Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Tư, 15 tháng 4, 2020

Vụ án “Về Kinh Bắc” – một sự kiện hậu Nhân Văn


Hoàng Hưng
Gần đây trên mạng xuất hiện một số tư liệu mới về phong trào Nhân văn – Giai phẩm. Tiểu luận mang tên “Vụ Nhân văn – Giai phẩm từ góc nhìn một trào lưu tư tưởng dân chủ, một cuộc cách mạng văn học không thành” của nhà văn Lê Hoài Nguyên, nguyên đại tá Cục An ninh Tư tưởng Văn hóa Bộ Công an (A 25), là một tư liệu quan trọng góp phần vào lịch sử đấu tranh dân chủ của nước Việt Nam hiện đại. Trong tiểu luận trên, tác giả xếp vụ án “Về Kinh Bắc” 1982[1] vào mục “Hậu Nhân văn”. Chính điều này đã gợi hứng cho tôi quyết định viết về vụ “Về Kinh Bắc” với tư cách người trong cuộc, mong góp thêm phần hoàn chỉnh tư liệu về phong trào lịch sử này.
th_-hoàng-c_m-lá-diêu-bông
Một trang trong tập bản thảo “Về Kinh Bắc”
Vụ án “Về Kinh Bắc” chắc đã được khởi động từ quãng giữa năm 1982, khi anh Nguyễn Mạnh Hùng, TS Kinh tế, GS đại học ở Canada, cũng là nhà văn Việt Nam hải ngoại có bút hiệu Nam Dao, đang làm việc/thăm chơi ở Hà Nội, xin nhà thơ Hoàng Cầm một bản chép tay tập thơ Về Kinh Bắc (VKB) để đem về Canada. Nguyễn Mạnh Hùng được chính quyền Việt Nam coi là “Việt kiều yêu nước”, đã đóng góp tích cực cho phong trào ủng hộ miền Bắc, chống Mỹ và chính quyền miền Nam từ khi còn là sinh viên ở Canada. Sau khi đất nước thống nhất, anh đã nhiều lần về nước, có tham gia tư vấn cho chính phủ về kinh tế. Mặt khác, anh lại quan hệ thân thiết với các nhà văn trong nhóm Nhân văn – Giai phẩm, đặc biệt với nhà thơ Hoàng Cầm mà anh yêu mến.
Việc Hoàng Cầm cho Nguyễn Mạnh Hùng một bản chép tay VKBchẳng có gì cần bí mật, khi chưa hề có văn bản hay chỉ thị miệng của cấp thẩm quyền nói rằng tập thơ bị cấm lưu hành. Vả lại, ở cái quán rượu 43 Lý Quốc Sư mà Hoàng Cầm sống nhờ vào đó từ nhiều năm, lúc nào cũng chật khách trầm ngâm say và âm u khói thuốc, trong đó hầu hết là những người yêu văn nghệ “ngoài luồng”, và không ít “đặc tình” (cộng tác viên, nói nôm na là chỉ điểm của CA), “cá chìm” (tiếng lóng để chỉ trinh sát công an thường phục), thì có gì liên quan đến ông Hoàng “thơ chui” này mà giữ kín được! Nhưng muốn hiểu vì sao có vụ án “Về Kinh Bắc”, phải ngược thời gian lên mười năm trước, khi một số bài trong bản thảo VKBbắt đầu được truyền tay hơi rộng trong giới yêu thơ, trong đó ba bài “Cây tam cúc”, “Lá diêu bông”, “Quả vườn ổi”(thường được gọi là bộ ba cây-lá-quả) được mến mộ nhất – phần quan trọng vì chúng được xì xầm diễn giải như lời oán trách của “em” (văn nghệ sĩ) với “chị” (Đảng), đại khái “em” yêu “chị”, nhưng “chị” đã lừa “em”, cho “em” ăn toàn “quả rụng”, rồi bỏ mặc “em” bơ vơ để đi lấy chồng… Theo Hoàng Cầm kể, thì năm 1974, CA Hà Nội có kêu tác giả lên răn đe về việc lưu truyền những bài thơ “có nội dung xấu” ấy. Hoàng Cầm phải ngưng, nhưng sau 1975, với không khí hào hứng của những ngày “miền Nam nhận họ, miền Bắc nhận hàng”, VKB lại có thêm độc giả ở miền Nam, và đến 1979, sự giao lưu với nước ngoài bắt đầu được cởi mở hơn, một số Việt kiều đã có được một số bài thơ chép tay của nhà thơ, trong đó dĩ nhiên “bộ ba cây-lá-quả” vẫn đứng đầu bảng. Hoàng Cầm có kể đích danh một nữ bác sĩ xưng tên là Cần Thơ ở Pháp đã xin ông gửi cho một số bài thơ, sau này bà cho biết bà là đệ tử của thiền sư Thích Nhất Hạnh ở Làng Mai. Trong khi xét hỏi bản thân tôi, một sĩ quan CA cho biết: VKB bắt đầu thành vấn đề nghiêm trọng chính là vì mấy bài thơ này được in trên một tờ báo ở Pháp kèm theo lời bình mang tính chống đối chính trị. Theo Hoàng Cầm thì CA có đọc cho ông nghe bài viết ấy trên báo Đất Mẹ (Quê Mẹ?)[i]
Tóm lại, chậm nhất là vào mùa thu 1982, một chuyên án VKB đã được mở ra, với mục đích ngăn chặn việc đưa bản thảo này ra nước ngoài và bắt tội tác giả của nó, hoặc đơn giản chỉ là mượn cớ việc chuyển bản thảo này ra nước ngoài để trừng trị tác giả cho bõ ghét. Theo Hoàng Cầm thì khả năng 2 là chính, ông nhất định cho rằng chính Tố Hữu là người chủ trương, vì căm ghét Hoàng Cầm đã dám chê thơ ông ta (vụ phê bình tập Việt Bắc năm 1956), chưa kể đã “dám nổi tiếng” hơn ông ta trong kháng chiến! Và cũng theo Hoàng Cầm, để làm việc này, Tố Hữu đã sử dụng một số “CA riêng” của mình.
Thế là trong lúc một cái lưới đang giăng ra xung quanh quán rượu Hoàng Cầm ở 43 Lý Quốc Sư, thì tôi ở Sài Gòn ra, vô tình chui vào đó, trở thành con cá to (?) cuối cùng để CA cất vó!
Vì sao định mệnh lại chọn tôi làm con cá oan nghiệt kia? Suốt mấy năm trời trong trại giam tôi vẫn tự hỏi, vì xét theo logique, tôi chẳng thể nào hình dung mình có ngày “ách giữa đàng đâm quàng vào cổ” như thế.
Bởi lẽ thứ nhất: từ khi Hoàng Cầm hoàn thành VKB (mùa Xuân 1960) cho đến tháng 8 năm 1982, đã có hàng trăm bản chép tay của nó được lưu truyền, mà không thấy ai làm sao, cũng không ai phổ biến lệnh cấm dù chỉ là lệnh miệng. Lý lẽ này tôi lặp đi lặp lại trong các buổi hỏi cung, tôi còn vặn lại người cán bộ xét hỏi: “Để một tài liệu ‘phản động’ tự do lưu truyền trong 20 năm như thế thì trách nhiệm của cơ quan an ninh ra sao?”. Tất nhiên họ không trả lời được. Và hậu quả của sự “cứng đầu” cộng với ngây ngô của một anh nhà-giáo-nhà thơ-đi-làm-báo tưởng rằng trên đời có thứ gọi là công lý, là tôi phải nhận đến 39 tháng tù trong khi “đầu vụ” chỉ có 16 tháng!
