Nhà máy điện khí Sơn Mỹ 2 có tổng công suất 2,2GW và được đặt tại tỉnh Bình Thuận. Với tổng vốn dự kiến 1,7 tỷ USD, dự án do Tập đoàn AES (Hoa Kỳ) đầu tư, sẽ có thời hạn hợp đồng với Chính phủ Việt Nam là 20 năm.
Lễ ký kết các thỏa thuận kinh doanh Hoa Kỳ và Việt Nam
Hôm qua (8/11), đại diện Bộ Công Thương và Tập đoàn AES (Hoa Kỳ) đã ký kết Biên bản ghi nhớ (MOU) về việc triển khai thực hiện Nhà máy Điện khí Sơn Mỹ 2 (CCGT). Lễ ký kết được tổ chức với sự tham dự của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc, Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh, Bộ trưởng Thương mại Hoa Kỳ Wilbur Ross và Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Daniel Kritenbrink.
Theo ông Mark Green, Chủ tịch AES khu vực châu Á - châu Âu, khí LNG cung cấp giải pháp năng lượng sạch hơn, tin cậy hơn với giá cả phải chăng hơn và do đó sẽ giữ vai trò chủ chốt trong việc giải quyết nhu cầu năng lượng đang ngày càng tăng của Việt Nam.
“Biên bản ghi nhớ này là một cột mốc quan trọng đối với quá trình phát triển Nhà máy Sơn Mỹ 2, dự án mà chúng tôi tin rằng sẽ giúp chuyển đổi ngành năng lượng tại Việt Nam", ông Mark Green nói.
Theo biên bản ghi nhớ, Sơn Mỹ 2 chính là dự án bổ sung cho kế hoạch đầu tư của AES vào cơ sở hạ tầng khí đốt tại Việt Nam cùng với Kho cảng nhập khí hóa lỏng (LNG) Sơn Mỹ với tổng vốn đầu tư dự kiến 1,4 tỷ USD đã được Chính phủ Việt Nam phê duyệt hồi tháng 8/2019.
Với sự kết hợp này, nhà máy điện và kho cảng nhập khí hóa lỏng sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc định hình tương lai năng lượng của Việt Nam, bằng cách đa dạng hóa các nguồn năng lượng kết hợp với nguồn LNG nhập khẩu, cũng như đáp ứng nhu cầu nguồn điện bền vững với giá cả hợp lý ngày càng tăng của đất nước.
Hộ chiếu giả, thuốc ngủ, hàng loạt người bỏ trốn, mọi thứ đều ly kỳ như một bộ phim chiến tranh gián điệp. Tuy nhiên cảnh tượng này là cuộc sống thực ở Đông Berlin vào những năm 1960. Đào thoát và ở lại, số phận thay đổi chỉ nằm ở suy nghĩ; sự sống và cái chết, âm dương cách trở chỉ nằm ở đường giới tuyến. Trước lựa chọn quan trọng của cuộc đời, những người dũng cảm dám mạo hiểm cuộc sống để đi tìm tự do.
Jochen Wolter, cựu quan chức báo chí của Tổng lãnh sự quán Đức tại New York, trước khi nghỉ hưu ông làm việc tại Văn phòng Báo chí Liên bang Đức (Hình: Epoch Times).
Jochen Wolter, 66 tuổi, vừa bước vào tuổi nghỉ hưu. Ông từng là quan chức của Văn phòng Báo chí Liên bang Đức, phụ trách hoạt động thông tin về năng lượng, phát triển và phát triển bền vững. Từ năm 2009 đến 2014, ông là quan chức báo chí của Tổng lãnh sự quán Đức tại New York. Vào những năm 1990, ông cũng làm việc tại Trung tâm Báo chí Đức ở New York.
Nhưng bây giờ chúng ta không nghe ông kể về kinh nghiệm làm việc phong phú, mà nghe ông kể về thời thơ ấu. Vào ngày 13/8/1961, Bức tường Berlin đã được dựng lên chia đôi nước Đức theo hai phe của thế giới. Năm đó Wolter sống ở Đông Berlin chỉ mới 8 tuổi, vẫn chưa hiểu chuyện gì đã xảy ra. Cho đến chuyến đi bất thường vào một đêm của Tháng 11… Chúng ta hãy tĩnh tâm cảm nhận câu chuyện ông kể.
Phóng viên: Tuổi thơ của Ngài ở Đông Berlin và Đông Đức như thế nào?
Wolter: Tôi sinh năm 1953, khi Bức tường Berlin được xây dựng thì tôi chỉ mới 8 tuổi. Là một đứa trẻ khi chưa đi học, cuộc sống thường ngày có thể không khác nhiều so với phần còn lại của nước Đức. Chúng tôi có một ngôi nhà mùa hè tuyệt đẹp trên một hồ nước ở ngoại ô Đông Berlin, chúng tôi luôn đến đó vào mùa hè và cuối tuần.
Tuổi thơ của tôi đã thay đổi sau khi tôi bắt đầu đi học. Mỗi sáng thứ Hai là phải nghe rao giảng về lòng trung thành trong khuôn viên trường, đó là dấu hiệu rõ ràng đầu tiên cho thấy học sinh tiểu học nằm dưới sự kiểm soát của nhà nước. Được yêu cầu hăng hái tham gia tổ chức cộng sản “Đội Thiếu niên tiền phong” (Junge Pioniere), là một phương thức khác trong kiểm soát ý thức hệ. Lúc đó, bố mẹ tôi không cho tôi tham gia, còn tôi phản đối họ trong chuyện này. Đối với tôi, có vẻ thú vị hơn khi được giống như bạn bè của tôi.
Phóng viên: Thời điểm đó cha mẹ Ngài làm công việc gì? Có gặp rắc rối khi không chịu gia nhập Đảng Cộng sản Đông Đức?
