Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Chủ Nhật, 3 tháng 11, 2019

Điều người Hong Kong nghĩ nhưng không thể nói


C. G. Fewston

Phạm Nguyên Trường dịch
Sau năm tháng bất ổn ở Hong Kong, người biểu tình vẫn đang chiến đấu vì cái gì? Nhiều người tự hào nói rằng các cuộc biểu tình phi bạo lực và bạo lực là vì dân chủ. “Tự do cho Hong Kong”. “Giải phóng Hong Kong. Nhưng điều đó thực sự có nghĩa là gì?

Điều mà người Hong Kong không thể nói, điều họ bị cấm nói, đó là biểu tình là vì độc lập, để trở thành một quốc gia-thành phố tự quản như Singapore hoặc Monaco. Được tự quản như Đài Loan. Không ai có thể nói như thế, vì ở Hong Kong đây là hành động vi phạm pháp luật.


Lí do để người Hong Kong không thể công khai thừa nhận là họ đang đấu tranh vì độc lập hoặc quyền tự quyết là vì làm như vậy là vi phạm pháp luật. Ở Hong Kong, ủng hộ, thúc đẩy hoặc diễu hành vì độc lập là phạm luật. “Tự do ngôn luận” ở trung tâm tài chính châu Á là như thế đấy.

Năm ngoái, chính phủ Hong Kong, được Bắc Kinh hậu thuẫn, đã cấm một đảng ủng hộ li khai và tiếp tục cấm các chính trị gia và tổ chức bàn về độc lập. Trong hai năm qua, chính phủ Hong Kong và Đảng Cộng sản Trung Quốc đã nhiều lần tuyên bố “tự do ngôn luận không phải là vô giới hạn”.

Năm 2017, Trung Quốc đã coi những lời nói hoặc hành động kêu gọi độc lập hoặc quyền tự quyết ở Hong Kong đều là vi phạm chủ quyền quốc gia của Trung Quốc. Luật hình sự của Hong Kong giải thích rằng những người có “ý định bạo loạn” là phạm tội và có thể bị phạt tù tới hai năm và phạt tiền tới 5.000 HK$ (638 USD). Những tội được qui định trong Điều 23, nói về lật đổ và bạo loạn. Đây là lí do chính vì sao người Hong Kong phủ nhận biểu tình là vì độc lập. Họ không muốn bị bỏ tù.

Thay vào đó, các chính trị gia và người dân ủng hộ dân chủ nói rằng họ ủng hội chế độ dân chủ thực sự thông qua phổ thông đầu phiếu, quyền được ghi trong bản hiến pháp-mini, nhưng người dân chưa được hưởng. Nhiều đảng chính trị ở Hong Kong đồng ý rằng Điều 45 của Bộ luật cơ bản ủng hộ và nói về quyền phổ thong đầu phiếu, như là mục tiêu của thành phố này.

Trong hai năm qua, những người muốn tham gia bầu cử đều phải được Bắc Kinh sát hạch. Những người muốn được bầu làm quan chức đều phải phủ nhận quyền tự quyết và chứng minh rằng họ không ủng hộ độc lập.

Mới đây Hoàng Chí Phong (Joshua Wong) đã bị sát hạch và bị cấm vận động trong cuộc bầu cử vào tháng 11 này. Thú vị là, các quan chức bầu cử đã từ chối đưa ra quyết định suốt mấy tuần liền. Dorothy Ma Chau Pui-fun, người quản lý các ứng cử viên quận Nam, bất ngờ nghỉ ốm mà không đưa ra quyết định. Ba quan chức bầu cử không rõ danh tính thậm chí còn từ chối nhận vai trò phán xét Hoàng Chí Phong trên cơ sở lập trường chính trị anh này.

Khi thời hạn chót là ngày 31 tháng 10 đến gấn, quan chức bầu cử thay thế, Laura Liang Aron, người gốc Trung Quốc lục địa, cuối cùng quyết định cấm Hoàng Chí Phong tham gia ứng cử. Chính quyền viện dẫn lời ủng hộ quyền tự quyết mà nhà hoạt động dân chủ này từng đưa ra trong quá khứ là lí do chính để không cho Hoàng Chí Phong tham gia.

Người Hong Kong liên tục đòi quyền phổ thông đầu phiếu suốt năm năm qua. Công dân và người biểu tình Hong Kong hiện đang đấu tranh để được bầu một cách dân chủ các quan chức chính quyền, ví dụ, Đặc khu trưởng, mà không cần Trung Quốc sàng lọc.

Sau khi các quan chức được bầu một cách công khai nắm chức vụ trong chính quyền theo kiểu của mình tách khỏi đại lục, thì Hong Kong có thể bắt đầu lèo lài để giành nền độc lập. Hãy suy nghĩ như sau: Bước 1: quyền phổ thông đầu phiếu; Bước 10: độc lập. Chưa đạt được bước 1 một cách hòa bình thì không thể đạt được bước 10. Vì vậy, người Hong Kong đang đấu tranh đòi bước 1, đòi quyền phổ thong đầu phiếu, thậm chí trước khi có thể bắt đầu xem xét những thay đổi trong tương lai.

Tuy nhiên, chính quyền Hong Kong do Bắc Kinh kiểm soát sẽ không bao giờ cho phép phổ thông đầu phiếu vì họ biết chắc chắn nó sẽ dẫn đến đâu trong tương lai.

Không những không tiến hành cách kinh tế và cho người dân quyền phổ thông đầu phiếu, chính quyền và cảnh sát tiếp tục đàn áp dữ dội các cuộc tụ họp và biểu tình quần chúng.

Trong một cuộc biểu tình hỗn loạn khác vào ngày chủ nhật, 27 tháng 10 năm 2019, cảnh sát Hong Kong thể hiện thái độ coi thường báo chí bằng cách bắt giữ May James, phóng nhiếp viên ảnh khi cô này đang theo dõi cuộc biểu tình ở Mong Kok. Mới đây, trong tháng 10 vừa qua, May James đã có buổi nói chuyện tại Câu lạc bộ phóng viên nước ngoài, Câu lạc bộ này đã công khai lên án vụ bắt giữ cô.

