Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Tư, 6 tháng 11, 2019

Putin không thích Cách mạng kiểu Lenin?


PutinBản quyền hình ảnhALEXANDER NEMENOV
Image captionÔng Putin cùng đại diện Giáo hội Chính Thống và các tôn giáo khác đặt hoa bên tường Điện Kremlin trong ngày lễ kỷ niệm chiến thắng quân Ba Lan năm 1612
Trong tuần đầu tháng 11 năm nay, Tổng thống Vladimir Putin sẽ không cấm nhưng cũng không tham gia và ủng hộ các lễ kỷ niệm Cách mạng Tháng 10 Nga năm 1917 do Đảng Cộng sản tổ chức, dự kiến kéo dài cả tuần.
Hôm 04/11 năm nay, ông Putin chỉ dự lễ Ngày Thống nhất Quốc gia (National Unity Day), mà chính quyền Nga chọn ra năm 2005 để thay cho lễ Cách mạng Tháng 10, thường được kỷ niệm vào ngày 7/11 theo lịch hiện hành.
Nhân Ngày Thống nhất Quốc gia năm 2017, ông Putin đề cao 'Khoa học kỹ thuật' và đài truyền hình Nga chiếu hình từ đại lễ trong Sân vận động Luzhniki.
Ông Putin cũng tặng huân chương cho Tổng thống Serbia, Tomislav Nikolic, mà ông nói là "bạn thân của nhân dân Nga".

Putin nói gì về Cách mạng 1917?

Quan điểm của Tổng thống Putin có thể thấy qua một phần diễn văn của ông tại Câu lạc bộ thảo luận quốc tế Valdai ở Sochi hôm 19/10/2017:
"Ngày hôm nay, sự bất bình đẳng gia tăng đang làm nảy nở cảm giác bất công, bị tước đoạt trong lòng hàng triệu người và nhiều quốc gia. Kết quả là sự cực đoan hóa, khao khát thay đổi bằng bất kỳ cách gì, kể cả bạo lực.
Điều này đã từng xảy ra ở nhiều nước, và cả ở Nga. Những tiến bộ công nghiệp, công nghệ thành công được đi theo bằng những biến động và nứt gãy cách mạng. Nó xảy ra vì đất nước đã không giải quyết được mâu thuẫn xã hội và vượt qua sự lỗi thời trong xã hội kịp lúc.
Năm 2017 đánh dấu tròn 100 năm cuộc Cách mạng tháng Mười Nga do cố lãnh tụ V. Lenin lãnh đạoBản quyền hình ảnhMLADEN ANTONOV/GETTY
Image captionNăm 2017 đánh dấu tròn 100 năm cuộc Cách mạng tháng Mười Nga do cố lãnh tụ V. Lenin lãnh đạo
Cách mạng luôn là kết quả của sự thiếu trách nhiệm ở cả những người muốn duy trì, đóng băng trật tự lỗi thời mà rõ ràng phải thay đổi, và những người khao khát đẩy nhanh thay đổi, dùng tới cả xung đột trong nước và đấu tranh mang tính phá hủy.
Ngày hôm nay, khi chúng ta quay lại các bài học của thế kỷ trước, tức Cách mạng Nga 1917, chúng ta thấy những kết quả của nó mơ hồ ra sao. Những sự kiện đó mang lại kết quả tiêu cực, và chúng ta cũng phải thừa nhận cả tích cực, đan xen với nhau.
Hãy tự hỏi: ngày xưa đó liệu có thể đi theo con đường tiến hóa thay vì cách mạng? Liệu chúng ta lẽ ra có thể từ từ, tiệm tiến đi tới thay vì phải trả giá là phá hủy nhà nước, và tàn nhẫn tổn thương hàng triệu sinh mạng.
Tuy nhiên, mô hình xã hội và ý thức hệ nói chung không tưởng đó, mà nhà nước mới thành lập cố gắng thực hiện lúc đầu sau cách mạng 1917, đã là đầu máy chuyển hóa mạnh mẽ trên toàn thế giới (điều này là rõ ràng và cũng phải thừa nhận), cái mô hình đó đã khiến người ta phải đánh giá lại các mô hình phát triển, tạo ra cạnh tranh và mâu thuẫn, từ đó có lợi ích mà theo tôi phần lớn do phương Tây được hưởng. Tôi đang không chỉ nói về những chiến thắng địa chính trị sau Chiến tranh Lạnh. Nhiều thành tựu phương Tây của thế kỷ 20 là phản ứng trước thách thức của Liên Xô. Tôi còn đang nói về việc nâng cao chất lượng sống, hình thành giới trung lưu mạnh, cải tổ thị trường lao động và không gian xã hội, thúc đẩy giáo dục, đảm bảo nhân quyền gồm cả quyền cho người thiểu số và phụ nữ, vượt qua phân biệt chủng tộc mà quý vị nhớ đã từng là hành vi xấu hổ ở nhiều nước kể cả Mỹ, chỉ vài thập niên trước đây.
Hình ảnh chiếc búa và lưỡi liềm ra đời như thế nào? Vì sao nó trở thành biểu tượng của Cách mạng Nga và Liên bang Xô Viết?
Theo sau các thay đổi lớn ở đất nước ta và toàn cầu vào đầu thập niên 1990, một cơ hội tuyệt vời đã có để mở ra chương mới trong lịch sử. Đó là giai đoạn sau khi Liên Xô không còn tồn tại.
Không may, sau khi chia nhau di sản địa chính trị của Liên Xô, các đối tác phương Tây của chúng ta tin vào chính nghĩa của họ và tự tuyên bố là người chiến thắng Chiến tranh Lạnh, và bắt đầu công khai can thiệp công việc các nước có chủ quyền, xuất khẩu dân chủ giống như lãnh đạo Liên Xô từng xuất khẩu cách mạng xã hội chủ nghĩa ra thế giới. Chúng ta đối mặt với sự chia lại khu vực ảnh hưởng và sự mở rộng của Nato.
Tự tin quá thì dẫn tới sai lầm. Hậu quả thật không may. Hai thập niên rưỡi đã lãng phí, nhiều cơ hội bỏ lỡ, và gánh nặng của sự nghi ngờ lẫn nhau."
AFPBản quyền hình ảnhAFP
Image captionÔng Putin trong một lần đi xe máy phân khối lớn trên bờ Biển Đen năm 2011 với nhóm có tên Sói Đêm
Ông Putin gần đây cũng nêu quan điểm về Stalin, khi dự lễ khai trương Đài tưởng niệm nạn nhân của Stalin hôm 30/10.
Công trình mang tên Bức tường Đau thương, đặt ở Moscow, tưởng nhớ những người bị Stalin thanh trừng, đặc biệt trong thập niên 1930.
Ngày 30/10 vừa qua cũng là Ngày Nga Tưởng nhớ Nạn nhân Đàn áp Chính trị thời Liên Xô, bắt đầu từ năm 1991.
Tại đây, ông Putin đã có những lời mạnh mẽ ngày 30/10 :
"Đối với tất cả chúng ta, đối với các thế hệ tương lai, điều rất quan trọng là phải biết và ghi nhớ thời kỳ bi thảm này trong lịch sử nước ta, khi toàn bộ các tầng lớp, toàn bộ các dân tộc: công nhân và nông dân, kỹ sư và thuyền trưởng, linh mục, quan chức chính phủ, nhà khoa học và nhà văn hóa bị bức hại nghiêm trọng."
"Quá khứ khủng khiếp này không thể bị xoá nhòa khỏi ký ức quốc gia, không có bất cứ điều gì, không có lợi ích cao cả nào cho nhân dân có thể biện minh cho chuyện đó."
Ông nhấn mạnh: "Đàn áp chính trị là bi kịch cho tất cả nhân dân, cho toàn xã hội, đòn tàn nhẫn với đất nước chúng ta, đến tận gốc rễ, văn hóa, ý thức, khiến chúng ta còn chịu ảnh hưởng cho đến bây giờ."
Nhưng ông cũng kêu gọi hòa giải:
"Chúng ta và con cháu cần nhớ bi kịch của đàn áp, các nguyên nhân, nhưng không có nghĩa là trả đũa nhau, vì chúng ta không thể lại đẩy xã hội đến bờ vực đối đầu nguy hiểm."
Ông Putin dẫn lời vợ của tiểu thuyết gia Aleksandr Solzhenitsyn: "Biết, nhớ, lên án và chỉ khi đó mới tha thứ."

