Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Tư, 6 tháng 11, 2019

Vành đai và Con đường của Trung Quốc lại có thêm "kỳ phùng địch thủ" mới: Mỹ công bố sáng kiến đầy hứa hẹn


Hồng Anh |
Vành đai và Con đường của Trung Quốc lại có thêm "kỳ phùng địch thủ" mới: Mỹ công bố sáng kiến đầy hứa hẹn
Ảnh minh họa: Global Times

Sau nhiều lần chỉ trích sáng kiến Vành đai và Con đường của Trung Quốc là "ngoại giao bẫy nợ", Mỹ và một số quốc gia khác đã quyết định hành động.

Nhằm cạnh tranh với sáng kiến Vành đai và Con đường (BRI) trị giá hàng tỉ USD của Trung Quốc, Washington đã kết hợp với Nhật Bản và Australia và cho ra đời sáng kiến đánh giá hạ tầng mang tên "Blue Dot Network" (BDN - Mạng lưới Điểm Xanh), được tạo ra với mục đích đầu tư xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng "bền vững", báo ABC News (Australia) đưa tin.
Thông tin về sáng kiến BDN đã được Bộ trưởng Thương mại Mỹ Wilbur Ross công bố bên lề hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 35 hôm thứ 3 (5/11) vừa qua. Được biết, các đơn vị chủ trì dự án này là Tập đoàn Đầu tư tư nhân ngoài nước (OPIC) của Chính phủ Mỹ, Ngân hàng Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JBIC) và Bộ Ngoại giao - Thương mại Úc (DFAT).
Vành đai và Con đường của Trung Quốc lại có thêm kỳ phùng địch thủ mới: Mỹ công bố sáng kiến đầy hứa hẹn - Ảnh 1.
Bộ trưởng Thương mại Wilbur Ross cho biết các nước Đông Nam Á như Việt Nam và Indonesia sẽ tham gia sáng kiến BDN. Ảnh: AP
Tên gọi của dự án này được lấy ý tưởng từ cuốn sách "Pale Blue Dot" (Chấm xanh Mờ nhạt) của nhà khoa học quá cố Carl Sagan và tấm ảnh tàu Voyager 1 chụp Trái đất từ ngoài vũ trụ.
Theo thông cáo được đăng tải trên website của OPIC, dự án BND được tạo ra nhằm kết hợp các công ty, tổ chức thuộc chính phủ và tư nhân nhằm "thúc đẩy các tiêu chuẩn chất lượng cao, đáng tin cậy dành cho phát triển cơ sở hạ tầng trên toàn cầu, trong một khuôn khổ cởi mở và toàn diện".
Theo đó, "BDN sẽ đánh giá và cung cấp chứng nhận cho các dự án cơ sở hạ tầng dựa trên các quy chuẩn chung, nhằm thúc đẩy sự phát triển của các cơ sở hạ tầng theo định hướng thị trường, minh bạch và bền vững về tài chính tại khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương và trên toàn thế giới", theo thông cáo của OPIC.
Tuyên bố của ông Ross được cho là nhằm xoa dịu những nghi ngờ về việc chính quyền Mỹ "lơ là" tại khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, khi ông Trump đã vắng mặt tại hội nghị ASEAN trong 2 năm liên tiếp và chỉ gửi Bộ trưởng Thương mại cùng cố vấn an ninh quốc gia tham dự sự kiện này.
"Chúng tôi không định từ bỏ vị thế địa chính trị hay quân sự của mình", ông Ross cho biết nhiều người đã hiểu nhầm khi cho rằng Tổng thống Trump quyết định rút Mỹ khỏi Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) đồng nghĩa với việc Mỹ giảm quan tâm tới khu vực này.
"Chúng tôi còn ở đây lâu dài; chúng tôi sẽ tiếp tục đầu tư thêm và sẽ nỗ lực có thêm các thỏa thuận thương mại song phương, và tôi sẽ giành nhiều thời gian hơn tại khu vực này", ABC dẫn lời ông Ross.
Câu trả lời dành cho chiến lược "ngoại giao bẫy nợ" của Trung Quốc
Cố vấn an ninh quốc gia Mỹ O'Brien cho biết sáng kiến BDN của Mỹ, Nhật Bản và Australia sẽ là đối trọng của các công trình cơ sở hạ tầng mà Mỹ cho là "chất lượng không tốt" thuộc BRI củaTrung Quốc đã khiến nhiều quốc gia rơi vào bẫy nợ.
Mỹ đã nhiều lần chỉ trích các dự án BRI và cáo buộc các dự án này ngầm phá hoại chủ quyền và ổn định tài chính tại các quốc gia nhận vốn đầu tư của Trung Quốc.
Vành đai và Con đường của Trung Quốc lại có thêm kỳ phùng địch thủ mới: Mỹ công bố sáng kiến đầy hứa hẹn - Ảnh 3.
Ảnh minh họa: Santos
Bên cạnh Mỹ, nhiều nước khác cũng đã lên án sáng kiến BRI của Trung Quốc là "ngoại giao bẫy nợ", do Bắc Kinh thường có động thái đòi các quốc gia "gán nợ" bằng một số điều kiện có lợi cho họ, khi các quốc gia này không thể trả nợ.
Vấn đề này đã trở thành tâm điểm tranh luận vào năm 2017, sau khi Sri Lanka buộc phải trao quyền kiểm soát cảng Hambantota của nước này cho Trung Quốc trong vòng 99 năm để được xóa khoản vay 1 tỉ USD đã nhận từ Bắc Kinh để phát triển cơ sở hạ tầng.
Bộ trưởng Thương mại Mỹ cho biết sáng kiến BDN hiện nay tuy mới ở giai đoạn khởi phát, nhưng chắc chắn nó sẽ thu hút các quốc gia cam kết "phát triển cơ sở hạ tầng bền vững" tham gia.
Khoản đầu tư 17 tỉ USD
Theo ABC, sáng kiến BDN là một phần trong chính sách đối ngoại tập trung vào "Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương Tự do và Cởi mở" của chính quyền Tổng thống Trump, được Mỹ đưa ra tại hội nghị cấp cao ASEAN 2 năm trước, tổ chức ở Manila, Philippines.
Theo các số liệu chính thức của Washington, giá trị trao đổi thương mại giữa Mỹ và Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương lên đến 1.900 tỉ USD vào năm 2018, và giúp duy trì việc làm cho 3 triệu lao động Mỹ.
Tại diễn đàn về BDN ở Bangkok, Nhật Bản và Mỹ đã kí kết một bản cam kết hợp tác đầu tư 10 tỉ USD trong các dự án khí tự nhiên hóa lỏng (LNG).
Ngoài ra, hai nước còn kí kết một số thỏa thuận khác như thỏa thuận kết hợp với Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) để hỗ trợ tài chính cho các dự án năng lượng khác của châu Á.
Được biết, ngoài Thái Lan, sáng kiến BDN cũng sẽ có sự tham gia của Indonesia và Việt Nam.
theo Trí Thức Trẻ

