông như thế đâu? Với nhiều người, cả đến vợ con ông, đã lâu ông không còn tồn tại trên đời.
Nhưng mà biết đâu được? Sống đến tuổi này, ông biết đời người thật lắm chuyện bất ngờ.
Biết đâu một học trò nào đó của ông ngày trước, bây giờ thành đạt, nhớ đến thầy? Một anh “Va xi li” nào đó thăm thày giáo cũ, như bài văn ông từng giảng cho học trò ngày nào? Hay một nhà từ thiện muốn ra tay giúp đỡ người có hoàn cảnh cơ nhỡ một cách trực tiếp, không muốn qua trung gian vì sợ tiền của mình bỏ ra không đến tay người cần cứu trợ?
 Thoáng qua trong đầu ông bao nhiêu giả thiết. Ông định hỏi, chưa kịp mở miệng, người kia lên tiếng:
- Cháu hỏi không phải, cụ có phải là cụ Thuần không ạ?
- Vâng, chính tôi đây, nhưng ông là ai mà lại hỏi thăm tôi?
Người đó vội ôm chầm lấy ông:
- Chú Thuần ơi ! Cháu là Nhân con bố Thìn đây. Sao chú ra nông nỗi này? Cháu về quê, người ta kể chú thím ở trên này đàng hoàng lắm cơ mà ?
Ông giáo đẩy người khách lạ ra một chút để nhìn rõ mặt, chịu, ông chưa đến nỗi lú lẫn nhưng không thể nhận ra anh ta là ai? Nhưng tên người anh ta vừa nhắc đến ông làm sao quên được?
 Dù đã năm mươi năm trôi qua, ông vẫn nhớ. Người ấy là anh trai ông, dù có lâu hơn thế cũng không thể quên .. Nhưng nghe nói ông ấy chết từ lâu rồi cơ mà? Cái vóc dáng người trước mặt ông, cả giọng nói như có cái gì giống nhau lắm, thôi đúng rồi ..
Hai chú cháu ôm nhau khóc, đứng lặng hồi lâu. Một già một trẻ, người sang trọng, kẻ bần hàn.
Người cháu nhắc lại câu vừa ban nãy đã hỏi:
- Sao chú lại ra thế này hả chú?
Ông giáo cười, nụ cười đẫm nước mắt :
- Chuyện dài lắm cháu ạ! nói một lúc không hết được. Chỉ tại chú vô phúc, vợ hỏng, con hư mới ra nông nỗi .. Thôi bây giờ vào nhà chú cái đã, chú kể cho con nghe sau, ai lại đứng giữa đường, giữa chợ thế này ?
Người cháu đỡ ông lên xe, ông không quên mang theo cái túi xách lem luốc, anh ta đỡ lấy, giở ra xem: miếng đậu phụ trắng nhợt đã vỡ nát, trộn lẫn gói bún đã nguội ngắt từ bao giờ. Anh bảo ông bỏ lại, ông chần chừ tiếc rẻ, một lúc sau mới chịu vất xuống rãnh nước đang chảy ri rỉ ven đường.
Trước khi nổ máy cho xe chạy anh ta bảo :
-  Chú không thể về nhà với bộ dạng thế này được! Bây giờ chú đi với cháu, cháu thuê khách sạn ngoài thành phố, đêm nay chú cháu ta nghỉ ngoài đó. Cháu có mua quần áo biếu chú đây, muốn gì chú cũng phải tắm rửa, thay đồ, mai mới về. Chú là nhà giáo kia mà, ai lại ăn mặc như thế này?
Ông giáo bảo :
- Không cần như thế đâu, “quen sợ dạ, lạ mới sợ áo quần”, ở đây người ta lạ gì chú? Chú cứ mặc như thế này là được rồi. Gặp được cháu là chú mừng rồi!
Anh ta nhất định không nghe, cho xe chạy thẳng ra thành phố. Đi ngang qua nhà mình, ông chỉ cho người cháu thấy ngôi nhà xây của mình, ngôi nhà hai tầng sơn màu vàng nhạt, núp dưới tán cây nom đâu có đến nỗi nào?
 Người cháu có vẻ không hiểu những gì đã xảy ra cho người ruột thịt của mình, anh ta chỉ chau mày, không hỏi, cho xe chạy nhanh hơn .

