Lầu Năm góc dần sơ tán quân lên núi phòng kịch bản xấu vì Covid-19
30/03/2020 11:00 GMT+Lầu Năm góc đã bắt đầu sơ tán một số đội nhân viên thiết yếu thuộc Bộ Tư lệnh phương Bắc đến các hầm trú ẩn nằm sâu trong núi để phòng ngừa đại dịch Covid-19 diễn biến xấu nhất.
Tướng Không quân Terrence O’Shaughnessy là người đứng đầu Bộ Tư lệnh phương Bắc của Mỹ (NORAD) cũng như Bộ Tư lệnh Phòng thủ không gian vũ trụ Bắc Mỹ (NORTHCOM), lực lượng chung của Mỹ và Canada, chuyên giám sát các bầu trời ở khu vực Bắc Mỹ trước những mối đe dọa từ trên không và tên lửa.
Một binh sĩ đứng gác phía trước căn cứ ngầm của quân đội Mỹ trên núi Cheyenne. Ảnh: Youtube
Trả lời phỏng vấn báo chí qua Facebook hồi tuần trước, ông O'Shaughnessy tiết lộ, một số đội giám sát của ông sẽ di dời hoạt động khỏi trung tâm chỉ huy bình thường của họ tại Căn cứ không quân Peterson ở bang Colorado (Mỹ) để chuyển tới các boongke ngầm, xây kiên cố ở trên núi.
Một trong những cơ sở như vậy là tổ hợp hầm trú ẩn núi Cheyenne, gồm một đường hầm ẩn giấu dưới 610 mét đá granit và đóng kín phía sau các cửa chống nổ, được thiết kế để chống chịu được một vụ nổ hạt nhân 30 megaton (tương đương sức công phá của 30 triệu tấn thuốc nổ TNT).
Cánh cửa có thể chống chịu được một vụ nổ hạt nhân 30 megaton của khu hầm trú ẩn chống tận thế núi Cheyenne. Ảnh: Reuters
"Các chuyên gia tận tâm của chúng tôi thuộc các đơn vị chỉ huy và giám sát NORAD cũng như NORTHCOM đã rời nhà của họ, tạm biệt gia đình và cách ly với mọi người để đảm bảo họ có thể duy trì nhiệm vụ mỗi ngày để bảo vệ tổ quốc của chúng ta", ông O'Shaughnessy nói.
Vị tư lệnh này cho biết thêm, đội ngũ nhân viên dưới quyền ông sẽ dùng chung các hầm trú ẩn dưới lòng đất cùng nhiều thành viên khác thuộc quân đội Mỹ, nhưng ông không được phép tiết lộ họ là ai. Một nhóm thuộc NORAD và NORTHCOM cũng được sơ tán tới một địa điểm mật an toàn khác.
Theo báo RT, các cơ sở như Núi Cheyenne là phần không thể thiếu trong kế hoạch ứng phó với viễn cảnh ngày tận thế của chính phủ Mỹ. Trong trường hợp có mối đe dọa hiện hữu đối với Mỹ, chẳng hạn như một cuộc tấn công hạt nhân sắp xảy ra, tổng thống và các quan chức của ông cũng như đội ngũ các lãnh đạo chính trị, quân sự và dân sự sẽ ngay lập tức được sơ tán đến 4 cơ sở an toàn để điều hành đất nước từ sâu dưới lòng đất. Các cơ sở này là núi Cheyenne, Trung tâm Điều hành khẩn cấp của tổng thống thuộc Nhà Trắng, Khu phức hợp núi Raven Rock và Trung tâm Điều hành khẩn cấp Mount Weather ở bang Pennsylvania.
Dù dịch Covid-19 đang hoành hành chưa kích hoạt việc di dời hàng loạt ra khỏi Washington nhưng diễn biến dịch phức tạp đã buộc Bộ Quốc phòng Mỹ phải thực thi các bước cần thiết để đảm bảo họ vẫn sẵn sàng chiến đấu.
Sau khi thừa nhận rằng khả năng sẵn sàng của quân đội có thể bị ảnh hưởng vì sự bùng phát của virus corona chủng mới, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Mark Esper tuyên bố ngày 26/3 rằng, Lầu Năm góc sẽ ngừng công bố các chi tiết chính xác về những trường hợp nhiễm Covid-19 trong hàng ngũ của họ để tránh tiết lộ những điểm yếu cho kẻ thù của Mỹ biết.
Ngoài việc di dời hoạt động của một số lực lượng lên núi, Lầu Năm góc cũng cử các kỹ sư thuộc quân đội tới NewYork để khảo sát những địa điểm xây dựng bệnh viện dã chiến khi số ca nhiễm Covid-19 ở bang này không ngừng gia tăng và hiện chiếm tới 1/3 trong tổng số hơn 142.00 ca dương tính với mầm bệnh nguy hiểm trên toàn quốc.
Lực lượng lính dự bị cũng có thể được điều động hỗ trợ chính quyền các địa phương đối phó với dịch bệnh sau khi gần 10.000 lính Vệ binh quốc gia đã tham gia quá trình đó. Cuối tuần trước, Bộ trưởng Esper đã công bố luật sửa đổi, cung cấp ngân sách liên bang cho những bang muốn triển khai thêm những binh sĩ này.
Ngoài ra, hai tàu bệnh viện của Hải quân Mỹ cũng đã lên đường tới hỗ trợ điều trị bệnh nhân ở New York và Los Angeles giữa lúc dịch bùng phát mạnh.
Ở bẩn sống lâu. Là câu nói thường nghe, để chống chế, vui đùa khi ai đó bị nhắc là ở dơ.
Điều hay luôn có mặt trái !