Phần nhận xét hiển thị trên trang

DANH NGÔN

dối trá

Phần nhận xét hiển thị trên trang

VIỆT NAM NÊN RÚT KHỎI HIỆP ĐỊNH ĐỐI TÁC KINH TẾ TOÀN DIỆN KHU VỰC



1. Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (Regional Comprehensive Economic Partnership - RCEP) đang đàm phán để ký kết - là một hiệp định thương mại tự do (FTA) gồm 10 nước trong khối ASEAN với 6 quốc gia mà ASEAN đã ký FTA riêng rẽ với từng nước là Ấn Độ, Australia, Hàn Quốc, New Zealand, Nhật Bản, Trung Quốc.
Thỏa thuận đầu tiên về thành lập RCEP được đưa ra trong hội nghị cấp cao ASEAN năm 2011 tại Indonesia, và bắt đầu tiến trình đàm phán tại hội nghị cấp cao ASEAN 2012 ở Căm Pu Chia.
Một cách không né tránh, quốc gia thúc đẩy mạnh nhất cho sự ra đời RCEP là Trung Quốc.
2. Ngày 04/11/2019, bên lề thượng đỉnh ASEAN ở Bangkok, Ấn Độ đã thông báo không tham gia Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) vì “lợi ích quốc gia”.
Lý do Ấn Độ rút khỏi đàm phán RCEP là lo sợ thị trường Ấn Độ sẽ tràn ngập hàng hóa Trung Quốc giá rẻ.
3. Các nước ASEAN đã có hiệp ước FTA riêng rẽ với cả 6 nước, trong đó có Trung Quốc rồi, thì một FTA chung cho cả 16 nước không đem lại lợi thế gì thêm cho ASEAN. Trái lại chỉ mang lại lợi thế cho hàng hóa Trung Quốc lưu thông tự do không biên giới trong toàn khu vực.
Trong bối cảnh Trung Quốc phải lùi bước trước thị trường Mỹ từ cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung thì RCEP chính là thị trường thế chân cho hàng hóa Trung Quốc. Sự rút lui của Ấn Độ chắc chắn đã làm cho Trung Quốc hụt hẫng.
4. Không phải cứ có các hiệp định thương mại tự do khu vực là nhất thiết Việt Nam phải tham gia tất cả.
Khả năng của Việt Nam chỉ có hạn, nên Việt Nam phải chọn lựa thị trường. Việt Nam chỉ nên tham gia các thị trường trong đó hàng hóa xuất nhập khẩu của Việt Nam cân bằng được với các nước mà không bị nhập siêu. Tiếp nữa là học hỏi được công nghệ tân tiến. Tiếp nữa là được tiêu dùng hàng hóa chất lượng tốt.
Từ đó không khó nhận thấy, tham gia vào RCEP thì Việt Nam phải “may thêm nhiều túi ba gang” nữa để nhận thêm hàng hóa chất lượng thấp đến từ Trung Quốc. Chưa có RCEP mà Việt Nam đã nhập siêu từ Trung Quốc khoảng 30 tỷ USD mỗi năm (4 tháng đầu năm 2019 là 11,9 tỷ USD), thì có thêm RCEP chỉ làm cho Việt Nam càng bị nhập siêu thêm. Tham gia RCEP là Việt Nam càng phụ thuộc thêm vào Trung Quốc.
Bởi thế, tốt nhất cho Việt Nam là không tham gia RCEP. Không có RCEP thì Việt Nam cũng không đủ sức kham nổi các hiệp ước FTA đã ký. Trên thực tế, ngoài ASEAN thì Việt Nam đã có có FTA với cả 6 nước trong RCEP. Nước Mỹ còn chủ trương song phương mà rút ra khỏi TPP, thì rời bỏ RCEP với Việt Nam không có gì phải nuối tiếc.
5. Để lý giải thêm tại sao Việt Nam không nên tham gia RCEP, xin đưa ra bức tranh sau.
Trong một chuồng mới dựng lên có 16 con vật đang định bước vào ăn ngủ chung. Trong đó có 1 con hổ, hai con báo, còn lại là hươu nai. Con báo Ấn Độ thấy con hổ Trung Quốc bước vào chuồng liền vội vã nhảy vọt ra ngoài.
Liệu các chú hươu nai còn lại có tránh khỏi số phận làm mồi cho con hổ Trung Quốc?

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Ba, 5 tháng 11, 2019

Người Việt và người Hán: Ai mới là tổ tiên của ai?