Wolter: Cha tôi là bác sĩ hàng đầu của một bệnh viện nhà nước, mẹ tôi là một y tá được đào tạo bài bản, bà cũng có trách nhiệm chăm sóc gia đình 6 người chúng tôi, bao gồm 2 chị gái và em trai sinh đôi của tôi. Cha tôi thường được đề nghị gia nhập Đảng Cộng sản, nhưng ông không bao giờ tham gia, vì trước khi Bức tường Berlin được xây dựng thì vẫn luôn đầy cơ hội có thể chạy khỏi Đông Đức. Nhưng sau khi Bức tường Berlin được xây dựng thì chúng tôi cảm thấy bị áp lực chưa từng thấy.
Cha tôi sở dĩ có thể giữ được địa vị chỉ vì họ thực sự cần ông. Nhưng ông phải rất cẩn thận về những gì đang làm, bởi vì có tai mắt ở khắp mọi nơi, họ đang chờ đợi ông nói một từ sai hoặc đưa ra nhận xét không phù hợp để có cớ sa thải ông. Cha tôi nhận ra rằng địa vị bác sĩ của ông không phải luôn được đảm bảo ổn định.
Phóng viên: Cha mẹ Ngài hy vọng phương Tây được tự do như thế nào? Điều gì khiến họ bận tâm nhất: không có tự do thờ cúng, tự do ngôn luận, tự do bầu cử, tự do quyết định công việc, hoặc thiếu nhu yếu phẩm hàng ngày?
Wolter: Ngoài các quyền tự do mà bạn đã đề cập, điều đáng lo ngại nhất đối với họ là vấn đề giáo dục. Rốt cuộc, có 4 đứa trẻ đang đi học, nếu ở lại Đông Đức thì khả năng trong tương lai được vào đại học và được giáo dục tốt là gần như bằng không.
Bởi vì tư tưởng chủ nghĩa cộng sản thay đổi hoàn toàn hoặc có thể nói là hủy hoại hình thái xã hội từ căn bản. Chính quyền đã biến giáo dục đại học thành một thứ đặc quyền, khiến chuyện vào đại học của tầng lớp công nhân trở thành một dạng đãi ngộ đặc biệt. Như vậy sẽ tạo ra những công dân ngoan ngoãn, họ sẽ mang ơn vì được đãi ngộ đặc biệt và sẽ không muốn chỉ trích hoặc phản đối chế độ.
Trước khi Bức tường Berlin được dựng lên, dù vẫn thật khó thấy được tính đa dạng của tự do và lựa chọn, nhưng vẫn luôn có cơ hội để thực hiện, chị tôi thậm chí đã đi đến trường học ở Tây Berlin. Nhưng mọi thứ đều thay đổi sau khi Bức tường Berlin được xây dựng. Vì bố mẹ tôi không muốn từ bỏ bất kỳ quyền tự do nào nên quyết định bất chấp tất cả để rời khỏi Đông Đức.
Phóng viên: Ngài có còn nhớ chuyện được nghe cha mẹ của Ngài kể về dự định trốn khỏi Đông Berlin không?
Wolter: Không, trước mặt con cái họ không bao giờ đề cập chuyện này. Nhưng chúng tôi chú ý thấy tâm trạng của họ đã thay đổi rất nhiều kể từ ngày 13/8/1961 khi chúng tôi rơi vào cảnh hoàn toàn bị ngăn cách với biên giới Tây Berlin và Tây Đức.
Tháng 9/1961, cha mẹ tôi đã nhanh chóng thu xếp một kỳ nghỉ cho gia đình ở Thüringen. Sau đó chúng tôi mới biết họ muốn quan sát “biên giới xanh” (Grüne Grenze), đó là khu rừng rậm rạp giáp với Tây Đức, nếu chúng tôi tìm thấy một lỗ hổng trong hàng rào mà không ai canh chừng thì chúng tôi có thể băng qua. Nhưng khi đó việc kiểm soát biên giới rất nghiêm ngặt với những người bảo vệ có vũ trang và những chú chó cảnh sát được huấn luyện tốt, điều này khiến những rủi ro trở nên quá lớn. Đây rõ ràng không phải là một lựa chọn khả thi.
Phóng viên: Trẻ em rất khó giữ bí mật, cha mẹ Ngài che giấu các con kế hoạch trốn thoát phải chăng vì sợ bị lộ?
Wolter: Có lẽ vậy, họ thực sự làm rất hay. Cho đến tận ngày cuối cùng mà tôi và em trai vẫn không biết gì. Các chị có thể biết nhiều hơn chút, nhưng điều chắc chắn là họ đã được căn dặn phải giấu kín. Nói chung, người Đông Đức đã quen với việc thận trọng và im lặng, vì mọi người không bao giờ biết ai đang nghe lén.
Phóng viên: Mong Ngài chia sẻ về tổ chức giúp Ngài trốn thoát và những người dũng cảm đó, làm cách nào mọi người vượt qua được Bức tường Berlin?
Wolter: Giúp chúng tôi trốn thoát là một mục sư Tin lành ở Tây Đức. Ông ấy đã liên lạc với một tổ chức sinh viên Thụy Sĩ, họ đã lên chiến lược và kế hoạch cụ thể để giúp chúng tôi thoát khỏi Đông Đức. Thành viên của tổ chức này vào vai du khách đến đến thăm Đông Berlin, đã liên lạc với cha mẹ tôi.
Kế hoạch của họ là cho chúng tôi mang hộ chiếu Thụy Sĩ giả, đi đến Tây Berlin với tư cách là một “du khách trở về” từ Đông Berlin. Gia đình chúng tôi được chia thành ba nhóm để đi vào các trạm kiểm soát khác nhau. Mẹ tôi đồng ý với điều kiện bà phải đi cùng 2 con song sinh 8 tuổi. Do đó kế hoạch có một số thay đổi nhỏ.