***

Nhà ông phó chủ tịch, kiêm trưởng ban công an thị trấn hôm nay có việc lớn. Xe lớn xe nhỏ đậu thành bãi dài, người ta phải cử cả đội thanh niên bảo vệ tay đeo băng đỏ để hướng dẫn xe vào nơi canh giữ. Người ra vào tấp nập, loa đài inh ỏi. Các bà các cô mặc áo dài, môi son, tay cầm xắc nhỏ.
Các ông mặc com lê, cà vạt, giày da mới.
Đám thanh niên càng nhiều màu vẻ, đương nhiên cả những cô cậu ăn mặc kỳ quặc, tóc xanh, tóc đỏ mà thường ngày ông phó chủ tịch không ưa.
 Nhưng hôm nay những việc ấy chẳng ai để tâm đến nữa, đang trong ngày vui mà!
Hai dãy nhà bạt lớn dựng trên bãi đất hôm qua còn trồng ngô, đã lên râu vừa được phá bỏ, san đầm phẳng phiu .
Một chiếc Phông lớn được căng ở rạp chính có hàng chữ mạ vàng “ Lễ mừng thượng thọ cụ Đăng Minh Thuần tám mươi tuổi”. Phía bên trái có bức ảnh ông giáo Thuần chụp bán thân ở tuổi năm mươi, Phô tô sốp kiểu mới, chỉ hao hao giống người thật ngoài đời. Nhưng chuyện ấy không sao, “ Nghệ thuật luôn là thứ làm cho con người ta đẹp thêm lên, có khi còn hơn hẳn đời thường”! Khi treo bức ảnh này lên, mọi người tranh cãi bảo là nó không giống mấy, để treo bức khác, anh cu Ất đã bảo thế và giữ nguyên chủ ý của mình.
Ai cũng cho thế là phải, mà cụ Thuần khi ở tuổi năm mươi cũng đẹp lắm chứ, ai chả có lúc già? Tranh cãi làm gì cho mất công?
Tám người con của cụ, không thiếu một người. Anh cả đang là giám đốc công ty tư nhân có một cái tên rất lạ “ Khai thác tiềm năng và phát triển văn hoá Dân tộc”. Công ty anh đang sưu tầm các loại nhạc cụ ở địa phương về làm mẫu, rồi chế tác mới để kinh doanh.
Thời Du lịch được nâng lên thành ngành công nghiệp không khói, những thứ ấy đang được ưa chuộng. Các Video ghi hình hát then, hát lượn, cả ca trù, hát hầu đồng cũng là mặt hàng bán rất chạy. Vì thế mà công ty ngày càng phát triển.
 Hai người em trai đứng kề bên. Ai cũng nét mặt hớn hở, cười nói ân cần bắt tay, đón tiếp khách. Cô gái út là chủ trang trại nuôi đà điểu thay mặt chị em gái đứng ngoài cửa tươi cười hướng dẫn khách vào bàn ngồi. Các cô còn lại người nào việc nấy, vui như ngày hội!
Mà đúng là ngày hội thật, không phải ngày hội làm gì có nhiều hoa tươi, nhiều tiếng cười, nhiều đèn sáng rực rỡ như ngày hôm nay?
Anh Ất được ban tổ chức cử làm MC. Buổi lễ chưa chính thức khai mạc, trong khi chờ đợi anh đang hát một bài nghe rất chi mủi lòng:
“ Công cha như núi Thái sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn .. mà chảy ra ..
Là người.. sống ở trên đời .. biết nhớ công cha mẹ,.. mới là người hiền nhân ..
Vì đâu anh nên người tài ba?
Hãy nhớ công sinh thành
Vì Người mà có ta ..a..a”
Tiếp đến là tiết mục chào mừng của các cháu trường mầm non mà cô con gái thứ hai của cụ giáo làm hiệu trưởng. Các cháu mặc đồng phục nom xinh xắn, bó hoa ôm trước ngực, vẻ mặt trong sáng hồn nhiên, ca vang bài “ Cháu yêu bà”. Bài hát tuy không phù hợp lắm vì đây là mừng thọ cụ ông, nhưng mà không sao. Tấm lòng con trẻ, ai lại bắt bẻ bao giờ?
Ông chủ tịch thị trấn hôm nay đích thân thay mặt chính quyền cơ sở, sau lời giới thiệu của anh cu Ất, ông thong thả, bước dõng dạc lên bục có cài sẵn Micơrô, ông dõng dạc tuyên bố khai mạc buổi lễ, hàng tràng vỗ tay vang dội. Người ta để ý thấy cụ giáo Thuần rơm rớm nước mắt khi nghe ông nêu quá trình công tác, cống hiến của cụ trong sự nghiệp “trồng người” của địa phương.
Một cụ đại diện cho người cao tuổi lên nêu lại quá trình giống hệt vị chủ tịch thị trấn một lần nữa, chỉ thêm sau đó cụ đọc tặng một bài thơ có nhan đề là:
“ Niềm vui lúc tuổi già” .
 Bài thơ tương đối dài, đại ý là khi người ta về già, người ta nên để cho đầu óc thanh thản, chả tội gì mà lo, chả tội gì mà buồn, quên tuổi tác, quên oán thù và quên bệnh tật, ủng hộ con cháu nó làm công việc xã hội, đừng phàn nàn gì nữa.
Cuộc đời nó thế, con cháu mình nó thế.. Nghĩ ngợi, thắc mắc cũng chẳng giải quyết được việc gì!
Một vị ở trên tỉnh về, vị này đang có cương vị quan trọng nên nói năng kiệm lời.
Vị cám ơn thày giáo cũ, tri ơn công dạy dỗ của thày nên mình mới có ngày hôm nay!
Lại hàng tràng vỗ tay vang dội!
Đáng lẽ như các buổi lễ khao thọ khác, cụ giáo cứ việc ngồi yên một chỗ để mặc cho người ta tán thưởng, chúc tụng mình.
Nhưng trong hoàn cảnh riêng của mình, cụ cảm thấy không nói, không được. Tay cầm mic của cụ run run, cụ cố trấn tĩnh như ngày nào đứng trên bục giảng:
-Kính thưa các cụ, các ông các bà, các vị quan khách đại diện cho các ban ngành của tỉnh, của huyện, của thị trấn .. Tôi vô cùng xúc động trước những tình cảm tốt đẹp của tất thảy quý vị và bà con lối xóm đã dành cho tôi .. Quá trình tham gia công tác xã hội của tôi cũng đạt được một số thành tích. Ban nãy ông chủ tịch thị trấn và cụ hội trưởng hội người cao tuổi đã nói rồi. Tôi xin không nhắc lại nữa. Tôi muốn nói như một chuyện tâm tình với tất cả mọi người có mặt hôm nay ở đây. Có thể sắp tới đây, tôi sẽ phải xa mọi người mãi mãi.. Tôi có người cháu con anh trai tôi, đang định cư ở nước ngoài. Cháu muốn đưa tôi về trông nom từ đường họ Đặng của tôi ở dưới quê, vì hiện nay không có ai có thể làm tốt việc này hơn tôi được..
Vài người ở dưới xì xào :
- À thì ra thế, chả trách có lễ mừng thọ này.. Chắc là ông cháu bỏ tiền ra khao thọ cho chú đây chứ đám con ông ấy nếu muốn thì đã làm từ lâu rồi.
- Suỵt, bé cái mồm chứ, đèn nhà ai rạng nhà ấy, nói thế đến tai ..
- Thì có ai nói sai gì đâu?
- Thôi để yên xem ông cụ còn nói gì nữa kìa.
Giọng cụ giáo nghe chừng đã mệt :
- Làm người ai cũng có lúc thế này, lúc thế khác. Thường thì người ta “Tốt đẹp khoe ra, xấu xa đạy lại”. Tôi thì lại muốn sòng phẳng, thành thật với chính bản thân mình. Tôi cũng không tốt hẳn như mọi người nghĩ đâu. Cũng có lúc cho vay nặng lãi, rồi thương người vô lối như trường hợp cái bà ở dưới phủ Đoan. Hôm nay bà ấy tôi cũng mời, không hiểu vì sao bà ấy không đến. Con người ta đến già thì dở, tôi cũng không phải thần thánh gì, mà bảo sáng suốt mãi được, nhưng lại hay xen kẽ vào công việc xã hội của con cái, nên các con tôi nó ghét. Nhân tiện đây bố xin lỗi các con, tính bố các con không lạ, quan liêu cửa quyền, lợi dụng chức vụ để cầu lợi cho mình là bố không ưa. Có sai là sai ở cái khác chứ không mắc những cái này ..
Đến đây ông phó chủ tịch không chịu được nữa, ông vội chạy lên bục đỡ cụ giáo xuống: “ Bố mệt rồi, bố xuống nghỉ đi, mọi người đang vui”. Cụ giáo nhìn anh con trai thứ cười nhạt: “ Con không muốn thì bố không nói nữa, bố cũng đành thôi vậy”!
Không biết do bị dừng lời đột ngột, hay do cao tuổi không đủ sức ngồi thêm nữa, cụ nhờ người đưa vào trong nghỉ. Hai môi mím chặt, mắt ươn ướt, cụ Thuần không nói thêm lời nào ..
Ngoài rạp, giọng Ất vẫn nói lanh lảnh :
- Vì tuổi cao, sức yếu đáng lẽ cụ giáo còn tâm sự với chúng ta đôi ba câu chuyện trước lúc cụ về xuôi, nhưng do sức khoẻ cụ đã dừng lời .. Một lần nữa thay mặt ban tổ chức cám ơn những lời chí tình của cụ, kính chúc cụ sống lâu trăm tuổi! Sau đây ban tổ chức xin giới thiệu ..
Ông con cả ghé tai bảo ông phó chủ tịch:
- Chú vào xem bảo bọn nó có gì cho mang lên đi, không lôi thôi nữa!
Một lát sau cỗ được bưng lên. Chưa có đám nào cỗ làm to, sang, trọng như đám này!
Người cháu “Việt Kiều yêu nước” nhìn thấy tất cả, nhưng anh ta ngồi im, không nói gì ..
Tiếng hò dô “trăm phần trăm” vang trời.. Bỗng đâu cô gái út hốt hoảng chạy ra ghé tai anh Việt kiều yêu nước:“ Hỏng rồi, anh vào trong nhà xem thế nào?”. Vị Việt kiều phốp pháp vội chạy vào. Ông giáo mắt trợn ngược, trừng trừng toàn lòng trắng. Khóe mép ông xùi bọt trắng như nước miếng cua buổi trưa nắng. Vị thất sắc bảo đứa em:
- Cô ra cho dừng ngay lại, ông nhà mình nguy rồi!
Cô gái út vội chạy ra. Ngoài rạp ồn ào như chợ vỡ. Đang rượu tưng bừng, ngất ngây con gà tây!
Làm sao dừng lại được bây giờ?
                                 