Lẽ thứ hai là quan hệ của tôi với tác giả VKB vốn không có gì mật thiết. Là một trong số những nhà thơ trẻ nổi bật của “thế hệ chống Mỹ”, nhưng vì “trót” đọc được tiếng Pháp, tôi sớm giác ngộ về “Chủ nghĩa xã hội với bộ mặt người” qua những sách báo tiếng Pháp ở ngay trong Thư viện Quốc gia (Nhà nước cho rằng rất ít người biết tiếng Pháp nên không kiểm duyệt bỏ những ấn phẩm tiếng Pháp “nhạy cảm” được nhập vào đó theo con đường viện trợ, trao đổi). Đó là thuyết “chủ nghĩa hiện thực không bờ bến” của Roger Garaudy, một nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản Pháp, những tư tưởng “xét lại” của George Lukács, nhà lãnh đạo cộng sản Hungary, tiểu thuyết Docteur Jivago của B. Pasternak, các tài liệu về Đại hội Đảng Cộng sản Liên Xô lần thứ XX, về những biến động ở Hungary, Tiệp Khắc… Những sách vở ấy cộng với thực tế nhiều phũ phàng mà tôi va chạm trong mấy năm dạy học và “đi thực tế sáng tác” ở vùng công nghiệp Hải Phòng, Quảng Ninh, cộng với sự đổ vỡ niềm tin chiến thắng sau Tết Mậu Thân và cái chết của “Bác”, khiến tôi ngày càng hoài nghi sự đúng đắn của chế độ. Tất nhiên tôi cũng nhìn lại phong trào Nhân văn – Giai phẩm bằng con mắt hoàn toàn khác những gì Đảng dạy. Vì thế, cuối năm 1969, khi đã viết một số bài thơ “ngoài luồng” không thể công bố, tôi tìm đến làm quen với anh Văn Cao qua dịch giả Dương Tường. Chính Văn Cao là người đã khuyến khích tôi tiếp tục lối thơ “bàng thống” mà tôi đang bước vào. Anh trở nên thân thiết với tôi, và đã đứng chủ trì buổi tiếp bạn bè văn nghệ trong ngày cưới của vợ chồng tôi đầu năm 1975. Với Hoàng Cầm thì khác. Không chỉ “có vấn đề” về tư tưởng, ông còn tai tiếng là con nghiện (thuốc phiện) và chủ quán rượu chui. Tôi – một nhà thơ trẻ đang được ưu ái, lại là nhà giáo và nhà báo của ngành giáo dục (BáoNgười Giáo viên Nhân dân), cũng thấy ngại dây dưa! Mãi sau khi đã chuyển vào Sài Gòn công tác, tư tưởng ngày càng “diễn biến hòa bình” do tác động của cuộc sống và sách vở tàn dư của chế độ Sài Gòn, trong một lần ra Hà Nội vào cuối những năm 1970 hay đầu 1980, tôi mới tìm đến Hoàng Cầm, cũng do Dương Tường đưa dắt. Chính lần ấy, tôi được nhà thơ khoe một bản thảoVKB do ông chép tay chữ rất đẹp, bay bướm uyển chuyển, có mấy phụ bản tranh của Bùi Xuân Phái vẽ các cô gái quan họ. Đó là tập bản thảo mà ông đã bán cho ông Lâm chủ quán cà phê chuyên sưu tầm tranh của các hoạ sĩ nổi tiếng ở Hà Nội, nay ông mượn lại, có lẽ để khoe với những người bạn mới, có thể là Việt kiều chăng? Nhân dịp, tôi đã xin nhà thơ chép cho ba bài Cây – Lá – Quả đem về Sài Gòn khoe vài người bạn văn nghệ “chui” vốn là dân Sài Gòn cũ (trong đó có anh Phương Kiến Khánh, sau trở thành nhà thơ Chân Phương ở Mỹ).
Trong chuyến ra Hà Nội tháng 8 năm 1982, định mệnh xui khiến tôi lại đến với Hoàng Cầm ngoài chủ ý. Một bữa tôi gặp Dương Tường trên phố, anh sốt sắng bảo tôi đến an ủi Hoàng Cầm vì nhà thơ vừa trải qua một bi kịch: con gái yêu của ông là nữ diễn viên kịch Hoàng Yến chết đột ngột – nghe đâu là tự tử. Tôi đến chơi, lại nghe ông than là vừa bị mất tập bản thảo VKB mượn lại của Lâm cà phê (chắc hẳn CA đã lấy đi làm hồ sơ cho vụ án VKB đang chuẩn bị). Ông tỏ ra rất tiếc xót, vì khó có cơ hội làm lại một tập đẹp như thế. Tôi hứng lên, nói sẽ làm lại cho ông một tập đẹp hơn thế. Ông bảo tôi đến gặp Trần Thiếu Bảo ở phố Bát Đàn, nhờ ông này mua giấy và bút bi loại tốt để ông chép. Trần Thiếu Bảo nhận lời ngay. (Chỗ này, nhân thể nói bài nghiên cứu của tác giả người Đức Heinz Schütte công bố trên talawas 31/7/2010 có chỗ lầm: ông cựu giám đốc NXB Minh Đức sau khi ra tù không bị chỉ định cư trú ở Nam Định cho đến chết, ông đã được về lại Hà Nội từ lúc nào đấy, và vào năm 1982, ông đang chuẩn bị mở quán ăn để sinh sống tại số 5 (?) Bát Đàn. Thế là việc chép tay VKB tiến hành. Tôi đồng thời đến xin Văn Cao một phác hoạ làm bìa tập thơ VKB, và xin Bùi Xuân Phái mấy phụ bản. Ít ngày sau, tôi vui sướng có trong tay một bức hoạ mấy cái lá bay (chắc là “lá diêu bông”) của Văn Cao và 4 phụ bản màu nước của Bùi Xuân Phái vẽ những cô gái quan họ nón quai thao áo tứ thân. Có một chi tiết mà những ngày đó tôi đã bỏ qua. Trong thời gian này, tôi hầu như ngày nào cũng đến quán rượu Hoàng Cầm để giục nhà thơ chép cho xong tập thơ. Một tối, tôi trông thấy trong quán có một người quen, anh nguyên là giáo viên cùng dạy học với tôi ở Hải Phòng, nhưng đã chuyển về Hà Nội, nghe đâu làm ở Bộ Công an, vì anh là cháu ruột ông tướng CA nổi tiếng Nguyễn Công Tài. Thấy tôi, anh cất giọng lè nhè như của người say rượu bảo: “Cái ông Hưng này đến là rách việc”. Tôi hồn nhiên không để ý, chỉ cười rồi đi ra. Sau khi bị bắt tôi mới đoán rằng anh bạn đồng nghiệp cũ có lòng tốt cảnh báo để tôi khỏi sa bẫy. Nhưng lúc đó tôi hoàn toàn ngây thơ và tự tin việc xin thơ Hoàng Cầm chẳng có vấn đề gì mà phải đề phòng!
bia-tho222-2_Page_2
Bìa tập thơ “Về Kinh Bắc” do Trần Thiếu Bảo vẽ
Ngày Hoàng Cầm hoàn thành việc chép VKB, tôi muốn nhân đó có một cuộc liên hoan nhỏ với các bậc đàn anh để ăn mừng và cũng là để chia tay lên đường vào lại Sài Gòn. Ông Trần Thiếu Bảo đề nghị làm ngay tại nhà ông ấy, như cũng để khai trương quán của ông. Đầu bếp là Phan Tại, nhà viết kịch và cũng là đồng phạm của ông trong vụ xử án “gián điệp phản động Nhân văn – Giai phẩm” năm 1960. Trong bữa ăn vui vẻ tình cảm dạt dào giữa những người cùng tâm sự (có Hoàng Cầm, Văn Cao, Bùi Xuân Phái, Trần Thiếu Bảo, Phan Tại; tôi tuy vong niên nhưng được các đàn anh cư xử như kẻ ngang hàng), ông Bảo khoe mọi người hai cái “bìa” cho tập VKB và tập thơ của tôi mà ông trình bày theo lối siêu thực (Trước đó ít lâu, tôi có khoe một tập bản thảo thơ “chui” của mình cho một số bạn văn nghệ ở Hà Nội, trong đó có Nguyễn Thuỵ Kha, tập thơ gây ấn tượng khá mạnh vì sự phá cách của nó. Ông Bảo xin mượn ít hôm). Sau liên hoan, ông Bảo đề nghị tôi cho ông mượn tiếp tập ấy cùng với tập VKB vừa mới hoàn thành.