Để giảm tối đa rủi ro, chúng tôi không chia sẻ kế hoạch bỏ trốn này cho bạn bè ở Đông Berlin, chỉ có một ngoại lệ là một người bạn rất đáng tin cậy. Cậu ấy đưa chú chó Mira của chúng tôi đến một bãi đậu xe trên đường quá cảnh giữa Tây Berlin và Tây Đức, sau đó giao lại Mira cho người bạn Tây Berlin “vừa may” đang ở đó.
Phóng viên: Trải nghiệm chạy trốn của Ngài cùng người thân gia đình không khác gì bộ phim kinh dị. Hãy cho chúng tôi biết ngày chạy trốn là ngày nào? Chuyện gì đã xảy ra ngày hôm đó?
Wolter: Ngày chạy trốn là ngày 11/11/1961, một ngày thứ Bảy có mưa rơi. Cha mẹ cho phép tôi và em trai tôi xem truyền hình đến tận đêm khuya, đây là điều bất thường đối với chúng tôi. Chúng tôi được thông báo rằng cả gia đình chuẩn bị đến thăm một người chú ở Tây Berlin, trong nhà ông ấy có một mô hình đường sắt lớn.
Bước tiếp theo là thay quần áo. Mẹ tôi mặc quần áo khác với quần áo thông thường, bộ quần áo này chỉ mang nhãn hiệu thuộc công ty phương Tây. Đây là một biện pháp phòng ngừa để đối phó với tình huống tại các trạm kiểm soát phải cởi quần áo cho khám xét, vì du khách Thụy Sĩ sẽ không bao giờ mặc quần áo có nhãn Đông Đức.
Vào buổi tối, 6 người gia đình chúng tôi ngồi chiếc xe gia đình Wartburg đến thành phố và đậu ở một nơi gần nhà hát. Trong đêm tối, chúng tôi thấy người Thụy Sĩ đã giúp chúng tôi trốn thoát. Mẹ tôi đưa tôi và em trai đến một chiếc xe mang biển số Thụy Sĩ, tài xế là một người xa lạ.
Nhiệm vụ tiếp theo là uống thuốc ngủ, khiến tôi và em trai buồn ngủ. Mỗi người chúng tôi đều được cung cấp một cái tên Thụy Sĩ, đề phòng trường hợp có ai đó tại trạm kiểm soát biên giới hỏi tên chúng tôi. Khi đó chúng tôi nhận ra rằng đang xảy ra một số vấn đề rất kỳ lạ.
Uống thuốc ngủ không ảnh hưởng gì đến tôi, vì vậy tôi nhớ tất cả các chi tiết của hành trình: xe hơi chạy đường dài xếp hàng ở trạm kiểm soát, mẹ tôi và người tài xế ngồi ghế trước trò chuyện như những người bạn thân. Lính biên phòng là một phụ nữ dáng to béo, giọng nói đặc chất Anglo-Saxon. Cách cư xử của bà ấy cực kỳ không thân thiện, có lẽ muốn chứng minh bản thân khi làm việc có thể cứng rắn như nam giới. Bà ấy tập trung vào việc kiểm tra người lớn, không chú ý nhiều đến trẻ con như tôi và em trai ngồi ghế sau.
Phóng viên: Khi cả gia đình đoàn tụ ở Tây Berlin, chắc hẳn rất thú vị. Ngài có thể diễn tả lại khi đó?
Wolter: Điểm gặp gỡ là một quán cà phê đêm khuya ở Tây Berlin. Chúng tôi đến đó trước, lúc đó đã nửa đêm. Tôi nhớ rằng tôi và em trai đã rất mệt mỏi, luôn hỏi mẹ rằng khi nào thì mọi người đoàn tụ. Bà trả lời chúng tôi nhiều lần một cách kiên nhẫn, đảm bảo với chúng tôi rằng cha và chị gái của chúng tôi sẽ xuất hiện bất cứ lúc nào. Sự điềm tĩnh và kiềm chế của bà ấy khi đó khiến tôi cảm thấy rất ngưỡng mộ.
Thời khắc mọi người đoàn tụ, ai nấy rơi nước mắt, không ngừng ôm nhau đầy cảm kích. Nhưng đêm đó vẫn chưa kết thúc. Tiếp theo, chúng tôi đã đi bấm chuông cửa nhà một người bạn, họ hoàn toàn không biết chúng tôi sẽ đến. Nhưng người dân Tây Berlin khi đó vẫn luôn sẵn sàng chuẩn bị, bởi vì những người ở phía bên kia Bức tường Berlin có thể bất ngờ ghé thăm. Đêm đó, chúng tôi được mở cửa chào đón, những chiếc giường ấm áp và sự chăm sóc tận tình. Ngày hôm sau (Chủ Nhật), chúng tôi đã đến ki-ốt và mua thứ đầu tiên: 6 cái bàn chải đánh răng!
Phóng viên: Chính phủ Tây Berlin hoặc các tổ chức khác có giúp gia đình Ngài định cư ở phía Tây không?
Wolter: Dĩ nhiên, chúng tôi thực sự bỏ lại mọi thứ ở Đông Berlin, chúng tôi cần một cuộc sống mới. Trong trại chào mừng đăng ký tị nạn, chúng tôi đã nhận được một số quần áo cơ bản, cũng được một số tiền. Chúng tôi không cần nhiều, vì chúng tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ từ bạn bè thân thiết.
Phóng viên: Nhìn lại toàn bộ hành trình chạy trốn đầy mạo hiểm, nếu cha mẹ Ngài bị bắt, họ có thể phải ngồi tù, cha mẹ Ngài đã bao giờ nghĩ về hậu quả này chưa?