Thơ thẩn


Lời nói trống rỗng
Mắt nhìn trống rỗng
Những cái đầu, những ngôi nhà, những bức tường, những chiếc vòng và đồng tiền trống rỗng..
Sau cuộc vui ồn ào, em trở về không..
Chỉ có ngoài trời gió mưa đặc quánh
Và nỗi đau có thật trong lòng..

Rồi em hiểu vì sao không thể hát
Cây đàn trong tay đặt lại trên bàn
Chúng ta chưa đến nỗi phát khùng lên vì những điều tẻ nhạt
Nhưng rõ ràng niềm say mê thì đã biết có chừng..

Ai đánh tráo của ta hy vọng?
Cất những ban mai vào trong mắt buồn?
Chỉ còn lại mênh mang trống trải
Và siêu bão hiện ra vào lúc rạng đông?

Có thể trống rỗng có từ  khởi thủy
Từ những nổi nông vớ vẩn lâu rồi
Ta gặp nó
 chính bởi từng yêu nó
Vậy thôi nào, đừng giận trời không thương!

Sự trỗng rỗng trước khi thành mắt bão
Đừng băn khoăn em ạ,
hãy quay về..
Đời vạn kiếp bao điều hư ảo
Xin đừng em
Để rỗng trong lòng!

Đặc xám bê tông
Phố phường quánh bụi
Đặc mặt người âu lo
Thế giới này trở nên bé nhỏ
Khi mỗi ngày vô cảm phình to!

Ta không thể đi qua như chưa hề nhận thấy
Nhưng biết làm gì
Ngoài than thở kêu ca?
Không lẽ ngồi chờ cho mùa đông chết hẳn?
Rồi phơi nỗi buồn, phơi hờ hững ngày qua??
***

những cảnh hậu trường của Tăng Thanh Hà.
Trong đoạn phim này, khán giả sẽ hiểu rõ hơn về những vất vả của đoàn phim cổ trang 3D này, cũng như những cảnh bầm dập của "ngọc nữ" Tăng Thanh Hà. Trong phim,  nỗi "ám ảnh" nhất của Hà Tăng là liên tục bị chổng ngược đầu trong các pha bị hành hạ. Chưa kể, cô càng bị treo lơ lửng và quay mòng mòng trên biển trong một pha hành động.
Ngoài ra, đoàn phim cũng tiết lộ những cảnh gợi cảm của Hà Tăng cùng dàn diễn viên nữ trong phim.