Một số phóng viên cũng đã bị cảnh sát gây thương tích hoặc phải nhập viện trong khi họ đang theo dõi các cuộc biểu tình ủng hộ dân chủ kéo dài 21 tuần qua. Cảnh sát thừa nhận rằng đã sử dụng các chiến thuật bạo lực hơn đối với báo chí, cảnh sát cũng bị cáo buộc là đã tấn công và bắt giữ những người quan sát, du khách và các nhà báo.

Hiệp hội nhiếp ảnh báo chí Hong Kong, Hiệp hội nhà báo Hong Kong và Hiệp hội những người điều hành tin tức Hong Kong cũng đã tung ra các bản tuyên bố công khai lên án những hành động bạo lực của cảnh sát nhằm chống lại các phóng viên. Trong khi đó, thành phố tiếp tục cháy cùng với lệnh giới nghiêm có hiệu lực trên thực tế.

Không bên nào sẵn sàng nhượng bộ và không thấy điểm cuối trong việc giải quyết các vấn đề xã hội; không có gì ngạc nhiên là, sau năm tháng biểu tình, Hong Kong đã rơi vào tình trạng suy thoái.



nhận xét hiển thị trên trang

Bệnh hình thức đã quá nặng


Thủ tướng nước này, ông Nguyễn Xuân Phúc, đang dự hội nghị cấp cao tại Bangkok (Thái Lan). Coi những hình ảnh do TTXVN gửi về, chỉ mong sao chuyến "quan hệ quốc tế" của ngài có kết quả thiết thực. Lại sực nhớ lần xuất ngoại của ngài thủ tướng hồi tháng 9 mà lăn tăn đôi điều.

Tôi nhận thấy, qua tất cả những gì mà báo chí quốc doanh thông tin (có lợi) về chuyến "thăm cấp nhà nước" của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tới Nga, Na Uy, Thụy Điển, có điều rất đáng quan tâm.

Riêng anh Nga ngố không nói làm gì, vẫn nặng phô trương, màu mè, hoa hòe hoa sói, một thứ di sản còn đậm của triều cộng sản Liên Xô chưa dễ gì xóa được, thì ở 2 nước Na Uy, Thụy Điển, những điều diễn ra của nước chủ nhà khiến ta phải ngẫm nghĩ kính phục.

Hai nước này vẫn còn duy trì thể chế quân chủ, tức là còn vua, còn hoàng gia, dưới hoàng gia là chính phủ. Cứ tưởng phong kiến đặc sệt thế, họ sẽ màu mè cờ đèn kèn trống, tiền hô hậu ủng, hoa hoét ngập tràn. Ai ngờ, đón tiếp, trò chuyện, hội đàm với thủ tướng của một nước "từng đánh thắng hai đế quốc to", "đất anh hùng của thế kỷ 20", cả đức vua lẫn thủ tướng hai nước quá giàu này đã tổ chức rất mực giản dị, thân mật, không rùm beng hoa hoét mà vẫn lịch sự, trọng thị. Căn phòng tiếp khách, chỗ ngồi, cái bàn cái ghế đều chỉ như ở một công sở hạng thường xứ ta. Và đặc biệt, hầu như không bày biện hoa này hoa nọ. Chả hạn trên cái bàn tiếp đón của vua Thụy Điển chỉ có mỗn bình hoa bé tí xíu, để gọi là có. Đón tiếp cũng không có cảnh bắt đám trẻ con ngơ ngác cầm hai tay hai cờ vẫy rối rít. Nếu ta bất chợt nhìn thấy cảnh này thì hóa ra do Đại sứ quán VN tổ chức, xuất khẩu cả đặc sản ra xứ người.

Ăn nhau là ở cái thái độ đối với con người, chứ không phải hoa. Nước càng giàu, cỡ như Na Uy, Thụy Điển, lại càng thiết thực, giản dị, thực chất. Tôi cũng từng nghe nước Hà Lan cũng là một quốc gia rất giàu, họ trồng hoa xuất đi khắp thế giới, cả nước họ là một vườn hoa khổng lồ rực rỡ, nhưng những cuộc đón tiếp quốc khách của nhà nước cũng rất bình dị, không hoa hoét quá đà.


Nhìn ngược về xứ ta. Kinh. Tại những nơi thường tiếp đón khách nước ngoài, các trụ sở văn phòng trung ương đảng, văn phòng chủ tịch nước, dinh chủ tịch, nhà quốc hội, cứ gọi là trên giời dưới hoa. Nghèo nhưng gặp cái eo hoa. Thảm hoa tươi (thường là hoa sen) gắn trên tường to như chiếc chiếu, hoa bao quanh tượng Bác, lẵng hoa khổng lồ đặt giữa phòng, hoa nằm trên bàn, hoa trên bục phát biểu, thậm chí chỗ vị cao nhất ngồi cũng phải có "đĩa" hoa riêng trước mặt. Các đoàn chủ tịch đại hội, hội nghị này nọ, hoa át cả người, may mà không chết` sặc bởi hoa. Tôi vừa coi đoạn thời sự bà Ngân tiếp ông chủ tịch quốc hội Campuchia Heng Somrin, nhìn hoa mà phát khiếp.

Tất nhiên, ngắm hoa còn tùy người. Sẽ chẳng thiếu những người quen sự hình thức ấy đứng ra bảo vệ, lý luận rằng cần phải lịch sự, mến khách, trang trọng, văn minh, đâu thể xo xúi... Nhưng nếu nói thế, chả nhẽ nhà vua, thủ tướng Na Uy, Thụy Điển là dạng keo kiệt bủn xỉn, thiếu trang trọng, thiếu văn minh. Dẹp bớt hoa, chỉ có những đứa trúng mối cung cấp hoa hằng ngày cho trung ương là buồn, mất nhiều tỉ chứ không ít, nhưng có lẽ toàn dân hoan hỉ vui mừng, bớt được gánh nặng.

Bác Phúc đi mãi thì cũng phải về. Cổ nhân bảo "Đi một ngày đàng, học một sàng khôn". Bác học được cái chi để về mần, tôi không biết, nhưng tôi đề nghị bác về kể ngay cho bộ chính trị nghe việc "các bạn" nhà giàu, giàu nhất thế giới tiếp đón bác giản dị, thiếu món hoa như thế nào, xem liệu có áp dụng được ở nước nghèo không.