Tác giả: Hà Văn Thùy
Lời tác giả: Lâu nay nghe dư luận xôn xao: người Trung Quốc khuyên dân Việt “lãng tử hồi đầu!” Nghĩ rằng đó là việc rất nghiêm trọng, vừa xuyên tạc lịch sử vừa xúc phạm tổ tiên, chắc cơ quan chức năng như Tuyên giáo, Hội Sử phải nhanh nhạy ra tay… Nhưng chờ mãi chỉ thấy im ắng, dường như chẳng có vấn đề, không đáng chấp! Trong khi đó dân tình nháo nhác, không hiểu do cơn cớ nào người ta khuyên như vậy và khuyên vậy là có ý gì? Mới đây người bạn chuyển cho bài Bác bỏ luận điệu Trung Quốc khuyên Việt Nam ‘Lãng tử hồi đầu’ trên Nghiên cứu quốc tế, bảo đọc rồi cho ý kiến nên chúng tôi viết bài này.
***
Vào đầu thế kỷ XXI, di truyền học khám phá loài người xuất hiện ở châu Phi khoảng 200.000 năm trước rồi từ đó lan tỏa ra thế giới, làm nên nhân loại. Riêng việc con người đến châu Á, giữa các nhà di truyền lại có hai quan điểm khác nhau. Phái con đường phương Nam cho rằng, từ châu Phi, người tiền sử sang bán đảo A Rập rồi theo ven biển Ấn Độ tới Việt Nam 70.000 năm trước. 40.000 năm cách nay, nhờ khí hậu ấm hơn, người từ Việt Nam đi lên Đông Á. Từ Đông Á có một dòng rẽ sang phía Tây, tới Trung Á rồi vào châu Âu. Tại đây họ gặp người Europid từ Trung Đông tới. Hai dòng người hòa huyết cho ra tổ tiên người châu Âu. 30.000 năm trước, từ Đông Á người tiền sử vượt qua eo Bering chiếm lĩnh châu Mỹ. Dòng di cư này làm nên đại bộ phận loài người ngoài châu Phi. (1)
Đối chọi với nó là phái chủ trương con đường phương Bắc, cho rằng, có chuyến di cư theo con đường phương Nam nhưng chuyến ra đi 45.000 năm trước, người tiền sử từ châu Phi, vào Trung Đông, lên Trung Á rồi sang phương Đông mới quan trọng vì tạo ra đại bộ phận nhân loại ngoài châu Phi. (2)
Nhiều nhà di truyền Trung Quốc theo trường phái con đường phương Bắc, cho rằng, người từ châu Phi vào Trung Quốc tạo nên cộng đồng Bách Việt mà người Hán là trung tâm. Dựa theo tài liệu của người Pháp viết: “ Năm 333 TCN, nước Sở diệt nước Việt, một bộ phận người Việt chạy vào Bắc Việt Nam, trở thành người Việt Nam.” (3)Từ “khám phá lịch sử” đó dẫn tới chủ trương kêu gọi đám con đi hoang hãy trở về nhà!
Tuy nhiên đó là sự lầm lẫn ê chề của giới khoa học. Thực tế khảo cứu cho thấy, có con đường phương Bắc nhưng dòng di cư này không hề làm nên dân cư Đông Á. Ở trên chúng tôi nói, 40.000 năm trước, có dòng người từ Đông Á qua Trung Á vào châu Âu. Khoảng 15.000 năm trước, một dòng người từ châu Âu qua Trung Á, đi ngược lại con đường cũ để tới phương Đông.(1) Nhưng khoảng 10.000 năm trước, người ở phía Tây Hoa lục đã đông và có những bộ tộc dũng mãnh như bộ tộc Tần đã ngăn không cho người di cư phương Tây vào Trung Quốc. Đoàn di cư này buộc phải chia đôi: một bộ phận trượt xuống Tây Nam, trở thành dân thiểu sổ Uighur sau này. Một nhánh lên phía Bắc rồi tới Đông Bắc Trung Quốc, làm nên các sắc dân thiểu số ở Bắc Trung Quốc hiện nay. Thất bại trong việc xâm nhập Trung Quốc nhưng về mặt di truyền, cuộc di cư vẫn để lại những dấu hiệu (marks) trong bộ gen của dân cư. Do vậy, một số nhà di truyền học khi khảo sát bộ gen con người đã sa vào cái bẫy của cuộc xâm nhập bất thành. Nếu dòng di cư này vào được Hoa lục, sẽ để lại ba hệ quả:
1. Người Trung Quốc phải mang mã di truyền Ấn-Âu mà không phải Mông Cổ phương Nam như hiện nay.
2. Người Trung Quốc sẽ có chỉ số đa dạng sinh học (Bio-diversity) cao nhất châu Á (sinh vật có tuổi sinh học càng già tức càng gần tổ tiên thì chỉ số đa dạng sinh học càng cao.) Trong khi thực tế cho thấy, chỉ số đa dạng sinh học của người Hán gần như thấp nhất châu Á.
3. Với con đường di cư từ Tây Bắc xuống Đông Nam như vậy, mặc nhiên những di chỉ khảo cổ ở Tây Bắc sẽ có tuổi cao hơn và tiến bộ hơn các di chỉ ở Đông Nam. Tuy nhiên, sự thực ngược lại. Những di chỉ khảo cổ phía Nam không chỉ sớm hơn mà còn tiến bộ hơn so với ở Tây Bắc. Năm 2016, sau 80 năm khai quật và nghiên cứu văn hóa Lương Chử vùng Thái Hồ, học giả Trung Quốc kết luận: “Nhà nước Lương Chử sớm và tiến bộ nhất phương Đông. Triều đại Hạ và Thương trước đây được coi là sớm nhất, nay phải trả lại danh hiệu đó cho Lương Chử.”Và “Văn hóa Lương Chử là cội nguồn của văn minh Trung Quốc.”(4)
Kết luận được rút ra là không có chuyện người châu Phi theo con đường phương Bắc làm nên dân cư Đông Á.