Dân Thụy Điển trình độ cao, giàu có, văn minh, sạch sẽ. Bụng hổng có giun sán lại hay bị ung thư ruột. Giun sán trong ruột nhân loại cả chục nghìn năm, nay lại cực đoan tống ra cho hết , và không cho nó cơ hội tái nhiễm, dẫn đến ruột quá sạch giun, hệ ruột khác lạ, bèn gây ra chuyện phiền toái khác, ung thư ! Trở lại vấn đề, dân ta nhẵn mặt còn corona do hay bị cảm cúm theo mùa , thì cái con corona tân trang nhan sắc , đểu, ác hơn...hệ thống miễn dịch vẫn nhận ra '' bản lai diện mục '' của nó, chống lại hữu hiệu. Không bị động do dịch, gây chết chóc, nhiễm số lượng bệnh nhân lớn như Mỹ Tây.. Nghèo, nhỏ, dơ, thiếu...xù xì mặt trước, rất....được mặt sau. Huy chương Nhược Tiểu mà !
Chuyên gia hàng đầu TQ báo thời điểm kiểm soát được Covid-19
Theo SCMP, trả lời phỏng vấn trên đài truyền hình Thâm Quyến, chuyên gia Zhong – hiện lãnh đạo một nhóm các chuyên gia hàng đầu của Trung Quốc chuyên đưa ra lời khuyên cho chính phủ về cách kiểm soát đại dịch cho biết: “Do các nước áp dụng các biện pháp quyết liệt và hữu hiệu, tôi tin rằng có thể kiểm soát được đại dịch. Tôi dự báo là khoảng cuối tháng 4.
Tuy nhiên, sau tháng 4, không ai dám chắc rằng liệu một đợt dịch mới do virus gây ra có bùng phát vào mùa xuân tới hay không, hoặc liệu nó có biến mất khi thời tiết ấm hơn….dù virus chắc chắn sẽ biến mất khi nhiệt độ cao hơn”.
Ông Zhong không nói phán đoán trên được đưa ra dựa trên thông tin nào, song các chuyên gia khác cũng đưa ra những dự báo về khung thời gian tương tự dựa trên các diễn biến ở Mỹ và châu Âu – hai khu vực đang là tâm điểm của đại dịch Covid-19.
Mike Ryan, giám đốc chương trình y tế khẩn cấp thuộc Tổ chức Y tế thế giới (WHO) cho biết, có những dấu hiệu cho thấy đại dịch Covid-19 đang ổn định ở châu Âu khi các lệnh phong toả áp đặt vào tháng trước bắt đầu có hiệu quả.
Tại Mỹ, Viện Đánh giá và Vận luật thuộc Đại học Washington cho biết, các bệnh viện sẽ đối mặt với giai đoạn bệnh nhân nhập viện vì Covid-19 lên tới đỉnh điểm vào khoảng 20/4.
Ông Zhong cho biết, các chính phủ trên khắp thế giới nên hợp tác với nhau để chống đại dịch. “Các quốc gia, gồm cả Mỹ, nên thông qua các biện pháp quyết liệt và hiệu quả…và biện pháp hữu hiệu nhất là yêu cầu mọi người dân ở trong nhà”.
Một nghiên cứu gần đây của trường hoàng gia London, vừa được công bố trong tuần này cho thấy, các biện pháp cách ly xã hội mà 11 nước châu Âu áp dụng đã giúp giảm sự lây lan của virus corona chủng mới và ngăn 59.000 người thiệt mạng.
Bệnh dịch không chỉ thử thách sức đề kháng của con người sinh học, chúng là chất thử nghiệt ngã đối với con người xã hội, kinh tế và chính trị. Sau hàng triệu năm tiến hóa sinh học và kỹ thuật tổ chức xã hội, có lẽ nỗi ám ảnh này sẽ chưa mất đi trong tương lai gần.
Bức họa Khải hoàn của thần chết (Pieter Bruegel the Elder, c. 1562.)
Mùa thu năm 1820, tham tri Lễ bộ Nguyễn Du đang chuẩn bị cuộc hành trình sang Bắc Kinh. Vị quan chức được nhà vua mới lên ngôi Minh Mệnh cử đi sứ trong một nhiệm vụ đặc biệt: báo tang vua cha Gia Long và xin cầu phong. Không may là một trận dịch tả đã tràn qua Việt Nam vào thời điểm đó, và nhà thi hào cùng với hàng trăm nghìn người Việt khác đã bỏ mạng. Trận dịch này bắt đầu từ năm 1816, quét qua Ấn Độ từ 1820 và bắt đầu vào Việt Nam trong cùng năm, lan từ Hà Tiên lên Bắc thành. Sử nhà Nguyễn thống kê: số hộ khẩu chết tất cả là 206.835 người, không kể số nam phụ lão ấu ở ngoài hộ tịch. Nhà nước bỏ ra 730.000 quan tiền để cứu chẩn, mai táng.
Với quy mô dân số Việt Nam dưới 10 triệu người vào đầu thế kỷ XIX, hơn 4% dân số đã bị thiệt mạng. Nếu một trận dịch với tỉ lệ tương tự vào năm 2020, 4 triệu người Việt Nam sẽ bị đe dọa tính mạng.
Dịch bệnh không chỉ là vấn đề y tế, đó là số phận của con người, của xã hội loài người, của thể chế chính trị, và của các nền văn minh. Sự chết chóc do chúng mang lại không chỉ phản ánh các hệ quả sinh học lên giống loài mà còn hưng vong triều đại, thăng trầm xã hội và thịnh suy đế chế và sự cân bằng chính trị-quân sự toàn cầu. Cung nỏ, vó ngự, thuốc súng có sức mạnh kiến tạo hay hủy diệt xã hội, và vi trùng cũng thế. Vào đầu thế kỷ XVI, những kẻ chinh phục Tây Ban Nha mang theo gươm, súng và ngựa cập bến một châu lục vừa được khám phá: châu Mỹ, với mục tiêu chinh phục đế chế Inca vĩ đại. Thực tế, bệnh đậu mùa mà họ mang theo mới chính là vũ khí chết chóc nhất, khiến cho hơn một nửa dân bản địa mất mạng. Trong số này có nhà vua Huayna Cupac. Cái chết của ông đẩy người Inca vào nội chiến, hỗn loạn, và đưa tới việc Francisco Pizarro với đạo quân 168 người có thể đánh chiếm một vùng lãnh thổ bằng cả Italia và Tây Ban Nha cộng lại.