Th_-Hoang-Hung
Bìa tập thơ Hoàng Hưng do Trần Thiếu Bảo vẽ
Những ngày sau đó, tôi lo chuẩn bị để lên đường, nên định bụng trước khi đi mới đến nhà ông Bảo lấy lại hai tập thơ. Không hiểu sao ông Bảo rất sốt ruột, ngày nào cũng đến nhà bà chị tôi (là nơi tôi ở nhờ trong thời gian lưu lại Hà Nội) thúc giục tôi tới lấy! (Sau mới ngã ngửa ra là Trần Thiếu Bảo bị CA khống chế, phải làm chỉ điểm cho họ, ít ra là trong vụ VKB này. Nếu vì lý do gì đó mà tôi không đến lấy hai tập bản thảo, thì vụ án bị hẫng to!)
Hoá ra họ đã sắp xếp rất chu đáo để “cất vó” VKB mà tôi là một con cá hẩm hiu ở đâu đến chui đầu vào lưới. Sau này một anh CA quen thân với gia đình anh cả tôi còn cho biết họ đã bí mật theo dõi, quay phim tôi suốt nửa tháng trời mà tôi không hề để ý!
HH-truoc-ngay-bi-bat
Hoàng Hưng trước ngày bị bắt tháng 8/1982
Chiều 17/8/1982, sau khi sắp xếp xong hành lý để đi chuyến tàu tối xuống Hải Phòng và sáng hôm sau đi tàu biển vào Sài Gòn, tôi đến nhà Trần Thiếu Bảo lấy lại 2 tập thơ. Vào trong quán, tôi thấy hai người đàn ông đang ngồi uống nước. Sau vào trại giam đi “cung” mới biết đó là ông Khổng Minh Dụ ở A25, sau này sẽ là Thiếu tướng Cục trưởng và cũng là “nhà thơ”, và anh Thuận, trợ lý của ông, sau này sẽ là Cục phó Cục chống Bạo lọan. Tôi cứ hồn nhiên cầm tập thơ đi ra, lên xe đạp phóng. Được một đoạn, bỗng có hai anh thanh niên đèo nhau xe gắn máy ép tôi vào lề đường. Hai anh nhảy xuống, giữ tôi lại, bảo: “Cái xe đạp anh đang đi là xe của chúng tôi bị mất cắp”. Tôi kinh ngạc, vì tôi đang đi chiếc xe của bà chị ruột. Đang cãi qua cãi lại, thì một công an mặc sắc phục ở đâu tiến tới, nói: “Các anh lộn xộn gì thế, mời về đồn giải quyết”. Đồn CA gần đấy là đồn Hàng Bạc. Vào trong đồn, anh CA xưng là đồn trưởng, yêu cầu tôi bỏ hết các thứ trong túi xách ra. Thấy tập bản thảo của Hoàng Cầm, anh ta hỏi: “Cái gì thế này? Thơ à? Thơ của ai đây?”. Tôi đáp: “Của Hoàng Cầm.” “Hoàng Cầm là ai? Anh ngồi đây đợi, cái này tôi phải xin ý kiến cấp trên”. Tôi ngu đến mức vẫn chưa biết đây chỉ là một màn bi hài kịch dàn dựng sẵn.
Sau khoảng 20 phút chờ đợi, anh đồn trưởng bước vào, bảo: “Đây là ý kiến cấp trên”. Anh giở ra một tờ giấy, đọc: “Lệnh bắt và khám xét khẩn cấp” vì tội “lưu truyền văn hoá phẩm phản động”. Thế là nhanh như cắt, hai anh thanh niên “mất xe đạp” lúc nãy hiện nguyên hình là CA, áp giải tôi lên xe bịt bùng, đưa về… Hoả Lò!
VE KINH BAC
Bìa tập thơ “Về Kinh Bắc” vẽ tay của tác giả gửi nhà thơ Hoàng Hưng
Ngày 20/8/1982 thì đến lượt Hoàng Cầm bị bắt. Còn Nguyễn Mạnh Hùng, khi ấy đang ở Sài Gòn chuẩn bị bay về Canada. May được Dương Tường kịp báo hung tin, anh gửi ngay tập bản thảo VKB cho Cao Xuân Hạo giữ, ra sân bay vô tang. (Tuy nhiên, khi khám xét hành lý của tôi, CA thu được một bức thư Hoàng Cầm nhờ tôi đưa cho Nguyễn Mạnh Hùng khi vào Sài Gòn, thư dán kín nên tôi không biết nói gì trong đó). Hùng bị cấm cửa về Việt Nam trong suốt 20 năm. Chuyến anh trở lại Việt Nam sau 20 năm ấy, lần đầu tiên hai người “đồng phạm” bất đắc dĩ chúng tôi mới gặp nhau.
Sau khi tôi và Hoàng Cầm bị bắt, tin đồn lung tung, có cả tin tôi bị bắt vì mang thuốc phiện lậu! Theo nhà báo Trần Đức Chính, TBT tờ báo của Hội Nhà báo VN, thì có tờ báo hồi ấy đăng tải cả một chuyện vụ án mang tên “Vụ án hai ông Hoàng” với nhiều tình tiết ly kỳ! Gần đây, một số sách báo ở nước ngoài và trên mạng vẫn viết là Hoàng Hưng bị bắt vì âm mưu chuyển tập thơVKB vào sứ quán Pháp! Mới biết trí tưởng tượng của người ta phong phú thật!
Kết cục của vụ án tóm tắt như sau: Hoàng Cầm sau mấy tháng bị giam thì kiệt sức vì bị khủng bố tinh thần liên tục mà lại không có nàng tiên nâu trợ lực, phải nhận tội phản động, chống Đảng, chống chủ nghĩa xã hội, chống chế độ, để mong sớm được ra.
Tôi không thể nào quên cái buổi sáng ấy trong Hỏa Lò. Sau mấy tháng không thuyết phục được tôi thừa nhận VKB là “phản động”, CA để tôi nghỉ một hơi dài. Rồi bỗng một hôm tôi lại được gọi đi “làm việc”. Người CA đưa tôi vào một phòng hỏi cung, nhưng không có ai trong đó. Mà lại có một tập giấy thếp viết sẵn để trên bàn. Tôi tò mò giở ra, thì… trời ơi, đó là bản tự khai của Hoàng Cầm, tôi nhận ra chữ viết rất nắn nót, đẹp, của ông. Tôi đọc lướt, càng đọc càng hoang mang vì ông nhận tuốt tuột các ý tưởng chống Đảng, đả kích chế độ… trong tập thơ. Để cho tôi một mình đọc xong, người ta mới đưa tôi trở lại phòng giam. Và họ bố trí rất khéo, để như tình cờ tôi gặp Hoàng Cầm đang ngồi ở cổng chờ (giữa khu trại giam và khu “làm việc” có một cái cổng lớn, sau khi “làm việc” xong phạm nhân ngồi đó chờ “quản giáo” ra nhận để đưa vào buồng giam). Tôi xông đến bên ông, hỏi gay gắt: “Anh nhận tội phản động thật à? Sao lại thế?” Hoàng Cầm cúi đầu xuống, không nói gì, từ khóe mắt ông lăn ra những giọt nước mắt. Đến tận hôm nay, nhớ lại những giọt lệ tủi nhục của nhà thơ đàn anh, lòng tôi vẫn còn đau. Với tôi, tự buộc mình phải hèn để có thể tồn tại là điều không gì đau hơn cho một kẻ sĩ.
hỏa lò
Thăm lại phòng giam ở Hỏa Lò nhân “Nghìn năm Thăng Long” (2008)
Nhưng trong lúc Hoàng Cầm ngong ngóng CA thực hiện lời hứa (?) cho về vào dịp Tết, thì một số trí thức Pháp do Thiền sư Thích Nhất Hạnh vận động đã gửi thư cho Lê Đức Thọ đề nghị thả nhà thơ. Tin đến tai Tố Hữu, ông “bạn thơ” quý hoá phán một câu xanh rờn: “Nước ngoài can thiệp hả? Thế thì giam thêm 1 năm nữa cho biết!” (theo lời Hoàng Cầm kể, Hoàng Hưng ghi, đăng trên talawas mở đầu tập VKB 5/4/2007). Thế là Hoàng Cầm bị giam tổng cộng 16 tháng (20/8/1982 – trước Noel 1983).