Trên thực tế, chỉ có duy nhất con đường phương Nam đưa người tiền sử tới Việt Nam 70.000 năm trước làm nên dân cư châu Á. Tại đây hai đại chủng Australoid và Mongoloid hòa huyết sinh ra bốn chủng người Việt cổ Indonesian, Melanesian, Vedoid và Negritoid. Người Indonesian chiếm đa số, giữ vai trò lãnh đạo về xã hội và ngôn ngữ, sau này được gọi là Lạc Việt. Cũng có một số nhóm người Mongoloid do “thiếu tinh thần tập thể” không chịu chơi với ai nên đi tới Tây Bắc Đông Dương và sống cách biệt trong môi trường lạnh giá. 40.000 năm cách nay, do khí hậu ấm lên, người từ Việt Nam đi lên Quảng Đông rồi lan tỏa ra trở thành dân cư Hoa lục. Tại di chỉ Điền Nguyên Động thành phố Chu Khẩu Điếm phát hiện xương chân người đàn ông 40.000 năm tuổi, được xác nhận là tổ tiên người Đông Á và là thủy tổ người châu Mỹ bản địa (5) Riêng nhóm người Mongoloid từ Tây Bắc Đông Dương theo hành lang phía Tây đi lên Tây Bắc Trung Quốc và đất Mông Cổ. Ban đầu họ sống bằng săn bắn hái lượm. Khi kỷ Băng hà kết thúc, họ chuyển sang du mục ở bờ Bắc Hoàng Hà. Do giữ được nguồn gen thuần chủng nên sau này được gọi là chủng Mongoloid phương Bắc (North Mongoloid). Khoảng 9000 năm trước, tại lưu vực Hoàng Hà và Dương Tử, dân Việt đã đông, làm nên nền văn hóa nông nghiệp trồng lúa, trồng kê, nuôi gia súc ở Giả Hồ Hà Nam… Khoảng 7000 năm trước, tại bờ Nam Hoàng Hà, người Việt Australoid gặp gỡ người du mục Mông Cổ bên bờ Bắc để trao đổi hàng hóa. Việc hôn phối luyến ái diễn ra, lớp con lai Mông-Việt ra đời, mang mã di truyền Mongoloid phương Nam. (6) Người Mongoloid phương Nam tăng số lượng, dần thay thế người Australoid, thành chủ thể dân cư lưu vực Hoàng Hà. Họ sáng tạo văn hóa Long Sơn, xây dựng hai trung tâm văn hóa rực rỡ Thái Sơn và Trong Nguồn (đồng bằng Hán Thủy), sau này được gọi là người Hán.
Khoảng giữa thiên niên kỷ III TCN, một bộ phận người Việt từ lưu vực Hoàng Hà di cư về phương Nam, đem nguồn gen Mongoloid chuyển hóa dân cư Nam Dương Tử và Việt Nam sang chủng Mongoloid phương Nam. Từ khoảng 2000 năm TCN, đại bộ phận người Việt Nam mang mã di truyền Mongoloid phương Nam. Như vậy, người Việt Nam và người Trung Quốc trước đây cùng chủng tộc Australoid thì từ 2000 năm TCN cùng chủng tộc Mongoloid phương Nam. (7)Tuy nhiên, vì người Việt Nam được sinh ra từ tổ tiên 70.000 năm trước nên có tuổi sinh học già hơn do đó có chỉ số đa dạng sinh học cao nhất trong dân cư châu Á.
Do được hình thành như vậy, nên tiếng Việt là tiếng nói chung của dân cư phương Đông. Nhưng ở lưu vực Hoàng Hà, do tiếp xúc với người Mông Cổ nên tiếng nói chuyển theo cách nói Mông Cổ (phụ trước chính sau) đồng thời biến âm theo giọng Mông Cổ. Còn chữ viết thì chữ Giáp cốt xuất hiện 9000 năm trước ở văn hóa Giả Hồ. Khoảng 4000 năm trước, tại Cảm Tang, Lương Chử, chữ Giáp cốt đã trưởng thành. Vào đời Thương 1300 năm TCN, Giáp cốt văn được nâng cấp, sau đó được chuẩn hóa thành văn tự chính thức của Trung Quốc. Như vậy, về bản chất, tiếng Việt là chủ thể làm nên ngôn ngữ Trung Hoa, chữ Việt là chủ thể làm nên chữ viết Trung Hoa, văn hóa Việt là chủ thể của văn hóa Trung Quốc.
Bách Việt là gì? Sách đầu tiên nói về Bách Việt là cuốn Lã thị Xuân Thu, cho biết: năm 333 TCN, nước Sở diệt nước Việt, con cháu vua Việt là đầu lĩnh từng vùng, cùng đứng lên lập quốc, lấy tên đất làm tên nước, như Mân Việt, Đông Việt… bên cạnh những nước Việt có từ trước như Lạc Việt và những nước Việt trên đất Thái Lan, Miến Điện ngày nay. Cố nhiên, trong chiến tranh con người phải chạy loạn. Nhưng không hề có chuyện dân nước Việt chạy xuống thành người Việt Nam. Bởi lẽ, người Giang Nam và người Việt Nam đều là Lạc Việt, cùng mã di truyền Mongoloid phương Nam từ 2000 năm trước. Dân số Việt Nam lúc này đã đông nên vào đầu thời  thuộc Hán, nhiều hơn số dân hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây. Bách Việt là những nước nhỏ, riêng lẻ chỉ tồn tại 200 năm (333-111 TCN). Sau này, các sử gia nhà Hán căn cứ theo tên Việt, gộp thành Bách Việt. Lạc Việt cũng được gộp vào Bách Việt một cách tự nhiên như vậy. Khi Bách Việt ra đời thì người Tần chưa vượt qua Dương Tử nên nói rằng “người Hán là trung tâm của cộng đồng Bách Việt” là không đúng sự thật.
Dù thừa nhận hay không thừa nhận thì cũng không ai có thể phủ định sự thật này:
1. Đất Việt Nam là nơi phát tích của tất cả các dân tộc châu Á.
2. Ra đời từ 70.000 năm trước nên người Việt Nam gần với Tổ tiên nhất, có tuổi sinh học cao nhất. Sinh ra từ 7000 năm trước, người Hán là lứa con cháu muộn mằn của tộc Việt.
3. Do cội nguồn như vậy nên tiếng Việt là chủ thể làm nên ngôn ngữ Trung Hoa. Chữ Việt là chủ thể làm nên chữ viết Trung Hoa. Văn hóa Việt là chủ thể làm nên văn hóa Trung Hoa.
Từ sự thực trên, việc khuyên người Việt Nam “lãng tử hồi đầu” là việc làm xuyên tạc lịch sử, đảo lộn tôn ty, xúc phạm Tổ tiên. Những kẻ vô hậu như vậy sẽ bị quả báo.
Sài Gòn, Thu 2019
——————
Tài liệu tham khảo:
1. Stephen Oppenheimer. Out of Eden: The Peopling of the World.
https://www.amazon.co.uk/Out…Stephen-Oppenheimer/dp/184119894
2. Spencer Wells. The Journey of Man: A Genetic Odyssey.
3. Léonard Aurousseau. Theo Trần Trọng kim Việt Nam sử lược.
4. 良渚文化_互动百科 baike.com/wiki/
5. Sergio Prostak. DNA Analysis Reveals Common Origin of Tianyuan Humans and Native Americans, Asians. Jan 24, 2013
6. YANGSHAO CULTURE (5000 B.C. to 3000 B.C.) | Facts and Details
factsanddetails.com/china/cat2/sub1/item32.html
7. Hà Văn Thùy. Góp phần nhận thức lại lịch sử văn hóa Việt. NXB Hội Nhà văn, H.2016
8. Chuan-Chao Wang, Hui Li. Inferring human history in East Asia from Y chromosomes,https://investigativegenetics.biomedcentral.com/articles/10.1186/2041-2223-4-11