Ngày hoàn toàn khác

Từ nhiều năm qua, Điện Kremlin tránh nói đến Cách mạng Tháng 10, mà như lời phát ngôn viên Dimitry Peskov từng hỏi, "Kỷ niệm để làm gì nữa?".
Hồi năm 2011, khi giữ chức Thủ tướng Nga, ông Putin cùng Tổng thống Dmitry Medvedev chọn ngày 4/11 để đi thăm và đặt hoa trước tượng đài doanh nhân Kuzma Minin và Hoàng thân Dimitry Pozharsky.
Medvedev và PutinBản quyền hình ảnhAFP
Image captionMedvedev và Putin trước tượng đài kỷ niệm Kuzma Minin và Hoàng thân Dimitry Pozharsky với dòng chữ 'Nước Nga nhớ ơn'
Nằm tại thành phố cổ Nizhny Novgorod, đây là tượng đài ghi công hai nhân vật của Nga chống ngoại xâm: cuộc xâm lăng năm 1612 của quân Ba Lan.
Chính ngày đó, 04/11/1612 được ông Putin chọn làm lễ kỷ niệm lớn, thay cho 07/11.
Năm nay, ông cùng các vị tăng lữ của Chính thống giáo quay lại kỷ niệm vẫn hai nhân vật Kuzma Minin và Dimitry Pozharsky ở một điểm tại chân tường Điện Kremlin.
Nhưng vì sao Putin chọn năm 1612?
Trong lịch sử Ba Lan và châu Âu, cuộc chiến của vua Zygmunt III Waza đánh chiếm Moscow, còn gọi là Chiến tranh Dimitriad, không phải là quan trọng.
Quân Ba Lan tại MoscowBản quyền hình ảnhHULTON ARCHIVE
Image captionMột tranh cổ vẽ lại cảnh quân Ba Lan - Lithuania tiến chiếm Moscow năm 1610 trong cuộc chiến 'Polish-Muscovite War'
Còn có tên là Sigismund, là con của vua Thụy Điển Johan III và Hoàng hậu Ba Lan Katarzyna Jagiellonka, Zygmunt muốn mở rộng bờ cõi sang phía Đông.
Vua Zygmunt đã dùng liên quân với Lithuania và lính đánh thuê Đức, Hungary để tấn công Nga đang suy yếu vì nội loạn.
Trong cuộc chiến 1605-1618, họ chiếm Pskov, bao vây Smolensk, rồi từ năm 1610 đã làm chủ doanh trại Moscow.
Cuộc nổi dậy của dân Moscow năm 1611 có sự hỗ trợ của các nhà buôn và Giáo hội Chính Thống giáo đã đẩy quân Ba Lan ra khỏi thành phố vào năm 1612.
Chiến tranh tạm kết thúc với hòa ước Deulino vào năm 1618 và Nga đã mất nhiều đất đai.
Tuy thế, trong cuộc chiến, lần đầu tiên có sự phối hợp của bốn thành phần dân tộc Nga: người dân, giới doanh nhân, quân đội và tăng lữ để chống ngoại xâm.
Tổng Giám mục Moscow là Germogen bị quân Ba Lan giết chết và sau được Giáo hội Nga phong thánh.