Sự `mong manh' của các cấu trúc chính trị-xã hội
Tại sao bệnh dịch lại là vấn đề ám ảnh loài người?
Việc sống tập trung tại các đồng bằng và thành thị là một điểm yếu “sinh học” của loài người. Dân số đủ đông để dịch bệnh tồn tại liên tục và có thể tạo ra nguy cơ bùng nổ dịch bất cứ lúc nào. Lấy đậu mùa làm ví dụ. Dù khảo cổ học tìm thấy dấu vết của chúng từ cách nay 350.000 năm tuy nhiên bằng chứng về sự lan rộng của chúng chỉ thực sự gia tăng từ khoảng 10.000 năm TCN. Không phải ngẫu nhiên mà đó là thời điểm xuất hiện nông nghiệp và con người bắt đầu xác lập các khu định cư ở vùng Trung Đông. Các xã hội có tập hợp khoảng 100.000 đến 200.000 dân là đủ để cho các mầm bệnh duy trì thường xuyên. Nguy cơ đó rõ ràng là lớn gấp nhiều lần ở các thành phố hơn hai mươi triệu dân như Mexico City hay Thượng Hải. Làm nông nghiệp và thuần hóa động vật là một cầu nối khác giữa con người với các virus. Với việc thuần hóa động vật, chúng ta không chỉ mời bò, gà, lợn, cừu… vào nhà mà còn cả một thế giới các đạo quân sinh học khác, từ chuột tới các loài vi khuẩn gắn liền với các động vật này. Điều nghiêm trọng hơn là các động vật này là cầu nối nhiều loài vi rút có mặt ở nhiều giống loài tự nhiên đối với con người. Lấy chủng virus Corona làm ví dụ. Báo cáo gần đây của WHO cho thấy có nhiều bằng chứng virus corona chủng mới có mối liên hệ với các loại virus corona tương tự được biết tới ở dơi, cụ thể là ở phân loài dơi Rhinolophus có địa bàn phân bố ở miền Nam Trung Quốc, và châu Á, châu Phi. Riêng tại các hang dơi ở Trung Quốc đã tìm thấy 500 loại virus corona khác nhau. Nghiên cứu huyết thanh học được tiến hành với người dân nông thôn sống gần các hang động có dơi sinh sống cho thấy tỉ lệ huyết thanh dương tính với virus corona ở phân loài dơi này là 2,9%. Điều này cho thấy sự tiếp xúc giữa con người với dơi có thể phổ biến mặc dù mắt xích trung gian của sự lan truyền virus này vẫn chưa được nhận dạng.
Các bức tường thành, làng xóm, các thành phố và đô thị là không gian lí tưởng cho bệnh dịch. Dân cư đông đúc và tình trạng kém vệ sinh là môi trường để các loài động vật cư trú bên cạnh con người, trong khi thương mại, chiến tranh, du hành, hành hương, truyền giáo, và các quá trình khác của toàn cầu hóa thúc đẩy sự lan truyền của bệnh dịch với quy mô chưa từng có.
“Cái chết đen” là một trong các ví dụ tiêu biểu về cách thức một bệnh dịch trong vòng bốn năm đã thay đổi diện mạo của thế giới và nền văn minh nhân loại.
Cái chết đen ám chỉ tới trận dịch hạch lan tràn trên lục địa Á-Âu giữa thế kỷ XIV. Nổi tiếng trên khắp châu Âu với tên gọi Cái chết đen, dịch bệnh này được cho là gây ra bởi vi khuẩn Yersinia pestis và lây lan thông qua loài bọ chét sống trên chuột đen. Quy mô của bệnh dịch này cũng tiến hóa theo bước đi của lịch sử nhân loại, gắn liền với ba trận dịch lớn có quy mô toàn cầu:
1. Trận dịch thời Justinian (541).
2. Cái chết đen (1348).
3. Trận dịch thứ ba (1855).
Chúng là những ví dụ cho thấy sự ‘mong manh’ của các cấu trúc chính trị-xã hội của con người, đồng thời phản ánh hệ quả của quá trình toàn cầu hóa, chiến tranh, thương mại và mở rộng đế chế đã tạo ra các mạng lưới mà theo đó không chỉ có tơ lụa mà chuột và vi khuẩn cũng được du hành toàn cầu.
Gắn liền với chúng là vận mệnh của hàng trăm triệu người, hưng vong của nhiều triều đại, xã hội và đế chế. Đó là vào năm 1344, Janibeg-Hãn của Kim Trướng Hãn Quốc (một nước Hồi giáo do người Mông Cổ thiết lập ở Trung Á) tiến hành cuộc tấn công vào bán đảo Crimea và bao vây thành phố Caffa (ngày nay là Feodosia). Thành phố này là một trung tâm thương mại chiến lược trên biển Đen và đang nằm dưới sự kiểm soát của các thương nhân Genoa. Khi chiến thắng đang ở tầm tay, đạo quân Mông Cổ bất ngờ bị dịch hạch vào tháng 10/1346. Quân lính bị chết chỉ sau 7-10 ngày nhiễm bệnh.