Wolter: Có thể họ đã nghĩ đến. Dù vậy, họ vẫn quyết định chấp nhận rủi ro. Sau đó cha mẹ tôi thừa nhận, nếu không có các con thì họ có thể không chấp nhận rủi ro. Nhưng vì tương lai của chúng tôi, họ sẵn sàng chấp nhận rủi ro.
Phóng viên: Họ hạnh phúc như thế nào khi sống trong một thế giới tự do?
Wolter: Họ không bao giờ hối tiếc về quyết định của họ. Điều quan trọng nhất đối với họ là được sống tự do, bày tỏ ý kiến của mình, thoát khỏi nỗi sợ áp bức, và thực sự trở thành một phần của nền dân chủ. Không có chỗ cho sự thỏa hiệp.
Phóng viên: Kinh nghiệm này trong chế độ cộng sản ở Đông Đức có ảnh hưởng đến mọi người không?
Wolter: Tôi khá chắc chắn rằng điều này ảnh hưởng đến cha mẹ tôi, cũng ảnh hưởng đến tôi. Tôi không thể nói thay các chị và em tôi, nhưng theo kinh nghiệm của chúng tôi, tất cả đều trở nên rất nhạy cảm đối với khủng bố và áp bức của chủ nghĩa cộng sản, bất cứ khi nào và bất cứ nơi đâu. Một số người khoan dung cho rằng “không phải tất cả mọi thứ đều tệ hại”, quan điểm này đã làm phai nhạt tội ác, thậm chí bỏ quên sự tàn ác của chế độ cộng sản và các nạn nhân do nó gây ra.
Phóng viên: Tôi biết rằng Ngài đã kể cho nhiều tổ chức nghe về trải nghiệm trốn thoát này của gia đình Ngài, và đôi khi Ngài cũng bị chất vấn, Ngài có thể diễn tả về cảm giác này không?
Wolter: Điều này thực sự phụ thuộc vào người trò chuyện như thế nào. Nếu là người ủng hộ Đảng do Đảng Cộng sản Đông Đức cũ phát triển, bạn sẽ nghe sự biện hộ cho những gì xảy ra. Chẳng hạn, Đông Đức phải bảo vệ xã hội và biên giới để không bị xâm hại của “lực lượng đế quốc và kẻ xâm lược”. Họ cho rằng các hoạt động của STASI (cảnh sát bí mật Đông Đức gây khủng bố và thù hận) là cần thiết để chống lại kẻ thù nội bộ.
Ở phía Tây và phía Nam nước Đức, những người chưa từng đến Đông Đức đôi khi thiếu khả năng để nhận rõ thực tế chủ nghĩa cộng sản. Họ thường im lặng lắng nghe, cũng không bác bỏ những gì họ nghe được.
Những người tuổi còn khá trẻ đôi khi cố chấp về mặt chính trị, không muốn nghe những sự thật không phù hợp với thế giới quan cánh tả của họ. Có lần một số sinh viên trẻ ở Vermont nước Mỹ đã đến một trường học hè ở Đức, nhưng những sự thật không thể nghi ngờ mà tôi đã giới thiệu cho họ nghe thì dường như họ không thể tin được.
Phóng viên: Theo Ngài thì chúng ta nên làm thế nào để giúp sinh viên và những người trẻ tuổi nhận ra sự thật này?
Wolter: Tài liệu lưu trữ về tội ác toàn trị và hồ sơ về cuộc sống của người dân trong thời đại đó phải được công khai. Điều quan trọng là trình bày những sự thật lịch sử này cho thế hệ trẻ một cách khách quan, bình tĩnh và công bằng.
Tôi nghĩ rằng nước Đức đang làm tốt công việc giới thiệu cho công chúng (bao gồm cả những người trẻ tuổi) về tội ác của chế độ Đức quốc xã và trải nghiệm của các nạn nhân. Giữ những ký ức này là rất quan trọng, sự thật lịch sử chính xác có thể giúp mọi người nhận thức rõ, cảnh giác trước hiểm họa để không lặp lại chế độ độc ác và vô nhân đạo.
Phóng viên: Là một nhà ngoại giao mới nghỉ hưu, lại có một trải nghiệm đặc biệt như vậy, khi nhìn vào thế giới vào năm 2019, điều gì làm Ngài lo lắng nhất?
Wolter: Đảng Cộng sản muốn kiểm soát hành vi, suy nghĩ và diễn ngôn của mọi người, họ muốn quyết định tiêu chuẩn thứ gì là tốt hay xấu hoặc là đúng hay sai. Bất cứ ai không hành động theo ý muốn của họ sẽ phải chịu hậu quả chí mạng.
Tôi cảm nhận rằng, dù trong trò chuyện công khai hay riêng tư, dường như khả năng nhẫn nhịn trước ý kiến khác biệt của mọi người đang ngày càng suy giảm. Các chủ đề như nhập cư, biến đổi khí hậu hoặc phân biệt chủng tộc là những ví dụ. Chúng tôi đã thấy những tín hiệu không thể chấp nhận và nguy hiểm trong các tổ chức giáo dục ở Mỹ và ngày càng nhiều tổ chức ở châu Âu.
Ví dụ, các nhóm sinh viên cấp tiến phản đối gay gắt người diễn giảng, họ có thể tranh luận về chủ đề diễn giảng. Cách không khoan dung của những người phản đối là rất tệ, nhưng gay go hơn là đại học đã nuông chiều kiểu phản đối này, thậm chí khuyên người diễn giảng phải chịu chỉ trích.
Thứ quyền chi phối bao trùm hoạt động diễn giảng này có thể là bước đầu tiên trong việc làm suy yếu nền dân chủ và thiết lập chế độ độc tài. Các tổ chức giáo dục nên là nơi để thảo luận và đối thoại, là nơi để học hỏi và rèn luyện tư duy phản biện, không nên là nơi làm người ta phải bỏ chạy khi đối mặt với tranh luận.