Putin không thích 'cách mạng'

Lenin tại Hà NộiBản quyền hình ảnhHOANG DINH NAM
Image captionGiới trẻ Việt Nam dưới Tượng Lenin ở Hà Nội. Tại Nga, Tổng thống Putin lại muốn thay đổi cái nhìn của nước ông về Lenin
Các yếu tố này là cần thiết để ông Putin tạo ra biểu tượng mới mang tinh thần dân tộc, thay cho chủ nghĩa cộng sản bài trừ tôn giáo của Cách mạng Tháng 10.
Quả vậy, mọi buổi lễ 4/11 đều có mặt các chức sắc của Giáo hội Chính thống giáo Nga.
Giáo hội Nga cũng coi Cách mạng Tháng 10 là "đại thảm họa về tâm linh" cho dân tộc Nga, và coi đó là một thử thách "của thời kỳ tàn sát" với đức tin Ki Tô.
Theo Masha Lipman viết trên The New Yorker, ông Putin cũng không can thiệp để ngăn các lễ kỷ niệm Cách mạng Tháng 10 do Đảng Cộng sản Nga chủ xướng.
Nhưng khẩu hiệu của họ, 'Cách mạng sống mãi" là điều ông Putin không thích.
Muốn duy trì ổn định cho quyền lực của mình, ông Putin không ưa lời kêu gọi lật đổ, cách mạng hoặc bất cứ xáo trộn gì đến từ đường phố.
Cách mạng 1917Bản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionĐội Cận vệ Đỏ thời Cách mạng vô sản năm 1917 - Giáo hội Chính thống Nga nói các đơn vị Bolshevik đã tàn sát nhiều tăng lữ
Hôm 05/11, cảnh sát Nga giải tán biểu tình do nhà hoạt động đối lập Vyacheslav Matsev tổ chức, kêu gọi 'Cách mạng Nhân dân' để 'lật đổ bạo chúa Putin'.
Chừng 380 người đã bị bắt ở Saint Petersburg và Moscow trong ngày.
Trong khi đó, Đảng Cộng sản Nga cáo buộc chính phủ Nga cố tình làm dân chúng thờ ơ với dịp kỷ niệm 100 năm Cách mạng tháng Mười.
Đảng này vừa ra báo cáo "100 năm sau - Cách mạng không bị quên lãng".
Báo cáo nhắc tới một thăm dò toàn quốc hồi tháng Chín.
Theo thăm dò này, 58% người Nga không biết có dịp kỷ niệm 100 năm, và chỉ có 29% biết rõ.
Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Nga Sergei Obukhov nói chính phủ Nga "bịt miệng vấn đề này để người dân bình thường không phải chọn đứng về phe nào".

Ngày kỷ niệm

Trong thời Liên Xô, ngày 7/11 từng là ngày lễ đánh dấu sự kiện Cách mạng tháng Mười.
Sau khi Liên Xô tan rã năm 1991, từ đó cho tới năm 2004, ngày 7/11 vẫn được xem là ngày nghỉ lễ tại Nga.
Nhưng từ 2005, Tổng thống Vladimir Putin bãi bỏ ngày này, chỉ xem đây là ngày đi làm bình thường.
Thay vào đó, từ 2005, Nga chọn 4/11 làm ngày lễ, gọi đây là Ngày Đoàn kết Quốc gia, kỷ niệm cuộc nổi dậy đánh đuổi Ba Lan khỏi Moscow tháng 11/1612.
Một điểm dễ gây hiểu lầm là hiện nay đúng ngày 7/11, Nga vẫn tổ chức duyệt binh tại Quảng trường Đỏ.
Mục đích của lễ duyệt binh này là tưởng nhớ cuộc duyệt binh huyền thoại của Hồng quân vào đúng ngày này năm 1941. Đó là dịp Liên Xô kỷ niệm 24 năm Cách mạng tháng Mười thành công.
Cuộc duyệt binh 1941 đi vào tâm thức người Nga vì khi đó Moscow lâm nguy, quân Đức đã tiến rất gần đến thủ đô.
Vì vậy, sự kiện 1941 được xem là giúp nâng cao nhuệ khí quân dân, và vẫn được Nga tưởng nhớ tới hôm nay.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Vành đai và Con đường của Trung Quốc lại có thêm "kỳ phùng địch thủ" mới: Mỹ công bố sáng kiến đầy hứa hẹn