Nguyễn Thông 

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Kho vũ khí hạt nhân của Mỹ sẽ không còn dựa vào hệ thống máy tính sử dụng đĩa mềm nữa mà thay bằng kỹ thuật mới để hướng tới tương lai.

(NLĐO) –

"Hệ thống Điều khiển và Chỉ huy chiến lược tự động (SACCS) vẫn  được sử dụng nhưng sẽ không còn dùng đến đĩa mềm", theo ông David Faggard, đại diện phát ngôn của Bộ Tư lệnh Tấn công toàn cầu của Không quân Mỹ, đơn vị quản lý bộ phận kho vũ khí của không quân.
Hoạt động này là một phần trong việc kiểm tra toàn diện vũ khí nguyên tử của Mỹ dưới thời Tổng thống Barack Obama và tiếp tục đến thời kỳ Tổng thống Donald Trump. Việc ngưng sử dụng đĩa mềm đã được hoàn thành vào tháng 6 nhưng không được báo cáo rộng rãi vào thời điểm đó.
Vũ khí hạt nhân của Mỹ được vận hành mà không cần đĩa mềm - Ảnh 1.
Một thành viên thuộc đội chiến đấu tên lửa đang lắp đĩa mềm vào module liên lạc tại cơ sở báo hiệu tên lửa năm 2014. Ảnh: Robert Gauthier/Los Angeles Times
Đại diện phát ngôn Lực lượng Không quân số 8 Justin Oakes cho biết: "Không quân Mỹ đã hoàn thành quá trình thay thế các đĩa mềm của hệ thống lão hóa SACCS bằng biện pháp lưu trữ kỹ thuật số điện tử có tính an toàn cao. Nỗ lực thay thế này đã tăng theo cấp số mũ về sức chứa thông tin và thời gian phản hồi vận hành của hoạt động tiếp nhận và xử lý chỉ thị hạt nhân và kiểm soát tin tức".
Vai trò của đĩa mềm trong hoạt động kiểm soát và chỉ thị từ kho vũ khí hạt nhân quốc gia đã được nhấn mạnh trong một báo cáo năm 2016 của Văn phòng Kiểm toán Liên bang Mỹ. Theo đó, đĩa mềm được dùng trong một hệ thống điều phối chức năng vận hành các lực lượng hạt nhân quốc gia.
Báo cáo cho biết hệ thống SACCS chạy trên máy tính IBM Series/1, một loại phần cứng trong những năm 1970. Hệ thống sử dụng đĩa mềm dùng để quản lý các vũ khí như tên lửa đạn đạo liên lục địa, bom hạt nhân và máy bay hỗ trợ tàu chở dầu.
Hệ thống lỗi thời này được dùng tại các cơ quan của Mỹ như Bộ Ngân sách, Bộ Tư pháp, Cơ quan An sinh Xã hội và Bộ Cựu chiến binh.
Tuy nhiên, chương trình "60 phút" từ năm 2014 đã chỉ ra một khía cạnh bất ngờ khác của công nghệ cũ kỹ này. Theo đó, vì hệ thống không kết nối mạng nên chúng sẽ được bảo vệ một cách khác biệt, những kẻ hacker không thể xâm nhập vào đĩa mềm.
Minh Yến (Theo New York Times)
Phần nhận xét hiển thị trên trang

không còn ai kêu rên



tháng mười một
đất nước như một bệnh viện bị bỏ rơi
tất cả bệnh nhân cùng im lặng
không còn ai kêu rên
cỏ mọc trong sân bệnh viện
đã bỏ hoang
người ta đang cần người cắt cỏ
không cần bác sĩ
sự im lặng bắt đầu xanh nức nở
không còn ai tuyệt vọng
nữa
một bệnh nhân xuất viện
chàng không còn sốt
nhưng bầu máu vẫn còn nóng
chảy xuống một con đường
với một khẩu hiệu
giảm đau
mùa thu mất dần
khi các bác sĩ không còn việc làm
đất nước toàn đồ tể...
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Vũ khí bí mật mới đáng gờm của Mỹ


(NLĐO) – Máy bay không người lái (UAV) RQ-180 và tàu con thoi X-37B là những “vũ khí bí mật mới” của Mỹ trong cuộc đua vào không gian.