Cùng xem đoạn phim hậu trường này nhé!


Chủ Nhật, 6 tháng 1, 2013

Truyện thứ ba:

KHÔNG SĂN CHIM CHÓC TRÊN RỪNG

Tận diệt chim trời bán công khai trên QL1A, Tin tức trong ngày, thit chim troi, vat long, nuong chin, dong vat, hoang da, san chim, san bat, quoc lo, ban chim, quan an, tin tuc, tin nhanh, tin hot, vn
                                                        
      Thoạt đầu mở quán lòng lợn tiết canh, cháo lòng. Chọn mua từ thằng bạn cùng học thời phổ thông. Nghĩa là lòng sạch, trắng tinh, nhất là nó ưu tiên cho thêm nhiều món cổ hũ, dạ dày. Phải dậy từ lúc bốn giờ sáng, nhóm lò, băm, thái.. Tiết canh để sẵn tủ lạnh. Hôm nào nhỡ tay, nó vẫn đông. Đây là cái nghề học mót được hồi mình giải nghệ làm “Nhân viên” cho nhà hàng trên thành phố. Tưởng tượng công việc này rồi ra sẽ phát tài, kiếm được ăn. Thôi thì làm gì cũng là làm, bắt mũi bỏ miệng, nào có ai nghĩ thành ông nọ bà kia, vương tướng gì? Lấy lại cái danh cái giá mà một lúc tính nhầm, lỡ bị rơi vãi nơi thị thành..
Buổi đầu tiên năm sáu con bạc đi ăn đêm về vào quán mở hàng. Chúng vừa kiếm được một mớ, ăn xong trả tiền. Thừa hai chục bạc, thằng cao như sào chọc ổi cười hơ hơ: “ Còn đâu bo luôn cho em đấy!”. Tiên sư ông, “bo” thì “bo” hẳn vài trăm. “Bo” đ. gì hai chục bọ? Nhưng mà chẳng sao, nghề làm ăn chân chính, kiếm ít một tý, nhưng mà lành. Kiểu người ta bảo “ăn cơm với cáy thì ngáy o o” Chả phải lo lắng gì!
Ngày thứ hai có cuộc tập huấn tập hiếc gì đó gần nhà. Món choai choai thằng nào thằng nấy đồng phục, Ak khoác sát đít, dựng một đống chiếm gần nửa gian quán. Chúng nó phải chờ mới đến lượt. Một số nóng vội, quay ra mua bánh mì của một lão ất ơ vừa đi vừa bấm kiểu còi chẳng giống ai, rao bán inh ỏi.
Nghe bảo tình hình dạo này không như mọi khi. Súng ống phải sẵn sàng, tập tành cho hẳn hoi. Các em chăm chỉ, chị cũng được nhờ. Mạnh dạn nới tay một tý. Tiền vẫn thế, nhưng đĩa lòng đầy hơn, thêm cho các em mấy dóng hành tươi cho nó “hoành”. Chị nghèo, tình quân dân cũng chỉ cố được đến thế thôi. Đứa nào phàn nàn chị chịu!
Có con em họ học gì không học, lại học báo chí, nhân văn nhân vẻ gì đấy ế chổng cờ. Không xin nổi việc, đến cậy nhờ chị. Chị ok liền. Cùng cảnh chị em với nhau, mày lại có tý học chắc là biết điều, chị không giúp em còn giúp ai? Đừng có mà xem thường cái nghề của chị.Chẳng qua là bần cùng, số kiếp kém. Trời mà để ra chị kém gì Tăng Th. H., Th. k ? Hát chèo, cải lương, nhạc mới nhạc miếc.. chị chơi được tuốt. Giọng mật ong rừng hẳn hoi chứ chả phải giọng mía lùi đâu nhé! Chỉ tội chả ma nào giới thiệu, Pờ rồ, nên chị cam tâm làm cái nghề mọn này thôi. Kiên nhẫn, chờ đợi, trồng tre uốn gậy, chả bao giờ là muộn!
Được cái em gái ngoan. Chả xinh mấy nhưng mà nhanh nhẹn. Có thêm mày chị cứ như rồng thêm vây. Quán cháo của chị sinh động hẳn lên.
Lão hàng xóm hay rượu, đông con, chả có tiền, sang gạ. Chị ừ luôn. Không phải ừ cái vớ vẩn kia. Cái đấy chị không thèm. Bây giờ món đó chị khinh, không muốn nhắc đến nữa.. Chị ừ là ừ cho lão giúp chị cơi nới cái quán thêm rộng ra một chút. Thêm mấy cây keo đểu người ta mua về làm củi bớt lại cho, mấy tấm pờ lô, quán rộng hẳn ra. Lão ý còn bảo sơn hay đánh vẹc ni mấy cái cột nữa. Chị bảo thôi. Mình làm lấn ra hành lang giao thông, mấy bác coi đường chửa biết bắt dỡ đi lúc nào. Sơn xiếc làm gì cho phí tiền, thêm ngứa mắt, chọc gai vào các bác ấy?
Tự hôm có quán cháo lòng, quãng đường xa vắng này nhộn nhịp hẳn lên. Có thêm tiếng nhạc, lời ca từ đôi loa thùng thằng anh rể cho mượn. Chòm dân bấy lâu như kẻ ngủ đứng, bỗng tỉnh táo hẳn.
Con em họ bảo :
- Hay là bán thêm phục vụ cho khách ăn đêm hở chị?
- Chỉ sợ không có khách, làm thêm thì làm. Chị sợ mày kêu mệt. Cơ hội đến không chộp lấy có mà ngu à?
Hôm đầu chưa ai biết, thức mờ cả mắt. May mà có cái tủ lạnh mua lại của tay đồng nát, còn dùng tạm nên chả sợ ôi thiu. Lòng lợn để hôm sau vẫn bán được.
Nhanh chân nhất về khoản ăn uống vẫn là tụi cờ bạc. Chỗ này lại khuất, ít người qua lại dòm nom, đêm sau chúng đã có mặt. Món xe chuyên chạy về đêm cũng mò vào. Cứ mười một mười hai giờ đỗ trước cửa, bạt trùm kín mít. Chẳng biết trên xe chở gì, gỗ lậu, quặng hay thứ phải gió gì không cần biết.. Miễn là nhà các anh sòng phẳng. Cũng có thằng bảo ghi sổ? “Quán em nghèo, mới mở, vốn liếng chả có, anh thông cảm cho”. Ngọt nhạt thế. Nó bảo: “Bọn anh đùa vui thế thôi. Thiếu tiền tỷ chứ thiếu đếch gì vài đồng rượu!”. “ Em cũng biết thế. Lái xe các anh tính nghệ sĩ, hay đùa vui thế thôi chứ nỡ lòng nào”. Tụi này đi, con em cười bảo: “Em chết cười vì chị?” Cười gì? “Cười cái chuyện lái xe nghệ sĩ nghệ thuật của chị ấy!” Chuyện. Đời thằng nào chả thích nịnh? Chả thích một lần gọi là  “nghệ sĩ”? Mất cái gì nào? Em lại bảo : “Mới có mấy ngày, em học được ở chị bao nhiêu thứ. Ở Hà Lội bốn năm năm toàn học chữ, chả học được bao nhiêu cái khôn làm người!” Lại mày! Cũng định nịnh thối chị nữa phải không? Con em cười hí hí, chạy đi rửa bát..
**
Mọi việc cứ tưởng thế là ổn. Cứ thế mà đi lên.