Hồng Anh |
Vành đai và Con đường của Trung Quốc lại có thêm "kỳ phùng địch thủ" mới: Mỹ công bố sáng kiến đầy hứa hẹn
Ảnh minh họa: Global Times

Sau nhiều lần chỉ trích sáng kiến Vành đai và Con đường của Trung Quốc là "ngoại giao bẫy nợ", Mỹ và một số quốc gia khác đã quyết định hành động.

Nhằm cạnh tranh với sáng kiến Vành đai và Con đường (BRI) trị giá hàng tỉ USD của Trung Quốc, Washington đã kết hợp với Nhật Bản và Australia và cho ra đời sáng kiến đánh giá hạ tầng mang tên "Blue Dot Network" (BDN - Mạng lưới Điểm Xanh), được tạo ra với mục đích đầu tư xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng "bền vững", báo ABC News (Australia) đưa tin.
Thông tin về sáng kiến BDN đã được Bộ trưởng Thương mại Mỹ Wilbur Ross công bố bên lề hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 35 hôm thứ 3 (5/11) vừa qua. Được biết, các đơn vị chủ trì dự án này là Tập đoàn Đầu tư tư nhân ngoài nước (OPIC) của Chính phủ Mỹ, Ngân hàng Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JBIC) và Bộ Ngoại giao - Thương mại Úc (DFAT).
Vành đai và Con đường của Trung Quốc lại có thêm kỳ phùng địch thủ mới: Mỹ công bố sáng kiến đầy hứa hẹn - Ảnh 1.
Bộ trưởng Thương mại Wilbur Ross cho biết các nước Đông Nam Á như Việt Nam và Indonesia sẽ tham gia sáng kiến BDN. Ảnh: AP
Tên gọi của dự án này được lấy ý tưởng từ cuốn sách "Pale Blue Dot" (Chấm xanh Mờ nhạt) của nhà khoa học quá cố Carl Sagan và tấm ảnh tàu Voyager 1 chụp Trái đất từ ngoài vũ trụ.
Theo thông cáo được đăng tải trên website của OPIC, dự án BND được tạo ra nhằm kết hợp các công ty, tổ chức thuộc chính phủ và tư nhân nhằm "thúc đẩy các tiêu chuẩn chất lượng cao, đáng tin cậy dành cho phát triển cơ sở hạ tầng trên toàn cầu, trong một khuôn khổ cởi mở và toàn diện".
Theo đó, "BDN sẽ đánh giá và cung cấp chứng nhận cho các dự án cơ sở hạ tầng dựa trên các quy chuẩn chung, nhằm thúc đẩy sự phát triển của các cơ sở hạ tầng theo định hướng thị trường, minh bạch và bền vững về tài chính tại khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương và trên toàn thế giới", theo thông cáo của OPIC.
Tuyên bố của ông Ross được cho là nhằm xoa dịu những nghi ngờ về việc chính quyền Mỹ "lơ là" tại khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, khi ông Trump đã vắng mặt tại hội nghị ASEAN trong 2 năm liên tiếp và chỉ gửi Bộ trưởng Thương mại cùng cố vấn an ninh quốc gia tham dự sự kiện này.
"Chúng tôi không định từ bỏ vị thế địa chính trị hay quân sự của mình", ông Ross cho biết nhiều người đã hiểu nhầm khi cho rằng Tổng thống Trump quyết định rút Mỹ khỏi Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) đồng nghĩa với việc Mỹ giảm quan tâm tới khu vực này.
"Chúng tôi còn ở đây lâu dài; chúng tôi sẽ tiếp tục đầu tư thêm và sẽ nỗ lực có thêm các thỏa thuận thương mại song phương, và tôi sẽ giành nhiều thời gian hơn tại khu vực này", ABC dẫn lời ông Ross.
Câu trả lời dành cho chiến lược "ngoại giao bẫy nợ" của Trung Quốc
Cố vấn an ninh quốc gia Mỹ O'Brien cho biết sáng kiến BDN của Mỹ, Nhật Bản và Australia sẽ là đối trọng của các công trình cơ sở hạ tầng mà Mỹ cho là "chất lượng không tốt" thuộc BRI củaTrung Quốc đã khiến nhiều quốc gia rơi vào bẫy nợ.
Mỹ đã nhiều lần chỉ trích các dự án BRI và cáo buộc các dự án này ngầm phá hoại chủ quyền và ổn định tài chính tại các quốc gia nhận vốn đầu tư của Trung Quốc.
Vành đai và Con đường của Trung Quốc lại có thêm kỳ phùng địch thủ mới: Mỹ công bố sáng kiến đầy hứa hẹn - Ảnh 3.
Ảnh minh họa: Santos
Bên cạnh Mỹ, nhiều nước khác cũng đã lên án sáng kiến BRI của Trung Quốc là "ngoại giao bẫy nợ", do Bắc Kinh thường có động thái đòi các quốc gia "gán nợ" bằng một số điều kiện có lợi cho họ, khi các quốc gia này không thể trả nợ.
Vấn đề này đã trở thành tâm điểm tranh luận vào năm 2017, sau khi Sri Lanka buộc phải trao quyền kiểm soát cảng Hambantota của nước này cho Trung Quốc trong vòng 99 năm để được xóa khoản vay 1 tỉ USD đã nhận từ Bắc Kinh để phát triển cơ sở hạ tầng.
Bộ trưởng Thương mại Mỹ cho biết sáng kiến BDN hiện nay tuy mới ở giai đoạn khởi phát, nhưng chắc chắn nó sẽ thu hút các quốc gia cam kết "phát triển cơ sở hạ tầng bền vững" tham gia.
Khoản đầu tư 17 tỉ USD
Theo ABC, sáng kiến BDN là một phần trong chính sách đối ngoại tập trung vào "Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương Tự do và Cởi mở" của chính quyền Tổng thống Trump, được Mỹ đưa ra tại hội nghị cấp cao ASEAN 2 năm trước, tổ chức ở Manila, Philippines.
Theo các số liệu chính thức của Washington, giá trị trao đổi thương mại giữa Mỹ và Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương lên đến 1.900 tỉ USD vào năm 2018, và giúp duy trì việc làm cho 3 triệu lao động Mỹ.
Tại diễn đàn về BDN ở Bangkok, Nhật Bản và Mỹ đã kí kết một bản cam kết hợp tác đầu tư 10 tỉ USD trong các dự án khí tự nhiên hóa lỏng (LNG).
Ngoài ra, hai nước còn kí kết một số thỏa thuận khác như thỏa thuận kết hợp với Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) để hỗ trợ tài chính cho các dự án năng lượng khác của châu Á.
Được biết, ngoài Thái Lan, sáng kiến BDN cũng sẽ có sự tham gia của Indonesia và Việt Nam.
theo Trí Thức Trẻ