UAV bí mật
Chiếc UAV RQ-180 - được cho là có ngoại hình giống máy bay ném bom tàng hình B-2 Spirit của Không quân Mỹ (USAF), đã bay qua Bắc Cực và Vùng 51 trong quá trình thử nghiệm. Tuần tạp chí Hàng không cách đây ít ngày cho biết 7 chiếc RQ-180 được thiết kế cho nhiệm vụ trinh sát tại các khu vực bị hạn chế và cấm truy cập vừa được đưa vào phục vụ trong USAF.
Những chiếc RQ-180 thuộc biên chế của Phi đội Trinh sát 427, đóng tại căn cứ không quân Beale ở bang California – Mỹ. Tuy nhiên, USAF từ chối bình luận về tình trạng chương trình UAV của mình.
Mỹ đẩy mạnh chương trình không gian với UAV và tàu con thoi bí mật - Ảnh 1.
Chiếc UAV RQ-180 - được cho là có ngoại hình giống máy bay ném bom tàng hình B-2 Spirit (ảnh) của Không quân Mỹ. Ảnh: Northrop Grumman
Theo Tuần tạp chí Hàng không, RQ-180 – chiều dài 10 m và sải cánh 40 m, có khả năng ở trên không trong 24 giờ tại độ cao tới 18 km. Nó được cho là nằm trong dự án bí mật J-UCAS do Hải quân Mỹ và USAF theo đuổi từ đầu những năm 2000. Mục tiêu của dự án là tạo ra một nền tảng không người lái duy nhất phù hợp với nhu cầu của cả hải quân lẫn không quân.
RQ-180 được trang bị công nghệ tàng hình giúp chúng tránh được radar. Chiếc UAV này giống như một chiếc cánh đang bay với đường viền đơn giản, tích hợp ăng ten. Mỹ phát triển RQ-180 từ năm 2005 với chuyến bay đầu tiên được thực hiện vào năm 2010. Quá trình thử nghiệm bắt đầu khoảng 4 năm sau đó.
Các phương tiện truyền thông cho rằng RQ-180 đã bay qua Vùng 51 và Bắc Cực trong các cuộc thử nghiệm vào năm 2017. Vùng 51 là một căn cứ tối mật của Không quân Mỹ tại bang Nevada. Đây cũng là trung tâm của thuyết xoay quanh người ngoài hành tinh và công nghệ ngoài hành tinh.
Tàu con thoi X-37B
Sau 780 ngày bay quanh Trái Đất, tàu con thoi bí mật X-37B của USAF đã rời khỏi quỹ đạo và hạ cánh an toàn trên cùng đường băng mà nó đã cất cánh cách đây hơn 2 năm, NPR đưa tin hôm 28-10. Tướng Doug Schiess, chỉ huy Đơn vị Không gian 45 của Mỹ, bày tỏ sự tự hào khi thấy việc làm và sự cống hiến của họ đã được đền đáp khi X-37B hạ cánh an toàn và thành công.
Theo USAF, nhiều chi tiết về quá trình hoạt động của X-37B trong hơn 2 năm qua được giữ kín. Một trong các thử nghiệm liên quan tới thiết bị điện tử và công nghệ ống dẫn nhiệt dao động trong môi trường không gian với thời gian dài.
Mỹ đẩy mạnh chương trình không gian với UAV và tàu con thoi bí mật - Ảnh 2.
X-37B hạ cánh tại bang California hôm 27-10. Ảnh: Reuters
Giám đốc Văn phòng Khả năng Cơ động của USAF, Randy Walden, nói rằng chuyến đi 780 ngày của X-37B giúp làm sáng tỏ các thử nghiệm của Phòng thí nghiệm Nghiên cứu Không quân cũng như hỗ trợ phóng các vệ tinh nhỏ.
Tuyên bố trên khiến một số chuyên gia, bao gồm nhà thiên văn học tại Trung tâm Vật lý thiên văn Harvard-Smithsonian, Jonathan McDowell, phản ứng. Nhà thiên văn học này cho biết Mỹ không báo cáo về việc triển khai các vệ tinh nhỏ trong đệ trình Công ước Đăng ký Liên Hiệp Quốc. "Đây sẽ là lần đầu tiên Mỹ hoặc Nga ngang nhiên bỏ qua Công ước" – ông McDowell cảnh báo.
USAF được cho là sở hữu 2 chiếc X-37B có thể tái sử dụng. Cả hai đã thực hiện nhiều chuyến bay, theo trang Space.com. Ban đầu, chúng được thiết kế để hoạt động khoảng 240 ngày trên quỹ đạo nhưng với chuyến bay mới nhất - 780 ngày, chúng đã tăng gấp 3 lần sức chịu đựng dự kiến.
X-37B được Cơ quan Hàng không và Vụ trụ Mỹ (NASA) phát triển như một chiếc giường thử nghiệm cho tàu vũ trụ trong tương lai. Nhưng sau đó, nó được chuyển cho Cơ quan nghiên cứu quốc phòng tiên tiến vào năm 2004 rồi được USAF tiếp nhận.
Phạm Nghĩa (Theo Sputnik, NPR)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

'Trung Quốc sẽ sớm phải trả Mỹ 100 tỷ USD'


Trước các tín hiệu khả quan về một thỏa thuận thương mại giữa 2 cường quốc kinh tế thế giới, Tổng thống Donald Trump khẳng định Mỹ sẽ “sớm” đòi lại các lợi ích đã bị mất.
Bắc Kinh và Washington đều xác nhận đàm phán thương mại đạt được những tín hiệu tốt. Bộ Thương mại Trung Quốc cho hay đại diện 2 bên đã thảo luận về "những vấn đề cốt lõi và đạt được sự đồng thuận về các nguyên tắc".
"Nghiêm túc và mang tính xây dựng" là từ được miêu tả trong cuộc điện đàm giữa Phó thủ tướng Trung Quốc Lưu Hạc với Đại diện Thương mại Mỹ Robert Lighthizer và Bộ trưởng Tài chính Mỹ Steven Mnuchin.
Theo Fox News, cuộc chiến thương mại khiến 2 nước hứng chịu vô số tổn thất kéo dài hơn 15 tháng qua cuối cùng có thể kết thúc vào tháng 11 này.
'Trung Quoc se som phai tra My 100 ty USD' hinh anh 1
TT Trump phát biểu tại Tupelo, bang Mississippi hôm 1/11. Ảnh: Dailymail
Trước thời khắc lịch sử được kỳ vọng, Tổng thống Donald Trumpkhẳng định Mỹ sẽ nhanh chóng thu về lợi ích kinh tế khổng lồ. Trong một chiến dịch vận động tại Tupelo (bang Mississippi), ông Trump thông báo các cuộc hội đàm giữa các đại diện thương mại Mỹ, Bộ trưởng bộ tài chính Mỹ và đại diện thương mại Trung Quốc sẽ mang về cho nước Mỹ nhiều lợi ích.
“Chúng ta sẽ nhanh chóng thu về hơn 100 tỷ USD cho Ngân sách quốc gia, từ một đất nước mà trước đó chưa từng trả nổi 10 xu, họ chỉ biết lấy đi mà không chịu trả tiền”, ông Trump nói.
Thêm vào đó, Tổng thống Mỹ cũng khẳng định các lệnh thuế đánh trên hàng hóa Trung Quốc vẫn đang mang về hàng tỷ USD cho nền kinh tế Mỹ, một phần trong đó đã được chuyển cho các nông dân Mỹ. Đây là thành phần trung thành với ông Trump nhưng đã phải chịu tổn thất nhiều nhất bởi cuộc chiến thương mại suốt nhiều tháng qua.
Tổng thống Mỹ lý giải những người nông dân Mỹ không may trở thành đối tượng bị “tấn công và kẹp giữa thương chiến Mỹ - Trung, bởi họ là tầng lớp yêu mến và ủng hộ ông, và được ông Trump ưu ái”.
Bên cạnh đó, ngay sau khi các đại diện thương mại Mỹ - Trung nhất trí các vấn đề nguyên tắc trong thỏa thuận hôm 1/11, Tổng thống Trump phát biểu với các phóng viên bên ngoài Nhà Trắng cho biết ông có thể ký thỏa thuận giai đoạn đầu ở bang Iowa.
Như mọi lần, Tổng thống Trump đưa ra những những thông tin sáng sủa và vượt kỳ vọng của nền kinh tế Mỹ, trong đó các chỉ số chứng khoán S&P 500 và NASDAQ đều đạt mức cao kỷ lục, báo cáo việc làm Mỹ tháng 10 tiếp tục tăng trưởng 128.000 việc mới…
Trong khi đó, ông Trump cũng mỉa mai đối thủ của mình khi nói rằng kinh tế Trung Quốc đang chứng kiến thời điểm tồi tệ nhất trong hơn 57 năm qua. Tổng thống Mỹ cho hay chuỗi cung ứng của Trung Quốc đã bị “nghiền nát như những mảnh trứng”, điều này khiến ông càng không được lòng các nhà lãnh đạo Bắc Kinh.
Các đại diện thương mại 2 nước tiếp tục hoàn thiện các văn bản để Tổng thống Mỹ Trump và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình có thể ký kết thỏa thuận thương mại giai đoạn một trong tháng này. Theo lời cố vấn thương mại Nhà Trắng Peter Navarro, thỏa thuận thương mại Mỹ - Trung hoàn thiện dự kiến được thực hiện qua 3 giai đoạn.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Lịch sử cần sự thật(*)