Một buổi sáng lão thuế vụ đến. Quán cháu làm ăn thuế má gì hả bác? Lão bảo : Nhà nước quy định rồi, kinh doanh là phải thuế. Chiếu cố mới mở cho lui lại cái môn bài làm sau là tốt rồi. Kêu ca cái gì nữa? Dưng mà mức cao quá, thế này chúng cháu làm gì còn có lãi nữa, vào thuế đã gần hết rồi, sống bằng cách gì? Lão nói: “ Cái đấy tôi không biết, quy định thế nào tôi làm đúng thế thôi, tôi đâu có đặt ra? Thắc mắc cô cứ lên trên mà hỏi!” Vật nài mãi cũng chẳng ăn thua. Lão làm nghề này nghe quen những lời kêu rêu, phàn nàn như thế, đâu có động lòng? Có lẽ phải tính cách khác để đối phó với lão, họa may mới xong. Bao giờ chả vậy, máy móc nào chả phải bôi trơn? Đành là thế vậy, lo dần dần.. Trước mắt phải cân đối thu chi cho nó ồn cái đã. Cũng phải từ từ kẻo mất khách. Chưa làm quan đã học ăn bớt là không hay!
Đám tập huấn cũng đã xong đợt. Sân vận động vắng tanh vắng ngắt. Họa hoằn quán mới có một vài ông vãng lai. Bọn cờ bạc vừa bị dẹp, giờ nằm im, chả thấy đứa nào ngo ngoe. Đám lái xe cũng biệt tăm tích. Người ta bảo độ này “ông trên” quản lý rừng gắt lắm. Gỗ không anh nào dám làm thì chớ, ngay quặng cũng không dám moi móc đào bới như thời gian trước đây vì đào quặng cũng là xâm phạm tài nghuyên quốc gia, cũng là phá hoại rừng! Cái tin tốt ấy, xem ra với quán của Huyền lại bất lợi. Hai chị em ngu ngơ nhìn nhau. Nó là đứa biết ý, bảo: “ Không có khứa, thôi để mình chị, em làm việc khác chứ hai chị em ngày ba bữa ăn xong ngắm nhau thế này thì gay”. Ừ chứ biết bao sao? Con bé cũng là vất vả mới gặp mình. Chưa được mấy ngày đã chia tay đôi ngả. Đã hứa với nó, dù có thua lỗ, chị cũng trả đủ, em đừng lo. Nó cầm nắm giấy bạc trong tay mà rân rấn nước mắt..
**
Nghe bảo đến năm hai ngàn..mấy mấy, “Nông nghiệp chỉ chiếm ba mươi phần trăm cơ cấu kinh tế”. Mình không nhớ năm ấy là năm nào, nhưng biết rằng tương lai của ngành dịch vụ là rất sáng sủa, rất vui. Nhất định là mình không “chuyển ngành”, chỉ chuyển nghề thôi. Không lòng lợn tiết canh nữa mà quay sang giải khát. Hai việc này vốn là bà con gần với nhau, chỉ hơi có chút khác biệt. Cần thay đổi, thu nhập có thể không bằng, kéo lại cái rất an toàn. Bao giờ và ở đâu an toàn chả là “bạn”?
Dẹp bỏ dao thớt, Huyền trưng lên cái biển rõ là “hoành”: BIA LẠNH – GIẢI KHÁT SINH TỐ. Treo thêm mấy dây “thịt bò khô”, “ngô cay” thế là thành. Đúng là “cùng thì biến, biến tự khắc thông”. Quán mở buổi sáng, đến chiều thấy rầm rộ xe, máy kéo về, đỗ chật hai bên đường. Sắp có đợt cơi nới, mở rộng đường. Con đường cái quan bấy lâu nay chỉ là tỉnh lộ, nay lên đường “quốc gia”. Ít năm nữa lên “quốc tế” chưa biết chừng. Việc đấy còn hơi xa, chỉ biết đã bắt đầu một cơ trời mới. Lúc ý, Huyền lại thoáng băn khoăn, chuyển sang làm giải khát chả biết có trúng không mà bỏ mất cái “Ngành” cháo lòng tiết canh? Sự đoạn rồi, chả hơi đâu mà lôi thôi xôi chè cho nó mệt. Giải khát là giải khát, chắc ăn hơn và đỡ mệt người. Cũng đã sang hè rồi, nhầm là nhầm thế ấy nào được? Rõ là vớ vẩn..
Huyền đang linh tinh nghĩ như thế thì có khách. Anh ta có cái khẩu trang chẳng giống ai, úp xùm sụp che kín gần hết mặt. Ừ thì vì đường quá bụi, không khí phải cỡ đến ba mươi phần trăm thành phần là bụi chứ không phải ít. Đeo khẩu trang đi đường là cần thiết và mặc nhiên, không có gì lạ. Nhưng khẩu trang như người này thì cực kỳ khó hiểu. Nó giống như cái mặt nạ chứ không phải khẩu trang khẩu chót gì. Chỉ hở có mỗi hai con mắt, hai cái tai và một tý thịt trên trán. Có khi bọn khủng bố cũng chỉ che kín mặt đến thế này là cùng. Người khách vào, không gọi đồ uống. Khẩu trang mặt nạ cũng không chịu cởi. Nếu uống hoặc ăn thì phải cởi ra chứ? Giữ gìn vệ sinh chăng nữa, vào quán cũng phải tháo cái che mồm che mặt ra. Đàn bà con gái che mặt giữ da đã đành. Đàn ông con trai cần gì phải giữ gìn đến thế? Hẳn đây là một “mĩ nam” quá cầu kì! Chả trách ngày nào ti vi cũng quảng cáo “Dầu gội đầu, mĩ phẩm dành riêng cho nam phái”!
Khách gọi:
- Này cô chủ, quán mới mở có cần lấy hàng bán bọn anh bỏ mối cho?
-  Anh ở đâu? Có những hàng gì?
- Công ty bọn anh ở ngoài thành phố. Em cần gì cũng có. Bia lon, bia chai, nước trái cây các loại.. Anh đi tiếp thị, quán mình cần em cứ kê ra đây, ngày mai sẽ có xe mang đến. Mỗi tháng em thanh toán một lần. Lần đầu “cọc” cho công ty một chút để “bảo tín”.
-  Tiền cọc có nhiều lắm không ạ?
- Có năm triệu thôi, lấy gì mà nhiều? Thời bây giờ làm ăn người ta “bảo tín” hàng chục, hàng trăm triệu ấy chứ. Có giấy tờ, hợp đồng hẳn hoi, em lo gì?
- Quán em như cái mắt muỗi, chưa biết có chạy hàng hay không. Việc này để em sau sẽ tính. Mua bán cò con, hết đến đâu lấy hàng đến đấy thôi. Anh thông cảm!
- Nói thế là em không tin anh rồi. Em bỏ mất cơ hội kinh doanh rồi đấy. Không có gan thì khó mà làm nên giàu. Nếu em làm đại lý cho công ty, chắc chắn có thêm nhiều ưu đãi đặc biệt về giá cả, về thiết bị nhà hàng.. Những là..Những là..
Người này còn nói một thôi một hồi nữa rồi mới chịu đi. Mình đã bảo không là không. Chẳng ai tự nhiên tốt với ai thế bao giờ. Cái công ty anh ta nói, mình đã biết nó ngang dọc, mục đích kinh doanh của nó là gì đâu? Dứt khoát ngay từ đầu là cái nên làm. Có cả tỷ chuyện “công ty công toi” ngày nay bất khả tín. Chưa được việc gì đã yêu cầu đóng tiền! Gã nào nghĩ ra cái chiêu này xem ra cũng xoàng. Dân trí bây giờ lên chót vót rồi. Đâu có dẽ gạ gẫm như xưa?
Người chào hàng thấy không ăn giải rút gì, bỏ đi. Sao mà nom cái dáng đi của gã quen quen thế nhỉ? Hình như mình đã gặp ở đâu rồi? Cả cái giọng nói cũng rất khả nghi? Hay là người quen cũ chăng? Anh ta bịt mặt như thế chẳng lẽ vì vậy sao?
Cuộc gặp tình cờ khiến cô chợt nhớ lại một chuyện. Đã lâu rồi.. Huyền tái mặt. Cô thấy nhoi nhói, tưng tức nơi lồng ngực..