Còn bản thân tôi, chỉ vì tội bướng, mà bị CA lục tung nhà trong Sài Gòn suốt một ngày trời. Họ tìm ra một số trang nhật ký bằng văn vần làm từ đầu thập kỷ 1970 mà CA nhận định là “phản động gấp 100 lần thơ Hoàng Cầm” (lời ông Khổng Minh Dụ)[2]. Sau gần ba năm điều tra rất công phu mà không tìm thấy gì chứng tỏ tôi nằm trong đường dây liên lạc với bọn “văn nghệ sĩ phản động hải ngoại”, cuối cùng, nhờ là “cán bộ nhà nước phạm tội lần đầu”, tôi được đặc ân “chỉ xử lý hành chính nội bộ chứ không bị truy tố ra toà” (lời viên CA khi công bố lệnh “tập trung cải tạo” dành cho tôi). Mãi đến cuối năm 1985, nhờ không khí chính trị có phần nới lỏng trước Đổi mới, và nhờ người anh ruột là bác sĩ phục vụ các cán bộ cao cấp đứng ra bảo lãnh, tôi mới được về sau 39 tháng tù, với cái lệnh tha mang tội danh được cải thành “lưu truyền văn hoá phẩm đồi trụy” (!) Không hiểu sao lại có sự cải đổi từ “văn hoá phẩm phản động” sang “đồi trụy” như thế? Chắc là CA không muốn có bất cứ bằng chứng nào chứng tỏ có tội danh “phản động” trong luật pháp Việt Nam, cũng như họ không bao giờ thừa nhận có “tù chính trị” vậy. (Những người bạn vong niên của tôi bị tù đầy trong vụ án “xét lại” khi ra tù không ai được cầm lệnh tha hay giấy ra trại!)
Một điều an ủi lớn cho tôi: bị nhà nước bỏ tù, nhưng tôi được đồng nghiệp bạn bè cảm thông. Thời gian tôi bị bắt, có chuyện được coi là hy hữu: Báo Người Giáo viên Nhân dân, cơ quan tôi, hết sức bênh vực tôi. Báo còn trả lương đều đặn và gửi quà cho tôi, bất chấp CA phàn nàn; phải 2 năm sau, khi CA công bố lệnh tập trung cải tạo với tôi, báo mới đành ngưng việc ấy và Bộ Giáo dục mới ra quyết định “cho ông Hoàng Hưng thôi việc vì vi phạm pháp luật bị tập trung cải tạo” (chứ không “buộc thôi việc” như thường thấy trong các vụ tương tự). Người có vai trò lớn trong chuyện này là nhà báo Trường Giang, Bí thư Chi bộ Đảng, Thư ký Toà soạn báo NGVND. Ở Sài Gòn, gia đình tôi lâm vào cảnh “vợ dại con thơ” cực kỳ khốn đốn, có những bữa phải ăn chuối trừ bữa, nhưng bù lại đã nhận được sự thông cảm yêu thương của tất cả bà con khu phố, kể cả anh cảnh sát khu vực, của các thầy cô gíao dạy cháu Hoàng Ly.
Sau khi ra tù, Hoàng Cầm mất hằng năm trời sống trong trạng thái thường trực hoảng loạn, hậu quả của thời gian tù ngục. Nhờ sự động viên của bạn bè văn nghệ ông mới dần dần hồi phục. Sau Đổi mới, thơ Hoàng Cầm bắt đầu tái xuất, nhưng riêng VKB còn bị CA ngăn trở dài dài cho đến tận năm 1994 mới ra mắt được. Hoàng Cầm trở thành gương mặt của truyền thông không thua gì các “sao”, cuối cùng ông được trao tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học (2007). Tuy nhiên, cho đến khi ông qua đời (tháng 5/2010), chính quyền không hề có một lời minh oan hay xin lỗi, đừng nói gì đến bồi thường cho những năm tù đầy oan ức của ông.
Gap-go-o-nha-HH-SG
Gặp gỡ ở nhà Hoàng Hưng (Sài Gòn) sau Đổi Mới: từ trái sang: vợ chồng Hoàng Hưng, nhà điêu khắc Trương Đình Quế (?), vợ chồng Văn Cao, Hoàng Cầm, nhà điêu khắc Nguyễn Hải
Còn tôi, ngay sau khi tôi ra tù, GS Nguyễn Văn Hạnh, Thứ trưởng Bộ Giáo dục, thầy dạy cũ của tôi ở Khoa Văn Đại học Sư phạm, ngỏ ý sẵn sàng nhận tôi làm việc ở cơ quan Bộ. Nhưng tôi chọn tiếp tục nghề báo, và năm 1988, tập Ngựa biển bao gồm hầu hết những bài thơ trong tập bản thảo của tôi bị CA tịch thu năm 1982, là tập thơ “ngoài luồng” đầu tiên tự xuất bản ở nước ta sau Đổi mới, nhờ được anh Trương Văn Khuê, Giám đốc NXB Trẻ cương quyết bảo vệ. Từ đó tôi in thơ bình thường. Riêng tập thơ Ác mộng viết về những trải nghiệm tù đầy thì đến nay vẫn bị các nhà xuất bản từ chối. Tuy nhiên một số bài trong đó đã được công bố nhờ sự “chịu chơi” của nhà thơ Quang Huy, Giám đốc NXB Văn hoá – Thông tin, rồi sau đó bài “Người về”được đưa vào những tuyển thơ quan trọng nhất; bản tiếng Anh của nó (Nguyễn Đỗ và Paul Hoover dịch) được đưa vào dự án Tổng tập văn học thế giới của một tập đoàn xuất bản quốc tế danh tiếng. Riêng có chuyện xuất cảnh thì tối kỵ. Chắc người ta ngại tôi ra ngoài sẽ trở thành nhân chứng sống cho “thành tích nhân quyền” của chế độ. Mãi đến năm 2000, do một đồng nghiệp bảo lãnh trực tiếp với ông Tổng cục trưởng An ninh, tôi mới được ông đích thân cho phép ra khỏi nước mà không kèm “điều kiện” nào.
Có hai chuyện thú vị về “hậu vụ án VKB”:
Năm 2002, khi tôi về hưu tại báo Lao động, do khiếu nại của tôi, báo Lao động và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đã kiến nghị Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội trả lương hưu cho tôi theo cả thời gian làm việc trước khi bị bắt (quy định phi lý phi nhân của Bộ này là vứt bỏ hết thời gian làm việc của cán bộ công nhân viên trước khi họ bị kỷ luật hay bắt giam, như đã áp dụng với nhà văn Bùi Ngọc Tấn). Lý do được nêu rõ trong công văn: Ông Hoàng Hưng bị bắt giam vì cầm tập thơ VKB của Hoàng Cầm mà thời đó coi là phản động, nay xã hội đã có nhìn nhận khác, quyền lợi của ông Hoàng Hưng phải được trả lại. Kiến nghị bị từ chối. Nhà báo Nguyễn Thị Hằng Nga, đại biểu Quốc hội, bèn đưa thẳng hồ sơ cho bà Bộ trưởng Nguyễn Thị Hằng, thế là Bộ này quay 180 độ, đổi ngay quyết định, phá lệ!
Năm 2005, trên một chuyến bay từ TPHCM ra Hà Nội, tình cờ tôi ngồi ngay bên cạnh một viên CA trực tiếp hỏi cung tôi trong vụ VKB. Quả đáng tội, hồi đó ông và tôi đã từng khá căng thẳng với nhau. Nay ông giữ một chức vụ quan trọng trong ngành an ninh. Ông vui vẻ chủ động bắt chuyện. Ông nói nhiều chuyện về văn nghệ, rồi bỗng bảo tôi thế này: “Tập thơ VKB hay thật! Anh phải viết một kịch bản phim về nó đi! Tôi biết chỉ có anh là viết được thôi!”
Lạy Trời! So với bao nhiêu người chịu oan khiên cho đến lúc chết mà chẳng ai biết đến, như ông Lê Nguyên Chí trong vụ Nhân văn – Giai phẩm chẳng hạn, thì Hoàng Cầm và tôi thế là còn có phúc lắm! Nhớ lại lời ông CA họ Khổng phán khi tôi cãi rằng nhật ký của tôi để trong nhà, có lưu truyền đâu mà các ông bắt tội? Ông nói ngay: “May cho anh đấy! Anh mà lưu truyền thì đi tù không có ngày về”.