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Lịch sử Việt Nam thời tự chủ: Nùng Trí Cao đánh Tống (P2)


Tác giả: Hồ Bạch Thảo
Đạo quân của Trí Cao tiến rất nhanh, tuy có người báo trước nhưng viên quan giữ thành Quảng Châu vẫn không tin đó là sự thực. Đến lúc giặc đến gần chân thành, mới cho dân vào lánh nạn, nên xảy ra cảnh dẫm đạp nhau tại cổng thành có nhiều người chết:
“Trường Biên, quyển 172, ngày Bính Dần [21/6/1052], Nùng Trí Cao bắt đầu vây Quảng Châu. Trước đó 2 ngày, có người đến cáo cấp, Tri châu Trọng Giản cho là dối, bắt bỏ tù; rồi hạ lệnh:
Ai nói sàm giặc đến sẽ bị chém.’
Ví lý do đó nên dân không được chuẩn bị. Lúc giặc đến, mới ra lệnh vào thành; dân tranh nhau, dùng tiền của hối lộ để được vào cửa nhanh, đạp chết rất nhiều; số còn lại theo giặc, khiến thế giặc trở nên mạnh hơn.”[1]
Tuy lỗi lầm như vậy, nhưng triều đình ở xa chỉ biết thành vẫn giữ vững, cho là công của viên chỉ huy Trọng Giản, nên phong cho y chức Tri Kinh Nam. Riêng phía ngoài thành, quân triều đình bị Trí Cao đánh thua tại khu bến cảng dành cho người nước ngoài buôn bán gọi là đình Thị Bạc:
 Trường Biên, quyển 172, ngày Giáp Thân tháng 6 [9/7/1052], đổi Tri Quảng Châu Binh bộ lang trung thiên chương các đãi chế Trọng Giản làm Tri Kinh Nam. Triều đình cho rằng Giản có khả năng giữ thành nên mới có lệnh này; không biết rằng dân Quảng Châu oán Giản rất nhiều.
Cũng ngày này, Đô tuần kiểm Quảng Châu và Đoan Châu, Cao Sĩ Nghiêu đánh Nùng Trí Cao tại đình Thị Bạc [Quảng Châu], bị thua.”[2]
Thực ra thành Quảng Châu không bị hãm là do công của viên cựu chỉ huy Ngụy Quyền; viên này biết lo xa nên đào giếng sẵn trong thành cung cấp đủ nước; lại cho đặt nõ cứng trên thành, nõ này bắn rất trúng và mạnh khiến quân Trí Cao tuy che người bằng thuẫn, nhưng cũng có nhiều thương vong:
Trường Biên, quyển 173, ngày Đinh Tỵ tháng 7 [11/8/1052], trước đây Ngụy Quyền xây thành Quảng Châu, đào giếng chứa nước, chế tạo nõ lớn để phòng thủ. Đến lúc Nùng Trí Cao đánh thành rất gấp, lại ngăn nước không cho chảy vào; nhưng thành chắc, nước giếng dùng không hết; nõ bắn thì trúng; trúng nên giao động, thế giặc nao núng…”[3]
Khi triều đình hiểu được sự việc, bèn dùng lại Ngụy Quyền, giao chức Tri Quảng Châu:
Trường Biên , quyển 172, ngày Bính Tuất tháng 6 [11/7/1052], dùng Tri Việt Châu [tỉnh Quảng Tây] Cấp sự trung Ngụy Quyền làm Thị lang bộ Công Tập hiền viện học sĩ Tri Quảng Châu. Trước đó mệnh Lang trung bộ Công Vương Quì làm Thái thường thiếu khanh Trực chiêu văn quán thay Trọng Giản Tri Quảng Châu. Nhưng quan can gián tâu rằng vùng Lãnh ngoại [chỉ Quảng Đông, Quảng Tây] mới dùng binh, Quì không có tài phủ ngự, nên bãi chức; rồi chọn Quyền. Vì từ khi Nùng Trí Cao làm phản, chỗ nào giặc đi qua đều phá, chỉ riêng thành Quảng Châu không đánh được. Triều đình xét lúc Quyền coi thành Quảng Châu, xây dựng phòng thủ thành công, nên tăng tước trật, cấp thêm 5.000 cấm binh, lại cho tiện nghi thi hành sự việc.”[4]
Quân triều đình từ châu lân cận đến giải cứu thành Quảng châu cũng bị thảm bại dưới chân thành, cấp chỉ huy đều tử trận:
“ Trường Biên quyển 172, ngày Canh Dần [15/7/1052], Đô đại đề cử Quảng Châu, Huệ Châu[5] mang quân đánh giặc. Tây kinh tả tàng khố phó sứ Vũ Nhật Huyên, Tuần kiểm Huệ Châu Tả thị cấm Ngụy Thừa Hiến giao chiến với quân Nùng Trí Cao tại dưới thành Quảng Châu, bị tử trận.”[6]
