Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Năm, 3 tháng 1, 2013

Tập truyện ngắn của Hồng Giang

Tới đây HG sẽ XB tập truyện ngắn mới của mình gồm 15 truyện. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc gần xa. Đa tạ sự quan tâm và những góp ý của mọi người cho tác giả để hoàn thiện cuốn sách được tốt hơn.
 Truyện thứ nhất:

CHUYỆN LẠ MÙA THU
                            
      - Cứ đi thẳng vào trong cái hẻm ấy, may còn chỗ cho thuê trọ! - Gã xe ôm nói nhõn một câu sau khi nhận tiền xe, rồi vội vàng đi ngay. Miệng nói, nhưng mắt cứ đảo liên tục, dớn dác tìm khách mới. Mồ hôi dầu lấm tấm trên mặt, bui và gió làm nhòe nét mặt, nên không biết gã đã bao nhiêu tuổi?
 Thành không lạ chỗ này. Hình như ngày xưa nó là cánh đồng rau thì phải. Con mương tưới bây giờ thành lối thoát nước. Nước đen như pha mực tàu, bốc lên mùi nồng nồng, chua chua, thum thủm. Nắng hạn đã lâu, vậy mà nước lai láng mặt đường, có chỗ đọng thành vũng. Khỏi phải nói, nếu trời mưa cả khu vực sẽ biến thành dòng sông là cái chắc.
Thành phố phình lên, phát triển vội vàng, tạm bợ, cảnh tượng cứ như vừa qua một trận động đát, mới tạm thu dọn qua loa.
Hai bố con vào sâu trong ngõ. Chỗ nào cũng nói: “ Hết chỗ rồi, ai bảo đến chậm?”. Rẽ sang một ngõ khác, bên cạnh một công trường xây dựng, biển đề “ Nhà máy chế biến thức ăn gia súc”. Thành lẩm bẩm:” Thiếu gì chỗ mà lại dựng nhà máy thức ăn gia súc ngay nội đô như thế này?”. Gần chỗ ông ở cũng có một nhà máy y hệt thế. Rác thải của nó chất cao như quả đồi. Nước bẩn từ khu sản xuất chảy ra đen xịt một quãng sông. Những nhà ở gần đó trồng rau cũng không mọc được vì nước thải ngấm vào đất. Không thể nuôi nổi con gì. Chó mèo mang về vài hôm là lăn cổ ra chết. Có chăng chỉ muỗi và con người còn sống được.
Người ở xung quanh nhà máy da cứ bợt đi như đói ăn, ngâm nước lâu ngày. Ô nhiễm nặng, ăn gì cho lại?
Một chỗ ở gần nơi như thế, xem ra cũng không dễ. Nhà nào cũng lèn đủ số có thể cho sinh viên trọ. Các loại “thợ” từ khắp các tỉnh về, người đi chợ, thu mua phế liệu, cả những ả cave váy cũn cỡn, mặt nhoe nhoét phấn. Một khung cảnh méo mó, xộc xệch, bệ rạc, lộm cộm không sao nhớ nổi.
Đang đi, một ả chặn ngang đường:
- Bác đang muốn tìm nhà trọ?
- Vâng, cô biết chỗ nào làm ơn chỉ cho tôi, cảm ơn quá..
- Vậy bác đi theo cháu..
Hai bố con lưỡng lự một chút rồi đi theo. Dãy nhà trọ từ xa giống như kiểu “nhà chuồng gà”, từng ngăn, từng ngăn một, giống hệt nhau, cửa quân bài sơn xanh đồng loạt cất ngay bên dòng mương. Có lẽ để khỏi nhìn thấy dòng nước hôi hám nên tất cả các phòng đều xoay lưng lại, tựa vào hàng dừa lá xanh thẫm. Dừa là giống cây ưa gần thứ nước bẩn và mặn này, lá cứ xanh thẫm lên, nom ám muội ra làm sao đâu! Đi được một quãng, vẻ nhấp nhởi từ hai cô gái lạ biến mất. Có cái gì quen quen như.. “những người cùng làng”. Giọng một cô chùng xuống:
- Trọ ở đây vô giá lắm bác ạ. Triệu rưỡi tháng, một phòng. Năm mười triệu cũng có. Sinh viên tỉnh lẻ về, bác chọn chỗ này là chính xác đấy!
Hôm qua một người quen dẫn hai bố con sang phố bên. Hỏi giá, người ta đòi tháng   mười lăm triệu! Thế mà vẫn có khách thuê.
Gặp thằng cháu họ, nó mừng quýnh, đưa vào phòng nó vừa thuê tháng trước. Phòng nó có điều hòa nhiệt độ, ti vi, tủ lạnh, chỗ nấu ăn, tắm nóng lạnh.. Hỏi giá bao nhiêu một tháng, nó bảo “ Hai mươi chai, có bếp ga nhưng cháu toàn ăn cơm hàng, ngại nấu nướng..”.
Nó rủ thằng con ông ở chung với nó, ở một mình “chán như con gián”, ấy là nói theo cách của nó! Ông hiểu ngay ý nó muốn gì? Thằng con ông ở đây khác gì thằng đầy tớ cho nó? Quyét dọn, giặt quần áo cho nó đã đành, không đấm lưng, xoa bóp cho nó mới là lạ? Có thể thằng con ông không ngại những việc đó, nhưng ông ngại. Ông từng nghe nói về thằng này. Có lần bố nó về quê than về nó. “Sướng thế đấy nhưng học hành có ra gì đâu? Suốt ngày gái gú, bài bạc, nghe nói dính dáng cả đến ma túy nữa”. Gần mực thì đen. Nó bảo nó cho ở không, tiền trọ nó trả, ông cũng không dám nhận lời, đành nói lảng :