Hồi đầu năm 2010 đã rộ lên sự kiện một nữ nghiên cứu sinh người Việt tại Mỹ tên là Đào Ngọc Bích viết bài cho BBC nói rằng Việt Nam là từ Trung Quốc mà ra... (!) để rồi ngay sau đó bị đông đảo dư luận trong và ngoài nước phê phán rất dữ dội. Không chỉ vậy, chính cô cựu sinh viên Đại học Ngoại ngữ Hà Nội này, trong nỗ tự lực bào chữa cho mình, đã “đổ tại” quá trình đào tạo môn lịch sử khi cô còn ở Việt Nam đã khiến cô tin như vây (!?). Tiếp theo cuối năm đó, nhân dịp đến tham dự Hội thảo quốc tế về  Biển Đông lần thứ 2 tại Tp Hồ Chí Minh một vị giáo sư danh tiếng của Trung Quốc tên là Vương Hàn Lĩnh đã tuyên bố xanh rờn rằng “Kể từ năm 1885 về trước Việt Nam là thuộc quốc của Trung Quốc...”. Vị này còn tỏ ý vừa khuyên vừa dọa phía Việt Nam nếu không biết "hợp tác" với Trung Quốc thì chỉ có thua thiệt!  
Thực ra, không phải chỉ một mình cô Bích hay ông Lĩnh mà còn khá đông đảo người Việt Nam và  Trung Quốc đều chưa hiểu đúng về lịch sử của đất nước mình, đặc biệt là lịch sử liên quan đến mối quan hệ lâu đời của hai quốc gia dân tộc “núi liền núi, sông liền sông” này. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng hiểu biết lịch sử “lệch lạc” như vậy nhưng có một nguyên nhân sâu xa nằm ở những “góc khuất” trong sử sách  khi nói về nguồn cội dân tộc của mỗi nước. Vẫn biết, kẻ mạnh thường thắng kẻ yếu, và sự thôn tính lẫn nhau giữa các dân tộc, quốc gia vốn là một thực tế hiển nhiên trong lịch sử nhân loại, nhưng điều quan trong có tính nguyên tắc là, mọi sự thật lịch sử cần phải được tôn trọng và giữ gìn một cách trung thực. Với tinh thần đó, người viết bài này xin được nêu lên một vài điều suy nghĩ lâu nay để mọi người cùng suy ngẫm nhằm tìm ra một lời giải.  
       
             Một là, về cội nguồn dân tộc, có thể nói không chỉ truyền thuyết mà cả sử sách (của cả Trung Quốc và Việt Nam) dù có nhiều điều chưa được làm sáng tỏ thậm chí bị xuyên tạc , bưng bít... cũng cho thấy rằng nước Việt Nam ngày nay là một thực thể thống nhất duy nhất còn lại của Bách Việt- một tên gọi chung cho nhiều tộc người Việt đã từng định cư hàng ngàn năm trước Công nguyên trên vùng lãnh thổ rộng lớn từ bờ Nam Sông Dương Tử xuống miền Bắc Việt Nam ngày nay, phía Tây giáp Tân Cương, phía Đông giáp biển Thái Bình Dương. Qua sử sách cho thấy người Hán vào thời sơ khai Nhà Hạ (khoảng 2.000 năm trước CN) chỉ là một vương quốc nhỏ tại vùng xung quanh Bắc Kinh ngày nay. Nhưng từ đó họ đã không ngừng mở mang bờ cõi, chủ yếu theo hướng “nam tiến” với thế mạnh của kỵ binh và đã phải mất hàng ngàn năm để xâm chiếm, chinh phục và đồng hóa hầu hết các bộ tộc hoặc vương quốc có tên tuổi của người Bách Việt (xem bản đồ minh họa dưới đây*).