Đây chỉ là tin đồn trong giới thạo tin Trung Cộng. Nhưng tôi nghĩ tin này có cơ sở, vì sau những thành quả tệ hại cho chính trị và kinh tế Trung Cộng, Tập Cận Bình không thể trụ được lâu!
Họ Tập đã để ý hướng chủ quan của mình và phe nhóm mình, trong 15 năm gần đây, đưa Trung Cộng vào ngỏ cụt và sự tháo gỡ khai thông cần sa thải người chủ trương, trách nhiệm chính.
Cái sai chính của Tập là đã quá sớm muốn thực hiện giấc mơ ngàn đời trong giai đoạn công nghệ, kỹ thuật, kinh tế, xã hội Trung Quốc chưa có gì là bền vững…
Thay vì mở cửa chính trị, dân chủ hóa thể chế để tạo điều kiện cho phát triển kinh tế vững bền, củng cố chỗ đứng của Trung Quốc trên trường quốc tế, họ Tập lại tăng cường thể chế toàn trị, thắt chặt tự do, giới hạn quyền công dân, trở lại với những lá bài cổ lỗ thời Mao Trạch Đông…
Tuyên truyền cổ võ cho tinh thần dân tộc c ực đ oan không đủ để gắn kết nhân dân trong lúc kinh tế suy thái trầm trọng, thị trường ngày càng hẹp lại, thất nghiệp gia tăng…
Cái sai đầu tiên là tháng 5 năm 2009 Trung Cộng đã thiếu thận trọng gởi Công hàm lên Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc tuyên bố chủ quyền gàn 90% biển Đông Nam Á, qua hành động trẻ con và phi pháp là vẽ ra đường lưỡi bò. Sau đó, họ Tập lại cùng các thành viên quân đội c ực đ oan, lớn tiếng khẳng định đường lười bò là lợi ích cốt lõi của Trung Cộng…
Đây là một hành động điên rồ thách thức thế giới văn minh.
Không nước nào, tổ chức nào có thể đồng tình ủng hộ hành động chiếm hữu đại dương, một con đường thông thương huyết mạch của các nền kinh tế lớn trên thế giới. Có chăng thì vài nước cỏn con như Campuchia, khôn lỏi trong vài lời xu nịnh qua loa để kiếm chác vài tỷ đô la trong nháy mắt…
Rồi tiền đâu cho đủ mà tiêu pha vô lối như vậy… Rồi tham vọng một vành đai, một con đường, thủ thuật bành trướng quá lộ liễu tiêu tốn hàng nghìn tỷ đô la để đem lại cái gì ngoài sự e ngại, phản đối và tẩy chay của các nước trên thế giới…
Tập tưởng Mỹ cứ mãi khờ dại để Trung Cộng lợi dụng các chính sách mậu dịch tự do bình đẳng, các thói quen cởi mở hiếu hòa, thả lỏng công nghệ để Tập tha hồ ăn c ắp rồi sao chụp sản xuất đồ nhái, t hao túng thị trường quốc tế kiếm lãi.
Tập tưởng Mỹ và các nước có công nghệ tiên tiến không kiểm soát được các công ty lớn, quá tham lam thị trường to lớn 1,4 tỷ người để tiếp tục trục lợi mà quên đi quyền lợi quốc gia…
Giấc mộng Trung Hoa của Tập nay là ác mộng…
Người dân Hồng Kong đã chứng minh trước thế giới sự thật phủ phàng này…
Để Trung Quốc trở lại là một nước lớn bình thường, phải có kẻ hy sinh…
Người đó sẽ không ai khác hơn là Tập Cận Bình vậy…
Hôm thứ Bảy 09/11/2019, trong lúc dân chúng tiếp tục xuống đường phản đối chính quyền, cảnh sát bắt giữ ba nghị sĩ ủng hộ dân chủ và yêu cầu bốn người khác ra trình diện.
Theo AFP, các dân biểu nói trên bị cáo buộc đã gây bạo lực tại trụ sở Nghị Viện Hồng Kông hồi tháng 5/2019, vào lúc lãnh đạo Hồng Kông Lâm Trịnh Nguyệt Nga (Carrie Lam) tìm cách thông qua khẩn cấp dự luật dẫn độ nghi phạm sang Trung Quốc. Dự luật bị dân chúng Hồng Kông phản đối quyết liệt, cuối cùng đã bị hủy bỏ.
Ông Lam Cheuk-ting, một trong các dân biểu bị triệu tập, đã tuyên bố trước báo giới sẽ không tuân thủ lệnh của cảnh sát.
Tại Hồng Kông, cái chết của một sinh viên tin học 22 tuổi sáng thứ Sáu (vốn hôn mê từ hôm Chủ Nhật), trường hợp tử vong đầu tiên kể từ khi phong trào đòi dân chủ, chống chính quyền, khởi sự cách nay hơn 5 tháng, đã dẫn đến biểu tình dữ dội tại nhiều khu phố.
Giận dữ và thất vọng
Tối hôm qua, nhiều cuộc tưởng niệm người sinh viên vừa qua đời đã diễn ra trên khắp đặc khu Hồng Kông. Thông tin không minh bạch từ phía cơ quan điều tra càng khiến cho người dân mất lòng tin với chính quyền thân Bắc Kinh và cảnh sát. Phóng sự của thông tín viên Florence de Changy từ Hồng Kông :
''Trong lúc một số cuộc canh thức diễn ra trong không khí tĩnh lặng và trầm tư, như tại khu Đồng La Loan (Causeway Bay) tối hôm qua, thì tại nhiều nơi khác, nỗi giận dữ và thất vọng đã nhanh chóng bùng lên.