Nhắm đối phó với tình hình chiến sự, triều đình lập bộ chỉ huy cấp cao, Dư Tĩnh phụ trách lộ Quảng Tây, Dương Điền phụ trách Quảng Đông; sau đó thấy rằng quân Trí Cao cướp phá cả 2 tỉnh, cần thống nhất chỉ huy mới đối phó nổi, nên giao cho Dư Tĩnh tiết chế cả 2 lộ:
Trường Biên quyển 173, ngày Bính Ngọ tháng 7 [31/7/1052], mệnh Tri Quế Châu Dư Tĩnh chế ngự giặc tại Quảng Nam Đông Tây Lộ. Lúc bấy giờ Gián quan Giả Ảm tâu:
Tĩnh và Dương Điền đều được ban tiện nghi hành sự, nếu 2 người ra lệnh không giống nhau, thì kẻ dưới không biết theo ai. Lại nếu Tĩnh chuyên trách Tây lộ, mà giặc hướng về phía đông; chỗ đó Tĩnh không thống trị, thì không có cách gì sai phái quần chúng; như vậy nên cho Tĩnh kinh chế cả 2 lộ.’
Riêng Tĩnh cũng tâu rằng:
Giặc tại phía đông, mà Thần chỉ có quyền lực tại phía tây, không hợp với chí thần mong ước.’
Thiên tử chấp nhận lời xin, nên mới có lệnh này.”[7]
Bấy giờ triều đình nhà Tống cố gắng tỏ ra bớt thụ động, giao cho Tri châu 2 châu lớn Quảng Châu, Quế Châu kiêm chức Kinh lược An phủ sứ, trực tiếp đôn đốc :
Trường Biên quyển 172, ngày Kỷ Sửu [14/7/1052], chiếu Tri Quảng Châu, Quế Châu từ nay đều kiêm chức Kinh lược an phủ sứ.[8]
Triều đình bắt đầu ra lệnh hoãn thu thuế tại những nơi bị quân Trí Cao đánh phá:
Trường Biên quyển 172, ngày Bính Thân tháng 6 [21/7/1052], chiếu ban Quảng Nam Đông Lộ [Quảng Đông], Tây Lộ [Quảng Tây], những vùng bị giặc dày xéo, chưa cho thu thuế mùa hè này.”[9]
Cho tăng cường hệ thống ngựa trạm giúp cho việc truyền tin và giao thông từ kinh sư đến Lưỡng Quảng mau chóng dễ dàng hơn; điền bổ các quan hữu dụng đến các châu quận từng bị chiếm đóng:
Trường Biên quyển 173, ngày Nhâm Tý [6/8/1052], chiếu ban viên Thẩm Quan rằng các châu Liên [Quảng Nam Đông Lộ], Hạ [Quảng Nam Tây Lộ], Đoan [Quảng Nam Đông Lộ], Bạch [Quảng Nam Tây Lộ] mới đây bị giặc dày xéo, cần chọn quan đứng đầu coi sóc dân.
Lại ban chiếu từ Quảng Châu đến kinh sư tăng đặt các phố trạm cho ngựa chuyển thư; vẫn ra lệnh 1 viên Đề cử nội thần phụ trách.”[10]
Thi hành chính sách bao vây kinh tế, trừng trị nặng kẻ giao dịch buôn bán lương thực với kẻ địch:
Trường Biên, quyển 173, ngày Đinh Tỵ tháng 7 [11/8/1052], Khu mật viện tâu rằng bọn man tặc và đồ đảng khoảng 2 vạn tên, 1 ngày ăn hết 500 thạch gạo,[11] nếu không có chỗ dựa về lương thực, chúng không thể ở lâu; cần phải cấm đoán giao dịch lương thực nghiêm, coi như ngoài vòng pháp luật. Ngày Tân Dậu [15/8/1052], chiếu ban bắt thủ phạm xử chém, tòng phạm đày đi lao thành[12] tại Lãnh Bắc;[13] xe, thuyền đều tịch thu sung công.”[14]
Triều đình treo giải thưởng lớn bằng chức quan tiền bạc cho kẻ bắt được Trí Cao, A Nùng mẹ Trí Cao, cùng viên Tiến sĩ tại Quảng Châu làm mưu sĩ Trí Cao:
Trường Biên, quyển 173, ngày Mậu Tý tháng 8 [11/9/1052], chiếu ban cho vùng Quảng Nam [Quảng Đông, Quảng Tây], ai bắt được Nùng Trí Cao được ban chức Chánh thứ sử, thưởng 3.000 quan tiền, 2.000 tấm quyên; bắt mẹ Trí Cao được ban Phó sứ các ty, thưởng tiền 3.000 quan, 2.000 tấm quyên; bắt Hoàng Vi được ban Đông đầu cung phụng quan, 1.000 quan tiền.[15]