Kỷ niệm 25 năm ngày ra tù (30/10/1985 – 2010)
[1] Lê Hoài Nguyên nhớ nhầm là năm 1983
[2] Tôi chỉ còn nhớ vài đoạn, đại khái như sau:
… Các anh bảo chúng tôi
Đi chiến đấu cho ngày mai tươi đẹp
Chúng tôi đi
Vì không sợ chết
Chúng tôi chết
Vì sợ sống hèn
Nhưng sẽ ra sao cái ngày mai ấy?
… Chúng tôi đấy
Đều ngoan ngoãn cả
Anh vừa lòng chứ ạ?
Vâng, chúng tôi cứ khoanh tay nhắm mắt ngồi nhìn
Sự nặng nề ngu độn của các anh
Cứ chầm chậm dìm con tàu xuống biển
bia-tho222-2_Page_1
Phác thảo bìa thơ Hoàng Cầm do Văn Cao vẽ cho Hoàng Hưng
Nam Dao Nguyễn Mạnh Hùng
Nhân đọc bài viết của Hoàng Hưng, xin chỉnh cho thật chính xác dăm điều riêng tư: từ vụ án VKB tôi phải đợi 6 năm, đến 1988, mới được về Việt Nam trong một phái đoàn GS Đại Học Canada được Bộ Ngoại Giao tiếp đón. Đến năm 1990, mặc dầu có giấy mời của Viện Nghiên cứu Kinh tế Quản lý Trung ương, về đến Nội Bài thì tôi được lịch sự mời ra…với lý do gì đến nay tôi cũng chưa biết, nhưng đoán là sau khi bức tường Berlin sụp đổ thì phải cấp tốc xây hàng rào bảo vệ Hà Nội. Xin Visa vài lần sau đó mà không được, tôi biết thân mình, nhưng khi Trịnh Công Sơn viết thư nói: “… mình hết thời gian rồi”, tôi có gặp bà Đại Sứ Việt Nam thuở đó, xin và được phép về năm 1998. Như vậy, thời gian tôi bị cấm cửa không đến 20 năm như Hoàng Hưng viết: chúng tôi chưa bao giờ kể lể những chuyện này. Nhưng thôi, 20 hay 14, 15 năm thì cũng thế, vù đi một cái là hết kiếp phù sinh.
Cái oái oăm là có những nghịch lý khó chấp nhận: khi Sơn đến Quebec thăm tôi năm 1992, anh biết tôi ấm ức, bảo: “… cứ coi họ là những đứa bé nghịch ngợm lấy chân di một đàn kiến…”. Ngẫm nghĩ, anh an ủi cả anh lẫn tôi, tiếp: “… nhưng rồi đứa bé ấy cũng phải lớn lên chứ”. Lớn lên thế nào không biết, nhưng lớn đủ để chính thức nói một lời xin lỗi những con kiến càng cỡ Nguyễn Hữu Đang, Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm… thì chưa!

Hoàng Hưng nhắc tập VKB có tranh minh họa của Bùi Xuân Phái khiến tôi nhớ đêm Giáng Sinh năm 81. Cùng Nguyễn Tuân, Nguyên Hồng, và Văn Cao đến cà phê Lâm (toét), tôi đã giở từng tờ, lắng mình trong ánh đèn dầu một tốí Hà Nội mất điện. Tập thơ thật đẹp, và Thơ thật hay. Bây giờ, nó lưu lạc đâu rồi? Sau khi được “phục hồi”, Hoàng Cầm in VKB, giấy đen, mực lem nhem, gửi cho tôi, đề “Gửi em để nhớ một năm đầy oan nghiệt nhưng cũng đầy hạnh phúc”. Kèm VKB, anh cũng gửi tôi tập Ngựa Biển của Hoàng Hưng, dặn thơ hay phải đọc. Đấy, cái tội độc nhất của chúng tôi là yêu Thơ. Nhưng có tội, bỏ tù hay bắt lưu đày, cho chúng mày biết tội! Tội của những con kiến… Thế thôi, mà sao vẫn cứ chạnh lòng!
N. M. H.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Đài Loan có thắng trong cuộc chiến phòng thủ xâm lược từ Trung Quốc?!?


TaiwaneseSoldiersInPractice
Binh lính Đài Loan tập trận bẻ gãy cuộc tấn công đổ bộ của địch quân trong cuộc tập trận hàng năm tại căn cứ quân sự Hualien ngày 30 tháng Giêng (Mandy Cheng / AFP / Getty Images)
Tạp chí Foreign Policy
Tác giả: Tanner Greer
Trần Trung Tín chuyển ngữ
Khi Chủ Tịch Tập Cận Bình phát biểu trước Đại Hội Đảng lần thứ 19 về tương lai của Đài Loan vào năm ngoái, thông điệp của ông ta (2) rất rõ ràng và đáng lo ngại: “Chúng ta có một ý chí vững chắc, hoàn toàn tự tin và đầy đủ khả năng đánh bại bất kỳ hình thức nào trong âm mưu ly khai đòi độc lậpcủa Đài Loan. Chúng ta sẽ không bao giờ cho phép bất kỳ kẻ nào, bất kỳ tổ chức nào, hoặc bất kỳ đảng phái chính trị nào tách rời bất kỳ phần lãnh thổ nào của người Trung Hoa ra khỏi Trung Hoa ở bất cứ thời điểm nào hoặc dưới bất kỳ hình thức nào.”
Nhận xét này đã kéo theo tràng pháo tay dài nhất trong toàn bộ bài diễn văn dài ba giờ của ông ta – tuy nhiên đó cũng không phải là một thông điệp mới mẻ gì. Sự bất khả chiến bại (invincibility) của quân đội Trung Hoa khi đối diện với “những kẻ ly khai” Đài Loan và một sự tái thống nhất chắc chắn sẽ phải xảy ra vẫn là những chủ đề thường trực của Đảng Cộng Sản Trung Hoa. Trọng điểm của lời đe dọa của ông Tập là Quân đội Giải phóng Nhân dân có sức mạnh để đánh bại quân đội Đài Loan và tiêu diệt nền dân chủ của họ bằng vũ lực, nếu cần. Ở đây, họ Tập hiểu được hậu quả của sự thất bại. “Chúng ta có quyết tâm, có khả năng và sẵn sàng để đối phó với sự độc lập của Đài Loan,” ông ta nói vào năm 2016 (3)“và nếu chúng ta không đối phó được điều đó, chúng ta sẽ bị lật đổ.”
Trung Hoa đã gia tăng áp lực kinh tế và ngoại giao lên hòn đảo này kể từ khi cuộc tuyển cử 2016 đã bầu và chọn Bà Thái Anh Văn (Tsai Ing-wen) và Đảng Dân Chủ Cấp Tiến (Democratic Progressive Party) có khuynh hướng thiên về một Đài Loan độc lập. Sự phô trương vũ lực của Trung Hoa chung quanh eo biển Đài Loan đã trở nên chuyện thông thường. Nhưng Trung Hoa rất có thể không có khả năng thực hiện các lời đe dọa vẫn được lặp đi lặp lại đó. Mặc dù có một khoảng cách rất lớn về kích thước của hai quốc gia này, tuy vậy có một khả năng thực sự là Đài Loan có thể chống trả lại một cuộc tấn công của Trung Hoa – ngay cả khi không có sự trợ giúp trực tiếp từ Hoa Kỳ.
Trong hai nghiên cứu gần đây, một của Michael Beckley (4), là nhà khoa học chính trị tại Đại học Tufts, và nghiên cứu còn lại của Ian Easton (5), đồng nghiệp tại Học Viện Dự Án 2049 (Project 2049 Institute), qua cuốn sách Hiểm Hoạ của Cuộc Xâm Lăng của Trung Hoa: Sự Phòng Thủ của Đài Loan và Chiến Lược của Mỹ ở Á châu (The Chinese Invasion Threat: Taiwan’s Defense and American Strategy in Asia), đã cho chúng ta thấy một bức tranh rõ ràng hơn về cuộc chiến tranh giữa Đài Loan và lục địa Trung Hoa sẽ có thể diễn ra như thế nào. Căn cứ vào các thống kê, cẩm nang huấn luyện và tài liệu kế hoạch của chính quân đội Trung Hoa, cũng như thông tin từ các cuộc mô phỏng và nghiên cứu được cả hai Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ và Đài Loan thực hiện, thì nghiên cứu này đã đưa ra một bức tranh rất khác về cuộc xung đột ngang qua eo biển so với các lời tuyên bố diều hâu của các giới chức trong đảng cộng sản Trung Hoa.