Tại khuôn viên đại học Hồng Kông, anh Nicholas, một sinh viên ngành luật và khoa học chính trị, 21 tuổi, nói với các bạn hữu về một tấn thảm kịch : ''Thật đau đớn khi thấy giới trẻ Hồng Kông đã phải hy sinh quá nhiều như vậy. Mới đây, chúng ta đã chứng kiến nhiều vụ tự sát, những người bị thương, một nữ phóng viên bị mất một mắt, nhiều người bị đâm, bị đứt tai. Với phong trào diễn biến như hiện nay, chính quyền chắc chắn phải có trách nhiệm giải quyết cuộc khủng hoảng này''.
Cảnh sát thừa nhận sai lầm
Đối với luật sư và cựu dân biểu Margaret Ng, điều căn bản là phải làm sáng tỏ những vùng tối xung quanh cái chết của người sinh viên: ''Đã từ lâu chúng tôi lo ngại là một ngày nào đó, trong phong trào này, sẽ có một ai đó phải hy sinh mạng sống. Cần phải kiên quyết để xác định được điều gì đã xẩy ra, và ai là thủ phạm''.
Thêm một số thông tin được đưa ra trong ngày buộc cảnh sát thừa nhận là người thanh niên đã được tìm thấy trong tình trạng bất tỉnh tại khu để xe, sớm hơn rất nhiều so với thời gian mà cảnh sát công bố. Cảnh sát Hồng Kông thừa nhận đã phạm sai lầm, nhưng nhiều người biểu tình kêu gọi trả thù''.
Hôm nay, thứ Bảy 09/11/2019, trong lúc dân chúng tiếp tục xuống đường phản đối chính quyền, cảnh sát bắt giữ ba nghị sĩ ủng hộ dân chủ và yêu cầu bốn người khác ra trình diện.
Vào giờ phút này 30 năm trước, trong vỏn vẹn một đêm, 16 triệu dân Đông Đức được quyền đặt chân lên một vùng đất tự do ở bên kia bức tường Berlin. Bộ mặt của hai miền nước Đức, của Châu Âu và toàn thế giới thay đổi từ giờ phút đó.
Nhìn lại cột mốc lịch sử năm 1989, nhà báo tự do Lê Mạnh Hùng từng sống và làm việc tại cả Đông và Tây Đức xưa kia nhấn mạnh : "Khát vọng của triệu triệu người dân Đông Đức như một cơn lốc thổi lên và không có gì dập tắt nổi". Còn đối với ông Nguyễn Đình Xuân, một người Việt đang tu nghiệp ở Cộng Hòa Dân Chủ Đức, đêm mồng 09/11/1989 ông đang có mặt cách thủ đô Berlin khoảng 200 cây số. Dân cư địa phương và bạn bè rủ ông sang tham quan Tây Berlin hít thở không khí tự do và thậm chí là tìm cách ở lại hẳn trên một quốc gia tư bản. Nhưng rồi, ông Xuân đã chọn cho mình một hướng đi riêng. Thế hệ các bạn trẻ gốc Việt sinh ra thời hậu bức tường Berlin, như cô Hà Giang, 19 tuổi, chỉ còn biết đến Đông Đức qua sách vở.
Đêm 09/11/1989, trong tiếng hô vang "Không còn Bức Tường – Die Mauer is weg", người thì đi bộ, kẻ đi xe cùng vượt qua đường biên giới. Lần đầu tiên sau 28 năm bị chia cắt, dân Đông và Tây cùng một thành phố tương phùng khi ông lính biên phong Harald Jager "mở cửa" đồn canh gác.
Bức Tường Berlin bị khai tử. Cùng một bức tường mà chính quyền Đông Đức gọi là tường thành "chống quân Phát Xít", còn ở bên phía Tây thành phố người ta gọi đấy là "Bức Tường Ô Nhục", là bức rèm sắt giữa một bên là thế giới Xã Hội Chủ Nghĩa và bên kia là các nước Tư Bản. Sau Thế Chiến Thứ Hai, nước Đức bị chia cắt. Cộng Hòa Liên Bang Đức chính thức được thành lập ngày 23/05/1949, thủ đô đặt tại Bonn. Chưa đầy nửa năm sau, đến lượt Cộng Hòa Dân Chủ Đức được khai sinh với thủ đô là Đông Berlin. Cả hai quốc gia này cùng lao vào công việc tái thiết sau chiến tranh. Berlin đi theo con đường Xã Hội Chủ Nghĩa. Bonn đứng hẳn thế giới phương Tây.
Tây Berlin chơi vơi trong một quốc gia Cộng Sản. Chênh lệch về mức độ phát triển đã đẩy hàng triệu người dân Đông Đức từ bỏ quốc gia Cộng Sản này trong thời gian từ 1949. Đông Đức lâm vào tình trạng thiếu lao động để tái thiết đất nước. Trong bối cảnh đó, chính quyền Berlin bí mật có kết hoạch phong tỏa Tây Berlin bằng một bức tường.
Tất cả bắt đầu được thực hiện trong đêm 12 rạng sáng 13/06/1961. Ban đầu tường được dựng một cách sơ sài với hàng rào kẽm gai, với những gạch đá xi măng … trước khi trở thành bức tường thành kiên cố dài 155 cây số cao 3,5 mét cộng thêm hơn 300 tháp canh gác để phong tỏa toàn bộ khu vực phía Tây thành phố Berlin với phần còn lại của nước Cộng Hòa Dân Chủ Đức. Chung quanh chân tường là cả một hệ thống báo động lũy hào để ngăn ngừa mọi âm mưu đào thoát, vượt biên sang thế giới tự do.