Trong sự tuyệt vọng, Janibeg cho lính thu thập xác người bị dịch hạch và ném vào trong thành. Đây là câu chuyện đầu tiên về việc con người sử dụng “vũ khí sinh học” trong chiến tranh. Vào tháng 10/1347, Janibeg chiếm được thành phố và những thương nhân Genoa chạy về Italia. Bệnh dịch nhanh chóng theo chân họ về đảo Sicily và sau đó là Genoa. Tới mùa hè năm 1348, Marseilles và Paris trở thành các nạn nhân tiếp theo. Năm sau đó, chúng xuất hiện ở vùng thung lũng sông Rhine và tràn vào vùng đất ngày nay là lãnh thổ nước Đức. Ở phía Tây, dịch bệnh cũng vượt qua eo biển tới London, trong khi một năm sau đó, chúng chinh phục Denmark và bán đảo Scandinavia (nơi 60% dân Norway được cho là bỏ mạng).
Vào lúc đỉnh điểm của các trận dịch này, có 800 người chết ở Paris một ngày. Con số này ở Pisa là 500 và 600 ở Vienna. Một nửa dân số của thành phố Siena đã chết trong vòng một năm. Tương tự Floren mất 50.000 dân trên tổng số 100.000 người. Người chép sử của thành phố Siena là Agnolo di Tura đã than khóc:
“Không từ nào có thể tả hết tính chất khủng khiếp của những sự kiện này… Tôi đã chính tay mình chôn cất năm đứa con trai của mình”.
Sử gia người anh Alistair Horne ước tính trong vòng bốn năm từ khi Janibeg ném các xác chết vào thành Caffa, một phần ba dân số thế giới từ Iceland tới Ấn Độ đã bị thiệt mạng. Những thống kê khác chỉ ra con số khoảng 50% dân số thế giới đã bị chết, và con số này có thể vào khoảng 75-100 triệu người.
Trận dịch hạch lớn cuối cùng là vào năm 1855, bắt đầu ở Trung Quốc, và đã giết chết 10 triệu người chỉ riêng ở Ấn Độ. Chỉ đến năm 1895 bác sĩ Alexandre Yersin mới tìm ra nguyên nhân của dịch này khi nghiên cứu sự bùng phát ở Hong Kong.
Vũ điệu tử thần (trong Biên niên sử Nuremberg).
Câu chuyện về các trận dịch, vì thế, là câu chuyện về số phận, trình độ kỹ thuật, và khả năng tổ chức của các xã hội người. Nó giúp chúng ta hiểu thêm về tình hình sức khỏe, vệ sinh, sức đề kháng của xã hội, mô hình thể chế hay khả năng thích ứng của các hệ thống chính trị. Hãy lấy cuộc viễn chinh của Napoleon vào nước Nga làm ví dụ. Năm 2001, các công nhân xây dựng tìm thấy một hố chôn tập thể khoảng 2.000-3.000 người tại Vilnus, Lithuania. Từ các bộ đồng phục và huy hiệu, đồng phục… người ta tin rằng đạo quân này chính là những người lính Pháp được chôn cất vội vã trên đường tháo chạy khỏi nước Nga vào năm 1812. Điều đáng chú ý là các nhà khoa học tìm ra nguyên nhân cái chết của 1/3 những người lính này là do sốt phát ban. Đây là một chỉ dấu quan trọng góp thêm những cánh cổng vào quá khứ. Trước giờ, các sử gia vẫn chủ yếu hướng tới thời tiết mùa đông nước Nga, ý chí của người Nga, sự thiếu chuẩn bị của người Pháp… Nhưng rõ ràng là vị hoàng đế vĩ đại Napoleon không chỉ bị đánh gục bởi các bộ óc thiên tài của người Nga mà còn bởi chấy rận (các vật chủ truyền bệnh).
Xét rộng ra, "Cái chết đen" đã tham gia vào việc thay đổi nhiều trang sử của nhân loại.
Dịch bệnh này đã làm thay đổi con người sinh học. Nghiên cứu của Sharon DeWitte (University of South Carolina) khảo sát phụ nữ London trong hai giai đoạn: năm 1000–1200 và 1350–1540 và gợi ý rằng "Cái chết đen" gây ra tác động làm giảm chiều cao của phụ nữ.
Thay đổi thể chất và tinh thần xã hội
Dịch hạch không chỉ thay đổi thể chất mà còn tinh thần của xã hội. Trong cơn hoảng loạn tuyệt vọng trước cái chết, những người Thiên Chúa giáo cuồng tín đã tập hợp lại thành các Flagellants. Từ này trong gốc Latin có nghĩa là roi da, ám chỉ việc họ tự nguyện hành hạ cơ thể mình để cứu chuộc tội lỗi hòng xin Chúa trời giúp thoát khỏi dịch bệnh. Tập hợp thành hàng vạn người, họ kéo qua các lãnh địa và làng mạc châu Âu, đặc biệt là trên lãnh thổ các vùng đất ngày nay là Đức, Pháp, Ý. Thực tế việc tập trung đông người và di chuyển liên tục đã làm tăng nguy cơ lây bệnh của những người này, trong khi các vết thương hở trên cơ thể tạo ra cơ hội cho bệnh tật xâm nhập.
Một hệ quả nghiêm trọng hơn là việc họ reo rắc thù nghịch tôn giáo và tộc người đằng sau các cuộc hành trình này. Người Do Thái được cho là nguyên nhân của dịch bệnh. Dù cũng bị ảnh hưởng của dịch, nhưng việc giữ vệ sinh và lối sống tương đối phân tán của người Do Thái làm cho họ ít bị ảnh hưởng. Người Thiên Chúa giáo cáo buộc người Do Thái đã đầu độc các nguồn nước để hủy diệt các xã hội châu Âu và việc lan truyền các tin đồn này tạo ra nhiều cuộc phá hủy và tàn sát đối với cộng đồng Do Thái. Nhiều nhóm trong số này tại các thành phố như Strasbourg, Mainz, Cologne, Munich… đã bị giết hại một cách thảm khốc.