Các cấp chỉ huy quân đội Trung Hoa sợ rằng họ có thể bị đẩy vào thế phải đối đầu với một kẻ thù được huấn luyện giỏi hơn, tinh thần chiến đấu cao hơn và được chuẩn bị kỹ càng hơn để đương đầu với những khắc nghiệt của chiến trường so với các đơn vị mà quân đội Trung Hoa ném vào chiến trận để chống lại họ. Một cuộc chiến tranh ngang qua eo biển Đài Loan xem ra rất ít có cơ hội để đem lại một chiến thắng chắc chắn mà rất dễ trở thành một canh bạc vô cùng liều lĩnh cho Trung Hoa.
taiwan_china_missiles
Toàn bộ Đài Loan đều nằm trong tầm bắn 528 dặm của các phi đạn CSS-6, CSS-7 và CSS-11 của Trung Hoa
Tài liệu của quân đội Trung Hoa cho thấy rằng canh bạc này sẽ mở đầu bằng những phi đạn. Trong nhiều tháng, Lực Lượng Hỏa Tiễn (Rocket Force) (6) của quân Trung Hoa sẽ chuẩn bị cho đợt tấn công mở màn này; rồi từ phút giây cuộc chiến bắt đầu cho đến ngày đổ bộ, những phi đạn này sẽ gầm rú trực chỉ tới bờ biển Đài Loan, các sân bay, trung tâm truyền tin, ra-đa, trọng điểm giao thông và văn phòng của các cơ quan chính quyền đều nằm trong tầm bắn của họ. Đồng thời, các điệp viên đặc vụ hoặc các lực lượng đặc công đang thận trọng tiến qua eo biển sẽ bắt đầu một chiến dịch ám sát nhắm vào tổng thống và nội các của bà, các nhà lãnh đạo khác của Đảng Dân Chủ Cấp Tiến, các giới chức chính quyền tại các cơ quan trọng yếu, các nhân sự truyền thông nổi tiếng, các nhà khoa học hoặc kỹ sư quan trọng và gia đình của họ.
Mục tiêu của tất cả các hành động này có hai mặt.
  1. Về mặt chiến thuật, quân đội Trung Hoa hy vọng sẽ tiêu diệt Không quân Đài Loan ngay trên mặt đất càng nhiều càng tốt, và từ lúc đó trở đi hỗn loạn trên mặt đất sẽ khiến Không quân Đài Loan không thể nhanh chóng cất cánh để đương đầu với Không quân Trung Hoa đang khống chế không trung.
  2. Đích nhắm thứ hai của chiến dịch tấn công bằng hỏa tiễn sẽ giản dị hơn: Làm tê liệt Đài Loan. Với tổng thống đã chết, lãnh đạo không có, truyền tin im bặt, và không thể vận chuyển, các lực lượng Đài Loan sẽ như thuyền không lái, mất tinh thần, và mất định hướng. Chiến dịch “shock and awe” (“chấn động và sợ hãi”) này sẽ lót đường cho một cuộc đổ bộ.
Cuộc xâm lăng này sẽ là một cuộc hành quân thủy bộ lớn nhất trong lịch sử nhân loại. Hàng chục ngàn tàu thuyền sẽ được huy động—mà đa số được chỉ huy bởi các thương nhân hàng hải người Hoa – để chở 1 triệu quân Trung Hoa vượt qua eo biển, và sẽ đến bờ trong hai đợt. Trước cuộc đổ bộ, sẽ có một trận pháo kích phủ đầu bằng phi đạn (missiles) và hỏa tiễn (rockets), được phóng đi từ các đơn vị của Lực Lượng Hỏa Tiễn đóng tại Phúc Kiến, hay từ các oanh tạc cơ chiến đấu của Không quân Trung Hoa bay trong vùng eo biển, và cả từ hạm đội hộ tống.
Bị rối trí, mất liên lạc, và tràn ngập, các lực lượng Đài Loan mà cho đến lúc đó vẫn còn sống sót sẽ nhanh chóng bị cạn nguồn tiếp liệu và bắt buộc phải rời bỏ những bãi biển. Một khi đầu cầu đổ bộ trên bãi biển bị chiếm giữ, thì tiến trình tấn công sẽ bắt đầu lại: Với ưu thế tuyệt đối về mặt không quân, quân đội Trung Hoa sẽ chủ động chọn lựa mục tiêu của họ, trung tâm chỉ huy và kiểm soát của Đài Loan sẽ bị phá hủy, và các đơn vị Đài Loan bị cô lập sẽ bị quét sạch trước sự tiến công của quân Trung Hoa. Trong vòng một tuần, quân Trung Hoa sẽ đặt chân lên thủ đô Đài Bắc; trong vòng hai tuần, họ sẽ áp đặt một thiết quân luật sắt máu lên hòn đảo này nhằm biến nơi đó thành một căn cứ ngoại biên tiền phương (forward operating base) mà quân Trung Hoa sẽ cần đến trong việc phòng thủ chống lại các chiến dịch phản công của Nhật Bản và Mỹ. 
TaiwaneseWeather-02
* Sương mù là một yếu tố hành quân chính yếu từ ngày 15/2 đến 15/6, sương mù dày nhất vào ban sáng tháng Tư và Năm. Tầm nhìn trung bình, Xuân: 1.2 dặm; Đông: 2.4 dặm, và Hè: 6.2 dặm. ** Sóng và Gió lên cao vào đầu tháng 3 và xuống rất thấp vào cuối tháng 3. Tháng 10: ngược lại. *** Dòng nước cuốn ở eo biển có khuynh hướng mạnh hơn vào mùa hè và yếu đi vào mùa đông. Theo: Ian Easton, The Chinese Invasion Threat: Taiwan’s Defense and American Strategy in Asia
Bên trên là tiên liệu tốt đẹp nhất cho quân Trung Hoa. Nhưng không có gì bảo đảm là hòn đảo Đài Loan sẽ thuần phục và bị đánh bại hai tuần sau ngày đổ bộ. Một trong những trở ngại chính yếu cho cuộc tấn công là yếu tố bất ngờ. Quân Trung Hoa sẽ không có được yếu tố này. Cuộc tiến công sẽ xảy ra vào tháng Tư hoặc tháng Mười. Vì những khó khăn của thời tiết nơi eo biển, một đoàn tàu vận tải chỉ có thể băng qua eo biển này ở vào một trong hai khoảng thời gian của bốn tuần lễ nói trên mà thôi. Quy mô quá lớn của cuộc xâm lăng này sẽ làm mất đi yếu tố bất ngờ chiến lược, nhất là lại là có sự xâm nhập sâu rộng vào cả hai bên bởi các cơ quan tình báo của mỗi bên.
Ông Easton ước tính rằng các nhà lãnh đạo Đài Loan, Mỹ và Nhật sẽ biết quân Trung Hoa đang chuẩn bị cho một cuộc động binh ngang qua eo biển hơn 60 ngày trước khi các hành động thù địch khởi đầu. Họ biết chắc chắn sẽ có một cuộc xâm lăng đổ bộ hơn 30 ngày trước khi các phi đạn đầu tiên được khai hỏa. Điều này sẽ giúp cho Đài Loan có đủ thời giờ để di chuyển hạ tầng cơ sở chỉ huy và kiểm soát của họ vào các đường hầm kiên cố hơn trong núi, đem hạm đội của họ ra khỏi các hải cảng dễ bị tấn công, bắt giữ các thành phần bị nghi ngờ làm gián điệp và hoạt động tình báo, đem thủy lôi thả ra trên khắp biển, phân tán và ngụy trang các đơn vị quân đội trên toàn quốc, đặt nền kinh tế vào tình trạng chiến tranh, và phân phát vũ khí cho 2.5 triệu quân trừ bị của Đài Loan.