***
Đang ngồi nẫu, buồn chảy nước ra thì con em lại đến. Nhìn cái mặt hơn hớn của nó, biết ngay nó đến không phải xin làm tiếp khi hay tin mình đổi nghề. Mắt nó lấp la lấp lánh, hai gò má phơn phơn hồng. Dấu hiệu của kẻ đang yêu và được yêu chả dấu ai được! Tay năm, tay mười nó thu vỏ chai, dọn cốc khách để lại trên bàn đem rửa. Xong rồi nó úp úp mở mở khoe:
-Em sắp phải xa chị rồi? Chị đoán thử xem em sẽ đi đâu?
Cấu cho mày một cái, cấu yêu thôi, Huyền bảo:
- Con nỡm. Có gì nói toạc ra đi. Đố mới đoán mệt bỏ xừ. Chị ghét nhất là cái trò đoán điếc, “Đấu trường một trăm, Ai là triệu phú?” Mày hiểu không?
- Thôi em nói luôn kẻo chị sốt ruột: Em sắp về Hà thành rồi!
Nghĩ bụng, chắc có tờ lá cải, hay báo ngành gì đấy nhận nó vào hợp đồng. Đang lúc vận động học hỏi, tuyên truyền cần nhiều nhân viên thế này, báo nào cũng kêu thiếu bài, không có đủ người viết. Nhưng đừng có mừng vội, chỉ là hợp đồng thôi. Từ nay đến đến biên chế chính thức “Còn lâu dài và gian khổ” lắm. Con gái có thì, liệu em có bề bỉ được không? Hay lại như con bé xóm trên làm được mấy tháng, lương lĩnh không đủ tiền ăn, thuê nhà trọ lại bỏ về chăn lợn? Mới chỉ nghĩ thế thôi, Huyền chưa dám nói gì, sợ nó mất hứng. Ai chả vậy? Đang vui mà nói ngang vào là điều tối kỵ. Thấy Huyền im im, cô chàng lại tiếp:
- Em có ông anh kết nghĩa mới chuyển trong Sài ra. ( Ý nó nói là Sài Gòn chứ không phải Sài Sơn, Sài Đồng).. Ông ý xin việc cho em được rồi chị ạ. Không phải làm báo làm biếc đâu. Mình không có năng khiếu, văn vẻ tò te, viết lách chưa chắc đã tốt. Nghề ấy cần người có tài, hồi mới lớn nông nổi, mới xin theo học, giờ em nghĩ lại rồi. Việc em xin được bây giờ chả dính dáng gì đến ngành học trước đây. Miễn là có việc làm, thất nghiệp mãi đâm tự ty, cứ y như con dở, con mất trí ấy phải không chị?
 Chị cũng mừng cho mày. Nghề báo ngày nay cực kỳ nguy hiểm. Viết dở chả ma nào đọc. Viết hay là dễ đụng chạm chỗ này chỗ kia. Thôi, “giã từ vũ khí”, đi làm việc khác cho nó lành.
Nó khoe “anh ý tốt lắm, lo cho em từ a đến z chả phải mất đồng nào chạy chọt. Lại còn hứa mua cho cái xe để lấy cái đi làm. Tất nhiên là anh ấy cho vay. Đi làm có tiền nhính ra trả dần, cũng tốt phải không chị?”
Huyền đã a, suýt nữa kêu trời. Sao chuyện của mày giống chị trước đây thế hả em? Tên anh kết nghĩa của mày sao nói cứ như ông anh “Kết nghĩa” của chị. Giống cái tên có dáng người hệt lão chào hàng bịt mặt vừa khi sáng mò vào quán này. Chẳng biết người ngày xưa của chị với người ngày nay của em có cùng một lò chui ra không? Giống thế không biết! Toan nói ra, lại sợ em ý buồn. Việc đời xưa nay mấy khi cái nào giống cái nào? Tình cảm trong sáng, tốt đẹp mà bị ngờ oan là điều không bao giờ nên. Huống chi bây giờ nó đang vui, mình nói vậy có khác nào dội cho nó gáo nước sôi như Tấm gội đầu cho Cám? Chả hay tỵ nào!
Huyền chỉ bảo:
-Ai giúp cũng phải tự mình. Tự tin và tự tìm hiểu cho chắc chắn em ạ! Con gái là dễ khôn ba năm dại một giờ.. Đừng có quá tin người vội..    
Nó “Vâng” rồi ngoay ngoáy về. Dặn đi dặn lại: “ Bao giờ chị về Hà lội, chị phải ghé em chơi đấy”! May thật, nó thôi không theo nghề. Suýt nữa thành nhà báo rồi mà vẫn còn nói ngọng. Nếu đi phỏng vấn phỏng véo, nói ngọng như nó chắc buồn cười lắm!
Con em đi rồi..Cái chuyện năm xưa đang nghĩ dở lại hiện ra trong đầu. Muốn quên đi mà không được..
***
Người đưa em vào một ngõ nhỏ thuộc ô Cầu Giấy có cái tên rất kêu. Đầu ngõ đối diện với một trường đại học. Em có con bạn đang học năm cuối ở đó. Có một hai lần em đến chơi với nó, nhưng lại chẳng để ý gì đến con ngõ này. Nó như muôn vàn con ngõ chật chội, lem nhem của thủ đô. Không mấy người biết dù tên nó rất hay. Như tên một cô gái “Kiều Mơ”!  Em không ngờ cuộc đời em lại bắt đầu bi kịch và chấm dứt đời sinh viên ở đấy.
Người bảo:
- Huyền ạ, em cứ ở đây, khi nào xin được việc cho em, anh sẽ tìm một chỗ ở khác, tốt hơn. Tạm thời em cứ nghỉ ngơi, thư giãn chút đi. Mọi việc để anh lo.
Em nói:
- Nếu phải chờ đợi có khi em về trên nhà, khi nào có quyết định chính thức, anh báo em sẽ xuống. Ở đây sinh hoạt đắt đỏ mà em chưa có việc làm, khổ cho anh..
Người lại nói:
- Chuyện ấy em không phải lo. Có một mình em anh không lo được, còn nói gì nữa? Chỉ cần em làm theo lời anh dặn là được rồi..
- Sao hả anh?
- Thành phố phức tạp, em biết rồi. Đừng quan hệ linh tinh, làm quen dễ dãi là rất không hay. Thành phố rất nhiều thợ săn nai đấy, con nai bé bỏng của anh ạ!
- Cái đấy thì em biết, anh không tin em à?
- Anh tin, nhưng việc nhắc em vẫn phải nhắc.