- Chú có chỗ rồi, sang đây thăm anh ăn ở thế nào thôi, để anh em biết chỗ của nhau, khi cần thì qua lại.
-Vâng, nếu có chỗ rồi thì thôi, cũng không sao – Miệng nó nói vậy, mắt nhìn nghiêng nghiêng ra điều hiểu trong bụng ông đang nghĩ gì, chẹp miệng, quay vào.
Con ông nói nhỏ vào tai bố, khi ra đến ngoài đường:
- Bằng thu nhập cả năm của nhà mình bố ạ!
- Chuyện, cả bố lẫn mẹ nó đều là giám đốc, cỡ quan tỉnh, nhà nó thiếu gì tiền? Nếu nó học được như mày, bố nó đã cho du học bên Hoa Kỳ rồi. Mang tiếng là đi học, nó ít khi đến lớp. Nó thuê hẳn một thằng hàng ngày mang cặp đến trường học thay nó.. Mày bì với nó thế nào được!
Ông không ngờ thằng con ông nói:
- Nó không bì được với con thì có. Sướng thế chứ sướng nữa, cũng chẳng giá trị gì. Nhìn cái mã nó là con biết học hành chẳng ra gì! Học không cầu kiến thức thì đi học để làm gì? Khổ cho bố mẹ, không có ích cho mình, không ích cho ai. Bố mẹ hết thời dựa vào đâu? Dù cho có của ăn hết đời sau, sống thế con cũng không ham!
Ông mừng, ra nó cũng biết nghĩ, vậy mà ông cứ lo.. Nhưng vẫn bảo:
- Anh đừng có chủ quan! – Miệng nói thế, nhưng ông thấy mắt lại cứ cay cay, cũng là con người cả! Con người ta thì chẳng thiếu thứ gì. Con mình đến chỗ ở cũng phải hà tiện, nói gì cái ăn cái mặc? “Thôi thì cố lên con nhé!” như người ta nói.. Thấy tủi thân, không biết đang giận cái gì? Bố cái thằng này ngày xưa cùng học với mình ở trường B.K. Nếu không được chiếu cố diện gia đình chính sách, chắc chẳng thể nào tốt nghiệp. Cái thằng chân tay to, đầu óc đơn giản, trán ngắn, mặt vành ra hai bên như cái bánh đúc méo thế mà có số sướng, con nó bây giờ lại sướng hơn con mình..
Mới nghĩ đến đấy, đã đến nơi.
Cô gái đã cửa mở phòng, mời hai bố con vào. Cô rót cho mỗi người một cốc nước lọc, nói như phân trần:
- Bác đừng đánh giá chúng cháu nhé. Chẳng qua chúng cháu cũng cũng vì hoàn cảnh. Bác là nhà báo cháu biết không giấu bác được. Ở đời ai chẳng muốn đẹp muốn giòn? Ai muốn thế này đâu ạ?
- Sao cô biết tôi làm báo?
- Hôm vừa rồi cháu thấy bác trên ti vi nhận giải thưởng báo chí. Gặp là cháu nhận ra ngay, hóa ra bác là đồng hương, chỉ khác huyện..Chỉ xin bác đừng viết gì về chuyện gặp cháu ở đây, bác nhé!
- Chuyện ấy cô đừng lo. Báo chí nước mình chỉ nói cái hay cái đẹp. Nói điều phức tạp làm gì?  Thôi bỏ qua chuyện đó, cô bảo có chỗ cho trọ, chả nhẽ chỗ này ư?
- Không sao đâu bác ạ? Chỗ này gần trường, em nó lại không có xe máy, chẳng tiện sao? Hai chị em cháu ban đêm bận “đi làm”, chỉ ở nhà ban ngày. Em nó thì ngược lại, tuy là ở chung, nhưng không cùng nhau.. Nếu bác thuê riêng một phòng hơi cao tiền.. Hay là cứ tạm như thế đã, nếu em rủ thêm được bạn tìm thuê phòng chung nhau sau cũng được..
Ông Thành biết cũng không còn cách nào khác. Đêm hôm qua hai bố con phải thuê tạm một phòng, vừa tối vừa chật mà phải trả ba trăm ngàn một ngày một đêm. Nếu thuê cả tháng tiền đâu cho xuể ? Lương của hai vợ chồng có lẽ chỉ đủ thuê phòng cho con.. Còn bao nhiêu khoản khác lấy ở đâu? Ông đành chép miệng:
- Chú có việc phải về gấp, thôi có gì hai chị giúp đỡ em, rồi chú sẽ tính sau.. Bây giờ trưa rồi, ta tìm chỗ nào ăn cái đã..
    Thằng con không nói gì, nó lúng túng, mặt cứ đỏ lên như bị sơn ăn mặt. Nó biết  “Khổ học” là như thế nào, về sau càng tốt chứ sao? Ông nghĩ trong bụng như vậy..
**
Ông Thành, bố nó về sau bữa ăn cực kỳ tốn kém đối với nó. Hai con bé  “đồng hương” đòi trả tiền, ông không nghe. Có bốn người, ăn uống chả có gì nhiều, hết gần nửa triệu bạc.
Nó nhớ lại hồi cuối năm, đi Tam Đảo về, bố nó kể rất hài hước; “Mùa này trên đó vắng khách lắm, hàng nào cũng có người chổng mông mài dao, vớ được “quý khách” nào chém cho bằng chết..” Ở Hà Nội nó không thấy ai mài dao, mà chặt chém cũng ghê phết, có kém gì đâu? Chả khác nào lỗ đen, bao nhiêu tinh tú nó đều nuốt chửng hết. Không biết mình sống, ăn ở thế nào đây? 
Con bé già tuổi hơn, người gày, tóc ngắn là đứa thạo. Nhìn vẻ ưu sầu của nó như đoán được, bảo:
- Bọn chị muốn đưa bác đến chỗ “ngon lành cành đào” đãi cho cụ một bữa, chứ ăn hàng ngày tiền đâu đến chỗ ấy? Có chỗ gần nơi bọn mình ở, ăn rất rẻ, chỉ tội không được ngon, cậu có chịu không?
 Nó thành thực:
- Em ở nhà quê, ăn uống thế nào cốt xong bữa. Các chị ăn được, chắc em không dám chê..      
Thế mà đến chiều, phải cố lắm nó mới khỏi buồn nôn khi và miếng đầu tiên vào miệng. Cơm sống, cơm nát lẫn lộn. Còn thịt không biết gồm những thứ thịt gì, vừa hôi vừa chua rất khó tả, cứ nhơn nhớt như vừa vớt ở dưới ao lên. ( Sau này nó mới biết đó là những thức ăn thừa ở các khách sạn, nhà hàng được thầu về đây bán cho học sinh, sinh viên, người lao động vãng lai ). Còn canh thì khỏi nói, nom cứ vàng như dưa, chắc là rau ôi, mua cả đống ngoài chợ về.
Vậy mà khách vẫn đông, không đủ chỗ ngồi. Gian hàng hơn chục mét vuông kê mấy cái bàn, mỗi cái mỗi kiểu, chỉ rộng bằng nửa cái bàn học của trẻ em mẫu giáo. Ghế cũng không khuôn khổ nào, cái thấp cái cao. Chủ hàng có chân trong nhóm buôn phế liệu, nên mới có kiểu bàn ghế như vậy. Cái nào cũng cáu bẩn, nứt nẻ, ít cái còn nguyên vẹn.
Ngay cả mái lợp, vách tường cũng bao gồm đủ thứ thập cẩm. Vỏ phuy đựng nhựa đường, tôn cũ, bìa các tông.. Vá víu, xiêu vẹo rất buồn cười.
Được cái bà bán hàng sởi lởi, nói ngọt như mía. Thì bà cũng từng cảnh lấm láp, than bụi, bốc xếp, khuân vác mà nên. Bà mới vừa thoát cảnh đầu do, mặt muội ít năm lại đây nhờ thu mua sắt vụn, giờ bà vẫn chưa bỏ nghề cũ, đưa con cái từ quê lên, thuê đất, mở thêm cái hàng ăn này.
Ngoài giá rẻ hơn các chỗ khác, nếu thực khách cơ nhỡ, bà vẫn cho ăn thiếu, bán chịu cho. Bên trong cái tủ quây bằng lưới mắt cáo đựng thức ăn còn thấy quyển sổ khá dầy dính đầy mỡ lợn, than đen nhẻm dành ưu tiên cho các thực khách đó. Sinh viên nhà chưa gửi kịp tiền, người làm công chưa đến tháng lương.. có thể đến đây trông cậy vào bà.
Xong bữa nó cứ thấy bụng binh bích, tưng tức. Vội lấy mấy viên Cơloxit ra vã vào miệng. Nghĩ chắc kiểu này khó mà sống được lâu quá! Người ta cứ nói vệ sinh thực phẩm đâu đâu. Có thể những chỗ nhếch nhác như thế này không ai để mắt tới.
Nhà nó ăn uống cũng chẳng sang trọng, ngon lành gì nhưng được cái sạch sẽ. Cơm canh nóng sốt, rau của nhà trồng không có cá thịt ôi thiu như chỗ này.
Nhưng vẫn còn may. Có mấy đứa học Kinh Tài gọi điện đến bảo chỗ bọn nó không có hàng ăn. Phải đi cả chục cây số mới đến. Hỏi chúng mày làm thế nào? Bọn nó bảo : “ Cái khó ló cái khôn”. Giời ạ, “Khôn” cái con tiều. Chui vào nhà toa let nấu vụng cơm vì chỗ trọ cấm đun nấu trong nhà. Có hôm chủ trọ bắt được chửi như té nước vào mặt.. Từ bé đến giờ nó chưa thấy ai nấu nướng như thế bao giờ. Có đứa “Thông minh” hơn, giấu nồi cơm điện vào ba lô, giả vờ vào thư viện, cơm chín là lúc trả sách đứng dậy. Thảo nào có lần nó đọc ở đâu đó về sự hồi sinh của “văn hóa đọc”. Có lẽ các bác nhà văn hay tin này thì vui lắm! Nếu không các bác ấy viết để làm gì nhỉ?
Mỗi tháng mẹ nó bảo sẽ gửi cho hai triệu. Trừ tiền trọ, tiền điện, nước mỗi ngày chia ra, còn bốn mươi ngàn đồng. Quy ra đô la Mỹ như người ta tính, xấp xỉ hơn một đô! Nếu không ăn ở đây, còn chỗ nào thích hợp hơn? Còn khá hơn những đứa bố mẹ là nông dân. Bọn chúng chỉ có một đô la một ngày. Không biết bọn nó sống bằng cách nào? Chắc là phải đi làm thêm đủ loại công việc. Chỉ nghĩ đến thôi nó đã cảm thấy như bị xúc phạm. Cái tự ty, tự ái vặt của con nhà nghèo thường vùng lên, phẫn nộ không đúng chỗ như vậy.. Nhưng mà rồi cũng phải làm thôi, còn những bốn, năm năm nữa mới ra trường chứ đâu phải ngày một, ngày hai. Bố mẹ làm sao chu cấp mãi được, chưa kể ở nhà có chuyện gì? Ốm đau, tai ách chẳng hạn..
Hai con bé vẫn rì rầm cái gì đó, chưa ăn xong. Nó bảo về trước. Hai con ừ, không giữ..
Ra tới cửa có một thằng cao to lêu đêu đâm xầm vào nó. Nó định gừ.. nghĩ mình “ma mới”, lại thôi. Thằng kia vội rú lên:
- Khánh hả?
- Ừ!
- Xuống khi nào?
- Mới!
Chuyện vài câu, thằng kia bảo:
- Tao cũng trọ gần đây, nửa ngày đi học, nửa ngày  đi làm thêm, nếu mày thích hôm nào tao giới thiệu cho chỗ có việc?