Đó là một quá trình kéo dài với biết bao biến cố lịch sử phức tạp mà trong đó có nhiều sự kiện đã bị lãng quên hoặc bị xuyên tạc, thậm chí bị “tráo đổi” tùy theo mục đích của các triều đại phong kiến thống trị trong các thời kỳ khác nhau, đặc biệt là thời nhà Hán và nhà Đường. Tuy nhiên có một thực tại không thể bác bỏ là, Lạc Việt (tên nước Văn Lang) mặc dù bị các triều đại phong kiến Hán-Hoa  thay nhau thống trị trong suốt thời kỳ dài được sử ta gọi là “ 1.000 năm Bắc thuộc” nhưng vẫn tồn tại và phát triển với tư cách một quốc gia dân tộc độc lập như ngày nay. Trong suốt quá trình đó đã có rất nhiều cuộc khởi nghĩa lớn nhỏ của các tộc người Việt liên tục nỗ ra dù không thành công trọn vẹn cũng nói lên sự bất khuất kiên cường của dân tộc này.  Có thể nói, đó là quá trình lịch sử tang thương của Bách Việt nói chung, nhưng cũng là trang sử hào hùng đối với dân tộc Việt Nam nói riêng. Sự tồn tại và phát triển của Việt Nam không phải là trường hợp ngẫu nhiên mà là kết cục của cả quá trình đấu tranh sinh tồn của người Bách Việt nói chung mà các thế hệ sau này không bao giờ được phép lãng quên. Bởi lẽ, với không ít những dân tộc khác, chỉ cần vài trăm năm cũng đủ để "biến mất" trên bản đồ thế giới, thì sự tồn tại của dân tộc Việt sau 1.000 năm mất nước quả là rất đỗi phi thường rồi! Lại càng không thể đem ra so sánh những gì còn lại của ngày hôm nay giữa kẻ thống trị và người bị trị để kết luận rằng ai đã hơn ai! Chỉ có sự thật lịch sử chân chính không bị bóp méo mới có quyền quyết định sự so sánh này.  

Ở đây rõ ràng có vấn đề nỗi cộm là quan niệm thế nào về sự thật lịch sử và truyền thuyết.  Thử hỏi người Việt có thể làm gì trong 1.000 năm dưới ách đô hộ hà khắc của phương Bắc - kẻ duy nhất có quyền viết sử- nếu không sử dụng truyền thuyết?  Và truyềnthuyết đều nói lên rằng nguồn gốc tổ tiên của Việt Nam bắt nguồn từ Hồ Động Đình (thuộc tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc ngày nay) bắt đầu bằng Thời đại Hồng Bàng của Kinh Dương Vương (có sách ghi cụ thể năm 2879 TCN, tức cách nay gần 5.000 năm). Thuyết này trùng khớp với các câu chuyện cổ tích về Âu Cơ-Lạc Long Quân, các Vua Hùng, và cũng được thêu dệt bằng nhiều câu chuyện giả sử lưu truyền qua bao đời dân gian khác nữa. Đó là câu dân ca Việt cổ “Công cha như núi Thái Sơn (gần Hồ Động Đình), Nghĩa mẹ  như nước trong nguồn chảy ra…”; ngay cả bản thân truyền thuyết Thánh gióng đánh giặt Ân (tức nhà Thương) cho thấy bờ cõi nước Việt vào thời đó ắt phải ở sâu trên phía Bắc, chứ không thể là Vùng Bắc Ninh bây giờ (?). Nhưng câu chuyện truyền thuyết như vậy đều có giá trị lịch sử của chúng, và trên thực tế cũng đã một phần được kiểm chứng bằng một số kết quả nghiên cứu khảo cổ, nhân chủng và ngôn ngữ,  qua các di chỉ đồ đá,  Trống Đồng, nghề trồng lúa nước và  cả gen di tuyền v.v… Nếu kết hợp cả truyền thuyết với cổ sử đồng thời đối chiếu với các kết quả nghiên cứu của loài người , ta có thể nhận thấy trong suốt quá trình “nam tiến” và “đông tiến” của Hán tộc, các tộc người Bách Việt như Ngô Việt, Âu Việt, Dương Việt, Đông Việt, Nam Việt, Mân Việt, Di Việt v.v…. đều không thoát khỏi bị thôn tính và đồng hóa, để cuối cùng đều biến thành “người Hoa” hiện đại. Nhưng riêng một số tộc Bách Việt ở phía Nam, tiêu biểu là  Lạc Việt, Âu Việt  vẫn tồn tại, có thời kỳ bao gồm cả vùng đất Quảng Tây, Quảng Đông  của Trung Quốc xuống vùng Bắc Bộ của Việt nam ngày nay. Theo dòng lịch sử, ta còn thấy một thực tế là đã từng có rất nhiều người gốc Bách Việt tham gia vào bộ máy đô hộ của phong kiến Trung Hoa trong các thời kỳ khác nhau nhưng đã chọn Lạc Việt ( sau là Chân lạp, Giao Chỉ...) làm "hậu cứ" để chống lại Vương triều trung ương (như Hồ Quý Ly, Lý Bôn, Lý Bí chẳng hạn);  rất nhiều người trong số họ thực sự đã tái hòa nhập vào cộng đồng Việt Nam và có khá nhiều người đã dựng nên các triều đại huy hoàng cho Đại Việt  như  Lý, Trần v.v...; trường hợp Triệu Đà  cùng đã được sử sách Việt nam từ trước thế kỷ thứ 18 coi là "vua Việt". Cũng đã từng diễn ra những đợt rời bỏ quê hương của người Hoa gốc Bách Việt thuộc nhiều thế hệ trước đến định cư tại Việt Nam và các nước Đông Nam Á. Sử cận đại Trung Quốc cho thấy, mãi đến những năm 1940 danh từ “dân tộc Việt” mới bị Tôn Trung Sơn chủ trương xóa bỏ trong bản đồ dân số Trung Quốc. Cho đến này nay để ý thấy ít nhiều vẫn còn những tình cảm kỳ thị giữa các cộng đồng gốc gác Bách Việt tại Trung Quốc với người “từ phương Bắc”. Bản thân người viết bài này mới đây trong chuyến du lịch mấy tĩnh phía Nam Trung Quốc đã được dịp “kiểm nghiệm”điều này qua chuyện trò với một số người bản địa; dân bản địa vùng này bày tỏ bất bình trước các biện pháp hạn chế của chính phủ trung ương ngày càng  làm mai một ngôn ngữ bản địa (gọi là "Việt ngữ" lâu nay vẫn còn được  sử dụng tai các tỉnh Quảng Tây, Quảng Đông và cả Hồng Kông, Macau). Còn nhớ hồi  đầu năm 2000 sau khi Trần Thủy Biển  lên làm thủ tướng Đài Loan đã nêu cao tinh thần  “người bản địa” Mân Việt để đấu tranh  bảo vệ sự tồn tại độc lập với Đại lục. Bản thân Tôn Trung Sơn cũng là gốc người Bách Việt.