Thế nhưng rồi, tất cả đã kết thúc vào một đêm tháng 11/1989 và 11 tháng sau đó Cộng Hòa Dân Chủ Đức bị xóa tên khi nước Đức Thống Nhất.
Trả lời đài RFI Việt Ngữ, nhà báo Lê Mạnh Hùng, người từng sống cả tại Bonn và nhất là tại thủ đô Berlin từ ngày nước Đức thống nhất, trước hết nhắc lại bối cảnh lịch sử những ngày đầu tháng 11/1989 với sự kiện hàng trăm ngàn người ở thủ đô Berlin tập hợp về quảng trưởng Alexanderplatz với một khẩu hiệu "Chúng tôi là nhân dân" để đòi tự do và dân chủ.
Ba thập niên đã trôi qua, nhưng Bức Tường Berlin năm nào vẫn tồn tại trong tâm khảm của người dân Đức. Cho dù chênh lệch về kinh tế và mức sống của người dân tại hai nước Đông và Tây Đức xưa kia đã được thu hẹp, 57 % người dân Đông Đức cũ vẫn cảm thấy bị bỏ rơi, và số này có xu hướng ủng hộ đảng cực hữu bài ngoại. Nhà báo Lê Mạnh Hùng-Berlin 09/11/2019 (Nghe)
Bức Tường Berlin sụp đổ, dẫn tới việc Cộng Hòa Dân Chủ Đức và khối Xã Hội Chủ Nghĩa cáo chung. Khi đó có không ít người Việt đang lao động hoặc được đào tạo tại Cộng Hòa Dân Chủ Đức. Ông Nguyễn Đình Xuân đang học nghề tại Đông Đức năm 1989 chọn ở lại Cộng Hòa Dân Chủ Đức. Ông Nguyễn Đình Xuân -Berlin 09/11/2019 (Nghe)
Với Cô Hà Giang, 19 tuổi, nước Đức thống nhất là cơ hội xây dựng tương lai tốt đẹp hơn. Cô Hà Giang, 19 tuổi - Berlin 09/11/2019 (Nghe)
Chỉ tiếc một điều là chúng tôi đã gặp được một số nhân chứng từng có mặt tại thủ đô Berlin trước năm 1989 thậm chí đã có người từng sống qua đêm lịch sử đó, nhưng hầu hết đều khéo léo từ chối trả lời khi trông thấy máy ghi âm của đài Phát Thanh Quốc Tế Pháp RFI.
Vào giờ phút này 30 năm trước, trong vỏn vẹn một đêm, 16 triệu dân Đông Đức được quyền đặt chân lên một vùng đất tự do ở bên kia bức tường Berlin. Bộ mặt của hai miền nước Đức, của Châu Âu và toàn thế giới thay đổi từ g...
Nhân buổi đẹp trời, hắn dắt díu bồng bế bầy chữ, rời núi Chư Mang, xuống kẻ chợ mà bán, như mẹ bán con, như nhà nghèo bán chó, như tình nhân lừa bán tình nhân. Bầy chữ cui cút đi theo, giương những con mắt màu xanh lên nhìn dòng người lạ lẫm đang cố giày xéo giẫm đạp lên nhau để về đích trước. Hắn dặn, đi đúng đường thẳng lối, không được chạy lung tung kẻo lạc! Rồi hắn chọn một khoảng vỉa hè bày chữ ra bán. Người kẻ chợ đi về như thác lũ, mặt mũi ai cũng trùm kín như thể đang tham gia lễ hội hoá trang. Gió thổi, mây bay, và nắng chứa chan trên những hộp nhà cao vút. Bầu trời thực sự biến mất sau làn khói bụi. Hắn chợt nhói thương những con chữ yếu mềm. Hắn cũng đói, sáng đến chiều chưa có gì vào bụng, mắt hoa lên, nhìn phía nào cũng thấy mặt trời chói gắt. Bầy chữ sau mấy ngày lê lết ngoài vỉa hè khói bụi đã trở nên méo mó hình hài. Hắn trừng mắt nhìn ngược nhìn xuôi chờ đợi nhưng tuyệt nhiên không hề có ai mua. Hắn nói: “Thôi, đứng dậy múa hát đi, một lần này nữa, rồi quay về, hoặc là chết ở đây.” Lũ ký tự ngả nghiêng vịn nhau đứng đậy, vừa run cầm cập vừa trình diễn vũ điệu tử thần. Những con mắt phố thị sấp ngửa dừng lại đứng nhìn, như nhìn đám hát rong xa lạ. Hắn thấy mình quá nhẫn tâm. Hắn nói: “Đủ rồi, quay về lại thôi!”
Tiếng chim gì đó từ thượng nguồn sông Năng chợt từ chín tầng trời vọng lại nghe từa tựa một lời yêu thương mời gọi quay về. Lũ hắn rảo bước, nhằm hướng tiếng chim khắc khoải, nhằm hướng câu hát yêu thương mà băng đèo vượt núi. Về thôi! Về thôi, về núi sừng sững, về sông ngân dài, về cổ thụ vạn năm, về thảo nguyên triệu tuổi...
Về đến lưng chừng dốc thì lũ chữ lên cơn co giật và bắt đầu nhảy múa. Hắn bất lực đứng nhìn, như một gã đạo diễn bất tài nhìn dàn diễn viên làm loạn, không cách gì điều khiển nổi. Hắn hét: “Này, những gã điên nhảy múa với những vũ công nhảy múa, thì bên nào đẹp hơn?” Lũ chữ bất kham không thèm trả lời. Hắn lại hét: “Hèn gì không có thằng con bố khỉ nào chịu bỏ tiền lẻ ra mua tụi mày!” Lũ chữ càng hưng phấn, vừa múa vừa hát to lên rằng: “Nhà ngươi quả thực mù loà. Hôm qua ở kẻ chợ có gã du côn đã rủ rê chữ S đi bụi đời, rủ chữ L vào động đĩ, rủ chữ Đ ra chợ kiếm ăn, còn chữ T đã trốn khỏi bầy vào siêu thị hành nghề móc túi...”