Nó mừng húm, nhưng vẫn bảo:
- Ờ, để tao xem thế nào đã..
**
Căn phòng rộng hơn chục mét vuông. Kê một cái bàn nhỏ bằng nhựa, để son phấn, đồ trang điểm, mấy thứ vặt vãnh.. Kế bên chiếc giường gỗ ván tạp cũng hình quân bài. Một tấm đệm cũ trải phía trên. Hai cô gái nhường nó nằm trên giường, nó không nghe.
Dù sao nó cũng “Nam tử hán”, làm sao lại tranh chỗ của phái chân yếu, tay mềm? Cái đệm cũ trải ra phía đối diện thành chỗ nằm của nó. Độc nhất chiếc quạt để bàn không có lồng bảo hiểm, hỏng tuốc năng không còn quay được, dùng chung cho cả phòng..
Hà nội sang thu rồi mà bức bối chưa dịu. Hơi nóng từ mái tôn úp xuống, hơi người bốc lên, ngột ngạt như ở trong hầm. Dưỡng khí ở đây có lẽ chỉ bằng nửa ở quê nhà, nơi bạt ngàn cây xanh. Gần như ngày nào cũng cắt điện. Lúc đó chỉ muốn chạy ra ngoài bờ mương, nhưng mùi xú khí bay lên, thốc vào mũi không sao chịu nổi. Về đến nhà, cả hai cô gái chả cần ý tứ gì nữa, cởi hết quần áo ngoài, chỉ mặc áo con và mỗi chiếc quần đùi.
Một thứ mùi gì đó là lạ hòa quyện vào gian phòng khiến nó nôn nao, khó thở. Tiếng xe cộ, tiếng máy trộn bê tông ở gần đấy vọng vào, tiếng ồn ngoài đường vọng tới.. Tất cả như hỗn hợp tiếng động của một cơn dông, tiếng cựa mình của con quái vật khồng lồ làm nó xây xẩm mặt mày. Nó tự trấn an là do mình chưa quen. Đang sống ở nơi thanh bình, yên tĩnh nên chưa thích nghi với môi trường sôi động nơi đây. Nhưng đến bao giờ thì thích nghi, với nó giờ này hoàn toàn chưa biết?
Ra đụng vào chạm với người khác giới, với nó chả khác đụng phải dây điện để trần, chạm phải lửa. Có muốn tránh cũng không được. Nó thường vờ quay mặt nhìn đi chỗ khác, không để mắt tới hai cô gái. Quả là sự bất tiện, dù đã có ý nhưng thường xuyên va chạm vào nhau. Các cô cũng chỉ hơn nó dăm ba tuổi, sự hơn kém có thể san bằng bất cứ lúc nào nếu nó có ý nghĩ u ám.
Ý nghĩ này dằn vặt nó. Bứt dứt. Không yên.
Ngày hôm sau, khi nó ở trường về, nó thấy hai cô đang hí húi nấu cơm. Họ mua thanh lý được bộ bếp ga của một người trọ phòng bên vừa rời đi chỗ khác. Có thể là người bán xong chuyến hàng, hay một cô rửa bát cho nhà hàng nào đó giờ về quê lấy chồng. Của ai cũng không thành vẫn đề, ý ngĩa ở chỗ từ nay trở đi, ăn uống sẽ được cải thiện.
Nhìn vẻ mặt hớn hở của hai ả cùng phòng nó đọc ra điều đó. Nhưng hạnh phúc, niềm vui ở đời thường có giá đắt. Được ăn ngon hơn, rẻ hơn theo ý mình cũng đồng nghĩa với nỗi khổ cực về nóng nực.  Bình thường nhiệt độ đã ba bảy, ba tám độ. Đun nấu trong nhà nhiệt độ sẽ tăng thêm ba bốn độ nữa. Trừ người trực tiếp nấu ăn, kẻ không phận sự xin mời ra ngoài bờ kênh hóng mát.
Ai đã qua kênh Nhiêu Lộc chắc chắn sẽ biết sự ô nhiễm ở đó so với nơi đây chưa là cái đinh gì! Một kiểu “Xóm chiếu” xưa, ngay giữa lòng Hà Nội.
Cũng may là hai cô gái thường ra khỏi nhà từ lúc trời xâm xẩm tối. Họ về khi nào, nó cũng không biết vì lúc đó nó đã say giấc, khi về khuya nóng bức giảm đi ít nhiều. Cửa thường nó không đóng, chỉ khép hờ vì nó ngại phải dậy khi các cô về gọi. Có hôm họ không về, nó đoán có đại gia nào đón họ đi “pích ních” đâu đó ít ngày.
Trong nhà không có đồ đạc gì đáng giá nên không lo trộm cắp, dù xung quanh việc đó thường xuyên xảy ra. Không mấy ngày không có tiếng kêu khóc, cãi vã, chửi bới vì ai đó bị trộm đồ..
Nó có duy nhất cái láp tốp cũ của bố mang theo là đáng kể. Ông Thành phải dùng chung máy tính với vợ để con mang đi.
Học công nghệ thông tin, dù nghèo đến đâu, bắt buộc phải có máy. Nếu không chả khác gì ở nhà quê đi cày không trâu, đi câu không có cần câu vậy! Nó có ý giữ gìn lắm. Lúc nào cũng kè kè bên người, “Vật bất ly thân”. Mà trong phòng nào có tủ ỷ gì đâu mà bảo cất cơ chứ? Sự cẩn thận của nó như đã được “mặc định” rồi. Ngồi ăn, láp tốp để lên đùi, khi ngủ quàng dây đeo vào cổ, như bóng với hình. Dù rằng thực ra cái láp tốp cũ không đáng mấy  tiền. Nếu bây giờ mang ra hiệu cầm đồ, quá lắm, may được hai triệu bạc.