Phần nhận xét hiển thị trên trang

DANH NGÔN

dối trá

Phần nhận xét hiển thị trên trang

VIỆT NAM NÊN RÚT KHỎI HIỆP ĐỊNH ĐỐI TÁC KINH TẾ TOÀN DIỆN KHU VỰC



1. Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (Regional Comprehensive Economic Partnership - RCEP) đang đàm phán để ký kết - là một hiệp định thương mại tự do (FTA) gồm 10 nước trong khối ASEAN với 6 quốc gia mà ASEAN đã ký FTA riêng rẽ với từng nước là Ấn Độ, Australia, Hàn Quốc, New Zealand, Nhật Bản, Trung Quốc.
Thỏa thuận đầu tiên về thành lập RCEP được đưa ra trong hội nghị cấp cao ASEAN năm 2011 tại Indonesia, và bắt đầu tiến trình đàm phán tại hội nghị cấp cao ASEAN 2012 ở Căm Pu Chia.
Một cách không né tránh, quốc gia thúc đẩy mạnh nhất cho sự ra đời RCEP là Trung Quốc.
2. Ngày 04/11/2019, bên lề thượng đỉnh ASEAN ở Bangkok, Ấn Độ đã thông báo không tham gia Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) vì “lợi ích quốc gia”.
Lý do Ấn Độ rút khỏi đàm phán RCEP là lo sợ thị trường Ấn Độ sẽ tràn ngập hàng hóa Trung Quốc giá rẻ.
3. Các nước ASEAN đã có hiệp ước FTA riêng rẽ với cả 6 nước, trong đó có Trung Quốc rồi, thì một FTA chung cho cả 16 nước không đem lại lợi thế gì thêm cho ASEAN. Trái lại chỉ mang lại lợi thế cho hàng hóa Trung Quốc lưu thông tự do không biên giới trong toàn khu vực.
Trong bối cảnh Trung Quốc phải lùi bước trước thị trường Mỹ từ cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung thì RCEP chính là thị trường thế chân cho hàng hóa Trung Quốc. Sự rút lui của Ấn Độ chắc chắn đã làm cho Trung Quốc hụt hẫng.
4. Không phải cứ có các hiệp định thương mại tự do khu vực là nhất thiết Việt Nam phải tham gia tất cả.
Khả năng của Việt Nam chỉ có hạn, nên Việt Nam phải chọn lựa thị trường. Việt Nam chỉ nên tham gia các thị trường trong đó hàng hóa xuất nhập khẩu của Việt Nam cân bằng được với các nước mà không bị nhập siêu. Tiếp nữa là học hỏi được công nghệ tân tiến. Tiếp nữa là được tiêu dùng hàng hóa chất lượng tốt.
Từ đó không khó nhận thấy, tham gia vào RCEP thì Việt Nam phải “may thêm nhiều túi ba gang” nữa để nhận thêm hàng hóa chất lượng thấp đến từ Trung Quốc. Chưa có RCEP mà Việt Nam đã nhập siêu từ Trung Quốc khoảng 30 tỷ USD mỗi năm (4 tháng đầu năm 2019 là 11,9 tỷ USD), thì có thêm RCEP chỉ làm cho Việt Nam càng bị nhập siêu thêm. Tham gia RCEP là Việt Nam càng phụ thuộc thêm vào Trung Quốc.
Bởi thế, tốt nhất cho Việt Nam là không tham gia RCEP. Không có RCEP thì Việt Nam cũng không đủ sức kham nổi các hiệp ước FTA đã ký. Trên thực tế, ngoài ASEAN thì Việt Nam đã có có FTA với cả 6 nước trong RCEP. Nước Mỹ còn chủ trương song phương mà rút ra khỏi TPP, thì rời bỏ RCEP với Việt Nam không có gì phải nuối tiếc.
5. Để lý giải thêm tại sao Việt Nam không nên tham gia RCEP, xin đưa ra bức tranh sau.
Trong một chuồng mới dựng lên có 16 con vật đang định bước vào ăn ngủ chung. Trong đó có 1 con hổ, hai con báo, còn lại là hươu nai. Con báo Ấn Độ thấy con hổ Trung Quốc bước vào chuồng liền vội vã nhảy vọt ra ngoài.
Liệu các chú hươu nai còn lại có tránh khỏi số phận làm mồi cho con hổ Trung Quốc?