Em nghĩ có thể  Người lo xa, có thể Người ghen. Chừng ấy thời gian Người vẫn chưa tin em ư? Em sẽ chứng minh cho Người thấy. Em hơi bực Người, sau rồi lại thấy thinh thích. Hóa ra Người rất sợ tuột mất con bé nhà quê đồng rừng là mình.
Đã ở ngõ rồi lại sâu mãi trong hẻm. Phòng trọ phía trong cùng. Bên ngoài một hàng nước. Phải đi qua mấy chỗ chứa đồ phế liệu. Sắt gỉ, bìa cạc tông chất cao từng đống. Em nghĩ giá có nói địa chỉ cho người nhà trên quê xuống chưa chắc đã tìm được mình! Chính em ở mấy ngày rồi mà vẫn bị lạc. May có số điện thoại của cô bán hàng nước chè chén ngồi phía ngoài mới biết đường về. Em như lạc vào một thế giới khác. Thế giới em chưa từng nghĩ đến bao giờ, chưa từng biết nó có thể có trên thế gian này..
Em muốn người đưa em về nhà. Ít ra cũng phải biết gia cảnh người thế nào chứ? Người bảo lúc này chưa tiện. Có gì mà không tiện nhỉ? Người nói “Ông bà già chưa muốn cho anh lấy vợ bây giờ. Phải khó khăn lắm mới chạy được một công việc như anh may mắn được nhận. Phải phấn đấu một hai năm cho vững chân đã, rồi mới tính chuyện hôn nhân”. Hỏi việc gì? Người bảo “một công việc không được phép nói rộng ra bên ngoài. Ngay người thân cũng không tiết lộ”. Người làm phản gián hay là tình báo, hay ma phia? Chịu, không thể biết được. Như thế thì đừng có mơ lúc này Người dẫn đến cơ quan, giới thiệu với sếp, với đồng nghiệp. Công việc Người hứa lo cho, làm hồ sơ chả thiếu gì vẫn dài người ra mà đợi. Việc quan nóng như nước đá mà. Biết làm sao?
Hai ba ngày một bận Người đến một lần. Trước còn mau, sau thưa dần, thưa dần. Thức ăn vật dùng người mang đến đủ cho đến kỳ gặp lần sau. Nhưng tiền thì người không đưa. Có lẽ Người nghĩ có tiền em sẽ ra ngoài mua sắm, có khi buồn chán muốn về quê. Em cũng không muốn hỏi. Mình có quyền gì mà đòi hỏi tiền bạc cơ chứ? Với lại em không muốn Người nghĩ xấu về mình. Em đến với Người là niềm tin tưởng, đâu phải vì tiền?
Nhưng hàng ngày như bị giam lỏng, bức bối vô cùng. Dù có thiện ý đến đâu em cũng phải có dấu hỏi? Thực ra Người là ai? Vì sao khi nào đến Người cũng đến rất muộn, lúc đi lại vội vội vàng vàng, thường là lúc chưa tỏ mặt người, hàng phố còn chưa ai dậy?
Em không phải chờ lâu. Em đã có đáp án câu hỏi của mình. Một đáp án buồn, bi thương.
Tối hôm đó, cả con hẻm mất điện. Mưa lay phay, tối như bưng lấy mắt. Em và Người đang ngồi ôm nhau trên giường. Bất chợt cánh cửa hé mở, có ánh đèn pin chiếu vào. Em giật mình nghĩ là công an hộ khẩu kiểm tra, vội vơ cái áo mặc vào người. Người cũng cuống quýt chưa biết đổi phó ra sao. Em chỉ thoáng nhìn thấy hai người mặc bộ đồ đi mưa. Một người trong số họ vung tay về phía em đang ở bên người.. Rồi Người rú lên hãi hùng.. Em thấy xót, bỏng rát bên vai.. Hai kẻ lạ vùng chạy phóng xe  ra ngoài đường.  Khi mọi người xung quanh chạy đến cũng là lúc đèn bật sáng trở lại. Người đang còn lăn lộn, hai tay bưng lấy mặt. Em cũng đau, nhức bên vai như có lưỡi bào đang cắt da thịt mình. Người ta đưa cả hai đi viện..
Đến thăm bệnh nhân đầu tiên là một bà cao lớn, nét mặt đanh ác nhưng ăn mặc cực sang. Tay bà ta đeo những vòng ngọc lớn. Em không biết giá trị châu báu, nhưng đoán những chiếc vòng ấy không thể rẻ. Đi cùng bà ta một gã đầu trọc, u thịt nổi nần nẫn, là vệ sĩ hay là gia nhân. Đứng nhìn Người một chặp, bà này cười khẩy:
- Tôi chỉ định cảnh cáo con hồ ly kia. Anh thương nó, “lấy thân mình lấp lỗ châu mai” thì thây xác anh. Đừng có oán con này ác nha!
Xong, không nói thêm câu nào, bà cùng gã đầy tớ đi ra ngoài không cả cái nhìn lần cuối khuôn mặt đẹp như Châu Khanh, Tuấn Ngọc giờ đã thành dị dạng!
Em đã hiểu ra chuyện gì. Mình vừa là nạn nhân vừa là chứng nhân của một pha đánh ghen ngoạn mục. Ngay đêm hôm đó em mò về chỗ trọ, thu vén tư trang. Dù vết thương chỗ vai còn đau cũng không thể ở lại. Nhục nhã. Ê chề.. Không còn gì hơn để nói! Còn nấn ná ở đây với Người, chuyện gì sẽ xảy ra?