Máy tính là thứ hàng hóa mất giá nhanh chóng như xe lao dốc. Vừa mua trong hàng ra, vì cơ nhỡ, hay không thích, bán lại ít nhất mất non nửa tiền. Mười mấy triệu, có khi chỉ còn lại bốn năm, dù  nhãn hiệu “xịn” thế nào cũng chung số phận, hơn kém nhau không đáng kể.
Nhưng đây là máy của bố. Là báu vật đối với nó. Nếu mất nó, lấy đâu ra tiền để mua cái mới?  Mua máy cũ còn chưa chắc nữa là.. Nó cẩn thận là phải..
Không ai ngờ, có một ngày cái láp tốp thân thiết ấy vĩnh viễn ra đi.
Nó học được bài học gì về cuộc sống của chàng sinh viên trẻ vừa bước ra đời?
**
- Tao không hiểu người như bố mày làm sao lại hớ như thế? Không nghe có câu
“ Thằng nghiện chớ nghe, ca ve chớ tin” à? Làm sao lại tìm chỗ ở chung cho mày với hai con bé đấy được?
- Ai không là người? Cũng có người tốt, người xấu. Không thể đánh giá người ta bằng công việc. Chẳng qua cũng vì hoàn cảnh đưa đẩy cả thôi. Bố tao bận về gấp, có chuyến thăm của ông gì to lắm, tao không biết, bố tao không thể vắng mặt. Ông phụ trách mảng “thời sự chính trị” của báo mà. Định ở tạm mấy ngày “chống móm” cái đã rồi tìm chỗ sau, ai ngờ..
Không để nó nói hết câu, thằng Ngân cao kều gạt đi:
- Còn nghĩ như thế, mày còn khổ. Nghề nghiệp nào làm lâu cũng có cái “Đạo” của nó nhập vào. Nhưng mà thôi, không bàn chuyện ấy nữa, tốt xấu mặc mẹ nó! Giờ thử xem có cách nào lấy lại cho mày cái máy tính được không? Mày đã báo công an chưa? Chẳng nhẽ chịu nó hả? Đấy mày thấy chưa, có phải tự nhiên nó sốt sắng mời rồi đưa ông già mày với mày đến chỗ nó đâu? Không có chuyện tự nhiên người đời tốt với nhau như thế, thằng ngu ạ!
 - Có báo cũng chẳng ích gì.. Đây mày xem – Nó đưa cho thằng Ngân kều tờ giấy gấp làm tư, xé ra từ một quyển vở con. Trong đó viết :
“Chị lạy chú, khi chú tỉnh giấc thì chị đã đi rồi. Nếu chú còn thức chị cũng không dám nói chuyện này với chú. Xin chú đừng nói việc này với bất cứ ai, nhất là đừng đi báo CA!  Không những không làm gì khác được mà con chị sẽ nguy thêm. Chẳng qua bất đắc dĩ chị phải làm vậy, Con chị bị bệnh trọng, nếu không có tiền cháu sẽ chết! Chị đã hết cách rồi, không còn đường xoay sở. Tháng này ít khách quá, kinh tế khủng hoảng, ai còn đi chơi lúc này? Tiền chị kiếm chỉ đủ mồm mình ăn, không lẽ để con chết? Coi như chị mượn chú cái máy tính, cầm mua thuốc cho cháu. Kiếm được tiền, chị sẽ chuộc lại gửi trả chú, để cháu được sống. Trăm ngàn lần xin chú tha thứ cho chị. Dù xấu xa đến đâu chị cũng là con người, vẫn biết điều hay lẽ phải, không phải là súc vật, không biết gì.. Nhưng không còn cách nào khác. Chú có đánh, có giết chị cũng cam lòng và không hận chú. Chỉ xin chú rủ lòng thương, tha cho chị lần nàỳ . Kính thư!”
Đọc xong lá thư, Ngân kều bừng bừng nộ khí:
- Đúng là chó cắn áo rách. Lấy của ai không lấy, lấy của thằng trò nghèo như mày.. giọng lưỡi đàn bà thối, chỉ mày mới tin. Tao thì nhổ toẹt vào những lời mẹ mìn của nó.. Nhưng thôi, cứ tạm gác đó đã. Bây giờ mày tính thế nào? Chả nhẽ mày cứ tiếp tục ở đấy với con kia?
Khánh ngẩn mặt, lúng túng. Ngân kều lưỡng lự một lúc rồi bảo:
- Thôi, ngay bây giờ chuyển sang chỗ tao. Tao với mày dùng chung máy của tao. Tao sẽ đưa mày đến chỗ tao làm. Có việc, vài tháng dành tiền mua cái khác. Chỉ tội chỗ ở hơi chật một chút, hai thằng nằm dở đầu đuôi là ổn chứ gì?
Nó không ngờ, thêm một lần, lại lấy sai lầm này để sửa sai lầm khác!
***
Quán cà phê thằng Ngân kều đưa đến là một quán đặc biệt vắng khách. Điều đó đối với chị chủ quán không thành vấn đề. Chồng chị ta đang công tác ở nước ngoài. Chị mở quán cho “vui cửa vui nhà”. Nhân viên chị tuyển chỉ là nam, không phải nữ. Đặc biệt “phải cao ráo, điển trai cho quán sáng sủa, tươi vui”. Nó may mắn hay không còn chưa rõ, đấy lại là câu chuyện khác. Chỉ biết giờ nó đỡ chật vật, nao núng, rắc rối trong tình cảnh thiếu một nơi che mưa che nắng và nhất là cần có việc làm thêm để sống hàng ngày.
Đột nhiên hôm ấy Hà nội mưa rất to. Từ ngày biến đổi khí hậu, đây là trận mưa được ghi vào lịch sử thời tiết nước nhà. Sấm sét vang trời, một điều lạ chưa từng xảy ra vào mùa thu..