Tâm lí bài người Do Thái có lẽ đã dần được hình thành từ những tin đồn, nỗi ám ảnh và sự hoảng loạn như thế. Rome không được xây trong một ngày, và lịch sử lâu dài này đã gây ra hậu khủng khiếp với các lí thuyết tộc người, chủng tộc hiện đại của chủ nghĩa phát xít Đức thế kỷ XX.
Tất cả các khía cạnh chính trị, xã hội của châu Âu đều bị tác động bởi trận dịch hạch giữa thế kỷ XIV.
Cấu trúc chính trị xã hội là một ví dụ. Ở London vào năm 1357, 1/3 tài sản của thành phố bỏ hoang vì không có đủ dân số. Lương bổng ở các thành phố bắt đầu gia tăng sau trận dịch. Đất đai bỏ hoang cũng thúc đẩy làn sóng di chuyển của nông dân. Chuyển dịch xã hội vì thế gia tăng theo không gian địa lý và cấu trúc xã hội. Không phải ngẫu nhiên mà sự năng động xã hội này sẽ thúc đẩy cho một bước tiến mới của lịch sử châu Âu ở giai đoạn sau.
"Cái chết đen" tham gia góp phần làm thay đổi lịch sử châu Âu, lịch sử các đế chế và lịch sử toàn cầu. Người Mông Cổ và các vương quốc của họ bắt đầu mất đi các sự kết nối cần thiết, phân tán, và bị địa phương hóa mạnh hơn. Đúng hai thập kỷ sau trận dịch, một người nông dân-nạn nhân của các nạn đói và dịch bệnh tên Chu Nguyên Chương đã lãnh đạo người Hán giành lại quyền kiểm soát vùng bình nguyên giữa hai con sông Hoàng Hà-Trường Giang và lập ra một đế chế mới có tên Đại Minh.
Khi sức ép của quân Mông Cổ lên châu Âu giảm đi, đó là thời cơ cho một đế chế khác nổi lên giữa lục địa Á-Âu: Ottoman. Dịch hạch rõ ràng đã đã làm thay đổi ngôi thứ của các đế chế. Việc quân Ottoman kiểm soát các tuyến đường thương mại và việc các thành thị dọc Địa Trung Hải của Italia bị tàn phá bởi dịch bệnh đã gây ra một chuyển dịch lớn về địa chính trị ở châu Âu nhằm chuẩn bị cho thời kỳ tư bản hiện đại. Đó là việc các trung tâm kinh tế sầm uất của Venice, Genoa… sẽ dần dần được thay thế bởi người Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hà Lan, và sau đó là Anh, Pháp…
Những cường quốc này sẽ thúc đẩy thương mại đường biển thay vì con đường tơ lụa trên bộ truyền thống. Điều đó mở ra các cuộc phát kiến địa lý, tìm ra châu lục mới, thương mại hàng hải toàn cầu, chế độ nô lệ, chủ nghĩa thực dân….
Một chú giải nhỏ cuối cùng của câu chuyện quá khứ đau thương này xin được dành cho nàng công chúa của nước Anh: Joan, cô con gái được yêu chiều của vua Edward III (1312–1377). Vị vua đang can dự vào một trong các cuộc chiến tranh, dàn xếp chính trị và hôn nhân quan trọng nhất của Tây Âu có tên gọi: Chiến tranh Trăm năm (1337 - 1453). Để bảo đảm cho thắng lợi của mình trước người Pháp và mở rộng các vùng đất đang kiểm soát trên lục địa, Edward III quyết định gả con gái cho hoàng tử kế ngôi Peter của vương triều Castile (Tây Ban Nha). Cuộc hôn nhân chắc chắn sẽ tạo ra một bước ngoặt mới của cuộc chiến mà hệ quả của nó là việc vẽ lại bản đồ châu Âu.
Sau ba năm đính ước, mùa hè năm 1348, Joan được hộ tống từ Anh tới Tây Ban Nha bằng một hạm tàu vũ trang nghiêm ngặt gồm bốn chiếc. Một trong số đó được dành riêng cho xiêm y và đồ trang sức của nàng công chúa. Khi hạm thuyền tới Bordeaux, bệnh dịch đã tràn tới thành phố này, tuy nhiên người Anh dường như chưa nhận thức được tính chất nghiêm trọng của nó. Rất nhanh chóng, những người tùy tùng bỏ mạng, và tới lượt nàng công chúa 15 tuổi, qua đời ngày 1/7/1348.
Joan đã lỡ hẹn một cuộc hôn nhân, còn nước Anh lỡ hẹn với một đồng minh. Lịch sử không có nếu. Còn những gì diễn ra sau sự lỡ hẹn này là kết cục cuối cùng nước Anh thất bại trong cuộc chiến Trăm năm, nước Pháp tập quyền bắt đầu hưng thịnh, và lịch sử châu Âu sang trang mới.
Sẽ là cường điệu quá mức khi nói rằng chuột đen hay những con bọ chét đã vẽ lại bản đồ châu Âu, đánh tráo trật tự đế chế hay xác lập quyền lực toàn cầu, nhưng rõ ràng chúng đã tham gia vào các thời khắc quan trọng như thế của lịch sử con người. Và sẽ còn tiếp tục can dự trong tương lai.
Để kết lại, nếu có bài học gì từ quá khứ các trận dịch và số phận đau thương của con người thì đó chính là khả năng kiểm soát dịch bệnh và ổn định tình hình của người quản trị xã hội. Các tin đồn và hệ quả bi thảm của chúng là khía cạnh khác cần phải được xem xét nghiêm túc từ góc độ chính sách. Lịch sử cho thấy bản thân dịch bệnh đã là thảm họa, tuy nhiên các tin tồn và phản ứng thái quá có thể tạo ra sự hỗn loạn và chết chóc ở tầm mức lớn hơn nhiều, bao gồm có chiến tranh, bạo lực xã hội, xung đột tộc người, tôn giáo….