Hắn kinh hoàng, đếm đi đếm lại, quả nhiên mấy chữ thân quen S, L, Đ, T... đã trốn đi hoặc lạc lối ngoài phố phường xa lạ!
Hắn dắt chữ ra chợ bán, và kết quả là lũ chữ bỏ đi hoang, tan đàn xẻ nghé, tử biệt sinh ly. Hắn ngồi giữa dốc quệt mồ hôi, nhìn về phố thị, thấy cả một đám đông đang đuổi nhau xuống hố thẳm văn minh điêu tàn. Chữ S bây giờ không biết ở đâu trong đám đông cuồng loạn gươm dao. Hắn gọi: “Ơ này chữ S, ơ này súng ơ này sân si ơ này sung sướng ơ này soán đoạt sờ soạng sống, ơ này sông... Về lại núi thôi về lại núi, đừng lê la phố chợ học thói lưu manh chém giết máu me... Ơ này L lờ lững lộn làng lành lặn lênh láng lung linh long lánh lập loè… về núi thôi!”
Không có tiếng trả lời!
Hắn ngồi gọi chữ, như pháp sư ngồi niệm chú gọi hồn người chết quay về. Bầy chim bay qua nhìn hắn, lắc đầu ngao ngán. Bầy gió bay qua nhìn hắn, cười châm chọc. Bầy mây bay qua nhìn... Hắn hét toáng lên: “Kệ tao!” Vừa lúc đó, từ xa thấp thoáng những bóng hình vừa chạy vừa vấp ngã, vừa chạy vừa khóc than. Tim hắn đau nhói, mắt hắn mờ đi vì nước: Chữ L chạy trước, chữ Đ chạy sau, cả hai đứa trần truồng, thịt da gai cào tứa máu. Hai con chữ ngã nhào vào lòng hắn, như con gái đâm bổ vào lòng cha già sau cuộc tình thất bát. Chữ Đ mắt thâm tím, môi sưng vù, chắc bị ăn đòn hội chợ. Chữ L chảy máu ngay bụng dưới, vết thương hở ra lở loét, đỏ lòm... Hai đứa nghẹn ngào thông báo rằng chúng thấy chữ S bị trúng đạn, vừa chạy vừa ôm ngực rồi ngã sấp mặt dưới chân cột đèn nơi ngã tư phố chợ. Hắn ôm hai đứa con nông nổi dại khờ, ngồi khóc. Núi Chư Mang trầm mặc đứng nhìn, mắt lá cũng rưng rưng...
Hắn thò tay bứt một nắm lá nhai nhuyễn rồi đắp vào vết thương cầm máu cho chữ L, lấy dầu xoa vết bầm tím cho chữ Đ. Lũ chữ phủ phục vây quanh, như bầy khỉ vây quanh gã khỉ đột đầu đàn. Hắn cất tiếng ru bằng giọng khàn khàn thống khổ điêu linh: “Đờ cờ lờ tờ mờ hờ hờ... Kẻ nào không muốn chết, kẻ nào hung bạo lọc lừa gieo mầm ác, hãy buông tay trong buổi hoàng hôn gió mát, thôi, thôi nào đờ cờ lờ sờ mờ tờ...” Bọn chữ gục xuống ngủ, thỉnh thoảng nấc lên trong mê man, như những đứa trẻ vừa bị đòn oan!
Hắn lặng lẽ bứt cỏ ngồi đan bện lại, cần một sợi dây chắc chắn bắc qua thung lũng. Qua hẻm núi này là về đến quê nhà. Hắn vừa miệt mài đan vừa hát, như một bà mẹ nghèo trên núi vừa địu con hai bên nách vừa trỉa bắp vừa hát ru. “Ầu ơ... Đờ cờ lờ sờ hờ cờ mơ... đờ mờ cờ sờ ờ ờ lờ mờ mờ ầu ờ ờ ờ ầu ầu ơ ơ...”
Bóng chiều đổ xuống, hắn xốc lũ chữ dậy, dắt díu nhau qua thung lũng. Sợi dây cỏ mỏng manh chòng chành như sắp đứt. Sương núi ùn ùn cuồn cuộn lao ra đỡ lấy. Hắn dắt bầy chữ đi trong sương núi cuối thu. Hắn vừa đi vừa hát ru như đạo sĩ niệm chú, “cờ lờ đờ mờ cờ sờ…” Hình như sợi dây đã đứt, nhưng có hề gì. Hắn nói to: “Chúng ta đi thôi, cả trái đất chòng chành, cả nhân loại ngả nghiêng chứ riêng gì chúng ta đâu.” Bầy chữ thôi không kêu khóc nữa, vịn tay nhau bước đi dưới trăng. Bóng chữ với bóng người gầy guộc đổ dài, kéo từ bên này qua bên kia thung lũng, như những bóng ma hời từ thế kỷ trước hiện về. Quá nửa đêm thì chữ và người lên đỉnh núi rồi mất hút trong thăm thẳm mù sương.
Dưới chân núi Chư Mang, lâu lâu người ta vẫn nghe tiếng ai đó ca hát và khóc than trong sương, những âm thanh quỷ quyệt kéo dài từ phía kẻ chợ rồi lướt qua thảo nguyên hoang vắng, rủ nhau chạy vòng quanh đỉnh núi. Những buổi trời trong, người ta thấy rõ ràng hai bên lối đi lên núi còn vương vãi những vệt máu khô thơm mùi cỏ dại.
Đờ mờ cờ sờ vờ cờ lờ về thôi về với núi thôi… Khóc mà như ru, ru mà như hát, hát mà như than.