Tiểu luận

Con đường đến với văn chương

Có bao nhiêu cách để trở thành một nhà văn?
Có lẽ là nhiều cách. Cách đầu tiên và phổ biến nhất là khi viết văn được coi như một nghề thì thường người viết đi từ học hành đúng chuyên ngành mà nên. Đó là những người đã chọn viết lách như là một nghề để lập thân và để kiếm sống. Cũng giống như bao nghề nghiệp khác, điều này cũng là hiển nhiên.
Và khác những nghề khác, dù có khi chẳng bao giờ được coi như là một nghề, nhưng nếu có đam mê mạnh mẽ thôi thúc, sẽ có nhiều cách “lắt léo” để trở thành một kẻ viết lách. Có thể tôi là một trường hợp như vậy...

Thuở học trò tôi học khá môn toán và các môn khoa học tự nhiên khác. Tuy rất ham đọc sách và đọc tất tần tật những cuốn sách vớ được, nhưng hầu hết mọi người, kể cả tôi, chẳng ai nghĩ có ngày tôi sẽ viết văn. Đối với tôi thời ấy, viết văn là một công việc gì đó thật xa lạ.
Thời đó có một thứ nghịch lý buồn cười về văn chương: trong khi cái danh xưng “nhà văn” nó luôn gieo trong lòng lũ học trò một sự ngưỡng mộ có phần sang trọng (điều này chủ yếu đến từ các nhà văn tiền chiến) thì trong thực tế, phải cùng đường lắm mới phải đi học văn, nghĩa là lấy môn văn làm môn chính để đi thi đại học rồi vào đời.
Tất cả là từ cái mục đích kiếm cơm mà ra. Kiếm cơm cho tương lai, hay tương lai có thể kiếm được cơm, luôn là mục đích tối thượng của một kẻ đi học. Bởi vậy niềm đam mê văn chương (nếu có) trở thành một thứ quá xa xỉ. Đây là trở ngại khổng lồ nhất cho một kẻ học toán muốn theo văn chương, và thường chẳng có ai vượt qua được chọn lựa này (nếu giả dụ cái kẻ học toán ấy đam mê văn chương thật sự).