Từ việc người Do Thái bị săn lùng giữa những "Cái chết đen" cho tới giá khẩu trang tăng gấp 10 lần, câu chuyện của dịch bệnh vượt xa khỏi các bệnh viện. Đó là phép thử nghiệt ngã không chỉ đối với tính dẻo dai của tổ chức xã hội, tiềm lực của tích lũy xã hội mà còn là khả năng phản ứng của thể chế chính trị và nhà nước nhằm đối phó trong thời gian ngắn với sự sống còn của giống loài.□
Thạc sĩ Vũ Đức Liêm -- giảng viên khoa Lịch sử, ĐH Sư phạm Hà Nội, nghiên cứu Lịch sử tại ĐH Hamburg. – đang là tác giả nhiều nghiên cứu đột phá về lịch sử cận đại VN và khu vực. Các bài viết của ông thường triển khai theo lối nhìn và cách viết của sử học hiện đại phương Tây nên rất hấp dẫn và theo tôi hiểu là có đóng góp cho sử học -- với ý nghĩa là tìm cách viết lại thứ sử quan phương khô cứng và lạị nhiều phần giả dối đang được dạy ở nhà trường hiện nay-- đồng thời làm cho người ta thêm yêu môn khoa học đang bị coi là nhàm chán này. Ông vừa tham gia vào hoạt động chống dịch bệnh hôm nay bằng chính cái phần chuyên môn sâu sắc của mình. Bài viết trên tạp chí Tia sáng “Bệnh dịch và số phận của con người xã hội” công bố vào ngày 22/02/2020, có ở đường link https://tiasang.com.vn/…/Benh-dich-va-so-phan-cua-con-nguoi… Mở đầu ông nói tới một chi tiết mà theo tôi nhớ thì … chưa một nhà nghiên cứu văn học nào biết. "Mùa thu năm 1820, tham tri Lễ bộ Nguyễn Du đang chuẩn bị cuộc hành trình sang Bắc Kinh. Vị quan chức được nhà vua mới lên ngôi Minh Mệnh cử đi sứ trong một nhiệm vụ đặc biệt: báo tang vua cha Gia Long và xin cầu phong. Không may là một trận dịch tả đã tràn qua Việt Nam vào thời điểm đó, và nhà thi hào cùng với hàng trăm nghìn người Việt khác đã bỏ mạng." Rồi đúng với tư cách nhà sử học ông tóm tắt tình hình bằng cách đưa ra những con số "Trận dịch này bắt đầu từ năm 1816, quét qua Ấn Độ từ 1820 và bắt đầu vào Việt Nam trong cùng năm, lan từ Hà Tiên lên Bắc thành. Sử nhà Nguyễn thống kê: số hộ khẩu chết tất cả là 206.835 người, không kể số nam phụ lão ấu ở ngoài hộ tịch. Nhà nước bỏ ra 730.000 quan tiền để cứu chẩn, mai táng. Với quy mô dân số Việt Nam dưới 10 triệu người vào đầu thế kỷ XIX, hơn 4% dân số đã bị thiệt mạng. Nếu một trận dịch với tỉ lệ tương tự vào năm 2020, 4 triệu người Việt Nam sẽ bị đe dọa tính mạng." Trong phần kết luận, Vũ Đức Liêm nói rõ: chuyện dịch bệnh ở xã hội nào cũng vậy, đều có liên quan tới “mô hình thể chế hay khả năng thích ứng của các hệ thống chính trị.” . Nghiã là giông như mọi hiện tượng xảy ra trong quá khứ, nó luôn luôn có ý nghĩa thời sự. …Dịch bệnh không chỉ làm thay đổi thể chất mà còn tinh thần của xã hội. …nếu có bài học gì từ quá khứ các trận dịch và số phận đau thương của con người thì đó chính là khả năng kiểm soát dịch bệnh và ổn định tình hình của người quản trị xã hội. ---- Ngày 29/02/2020, người ta đọc được trên tờ Tuổi trẻ một bài viết có tính cách phổ thông - bài “Gần 70 trận dịch bệnh ở Việt Nam thế kỷ 19, thi hào Nguyễn Du qua đời vì dịch” tác giả là Phạm Hoàng Quân - một nhà sử học xuất sắc khác . https://tuoitre.vn/gan-70-tran-dich-benh-o-viet-nam-the-ky-… Nhưng Phạm Hồng Quân không dừng lại ở những bài báo phổ cập . Phát triển trên cơ sở bài “ Lược đàm về dịch bệnh ở nước ta trong thế kỷ 19 ” đã đăng trên Tuổi Trẻ Cuối Tuần, 1-3-2020, ít ngày sau ông lại hoàn thành công trình nghiên cứu“ Lược khảo về dịch bệnh ở Việt Nam hồi thế kỷ 19 qua ghi chép trong Đại Nam thực lục” và đưa đầu tiên trên Diễn Đàn. Bài viết rất uyên bác này tổng cộng tới hơn 15 ngàn chữ có kèm thêm cả những bảng minh họa và bản chụp lại trang chữ Hán lấy từ các tài liệu gốc. https://www.diendan.org/…/luoc-khao-ve-dich-benh-o-viet-nam… ---- Đại Nam thực lục là bộ biên niên sử Việt Nam viết về triều đại các chúa Nguyễn và các vua nhà Nguyễn. Đây là một trong hai bộ sử quan trọng nhất được thực hiện trong thời nhà Nguyễn, bộ kia là Việt Sử Thông Giám Cương Mục. Nếu bộ sử thứ hai bao quát về lịch sử Việt Nam từ khởi thủy trở đi thì bộ thứ nhất tức Đại Nam thực lục viết riêng về triều nhà Nguyễn. Ta có thể thấy ở đây lối viết sử tiêu biểu của người Việt trong các thể kỷ trước tức là thiên về biên niên và ghi chép rất tỉ mỉ. Lắm lúc tôi tần mẩn tự hỏi nếu bây giờ có ai hỏi về tình hình dịch