Thiết nghĩ, những sử liệu và sự kiện trên đây ít nhiều tự chúng đã nói lên những sự thật  khách quan xung quanh những “góc khuất” trong cổ sử và chính sử liên quan đến cội nguồn dân tộc và quan hệ giữa hai nước Việt-Trung. Khách quan mà nói nghiên cứu để tìm ra sựthật lịch sử mộtcvách khách quan sẽ là hướng đi tích cực nhất cho mục đích xây dựng mối quan hệ hữu nghị bình đẳng lâu dài giữa hai nước và cho lợi ích hợp tác hòa bình hữu nghị trong khu vực nói chung.
                 
Hai là, về nhân văn, tuy chỉ dựa vào các nguồn sử sách cổ để lại từ thời “1.000 năm Bắc thuộc”, ta cũng có thể thấy Việt Nam là kết tinh, là đại diện của Bách Việt. Về  góc độ văn hoá, kể cả phong tục tập quán, ngôn ngữ, Việt Nam và Trung Quốc  ngày nay có rất nhiều điểm tương đồng, đồng thời cũng có rất nhiều điểm khác biệt. Đặc điểm này  nếu được hiểu và vận dụng một cách đúng đắn sẽ có tác dụng tích cực cho việc phát triển quan hệ hợp tác hữu nghị và bình đẳng giữa hai nước, chứ không có gì là không tốt như một số người có thể nghĩ. Tuy nhiên trên thực tế không được như vậy vì có quá nhiều sự thật đã bị xuyên tạc, có những giá trị đã bị “tráo đổi” trong suốt quá trình lịch sử hàng ngàn năm qua mà trong đó phần lợi bao giờ cũng nghiêng về phía kẻ mạnh. Xin đơn cử vài ví dụ: Thế giới lâu nay vẫn tin rằng Kinh Dịch là của người Trung Quốc. Nhưng thực ra gần đây các chứng cứ khảo cổ quốc tế đã cho thấy Trống Đồng không phải của người Hán mà là của các dân tộc phương Nam. Kết luận này cho phép các nhà nghiên cứu suy ra rằng những hình khắc biểu tượng Kinh Dịch trên trống cũng không phải của người Hán; và do đó chủ nhân của  Kinh Dịch chính là người Bách Việt, cụ thể hơn là của người Âu Việt và  Lạc Việt. Về ngôn ngữ, đã từ lâu người Việt Nam phải an phận đón nhận chữ Nho (tốt đẹp) của người Hán, mặc dù đã cố tạo dựng cho mình chữ Nôm như một nỗ lực độc lập (!) tuy không mấy thành công vì những lý do khác nhau. Nhưng có một số luận điểm khác cho rằng người Hán trong quá trình xâm lược đã sử dụng ngôn ngữ của người Bách Việt, cụ thể là của  Ngô Việt (tại vùng Việt Châu, tỉnh Chiết Giang và Phúc Kiến ngày nay) để cải tiến thành chữ Hán, rồi thành tiếng Trung hiện đại. Lập luận này dựa trên cơ sở nghiên cứu về ngữ nghĩa, âm thanh, ngữ pháp v.v… cho thấy một tỷ lệ rất cao các nhân tố ngôn ngữ Bách Việt trong tiếng Hán cỗ và tiếng Trung ngày nay. Đó là hiện tượng các danh từ nhưng có tính từ được xếp sau danh từ được thấy phổ biến trong Kinh Thi và ngay ở tên gọi các vị Thần Nông, Đế Nghiêu, Đế Thuấn vốn được coi là truyền thuyết  Trung Quốc ; từ “Việt” hiển thị với tầng số rất cao trong các tên địa danh ở miền Nam Trung Quốc; từ “giang” (sông) của tiếng Việt cổ được sử dụng cho hầu hết các con sông miền Nam Trung Quốc (trong khi ở miền Bắc gọi là “hà”); tuồng Kinh kịch ở phía Nam Trung Quốc ngày nay vẫn còn gọi là “Việt kich”; tiếng Quảng Đông được sử dụng ở Quảng Đông, Quảng Tây, Hồng Kông, Macau và nhiều cộng đồng người Hoa trên thế giới  gọi là Việt ngữ, v.v… Thuyết này đồng thời cũng đặt ra mối nghi vấn rằng di chỉ thẻ tre có khắc chữ Hán cổ là “giả mạo” vì vào thời đó người Hán chưa có mặt ở miền đất phía Nam nơi có cây tre đủ to để làm thẻ viết. Tương tự cũng có sự “nhập nhằng” về chủ thể của “con đường tơ lụa” vì đúng ra  người Bách Việt mới có thể là chủ thể của sản vật tơ lụa làm từ cây dâu tằm chỉ có ở vùng đất  phương Nam. Rất nhiều luận điểm và luận cứ tượng tự cũng đã được nhiều học giả Việt Nam và quốc tế nêu ra.
            Tóm lại, dù bị người Hán cố tình đồng hóa bằng rất nhiều thủ đoạn tinh vi và cường bạo như đốt sách, bắt từ bỏ, xóa bỏ  hoặc tráo đổi v.v…, nhưng các dấu tích Bách Việt  vẫn còn đó  cho đến ngày nay. Trong suốt quá trình đấu tranh sinh tồn khốc liệt bên thua trận ắt chịu nhiều mất mát, nhưng những gì là bản sắc riêng vẫn còn đó; và điều này có thể nhận thấy qua nhiều nét tương đồng giữa Việt Nam với các tỉnh phía Nam và Đông Nam Trung Quốc ngày nay cũng như với các nước Đông Nam Á.