Còn có một thứ ngộ nhận khác đã thành nếp sâu trong suy nghĩ của nhiều người khi họ luôn cho rằng: cặp toán – văn nó cũng giống như cặp văn – võ của ngày trước. Nghĩa là một bên là những gã áo dài quần thụng chuyên về sách vở còn bên kia là những kẻ võ biền chỉ được cái “tứ chi phát triển”.
Điều này luôn dẫn đến nhiều hệ luỵ trong suy nghĩ của bọn học trò. Thuở đó tôi cứ nghĩ, toán và văn là hai thế giới khác hẳn, riêng biệt và những kẻ trong đó chẳng có điểm gì giống nhau. Cho nên, thường đám học toán sẽ làm bộ như chẳng khi nào quan tâm đến văn, kể cả việc đọc sách văn học. Còn cái bọn học văn thì suốt ngày ôm mấy cuốn sách cốt chỉ để học cho thuộc mấy cái dàn bài phân tích mẫu. Đây là lối học văn huỷ diệt tâm hồn. Bởi vậy rất khó hình dung nếu một ai đó lại vừa giỏi văn lại vừa giỏi toán.
Toán – văn đã trở thành gần như là một cặp phạm trù đối lập không có điểm chung.
Nếu để ý sẽ thấy còn có nhiều thứ “đối lập” giả tạo như vậy nữa trong môi trường XHCN. Chẳng biết căn cớ của chuyện này là đâu, có khi là từ não trạng “biện chứng duy vật” mà ra. Cái phép biện chứng này nó đòi hỏi kẻ vận dụng phải tìm cho ra các cặp đối lập, nếu không có thì phải nặn cho ra, để từ đó mới có cơ sở đưa ra các hợp đề.
Theo tôi, ở con người, trí thông minh có vẻ đa dạng, nhưng thực chất đều dựa trên nền tảng luận lý. Đối với tôi, tư duy logic trong toán học cũng chẳng khác gì so với các tư duy luận lý trong sáng tạo văn chương. (Dĩ nhiên, ở đây, phải loại bỏ những thứ “giả văn học” đi. Những thứ văn chương dối trá đó không cần đến năng lực sáng tạo, đó chỉ là sự bịa tạc). Chúng có cùng hình thái, chỉ có công cụ sử dụng, đối tượng ứng dụng và sự biểu lộ trong mục đích thực tế là khác nhau. Tôi chẳng bao giờ cho rằng các suy tưởng trong “hình học phi Euclid” lại kém “tưởng tượng” hơn trong các sáng tác của Kafka, hay ngược lại.
Nhưng cái gì đã làm nên sự khác biệt giữa hai công việc làm toán và viết văn?
Đó chính là những “cảm hứng nhân sinh”.
Một bên lấy các nguyên tắc thuần lý làm đối tượng cho nguồn cảm hứng sáng tạo với công cụ là các ký hiệu, còn bên kia là từ đời sống con người với công cụ là ngôn ngữ.
Nói chung, thứ văn chương mà tôi tâm đắc là thứ dựa trên nền tảng luận lý và niềm cảm hứng nhân sinh.

Nhưng cho dù thế nào, nói cho chính xác, thứ văn chương mà tôi đề cập ở trên, trước tiên phải là văn chương trung thực. Trung thực nghĩa là kẻ viết phải viết đúng cái mà mình cảm nhận được, phải “bất tự khi dã”. Để có những tác phẩm có giá trị, người viết, ngoài các năng lực bẩm sinh, cần phải tôi luyện và học hỏi từ nhiều nguồn. Nhưng để có thể được gọi là văn chương – theo cái nghĩa đích thực nhất của từ này – thì phải trung thực.
Đừng bắt tôi phải định nghĩa nhiều hơn về văn chương trung thực: nó thuộc về cảm nhận. Và nó chủ yếu thiên về khía cạnh đạo đức hơn là kỹ thuật. Một khi bạn đã biết về những thứ văn chương dối trá, bạn sẽ chẳng khó khăn gì để nhận ra được nó. Có một sự khác biệt rất lớn giữa văn chương trung thực với thứ văn chương bịa tạc, cho dù vẻ bề ngoài chúng giông giống nhau. Chẳng có gì huỷ diệt niềm đam mê văn chương hơn những thứ giả danh văn chương ấy.
Khi bạn sinh ra và lớn lên, rồi được giáo dục hoàn toàn trong một bầu khí quyển đạo đức dối trá, không những bạn sẽ rất khó nhận ra sự trung thực mà còn sợ nó nữa, thậm chí là thù ghét nó. Nếu thế giới này cứ mãi mãi lùi lại như thời cách đây vài chục năm... có lẽ sẽ chẳng có ai thắc mắc gì về những tác phẩm “xuất sắc” của nền văn chương hiện thực XHCN. Nhưng dòng chảy của văn minh nhân loại luôn luân chuyển... Đó là sự xuất hiện của internet, và từ đó là biển thông tin. Đến một lúc, tình cờ vén đám mây dối trá đó lên, bạn nhận ra có nhiều thứ tươi sáng ngoài kia...