bệnh ở xã hội ta suốt 75 năm qua - tức là từ 1945 đến nay như thế nào -- thì chỉ có cách bó tay vì chả có sách vở nào ghi chép cả. Mà chả cứ dịch bệnh , cái gì liên quan đến đời thường đều bị các nhà sử học thời ta coi nhẹ. Các nhà viết sử quan phương này chỉ thích nói về những chiến công những thành tích với những lời lẽ hoa mỹ kiểu nước đường và lối nghĩ ấy lây lan ra cả xã hội. Có thể nói về mặt quan niệm sử học, lối viết sử này thua xa các thế hệ trước từ thời các triều Trần, Lê. Tới thế kỷ 19, trong hoàn cảnh một đất nước trưởng thành và thống nhất, các vua nhà Nguyễn đã có ý thức chỉ đạo các sử quan ghi chép tương đối chính xác về các hiện tượng trong triều chính cũng như ngoài dân chúng đang xảy ra - nó chứng tỏ cái tự ý thức của xã hội hồi ấy tốt hơn chúng ta ngày nay rất nhiều. Vào khoảng những năm 60 của thế kỷ 20, nhà văn Nguyễn Tuân có lần ngồi khảo lại cuốn Tắt Đèn đã giở lại những trangĐại Nam thực lục có ghi chép về tình hình thuế được thực thi trong xã hội Việt mãi tới khi người Pháp đã cai trị, đặc biệt là thuế thân và các loại thuế nông nghiệp, từ đó đã có sự khẳng định độc đáo và tốt đẹp dành cho những trang tiểu thuyết của Ngô Tất Tố. ( Tôi hiện còn giữ được những trang viết về thuế trong một cuốn trong bộ sách Đại nam thực lục hơn 30 tập khổ 13.19 ở đó Nguyễn Tuân sành đọc sử đã khuyên đỏ bên lề những trang sử cũ có ghi những con số mà ông cho rằng thuyết phục hơn mọi lời bình tán khác). Nhờ dựa vào Đại Nam thực lục nên về mặt tư liệu bài khảo vè dịch của Phạm Hoàng Quân nhắc ở trên là một văn bản hết sức hàm xúc như rất hiếm thấy trong các công trình sử học viết bằng tiêng Việt hiện thời. Sau phần Phân loại sơ bộ và lược tả là các phần Việc mô tả bệnh chứng, xác định tên dịch bệnh rồi đến Sự ứng phó dịch bệnh của triều đình bao gồm từ các Liệu pháp tinh thầnViệc chữa trị Việc trợ cấp cùng những Thất xuất trong việc cai quản. Đây là một đoạn ghi lại tâm lý và ứng xử vừa thực tế vừa chu đáo và cận nhân tình của nhà cầm quyền đương thời Đến năm 1874, có thể là do qua thời gian được tiếp cận kiến thức khoa học Tây dương, trong một trận dịch bệnh thấy Tự Đức nói : “ Phàm cầu đảo không có công hiệu, nhưng cứ yên lặng ngồi nhìn thì không yên tâm, mà không có phép gì cho khỏi được. Chỉ dốc sức các phủ huyện đi xuống làng ấp gia tâm thăm hỏi, người bệnh thì cho thuốc, người đói thì cho cơm, xét khuyên những nhà giàu thương nhau chu cấp cho nhau, không đủ thì cấp gạo kho công cho chóng được yên ” --- Tôi cho rằng cách tồn tại của các nhà khoa học, các nhà trí thức trong hoàn cảnh khó khăn của xã hội phải là như thế, tức nên như trường hợp của Vũ Đức Liêm và Phạm Hoàng Quân nói trên . Không nên lao đầu vào những cuộc bàn luận dông dài về những vấn đề thời sự mà mình không thành thạo mà hãy tiếp tục làm công việc chuyên môn của mình. Còn nếu như trong chuyên môn, thấy có phần nào gắn bó với tình hình thời sự thì nhanh chóng hoàn thành. Nó chính là một phần góp thêm vào cho hoạt động của các nhà trí thức chuyên môn khác đang trực diện cứu giúp người dân trong tai họa. Ngoài nội dung cụ thể các bài viết của Vũ Đức Liêm và Phạm Hoàng Quân có ý nghĩa gợi mở một phương hướng làm việc cơ bản và lâu dài cho các nhà khoa học xã hội. Ý tôi muốn nói chỉ đơn giản là các khía cạnh của đời sống chúng ta đang sống rất cần được ghi chép một cách tỉ mỉ theo góc nhìn và các phương pháp hiện đại. Sử học không chỉ để phục vụ cho các ý đồ của nhà cầm quyền và nhu cầu tự thỏa mãn của người đương thời, mà còn phải đóng góp vào việc vẽ lại bộ mặt của xã hội cả cái thời chúng ta đang sống để làm tài liệu cho các thế hệ tương lai tiếp tục suy nghĩ và phán xét.
Chả ai như tôi. Liều. Vuốt râu hùm. Có thể góp ý với học trò, với vợ (đừng dại góp ý gì với người yêu bởi người yêu bao giờ cũng đúng), với đồng nghiệp, với hàng xóm… đều được, nhưng chớ với chính phủ. Chả bao giờ họ nhận sai, trừ khi đã sai lè lè. Chính phủ cũng giống như tình nhân, giống thủ trưởng cơ quan, chỉ có từ đúng giở lên. Hồi xưa còn đi làm, mỗi lần cuối năm nhận bản bình xét thi đua, phần góp cho thủ trưởng, tôi chỉ dám nhận xét thủ trưởng có mỗn khuyết điểm nóng tính, làm việc quá sức không biết giữ gìn sức khỏe. Đụng vào chỗ khác, chết.