Chỉ có 13 bãi biển bên bờ phía tây của Đài Loan mà quân Trung Hoa có thể đổ bộ. Mỗi bờ biển đó đều đã được chuẩn bị để sẵn sàng đối phó với cuộc xung đột có thể xảy ra. Các đường hầm dài trong lòng đất—được hoàn tất với các kho tiếp liệu kiên cố dưới mặt đất—chạy ngang dọc khắp các địa điểm đổ bộ. Các giải đất ở ven biển đã được bao phủ với những cây có lá sắc như dao cạo. Rất thường thấy có nhiều nhà máy hóa chất tại nhiều thành phố vùng biển—có nghĩa là những kẻ xâm lược phải chuẩn bị đối phó với những đám mây khí độc bốc lên một khi có bất kỳ một cuộc bỏ bom bừa bãi nào nhắm vào các địa điểm đó. Còn trong thời bình, thì mọi thứ đều bình thường.
Khi chiến tranh tiến đến, mỗi bãi biển sẽ được biến thành hãng xưởng của tử thần. Lối đi từ những bãi biển này đến thủ đô Đài Bắc đã được tính toán rất thận trọng; một khi tình trạng khẩn cấp được ban hành, mỗi bước đi của quân xâm lăng sẽ trở nên khó khăn hoặc bị gài mìn bẫy. Cẩm nang chiến tranh (war manuals) của quân đội Trung Hoa cảnh cáo binh lính của họ rằng sẽ có dây thép căng ra giữa những tòa nhà chọc trời và những mỏm đá để máy bay trực thăng bay ngang bị vướng vào; đạn dược được giấu dưới đường hầm, và cầu được gài mìn (chỉ cho nổ phá hủy vào giờ phút chót); và từ cao ốc này đến cao ốc khác trong các đô thị đông dân của Đài Loan đều được biến đổi thành những công sự phòng thủ nhỏ để kéo các đơn vị Trung Hoa vào các trận chiến bất tận trên đường phố.
taiwan-china_forces
Phác lược Tương quan Lực lượng Quân đội giữa Trung Hoa và Đài Loan
Để hiểu được sức mạnh thực sự của những phòng thủ này, hãy nhìn từ nhãn quan của một người lính Trung Hoa sẽ tham dự cuộc chiến. Giống như hầu hết các binh sĩ khác, anh là một thanh niên ở vùng nông thôn nghèo. Suốt cuộc đời, anh được dạy rằng Đài Loan hoàn toàn bị khuất phục bởi sức mạnh của Trung Hoa. Anh sẽ “phấn khởi” trong việc đem được những kẻ ly khai trở về lại đúng vị trí của họ. Nhưng, sự việc sẽ không diễn ra giống như anh tưởng tượng. Trong những tuần lễ trước chiến tranh, anh khám phá ra rằng chị họ của anh – người vẫn thường gửi tiền về để giúp đỡ cho ông bà của họ tại vùng quê An Huy – đã bị mất việc ở Thượng Hải. Tất cả các khoản tiền chuyển qua ngân hàng (wire money transfer) từ Đài Bắc đều đã ngưng lại, và tiền lương của hàng triệu công nhân Trung Hoa đang làm việc cho các công ty Đài Loan đều bị giữ lại.
Anh binh nhì chào đón sự mở màn của chiến tranh ngay tại Shanwei, nơi mà anh sẽ được cấp tốc đưa vào khóa huấn luyện ba tuần về chiến đấu trong những khu rừng hôi hám và xa lạ ở nam Trung Hoa. Đến lúc đó, mọi thông tin từ bên ngoài đều bị ngăn lại không để anh nhận được, nhưng tin đồn thì vẫn len lỏi vào: Hôm qua, có những thầm thì nói rằng việc tàu hỏa của họ bị chậm trễ tới 10 tiếng không có dính dáng gì đến chuyện hệ thống giao thông bị tràn ngập và mọi thứ đều do bàn tay phá hoại của Đài Loan. Hôm nay, lại có những rỉ tai báo rằng Lữ Đoàn Trưởng của Lữ Đoàn 1 tại Zhanjiang đã bị ám sát. Sang ngày mai, các binh lính phân vân không biết liệu việc mất điện có phải thực sự chỉ là một cố gắng nhằm tiết kiệm năng lượng để dành cho nỗ lực chiến tranh hay không.
Nhưng khi anh di chuyển đến địa điểm xuất phát ở Phúc Châu, thì huyền thoại về sự bách chiến bách thắng của Trung Hoa đã bị vỡ vụn do bởi nhiều thứ chứ không chỉ là do tin đồn. Những đống gạch đổ nát xám xịt của các văn phòng của quân đội Trung Hoa tại Phúc Châu là những cảnh tượng đầu tiên cho anh biết đến sự kinh hoàng của cuộc tấn công bằng phi đạn. Có lẽ anh sẽ được an ủi thêm đôi chút khi nghĩ rằng các đợt pháo kích xuất phát từ Đài Loan dường như ít hơn rất nhiều so với các đợt pháo kích nhắm thẳng vào Đài Loan—nhưng những mường tượng như thế chẳng giúp được mấy trong việc đem lại sự yên ổn trong tâm thần của anh, và anh không có thời giờ để làm quen với chấn động to lớn đó. Bị thổi văng xa bởi những tiếng nổ hãi hùng, niềm tin tưởng vào việc quân đội Trung Hoa có thể giữ cho bản thân anh được an toàn đã bị sứt mẻ.
Đợt pháo kích cuối cùng, khủng khiếp nhất ập đến khi anh bắt đầu lên tàu – là một trong số rất ít người may mắn, anh lên được đúng chiếc thuyền tấn công đổ bộ, không phải là tàu thuyền dân sự được cải biến để dùng cho chiến tranh trong giờ thứ mười một—nhưng đây chỉ là phần đầu tiên của những kinh hoàng trên mặt nước. Một số phương tiện chuyên chở bị ngư lôi của Đài Loan đánh chìm, những ngư lôi này được phóng ra từ các tàu ngầm được lưu giữ để chỉ đem ra sử dụng trong dịp này. Các phi đạn Harpoon, lần đầu tiên trong chiến tranh được đem ra khỏi các hầm trú ẩn kiên cố chống được vũ khí hạt nhân rất an toàn trên núi và được bắn ra từ những chiếc F-16, sẽ phá hủy những tàu thuyền khác. Tuy nhiên, thiệt hại lớn nhất đến từ các mìn biển (sea mines). Mọi chiếc tàu trong đoàn đều phải vượt qua hết bãi mìn này đến bãi mìn khác, có vài bãi mìn kéo dài tám dặm ngang qua biển. Rồi say sóng vì những cơn sóng vùi dập nơi eo biển, anh lính này không thể làm gì hơn ngoài việc lầm bầm cầu nguyện cho con tàu của anh ta vượt qua bãi mìn được an toàn. 
Khi gần đến bờ, áp lực tâm lý gia tăng. Chiếc thuyền đầu tiên vượt qua bờ sẽ gặp phải, theo như nghiên cứu của Easton, một bức tường đột ngột bốc lửa phóng lên khỏi mặt nước từ hàng dặm dài của những đường ống dẫn dầu chìm bên dưới. Khi con tàu vượt qua đám lửa (anh ta gặp may mắn; còn những người chung quanh thì hoặc là bị bẫy biển, sea traps, đâm trúng hoặc bị vướng vào bẫy), anh còn phải đối diện với những gì mà Easton mô tả như là một dặm đường toàn những “lưới kẽm gai, bảng với móc câu (hook boards), ván, hàng rào dây thép gai, dây chướng ngại vật, dây gắn đinh để làm xì bánh xe (spike strips), mìn, tường chận xe tăng, chướng ngại vật chống xe tăng … cọc tre, cây bị đốn ngã, thùng chứa hàng của xe tải và xe hơi phế thải.” 
Ở giai đoạn này, sự an toàn của anh lính này phần lớn tùy thuộc vào việc Không quân Trung Hoa có thể phân biệt được các khẩu súng đại bác thực sự với hàng trăm mục tiêu nhằm đánh lạc hướng (decoy) và các hình nộm (dummy) mà cẩm nang của quân đội Trung Hoa tin rằng Đài Loan đã tạo ra. Tỉ lệ may rủi không thuận lợi cho anh ta: Theo Beckley ghi chú trong một nghiên cứu (7) được công bố vào mùa thu năm ngoái, tại cuộc chiến tranh vùng Vịnh từ năm 1990 đến 1991, liên quân do Mỹ chỉ huy đã thả dù xuống 88,500 tấn súng ống đạn dược nhưng không phá hủy được ngay cả một giàn phóng hỏa tiễn lưu động của Iraq. Chiến dịch 78 ngày của NATO nhằm vào các hệ thống phòng không của Serbia chỉ có thể phá hủy ba trong số 22 giàn phóng hỏa tiễn lưu động của Serbia. Bởi thế, không có lý do gì để nghĩ rằng Không quân Trung Hoa sẽ đạt được tỉ lệ thành công cao hơn khi nhắm bắn vào hệ thống phòng thủ pháo binh và hỏa tiễn lưu động của Đài Loan. 