Ba là, công tác nghiên cứu và giáo dục về lịch sử cần đi sâu hơn nữa về nguồn gốc dân tộc cùng các giá trị nhân văn trên tinh thần khách quan, dựa trên chứng cứ khoa học biện chứng lịch sử, khảo cổ, nhân chủng… (chứ không chỉ dựa vào sử sách củ để lại từ thời Bắc thuộc) . Thiết nghĩ, trong việc này  những kiến thức xác thực về Bách Việt sẽ giúp giải mã rất nhiều điều mà lâu nay chưa cảm thấy thỏa đáng hoặc chỉ là “ngộ nhận”. Công tác sử học cũng cần tập trung nghiên cứu và bổ cứu lại toàn diện, đặc biệt về lĩnh vực nguồn gốc dân tộc và nhân văn của người Việt nhằm làm sáng tỏ những kiến thức mang tính  truyền thuyết kết hợp với những chứng cứ lịch sử dựa trên cơ sở các kết quả nghiên cứu khảo cổ và gen di truyền v.v…Khi có đủ dữ liệu thì công khai  chỉnh sửa những mọi sự sai lệnh hoặc bị xuyên tạc hoặc bị giả mạo  trong sách sử củ dưới bất cứ hình thức nào, của bất cứ thời đại nào. Lý do là vì toàn bộ sách sử cổ của Việt Nam đều đã bị đốt và thủ tiêu trong các thời kỳ “10000 năm Bắc thuộc”; các sách sử hiện có, kể cả Đại Việt sử ký, đều là sử “chép lại” dựa chủ yếu vào các nguồn sử của các thời Hán, Đường và “hậu Hán Đường” nên không thể đảm bảo tính chính xác, trung thực và đầy đủ được; thật nguy hại nếu đã có những sự thật bị xuyên tạc, thậm chí đã bị tráo đổi trong đó.  Mặc khác, cũng cần thừa nhận những khiếm khuyết trong khâu giáo dục công dân về lịch sử trong thời gian qua ở nước ta với những hậu quả “nhãn tiền” như đã được nhiều lần cảnh báo trước công luận. Thật nguy hại nếu mọi công dân đều hiểu biết sơ sài, thậm chí hiểu sai lệch về lịch sử của đất nước mình. Ví dụ khi nói mình "con rồng cháu tiên" nhưng trong lòng phân vân không biết có đúng thật không vì thấy ở Trung Quốc người ta cũng nói như vậy; không biết tại sao người Việt có các họ giống như  người Trung Quốc, không biết chắc nên thiếu tự tin  rằng Trống Đồng là bảo bối của dân tộc Việt Nam; không dám đòi quyền chủ thể của Kinh Dịch, v.v…Tương tự, trong lĩnh vực ngôn ngữ , sao ta không đặt mạnh vấn đề nghiên cứu xem tiếng Việt có chữ viết cổ? Lẽ nào dân tộc ta chỉ có chữ Hán Nôm? Có lẽ vì không biết mình là ai, nên đến ngày nay vẫn lúng túng không biết nên bảo tồn cái gì, thay thế, xoá bỏ cái gì để thực hiện "trong sáng tiếng Việt"?. Thậm chí có người cứ “vô tư” nhận mình là "con cháu" của người Trung Quốc (trong khi phía bên kia không nghĩ như vậy). Cũng cần xem xét lại một số khái niệm và quan niệm như cho rằng văn hóa Việt “bị ảnh hưởng” của văn hóa Trung Quốc là không hoàn toàn chính xác (mà thực chất đó chỉ là một sự giao thoa và ảnh hưởng qua lại); cách hiểu về nguồn gốc đạo Phật, Đạo Khổng, về Chữ Nho và  Nho Giáo cũng có nhiều điều phải bàn thêm, v.v… Chỉ khi nào hiểu đúng về nguồn gốc dân tộc và tự tin với những giá trị nhân văn riêng biệt của mình, người Việt Nam ngày nay mới thực sự tìm lại chính mình và thoát khỏi nỗi mặc cảm truyền kiếp luôn thấy yếu kém và phụ thuộc các thế lực thần bí, thần quyền của "Vương triều Phương Bắc".
             
Thay cho lời kết     
              Những lập luận trên đây chỉ là ý kiến cá nhân của người viết để nhắc lại rằng dân tộc Việt Nam có cội nguồn lâu đời với những giá trị nhân văn không thua kém các dân tộc khác. Đó là một lịch sử cần được tôn trọng bằng các chứng cứ khoa học khách quan chứ không chỉ bằng truyền thuyết; ngay cả sử sách cũng phải được kiểm chứng lại bằng các kết quả nghiên cứu khoa học nghiêm túc. Theo hướng đó, bài viết chỉ nêu lên một thực trạng tình hình đồng thời gợi ra một số việc cần làm thêm (chứ không nhằm phê phán ai hoặc nước nào) với hy vọng góp phần đem lại sự hiểu biết đúng đắn hơn về lịch sử và cội nguồn dân tộc của Việt Nam cũng như các bên liên quan khác trong khu vực, coi đó là cơ sở để đảm bảo mối quan hệ hữu nghị, bình đẳng lâu dài giữa Việt Nam và Trung Quốc cũng như giữa các nước khu vực với nhau./.

Tài liệu tham khảo
-Mục Bách Việt  trong Bách khoa toàn thư mở -Wikipedia, và rất  nhiều tài liệu khác nhau được liên kết trong tài liệu này.
-Đại Việt Sử Ký Toàn Thư
-Sử Trung Quốc, Nguyễn Hiến Lê 
-Việt Nam Sử Lược, Trần Trọng Kim 
-Tạp chí Xưa và Nay
-Bộ sách giáo khoa môn sử học phổ thông của Nhà XB Giáo Dục Việt Nam.
-*Công trình nghiên cứu nguồn gốc chủng tộc dựa vào gen di truyền (DNA) của M. Liu thuộc Mackay Memorial hospital và được Viện Nghiên Cứu Sức Khoẻ quốc gia của Đài Loan tài trợ chứng minh là các giống dân miền Hoa Nam, Việt Nam, Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương có liên hệ gen di truyền khác biệt với chủng tộc Hán ở miền bắc. 
-* Sử dụng lại bản đồ của Nhóm nghiên cứu về Bách việt trên mạng internet- Nguồn: nhatnguyen.yolasite.com  Chú ý: những tên nước trong bản đồ này chỉ mang tính chất tượng trưng; trên thực tế chúng được thay đổi hoặc biến mất trong các thời kỳ lịch sử khác nhau. 
(*) Bài này đã được đăng trên TuầnVietnam:  http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2010-12-27-lich-su-can-su-that

Phần nhận xét hiển thị trên trang