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Ba, 5 tháng 11, 2019

Người Việt và người Hán: Ai mới là tổ tiên của ai?


Tác giả: Hà Văn Thùy
Lời tác giả: Lâu nay nghe dư luận xôn xao: người Trung Quốc khuyên dân Việt “lãng tử hồi đầu!” Nghĩ rằng đó là việc rất nghiêm trọng, vừa xuyên tạc lịch sử vừa xúc phạm tổ tiên, chắc cơ quan chức năng như Tuyên giáo, Hội Sử phải nhanh nhạy ra tay… Nhưng chờ mãi chỉ thấy im ắng, dường như chẳng có vấn đề, không đáng chấp! Trong khi đó dân tình nháo nhác, không hiểu do cơn cớ nào người ta khuyên như vậy và khuyên vậy là có ý gì? Mới đây người bạn chuyển cho bài Bác bỏ luận điệu Trung Quốc khuyên Việt Nam ‘Lãng tử hồi đầu’ trên Nghiên cứu quốc tế, bảo đọc rồi cho ý kiến nên chúng tôi viết bài này.
***
Vào đầu thế kỷ XXI, di truyền học khám phá loài người xuất hiện ở châu Phi khoảng 200.000 năm trước rồi từ đó lan tỏa ra thế giới, làm nên nhân loại. Riêng việc con người đến châu Á, giữa các nhà di truyền lại có hai quan điểm khác nhau. Phái con đường phương Nam cho rằng, từ châu Phi, người tiền sử sang bán đảo A Rập rồi theo ven biển Ấn Độ tới Việt Nam 70.000 năm trước. 40.000 năm cách nay, nhờ khí hậu ấm hơn, người từ Việt Nam đi lên Đông Á. Từ Đông Á có một dòng rẽ sang phía Tây, tới Trung Á rồi vào châu Âu. Tại đây họ gặp người Europid từ Trung Đông tới. Hai dòng người hòa huyết cho ra tổ tiên người châu Âu. 30.000 năm trước, từ Đông Á người tiền sử vượt qua eo Bering chiếm lĩnh châu Mỹ. Dòng di cư này làm nên đại bộ phận loài người ngoài châu Phi. (1)
Đối chọi với nó là phái chủ trương con đường phương Bắc, cho rằng, có chuyến di cư theo con đường phương Nam nhưng chuyến ra đi 45.000 năm trước, người tiền sử từ châu Phi, vào Trung Đông, lên Trung Á rồi sang phương Đông mới quan trọng vì tạo ra đại bộ phận nhân loại ngoài châu Phi. (2)
Nhiều nhà di truyền Trung Quốc theo trường phái con đường phương Bắc, cho rằng, người từ châu Phi vào Trung Quốc tạo nên cộng đồng Bách Việt mà người Hán là trung tâm. Dựa theo tài liệu của người Pháp viết: “ Năm 333 TCN, nước Sở diệt nước Việt, một bộ phận người Việt chạy vào Bắc Việt Nam, trở thành người Việt Nam.” (3)Từ “khám phá lịch sử” đó dẫn tới chủ trương kêu gọi đám con đi hoang hãy trở về nhà!
Tuy nhiên đó là sự lầm lẫn ê chề của giới khoa học. Thực tế khảo cứu cho thấy, có con đường phương Bắc nhưng dòng di cư này không hề làm nên dân cư Đông Á. Ở trên chúng tôi nói, 40.000 năm trước, có dòng người từ Đông Á qua Trung Á vào châu Âu. Khoảng 15.000 năm trước, một dòng người từ châu Âu qua Trung Á, đi ngược lại con đường cũ để tới phương Đông.(1) Nhưng khoảng 10.000 năm trước, người ở phía Tây Hoa lục đã đông và có những bộ tộc dũng mãnh như bộ tộc Tần đã ngăn không cho người di cư phương Tây vào Trung Quốc. Đoàn di cư này buộc phải chia đôi: một bộ phận trượt xuống Tây Nam, trở thành dân thiểu sổ Uighur sau này. Một nhánh lên phía Bắc rồi tới Đông Bắc Trung Quốc, làm nên các sắc dân thiểu số ở Bắc Trung Quốc hiện nay. Thất bại trong việc xâm nhập Trung Quốc nhưng về mặt di truyền, cuộc di cư vẫn để lại những dấu hiệu (marks) trong bộ gen của dân cư. Do vậy, một số nhà di truyền học khi khảo sát bộ gen con người đã sa vào cái bẫy của cuộc xâm nhập bất thành. Nếu dòng di cư này vào được Hoa lục, sẽ để lại ba hệ quả:
1. Người Trung Quốc phải mang mã di truyền Ấn-Âu mà không phải Mông Cổ phương Nam như hiện nay.