Nhưng nếu anh lính nói trên còn sống sót sau những trận mưa pháo đầu tiên trên bãi biển đổ bộ, thì anh vẫn còn phải tự chiến đấu để tiến qua các đơn vị chính của quân đội Đài Loan, 2.5 triệu quân trừ bị được võ trang, đã phân tán mỏng trong các thành phố đông đúc và trong các rừng rậm của Đài Loan, và qua nhiều dặm đường đầy mìn, mìn bẫy, và các đổ vỡ ngổn ngang. Đối với một anh binh nhì không có chút kinh nghiệm trận mạc, thì đó là cả một nhiệm vụ phi thường có thể đòi hỏi nơi anh. Lại càng là một điều quá sức to lớn khi đòi hỏi điều đó nơi một anh binh nhì đã ngây thơ tin tưởng vào sự bất khả chiến bại của quân đội của anh ta.
taiwan-china_sea
Những căn cứ xuất phát từ lục địa Trung Hoa và các bãi biển Đài Loan mà quân Trung Hoa có thể đổ bộ
Sự phác thảo này nói lên được cảm giác lo âu đã hiện diện trong cẩm nang dành cho cấp sĩ quan của quân đội Trung Hoa. Họ biết chiến tranh sẽ là một canh bạc nguy hiểm, ngay cả khi họ chỉ dám thừa nhận điều đó với nhau mà thôi. Điều này cũng giải thích được các phản ứng dữ dội của đảng cộng sản Trung Hoa đối với việc Đài Loan mua vũ khí, ngay cả đối với những mua bán nhỏ nhất. Niềm đam mê (quyền lực, chiến thắng) của họ hoàn toàn phản nghịch lại với sự giận dữ của họ (trước tiềm năng chiến đấu của Đài Loan). Họ hiểu được những gì Tây phương không hiểu được. Các chuyên viên phân tích người Mỹ sử dụng các từ ngữ như “hệ thống trưởng thành tấn công chính xác,” mature precision-strike regime (8) và “chiến tranh chống truy cập và ngăn chận không cho vào khu vực,” anti-access and area denial warfare (9) để mô tả các kỹ thuật khiến cho việc đưa hải quân và không quân đến gần bờ biển của kẻ thù trở nên cực kỳ khó khăn. Về mặt chi phí, phòng thủ có lợi hơn: Chế tạo một hỏa tiễn để bắn chìm tàu sẽ rẻ hơn rất nhiều so với việc chế tạo một con tàu.
Nhưng nếu điều này có nghĩa là bộ binh Trung Hoa có thể chống trả lại lực lượng của Hoa Kỳ với một giá phí chỉ bằng một phần nhỏ chi phí của Mỹ, thì điều đó cũng có nghĩa là các nền dân chủ nằm trong vòng đai Đông Á có thể ngăn cản sự xâm lược của Trung Hoa cũng với giá chỉ bằng một phần nhỏ trong chi phí của quân đội Trung Hoa. Trong một thời đại mà quốc phòng đang được chú trọng, các quốc gia nhỏ bé như Đài Loan không cần một ngân sách quân sự có kích thước lớn như của quân đội Trung Hoa mới có thể chặn được họ.
Chính dân Đài Loan là những người cần nghe đến điều này hơn ai hết. Trong các chuyến đi Đài Loan, để làm sáng tỏ điều trên, tôi đã theo dõi và phỏng vấn cả binh lính quân dịch và chuyên nghiệp. Sự bi quan của họ là điều có thể thấy được rõ ràng. Sự khủng hoảng tinh thần trong quân đội Đài Loan đã một phần nào phản ảnh sự quản trị rất sai lầm của hệ thống quân dịch, khiến cho chính những người Đài Loan nồng nàn yêu nước cũng tỉnh ngộ qua kinh nghiệm quân sự của họ.
Nhưng điều cũng quan trọng không kém là sự thiếu hiểu biết của người dân Đài Loan về sức mạnh của khả năng tự vệ của họ. Trong một thăm dò gần đây (10) cho thấy 65% người Đài Loan “không có sự tự tin” vào khả năng quân sự của họ có thể chặn đứng được quân Trung Hoa. Nếu không có một chiến dịch mạnh mẽ được thực hiện để hướng dẫn công chúng hiểu rõ rằng quân đội Đài Loan có thể thành công trong việc chống lại quân đội Trung Hoa, thì người dân Đài Loan rất dễ đánh giá sự an toàn của họ dựa trên các số liệu sai lạc, như sự suy giảm của con số các quốc gia còn duy trì quan hệ chính thức với Đài Bắc thay vì Bắc Kinh. Chiến dịch được quân đội Trung Hoa đưa ra thì lại đặc biệt được thiết kế nhằm để áp đảo và đè bẹp tinh thần của quân đội Đài Loan. Chiến trường quan yếu nhất nằm ngay nơi tâm trí của chính người Đài Loan. Tinh thần chủ bại là mối đe dọa nguy hiểm to lớn đối với nền dân chủ Đài Loan hơn cả bất kỳ thứ vũ khí nào của Trung Hoa.
Cả người Tây phương lẫn người Đài Loan đều nên lạc quan hơn về khả năng quốc phòng của Đài Loan. Đúng vậy, quân đội Đài Loan dự liệu (11) rằng họ chỉ có thể ngăn giữ được kẻ thù trong vòng hai tuần lễ sau cuộc đổ bộ—nhưng quân đội Trung Hoa cũng tin rằng nếu không thể đánh bại các lực lượng Đài Loan trong vòng hai tuần, họ sẽ thua cuộc chiến tranh! Đúng vậy, sự chênh lệch giữa ngân sách quốc phòng của hai bên rất lớn và vẫn đang tiếp tục gia tăng—nhưng người Đài Loan không cần đến sự tương đương đó để có thể làm nản lòng Trung Hoa trong ý đồ xâm lăng của họ. Tất cả điều Đài Loan cần là được tự do mua vào những loại vũ khí có thể làm cho cuộc xâm lăng đó có hậu quả tệ hại không thể tưởng tượng được. Nếu trận chiến chính trị đó có thể được giải quyết trong các hội trường của Washington, đảng cộng sản Trung Hoa sẽ không có sức mạnh để đe dọa sẽ đem chiến trận đến ngay bờ biển của Đài Loan. 

Chú Thích (từ #2 đến #11 là của nguyên bản)
(1): Nguyên bản bài báo: foreignpolicy.com/2018/09/25/taiwan-can-win-a-war-with-china/
(2): www.brookings.edu/blog/order-from-chaos/2017/10/19/what-xi-jinping-said-about-taiwan-at-the-19th-party-congress/
(3): www.taipeitimes.com/News/editorials/archives/2016/11/14/2003659209/2 
(4): www.belfercenter.org/sites/default/files/files/publication/ISEC_a_00294-Beckley_proof3.pdf
(5): www.amazon.com/Chinese-Invasion-Threat-American-Strategy/dp/1546353259/ref=as_li_ss_tl?ie=UTF8&linkCode=sl1&tag=theschssta-20&linkId=aeb7d4269f02be76b6efd9e3bfabdbda
(6): www.csis.org/analysis/pla-rocket-force-evolving-beyond-second-artillery-corps-sac-and-nuclear-dimension
(7): www.belfercenter.org/publication/emerging-military-balance-east-asia-how-chinas-neighbors-can-check-chinese-naval
(8): csbaonline.org/research/publications/maritime-competition-in-a-mature-precision-strike-regime
(9): warontherocks.com/2017/01/demystifying-the-a2ad-buzz/
(10): focustaiwan.tw/news/acs/201804230015.aspx 
(11): www.nytimes.com/2017/11/04/world/asia/china-taiwan-military.html

Phần nhận xét hiển thị trên trang