 Vâng, có nhiều cách để đến với văn chương nhưng sẽ chẳng có cách nào mà không phải do đam mê dẫn dắt và sự trung thực soi đường. Nhưng đôi lúc, để niềm đam mê ấy trở nên hiện thực, cũng phải cần những khích lệ. Đối với tôi, T. v là niềm khích lệ lớn lao để tôi bước vào con đường viết lách.

Cho nên nếu bạn đam mê văn chương thì hãy viết ngay đi, cho dù bạn đang làm nghề gì. Hãy viết, trước khi chết.
Vả lại, ở cái xứ này, ngoài việc viết lách thì còn có thể làm được gì khác nữa?

Trà Đoá

Thơ Trần Hữu Dũng

Phập phù vỉa hè Sài Gòn
 
Vỉa hè Sài Gòn phơi bày lổn nhổn
Nắng/gió/bụi đời/chất giang hồ lãng tử
Vẽ nên chân dung một thế hệ bơ vơ
Nơi chơi trò địa ngục/thiên đàng
 
Vỉa hè Sài Gòn thức sớm và ngủ muộn
Ăn trộm giấc mơ tuổi trẻ phập phù
Ngoằn nghoèo bay theo đường tưởng tượng
Hét tên nhau, hậm hực bỏ đi
Cố sáng tạo lại mọi thứ nhớp nhơ, xoá sạch ký ức nâu
 
Rồi bạn đi tù, em biệt tăm xa xứ
Vỉa hè hiện nguyên hình trong nỗi nhớ
Giống trang nhật ký ố vàng xao xác gió mùa hè
Lập loè đốm lửa ma trơi thiêu cháy bao điều hư tưởng.
 
 
 

Gặp bạn

Trời xanh màu mắt
Người qua núi
Câu hát
Bàn tay vời cố nhân
Sỏi đá muôn đời không biết nói
Đầu không nghoảnh lại
Đường đâu gần?

Lại vẫn loanh quanh câu chuyện cũ
Trời nồng
Khó nói chuyện thế nhân
Biết cả
Mà không như.. gì cả
Rượu tàn
Trăng mỏi
Lòng băn khoăn !

Thân mãi vật vờ cây bên suối
Khéo uốn qua bao đợt lũ tràn
Xơ xác thân gầy còn cười gượng
Sau nhà nghe tiếng trẻ râm ran

Gặp bạn thêm rầu
Lòng thương bạn
Được mấy mươi năm một kiếp người?
khôn khéo cả đời lo tránh hão
Không thà
Một ngày được dong chơi?


Thứ Tư, 2 tháng 1, 2013

Giả vờ






Bạn thân mến của tôi, tôi biết khi nghe lời nói thật
Anh sẽ giả vờ ngáp vặt, quay đi
Chúng ta chưa quen những lời gay gắt
Khiến gười ta có thể bỏ đi,
hay có thể quay về..

Mặc dù điều nói ra không có gì khó lắm
Thường vẫn xảy ra
Phơi,
phóng mỗi ngày..
Những điều vô tình người ta kể cho tôi,
Hay có lúc chính tôi người trong cuộc

Chúng ta đông đảo = nhưng thực ra chúng ta cực kỳ đơn độc !
Không rõ người ngồi gần ta khi ấy nghĩ gì?
Người ta nói..
Không hiểu vì sao lại nói ?
Những câu nhàm
chẳng biết để làm chi ?

Thì thôi cứ giả vờ nghe
Tán nhăng, tán cuội chuyện : “Chè đỗ đen”
Tai dày rồi cũng nên quen
Uốn lưng mãi cũng sẽ nên nghiệp nhà !
Giả vờ
Hay thiệt
Ha Ha !!

Thơ tôi viết..


Bệnh của người đời!

Name:  chicken_4178.jpg
Views: 25495
Size:  190.4 KB

Bệnh gút
Béo phì
Và vô cảm..
Đang bao vây trái tim con người..
Chưa có bao giờ người ta quan tâm nhiều đến vậy
Thời trang
Son phấn và vui chơi
Nắc nẻ thâu đêm là những trận cười..

Những lớp mỡ dày lên khuôn mặt
Ánh hoàng kim soi trong mắt yêu đời!
Đường lắm xe
Quán ba đông chật
Và rất nhiều..
 hờ hững bàn tay..

Mấy cụ trí thức già ngồi bên cửa sổ
Nhớ thời liệt oanh
ngửa cổ kêu trời
Thương đất nước từng là “Lương tâm thời đại”!
Sao hôm nay ..
Tình yêu ấy đâu rồi?

Tìm đâu ra những người đan sọt?
Để ta mang vô cảm vô tình..
Mang hết cầu an và nịnh nọt
Chôn sâu ngàn thước dưới chân mình..
Biển trong lại như ngàn đời vẫn thế..
Như bao đời ngày xanh..
Vẫn xanh !


Thơ ba ta:

thế gian ngày chưa tận

thế gian ngày chưa tận
em chưa lên thiên đàng
tôi không sa hoả ngục
mình vẫn còn lanh quanh

ta bắt đầu ngày mới
dành cho nhau nụ cười
giữa cuộc đời muốn khóc
con người rồi dễ thương ..