Sau này em được biết, Người cũng là một gã thợ săn. Không phải săn nai trong thành phố này. Người săn sư tử và đã thành công. Quý phu nhân của Người là con một ông nhớn đầy quyền uy, một “nhân” quan trọng, giàu sang ngất ngưởng, nhưng nàng cực kỳ xấu xí. Người tìm đến em như một sự bù đắp lại cho thua thiệt của mình!
Sao cái gã chào hàng bữa trước nom từ phía sau giống Người trộn không lẫn được? Liệu có phải con người ấy không?
Mình sẽ phải xử trí ra sao đây nếu lần sau anh ta trở lại, gã thợ săn “Không săn chim chóc trên rừng”? Chuyện của con em họ, mình có vẻ thấu đáo, sáng suốt thế, mà sao chuyện của mình lại tối như bưng? Tối như cái đêm mất điện, mưa lay phay mình cùng bị săn tìm, bị tạ át xít với gã thợ săn thành phố?
Huyền thừ người ra suy nghĩ.. Mười mấy năm trời ăn học, cha mẹ vén vun, đến giờ này mình vẫn như con thuyền không lái. Không đâu vào đâu. Một công việc nuôi sống bản thân cũng còn bấp bênh, chật vật. Mình sẽ phải liệu tính sao đây?
 Cái xe lu chậm chạp lăn qua lăn lại trước mặt Huyền. Tiếng đá vỡ lạo xạo. Mùi nhựa đường khét lẹt. Gió thốc bụi từng đám chỗ người ta đang đổ đá xay làm lớp chống dính. Tất cả làm Huyền choáng váng, nôn nao..
============