2. Người Trung Quốc sẽ có chỉ số đa dạng sinh học (Bio-diversity) cao nhất châu Á (sinh vật có tuổi sinh học càng già tức càng gần tổ tiên thì chỉ số đa dạng sinh học càng cao.) Trong khi thực tế cho thấy, chỉ số đa dạng sinh học của người Hán gần như thấp nhất châu Á.
3. Với con đường di cư từ Tây Bắc xuống Đông Nam như vậy, mặc nhiên những di chỉ khảo cổ ở Tây Bắc sẽ có tuổi cao hơn và tiến bộ hơn các di chỉ ở Đông Nam. Tuy nhiên, sự thực ngược lại. Những di chỉ khảo cổ phía Nam không chỉ sớm hơn mà còn tiến bộ hơn so với ở Tây Bắc. Năm 2016, sau 80 năm khai quật và nghiên cứu văn hóa Lương Chử vùng Thái Hồ, học giả Trung Quốc kết luận: “Nhà nước Lương Chử sớm và tiến bộ nhất phương Đông. Triều đại Hạ và Thương trước đây được coi là sớm nhất, nay phải trả lại danh hiệu đó cho Lương Chử.”Và “Văn hóa Lương Chử là cội nguồn của văn minh Trung Quốc.”(4)
Kết luận được rút ra là không có chuyện người châu Phi theo con đường phương Bắc làm nên dân cư Đông Á.
Trên thực tế, chỉ có duy nhất con đường phương Nam đưa người tiền sử tới Việt Nam 70.000 năm trước làm nên dân cư châu Á. Tại đây hai đại chủng Australoid và Mongoloid hòa huyết sinh ra bốn chủng người Việt cổ Indonesian, Melanesian, Vedoid và Negritoid. Người Indonesian chiếm đa số, giữ vai trò lãnh đạo về xã hội và ngôn ngữ, sau này được gọi là Lạc Việt. Cũng có một số nhóm người Mongoloid do “thiếu tinh thần tập thể” không chịu chơi với ai nên đi tới Tây Bắc Đông Dương và sống cách biệt trong môi trường lạnh giá. 40.000 năm cách nay, do khí hậu ấm lên, người từ Việt Nam đi lên Quảng Đông rồi lan tỏa ra trở thành dân cư Hoa lục. Tại di chỉ Điền Nguyên Động thành phố Chu Khẩu Điếm phát hiện xương chân người đàn ông 40.000 năm tuổi, được xác nhận là tổ tiên người Đông Á và là thủy tổ người châu Mỹ bản địa (5) Riêng nhóm người Mongoloid từ Tây Bắc Đông Dương theo hành lang phía Tây đi lên Tây Bắc Trung Quốc và đất Mông Cổ. Ban đầu họ sống bằng săn bắn hái lượm. Khi kỷ Băng hà kết thúc, họ chuyển sang du mục ở bờ Bắc Hoàng Hà. Do giữ được nguồn gen thuần chủng nên sau này được gọi là chủng Mongoloid phương Bắc (North Mongoloid). Khoảng 9000 năm trước, tại lưu vực Hoàng Hà và Dương Tử, dân Việt đã đông, làm nên nền văn hóa nông nghiệp trồng lúa, trồng kê, nuôi gia súc ở Giả Hồ Hà Nam… Khoảng 7000 năm trước, tại bờ Nam Hoàng Hà, người Việt Australoid gặp gỡ người du mục Mông Cổ bên bờ Bắc để trao đổi hàng hóa. Việc hôn phối luyến ái diễn ra, lớp con lai Mông-Việt ra đời, mang mã di truyền Mongoloid phương Nam. (6) Người Mongoloid phương Nam tăng số lượng, dần thay thế người Australoid, thành chủ thể dân cư lưu vực Hoàng Hà. Họ sáng tạo văn hóa Long Sơn, xây dựng hai trung tâm văn hóa rực rỡ Thái Sơn và Trong Nguồn (đồng bằng Hán Thủy), sau này được gọi là người Hán.
Khoảng giữa thiên niên kỷ III TCN, một bộ phận người Việt từ lưu vực Hoàng Hà di cư về phương Nam, đem nguồn gen Mongoloid chuyển hóa dân cư Nam Dương Tử và Việt Nam sang chủng Mongoloid phương Nam. Từ khoảng 2000 năm TCN, đại bộ phận người Việt Nam mang mã di truyền Mongoloid phương Nam. Như vậy, người Việt Nam và người Trung Quốc trước đây cùng chủng tộc Australoid thì từ 2000 năm TCN cùng chủng tộc Mongoloid phương Nam. (7)Tuy nhiên, vì người Việt Nam được sinh ra từ tổ tiên 70.000 năm trước nên có tuổi sinh học già hơn do đó có chỉ số đa dạng sinh học cao nhất trong dân cư châu Á.