Nhờ thành xây chắc, tường hào phòng thủ kiến cố, lương thực nước uống đầy đủ; trên thành đặt nõ cứng có chỗ trú ẩn an toàn gây tỗn thất nhiều cho kẻ địch, nên sau nhiều đợt tấn công thất lợi, quân Trí Cao tỏ ra nao núng. Bên ngoài, viên Tri Anh châu Tô Giam tại châu lân cận, mang quân đến cứu, giết cha viên Tiến sĩ Hoàng Sư Mật làm quân sư cho Trí Cao, cùng tìm cách lôi kéo dân chúng từ bỏ hàng ngũ địch. Lại có viên Huyện lệnh Phiên Ngung Tiêu Chú mang quân ra khỏi thành, dùng kế hỏa công thiêu hủy thuyền địch. Do vậy quân Trí Cao vây 57 ngày, rồi biết rằng không lấy được thành, đến ngày16/8/1052 lại tìm cách quay về Ung châu:
Trường Biên quyển 173, ngày Đinh Tỵ tháng 7 [11/8/1052], trước đây Ngụy Quyền xây thành Quảng Châu, đào giếng chứa nước, chế tạo nõ lớn để phòng thủ. Đến lúc Nùng Trí Cao đánh thành rất gấp, lại ngăn nước không cho chảy vào; nhưng thành chắc, nước giếng dùng không hết; nõ bắn thì trúng; trúng nên giao động, thế giặc nao núng. Viên Tri Anh Châu Tấn Giang [Anh Đức thị, tỉnh Quảng Đông], Tô Giam, bắt đầu nghe tin Quảng Châu bị vây, bảo mọi người rằng:
Quảng Châu và châu ta gần nhau, nay thành nguy trong sớm tối, mà điềm nhiên không đến cứu là phi nghĩa.’
Bèn chiêu mộ trai tráng hàng vạn người, giao ấn của châu cho Đề điểm hình ngục Bao Kha, trong đêm đi cứu nạn, dừng binh cách Quảng Châu 20 dặm. Hoàng Sư Mật là người Quảng Châu, theo giặc làm minh chủ; Giam bèn bắt trói cha Mật, chém để làm răn; giặc nghe tin sợ táng đởm. Lúc bấy giờ quân vô loại tụ tập cướp phá, Giam bắt được hơn 60 tên, đem chém; chiêu dụ những kẻ bị ăn hiếp trở về với nghề cũ, gồm hơn 6.700 người.
Thành bị vây đã lâu ngày, mấy lần đánh không thắng; giặc bèn tụ tập vài trăm chiếc thuyền đánh gấp phía nam. Có viên huyện lệnh Phiên Ngung tên là Tiêu Chú, người đất Tân Dụ [Nam Xương thị, tỉnh Giang Tây], từ trong vòng vây vượt ra ngoài, chiêu mộ dân cường tráng ven biển hơn 2.000 người, dùng hải thuyền đánh miền thượng lưu. Khi chưa ra quân, thì trong đêm gió nỗi lên, bèn dùng hỏa công đốt thuyền giặc, đại phá khiến thây giặc chất như núi. Lập tức mở cửa huyện, viện binh từ các lộ vào, cùng dân mang rượu, bò, lương thực tiếp tục vào thành; khí thế trong thành phấn khởi, mỗi lần đánh tất thắng, Lại có Chuyển vận sứ Vương Can, mộ dân binh từ bên ngoài vào thành, càng tăng thêm việc phòng bị.
Giặc vây 57 ngày, rồi biết rằng không lấy được thành, đến ngày Nhâm Tuất[16/8/1052] bèn bỏ đi.”[16]
 Quân Nùng Trí Cao theo đường thủy trở về Ung Châu, tại con sông nhỏ Biên Độ Võng nối liên hai sông Bắc Giang, và Tây Giang bị quân Tô Giam dùng chướng ngại vật chặn sông nên không thể theo đường cũ ngược dòng Tây Giang trở về Ung Châu được; khiến Trí Cao phải điều quân ngược dòng Bắc Giang rồi đi vòng sang phía tây. Tại Biên Độ Võng quân triều đình do Hội Trung chỉ huy giao chiến, Hội Trung tử trận:
“Trường Biên quyển 173, ngày Đinh Tỵ tháng 7 [11/8/1052].Trước đó, Giam cùng Đô giám Hồng Châu [Giang Tây] Thái Bảo Cung dùng 8.000 quân đóng tại Biên Độ Võng, chặn đường về của giặc. Hội Trung từ kinh sư tới, tiến đánh; lúc lâm chiến bảo thuộc hạ rằng:
Ta 10 năm về trước chỉ là một chẳng trai tráng kiện, nhờ chiến công mà lên đến chức Đoàn luyện sứ, các người hãy gắng lên.’
Rồi trên lưng ngựa tiên phong, gặp lúc giặc chạy đến, Trung dùng tay bắt 2 chỉ huy giặc; chẳng may ngựa sa vào bùn, không cất bước được, bị giáo đâm chết.”[17]
Sáng kiến của viên Tri Anh châu Tô Giam cho lập chướng ngại vật tại Biên Độ Võng để chặn đường về, khiến kẻ địch phải dùng thủy trình theo sông nhỏ đường vòng, gây khó khăn lớn, lại bị tổn thất nhân mạng và nhiều tài sản cướp được; Vua Tống bèn phong cho Giam chức Cung bị khố phó sứ:
Trường Biên quyển 173.Ngày Tân Mão tháng 8 [14/9/1052]Tri Anh châu Bí thư thừa Tô Giam được ban chức Cung bị khố phó sứ. Trước đó giặc đến vùng Quảng Châu, không kịp thi hành thanh dã,[18] khiến giặc mặc sức cướp phá. Sau này Giam biết giặc sắp đến, chia quân ngăn tại Biên Độ Võng, chặn đường trở về của giặc bằng cách đặt bè gỗ, đá lớn đến 40 dặm.[19] Giặc đến quả nhiên không tiến được, phải đi vòng mấy chục dặm rồi vào sông Sa Đầu Độ từ huyện Thanh Viễn qua phía tây đến Liên Châu, Hạ Châu để rồi trở về lối cũ. Số tổn thương rất nhiều, Giam lấy được hầu hết đồ vật giặc để lại.”[20]
Riêng viên Huyện lệnh Tiêu Chú, dùng hỏa công đốt thuyền địch tại Quảng Châu cũng được thăng chức Lễ tân phó sứ:
Trường Biên quyển 173.Ngày Đinh Hợi [10/9/1052], dùng Tiêu Chú làm Lễ tân phó sứ, vẫn trao quyền điều động tại huyện Phiên Ngung.”[21]
Đạo quân của Nùng Trí Cao trên đường trở về Ung Châu tuy bị ngăn chặn tại Biên Độ Võng phải đi vòng, nhưng không tỏ ra thụ động. Tuy vô học nhưng y đã làm đúng theo binh thư, chuyển từ thụ động rút lui dễ bị đánh sau lưng, quay sang thế tấn công mạnh, tiêu diệt nhiều tướng lãnh quân lính đối phương, rồi trở về Ung Châu một cách an toàn; chi tiết chiến sự xãy ra xin trình bày tại chương sau.
————————-
[1] 丙寅,儂智高圍廣州。前二日,有告急者,知州仲簡以為妄,囚之,下令曰:「有言賊至者斬!」以故民不為備。及賊至,始令民入城,民爭以金貝遺閽者,求先入,踐死者甚眾,餘皆附賊,賊勢益張。
[2] 甲申,徙知廣州、兵部郎中、天章閣待制仲簡知荊南。朝廷但以簡能守城,故有是命,不知廣人怨之深也。是日,廣、端都巡檢高士堯擊儂智高於市舶亭,為賊所敗。
[3] 初,魏瓘築廣州城,鑿井畜水,作大弩為守備。及儂智高攻城甚急,且斷流水【一】,而城堅,井飲不竭,弩發輒中,中輒洞潰,賊勢稍屈。
[4] 丙戌,知越州、給事中魏瓘為工部侍郎、集賢院學士、知廣州。
初,命工部郎中王逵為太常少卿、直昭文館,代仲簡。而言者以今嶺外方用兵,逵非撫禦才,罷之,遂改命瓘。自儂智高反,所過輒破,獨廣州城守不下。朝廷追論瓘有築城功,既加爵秩,又給禁卒五千使往,且聽以便宜從事。
[5] Huệ Châu: thuộc tỉnh Quảng Đông, giáp phía đông Quảng Châu.
[6] 庚寅,廣惠等州都大提舉捉賊、西京左藏庫副使武日宣,惠州巡檢、左侍禁魏承憲擊儂智高於廣州城下,死之。
[7] 丙午,命知桂州余靖經制廣南東、西路盜賊。時諫官賈黯言:「靖及楊畋皆許便宜從事,若兩人指蹤不一,則下將無所適從。又靖專制西路,若賊東嚮,則非靖所統,無以使眾。不若併付靖經制兩路。」而靖亦自言賊在東而使臣西,非臣志也。上從其言,故有是命。
[8] 己丑,詔知廣州、桂州自今並帶經略安撫使。
[9] 詔廣南東、西路經蠻賊蹂踐處,夏稅未得起催。
[10] 壬子,詔審官院,廣西連、賀、端、白等州,近為蠻賊所踐,宜擇長吏存撫其民。
[11] Thạch tương đương 120 cân, mỗi cân 16 lượng.
[12] Lao thành: thời Tống đặt nơi đày phạm nhân gọi là lao thành.
[13] Lãnh Bắc: phía bắc Ngũ Lãnh; tức phía bắc các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây.
[14] 樞密院言,蠻賊徒黨無慮二萬人,日食米五百石,非有資其糧食者,則勢不可留,須法外禁之。辛酉,詔犯者其首處斬,從者配嶺北牢城,舟車沒官。
[15] 詔廣南有捕獲儂智高者,授正刺史,賞錢三千緡、絹二千匹;獲智高母,授諸司副使、錢三千緡、絹二千匹;獲黃師宓、黃瑋授東頭供奉官、錢一千緡。
[16] 初,魏瓘築廣州城,鑿井畜水,作大弩為守備。及儂智高攻城甚急,且斷流水【一】,而城堅,井飲不竭,弩發輒中,中輒洞潰,賊勢稍屈。知英州晉江蘇緘,始聞廣州被圍,謂其眾曰:「廣與吾州密邇,今城危在旦暮而恬不往救,非義也。」乃蒐募壯勇合數千人,委州印於提點刑獄鮑軻,夜行赴難,去廣二十里駐兵。黃師宓者,廣人也,陷賊中,為謀主,緘使縛其父,斬以徇,賊聞之喪氣。時羣不逞皆旁緣為盜,緘捕得六十餘人,斬之,招懷其驅脅詿誤使復故業者,凡六千八百餘人。
城被圍日久,戰數不勝。賊方舟數百,急攻南城,番禺縣令蕭注者,新喻人也,先自圍中出,募得海上強壯二千餘人,以海船集上流,未發,會颶風夜起,縱火焚賊船,煙燄屬天,大破之,積尸甲如山。即日發縣門,諸路援兵及民戶牛酒芻糧相繼入城,城中人乃有生意,每戰必勝。而轉運使王罕,亦自外募民兵,遂入城,益修守備。賊知不可拔,圍五十七日,壬戌解去
[17] 先是,緘與洪州都監蔡保恭,以兵八千人據邊渡蛧,扼賊歸路,會忠自京師至,奪而將之。臨戰,謂其下曰:「我十年前一健兒,以戰功為團練使,汝曹勉之。」於是不介馬而前。先鋒遇賊奔,忠手拉賊帥二人,馬陷濘,不能奮,遂中標槍死。
[18] Thanh dã: thực hiện vườn không, nhà trống; khiến không còn gì để giặc cướp phá.
[19] Quân Nùng Trí Cao lúc trở về theo đường cũ ngược sông Tây Giang, nhưng bị lực lượng của Tô Giam cản nên phải dùng sông Bắc Giang ngược lên huyện Thanh Viễn, rồi theo dòng sông nhỏ đánh Liên châu, Hạ châu.
[20] 知英州、祕書丞蘇緘為供備庫副使.
初,廣州以賊遽至,不及清野,故賊得肆略。後緘知賊將走,分兵邊蛧,扼其歸路,布槎木、巨石幾四十里。賊至,果不能前,遂繚繞數舍,入沙頭渡江,由清遠縣道連、賀州西歸,摧傷者極多,緘盡得賊所略去物。
[21] 丁亥,以蕭注為禮賓副使,仍權發遣番禺縣事。