Cách nay 3 hôm, chính phủ ban lệnh “cách ly xã hội”. Tưởng rằng cứ thế mà thực hiện, ai ngờ ông chằng bà chuộc, mỗi người mỗi nơi một phách, rất lằng nhằng. Nhiều nơi còn cấm không cho đi lại, nội bất xuất ngoại bất nhập. Có nơi kiểm soát rất gắt gao, quá thời bao cấp ngăn sông cấm chợ. Hải Phòng không cho xe nơi khác vào đất mình. Sài Gòn cũng vậy. Có nơi như ở thành phố Hạ Long vùng Quảng Ninh còn dựng chiến lũy, đào chiến hào, chăng dây thép gai, con ruồi bay qua không lọt, chỉ thiếu điều đứa nào vượt lũy là bắn. Ghê hơn cả hồi chiến tranh đánh du kích. Nói túm lại, do cách hiểu bị vênh, trình độ hiểu biết của cán bộ địa phương có hạn, nhưng không thể bỏ qua nguyên nhân: văn bản, lệnh của chính phủ lửng lơ, không rõ ràng, ỡm ờ, kiểu như muốn hiểu sao thì hiểu.
Trước hết phải nói cho vuông, chính phủ thời gian qua đã chỉ đạo chống dịch rất quyết liệt, tức thời, hiệu quả, nhận được sự đồng tình, ủng hộ, chấp hành của số đông, của cộng đồng. Cần ủng hộ chính phủ để dập tắt dịch. Dịch là điều chả ai muốn, nhưng đây cũng là cơ hội “trời cho” để chính phủ và các thành viên chính phủ tự chứng tỏ khả năng của mình. Ai hay ai dở, ai tốt ai xấu, ai tích cực ai lười biếng… đều phát lộ. Những người như ông Phúc ông Đam đang được dân chúng xem xét, chờ đợi, hy vọng. Tuy nhiên, các cụ xưa nói “thần thiêng nhờ bộ hạ” (nhớ là bộ hạ, tức kẻ dưới trướng thân tín, chứ không phải hạ bộ như nhiều người nhầm tai hại), thế mà đám tham mưu, đề xuất chủ trương đường lối, nhất là đám soạn thảo văn bản của các vị “thần” nhiều lần quá dở, làm các vị mất thiêng.
Thú thực, tôi nghĩ mãi chả hiểu “cách ly xã hội” là thứ cách ly gì, cách ly như thế nào cho phải phép. Giờ mà Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn có sống lại chắc cũng khó cắt nghĩa cho thông. Nhưng nếu bảo là “giãn cách xã hội” thì dễ tỏ tường hơn. Nói đơn giản là tạo ra khoảng cách giữa người với người, cộng đồng này với cộng đồng khác, hạn chế đi lại, hạn chế tiếp xúc. Cứ giãn ra, đừng tạo điều kiện để dịch lây lan. Thà thế đi, sẽ dễ hiểu, sẽ không có chuyện “Anh Đặng Văn Hùng ở quận Hà Đông (Hà Nội) đưa vợ về nhà bố mẹ ở quận Hải An (Hải Phòng). Khi rời cao tốc, lực lượng chức năng ở chốt kiểm soát phòng chống dịch Covid-19 đã yêu cầu quay đầu xe vì Hải Phòng đang thực hiện chủ trương không cho ô tô từ vùng dịch vào TP. Anh đành đưa cả nhà quay về Hà Nội sau hơn 100km chạy xe” (theo báo VNN), không còn chuyện dựng chiến lũy như ở Hạ Long.
Chiều nay 3.4, ông Phúc còn trách rằng nhiều địa phương hiểu không đúng về “cách ly xã hội”. Giời ạ. Đừng trách những địa phương này nọ hiểu sai lệnh của chính phủ. Trước khi trách người, hãy tự trách mình trước đã. Lệnh nội dung lằng nhằng, không rõ, làm kiểu nào cũng đúng, thì lỗi trước hết thuộc chính phủ, thuộc đám soạn thảo văn bản, chứ không phải đám thực hiện lệnh.
Tôi hiểu, chính phủ cũng có ý e dè, cân nhắc, cẩn thận từng tí khi ban bố điều gì bởi nó liên quan tới cả trăm triệu người. Họ ngại dùng từ “phong tỏa”, nghe ghê gớm quá, nghiêm trọng quá. Nhưng xin nhớ rằng vẫn có thể ban hành lệnh phong tỏa hạn chế. Phong tỏa không có nghĩa “nội bất xuất, ngoại bất nhập” tạo ốc đảo, ngăn cách hoàn toàn với bên ngoài. Chưa đến mức phong tỏa cả nước nhưng có thể phong tỏa từng khu vực, từng vùng, từng tỉnh từng huyện, nhất là những nơi tâm dịch, bị nặng. Xã Sơn Lôi ở Vĩnh Phúc là một ví dụ, có cấm hoàn toàn việc ra vào đâu mà vẫn kiểm soát được dịch. Dịch nhạt thì cởi lệnh. Lúc này có thể phải có nhiều Sơn Lôi nhưng cấp dưới sẽ dễ chấp hành lệnh của chính phủ hơn, chứ cứ ỡm ờ cách ly cách ly chả biết thế nào mà lần.
Hồi xưa, thầy giáo dạy chúng tôi về vở kịch Hamlet của Shakespeare (Sếch Pia). Thầy bảo cái anh chàng Hamlet buồn cười lắm, lúc nào cũng lẩm bẩm “To be or not to be” (tồn tại hay không tồn tại) trước khi quyết định điều gì. Cái hay ở chỗ rất thận trọng, cân nhắc kỹ trước khi làm. Cái dở ở chỗ cứ do dự loay hoay tính toán thiệt hơn nên không chỉ bỏ qua cơ hội thành công mà còn rất khó thực hiện.
Tôi thấy chính phủ xứ này nhang nhác có chất của anh chàng Hamlet.