Do được hình thành như vậy, nên tiếng Việt là tiếng nói chung của dân cư phương Đông. Nhưng ở lưu vực Hoàng Hà, do tiếp xúc với người Mông Cổ nên tiếng nói chuyển theo cách nói Mông Cổ (phụ trước chính sau) đồng thời biến âm theo giọng Mông Cổ. Còn chữ viết thì chữ Giáp cốt xuất hiện 9000 năm trước ở văn hóa Giả Hồ. Khoảng 4000 năm trước, tại Cảm Tang, Lương Chử, chữ Giáp cốt đã trưởng thành. Vào đời Thương 1300 năm TCN, Giáp cốt văn được nâng cấp, sau đó được chuẩn hóa thành văn tự chính thức của Trung Quốc. Như vậy, về bản chất, tiếng Việt là chủ thể làm nên ngôn ngữ Trung Hoa, chữ Việt là chủ thể làm nên chữ viết Trung Hoa, văn hóa Việt là chủ thể của văn hóa Trung Quốc.
Bách Việt là gì? Sách đầu tiên nói về Bách Việt là cuốn Lã thị Xuân Thu, cho biết: năm 333 TCN, nước Sở diệt nước Việt, con cháu vua Việt là đầu lĩnh từng vùng, cùng đứng lên lập quốc, lấy tên đất làm tên nước, như Mân Việt, Đông Việt… bên cạnh những nước Việt có từ trước như Lạc Việt và những nước Việt trên đất Thái Lan, Miến Điện ngày nay. Cố nhiên, trong chiến tranh con người phải chạy loạn. Nhưng không hề có chuyện dân nước Việt chạy xuống thành người Việt Nam. Bởi lẽ, người Giang Nam và người Việt Nam đều là Lạc Việt, cùng mã di truyền Mongoloid phương Nam từ 2000 năm trước. Dân số Việt Nam lúc này đã đông nên vào đầu thời  thuộc Hán, nhiều hơn số dân hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây. Bách Việt là những nước nhỏ, riêng lẻ chỉ tồn tại 200 năm (333-111 TCN). Sau này, các sử gia nhà Hán căn cứ theo tên Việt, gộp thành Bách Việt. Lạc Việt cũng được gộp vào Bách Việt một cách tự nhiên như vậy. Khi Bách Việt ra đời thì người Tần chưa vượt qua Dương Tử nên nói rằng “người Hán là trung tâm của cộng đồng Bách Việt” là không đúng sự thật.
Dù thừa nhận hay không thừa nhận thì cũng không ai có thể phủ định sự thật này:
1. Đất Việt Nam là nơi phát tích của tất cả các dân tộc châu Á.
2. Ra đời từ 70.000 năm trước nên người Việt Nam gần với Tổ tiên nhất, có tuổi sinh học cao nhất. Sinh ra từ 7000 năm trước, người Hán là lứa con cháu muộn mằn của tộc Việt.
3. Do cội nguồn như vậy nên tiếng Việt là chủ thể làm nên ngôn ngữ Trung Hoa. Chữ Việt là chủ thể làm nên chữ viết Trung Hoa. Văn hóa Việt là chủ thể làm nên văn hóa Trung Hoa.
Từ sự thực trên, việc khuyên người Việt Nam “lãng tử hồi đầu” là việc làm xuyên tạc lịch sử, đảo lộn tôn ty, xúc phạm Tổ tiên. Những kẻ vô hậu như vậy sẽ bị quả báo.
Sài Gòn, Thu 2019
——————
Tài liệu tham khảo:
1. Stephen Oppenheimer. Out of Eden: The Peopling of the World.
https://www.amazon.co.uk/Out…Stephen-Oppenheimer/dp/184119894
2. Spencer Wells. The Journey of Man: A Genetic Odyssey.
3. Léonard Aurousseau. Theo Trần Trọng kim Việt Nam sử lược.
4. 良渚文化_互动百科 baike.com/wiki/
5. Sergio Prostak. DNA Analysis Reveals Common Origin of Tianyuan Humans and Native Americans, Asians. Jan 24, 2013
6. YANGSHAO CULTURE (5000 B.C. to 3000 B.C.) | Facts and Details
factsanddetails.com/china/cat2/sub1/item32.html
7. Hà Văn Thùy. Góp phần nhận thức lại lịch sử văn hóa Việt. NXB Hội Nhà văn, H.2016
8. Chuan-Chao Wang, Hui Li. Inferring human history in East Asia from Y chromosomes,https://investigativegenetics.biomedcentral.com/articles/10.1186/2041-2223-4-11

Phần nhận xét hiển thị trên trang